|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#41
|
|||
|
|||
|
Nhà CS tốt của chúng ta! Nhà độc tài ưa thích của chúng ta!
Năm 1975, Romania được Mỹ cấp "tối huệ quốc" (MFN), sau một thời gian ve vãn, bắt đầu từ chính quyền Nixon. Năm 1969, Nixon đến thăm Romania, ông ca ngợi chế độ Ceausescu là "an ninh, tiến bộ và độc lập dân tộc Châu Á", thêm rằng đất nước ông sẵn lòng chia sẻ gánh nặng phù hợp với phần của thế giới. Ví dụ, nỗ lực liên tục của Mỹ để mang lại "an ninh, tiến bộ và độc lập" ở Việt Nam bằng chiến tranh xâm lược hủy diệt, nhằm phá hủy sự kháng cự bản xứ và chống lưng cho chế độ bù nhìn Sài Gòn. Trước đó, năm 1971, Romania gia nhập GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại), và tiếp tục được kết nạp vào IMF và World Bank. Hội nhập vào các tổ chức kinh tế nỳ được cho là phần thưởng của việc theo đuổi chính sách đối ngoại độc lập, làm bạn với tất cả các nước, nhưng lại "véo mũi Nga" như lời Corneliu Bogdan, vị đại sứ Rumani tại Mỹ, mặc dù các nhà bình luận đã lưu ý, "độc lập" của Romania đã bị phóng đại nhiều lần. Ceausescu tiếp tục được ủng hộ cho đến khi bị lật đổ cuối thập kỷ 1980. Năm 1983 phó TT Bush mô tả Ceausescu là "một trong những người cộng sản tốt nhất châu Âu", nhưng đến tháng 6-1988, Reagan thông báo rằng tình trạng MFN của Romania sẽ không được gia hạn. Người ta nói rằng quy chế MFN bị thu hồi như một hệ quả của việc thiếu cải tiến tình hình nhân quyền Romania. Chính quyền Reagan chắc chắn không coi vấn đề nhân quyền là chuyện nghiêm trọng, họ chỉ sử dụng chúng như một cây gậy để đánh bại kẻ thù, nên đã duy trì một sự im lặng rất lâu đối với hành vi vi phạm của chế độ độc tài nhưng có phước lành theo họ. Nhưng một số quốc gia, chẳng hạn như Cuba và Liên Xô, thì chính quyền Reagan mạnh mẽ thúc đẩy nguyên cớ nhân quyền và đã lên tiếng chỉ trích thẳng thắn hành vi vi phạm ngay lập tức. Ở các nước khác như El Salvador và Honduras, họ lờ chuyện và phủ nhận vi phạm nhân quyền xảy ra, thậm chí tấn công các tổ chức nhân quyền nói khác về những câu chuyện xảy ra. Trong thực tế, tuyên bố như thế về Romani là chính xác, nhưng không đầy đủ. Sau khi Ceausescu đổ, họ lại nói giọng khác, bày tỏ lòng thương cảm. David Funderburk, đại sứ Mỹ tại Romani 1981-1985, đã thẳng thừng bác bỏ mọi cáo buộc, ông ta lưu ý rằng chỉ sau khi Ceausescu bị lật đổ người Mỹ mới nghe về về trẻ mồ côi Rumani, và nạn nhân AIDS, về cung điện khắp nơi, và tiêu xì xa hoa tiền bạc... Nó đã xảy ra từ năm 1965 đến năm 1989, nhưng người Mỹ lại chỉ nhìn thấy trên truyền hình Mỹ vào năm 1989! Mọi chỉ trích chỉ bắt đầu khi Ceausescu thành công trong việc trả nợ. Bởi nợ nần giảm nên nhập khẩu từ Mỹ chẳng còn, thâm hụt thương mại của Mỹ với Romani trở thành nguồn tranh chấp kiện cáo, Ceausescu cần nguyên liệu để làm hàng xuất khẩu, buộc lại phải quay sang Liên Xô. Giới con buôn bắt đầu cảm thấy khó chịu, họ lobby đe dọa MFN Romani như một biện pháp gây sức ép, giới chính khách nghi ngờ về sự độc lập, làm bạn với tất cả của Romani. Dường như, mức độ chỉ trích chỉ gia tăng sau khi Ceausescu từ chối phần lớn chính sách thương mại dễ chịu hơn cho thương gia Mỹ. Nói như vậy là phù hợp với các nguyên tắc ngầm trong cách trình bày về nhân quyền của Mỹ: Mỹ tập trung vào vi phạm nhân quyền của các quốc gia mà về chính trị và kinh tế là độc lập với Mỹ, chẳng hạn như Cuba và Liên Xô, nhưng lại bỏ qua những tội ác của các đồng minh như Guatemala, nơi mà đầu những năm 1980, lực lượng Rios Montt được Mỹ yêu thích đã tra tấn, cưỡng hiếp và sát hại hàng ngàn người Guatemala. Theo Reagan, Rios Montt là “một người đàn ông chính trực tuyệt vời". |
|
#42
|
|||
|
|||
