Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga > Lịch sử nước Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #101  
Cũ 05-07-2011, 20:48
Mùi Hồng Mùi Hồng is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Mar 2010
Bài viết: 83
Cảm ơn: 58
Được cảm ơn 173 lần trong 52 bài đăng
Default

Trích:
danngoc viết Xem bài viết
[SIZE="3"]
Khao khát tình yêu: cảnh tù nam dõi qua hàng rào về phía khu vực tù nữ – phác thảo của Yula-Imar Sooster, Karaganda, 1950.
Phải dịch là khát khao tình dục, chuyện này kô cần phải ở trại mới có.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #102  
Cũ 05-07-2011, 20:50
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Ngay từ đầu, số phận một người phụ nữ tùy thuộc rất nhiều vào địa vị và vị trí của cô ta trong nhiều phe cánh khác nhau của trại. Bên trong thế giới tội phạm, phụ nữ là đối tượng của một hệ thống quy định và nghi thức chi tiết, được nhận rất ít tôn trọng. Theo Shalamov, “Một tên tội phạm thế hệ thứ ba hoặc thứ tư sẽ được học cách xem thường phụ nữ ngay từ khi còn nhỏ… phụ nữ, loại người thấp kém, được tạo ra chỉ để làm thỏa mãn sự thèm khát thú vật của bọn tội phạm, làm mục tiêu cho những trò đùa thô lỗ của chúng và là nạn nhân của các trận đánh hội đồng khi thằng côn đồ của cô ta quyết định ‘quậy lên’ ”. Phụ nữ làm gái điếm thực sự “thuộc sở hữu” của đám tội phạm nam hàng đầu, có thể được trao đổi hoặc mua bán, hoặc thậm chí được thừa kế từ anh trai hay bạn bè, nếu người đàn ông đó bị chuyển sang trại khác hoặc bị giết chết. Khi có trao đổi diễn ra, “thường những người liên quan không tới can thiệp, và cô điếm cam chịu ngủ với người chủ mới của mình. Không có chuyện tình bộ ba (Khái niệm ménages à trois: ba người sống luyến ái chung đụng. - ND ) – hai đàn ông chia nhau một phụ nữ – trong thế giới tội phạm. Cũng không có chuyện một tên trộm nữ lại sống chung với một tù không phải tội phạm”. (Shalamov, Kolyma Tales, tr. 415-431)

Phụ nữ cũng không phải là những con mồi duy nhất. Trong số đám tội phạm chuyên nghiệp, quan hệ đồng tính hóa ra được dàn xếp với những quy tắc không kém phần tàn bạo. Một số ông trùm tội phạm có các cậu trai đồng tính trong đám tay chân của mình, đi cùng hoặc thay cho các “phi tần” trong trại. Thomas Sgovio có viết về một đội trưởng có người “vợ” nam - một thanh niên được nhận thêm khẩu phần để đổi lấy quan hệ tình dục. (Sgovio, tr. 173-174) Tuy nhiên, khó mà diễn tả rõ được những quy tắc quy định về quan hệ đồng tính nam trong trại, bởi các hồi ký hiếm khi đề cập tới chủ đề này. Có lẽ là do chuyện đồng tính, trong văn hóa Nga, vẫn là việc bị cấm đoán phần nào, và mọi người tránh không viết về nó. Đồng tính nam trong trại dường như cũng chủ yếu giới hạn trong giới tội phạm – mà bọn tội phạm thì rất ít kẻ viết hồi ký.

Tuy nhiên, chúng ta biết được rằng trong các thập niên 1970 và 1980, bọn tội phạm ở Liên Xô đã phát triển các quy định vô cùng phức tạp về những nghi thức đối với quan hệ đồng tính. Đám đồng tính nam “thụ động” bị tẩy chay khỏi xã hội tù, phải ăn ở bàn riêng, và không được nói chuyện với đàn ông khác. (Abramkin và Chesnokova, tr. 18; Marchenko, To Live Like Everyone, tr. 16) Mặc dù hiếm khi được mô tả, các quy định tương tự dường như đã tồn tại ở một số khu vực ngay từ cuối thập niên 1930, khi Pyotr Yakir, mười lăm tuổi, đã chứng kiến một vụ quan hệ đường hậu môn trong một phòng giam cho tội phạm vị thành niên. Thoạt đầu, ông bị sốc khi nghe các thiếu niên khác kể về kinh nghiệm tình dục của mình và tin rằng chúng chỉ thêm hành thêm tỏi:


nhưng tôi đã lầm. Một trong những thằng kia giữ lại phần bánh mì của mình cho tới tận buổi chiều và tới hỏi Mashka, kẻ mà nguyên ngày hôm đó không có gì để ăn cả, “Mày có muốn cắn một miếng không?”

“Muốn”, Mashka đáp.

“Thế thì cởi quần ra”.

Chuyện ấy xảy ra trong một góc phòng, từ lỗ quan sát ở cửa thì khó mà thấy được, nhưng ở trong phòng thì ai cũng nhìn rõ. Chẳng ai buồn ngạc nhiên và tôi cũng giả vờ không hề ngạc nhiên. Nhiều vụ khác nữa xảy ra khi tôi ở trong phòng giam ấy; luôn luôn vẫn những thằng nhóc đó đóng vai trò làm kẻ thụ động. Chúng bị đối xử như đám mạt hạng, không được phép uống cốc chung và là đối tượng của nhiều trò nhục mạ. (Yakir, tr. 46-47)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #103  
Cũ 05-07-2011, 20:51
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Trích:
Mùi Hồng viết Xem bài viết
Phải dịch là khát khao tình dục, chuyện này kô cần phải ở trại mới có.
Nguyên văn tiếng Anh là Desire for love nên danngoc không thể dịch khác MuiHong ạ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #104  
Cũ 05-07-2011, 20:53
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Đáng tò mò là, đồng tính nữ trong trại công khai hơn, hay ít nhất là được mô tả thường xuyên hơn. Trong số đám tội phạm nữ, chuyện này cũng được quy định hóa rất nặng nề. Đồng tính nữ trong tiếng Nga được đề cập bằng đại từ nhân xưng giống trung, ono, và họ tự phân chia mình thành đám “ngựa cái” nữ tính hơn và “chồng” nam tính hơn. Theo như một ghi chép, loại người đầu đôi khi còn được gọi là đám “nô lệ thực thụ”, phải lau dọn và chăm sóc cho “chồng” mình. Loại người sau mang các biệt danh kiểu đàn ông, hầu hết lúc nào cũng phì phèo thuốc lá. (Ulyanovskaya và Ulyanovskaya, tr. 388-391 và Lvov, hồi ký không xuất bản) Bọn họ công khai nói về chuyện đồng tính nữ, thậm chí còn hát những bài về chuyện đó:

