Họ phải đạt cùng một sản lượng công tác và họ ăn chung cùng món xúp lõng bõng. Họ sống cùng một kiểu lán ở và đi trên cùng chuyến tàu chở gia súc. Quần áo của họ hầu như giống nhau, giầy dép của họ cũng thiếu thốn y như vậy. Họ bị đối xử khi điều tra chẳng khá hơn chút nào. Thế nhưng, trải nghiệm trong trại của đàn ông và phụ nữ không hoàn toàn giống nhau.
Hiển nhiên nhiều phụ nữ sống sót cho rằng làm phụ nữ có nhiều ưu thế hơn trong hệ thống trại. Phụ nữ biết tự chăm sóc tốt hơn, biết khâu vá quần áo tốt hơn và giữ đầu tóc sạch sẽ hơn. Họ dường như có khả năng tồn tại với khẩu phần ít ỏi tốt hơn và không dễ chết vì bệnh viêm da pellagra và những căn bệnh do thiếu dinh dưỡng khác. (Lấy ví dụ, Vilensky, qua phỏng vấn với tác giả) Họ có tình bạn bè mạnh mẽ, biết giúp đỡ người khác theo những cách mà đàn ông không tài nào làm được. Margarete Buber-Neumann ghi lại rằng một trong những phụ nữ bị giam cùng với bà ở nhà tù Butyrka bị bắt trong bộ áo đầm nhẹ mùa hè mau chóng biến thành giẻ rách. Phòng giam của bà quyết định may cho người này một chiếc áo mới:
Họ họp lại với nhau và đem tới nửa tá khăn tắm bằng vải lanh thô kiểu Nga. Nhưng không có kéo thì cắt áo làm sao đây? Một chút khéo léo là giải quyết được vấn đề. Đường “cắt” được đánh dấu bằng đầu que diêm cháy hết, các mảnh vải được gấp theo đường đánh dấu, và một que diêm cháy được hơ đi hơ lại một chốc dọc theo đường gấp. Sau đó mảnh vải được gấp ngược lại và đường cắt bị cháy bị gập đứt. Chỉ để khâu có được bằng cách thận trong rút chỉ từ các quần áo khác…
Cái áo đầm bằng khăn tắm – được may cho một phụ nữ Latvia béo tốt – được chuyền tay từ người này sang người khác và được thêu rất đẹp ở cổ áo, hai ống tay và quanh gấu váy. Khi cuối cùng đã làm xong, nó được rấm nước và gấp lại cẩn thận. Người chủ may mắn ban đêm nằm lên nó mà ngủ. Bạn có tin hay không thì tùy, nhưng khi xuất hiện vào buổi sáng, trông nó tuyệt đẹp; chắc chắn nó sẽ không làm mất mặt bà chủ một cửa tiệm áo dài rất hợp mốt. (Buber-Neumann, tr. 38)
|