![]() Nhà lãnh đạo Ceausescu được phương Tây o bế, năm 1978, Nicolae và Elena Ceausescu đã có một chuyến đến thăm Anh, huy chương hiệp sĩ danh dự cho Nicolae, và một tấm bằng danh dự khác cho Elena - chủ yếu là nhằm mục đích đảm bảo một thỏa thuận hàng không vũ trụ quan trọng giữa Anh và Rumani. Huân chương, tước hiệu chỉ là một sự đề cao giấc mộng “lãng mạn chính trị” đang diễn ra ở nhà nước CS. Tháng 6-1975, Ceausescu đã đến thăm London trên đường trở về từ Nam Mỹ, và thủ tướng Anh Harold Wilson không bỏ lỡ dịp để tâng bốc Ceausescu lên tận mây xanh rằng, "chỉ có hai hoặc ba người trên thế giới này có một tầm nhìn và sự hiểu biết về những vấn đề giống như Nicolae Ceausescu". James Callaghan, một thủ tướng Anh khác, trong một cuộc phỏng vấn năm 1978 bơm rằng Ceausescu có "một danh tiếng xứng đáng như một chính khách thế giới". Margaret Thatcher, lúc đó là nhà lãnh đạo của phe đối lập, cũng nói về Ceausescu và "bày tỏ sự hài lòng của mình" khi gặp gỡ. Trái lại, theo Mark Percival: "Thật là phi thường khi phản đối lên tiếng ít ỏi như thế nào trong số các nghị sĩ ủng hộ chính sách của nước Anh với chế độ Ceausescu , mặc dù thực tế là bản chất khó chịu của nó đã được thể hiện rõ ràng trong các ấn phẩm, ví dụ, Tổ chức Ân xá Quốc tế và Nhóm quyền lợi thiểu số." Cũng như báo chí Mỹ đã đồng lõa với chính sách của chính phủ, báo chí Anh cũng vậy. Hiệp hội Anh-Rumani Ratiu đã cố gắng để có được lá thư phản đối chế độ Ceausescu và chính sách của Anh trên báo chí, nhưng họ đã gặp rất nhiều khó khăn. Chính sách của Anh đối với Rumani được "quyết định chủ yếu bởi các đặc điểm thương mại." Các hợp đồng quan trọng nhất liên quan đến hàng không vũ trụ Anh và Rolls Royce, cả việc đàm phán để Rumani sản xuất máy bay BAC 1-11 và động cơ Rolls Royce Spey, các thỏa thuận trị giá 200 triệu USD với British Aerospace và £100 triệu với Rolls Royce. Vì vậy, điều quan trọng là các giao dịch mà chính phủ Anh đã đồng ý bảo lãnh bất chấp mất mát thiệt hại phía thực hiện chúng. Như đã xảy ra với Mỹ, quan hệ thương mại với Rumani bắt đầu xấu đi trong những năm giữa thập niên 1980: Về lâu dài, nước Anh cũng không thể duy trì vị thế giao dịch thuận lợi. Năm 1984, chiến dịch trả nợ nước ngoài của Ceausescu bắt đầu, và điều này dẫn đến việc giảm đáng kể nhập khẩu từ Anh, từ Mỹ và các nước khác. Quan hệ kinh tế trở nên căng thẳng vào cuối những năm 1980, chính phủ Anh theo Mỹ bắt đầu chỉ trích Rumani vi phạm nhân quyền. Năm 1988, báo cáo hàng năm của Bộ Ngoại giao về Rumani tuyên bố rằng "phạm vi hẹp của tiếp xúc của chúng ta với chính phủ Rumani phản ánh chính xác phạm vi hẹp của lợi ích hiện tại của chúng ta ở đây, hạn chế như họ là... để cố gắng, trên khía cạnh chính trị, để có được phía Rumani sửa đổi chính sách nhân quyền của họ và để kiểm tra họ rút lui vào cô lập và, thương mại, cố gắng để đảo ngược sự suy giảm trong xuất khẩu của Anh. Bài học nào từ bi kịch Ceausescu và Rumani? Hai tháng sau khi Ceausescu bị lật đổ, tờ The Nation đăng một bài báo tóm tắt lại hồ sơ phương Tây ủng hộ Ceausescu. Bài viết này mở đầu bằng một trải nghiệm cá nhân như John Sweeney của tờ Quan sát thuật lại: "Một phụ nữ, nước mắt chảy dài trong nhà thờ Bucharest, nơi đặt thi thể sinh viên đầu tiên bị bắn ở thủ đô, hỏi:" Tại sao các anh ở phương Tây lại ủng hộ ông ta? Tại sao? Tôi không có câu trả lời cho bà ấy." Đoạn cuối của bài viết, tác giả đặt ra một số câu hỏi của chính mình: "Ceausescu có thể biến mất, nhưng phương Tây vẫn còn, và lịch sử hiện đại của Rumani ném câu hỏi lên mặt chúng ta, cũng giống như người phụ nữ trong nhà thờ đã hỏi. Các mối quan hệ tương lai sẽ là gì, một bên là Tây Âu và Mỹ, một bên khác là Đông Âu và Rumani?.. Liệu Đông Âu sẽ được đối xử như một cái kho thế giới thứ ba khổng lồ tài nguyên và lao động giá rẻ, nhưng thuận tiện gần nhà, ít nhất là cho Tây Âu? Nếu điều này được phép xảy ra, thì chúng ta sẽ chẳng học được gì từ thảm kịch Rumani, và nỗi cay đắng của Ceausescu, khuân mặt oán hận sẽ ám ảnh tất cả chúng ta, Đông và Tây." ![]() Theo James Arnold http://www.zcommunications.org/blog/james_arnold Thay đổi nội dung bởi: SSX, 23-07-2013 thời gian gửi bài 22:42 |
|
#43
|
|||
|
|||
|
Tất cả đã rõ ràng, vì lợi ích quốc gia, Ceausescu đã ngả theo phương Tây chống Liên Xô, vào những năm cuối, ông ta cố gắng sửa chữa lỗi lầm bằng những biện pháp cực đoan. Bạo loạn nổ ra như “cách mạng màu” thường thấy ngày nay dưới sự kích động và sắp đặt của phương Tây, và hy vọng vào một cuộc can thiệp như Liên Xô đã thực hiện ở Hungari hay Tiệp Khắc đã không còn: “Lãnh đạo CCCP tuyên bố rằng đó là vấn đề “với nhân dân Rumani” - руководство СССР сделало заявление, что оно "с народом Румынии".”