Ôi ta nhờ ơn Stalin
Người khiến tôi thành nữ công tước
Tôi đây người nửa nam nửa nữ
Vừa bò cái vừa bò đực sống chung.
(Ulyanovskaya và Ulyanovskaya, tr. 388-391)

Họ cũng tự khẳng định bằng trang phục và cung cách ứng xử của mình. Một tù nữ người Ba Lan sau này viết lại rằng:

Những cặp phụ nữ như vậy ai cũng biết, và họ không thèm giấu giếm hành vi của mình. Người đóng vai trò của đàn ông thường là mặc quần áo đàn ông, cắt tóc ngắn và xỏ tay túi quần. Khi một cặp tình nhân như vậy đột nhiên trào dâng cảm xúc, họ bật dậy từ chỗ ngồi, rời khỏi máy khâu và đuổi theo nhau, sau đó vừa điên cuồng hôn hít vừa ngã lăn ra đất. (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #105  
Cũ 05-07-2011, 20:56
Mùi Hồng Mùi Hồng is offline
Bánh mì đen - Черный хлеб
 
Tham gia: Mar 2010
Bài viết: 83
Cảm ơn: 58
Được cảm ơn 173 lần trong 52 bài đăng
Default

Trích:
danngoc viết Xem bài viết
Nguyên văn tiếng Anh là Desire for love nên danngoc không thể dịch khác MuiHong ạ.
Bởi vì từ desire mang ý nghĩa "thèm thuồng", điều này chỉ là "cần nhưng chưa d8ủ" đối với tình yêu! từ desire mang ý nghĩa vật thể hơn tinh thần!
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #106  
Cũ 05-07-2011, 20:57
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Valery Frid viết rằng đám tù tội phạm nữ ăn mặc như đàn ông, tự nhận mình là kẻ lưỡng tính. Một cô “tóc ngắn, xinh đẹp, mặc quần dài sĩ quan”; một cô khác dường như đã bị biến dạng sinh dục thực sự. (Frid, tr. 186-187)

Một tù khác mô tả cảnh “hãm hiếp” đồng tính nữ; bà đã chứng kiến một cặp nữ đồng tính dồn bắt một “cô gái e lệ ít nói” dưới gầm giường, sau đó chọc rách trinh cô này. (Lvov, hồi ký không xuất bản) Trong giới trí thức, đồng tính nữ dường như ít được vui lòng để ý hơn. Một cựu tù chính trị nhớ rằng đó là “một thói quen đáng phẫn nộ”. (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2) Tuy nhiên, mặc dù thường bị giấu diếm trong giới tù chính trị, nó cũng vẫn tồn tại trong số họ, thường xảy ra giữa các phụ nữ có chồng con tự do. Susanna Pechora kể cho tác giả rằng tại Minlag, một trại tù chính trị lớn, quan hệ đồng tính nữ “đã giúp một số người sống sót”. (Pechora, qua phỏng vấn với tác giả)

Bất kể là tình nguyện hay ép buộc, bất kể là do ham muốn đồng tính hay quá thèm khát quan hệ khác giới, hầu hết quan hệ tình dục trong trại đều cùng chia sẻ bầu không khí tàn bạo chung. Khi cần thiết, chúng được thực hiện với sự công khai khiến rất nhiều tù nhân cảm thấy choáng váng. Các cặp thường “bò dưới hàng rào thép gai và làm tình ngay cạnh nhà vệ sinh, trên mặt đất”, như lời một cựu tù kể với tác giả. “Một chiếc giường tầng che bằng mấy mảnh giẻ rách khỏi mắt đám phụ nữ hàng xóm đã là một cảnh phổ biến kinh điển trong trại”, Solzhenitsyn viết. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 233) Isaak Filshtinsky có lần đã thức giấc lúc nửa đêm và thấy một phụ nữ nằm trên chiếc giường gần mình. Cô ta đã lén leo qua tường để vào làm tình với tay đầu bếp trại: “Khác hẳn với tôi, không một ai ngủ đêm hôm ấy, mọi người đều tập trung say sưa lắng nghe cuộc mây mưa”. (Filshtinsky, qua phỏng vấn với tác giả) Hava Volovich viết rằng “những điều mà một người tự do thường phải suy nghĩ hàng trăm lần trước khi dám làm, lại diễn ra tại đây rất đơn giản y như chuyện giữa đám mèo hoang vậy”. (Hava Volovich, “My Past”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 260) Một tù khác nhớ rằng tình yêu, đặc biệt là tình trong đám trộm cướp, “y như thú hoang”. (Lvov, hồi ký không xuất bản)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #107  
Cũ 05-07-2011, 20:59
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Thực ra, tình dục diễn ra công khai đến nỗi nó bị mọi người khá hờ hững: hãm hiếp và bán dâm đối với một số người đã trở thành bộ phận của cuộc sống ngày thường. Edward Buca có lần làm việc gần một đội lao động nữ ở xưởng cưa. Một nhóm tù tội phạm xuất hiện. Chúng “tóm lấy những phụ nữ mà chúng muốn và đè họ ra trên tuyết, hoặc ẩy họ dựa vào đống gỗ. Dường như đám phụ nữ đã quen nên không chống cự gì. Họ cũng có đội trưởng của mình, nhưng cô ta không chống lại những sự gián đoạn ấy, trong thực tế chúng có vẻ gần như là một phần khác của công việc”. Lev Razgon cũng kể câu chuyện về một cô gái trẻ tóc vàng mà có lần ông bắt gặp đang quét khoảng sân của một khu trạm xá trại. Lúc ấy ông đã là công nhân tự do, đến thăm một bác sĩ quen, và mặc dù không đói, ông vẫn được mời dùng bữa trưa thịnh soạn. Ông đưa nó cho cô gái, cô này “ăn thật lặng lẽ và gọn gàng, ta có thể nói rằng cô đã lớn lên trong một gia đình tử tế”. Thực ra cô làm Razgon nhớ tới chính con gái mình:

Cô gái ngừng ăn, gọn gàng xếp mấy cái đĩa vào khay gỗ. Sau đó cô kéo váy lên, tụt quần lót xuống và, cầm chúng trong tay, cô quay khuôn mặt không cười về phía tôi.

