|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#81
|
|||
|
|||
|
Câu cuối làm em suy nghĩ rất nhiều. Tại sao không phải là quạ chung chung mà cụ thể là quạ đen? Phải chăng có sự ẩn ý ở đây?
Dịch vừa được ý theo nguyên tác lại được tứ thơ quả khó. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Polyushko Pole (18-02-2013) | ||
|
#82
|
||||
|
||||
|
Thực ra thì văn bản mà Bác Nina dựa vào để dịch là một văn bản thiếu. Tuy có nhiều dị bản cho ca từ của bài hát này, nhưng văn bản thông dụng nhất được nhiều người nhất trí hầu như bao giờ cũng là 7 đoạn, có thể đại đồng tiểu dị.
Em có một cuốn “Dân ca Nga”, chính thức của NXB Muzyka, ấn hành tại Moskva: Trang 19, có bài hát này: Trên internet, nếu tìm ở Wikipedia thì cũng còn nhiều văn bản khác nữa, (tuy nhiên cũng có lần em tranh luận ở đâu đó, nhiều người không công nhận tư liệu xuất phát từ Wikipedia). Cứ như văn bản đầy đủ trong sách của NXB Muzyka, thì theo thiển ý của em, rõ ràng nghĩa của từ “венчать” theo cách hiểu của Bác Nina là chính xác. Em thường hay đối chiếu với một thứ ngoại ngữ khác để so sánh. Trong trường hợp này thì em đang có trong tay một bản Trung văn, bám sát và dịch đủ 7 đoạn, mời các bác tham khảo: 俄罗斯民歌 1.黑乌鸦啊,黑乌鸦啊, 为何盘旋在头顶? 你等不到你的猎物, 我还没死,黑乌鸦! 2.为何盘旋在我头顶 张开你的尖利爪? 你想抓住你的猎物, 我还没死,黑乌鸦! 3.用我女友送的手帕 将我伤口来包扎, 然后只谈一件事情 谈谈我的心里话。 4.请你飞往我的老家, 转告我的老妈妈, 请你告诉我的亲娘, 儿子为国热血洒。 5.请你把这血染手帕 带给我的爱人吧, 告诉她说,她已自由, 我已结婚另有家。 6.冰冷钢枪成我新娘 躺在旷野灌木下, 锃亮刺刀是我同伴, 锋利马刀是亲家。 7.激烈战斗决死拼杀 死神降临在眼下。 钢铁利箭为我加冕, 我属于你,黑乌鸦! Em không rõ những tư liệu và ý kiến của em có thể giúp gì cho Bác Nina và Bác Dmitri Tran được hay không, nhưng phải nói thật là em không thích kiểu ý kiến: “Nhưng thôi, văn học là vậy, sự hiểu rất phong phú: Ai thích gì thì cứ hiểu theo cách của mình cũng là lẽ thường tình! “. Đây đâu phải là thái độ thực sự cầu thị trong tranh luận (không phải là tranh cãi)!! Vài dòng góp ý, mong các bác đánh cho chữ đại xá. Lý do là bài hát này đến với em từ bộ phim Chapaev, xem ở miền Bắc từ những năm chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Giôn-xơn, ấn tượng sâu sắc lắm. Xin cảm ơn các bác đã quan tâm.
__________________
Good things come to those who wait. |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn dubravka cho bài viết trên: | ||
|
#83
|
|||
|
|||
|
Em rất cám ơn bác dubravka về phần lời đầy đủ. Đúng là em đã không tìm hiểu kỹ về bài hát, mà chỉ dịch lời mà bạn Polyushko Pole dẫn theo phần trình bày của Troshin. Nhờ có bài của bác dubravka mới thấy, bài hát này có khá nhiều dị bản, và cũng được rất nhiều ca sĩ trình bày.
