Vào tháng 10 năm 1983, có thông báo rằng Philippine đã không thể đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ nước ngoài 24,4 tỷ USD của họ và đề nghị đình hoãn 90 ngày thanh toán. Yêu cầu tiếp theo là kéo dài thời hạn đình hoãn. Hành động này là đỉnh điểm của cán cân tình hình thanh toán khó khăn. Sự phát triển của Philippine trong thập kỷ 1970 đã được tạo điều kiện bằng cách vay mượn rộng rãi trên thị trường vốn quốc tế. Từ năm 1973 đến năm 1982, nợ của nước này đã tăng trung bình lên đến 27% một năm. Mặc dù các khoản vay liên chính phủ và các khoản vay từ các tổ chức đa phương như World Bank và ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á) đã được cấp ở mức lãi suất thấp hơn thị trường, thì trách nhiệm trả lãi cho các khoản vay và nợ thương mại tiếp tục tăng.
Năm 1982 các khoản phải trả 3,5 tỷ USD, xấp xỉ với mức vay nước ngoài trong năm và lớn hơn tổng số nợ của nước này năm 1970. Các năm tiếp theo, năm 1983, lãi phải trả đã vượt quá vốn ròng và đạt đến khoảng 1,85 tỷ USD. Cùng với sự đi xuống của nền kinh tế thế giới, lãi suất tăng cao, một vụ bê bối tài chính trong nước đã xảy ra khi một doanh nhân trốn khỏi đất nước với khoản nợ ước tính khoảng 700 triệu peso, tình trạng bất ổn leo thang bởi sự vô độ của Marcos, cuộc khủng hoảng chính trị sau khi Aquino bị ám sát, gánh nặng nợ nần đẩy quốc gia vào tình trạng bất ổn.
Philippine đã quay sang IMF trước đó vào năm 1962 và năm 1970, khi họ gặp phải cán cân thanh toán khó khăn. Họ lại đã làm như vậy một lần nữa vào cuối 1982. Một thỏa thuận đã đạt được trong tháng 2 năm 1983 về một khoản vay khẩn cấp, tiếp theo là các khoản vay khác từ World Bank và Ngân hàng thương mại xuyên quốc gia. Các cuộc đàm phán giữa các quan chức tiền tệ Philippine và IMF bắt đầu lại gần như ngay lập tức sau tuyên bố đình hoãn trả nợ. Tình hình trở nên phức tạp khi lộ ra công luạn rằng Philippine đã báo cáo không đúng sự thật về các khoản nợ của họ ở vào khoảng 7 đến 8 tỷ USD, phóng đại dự trữ ngoại tệ của họ đến khoảng 1 tỷ USD, và vì các vi phạm đó, tháng 2 năm 1983 họ thỏa thuận với IMF cho phép tăng nhanh cung ứng tiền. Một sự sắp đặt mới cuối cùng đã đạt được với IMF tháng 12 năm 1984, hơn một năm sau khi tuyên bố đình hoãn nợ. Trong khi đó, các nguồn vốn bổ xung từ bên ngoài đã trở thành gần như không thể có được.
Trong những thỏa thuận với IMF, Philippine đã đồng ý với các điều kiện nhất định để có được kinh phí bổ sung, nhìn chung thường bao gồm cả giảm giá đồng peso, tự do hóa hạn chế nhập khẩu, và thắt chặt tín dụng trong nước (hạn chế sự tăng cung ứng tiền và tăng lãi suất) . Các biện pháp điều chỉnh theo yêu cầu của IMF trong thỏa thuận tháng 12 năm 1984 là khắc nghiệt, và nền kinh tế đã phản ứng nghiêm trọng. Bởi sự khắc khổ về tài chính của mình, tuy nhiên, chính phủ Philippine thấy không còn sự lựa chọn nào khác nên đành phải tuân thủ. Cán cân thanh toán đã đạt đáp ứng được các mục tiêu cho năm sau, và các báo cáo tiền tệ, lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, đã có biểu hiện tích cực trong năm tài chính 1986. Nhưng cái giá phải trả, lãi suất đã tăng lên rất cao đến 40%, và GNP thực giảm 11% trong năm 1984 và 1985. Tình hình kinh tế nghiêm trọng đó góp phần vào chiến thắng của Aquino trước Marcos tháng 2 năm 1986 trong cuộc bầu cử tổng thống.
Khi Marcos chạy trốn đến Mỹ vào cuối tháng 2-1986, nợ nước ngoài của Philippine đã tăng lên đến hơn 27 tỷ USD. Mối bận tâm ngay trước mắt của đất nước là tìm cách trả nợ. Giảm kích thước các khoản nợ là một vấn đề dài hạn. Trả nợ 3 tỷ USD vào năm 1986, là mất sạch toàn bộ thu nhập ngoại tệ của đất nước và thặng dư thể đầu tư của mình. Các nhà kỹ trị trong Cơ quan kinh tế và phát triển đề nghị tuyên bố một lệnh đình hoãn nợ khác, lần này là 2 năm, cho phép đất nước một không gian để thở. Các biện pháp đã được giới thiệu với Quốc hội năm 1986 và những năm tiếp theo để đáp ứng thanh toán nợ hàng năm. Chính quyền Aquino và NHTW, tuy nhiên, luôn chống lại cả hai chiến thuật, thay vào đó một cách tiếp cận hợp tác với các chủ nợ của nước này.
Một số các khoản nợ chính phủ và nợ chính phủ bảo lãnh đã phát sinh trong những hoàn cảnh nghi vấn, và có đòi hỏi liên tục từ chối công nhận các khoản vay này để có thể chứng minh đã có gian lận. Tháng 11 năm 1990, “Liên minh tự do nợ nần - Freedom from Debt Coalition” (FDC), một tổ chức phi chính phủ, trình bày kết quả điều tra về 6 khoản vay có khả năng bị gian lận, có tổng giá trị từ 4 đến 6 tỷ USD. Khoản lớn nhất, là khoản vay 2,5 tỷ USD để xây dựng Nhà máy
điện hạt nhân Bataan, những cáo buộc liên quan đến các bất thường trong thủ tục đấu thầu và thiết kế, đội giá, và lại quả. Chính phủ Aquino trước đó đã đệ đơn kiện dân sự tại Mỹ chống lại Westinghouse, nhà thầu nhà máy Bataan, công ty mà chính phủ Marcos đã ký hợp đồng để xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Nhà máy điện hạt nhân này đã không bao giờ chạy và Philippine vẫn tiếp tục phải trả tiền thanh toán lãi suất các khoản vay cho nhà máy này lên đến 300 ngàn USD mỗi ngày trong khi đang kiện tụng. Đáp lại những phát hiện của FDC, tổng thống nói rằng đất nước sẽ không trả tiền cho các khoản vay gian lận, tuyên bố như vậy là một sự thay đổi lớn về chính sách.