“Nằm hay thế nào?” cô hỏi.

Thoạt đầu vẫn chưa hiểu, và rồi phát hoảng vì phản ứng của tôi, cô nói bằng giọng tự bào chữa, cũng lại vẫn không cười “Không ai cho tôi ăn không...” (Razgon, tr. 163-164)

Cũng có khi, tại một vài trại, những lán nữ nhất định trở thành không hơn gì một nhà thổ công khai. Solzehnitsyn mô tả một lán như vậy

Bẩn thỉu và ọp ẹp không gì so sánh nổi, bên trong vảng vất mùi ngột ngạt, các giường tầng không có chăn đệm. Có một lệnh cấm chính thức cấm đàn ông vào đây, nhưng chẳng ai thèm quan tâm và không ai tuân theo. Không chỉ có đàn ông tới, mà cả bọn thiếu niên, những thằng nhóc mười hai mười ba tuổi, bu tới để học hỏi... Mọi thứ được thực hiện hết sức tự nhiên như ngoài thiên nhiên, giữa mắt mọi người, và tại nhiều nơi cùng một lúc. Hiển nhiên chỉ có tuổi già và sự xấu xí rõ mồn một mới là thứ bảo vệ duy nhất cho phụ nữ ở đấy – ngoài ra không còn gì khác. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 233)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #108  
Cũ 05-07-2011, 21:04
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Tuy nhiên – ngược hẳn lại với những câu chuyện về bạo lực tình dục và sự thô lỗ, trong nhiều hồi ký cũng có số lượng nhiều tương tự những câu chuyện không chắc thực lắm về tình yêu trong trại, một số đơn giản chỉ bắt đầu từ mong muốn tự bảo vệ của phụ nữ. Theo các quy tắc đặc trưng của cuộc sống trại, những phụ nữ chọn cách đi theo một “ông chồng trại” thường được đám đàn ông khác để yên, một hệ thống mà Herling gọi là “ius primae noctis đặc thù của trại”. (Herling-Grudziński, tr. 135) Đó không nhất thiết phải là “các cuộc hôn nhân xứng đôi vừa lứa”: phụ nữ đứng đắn đôi khi vẫn sống chung với những tên trộm cướp. (Frid, tr. 187) Hay, như Ruzhnevits đã kể, họ cũng không nhất thiết được lựa chọn theo ý mình. Tuy nhiên, cũng không hoàn toàn đúng nếu xem bọn họ là gái điếm. Theo như Valery Frid viết, đúng hơn đấy là “braki po raschetu” – “hôn nhân có tính toán” – “đôi khi đồng thời cũng là hôn nhân vì tình yêu”. Thậm chí nếu khởi đầu chỉ là vì các lý do thực dụng, tù cũng cân nhắc những mối quan hệ như vậy hết sức nghiêm túc. “Khi đề cập về người tình không ít thì nhiều cũng là thường xuyên của mình, một zek sẽ nói ‘vợ tôi’, ” Frid viết, “Và cô ta sẽ nói anh ta là ‘chồng tôi’. Không phải là nói chơi: các quan hệ trong trại khiến cuộc sống của chúng tôi có nhân tính hơn”. (Frid, tr. 187-188)

Và, mặc dù nghe có vẻ lạ, những tù không quá mệt mỏi hay kiệt sức thực sự có đi tìm kiếm tình yêu. Hồi ký của Anatoly Zhigulin có mô tả lần ông tìm cách tán tỉnh một nữ tù chính trị người Đức, cô “Marta vui tươi, tốt bụng, mắt xám, tóc vàng”. Sau này ông được biết cô đã sinh một đứa con, đặt tên là Anatoly. (Đây là vào mùa thu 1951, và do cái chết của Stalin dẫn tới một cuộc tổng ân xá cho tù nước ngoài, ông cho rằng “Marta và đứa trẻ, nếu không có gì xui xẻo xảy ra, hẳn đã trở về quê hương”. (Zhigulin, tr. 128-133)) Hồi ký của viên bác sĩ trại Isaac Vogelfanger có những lúc đọc nghe cứ như tiểu thuyết tình cảm, với nhân vật anh hùng phải bước dọ dẫm rất cẩn thận giữa một bên là nỗi nguy hiểm của cuộc dan díu với bà vợ ông trùm trại và một bên là niềm hạnh phúc của một tình yêu thực thụ. (Vogelfanger)


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Trẻ em người Ba Lan, ảnh chụp ngay sau khi được tha năm 1941.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Khu dưỡng nhi của trại: một tù nữ cho con bú.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Nhà trẻ trại: trang trí cây thông năm mới



ius primae noctis: Tiếng latin, nghĩa là “Luật đêm đầu tiên”: xuất hiện vào thời Trung Cổ, quy định lãnh chúa được quyền hưởng trinh các cô gái nông nô trong lãnh địa của mình. - ND
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #109  
Cũ 05-07-2011, 21:07
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Những con người bị tước hết mọi thứ khao khát các mối quan hệ tình cảm mạnh mẽ đến nỗi một số lún sâu vào những cuộc tình lý tưởng thuần túy kiểu Platon, chỉ bằng những lá thư. Đó đặc biệt là những trường hợp cuối thập niên 1940, tại các trại đặc biệt cho tù chính trị, nơi tù nhân nam và nữ bị giam giữ tách biệt rất nghiêm túc. Ở Minlag, một trại giống như vậy, tù nam và nữ gửi bút đàm cho nhau qua các bạn tù trong bệnh viện trại, được cả hai giới dùng chung. Tù cũng tổ chức một “hộp thư” bí mật tại công trường xây dựng tuyến đường sắt nơi có đội lao động nữ làm việc. Cứ mỗi vài ngày, một phụ nữ làm trên đường ray lại giả vờ để quên cái áo khoác hay món đồ nào đó để đi tới chỗ hộp thư, gom nhặt thư từ được gửi đến và để lại thư trả lời. Sau đó một tù nam tới lấy chúng. (Sitko và Pechora, qua phỏng vấn với tác giả) Cũng có những phương thức khác: “Tại một thời điểm nhất định, một người được chọn trước tại một khu vực sẽ ném xuống thư của nam gửi cho nữ hay của nữ gửi cho nam. Đó là một kiểu ‘dịch vụ bưu điện’ .” (Kaufman, tr. 223)