Trong những năm 1980, quan hệ với phương Tây trở nên căng thẳng. Ceausescu đổ lỗi cho IMF có lãi suất cao "một cách vô lý", và buộc tội các ngân hàng phương Tây gây ra hoàn cảnh cho kinh tế đất nước mình. Sau khi bị bãi bỏ MFN năm 1988, về phía mình, Rumani đã cố gắng để mở rộng thương mại với các nước kém phát triển, nhưng không thành công, sau thời kỳ đạt đỉnh kim ngạch thương mại với họ năm 1981 khoảng 29% tổng ngoại thương, nó đã sụt giảm mạnh, phần lớn là do chiến tranh Iran-Iraq cắt đứt nguồn cung dầu thô từ Iran. Sự kết thúc của chế độ Ceausescu năm 1989 đánh dấu sự bắt đầu tan rã của khối XHCN Đông Âu, lần lượt Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary và Đông Đức. Dù phương Tây cố gắng miêu tả chúng như là các cuộc cuộc cách mạng quần chúng, nhưng một mô tả như vậy lại không thể ở Rumani. Ngay cả những người ủng hộ hăng hái nhất sự thay đổi triệt để tại thời điểm đó cũng phải thừa nhận rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin bao giờ cũng bao gồm các yếu tố của một cuộc đảo chính. Công bằng mà nói, sự xa rời Liên Xô để ngả sang Tây của Ceausescu ban đầu cũng mang lại bước phát triển tương đối tốt, nhờ đầu tư công nghiệp hóa, đời sống dân chúng được cải thiện rõ rệt trong thập kỷ 1970. Nhưng suy giảm kinh tế ngay sau đó khiến Ceausescu phải thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng để trả nợ, những biện pháp hà khắc khiến làn sóng bất mãn dâng cao, mối nguy đổ vỡ đã có tín hiệu từ trước. Vào đầu 1980, Rumani nợ IMF và World Bank 11 tỷ USD. Thực phẩm khan hiếm, thậm chí người ta chỉ có thể mua được bánh mỳ bằng tem phiếu ưu tiên, tiền lương bị cắt giảm nghiêm trọng, thậm chí không được trả lương. Hệ thống y tế và giáo dục sụp đổ. Thiếu đầu tư trong công nghiệp và nông nghiệp khiến năng suất giảm hơn 30% trong 10 năm. Sau 1989, kẻ kế nhiệm Ceausescu là Ion Iliescu, người là thân tín của ông ta. Đó lại là một thảm họa khác. Bộ máy lãnh đạo đất nước vẫn là những con người cũ dưới thời Ceausescu. Dân chúng đói khổ tiếp tục biểu tình, chính quyền mới tiếp tục đàn áp bắt bớ và nổ súng vào họ. Chỉ có tiến trình phá hoại và tư nhân hóa mang tên Cải cách là mới. Các nhà máy sở hữu nhà nước bị đem bán hoặc dỡ bỏ. Vừa thi hành chính sách thắt lưng buộc bụng cũ, vừa tư nhân hóa khẩn trương, chống đối bãi công đòi lương bị bỏ tù, nhưng vẫn không ngăn được dân chúng xuống đường. Lạm phát tăng cao đến 300%, chính phủ cạn tiền quyết định cắt giảm trợ cấp, đình công biểu tình dâng cao hơn bao giờ hết. Cuộc tổng đình công, biểu tình năm 1994 có đến 2 triệu người tham gia trên toàn quốc. Các phe phái chính trị tiếp tục tranh giành vị thế trên chính trường. Năm 1996, phe Dân chủ thắng thế dưới chiêu bài “thay đổi thực sự” do phương Tây cổ vũ. Mục tiêu tư nhân hóa toàn diện được đặt ra, Rumani quì gối để nhận các khản vay của IMF và World Bank. Sau 20 năm dưới ngọn cờ tự do dân chủ chống độc tài, đất nước Rumani còn lại như bãi phế thải. Nợ nần ngập ngụa, tài sản quốc gia đã bị bán hết, không còn gì để trả nợ. Các phe phái tiếp tục tranh giành quyền lực dưới ảnh hưởng của các nguồn tài chính ngoại bang, các cuộc bầu cử “dân chủ” bị biến thành màn lừa đảo bịp bợp khôi hài. Chẳng lời hứa nào được các nhà cách mạng thực hiện! Đã 20 năm như vậy, dân chúng chán nản tuyệt vọng bỏ quê hương xa xứ kiếm ăn qua ngày. Hỏi dân chúng Rumani gần đây, có đến 1/3 họ cho rằng lật đổ Ceausescu là một sai lầm, 6/10 người Rumani nói các chính trị gia hiện tại tham nhũng còn khủng khiếp hơn nhiều dưới thời Ceausescu. 56% dân số luyến tiếc chế độ CS, họ nói chế độ cũ tôn trọng quyền con người, tức là nhân quyền hơn thể chế “dân chủ” hiện tại. Nhưng gần như 100%, không ai nói ngày mai tương lai Rumani sẽ tốt đẹp. Ceausescu đã mắc sai lầm, ông ta cố gắng sửa chữa nó khi đã muộn bằng một sai lầm khác, chính quyền hiện tại lại tiếp tục mắc sai lầm cũ. Ai sửa chữa và sửa chữa như thế nào? |
|
#44
|
|||
|
|||
|
IMF bị đổ tội!
Tháng 3-2003, Bolivia ngập chìm trong lửa, nền kinh tế của họ bị bức tử. Và tôi đã nhúng tay vào tội giết người bằng vũ khí! Đó là cùng một kẻ đã giết chết nền kinh tế Argentina: "Chiến lược Hỗ trợ Quốc gia" của World Bank và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Chúng được đóng dấu mật. Làm thế nào để tôi có được chúng, điều đó không quan trọng. Nhưng câu trên là trích dẫn từ tờ tạp chí Harper, tôi phơi bày một loạt các kế hoạch bí mật của IMF sử dụng để tịch thu, kiểm soát và hủy hoại tận cùng các quốc gia mà IMF cho là tìm cách cứu vớt. ![]() Người biểu tình có mái tóc màu xanh lá cây trên đường phố Seattle nhạo báng niềm tin của họ rằng World Bank, IMF và bộ trưởng tài chính thế giới tham gia vào thỏa thuận bí mật để làm nghèo các quốc gia đang phát triển. Ở đây, trên thực tế, là một trong những thỏa thuận: "Hỗ trợ Báo cáo tiến độ Chiến lược Hộ trợ Quốc gia" của Argentina tháng 6-2001. Tài liệu này, trên danh nghĩa do World Bank soạn thảo, các đại diện chỉ đạo lồng ghép cả Ngân hàng và IMF, cũng như gián tiếp, là những mong muốn của kẻ bảo trợ lớn nhất của cả hai tổ chức: Bộ Tài chính Mỹ. Đóng dấu "mật" hoặc "Chỉ dùng cho quan chức", các báo cáo này thường ít khi được công bố công khai cho các công dân bị ràng buộc trong quy định của họ. Nhưng đúng là 100+% dựa vào