Đây là một phần của bài hát trong phim "Chapaev", và có lẽ bộ phim này đã khiến cho bài hát càng được phổ biến rộng rãi: http://www.youtube.com/watch?v=6cUwg2WH17E Và trang web История одной песни đã tổng kết lại khá nhiều bản thu âm của bài hát này, xin giới thiệu cùng các bác: http://www.historyonesong.com/2010/04/cherniy_voron_3/ Về phần bản dịch, em sẽ suy nghĩ và trình bày phương án dịch đầy đủ sau (nếu em làm được). Rất cám ơn đóng góp của các bác về từ ngữ và cách dịch. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Polyushko Pole (18-02-2013) | ||
|
#84
|
||||
|
||||
|
Trích:
Взял невесту тиху, скромну В чистом поле под кустом, С нею здесь венчала сваха - Сабля вострая моя. Калена стрела венчала Нас средь битвы роковой. Вижу, смерть моя приходит, Черный ворон, весь я твой.. Trong đoạn đầu từ "венчала" ý nói: anh ta kết duyên với Cái chết lặng lẽ bình yên bằng thanh kiếm sắc của mình. Còn ở đoạn sau, từ "венчала" là của viên đạn, không thể có chuyện "kết duyên" 2 lần do 2 nhân vật khác nhau (thanh kiếm và viên đạn) làm chủ hôn. Cho nên động tử "венчала" của viên đạn ở đây, theo tôi nên được hiểu là kết thúc cuộc đời. P.S. Tôi thường quan niệm, khi tranh luận trên mạng hay ở ngoài đời, mình muốn nhận xét về ai đó nhưng "để trong bụng" thì thoải mái vì đó là việc cá nhân. Nhưng khi nói nhận xét về cá nhân lên trước công chúng thì đó là đánh giá người khác - đây là điều nên tránh, nhất là khi người đó không tranh luận trực tiếp với mình! (Đây là quan niệm riêng của tôi, nên cũng như ở trên kia "Ai muốn hiểu thế nào thì hiểu" thì cũng là bình thường!) |
| Được cảm ơn bởi: | ||
tolaind (04-03-2013) | ||
|
#85
|
|||
|
|||
|
Đúng là bản dịch lời tiếng Trung rất thú vị bác dubravka ạ, dù em chỉ hiểu lõm bõm thông qua một mớ phần mềm
, vì em hoàn toàn không biết tiếng Trung.Tuy nhiên em hơi khó hiểu về đoạn cuối tiếng Trung, nhờ bác dubravka hoặc bác nào rành tiếng Trung chỉ giáo nhé. Trong đoạn số 6 thì hai câu cuối 锃亮刺刀是我同伴, 锋利马刀是亲家。 Thì em có thể hiểu mang máng thế này Lưỡi lê sáng loáng, lưỡi kiếm nhọn sắc là thông gia của ta Chỗ сваха dịch thành thông gia thì có thể do giai điệu yêu cầu, có thể do dịch thuật. Nhưng mà 2 câu cuối đoạn 7 thì em không hiểu lắm 钢铁利箭为我加冕, 我属于你, 黑乌鸦! Hình như chỗ này hai chữ "加冕" có nghĩa "đăng quang/lên ngôi" phải không các bác? Kể ra mà nói thì cũng hơi lạc đề, nếu bác nào có thời gian chỉ giáo giúp em thì trí tò mò của em được thỏa mãn hơn, và dù thế nào thì em cũng rất cám ơn bác dubravka và tất cả các bác! |
|
#86
|
|||
|
|||
|
Trong văn hóa Nga và Chính thống giáo, "Quạ đen" là biểu tượng của cái chết hay điềm báo chết chóc. Bài ca mang nỗi buồn, u sầu nhưng ca từ đẹp. Có lẽ, tác giả đầu tiên của bài ca này thuộc về một trung sĩ trẻ thuộc trung đoàn bộ binh Nevsky tên là Nikolai Fedorovich Verevkin đầu thế kỷ XIX, kết hợp với một người cùng thời là nhà quí tộc, nhà thơ và du kích Denis Davydov. Nikolai Fedorovich đã viết một số bài hát và được ghi trong cuốn "Библиотеке для чтения" (Thư viện cho người đọc), quyển 20 năm 1837. Bài hát sau này thành phổ biến nhưng cũng như bao nhiêu bài hát khác có những hệ quả phụ: tên tuổi tác giả, tính toàn vẹn của ca từ đã không còn và thay đổi nhiều. Trong các bài ca mà tác giả Verevkin viết năm 1831 trong tập "Песни после учения" (Các bài hát để giảng dạy) có bài "С нашим атаманом / Любо, братцы, жить" là một trong những bài hát Cô-dắc nổi tiếng nhất, còn bài thơ "Под зелёною ракитой" (Dưới cây liễu xanh) mà dường như bài "Quạ đen" là một phiên bản sáng tạo của nó, được bắt đầu từ khổ thơ thứ ba. Rất khó để nói Nikolai Fedorovich đã vay mượn một bản dân ca nào đó và biến nó thành của mình, chỉ có giai điệu của khổ thơ là phổ biến vào lúc đó và ông đã lấy chúng, và các nhà nghiên cứu cũng không tìm thấy bản nhạc gốc. Có thể cho rằng, bản nhạc "Quạ đen" ngày nay có nguyên bản từ bài thơ "Dưới cây liễu xanh" nhưng đó cũng chỉ là một giả thiết. Mặt khác, bản "Quạ đen" tự