Những bức thư như vậy, như Leonid Sitko nhớ lại, được viết trên các vuông giấy nhỏ, cỡ chữ li ti. Mọi người ký tên trong thư bằng tên giả: chàng là “Hamlet”, bạn gái của chàng là “Marsianka”. Hai người được “giới thiệu” với nhau thông qua những phụ nữ khác, họ cho chàng hay là nàng đang vô cùng sầu não, do phải rời xa đứa con nhỏ sau khi nàng bị bắt. Chàng bắt đầu viết thư cho nàng, thậm chí bọn họ còn tìm cách gặp được nhau một lần, bên trong khu mỏ bỏ hoang. (Sitko, qua phỏng vấn với tác giả)

Những người khác sáng tạo ra các phương cách thậm chí còn kỳ quái hơn nữa để tìm kiếm một mối làm quen. Tại trại đặc biệt Kengir, có những tù nhân – hầu như tất cả đều là tù chính trị người nước ngoài, bị tước mất mọi liên hệ với gia đình, bạn bè và vợ chồng ở quê nhà – đã phát triển những mối quan hệ phức tạp với những con người mà họ chưa từng gặp mặt. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 248-249) Một số đã làm đám cưới với nhau qua các bức tường ngăn chia giữa trại nam và trại nữ mà không hề gặp nhau. Người phụ nữ đứng bên này, người đàn ông bên kia; họ cất lời thề và một tù là linh mục ghi nhận hôn thú trên một mảnh giấy.

Kiểu tình yêu này rất bền bỉ, kể cả khi ban quản lý trại xây cao bức tường, chằng thêm lên dây thép gai và cấm tù lảng vảng lại gần. Mô tả các hôn nhân mù quáng kiểu này, thậm chí ngay Solzhenitsyn cũng buông những lời nhạo báng chua cay mà ông gán cho hầu hết tất cả các quan hệ khác trong trại: “Trong cuộc hôn nhân với một người không quen biết bên kia bức tường thế này ... tôi nghe được tiếng đồng ca của các thiên thần. Tựa như một đấng cõi trên điềm đạm thanh khiết, đầy vị tha. Điều ấy quá cao quý trong thời buổi đầy tính toán vụ lợi và nhảy nhót lố lăng thế này...” (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 249)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #110  
Cũ 05-07-2011, 21:11
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Nếu tình yêu, tình dục, hãm hiếp và mại dâm là một phần của đời sống trong trại, vậy thì chúng cũng dẫn tới bầu bì và sinh nở. Cùng với các công trường khai mỏ và xây dựng, các đội sản xuất lâm nghiệp và khám phạt, lán ở và đoàn tàu chở súc vật, trong Gulag còn có cả bệnh viện phụ sản và trại dưỡng nhi – cũng như các bảo mẫu chăm sóc cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

Không phải tất cả những trẻ em đến các cơ sở đó đều được sinh ra trong trại. Một số bị “bắt” cùng với mẹ của chúng – những quy định chi phối chuyện này không bao giờ được biết rõ. Trong mệnh lệnh hành động năm 1937, yêu cầu bắt giữ tất cả vợ con của các “kẻ thù của nhân dân”, đã cấm tuyệt đối bắt giữ phụ nữ mang thai và phụ nữ nuôi con nhỏ. (Mệnh lệnh hành động của NKVD ngày 15/8/1937, in lại trong Sbornik, tr. 86-93) Mặt khác, một mệnh lệnh năm 1940 lại nói rằng trẻ con phải ở cùng mẹ chúng trong một năm rưỡi, “cho tới khi chúng không còn cần sữa mẹ”, lúc chúng phải bị đưa vào trại trẻ mồ côi hoặc đưa về với người thân. (GARF, 9401/1a/66)

Trong thực tế, cả phụ nữ mang thai lẫn đang nuôi con nhỏ cùng bị bắt đều đặn. Khi tiến hành kiểm tra định kỳ một đoàn tàu vận chuyển tù mới tới, một bác sĩ trại phát hiện một phụ nữ đang co thắt dạ con. Cô này bị bắt khi đang mang thai bảy tháng. (Kaufman, tr. 223) Một phụ nữ khác, Natalya Zaporozhets, bị tống lên đoàn tàu vận chuyển khi đang mang thai tám tháng: sau khi bị quăng quật trên tàu và đằng sau xe tải, cô sảy ra cái thai nhi đã chết. (Natalya Zaporozhets, trong Vilensky, Dodnes tyagoteet, tr. 532-539) Hồi ký của nghệ sĩ Evfrosiniya Kersnovskaya kể lại chuyện bà đã đỡ đẻ một em bé sinh ra trên đoàn tàu vận chuyển. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 428)

Trẻ nhỏ cũng bị “bắt” cùng với cha mẹ chúng. Một tù nữ, bị bắt trong thập niên 1920, đã viết một bức thư chua xót than phiền với Dzerzhinsky, cám ơn ông ta đã “bắt luôn” đứa con trai ba tuổi của bà: nhà tù, bà nói, tốt hơn ở nhà trẻ, nơi mà bà gọi là “nhà máy sản xuất các thiên thần”. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 41-42) Hàng trăm ngàn trẻ em đã thực sự bị bắt cùng với cha mẹ mình trong hai đợt sóng lưu đày vĩ đại, đợt đầu là đám kulak đầu những năm 1930, đợt thứ hai là đám người dân tộc và những nhóm thuộc các quốc gia “kẻ thù” trong và sau Thế Chiến thứ II.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #111  
Cũ 05-07-2011, 21:14
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Đối với những trẻ em này, cú sốc thay đổi sẽ tồn tại với chúng đến suốt cuộc đời. Một tù người Ba Lan nhớ lại rằng có tù nữ bị giam trong phòng giam của bà cùng đứa con trai mới ba tuổi: “Đứa trẻ rất ngoan, nhưng ốm yếu và ít nói. Chúng tôi cố gắng hết sức làm nó vui bằng cách kể chuyện cổ tích và nói chuyện với nó, nhưng bé thường ngắt lời chúng tôi ‘Chúng ta đang ở tù, phải không ạ?’ ” (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 114, Folder 2)

Nhiều năm sau, người con trai của một kulak bị đi đày nhớ lại sự cam go trải qua trên đoàn tàu chở gia súc: “Mọi người như hóa dại... Tôi không rõ là chúng tôi đã đi được bao nhiêu ngày rồi. Trong toa có bảy người chết vì đói. Chúng tôi tới Tomsk và họ đưa các gia đình chúng tôi ra ngoài. Họ cũng dỡ xuống nhiều xác chết, có đủ trẻ con, thanh niên và người già”. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 117)