các khoản vay của IMF và World Bank - các nước như Argentina, Tanzania, Ecuador, Sierra Leone – các thỏa thuận như vậy đáp ứng pháp luật trên thực tế, tỉ mỉ từng chi tiết và mang tư tưởng ép buộc. Mặc dù che đậy như điều kiện cho vay hoặc như tư vấn phát triển hữu ích, các báo cáo này gần giống như các biên bản của một cuộc đảo chính tài chính - coup d'etat! Để giảm thâm hụt ngân sách theo qui định của IMF, Argentina đã cắt giảm $3 tỷ từ chi tiêu chính phủ, cắt giảm đó là cần thiết, các tác giả ở đây lưu ý, để "phù hợp với việc tăng cường bổn phận quyền lợi." Những bổn phận này, báo cáo không cần phải ghi chú thêm, đó là các chủ nợ lớn nước ngoài, bao gồm cả chính IMF và World Bank. Từ năm 1994, trên thực tế, thâm hụt ngân sách của Argentina hoàn toàn do thanh toán lãi suất vay nước ngoài. Chưa kể các khoản nợ phải trả như vậy, chi tiêu đã duy trì ở mức 19% GDP. Mặc dù những thiệt hại có thể nhìn thấy gây ra bởi vết cắt lãi suất, thì kế hoạch mới đã ra lệnh phải trả nhiều hơn. Đó là, báo cáo đã hứa hẹn, sẽ "cải thiện đáng kể triển vọng cho phần còn lại của năm 2001 và 2002, với mức tăng trưởng dự kiến sẽ phục hồi trong nửa sau của năm 2001." World Bank đã xem nhẹ các dấu hiệu. Bởi tháng 12 năm 2001, tầng lớp trung lưu ở Buenos Aires, đã không quen với việc săn lùng trên đường phố, tìm bới rác để ăn, họ gia nhập đám đông người nghèo trong các cuộc biểu tình hàng loạt. |
|
#45
|
|||
|
|||
![]() Làm thế nào mà Argentina lại đâm đầu vào bế tắc? Trong những năm 1990, quốc gia này là con đẻ của toàn cầu hóa - globalization, đã đi theo mà không hề ngờ vực gì chương trình của IMF và World Bank. Kế hoạch "Cải cách" cho Argentina, như đối với mọi quốc gia, có bốn bước. 1. Bước đầu tiên trong đó, vốn hóa thị trường tự do, đã được hoàn thành bằng "Kế hoạch chuyển đổi" năm 1991, theo đó cố định đồng peso Argentina vào trong quan hệ 1-1 với đồng đô la Mỹ và kiểm soát đồng peso bằng ngân hàng trung ương “độc lập”. Cái CHỐT này được thiết kế cả để giữ lạm phát thấp và cả để ngăn cản thâm hụt chi tiêu ngân sách, với hy vọng thu hút và an ủi các nhà đầu tư nước ngoài. Thị trường tự do hóa làm chảy vốn tự do vào và ra khỏi biên giới. Nhưng một khi nền kinh tế Argentina bắt đầu lung lay, chỉ đơn giản là tiền chảy ra… 2. Bước tiếp theo trong chế độ của IMF và World Bank là tư nhân hóa. Cả hai gã chủ thúc giục người cho vay và kẻ đi vay về sự cần thiết tài chính, Argentina trong suốt những năm 1990 đã bán sạch những gì mà bây giờ họ buồn bã gọi là "las Joyas de mi abuela – châu báu của bà”: mỏ dầu, khí đốt của nhà nước, các công ty điện, nước và các ngân hàng nhà nước. Đó thực sự là một cuộc bán tháo. Vivendi của Pháp giành được hệ thống nước sạch nông thôn; Enron Texas là các đường ống dàu của Buenos Aires, Phi đội Boston chiếm cứ các ngân hàng cấp tỉnh… Năm 1994, World Bank kêu gọi Argentina tư hữu hóa một phần thậm chí cả hệ thống an sinh xã hội của mình, chuyển một phần lớn của nó vào các tài khoản cá nhân. Trung tâm có trụ sở ở Mỹ về Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách tính toán riêng tổn thất doanh thu từ quyết định này gần như bằng với thâm hụt ngân sách của quốc gia trong giai đoạn này. 3. Bước thứ ba chọc thủng Laissez-faire, thị trường kinh tế hoàn toàn tự do khỏi mọi hạn chế của chính phủ, đó thực sự là cuộc nổi dậy cách mạng thị trường. Ở Argentina, mục tiêu chính của sáng kiến này là nhân công, phần khó lay chuyển nhất của hàng hóa. "Tiến bộ lớn đã được thực hiện để loại bỏ hợp đồng lao động đã lỗi thời, "báo cáo này tuyên bố, ghi chép tán thành rằng “chi phí lao động" (tức là, tiền lương) đã giảm do "tính linh hoạt của thị trường lao động đem lại bởi yếu tố tự do hóa thị trường qua việc tăng tính không bắt buộc." Dịch nghĩa là: lao động bị mất việc làm đã công đoàn hóa bị buộc phải tuân theo sắp xếp quảng bá tuyển dụng, với quyền lợi được bảo vệ rất ít ỏi. Ở đây, báo cáo yêu cầu chính phủ phân quyền thương lượng tập thể, một động thái sẽ làm giảm sức mạnh công đoàn. Vẫn còn xa mới đạt được mục tiêu "thất nghiệp ở một con số", World Bank và IMF đã nhìn thấy bóng dáng thất nghiệp ở khu vực Buenos Aires tăng từ 17% đến đáng kinh ngạc 22% ngay trong năm sau phát hành báo cáo. Bạo lực và cướp bóc làm rung chuyển thành phố trong tháng 12 năm 2001, như thể đại diện cho giai đoạn "thắt lưng buộc bụng", một quá trình mà theo Stiglitz, nhà kinh tế Mỹ ở ĐH Columbia, gọi là "bạo loạn IMF”. Ông nói: "Khi một quốc gia bị đốn xuống và bị đẩy ra ngoài, IMF lợi dụng và bóp nặn đến hòn máu cuối cùng ra khỏi họ. Họ bị lật ngược trên lửa cho đến khi, cuối cùng, cả cái vạc lửa nổ tung ra.” 4. Bước bốn của chương trình IMF và World Bank là tự do thương mại. Các điều khoản cho vay của 2 tổ chức yêu cầu Argentina chấp nhận "chính sách thương mại mở". Khi khủng hoảng kinh tế nổ ra, thì xuất khẩu những sản phẩm mà Argentina có ưu thế và giá cả cạnh tranh, thông qua cái CHỐT tỷ giá với đô la Mỹ, bị buộc vào một cuộc cạnh tranh không cân sức rất ngoạn mục với hàng hóa Brazil có giá cả theo tiền tệ giảm giá trị của nước họ. Argentina trồng một loại lúa đặc biệt hạt dài như của Brazil, nhưng ngay cả khi Brazil phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng mất mùa đói kém, hàng tấn gạo Argentina đã không bán được.