nó có đời sống dân gian riêng của mình và cũng hoàn toàn khác với giai điệu của bài "Dưới cây liễu xanh". Vị tướng, thủ lĩnh Cô-dắc Pyotr Hikolayevich Krasnov viết trong cuốn "Картины былого Тихого Дона" (Các cảnh tượng của Sông Đông quá khứ), xuất bản năm 1909: Trong các trận đánh dữ dội với các chủ đất cao nguyên Kavkaz là các chiến công hoàn hảo của người Cô-dắc sông Đông. Họ thường đơn độc chống lại kẻ thù tàn ác và đông đảo. Những chiến công của Cô-dắc sông Đông trong chiến tranh 60 năm là rất nhiều và không thể kể ra hết được. Rất nhiều người Cô-dắc đã chết trên núi và thung lũng vùng Kavkaz mà không có mộ, thánh giá hay bia mộ. Những người chết đơn lẻ không có ai chứng kiến, những người dân Cô-dắc chết trên núi, bị vây quanh bởi đàn quạ hay đại bàng. Và "Quạ đen" là bài hát buồn của người Cô-dắc. Rõ ràng là bài hát "Quạ đen" không phải ra đời trong chiến tranh Kavkaz, nó chỉ biến đổi ca từ và giai điệu, lưu lại ý nghĩa gốc đã có, nếu như giả thiết là xuất phát từ bài hát của tác giả Verevkin "Под зелёною ракитой". "Quạ đen" được sử dụng nhiều trên sân khấu và phim ảnh. Có thể kể đến là vở kịch "Царь Максимилиан" (Vua Maximilian), trong các tác phẩm văn học giữa thế kỷ XIX và đầu XX, các nhà nghiên cứu thấy có đến vài chục phiên bản kịch mà một số người cùng thời vẫn còn nhớ. Còn ngày nay, bản ca kịch "Quạ đen" có đến 80 phiên bản lời, đoạn khác nhau thuộc về những thời kỳ khác nhau trong nửa thế kỷ tồn tại. Thậm chí bài hát "Quạ đen" được đưa vào truyện Arabia. Năm 1934, nhà soạn nhạc Gabriel Nikolayevich Popov viết bản phối "Quạ đen" đưa vào phim "Чапаев". Bài hát cũng được diễn nhiều lần trong phim của Alexander Rogozhkin "Особенности национальной охоты" hay phim "Сибириаде" của Andrei Konchalovsky. Quyển 5, Bách khoa toàn thư văn học 1929-1939 có đoạn viết trong mục "văn học dân gian": Trong lịch sử văn học quí tộc, không có bài hát người lính trung thành nào hơn bài hát ... của trung sĩ Nikolai Verevkin trung đoàn Nevsky. Đó là sáng tác của Nikolai Fedorovich Verevkin và tính dân ca thực sự của bài hát, và có lẽ cũng là vinh quang của người cầm bút. Để chúng ta không quên cội rễ văn hóa của nó, để tự hào vì biết thêm về một di sản âm nhạc... http://www.liveinternet.ru/users/2496320/post229559145/ http://www.historyonesong.com/2010/04/cherniy_voron_1/ Khoảng vài chục biến thể của "Quạ đen" trong này: http://www.liveinternet.ru/users/2496320/post229559145/ Thay đổi nội dung bởi: SSX, 15-02-2013 thời gian gửi bài 18:53 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn SSX cho bài viết trên: | ||
|
#87
|
|||
|
|||
|
SSX à, Nikolai Verevkin chỉ được coi là tác giả phần lời thôi, chứ còn âm nhạc thì không rõ ai là tác giả... Trong link trên http://www.historyonesong.com/2010/04/cherniy_voron_1/ cũng viết
Единственно, мелодии к стихам он действительно брал популярные на тот момент, а тут, к сожалению, исследователи уже ничем помочь не могут в плане нахождения музыкального первоисточника. Tất nhiên một bài hát nổi tiếng trong dân gian, và được phổ biến bằng cả đường truyền khẩu thì chuyện lời sẽ có nhiều phương án là chuyện bình thường. Tuy nhiên, thời gian thường giữ lại những phương án tốt nhất. |
|
#88
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trước hết, em xin cảm ơn Bác Dmitri Tran đã quan tâm đến bài post của em. Sau nữa, theo thiển ý của em thì Bác đã hiểu sai 2 khổ thơ cuối cùng. Em chỉ xin nhắc đến văn bản của chính Bác Dmitri Tran vì văn bản mà em đưa ra nó đã quá rõ, (do dùng 2 động từ khác nhau). Em xin cố “liều mình” tạm dịch nghĩa 2 khổ thơ trong văn bản của Bác Dmitri Tran: Ta ôm lấy tân nương dịu dàng, nhã nhặn Giữa đồng hoang dưới bóng bụi cây Bà mai mối đã xe duyên ta với nàng ở nơi đây – Chính là thanh gươm sắc bén của ta. Mũi tên thép sẽ làm lễ kết duyên Cho chúng ta giữa trận chiến hung hiểm Khi trông thấy, cái chết của ta tiến tới (Thì)Hỡi Quạ Đen, ta sẽ thuộc về ngươi . Xin kính chào Bác Dmitri Tran.