Mặc dù vất vả, cũng có nhiều phụ nữ cố ý chủ động, thậm chí là bất chấp, có bầu khi đang ở trong trại. Đó luôn là tù nữ tội phạm hay bị bắt vì tội vặt muốn có thai để tránh phải làm việc nặng, để được cấp thức ăn có đôi chút khá hơn và có lẽ để được hưởng dịp ân xá định kỳ phụ nữ có con nhỏ. Những đợt ân xá như vậy – lấy ví dụ một đợt năm 1945 và một đợt khác năm 1948 – không phải lúc nào cũng áp dụng cho tù nữ phạm tội phản cách mạng. (Lấy ví dụ, đợt ân xá cho phụ nữ có con năm 1945 đặc biệt loại trừ tù chính trị, cũng như đợt tương tự năm 1948. GARF 8131/37/4554; 9401/1a/191; và 9401/1/743) “Mang bầu có thể khiến cuộc sống dễ thở hơn”, Lyudmila Khachatryan nói với tác giả như một cách để giải thích tại sao một số phụ nữ vui lòng ngủ với đám cai tù của mình. (Khachatryan, qua phỏng vấn với tác giả)

Một phụ nữ khác nhớ lại đã nghe một tin đồn rằng tất cả phụ nữ có con nhỏ - mamki, theo thứ tiếng lóng trong tù – sẽ được thả. Bà đã cố tình có thai sau đó. (Lahti, hồi ký không xuất bản. Tác giả rất biết ơn Reuben Rajala vì bản thảo này) Nadezhda Joffe, một tù có thai sau khi được phép gặp chồng, đã viết rằng các bạn tù của bà tại “lán dưỡng nhi ẩm ướt” ở Magadan đơn giản là “không có chút bản năng làm mẹ nào”, và vứt bỏ đứa trẻ lại ngay sau khi họ có thể rời đi. (Joffe, tr. 124)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #112  
Cũ 05-07-2011, 21:18
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Có lẽ không có gì ngạc nhiên rằng không phải tất cả phụ nữ dính bầu khi ở trong trại đều muốn giữ lại. Ban quản lý Gulag dường như có mâu thuẫn về việc có nên cho phép phụ nữ phá thai hay không, đôi khi cho phép, đôi khi lại phang thêm án tù nữa cho những ai tìm cách làm vậy. (Frid, tr. 184; GARF, 9414/1/2741) Hoặc ta cũng không rõ chúng có xảy ra thường xuyên hay không, bởi chúng hiếm khi được kể lại: trong hàng chục cuộc phỏng vấn và hồi ký, tác giả chỉ đọc hoặc nghe thấy có hai trường hợp. Trong một cuộc phỏng vấn, Anna Andreeva kể cho tác giả về một phụ nữ “nhét cái đinh vào cửa mình, ngồi xuống tiếp tục làm việc trên máy khâu. Cuối cùng cô bị xuất huyết rất nặng”. (Andreeva, qua phỏng vấn với tác giả) Một phụ nữ khác kể lại chuyện viên bác sĩ trại đã tìm cách phá thai cho bà ra sao:

Hãy hình dung ra cảnh này. Lúc đó ban đêm. Trời tối... Andrei Andreevich cố gắng phá thai cho tôi, chỉ dùng ngón tay bôi iod, không có dụng cụ gì khác. Nhưng anh ấy căng thẳng đến nỗi không có tác dụng gì. Tôi nghẹn thở vì đau, nhưng cố chịu đựng không kêu một tiếng để không bị ai phát hiện. “Thôi!” cuối cùng tôi hét lên vì đau không chịu nổi, và toàn bộ câu chuyện chấm dứt sau hai ngày. Kết cục, tất cả đều ra hết – toàn bộ cái thai, cùng một lượng máu khủng khiếp. Đó là lý do tôi không bao giờ còn có thể làm mẹ. (Yakovenko, tr. 196)

Nhưng cũng có những phụ nữ muốn có con, và số phận của họ thường là bi kịch. Ngược với mọi điều từng được viết về tính ích kỷ và dễ bị mua chuộc của những phụ nữ sinh con trong trại, bật lên câu chuyện của Hava Volovich. Là một tù chính trị bị bắt năm 1937, bà vô cùng cô đơn trong trại, và chủ động tìm cách sinh cho được một đứa con. Mặc dù bà không có tình cảm gì đặc biệt với cha đứa bé, Eleonora được sinh hạ năm 1942, tại một trại không có trang bị gì riêng cho các bà mẹ:

Ở đấy có tất cả ba người mẹ, và chúng tôi được phân riêng cho một căn buồng bé xíu trong lán. Rệp rơi xuống như mưa từ trần và tường nhà; suốt đêm chúng tôi phải phủi chúng khỏi người lũ trẻ. Vào ban ngày chúng tôi phải ra ngoài làm việc và để con lại cho bất cứ phụ nữ lớn tuổi nào chúng tôi thấy không phải đi làm; những người này bình thản chén sạch chỗ thức ăn mà chúng tôi để lại cho đám trẻ.

Tuy nhiên, Volovich viết

Đêm nào cũng vậy trong suốt một năm trời, tôi đứng bên chiếc giường con mình, nhặt bỏ lũ rệp và cầu nguyện. Tôi cầu Chúa hãy kéo dài sự khốn khổ của tôi thêm trăm năm nữa miễn sao tôi không phải xa rời con gái mình. Tôi cầu mong mình sẽ được thả cùng bé, thậm chí nếu tôi phải đi ăn xin hay tàn phế cũng được. Tôi cầu cho mình có thể nuôi dạy con cho tới lớn, thậm chí phải quỳ phục dưới chân mọi người van xin tôi cũng làm. Nhưng Chúa không đáp lại lời tôi. Con tôi chật vật tập đi, tôi vất vả mới được nghe những tiếng đầu của nó, thốt lên lời kỳ diệu ấm lòng “Mama” khi chúng tôi quấn trên mình toàn giẻ rách dù đang giữa mùa đông giá rét, chen chúc trong toa tàu chở hàng và di chuyển tới “trại cho các bà mẹ”. Tại đây, thiên thần bé nhỏ bụ bẫm với mớ tóc vàng xoăn tít của tôi mau chóng biến thành một bóng ma xanh xao với những quầng thâm dưới mắt và vết lở loét khắp môi.