|
|
#46
|
|||
|
|||
|
Trước năm 1980, khi World Bank và IMF đặt ra việc sắp xếp lại các nền kinh tế các quốc gia đang phát triển, gần như tất cả các nước và toàn bộ khối Nam Mỹ tôn trọng chủ nghĩa Keynes (Keynesianism) hay chủ nghĩa xã hội. Theo "mô hình thay thế nhập khẩu", họ xây dựng ngành công nghiệp sở hữu trong nước thông qua đầu tư của chính phủ, đằng sau bức tường bảo vệ thuế quan và kiểm soát vốn. Trong những thời kỳ được cho là đen tối về kinh tế, kéo dài khoảng 1960-1980, thu nhập bình quân đầu người (per-capita income) tăng đến tăng 73% ở Mỹ Latinh và 34% ở Châu Phi. Để so sánh, kể từ 1980, Mỹ Latinh tăng trưởng thu nhập đã chậm lại cho đến nửa ảo thấp hơn 6% trong hơn 20 năm, trong khi thu nhập của châu Phi đã giảm 23%. Chính IMF, trong một tuyên bố kèm theo báo cáo tháng 4 năm 2000 "Triển vọng kinh tế thế giới - World Economic Outlook ", đã phải lưu ý rằng "trong những thập kỷ gần đây, quá nhiều nước, và gần 1/5 dân số thế giới, có sự thụt lùi." Điều đó được coi là một trong những thất bại kinh tế lớn nhất của thế kỷ 20. Về điều này, ít nhất, IMF đã đúng.
Tạp chí Plume-Penguin của Mỹ đã phát hành bản mới, mở rộng của cuốn sách bestseller của Greg Palast - New York Times: Thứ tốt nhất đồng tiền dân chủ có thể mua. Loạt phóng sự điều tra vạch trần sự thật về toàn cầu hóa, các tập đoàn bảo thủ và những kẻ lừa đảo tài chính cấp cao (The Best Democracy Money Can Buy). Vẫn có thể đọc các bài viết tại www.gregpalast.com ; Nội dung chính của các bài này là lấy ở đó. Madam Argentina Cristina Kirchner đang phải đương đầu với rất nhiều khó khăn, hậu quả tai hại mà các tiền nhiệm để lại. Khoản nợ cả tỷ USD đã đến kỳ hạn phải trả, nguy cơ đổ vỡ, thậm chí là “tự sát” kinh tế hiển hiện. Nhà đầu tư lớn nhất ở Argentina có dự án vốn $6 tỷ vào mỏ Rio Colorado, đường sắt và cảng vận chuyển phân bón ka-li sang Brazil, họ đã ngừng công việc ở mỏ và đổ tội cho chính phủ không kiềm chế được lạm phát cao và kiểm soát tiền tệ để sa thải 4000 công nhân cho dù đã thực sự đã bỏ ra $1 tỷ và hoàn thành 40% công việc xây dựng. Nếu không trả được $1,4 tỷ nợ trong năm nay, các thể chế tài chính có thể sẽ kiện Argentina ra tòa án tối cao Mỹ. Các nhà phân tích rất lo ngại, người ta đoán trước phán quyết của tòa sẽ rất khắc nghiệt bởi những vi phạm táo tợn mà madam đã làm. |
|
#47
|
|||
|
|||
|
Philippine láng giềng có một lịch sử dài bị cai trị bởi các độc tài do Mỹ chống lưng.
Đất nước Hồi giáo này hiện có dân số hơn VN một chút. Họ giành được độc lập năm 1946 thì cũng là lúc quốc gia rơi vào cảnh hỗn loạn, các phe phái chính trị tranh giành quyền lực, các nhóm Hồi giáo cực đoan cát cứ. Độc tài khét tiếng, bù nhìn Mỹ Ferdinand Marcos lên nắm quyền năm 1965 nhấn chìm cả đất nước trong áp bức khiến kinh tế chậm phát triển, dân chúng cùng khổ. Cuộc đấu tranh đòi lật đổ Marcos đã có kết quả khi vị độc tài phải nhượng bộ bằng cuộc bầu cử năm 1986. Thủ lĩnh Corazon Aquino thắng cử nhưng ông ta gian lận công bố mình là người chiến thắng. Vì là con cưng của Mỹ, nên tất nhiên Mỹ chẳng ho he gì về nhân quyền Philippine. Dân chúng quá sức chịu đựng đã nổi giận và đồng loạt làm một cuộc lật đổ độc tài Marcos. Được các tướng lĩnh và các chức sắc tôn giáo ủng hộ. Cuộc cách mạng thành công. Marcos bỏ trốn đến Hawaii lưu vong. Corazon Aquino lên làm tổng thống và lập ra chính quyền dân bầu đầu tiên trong bối cảnh độc tài Marcos để lại cho Philippine gánh nặng công nợ khủng khiếp, tình trạng tham nhũng tràn lan, các phe phái đấu đá triền miên, nguy cơ đảo chính và các phong trào ly khai tôn giáo cực đoan thường trực. Philippine có tiếng về xuất khẩu lao động, hơn 10 triệu người đang lao động ở nước ngoài đóng góp cho Philippine nguồn thu ngoại tệ không nhỏ. Người Phi có thể không thông minh sáng dạ, nhưng tiếng là chăm chỉ và biết nghe lời chủ. Nhưng ám ảnh từ quá khứ bất hạnh Marcos, những nhiễu nhương cùng quẫn do IMF gây ra khiến tình cảm đa số dân Phi nói chung đặc biệt ghét Mỹ và căm hận IMF. |
|
#48
|
|||
|
|||
|
Nữ tổng quản International Monetary Fund (IMF), quý bà Christine Lagarde đến thăm Manila cuối năm 2012 được dân chúng Phi đón tiếp bằng màn biểu tình ít người thôi nhưng đầy nhạo báng, được tổ chức ngay cạnh cung điện Malacanan, họ nói người Phi bày tỏ tình đoàn kết với dân chúng Eurozone.