__________________
Good things come to those who wait. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Polyushko Pole (18-02-2013) | ||
|
#89
|
||||
|
||||
|
Trích:
Em xin tạm phiên âm và dịch nghĩa 2 đoạn cuối của bản Trung văn như sau: Đọc theo kiểu "bính âm": Bīng lěng gāng qiāng chéng wǒ xīn niáng Tǎng zài kuàng yě guàn mù xià, Zèng liàng cì dāo shì wǒ tóng bàn, Fēng lì mǎ dāo shì qìng jiā. Jī liè zhàn dòu jué sǐ pīn shā Sǐ shén jiàng lín zài yǎn xià. Gāng tiě lì jiàn wèi wǒ jiā miǎn, Wǒ shǔ yú nǐ, hēi wū yā! Đọc theo kiểu “Hán Việt”: Băng lãnh cương thương thành ngã tân nương Thảng tại khoáng dã quán mộc hạ, Tắng lượng thích đao thị ngã đồng bạn, Phong lợi mã đao thị thân gia Kích liệt chiến đấu quyết tử bính sát Tử thần giáng lâm tại nhãn hạ. Cương thiết lợi tiễn vị ngã gia miện, Ngã thuộc vu nhĩ, hắc ô nha! Tạm dịch nghĩa: Cây giáo cứng lạnh là tân nương của ta Nằm dài ở dưới bụi cây trên cánh đồng rộng Thanh gươm ngắn nhọn sắc là đồng bạn của ta Cây đao dài là người thân thích của ta Chiến đấu khốc liệt, quyết tử liều đánh Thần chết sắp giáng hạ ngay trước mắt Mũi tên sắt cứng sẽ vì ta để kết hoa lên đầu cho ta (Rồi) ta sẽ thuộc về ngươi, hỡi Quạ Đen. Xin kính chào Bác Nina.
__________________
Good things come to those who wait. |
|
#90
|
|||
|
|||
|
Em là kẻ dốt nát không biết gì nhưng thiển nghĩ việc dịch một bào thơ từ tiếng Nga hay bất cứ tiếng nước nào sang tiếng mẹ đẻ là cực kỳ khó. Trước tiên dịch giả phải nắm được cái thần của bài thơ, văn hóa của người viết rồi mới dịch được. Đôi khi được vần thì mất ý, mà được ý thì mất vần, xa rời với nguyên tác.
Bài "Đợi anh về" của Xi mô nốp được Tố Hữu dịch cực hay. Tố Hữu đã từng tâm sự là dịch dịch bài này theo thể lục bát. Người dịch cũng phải sáng tạo không kém gì bài thơ. Người dịch thơ Puski hay nhất ở Việt Nam có lẽ là Thúy Toàn. Nhưng bài "Chiếc khăn san màu đen" em thấy không Puski cho lắm. Có một bác dịch kha hay bài này nhưng em ấn tượng nhất đoạn này: "Quân khốn khiếp cái hôn vừa chưa dứt/ Tôi điên lên và loảng xoảng vút đường guơm" Cả bài dịch em tìm mãi trên mạng không thấy. Bác nào tìm được bớt chút thời gian cho em cái link. |
|
#91
|
|||
|
|||
|
Sau khi tham khảo các ý kiến đóng góp, Nina xin dịch lại bài Qua đen như sau, với phần tiếng Nga như trong sách của bác dubravka đã dẫn:
Cá nhân em cảm thấy phần lời này đầy đủ hơn, mô tả logic hơn các suy nghĩ của nhân vật trữ tình, cũng như sự phát triển của các suy nghĩ ấy. Rất cám ơn các ý kiến đóng góp của tất cả các bác. |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#92
|
||||
|
||||
|
Trích:
Xin phép đóng góp ý kiến với Bác Nina. Đã trót chẻ sợi tóc ra làm 4, nay phải chẻ tiếp đến tận 8, rất mong Bác Nina tham khảo thêm một số ý “phản biện” của em: 1. Говорить всё об одном. Chữ “всё” ở đây có nghĩa là “только”, vậy dịch là “về vài điều” có thể là không sát lắm. 2. “Что за родину я пал” Dùng từ “hy sinh” theo nghĩa của cả tiếng Việt lẫn tiếng Nga đều không thich hợp với một bài dân ca cổ, có lẽ nên dùng ”đã ngã xuống” thì thích hợp hơn. 3. “платок кровавый” Dùng từ “khăn tay giây máu” có lẽ không đạt trong trường hợp “Завяжу смертельну рану” “Tôi băng lại vết thương chí mạng” (chữ “chí” là đúng chính tả), có lẽ nên dùng “đẫm máu” thì đúng hơn. Bác nên lưu ý văn bản mà Bác Dmitri Tran cung cấp: “Он, стрелою прободенный” vết thương chí mạng do mũi tên làm lủng một lỗ chắc phải lớn lắm. 4. “Я женился на другой” “Hăn đã cùng người khác se duyên” - Sao Bác lại đổi chủ ngữ trong câu này đi vậy ạ. 5. “В чистом поле под кустом” “Và đã làm đám cưới dưới bóng cây Trên đồng cỏ mênh mông…” – Một câu ngắn, rõ nghĩa ở bản gốc mà Bác lại kéo thành một câu rưỡi và chế tác thêm nhiều quá. “чистое поле” không phải là “đồng cỏ mênh mông”, anh chiến binh ngã xuống dưới “bụi cây” “под кустом” chứ không phải “làm đám cưới dưới bóng cây”, “чистое поле” thì không có cây được, chỉ có bụi cây thôi ạ. 6. “невеста” “cô dâu” – Bác nên lưu ý “Я женился на другой” – sau đám cưới người ta không còn là “cô dâu” nữa mà chỉ có thể là “tân nương”. Vậy “tân nương” ở đây là ai, là cái gì? Trong bài trả lời Bác Dmitri Tran ở trên, em đã lưu ý bằng cách “bôi đen” câu chữ của Bác Dmitri Tran “anh ta kết duyên với cái chết lặng lẽ bình yên bằng thanh kiếm sắc của mình”. Tiện đây em nhấn mạnh là “tân nương” không phải là “ cái chết lặng lẽ bình yên” và câu đã dẫn của Bác Dmitri Tran chỉ có một cách hiểu là “anh chiến binh tự sát bằng thanh kiếm sắc của mình” – sao anh ta có thể khẳng định “ngã xuống vì Tổ quốc” thân yêu được. Vậy, nếu trả lời được “tân nương” là ai, là cái gì ở đây, thì sẽ hiểu tại sao lại “Среди битвы роковой” “Я женился” và “Взял невесту” – anh chiến binh “giữa chiến trường khốc liệt” “đã kết duyên” và “đã ôm” "tân nương", tại sao lại gửi cái bằng chứng “ngoại tình” là “платок кровавый” báo cho “Милой любушке моей” để cô ấy có thể đi lấy chồng khác, tại sao "сваха" là "Сабля вострая моя" và tại sao lại có “Калена стрела венчала”… Với sự rất tôn trọng Bác Dmitri Tran, em xin ngưng tại đây. Xin cảm ơn Bác Nina đã cố gắng đọc đến hết bài post này. Những ý kiến ở trên, Bác coi dùng được ý nào thì dùng, còn nếu không thì cũng chỉ như là một độc giả bình thường nêu thắc mắc chơi vậy thôi ạ. Trân trọng kính chào bác Nina.
__________________
Good things come to those who wait. Thay đổi nội dung bởi: dubravka, 17-02-2013 thời gian gửi bài 09:10 |
|
#93
|
||||||
|
||||||
|
Trích:
![]() Trích:
Trích:
Trích:
![]() Trích:
Trích:
|
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#94
|
|||
|
|||
|
Em xin lỗi bác dubravka, đúng là “платок кровавый” phải dịch là khăn tay đẫm máu. Trong bài viết ngay trên em nhầm với đoạn lúc mới chỉ băng vết thương.
