|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
|||
|
|||
|
Trích:
Hiểu theo ý bài thơ thì từ "Белокрылая жена" đơn giản là "người vợ mơ ước" hay người vợ không thành sự thật. Nhà em góp với bác bản dịch theo phương án này:
|
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn minminixi cho bài viết trên: | ||
Bùi Huy Bằng (02-03-2012), thanhnam76 (01-03-2012) | ||
|
#22
|
|||
|
|||
|
Em không phải nhà ngôn ngữ, tuy nhiên, nếu xét tổng thể bài thơ, thì em nghĩ rằng chữ жена ở đây không có nghĩa là người vợ, mà chỉ có nghĩa là một người phụ nữ mà thôi. Cách dùng chữ жена thay cho женщина có thể gặp tương đối trong các tác phẩm văn thơ cổ, chắc em không cần phải dẫn ra ở đây nữa.
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
thanhnam76 (01-03-2012) | ||
|
#23
|
||||
|
||||
|
Em nghĩ có thể dịch Белокрылая жена là "Người vợ trong mơ" hay "người vợ trong mộng ước" ạ.
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
|
#24
|
|||
|
|||
|
Trích:
Морфология «белокрылая» • Прилагательное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное, неодушевленное, качественное прилагательное Синонимы к слову «белокрылая» • Не найдено Tạm dịch: Từ pháp «белокрылая» • Tính từ giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ động vật, chỉ bất động vật (= sự vật); tính từ chỉ phẩm chất Đồng nghĩa với từ «белокрылая»: • Không tìm thấy Ví dụ vài tính từ chỉ động vật: Белокрылая лошадка (Ngựa bạch) ![]() Белокрылая лебёдушка (Thiên nga trắng) ![]() Белокрылый жаворонок (Sơn ca bụng trắng) ![]() Белокрылая морская свинья (Cá heo khoang bụng trắng) ![]() (Con bên dưới là cá heo thường) Ví dụ vài tính từ chỉ bất động vật: Белокрылая метель (Bão tuyết) ![]() ![]() (Tuyết rơi) Белокрылые облака (Mây bông) ![]() Белокрылая Волжанка (Xe Volga màu trắng) ![]() Ví dụ về người: Белокрылая Одетта (Thiếu nữ bận đồ trắng) ![]() Круг за кругом незаметно Подрастет душа, Белокрылая Одетта Выйдет хороша. Белокрылая девушка ![]() ![]() ![]() ![]() (Những hình này gần giống với hình tượng “Như thiên thần sắc đẹp trắng trong” trong bản dịch của Thúy Toàn) Nhận xét: Dù chỉ sinh vật hay sự vật... thì tính từ "Белокрылая" cũng đều gắn với màu trắng hoặc sự thanh khiết, trong trắng. Vì vậy nên chăng tìm nghĩa của từ "Белокрылая жена" theo hướng đó (với nghĩa bóng)? --> Người phụ nữ/cô gái có tâm hồn trong sáng; NPN/CG trong trắng; thiếu nữ tiết trinh.... Trong trường hợp này dùng "Белокрылая" với vai trò "tính từ chỉ phẩm chất". Nina có lý khi hiểu жена trong ngữ cảnh này là người phụ nữ. SM chưa thấy nghĩa "trong mơ", "không thực"... Nếu chỉ dựa vào 4 hình cuối (và còn nhiều nữa), SM nghĩ là trong ngữ cảnh của bài thơ trên, dịch Белокрылая жена thành Thiên thần cánh trắng, thiên thần áo trắng hay "thiên thần sắc đẹp trắng trong" đều có thể được: "Tôi từng có một người vợ chưa cưới / Một thiên thần cánh trắng của tôi..." (dịch nghĩa) Thử tìm thêm một từ khác: Морфология «святая» • Существительное женского рода, единственного числа, именительного падежа, неодушевленное • Существительное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное • Прилагательное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное, неодушевленное, качественное прилагательное Словоупотребление «святая» • Частота употребления слова «святая» составляет 9046 раз на ≈ 300 млн. слов. Tạm dịch: Từ pháp «святая» • Danh từ giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ bất động vật. • Danh từ giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ động vật. • Tính từ chỉ phẩm chất, giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ động vật, chỉ bất động vật. Sử dụng từ «святая» • Tần suất sử dụng từ «святая»: 9046 lần trong khoảng 300 triệu từ. Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 02-03-2012 thời gian gửi bài 13:56 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Saomai cho bài viết trên: | ||
|
#25
|
||||
|
||||
|
Em có ý kiến nhỏ:
Theo em, người vợ trong mộng tưởng hay như người Việt ta vẫn nói "người yêu trong mộng" chính là ý tác giả muốn viết. Đây là một nhân vật không xác định, không hề là một nhân vật đã từng có trong đời của tác giả. Không hề tồn tại, và nhà thơ không phải giờ loay hoay đi hỏi em cụ thể đó giờ ở nơi nao, hỏi chỉ để hỏi mà thôi. Vậy nên nếu dịch " tôi từng có một người yêu chưa cưới" hay "người vợ chưa cưới" là không trúng ý tác giả. Nhân vật đó chưa từng có thực, chưa hề tồn tại trong đời tác giả Kornilov, đó chỉ là một nhân vật mà nhà thơ "từng mơ" thôi. Đó là một nhân vật bất kỳ nào đó, có thể là nữ vận động viên leo núi, có thể là đoàn viên cộng sản ở chỗ này chỗ kia...Ở ngoài biển, ở Bukhara, ở mặt trận, trên cánh đồng, bên bờ sông Đa-nuýp hay sông Ô-ka....Nói tóm lại là bất kỳ đâu. Đây là một dạng nhân vật "trong mộng", và tác giả (mượn cớ) cũng như Pushkin (có đối tác cụ thể), muốn nói rằng nếu ta đã yêu ai đó, thì luôn cầu mong cho người yêu mình được sung sướng, được yêu thương, nâng niu chân thành. Mong được trao đổi thêm!
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 02-03-2012 thời gian gửi bài 15:23 |
|
#26
|
|||
|
|||
|
Trích:
Cảm nhận của SM: Bài thơ này Kornilov viết về Olga Berggoltz, người từng là người yêu, và vợ của ông. (Hai nhà thơ này từng viết về nhau không ít). Còn cách gọi “невеста, Белокрылая жена” thì có thể còn là điều còn xa lạ với người Việt, vì chính người Việt cũng có những cách gọi xa lạ như thế đối với người nước ngoài. Tất nhiện khi ông làm bài này, họ đã chia tay. Ông bặt tin của bà, không biết bà ở đâu, làm gì, đã yêu ai… Lời bài thơ không hề có vẻ như nói về “người yêu trong mộng”, mà về 1 người phụ nữ cụ thể (У меня была невеста / Белокрылая жена), người đã từng gắn bó thân thiết với ông, và trong tâm khảm ông, đó là người đàn bà tuyệt diệu, đẹp đẽ, trong sáng như thiên thần vậy. Ông còn tâm sự với nàng, với những băn khoăn rất giản dị, đời thường: Ты кого поцеловала У Дуная, у Оки, У причала , у обвала У обрыва , у реки? Он какого будет роста Сколько лет ему весной, Подойдёт ли прямо, просто Поздороваться со мной! (Em đã hôn ai / bên dòng Đunai, bên dòng Oka / bên bến đợi, bên vách sạt lở / bên bờ dốc đứng hay bên một dòng sông? / Anh ta có vóc dáng ra sao / xuân này bao tuổi? / Liệu anh ta có dám đàng hoàng đi đến bên anh / chỉ để nói 1 lời chào không). Còn trong khổ thơ cuối, có thẩy thấy hết sự chân thành, quý yêu mãi mãi của ông với người phụ nữ ông đã từng gắn bó. Sau khi viết bài này 3 năm thì ông bị tử hình. Trong thi đàn Xô Viết từng có 2 cặp thi nhân yêu nhau, cưới nhau, rồi chia tay. Nhưng họ vẫn gắn bó với nhau khăng khí sau khi xa. Và cả 2 người đàn ông đều bị bắn chết (tử hình) một cách oan uổng. Đó là trường hợp Olga Berggoltz - Kornilov và A. Akhmatova - Gumiliev. Do vậy, SM không cho việc dịch Белокрылая жена thành “người yêu trong mộng” hay “người vợ mơ ước”… là hợp với văn cảnh bài thơ này. Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 02-03-2012 thời gian gửi bài 17:55 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Lệ Hằng (21-03-2012) | ||
|
#27
|
||||
|
||||
|
Em muốn hỏi các bác, 3 dòng cuối của bài thơ, tại sao Kornilov lại viết:
Trích:
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#28
|
|||
|
|||
|
Trích:
Я скажу чистосердечно, Чтобы он тебя берёг , Чтобы ты не знала горя, Альпинистка - на горе, Комсомолка - где-то в море Или, может, в Бухаре. (Anh sẽ nói với anh ta một cách chân thành, để anh ta bảo vệ em, để em không biết đến đau khổ, dù em ở đâu, làm gì - đi leo núi thám hiểm, làm nhiệm vụ Đoàn viên bên bờ biển nào đó, hoặc có thể, ở tận Bukhara...) Những cái đó đều trong thì tương lai, so với thời điểm viết bài thơ - 1935. Vâng, khi đó cô đoàn viên Kômxômôn Olga tròn 25 tuổi. Năm 1935, trí tưởng tượng của ông chưa cho phép nói đến người chiến sỹ kiên cường Olga trụ lại trong thành Lênigrat bị phát xít Đức bao vây những năm 40... Nếu ông viết "hoặc có thể, ở Lêningrat" thì thật tuyệt! Như Thụy Anh có viết, sau này nhiều nơi Kornilov viết đến trong bài này Olga đều đã đi qua, và nhắc đến trong thơ mình (những "bến đợi, dốc đứng, bờ đổ nát, dòng sông"...) với sự hồi tưởng về Kornilov. Khi bà đi đến một "bến đợi", bà dường như thấy ông chờ sẵn ở đó: "Chỉ một phút nữa thôi tôi sẽ nghe thấy người ta: Em đây rồi! Anh đến với em, em có biết? Phút đầu tiên tôi không thốt nên lời gì hết Chỉ chìa tay đón số phận của mình" (TA dịch) SM tin vào sự tìm hiểu khá cặn kẽ của Thụy Anh. Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 02-03-2012 thời gian gửi bài 19:32 |
|
#29
|
|||
|
|||
|
Hai câu đầu mà anh hungmgmi hỏi thì em cũng thấy không có vấn đề gì, cảm nhận của em cũng tương tự chị Saomai. Riêng cái thành phố Bukhara thì em chưa hiểu lắm. Tìm hiểu sơ sơ thì chỉ thấy có một trận chiến ác liệt của Hồng quân năm 1920 chiếm thành phố này trong 3 ngày thời nội chiến, không rõ có liên quan gì không (hy vọng câu này không khiến các bác bàn luận về sự thật, dối trá lề trái lề phải gì).
Mà thực sự thì em cũng chưa thấy cảm lắm bài thơ này, cho nên ... chưa dịch
|
|
#30
|
||||
|
||||
|
Bác Sao Mai mến, Kornilov viết bài này năm 1935, sau khi bỏ Ônga Bécgon 5 năm, đã sống với vợ hai là Lyudmila từ năm 1931. Ông chỉ sống vỏn vẹn 3 năm với Olga.
Em thấy khó hiểu khi một người đã bỏ vợ 5 năm, đang sống với vợ hai và chuẩn bị có con (1936 sinh con) lại có bài thơ như vậy cho bà vợ trước.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#31
|
|||
|
|||
|
Trích:
Theo SM trường hợp Boris Kornilov viết bài thơ trên về Olga, dù ở thời điểm nào trong đời ông, cũng không có gì khó hiểu. Họ chưa hề bao giờ thôi yêu nhau và nghĩ những điều rất tốt đẹp về nhau. Họ chia tay nhau vì PHẬN. Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 03-03-2012 thời gian gửi bài 21:55 |
![]() |
| Bookmarks |
|
|