Người Phi đã lập ra cả tổ chức dân sự để giám sát công nợ quốc gia gọi là “Liên minh tự do nợ nần - Freedom from Debt Coalition” (FDC). Đối với FDC, “IMF là xác chết, xác chết biết đi!”, ông chủ tịch FDC nói như vậy. “Chúng tôi sẽ sớm chôn con zombie kinh tế này, đó là cách tốt hơn cho nền kinh tế và các dân tộc trên thế giới.” ![]() ![]() ![]() ![]() Nữ tổng quản IMF đến Phi như một phần của chuyến công cán Đông Nam Á, bề ngoài là để tìm hiểu mồi chài cách làm thế nào để giải quyết khủng hoảng kinh tế Eurozone cũng như tư vấn cho chính phủ Philippine hợp lý hóa các ưu đãi thuế đã được cấp để giao thương. Bà cũng sẽ tham dự một cuộc họp của các quốc gia ASEAN tại Campuchia. Trong một tuyên bố, FDC nói chuyến ghé thăm của Lagarde và cảnh tiếp đón của chính phủ Phi gợi lên một quang cảnh siêu thực. "Tổ chức này đã bị xua đuổi khắp nơi như thất bại ghê gớm để ổn định hệ thống tài chính toàn cầu và như là một kẻ phá hoại các nền kinh tế đang phát triển.” FDC cho biết: “Việc thuyết phục và bóp méo lịch sử không thể chuộc lại lỗi lầm của IMF từ hồ sơ theo dõi thảm hại của họ - thất bại của họ trong việc dự đoán nhiều cuộc khủng hoảng tác động của khu vực và toàn cầu, bao gồm cả cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ, các đơn thuốc phản tác dụng của họ đối với các cuộc khủng hoảng như vậy, và chính sách áp đặt của họ đối với các khoản vay cho các nước đang phát triển, như Philippine, khiến người ta chìm sâu hơn vào nợ nần và trục trặc phát triển. Vì tất cả những lý do này, IMF lẽ ra đã bị đưa vào lãng quên và cái chết từ lâu rồi." Nhưng không, G-20, đặc biệt là G-7 các bậc thầy của chủ nghĩa tư bản tài chính toàn cầu đã làm sống lại giả tạo IMF với một nhiệm vụ mới: thúc đẩy vẫn các đơn thuốc thối nát cũ thắt chặt tiền tệ và bóp nghẹt tài chính hoặc các biện pháp khắc khổ, thời gian này, trong các nước khu vực Eurozone khủng hoảng khi khuyến khích các chính sách kinh tế vĩ mô phản chu kỳ như tăng chi tiêu và mở rộng đầu tư để đối phó với suy thoái kinh tế Mỹ và Tây Âu. "Chúng tôi, người Philippines, đã từng là nạn nhân, và cho đến bây giờ, phải chịu hậu quả nghiêm trọng của các chương trình điều chỉnh cơ cấu (SAP) áp đặt bởi IMF lên chúng tôi trong những năm 1980. Bây giờ, chúng tôi một lần nữa chứng kiến nơi chôn vùi các hậu quả của câu thần chú tái chế IMF, như số phận của chúng tôi sẽ cùng chung số phận của các dân tộc khu vực Eurozone theo chỉ đạo của IMF. Cắt giảm thô bạo chi tiêu công và những tác động tiêu cực theo cấp số nhân mà họ tạo ra đã dẫn đến thất nghiệp tràn lan và sự sụp đổ của các dịch vụ xã hội. Do đó, điều này sẽ dẫn đến gia tăng sự bất bình đẳng toàn cầu giữa Bắc với Nam, với 99% của phía Bắc và giới bề trên siêu, siêu giàu của họ." FDC tuyên bố: "Chúng tôi, ở FDC, tham gia với các dân tộc khu vực Eurozone những người hiện đang đình công. IMF nhất định không được phép phát tán bệnh tật thông qua chính sách hèn hạ, chống loài người và tân-tự do của họ ở đây Philippine, hay trong khu vực châu Âu, hoặc trong bất kỳ quốc gia nào khác." Theo http://www.fdc.ph Vì thế mà có lý do để xem tại sao IMF lại bị dân chúng Phi ghét bỏ, coi như xác chết! |
|
#49
|
|||
|
|||
|
Vào tháng 10 năm 1983, có thông báo rằng Philippine đã không thể đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ nước ngoài 24,4 tỷ USD của họ và đề nghị đình hoãn 90 ngày thanh toán. Yêu cầu tiếp theo là kéo dài thời hạn đình hoãn. Hành động này là đỉnh điểm của cán cân tình hình thanh toán khó khăn. Sự phát triển của Philippine trong thập kỷ 1970 đã được tạo điều kiện bằng cách vay mượn rộng rãi trên thị trường vốn quốc tế. Từ năm 1973 đến năm 1982, nợ của nước này đã tăng trung bình lên đến 27% một năm. Mặc dù các khoản vay liên chính phủ và các khoản vay từ các tổ chức đa phương như World Bank và ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á) đã được cấp ở mức lãi suất thấp hơn thị trường, thì trách nhiệm trả lãi cho các khoản vay và nợ thương mại tiếp tục tăng.