Volovich ban đầu bị nhét vào một đội lâm nghiệp, sau đó chuyển tới làm tại trại cưa. Mỗi buổi chiều, bà mang về nhà một ôm củi để đưa cho các cô nuôi trẻ trong nhà trẻ. Để đáp lại đôi khi bà được phép đến gặp con gái mình ngoài giờ thăm con bình thường.

Tôi thấy các bảo mẫu đánh thức trẻ con dậy vào buổi sáng. Họ xô đẩy và đá đít để lùa chúng ra khỏi những chiếc giường lạnh lẽo… lấy nắm tay đẩy dúi chúng và chửi rủa thô bạo, họ lột quần áo ngủ và tắm cho chúng bằng nước lạnh buốt. Thậm chí lũ trẻ đến khóc cũng không dám. Chúng chỉ khụt khịt khe khẽ như người già và buột ra những tiếng rít trầm trầm.

Tiếng rít dễ sợ phát ra từ giường cũi ấy suốt cả ngày. Lũ trẻ đã đến tuổi ngồi thẳng lưng và bò trườn nay thường nằm ngửa, đầu gối gập đến tận bụng, đã tạo ra những tiếng động kỳ lạ ấy, giống như tiếng gù của con bồ câu bị bóp nghẹt họng.


Một bảo mẫu phải lo cho mười bảy đứa trẻ, nghĩa là cô ta khó mà có đủ thời gian để cho tất cả thay đồ và ăn uống, chưa nói đến chăm sóc đúng mức:

Cô nuôi trẻ đem ra một thau cháo bốc khói từ nhà bếp, chia nó vào từng đĩa. Cô ta tóm lấy đứa gần nhất, nắm tay nó ra sau, trói lại bằng cái khăn mặt rồi bắt đầu nhồi hết muỗng này đến muỗng khác món cháo nóng vào họng nó không để thời gian cho nó nuốt, chính xác y như nhồi thức ăn cho gà tây vậy.

Dần dần, Eleonora bắt đầu héo lả đi.


Vào một trong những chuyến đến thăm tôi trông thấy những vết bầm trên mình nó. Tôi không bao giờ quên cảnh nó ôm lấy cổ tôi bằng đôi tay gầy trơ xương mà kêu van “Mama, muốn về nhà!” Nó vẫn chưa quên cái phòng nát đầy rệp nơi lần đầu tiên nó thấy ánh sáng mặt trời, nơi nó được luôn bên mẹ suốt cả ngày…

Eleonora bé bỏng, nay mới có mười lăm tháng tuổi, mau chóng nhận ra việc đòi về “nhà” chỉ là vô vọng. Nó thôi không còn vươn tay với tôi khi tôi đến thăm; thay vào đó nó lặng lẽ quay đi. Vào ngày cuối cùng của đời mình, khi tôi nhấc nó lên (họ cho phép tôi cho con bú) nó đã mở to mắt nhìn vào khoảng trống xa xăm, sau đó đập nắm tay nhỏ bé lên mặt tôi, bấu lấy ngực tôi rồi cắn lấy. Rồi nó chỉ xuống cái giường.

Đến chiều, khi quay về với ôm củi, cái giường của nó đã bỏ trống. Tôi thấy nó trần truồng nằm trong phòng xác cùng xác của những tù người lớn. Nó trải qua một năm và bốn tháng trên cõi đời này, rồi chết ngày 3/3/1944… Đó là câu chuyện về việc, khi sinh hạ đứa con duy nhất của mình, tôi đã phạm cái tội khốn nạn nhất như vậy đó. (Hava Volovich, “My Past”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 260-264)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #113  
Cũ 06-07-2011, 08:03
htienkenzo's Avatar
htienkenzo htienkenzo is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Jul 2008
Đến từ: Tp. Hồ Chí Minh
Bài viết: 1,673
Cảm ơn: 6,806
Được cảm ơn 3,570 lần trong 1,133 bài đăng
Default

Trích:
danngoc viết Xem bài viết
[SIZE="3"]
...
@hungmgmi: anh có cao kiến gì không? post lên đây quá ít người đọc.
Có đấy chứ, bác danngoc!
Cảm ơn bác về tư liệu quý giá như vậy! Và cũng cảm ơn bác đã dành thời gian để chia sẻ cùng mọi người!
__________________
Không ai, không điều gì được phép bị lãng quên!
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #114  
Cũ 06-07-2011, 09:16
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Trích:
htienkenzo viết Xem bài viết
Có đấy chứ, bác danngoc!
Cảm ơn bác về tư liệu quý giá như vậy! Và cũng cảm ơn bác đã dành thời gian để chia sẻ cùng mọi người!
Cám ơn anh đã cùng đọc. Ý em không phải ngại ngần gì, nhưng nhờ các anh góp ý xem nên làm sao cho hay nhất với bản dịch?
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #115  
Cũ 06-07-2011, 09:33
Nina Nina is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: TPHCM
Bài viết: 6,416
Cảm ơn: 5,003
Được cảm ơn 8,268 lần trong 3,723 bài đăng
Default

Sao mình không thấy ảnh chụp bìa cuốn sách nhỉ (hình như hồi trước có thì phải)?

Bây giờ mình mới bắt đầu đọc, nên cũng nhận xét và góp ý từ những bài đầu tiên trong post này. Cũng xin nói trước - đây là quan điểm cá nhân của mình, dịch giả có quyền đếm xỉa hoặc không đếm xỉa .

Về mục tiếng lóng - hiện nay blog trích dẫn mình không vào được, nên không có ý kiến về sự sát nghĩa của bản dịch. Tuy nhiên, một số từ lóng ngày nay đã được dùng tương đối phổ biến, ví dụ кайф, халява, nghĩa của chúng thì giống như danngoc đã dịch.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #116  
Cũ 06-07-2011, 10:09
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bìa sách đây.