Riêng chỗ сваха - em thấy ngoài nghĩa bà mối ra, thì trong từ điển còn một nghĩa khác Trích:
|
|
#95
|
||||
|
||||
|
Trích:
Vấn đề cốt yếu để hiểu và dịch ra tiếng Việt một cách thuận lợi ca từ của bài “Quạ Đen” là phải xác định được “невеста” ở đây là ai, là cái gì… Nếu xác định một cách khác, cách hiểu bài thơ cũng khác đi. I. Hiển nhiên là vào thời mà người ta hát lên những lời thơ này, thì họ chưa biết có cô “Maika” của Tiệp Khắc, vì vậy “невеста” chắc chắn không phải từ trên trời rơi xuống. “Невеста” phải hiện diện trong ca từ. Có những tiêu chí để “nhận biết” “невеста”, em đã nhắc tới ở bài post trên là: 1. “Невеста” phải hiện diện ngay tại chiến trường (среди битвы роковой). 2. “Невеста” phải là một thực thể đã tồn tại (“я женился” và “взял невесту””в чистом поле под кустом”), hơn nữa phải là một thực thể “тиха-скромна”. Tiêu chí “тиха-скромна” này cho phép ta loại ngay từ “vòng gửi xe” các “nhân vật” ghê rợn như “черный ворон”, “смертельна рана”…cũng đang hiện diện tại chiến trường. 3. Bằng cớ để chứng minh cho “милая любушка” rằng anh chiến binh đã có “невеста” khác, phải được bày tỏ rõ trong tín vật “платок кровавый”, mà anh muốn nhờ Quạ Đen gửi về cho cô gái, để thông tin chắc chắn là “она свободна”. 4. “Сваха” của anh chiến binh với “невеста” chính là “сабля вострая моя”. 5. Người đã chủ trì “венчала” lễ kết duyên này chính là “калена стрела”. 6. Tiêu chí cuối cùng này thì như chuyện đùa thôi, nhưng lại xác thực 100%, đó là “невеста” phải là danh từ “giống cái” (женский род). Trong văn bản mà Bác Dmitri Tran cung cấp còn chỉ rõ hơn nữa: “С нею”. II. Bây giờ em xin chứng minh là “cái chết lặng lẽ bình yên” không thể là “невеста” trong ca từ bài hát này 1. “Смерть” không đáp ứng tiêu chí 1, 2 và 3 trong hệ thống em liệt kê nêu trên. 2. “Смерть” thậm chí còn đến muộn về sau, tức là động từ không chia ở thể quá khứ (đã - прошедшее время) mà ở thể đang xảy ra trong hiện tại (đang tới - настоящее время) (“Вижу, смерть моя приходит”). III. Vậy, nói đi nói lại, chắc các bác đã rõ ý kiến em định trình bày. Nói theo cách “ai muốn hiểu thế nào thì hiểu” thì nhận xét của em về “невеста” trong ca từ bài hát này chính là “кровь” – máu của người chiến binh đã đổ (Theo văn bản do Bác Dmitri Tran cung cấp thì là “Кровь лилась из черной раны”). 1. “Кровь” đáp ứng mọi tiêu chí nêu ở trên. 2. Giải thích thêm về tiêu chí 4, theo như ý kiến của Bác Nina: “сваха” ở đây theo đúng nghĩa là “người làm mối” đấy ạ. Anh chiến binh là một chàng trai, anh có “сабля вострая”, anh phải có nghĩa vụ và tinh thần hăng hái tham gia chiến đấu trên chiến trường để bảo vệ Tổ quốc. Chính “сабля вострая” đã dẫn anh đến chiến trường và anh đã đổ máu để “за родину””пал” và người “венчала” cho anh và máu đổ chính là “калена стрела”. 3. Ghi thêm: nếu Bác Nina không thích từ “đẫm máu” thì Bác có thể dùng: pha máu, nhuộm máu, thấm máu…Nhạc sỹ Văn Cao chẳng đã viết “Cờ pha máu chiến thắng mang hồn nước” đó sao. Từ “giây máu” trong một thành ngữ tiếng Việt có một ý nghĩa không được hay. Em xin kết thúc bài viết này tại đây. Cũng chỉ là một cách hiểu của em về ca từ bài thơ, trình bày để các bác tham khảo. Xin cảm ơn các bác đã quan tâm.
__________________
Good things come to those who wait. |
|
#96
|
||||
|
||||
|
Em cũng xin “cố bảo vệ” cho cách hiểu của mình: “Невеста” trong bài dân ca này là “Смерть”, theo đúng 3 tiêu chí mà bác dubravka cho rằng không đáp ứng.