Năm 1982 các khoản phải trả 3,5 tỷ USD, xấp xỉ với mức vay nước ngoài trong năm và lớn hơn tổng số nợ của nước này năm 1970. Các năm tiếp theo, năm 1983, lãi phải trả đã vượt quá vốn ròng và đạt đến khoảng 1,85 tỷ USD. Cùng với sự đi xuống của nền kinh tế thế giới, lãi suất tăng cao, một vụ bê bối tài chính trong nước đã xảy ra khi một doanh nhân trốn khỏi đất nước với khoản nợ ước tính khoảng 700 triệu peso, tình trạng bất ổn leo thang bởi sự vô độ của Marcos, cuộc khủng hoảng chính trị sau khi Aquino bị ám sát, gánh nặng nợ nần đẩy quốc gia vào tình trạng bất ổn. Philippine đã quay sang IMF trước đó vào năm 1962 và năm 1970, khi họ gặp phải cán cân thanh toán khó khăn. Họ lại đã làm như vậy một lần nữa vào cuối 1982. Một thỏa thuận đã đạt được trong tháng 2 năm 1983 về một khoản vay khẩn cấp, tiếp theo là các khoản vay khác từ World Bank và Ngân hàng thương mại xuyên quốc gia. Các cuộc đàm phán giữa các quan chức tiền tệ Philippine và IMF bắt đầu lại gần như ngay lập tức sau tuyên bố đình hoãn trả nợ. Tình hình trở nên phức tạp khi lộ ra công luạn rằng Philippine đã báo cáo không đúng sự thật về các khoản nợ của họ ở vào khoảng 7 đến 8 tỷ USD, phóng đại dự trữ ngoại tệ của họ đến khoảng 1 tỷ USD, và vì các vi phạm đó, tháng 2 năm 1983 họ thỏa thuận với IMF cho phép tăng nhanh cung ứng tiền. Một sự sắp đặt mới cuối cùng đã đạt được với IMF tháng 12 năm 1984, hơn một năm sau khi tuyên bố đình hoãn nợ. Trong khi đó, các nguồn vốn bổ xung từ bên ngoài đã trở thành gần như không thể có được. Trong những thỏa thuận với IMF, Philippine đã đồng ý với các điều kiện nhất định để có được kinh phí bổ sung, nhìn chung thường bao gồm cả giảm giá đồng peso, tự do hóa hạn chế nhập khẩu, và thắt chặt tín dụng trong nước (hạn chế sự tăng cung ứng tiền và tăng lãi suất) . Các biện pháp điều chỉnh theo yêu cầu của IMF trong thỏa thuận tháng 12 năm 1984 là khắc nghiệt, và nền kinh tế đã phản ứng nghiêm trọng. Bởi sự khắc khổ về tài chính của mình, tuy nhiên, chính phủ Philippine thấy không còn sự lựa chọn nào khác nên đành phải tuân thủ. Cán cân thanh toán đã đạt đáp ứng được các mục tiêu cho năm sau, và các báo cáo tiền tệ, lần đầu tiên trong hơn một thập kỷ, đã có biểu hiện tích cực trong năm tài chính 1986. Nhưng cái giá phải trả, lãi suất đã tăng lên rất cao đến 40%, và GNP thực giảm 11% trong năm 1984 và 1985. Tình hình kinh tế nghiêm trọng đó góp phần vào chiến thắng của Aquino trước Marcos tháng 2 năm 1986 trong cuộc bầu cử tổng thống. Khi Marcos chạy trốn đến Mỹ vào cuối tháng 2-1986, nợ nước ngoài của Philippine đã tăng lên đến hơn 27 tỷ USD. Mối bận tâm ngay trước mắt của đất nước là tìm cách trả nợ. Giảm kích thước các khoản nợ là một vấn đề dài hạn. Trả nợ 3 tỷ USD vào năm 1986, là mất sạch toàn bộ thu nhập ngoại tệ của đất nước và thặng dư thể đầu tư của mình. Các nhà kỹ trị trong Cơ quan kinh tế và phát triển đề nghị tuyên bố một lệnh đình hoãn nợ khác, lần này là 2 năm, cho phép đất nước một không gian để thở. Các biện pháp đã được giới thiệu với Quốc hội năm 1986 và những năm tiếp theo để đáp ứng thanh toán nợ hàng năm. Chính quyền Aquino và NHTW, tuy nhiên, luôn chống lại cả hai chiến thuật, thay vào đó một cách tiếp cận hợp tác với các chủ nợ của nước này. Một số các khoản nợ chính phủ và nợ chính phủ bảo lãnh đã phát sinh trong những hoàn cảnh nghi vấn, và có đòi hỏi liên tục từ chối công nhận các khoản vay này để có thể chứng minh đã có gian lận. Tháng 11 năm 1990, “Liên minh tự do nợ nần - Freedom from Debt Coalition” (FDC), một tổ chức phi chính phủ, trình bày kết quả điều tra về 6 khoản vay có khả năng bị gian lận, có tổng giá trị từ 4 đến 6 tỷ USD. Khoản lớn nhất, là khoản vay 2,5 tỷ USD để xây dựng Nhà máy điện hạt nhân Bataan, những cáo buộc liên quan đến các bất thường trong thủ tục đấu thầu và thiết kế, đội giá, và lại quả. Chính phủ Aquino trước đó đã đệ đơn kiện dân sự tại Mỹ chống lại Westinghouse, nhà thầu nhà máy Bataan, công ty mà chính phủ Marcos đã ký hợp đồng để xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Nhà máy điện hạt nhân này đã không bao giờ chạy và Philippine vẫn tiếp tục phải trả tiền thanh toán lãi suất các khoản vay cho nhà máy này lên đến 300 ngàn USD mỗi ngày trong khi đang kiện tụng. Đáp lại những phát hiện của FDC, tổng thống nói rằng đất nước sẽ không trả tiền cho các khoản vay gian lận, tuyên bố như vậy là một sự thay đổi lớn về chính sách.
|
|
#50
|
|||
|
|||
|
Các nhà đàm phán của chính phủ đã làm việc chủ yếu là với ba nhóm chủ nợ trong một nỗ lực của họ giảm bớt gánh nặng nợ nần. Đầu tiên, và trong một số phương diện quan trọng nhất, là chủ nợ IMF, bởi sự đồng ý của họ được coi là cần thiết để dàn xếp thỏa thuận với các chủ nợ khác. Thứ hai là Câu lạc bộ Paris, một tổ chức không chính thức của các chủ nợ chính thức. Nhóm thứ ba là các chủ nợ ngân hàng thương mại, đứng thứ 330 vào năm 1990. Cuộc đàm phán với các ngân hàng nói chung là diễn ra với ban cố vấn gồm 12 thành viên, dưới sự chủ trì của nhà sản xuất Hanover Trust.