Về danh mục các từ lóng, cuốn Gulag của Anne có dẫn nguồn là cuốn Shtrikhi i portrety, Igor Guberman, Moscow 1994, tr. 72-73. (nguồn blog kia là em lấy từ trước khi dịch cuốn này)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Nina (06-07-2011)
  #117  
Cũ 06-07-2011, 10:12
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Trong văn khố Gulag, có lưu trữ các bức ảnh chụp kiểu trại nuôi trẻ mà Volovich mô tả. Một cuốn album như vậy bắt đầu bằng lời giới thiệu sau đây:

Mặt trời chiếu trên tổ quốc Stalinít của các em. Đất nước tràn đầy tình yêu thương các lãnh tụ và trẻ em tuyệt vời của chúng ta hạnh phúc cũng như toàn thể đất nước non trẻ đang hạnh phúc. Nơi đây, với giường chiếu rộng rãi và ấm áp, các công dân mới mẻ của đất nước ta đang nằm ngủ. Sau khi ăn, chúng ngủ say sưa và chắc hẳn đang mơ những giấc mơ hạnh phúc…

Các bức ảnh trong đó ngược hẳn lại với lời chú thích. Trong một tấm, một hàng các bà mẹ nuôi con với khẩu trang trắng che kín mặt – bằng chứng của thực hành vệ sinh trong trại – ngồi với ánh mắt nghiêm trang không mỉm cười trên băng ghế, tay ôm lũ trẻ. Trong tấm khác, lũ trẻ đang cùng nhau đi bộ buổi chiều. Kéo đuôi nhau thành hàng, chúng nhìn không thoải mái gì hơn các bà mẹ của chúng. Trong nhiều tấm ảnh, lũ trẻ bị cạo trọc đầu, có lẽ để ngừa chấy rận, tạo cảm giác chúng trông như những tù nhân bé nhỏ và trong thực tế chúng cũng bị xem như vậy. (GARF, 9414/6/44 và 45) “Khu nhà cho bọn trẻ cũng là một phần của tổ hợp trại”, Ginzburg viết. “Nó có chòi gác của mình, có cổng riêng, có lán riêng và hàng rào thép gai của riêng mình”. (E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 3)

Ở mức độ nào đó, Ban quản lý Gulag ở Moscow chắc hẳn phải biết cuộc sống trong trại đối với trẻ em trong đó kinh khủng ra sao. Chúng ta biết ít nhất là các thanh tra trại có chuyển về các thông tin này: một báo cáo năm 1949 về tình trạng của phụ nữ trong trại nhấn mạnh một cách chê trách rằng trong số 503.000 tù nữ thuộc hệ thống Gulag khi đó, 9.300 người có thai trong khi 23.790 người khác đang chịu án cùng con nhỏ. “Ngoài ra cần tính thêm các tác động xấu lên sức khỏe và điều kiện giáo dục trẻ em”, báo cáo đề nghị thả sớm cho mẹ chúng, cũng như thả sớm cho những phụ nữ có con ở nhà, tổng số – trừ những trường hợp tái phạm và tù chính trị phản cách mạng – khoảng 70.000. (GARF, 9401/2/234)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #118  
Cũ 06-07-2011, 10:15
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Hết lần này đến lần khác các đợt ân xá như vậy đã được thực hiện. Nhưng có rất ít cải thiện được thực hiện cho đời sống những đứa trẻ còn lại. Trái lại, bởi chúng không đóng góp gì cho sản lượng của trại, sức khỏe và phúc lợi cho chúng ở mức rất thấp trong danh sách ưu tiên của hầu hết chỉ huy trại, và chúng luôn phải sống trong những căn nhà tồi tàn nhất, lạnh lẽo nhất và cũ kỹ nhất. Một thanh tra viên xác nhận rằng nhiệt độ tại nhà trẻ của một trại không bao giờ vượt quá 11 độ C; một người khác phát hiện thấy ở nhà trẻ nọ sơn tường bị bong và không hề được chiếu sáng, thậm chí đến đèn dầu cũng không có. (GARF, 8313/37/4554 và 1261) Một báo cáo năm 1933 từ Siblag cho biết trại này thiếu 800 đôi giày trẻ em, 700 áo khoác trẻ em và 900 bộ đồ ăn. (Vilensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 150) Những người làm việc trong đó cũng không nhất thiết phải đủ tiêu chuẩn. Trái lại, công tác bảo mẫu là loại công việc “tin cậy”, và những việc như vậy thường được giao cho tù tội phạm chuyên nghiệp. Joffe viết rằng “Hàng giờ liền không dứt, chúng đứng dưới cầu thang với “chồng” của chúng, hay đơn giản là chúng bỏ đi chơi, trong khi lũ trẻ con, chưa ăn uống và không được chăm sóc, có thể bị ốm và lả dần”. (Joffe, tr. 127-135)

Thậm chí các bà mẹ, mà bản thân việc mang thai của họ cũng đã làm tốn của trại khá nhiều, không phải lúc nào cũng được phép để góp sức giảm bớt cho sự bỏ bê kể trên – đấy là giả sử rằng họ có quan tâm để làm vậy. Họ bị buộc phải quay lại làm việc càng sớm càng tốt, và chỉ miễn cưỡng được cho đủ thời gian nghỉ giữa giờ để về cho con bú. Thông thường, họ chỉ được nghỉ giữa giờ làm cứ bốn tiếng một lần, mỗi lần mười lăm phút cho con – trên mình vẫn còn mặc bộ quần áo lao động bẩn thỉu – sau đó quay lại ngay, nghĩa là đứa trẻ vẫn còn đói. Đôi khi thậm chí họ còn không được phép làm vậy. Một thanh tra trại đã trích dẫn trường hợp một phụ nữ chỉ đến cho con bú trễ có vài phút, do quy định nơi làm việc, mà đã bị từ chối cho vào. (GARF, 8313/37/4554) Trong một cuộc phỏng vấn, một cựu quản lý trại dưỡng nhi đã kể với tác giả – rất thô bạo – rằng những đứa trẻ nào không thể uống no trong khoảng thời gian mà bà ta nói là nửa tiếng cho phép sẽ bị một trong những bảo mẫu cho bú nốt từ bình.


@all: thật đáng tiếc là em không có khả năng post hết từ đầu, vì cuốn này không nên xem từng đoạn như thế này, sẽ thiếu thông tin để ta đánh giá tổng thể. Nhưng post hết thì thật phí phạm, ta sẽ mất khả năng xuất bản thành sách.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #119  
Cũ 06-07-2011, 10:18
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Cũng chính người phụ nữ này đã xác nhận sự mô tả của tù về một hình thức tàn nhẫn khác: khi cho bú xong, bà mẹ thường bị cấm có thêm tiếp xúc với con mình. Trong trại của bà ta, bà ta nói, bản thân bà ta đã cấm tất cả các bà mẹ tiếp tục đi cùng với con, lấy lý do là bà mẹ tù nhân có thể làm hư con mình. Bà ta tuyên bố đã thấy một bà mẹ đưa cho con miếng đường tẩm thuốc lá để ăn, nhằm mục đích đầu độc nó. Một người khác, bà ta nói tiếp, đã cố ý lột chiếc giầy con mình ngay giữa tuyết. “Tôi phải chịu trách nhiệm về tỷ lệ tử vong của trẻ con trong trại”, bà ta nói với tác giả để giải thích tại sao bà ta phải tách rời các bà mẹ ra. “Đám trẻ đó không cần thiết đối với mẹ chúng, lũ bà mẹ ấy chỉ muốn giết bỏ chúng thôi”. (Một người giấu tên, qua phỏng vấn với tác giả) Cũng chính thứ lập luận này có lẽ đã dẫn đến việc các chỉ huy trại khác cấm bà mẹ đến gặp con mình. Tuy nhiên, cũng rất có thể các quy định như vậy là một sản phẩm khác của sự tàn bạo không suy tính của ban quản lý trại: ban cảm thấy phiền phức khi phải bố trí cho các bà mẹ gặp con, thế là nó cấm chuyện này.

