Chắc là ở NNN không mấy ai học trường Dự bị đại học
Tất nhiên là nghe tên trường cũng không có gì là oách, trường cũng chưa bao giờ được coi là trường top nọ top kia thì phải. Tuy nhiên, Nina có hân hạnh học một năm tại trường, và do đó, hôm qua cũng về thăm trường cũ - nơi đã từng dạy tiếng Nga cho rất nhiều lưu học sinh Việt Nam.
Tiền thân của Trường Dự bị Đại học TP.HCM là Viện Đại học Cộng đồng Tiền Giang (được thành lập tháng 8/1971, bắt đầu chiêu sinh đào tạo từ năm học 1973-1974). Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Hội đồng Chính phủ chuyển Viện Đại học Tiền Giang thành Trường Dự bị Đại học Tiền Giang với cơ sở I ở TP.HCM và cơ sở II tại Tiền Giang (Quyết định số 240/CP ngày 06/12/1976, và ngày này cũng được coi là ngày thành lập trường).
Năm 1982, Trường Dự bị Đại học Tiền Giang đổi tên thành Trường Dự bị Đại học TP. Hồ Chí Minh, đặt cơ sở tại số 91 Nguyễn Chí Thanh - Q.5, TP.HCM đến ngày nay.
Lịch sử phát triển Trường Dự bị Đại học TP. Hồ Chí Minh có thể chia thành ba giai đoạn với những đặc thù rõ nét.
- Giai đoạn 1 từ năm 1976 - 1986: sau ngày miền Nam giải phóng, đầu năm 1976, Bộ Đại học và THCN giao nhiệm vụ cho trường tiếp tục hoàn thành nhiệm vụ đào tạo số sinh viên của Viện ĐH Cộng đồng Tiền Giang, đồng thời mở hệ Dự bị Đại học Khóa 1 cho 1.490 học viên, trong đó có hơn 80% là bộ đội phục viên, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho họ trong 4 tháng, sau đó thi vào đại học và đã đậu được 995 người.
Từ khóa 2 (1976 - 1977) trở đi, vượt qua nhiều khó khăn ban đầu, Nhà trường tiếp tục giảng dạy mỗi khóa trên dưới 2.000 học viên và từ năm 1977 - 1978 là khóa đầu tiên có 150 sinh viên học ngoại ngữ được tuyển chọn đi du học ở Liên Xô.
Đến năm 1982 Trường mang tên Trường Dự bị Đại học TP. Hồ Chí Minh và chuyển giao cơ sở II ở Mỹ Tho cho Trường ĐH Cần Thơ.
- Giai đoạn 2 từ năm 1986 - 1990: Đảng và Nhà nước thực hiện đường lối đổi mới về kinh tế - xã hội, ngành giáo dục cũng đổi mới công tác tuyển sinh: đối tượng tuyển sinh thuộc diện chính sách thu hẹp, hằng năm hệ Dự bị Đại học chính quy chỉ còn từ 110 - 180 HS, hệ ngoại ngữ vẫn ổn định từ 300 - 400 SV/năm.
- Giai đoạn 3 từ năm 1991 đến nay: Từ năm 1990 - 1991, nhà trường tập trung làm nhiệm vụ trọng tâm là đào tạo học sinh Dự bị Đại học Dân tộc ít người, tao nguồn để đưa vào các trường Đại học, Cao đẳng, đào tạo cán bộ dân tộc cho vùng cao, vùng sâu, miền núi, vùng dân tộc