|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#32
|
||||
|
||||
|
Trích:
Vấn đề cốt yếu để hiểu và dịch ra tiếng Việt một cách thuận lợi ca từ của bài “Quạ Đen” là phải xác định được “невеста” ở đây là ai, là cái gì… Nếu xác định một cách khác, cách hiểu bài thơ cũng khác đi. I. Hiển nhiên là vào thời mà người ta hát lên những lời thơ này, thì họ chưa biết có cô “Maika” của Tiệp Khắc, vì vậy “невеста” chắc chắn không phải từ trên trời rơi xuống. “Невеста” phải hiện diện trong ca từ. Có những tiêu chí để “nhận biết” “невеста”, em đã nhắc tới ở bài post trên là: 1. “Невеста” phải hiện diện ngay tại chiến trường (среди битвы роковой). 2. “Невеста” phải là một thực thể đã tồn tại (“я женился” và “взял невесту””в чистом поле под кустом”), hơn nữa phải là một thực thể “тиха-скромна”. Tiêu chí “тиха-скромна” này cho phép ta loại ngay từ “vòng gửi xe” các “nhân vật” ghê rợn như “черный ворон”, “смертельна рана”…cũng đang hiện diện tại chiến trường. 3. Bằng cớ để chứng minh cho “милая любушка” rằng anh chiến binh đã có “невеста” khác, phải được bày tỏ rõ trong tín vật “платок кровавый”, mà anh muốn nhờ Quạ Đen gửi về cho cô gái, để thông tin chắc chắn là “она свободна”. 4. “Сваха” của anh chiến binh với “невеста” chính là “сабля вострая моя”. 5. Người đã chủ trì “венчала” lễ kết duyên này chính là “калена стрела”. 6. Tiêu chí cuối cùng này thì như chuyện đùa thôi, nhưng lại xác thực 100%, đó là “невеста” phải là danh từ “giống cái” (женский род). Trong văn bản mà Bác Dmitri Tran cung cấp còn chỉ rõ hơn nữa: “С нею”. II. Bây giờ em xin chứng minh là “cái chết lặng lẽ bình yên” không thể là “невеста” trong ca từ bài hát này 1. “Смерть” không đáp ứng tiêu chí 1, 2 và 3 trong hệ thống em liệt kê nêu trên. 2. “Смерть” thậm chí còn đến muộn về sau, tức là động từ không chia ở thể quá khứ (đã - прошедшее время) mà ở thể đang xảy ra trong hiện tại (đang tới - настоящее время) (“Вижу, смерть моя приходит”). III. Vậy, nói đi nói lại, chắc các bác đã rõ ý kiến em định trình bày. Nói theo cách “ai muốn hiểu thế nào thì hiểu” thì nhận xét của em về “невеста” trong ca từ bài hát này chính là “кровь” – máu của người chiến binh đã đổ (Theo văn bản do Bác Dmitri Tran cung cấp thì là “Кровь лилась из черной раны”). 1. “Кровь” đáp ứng mọi tiêu chí nêu ở trên. 2. Giải thích thêm về tiêu chí 4, theo như ý kiến của Bác Nina: “сваха” ở đây theo đúng nghĩa là “người làm mối” đấy ạ. Anh chiến binh là một chàng trai, anh có “сабля вострая”, anh phải có nghĩa vụ và tinh thần hăng hái tham gia chiến đấu trên chiến trường để bảo vệ Tổ quốc. Chính “сабля вострая” đã dẫn anh đến chiến trường và anh đã đổ máu để “за родину””пал” và người “венчала” cho anh và máu đổ chính là “калена стрела”. 3. Ghi thêm: nếu Bác Nina không thích từ “đẫm máu” thì Bác có thể dùng: pha máu, nhuộm máu, thấm máu…Nhạc sỹ Văn Cao chẳng đã viết “Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước” đó sao. Từ “giây máu” trong một thành ngữ tiếng Việt có một ý nghĩa không được hay. Em xin kết thúc bài viết này tại đây. Cũng chỉ là một cách hiểu của em về ca từ bài thơ, trình bày để các bác tham khảo. Xin cảm ơn các bác đã quan tâm.
__________________
Good things come to those who wait. |
| Bookmarks |
|
|