Hậu quả của việc tách cha mẹ khỏi con cái ở tuổi quá nhỏ như vậy là có thể tiên đoán được. Bệnh dịch ở trẻ em nổ ra vô số. Tỷ lệ tử vong trẻ nhỏ hết sức cao – cao đến nỗi, theo các báo cáo của thanh tra cũng có ghi nhận, chúng thường bị cố ý che dấu. (GARF, 8313/37/4554) Nhưng thậm chí những đứa trẻ sống sót lúc còn nhỏ cũng có ít cơ hội để có cuộc sống bình thường bên trong trại dưỡng nhi. Một số có thể may mắn được các nữ bảo mẫu tù tốt bụng hơn chăm sóc. Một số thì không. Bản thân Ginzburg từng làm trong một trại dưỡng nhi và, khi vừa đến, đã thấy thậm chí trẻ đã quá tuổi cũng vẫn chưa biết nói:


Chỉ một số trẻ bốn tuổi có thể phát ra được vài từ rời rạc, trống không. Kêu ú ớ không rõ ràng, bắt chước và đập đập là những cách chủ yếu để trao đổi với nhau. “Làm sao có thể trông chờ chúng nói được? Có ai ở đó mà dạy cho chúng?” Anya thản nhiên giải thích. “Trong nhóm ấu nhi chúng suốt ngày chỉ có nằm trên giường cũi. Không ai ẵm chúng lên, kể cả khi chúng có gào rách phổi đi chăng nữa. Điều này là không được phép, ngoại trừ để thay tã bẩn – tất nhiên là nếu có sẵn tã khô”.

Khi Ginzburg cố gắng dạy cho những bé do mình phụ trách, bà nhận thấy chỉ một hoặc hai trong số những đứa có duy trì được vài quan hệ với mẹ mình là còn có thể học được chút gì. Và thậm chí kiến thức của chúng cũng rất giới hạn:

“Xem này”, tôi nói với Anastas, chỉ cho nó ngôi nhà nhỏ mà tôi vừa vẽ. “Cái gì đây?”

“Lán trại”, chú bé trả lời khá quả quyết.

Với vài nét bút chì tôi vẽ thêm con mèo bên cạnh nhà. Nhưng chẳng đứa nào nhận ra nó, kể cả Anastas. Chúng chưa bao giờ trông thấy loại động vật hiếm này. Sau đó tôi vẽ một hàng rào gỗ truyền thống thôn quê xung quanh ngôi nhà.

“Thế cái này là gì?”

“Zona!” Vera thích thú reo lên. (E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 3-11)
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #120  
Cũ 06-07-2011, 10:19
danngoc danngoc is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,121
Cảm ơn: 99
Được cảm ơn 1,021 lần trong 430 bài đăng
Default

Thông thường, trẻ con lên hai tuổi thì bị chuyển khỏi các trại dưỡng nhi để vào những trại mồ côi bình thường. Một số bà mẹ tán thành như vậy, xem như là cơ hội để lũ trẻ được thoát khỏi trại. Số khác thì phản đối, biết rằng mình có thể vô tình hay cố ý bị chuyển sang trại khác, xa rời con cái, tên tuổi của chúng sau đó có thể bị thay đổi hay quên mất khiến không thể còn giữ quan hệ với nhau hay thậm chí liên lạc được. ()Mặc dù người quản lý trại dưỡng nhi giấu tên mà tác giả có trao đổi đã phủ nhận có chuyện này xảy ra, rất nhiều, rất nhiều hồi ký đã kể rằng mẹ bị tách dần ra khỏi con. Susanna Pechora nói rằng trong các trại đặc biệt, đó là một chuyện hết sức điển hình) Điều này đôi khi xảy ra cả với trẻ em trong những nhà trẻ thường. Valentina Yurganova, con gái của một kulak Đức vùng Volga, bị đưa vào một nhà trẻ nơi một số khu trông nom quá nhỏ để cần nhớ tên chúng, và chính quyền cũng quá vô tổ chức nên không ghi lại tên chúng. Một bé, bà kể với tác giả, đơn giản được đặt lại tên là “Kashtanova” (Hạt dẻ) bởi có rất nhiều cây dẻ trong công viên phía sau nhà trẻ.

Nhiều năm sau, một đứa trẻ như vậy đã viết một đoạn văn tan nát cõi lòng mô tả cuộc tìm kiếm dài đằng đẵng nhưng không thành của mình để tìm lại họ tên thật của bố mẹ bà: không có ghi nhận về bất cứ đứa trẻ nào được sinh ra trong vùng với cái họ ghi trong hộ chiếu của bà, và lúc đó bà lại quá nhỏ để nhớ được họ tên thật của hai người. Tuy nhiên, bà nhớ được từng đoạn trong ký ức của mình: “Mẹ ngồi bên máy khâu. Tôi xin mẹ cái kim và sợi chỉ... Tôi đang ở trong vườn... Rồi sau đó... Căn phòng rất tối, cái giường ở bên tay phải để trống, có điều gì đó đã xảy ra. Vì lẽ nào đó mà tôi còn lại một mình. Tôi sợ quá”. (Vinlensky và cộng sự, Deti Gulaga, tr. 241-242)

Không có gì ngạc nhiên rằng khi con họ bị đưa đi, một số bà mẹ đã khóc và la hét, một số thậm chí phát điên và bị khóa nhốt trong hầm cho tới khi họ hồi lại. Ngay khi chúng bị đưa đi, khả năng được đoàn tụ là rất mờ nhạt. (Armonas, tr. 156-161)
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:39.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.