1. “Невеста” phải hiện diện ngay tại chiến trường (среди битвы роковой). Cái chết đang hiện diện. Anh lính bị thương trong trận đánh và đang nằm chờ thần chết đến lấy đi tính mạng của mình. Quạ thì đang “kền kền chờ xác”. Nhưng anh lính chưa chết và chưa muốn chết (2 lần khẳng định: “ Quạ - ta không phải của ngươi”) khi chưa trăn trối được với mẹ già và người yêu trẻ. Với mẹ già, mọi chuyện khá đơn giản, tất cả gói gọn trong một câu “Что за родину я пал”. Nhưng với người yêu thì khác. Anh cũng muốn báo với cô rằng anh đã chết (платок кровавый nói lên điều đó), nhưng lại không muốn nàng đau khổ, mà muốn nàng nhẹ nhàng lên xe hoa với người khác. Bằng cách nào đây? Bằng cách nói dối rằng “anh đã phản bội em”! Báo là chết, nhưng lại muốn bảo là "đã phản bội", song vẫn muốn báo là chết. Tâm trạng này mới đau đớn, giằng xé làm sao! 2. “Невеста” phải là một thực thể đã tồn tại (“я женился” và “взял невесту””в чистом поле под кустом”), hơn nữa phải là một thực thể “тиха-скромна”. Cái này không nhất thiết ạ. Cũng như “родину я пал”, đây là thời quá khứ trong tương lai. Rõ ràng tại thời điểm anh lính trăn trối, mọi chuyện này chưa xảy ra. Nhưng khi mẹ và người yêu biết thì chúng đã xảy ra rồi. Cái chết đang lặng lẽ, chầm chậm đến gần rất “тиха-скромна”. 3. Bằng cớ để chứng minh cho “милая любушка” rằng anh chiến binh đã có “невеста” khác, phải được bày tỏ rõ trong tín vật “платок кровавый”, mà anh muốn nhờ Quạ Đen gửi về cho cô gái, để thông tin chắc chắn là “она cвободна”. Gửi trả lại người yêu chiếc khăn tay đẫm máu - bằng chứng nào hùng hồn hơn rằng Смерть (kẻ "tình địch") đã cướp mất chàng từ tay nàng. Sau khi đã nhắn gửi được những lời trăn trối, lý giải được sự "phản bội" của mình, anh lính bình thản đón nhận cái chết. Вижу, смерть моя приходит, Чёрный ворон, весь я твой. P/S: Theo em 2 câu này “Калена стрела венчала Среди битвы роковой” về ý chúng gắn với khổ thơ trên. Взял невесту тиху-скромну В чистом поле под кустом, Обвенчальна была сваха — Сабля вострая моя. Калена стрела венчала Среди битвы роковой. Nhưng vì là thơ, nhất lại là lời trong dân ca, nên phải ngắt ra cho đúng luật. Cuối cùng, em xin mượn lời bác dubravka đáng kính, để kết thúc:
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! |
|
#97
|
||||
|
||||
|
May quá đã có Bác Мужик phản biện. Ngày trước, trong một cuộc tranh luận tại NNN, em cũng từng viết đại ý là: em không sợ sai, chỉ sợ không trăn trở tìm tòi những điều mới lạ. Nếu cứ suy nghĩ theo những lối mòn cũ thì xã hội không thể nào tiến lên được phải không ạ. Em cũng lo lắng nhất là việc những ý kiến đưa ra chỉ như đá ném ao bèo, không gây được một vòng sóng nào, thì thật là đáng nản.
Bây giờ em sẽ cùng Bác Мужик tranh luận chút nhé. Em cũng phải “cố bảo vệ” ý kiến của em chứ ạ. 1. Trong lập luận của Bác có nhấn mạnh: “Cái chết đang hiện diện”. Đúng vậy Bác ạ. Nhưng nó chưa hiện diện trong vòng tay của anh chiến binh để anh có thể “взял”, bởi vì chính Bác Мужик cũng đã viết tiếp ngay: “Sau khi đã nhắn gửi được những lời trăn trối, lý giải được sự "phản bội" của mình, anh lính bình thản đón nhận cái chết. Вижу, смерть моя приходит, Чёрный ворон, весь я твой”. Nếu anh đã “взял” được “смерть” thì sau đó anh còn bình thản đón nhận thêm một “смерть” nào đang tới nữa đây? Cách thử thú vị nhất là nếu Bác Мужик đem ngay từ “смерть” thay vào từ “невеста” trong bài thơ (tạm không nói đến vần điệu), Bác sẽ nhận được như sau: Взял смерть тиху-скромну В чистом поле под кустом, Обвенчальна была сваха — Сабля вострая моя. Калена стрела венчала Среди битвы роковой. Вижу, смерть моя приходит, Чёрный ворон, весь я твой. Bác có thể vừa: Взял смерть тиху-скромну В чистом поле под кустом Vừa: Вижу, смерть моя приходит Được hay không??? 2. Tiếp theo nữa, Bác có viết “Cũng như “родину я пал”, đây là thời quá khứ trong tương lai. Rõ ràng tại thời điểm anh lính trăn trối, mọi chuyện này chưa xảy ra. Nhưng khi mẹ và người yêu biết thì chúng đã xảy ra rồi”. Mặc dù em cũng chưa tán thành lắm về việc phân tích ngữ pháp của Bác, nhưng em cứ tạm công nhận là Bác nói đúng đi, thì ngữ cảnh hai khổ thơ cuối cùng cũng không phải là câu nhắn nhủ của anh chiến binh với người yêu. Đó là 2 khổ thơ “trần thuật” Bác ạ. 3. Câu tiếp theo của Bác Мужик: “Cái chết đang lặng lẽ, chầm chậm đến gần rất “тиха-скромна”” là một lầm lẫn ngữ pháp Bác ạ. Từ kép “тиха-скромна” không phải là trạng từ như câu đã dẫn của Bác, nó chính là tính từ. Xin cảm ơn Bác Мужик rất nhiều vì đã cố gắng đọc post của em và có ý kiến phản hồi. Đó chính là niềm vui lớn của em đấy ạ. Trân trọng.
__________________
Good things come to those who wait. Thay đổi nội dung bởi: dubravka, 18-02-2013 thời gian gửi bài 20:12 |
|
#98
|
|||
|
|||
|
Em cũng xin phép góp vài ý kiến vào cuộc thảo luận này (em nghĩ không hẳn là tranh luận, và chắc chắn không phải tranh cãi). Em lại nghĩ là hai khổ thơ cuối cùng vẫn là lời mà anh lính tâm tình với người yêu đấy ạ (thật ra chỉ gồm khổ thơ gần cuối, và hai câu đầu của khổ thơ cuối cùng). Nó chính là việc triển khai cái ý nhắn
Ты скажи — она свободна, Я женился на другой. Vì trong hai khổ thơ sau đó là các chi tiết của đám cưới mà. Câu "Взял невесту тиху-скромну" theo em nếu hiểu nôm na chỉ đơn giản là - tôi đã cưới một cô gái lặng lẽ khiêm tốn thôi ạ. Còn hai câu cuối cùng là tách khỏi mạch nhắn nhủ rồi, đây là lời nói trực tiếp cho con quạ. |
|
#99
|
||||
|
||||
|
Dạ. Giá mà em được trò chuyện trực tiếp với bác dubravka thì hay biết mấy. Thực tình, thoạt tiên em chẳng quan tâm mấy đến bài dịch của bác Nina đâu (em vốn không yêu và cũng chẳng thích thơ), nhưng ý kiến của bác Dmitri Tran làm em tò mò và đọc kỹ hơn. Rồi các ý kiến của bác đã khiến em quan tâm và ngẫm nghĩ về bài thơ (tất nhiên là hoàn toàn по-русски chứ không hiểu theo tiếng Việt). Có rất nhiều suy nghĩ, cảm nhận... mà em không thể viết ra được, vì sẽ rất lộn xộn, dài dòng. Nhưng nói chuyện với nhau thì rất dễ.
Em xin giải thích ngắn gọn về những ý kiến của bác như sau: Trích:
- Cái chết sau là cái chết thật, đúng theo nghĩa đen. Trích:
Trích:
“Cái chết đang lặng lẽ, chầm chậm đến gần. Đúng là nó rất “тиха-скромна”” Em cũng rất vui và cái chính là thấy rất thoải mái khi được "trao đi - đổi lại" với bác. Chúc bác luôn khỏe mạnh sau chút sự cố vừa qua!
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! |
|
#100
|
||||
|
||||
|
Xin phép trả lời Bác Мужик:
1. Sau khi đã tìm hiểu kỹ, em đã nhận thấy chẳng có tương lai trong quá khứ nào ở đây Bác Мужик ạ. Đó hoàn toàn chỉ là một thời quá khứ (прошедшее время) đơn thuần. Do đó Bác chưa thuyết phục được em về vấn đề ngữ pháp này đâu ạ. 2. Nếu Bác đã khẳng định “смерть” là “невеста” thì 2 từ này phải thay thế tương đương. Như post trước em đã viết, Bác mang “смерть” thay cho “невеста” thì Bác giải thích là Cái chết trước ("cô dâu") là nhân vật do anh lính nghĩ ra để lý giải cho "sự phản bội" của mình (cái chết được nhân cách hóa thành "cô dâu"). - Cái chết sau là cái chết thật, đúng theo nghĩa đen. Vậy nếu bác thay ngược lại: Взял невесту тиху-скромну В чистом поле под кустом Và: Вижу, невеста моя приходит Bác thấy có thể chấp nhận được không, cho dù đoạn trên Bác giải thích “cũng là lời trăn trối được nhắn gửi” đi nữa. Bởi vì nếu hiện tại “невеста моя” mới ”приходит” thì làm sao “Калена стрела” có thể ”венчала” được. “Калена стрела” đã ”венчала” ngay từ khi anh chiến binh trúng tên ngã xuống rồi ạ. Viết thêm: Em rất thích trao đổi học thuật như thế này. Qua đó sáng tỏ thêm rất nhiều vấn đề. Em hay cố gắng “đào bới” mọi văn bản, suy nghĩ một cách thật “khác lạ” để hy vọng tìm kiếm được sâu hơn, kỹ hơn. Em cũng cảm ơn Bác Мужик rất nhiều vì đã quan tâm tới “sự cố” của em. Đúng là hồi này sức khỏe em tệ hơn trước rất nhiều. Riêng với Bác Nina, thì với những dữ liệu đã có trong tay, Bác thừa sức dịch lại ca từ một cách chuẩn xác hơn rồi phải không ạ. Trân trọng.
__________________
Good things come to those who wait. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|