Có một thỏa thuận dự phòng trước đó mà chính phủ Aquino thể dựa vào là chính phủ cũ Marcos đã thương lượng với IMF vào năm 1985 nhưng đã bị ngừng trệ một thời gian ngắn sau khi Aquino nhậm chức. Thỏa thuận liên quan đến chi tiêu chính phủ và tăng cung tiền với đã trở thành vô độ khi Marcos nhúng tay vào kho bạc chính phủ trong một nỗ lực tuyệt vọng để giành chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1986. Ngoài ra, chính phủ muốn đàm phán một thỏa thuận có định hướng phát triển nhiều hơn. Một thỏa thuận về thời hạn chi trả khoản vay của Mỹ 506 triệu USD đã được ký kết 8 tháng sau đó vào tháng 10 năm 1986. Tháng 1 năm 1987, thỏa thuận với Câu lạc bộ Paris đã đạt được kéo dài thời hạn chi trả ra hơn mười năm, với thời gian ân hạn 5 năm, 870 triệu USD Mỹ của các khoản vay đã được trả trong năm 1987 và nửa đầu năm 1988. Sự nhất trí với IMF cũng mở đường cho việc phát hành 350 triệu USD cho các khoản vay mới của các chủ nợ ngân hàng thương mại, khoản này đã bị giữ lại khi thỏa thuận với IMF bị phá vỡ vào đầu năm 1986. Vào tháng 3 năm 1987, Philippine và ban cố vấn 12 ngân hàng đạt được các điều khoản về gia hạn công nợ 13,2 triệu USD đối với các ngân hàng tư nhân và giảm lãi suất. Việc ký kết thỏa thuận này đã bị trì hoãn, bởi một nhóm các ngân hàng chủ nợ đứng đầu là Barclays Bank của Anh, họ yêu cầu chính phủ Philippine bảo lãnh khoản nợ 57 triệu USD của một công ty phân bón tư nhân, Planters Products, Inc Giàn xếp đã không đạt được cho đến tháng 12 năm 1987. Vòng đàm phán thứ hai bắt đầu vào năm 1989. Câu lạc bộ Paris tái cấu trúc 2,2 triệu USD các khoản nợ đến hạn từ tháng 9-1988 và tháng 6-1990. Các thỏa thuận với IMF và ngân hàng thương mại cho phép Philippine vào đầu năm 1990, lo liệu chương trình ba mũi nhọn theo chỉ dẫn Brady Plan. Đầu tiên, chính phủ sử dụng nguồn vốn từ World Bank, IMF, và các nguồn khác để mua lại 1,31 tỷ USD nợ chính phủ từ ngân hàng tư nhân giảm giá 50% mà họ đã bán trên thị trường thứ cấp, hành động này làm giảm công nợ của đất nước đến 650 ngàn USD, và, trong theo đó, số lượng các ngân hàng chủ nợ giảm từ 483 xuống 330. Thứ hai, nợ đến hạn từ 1990 đến 1994 được cơ cấu lại. Cuối cùng, một số trong số 80 ngân hàng đã đóng góp 700 triệu USD cho các khoản vay mới. Đến tháng 7 năm 1990, IMF đã có nhận xét tình hình kinh tế kinh tế Philippine và thấy nó là "có triển vọng" so với thời kỳ giữa tháng 10-1989 và khi đạt được thỏa thuận vay, vào tháng 3-1990. Vào tháng 9-1990, IMF bắt đầu giở trò và tình hình đã bị đảo ngược. Họ nói các mục tiêu thỏa thuận đã không được đáp ứng bởi qui mô thâm hụt ngân sách ngân sách, cán cân thương mại, hoặc dự trữ ngoại tệ. Kết quả là, IMF đã từ chối đợt phát hành vào tháng 9 (góp vốn) cho Philippine. Đến lượt mình, Manila đã hủy bỏ thỏa thuận dự phòng năm 1989 và mở lại các cuộc đàm phán với IMF. Một thỏa thuận mới đã được công bố vào đầu năm 1991, liên quan đến một gói tín dụng ba năm, với tổng giá trị 375 triệu USD, chỉ bằng 1/3 của các gói cho vay 1,17 tỷ USD bị đình chỉ vào tháng 9 năm trước. Trong số những thứ khác, thỏa thuận yêu cầu Philippine thực hiện các biện pháp tăng doanh thu mới vào cuối tháng 8 năm 1991. Như một hệ quả của sự thất bại đáp ứng các mục tiêu thỏa thuận dự phòng tháng 9, các ngân hàng thương mại tháng 2 năm 1991 từ chối giải ngân đợt cuối 115 triệu USD của gói tín dụng 706 triệu USD đã đồng ý vào đầu năm 1990. Tại một cuộc họp với các quan chức Philippine, ủy ban cố vấn ngân hàng cũng từ chối thảo luận về việc cung cấp số vốn 500 triệu USD trong các quỹ mới. Vào tháng 2 năm 1991, chính phủ Philippine cho biết sẽ đề nghị Câu lạc bộ Paris cho trì hoãn thanh toán trên 1 tỷ USD trong các khoản nợ đến hạn trong giai đoạn 30-6-1991 đến 31-7-1992. Trong một biện pháp giảm thiểu rủi ro cho vay đối với chính phủ của các ngân hàng thương mại, tháng 2 năm 1991 Philippine tỏ dấu hiệu sẽ tiếp cận các tổ chức tài chính đa phương như World Bank và ADB để đồng tài trợ, đổi lại họ sẽ từ bỏ khả năng gia hạn. Những nỗ lực để giảm nợ nước ngoài bao gồm khuyến khích đầu tư trực tiếp vào nền kinh tế. Tháng 8 năm 1986, Philippine khởi xướng chương trình chuyển đổi nợ vốn chủ sở hữu, trong đó cho phép các nhà đầu tư tiềm năng tiếp cận công cụ nợ Philippine để chuyển đổi chúng thành đồng peso với mục đích đầu tư vào nền kinh tế Philippine. Bởi giá trị của các khoản nợ trong thị trường thứ cấp là ít hơn nhiều so với mệnh giá (khoảng một nửa, vào thời điểm đó), các biên độ hoán đổi cho phép các nhà đầu tư có được đồng peso ở một tỷ lệ chiết khấu. Hầu hết các đảo nợ được tổ chức bởi NHTW, để có thể cung cấp đồng peso cắt nợ qua phát hành tiền mới, với những hậu quả lạm phát rõ ràng. Vì lý do này, chương trình đã bị đình chỉ vào tháng 4 năm 1988. Tại thời điểm đó, đã giảm được khoảng 917 triệu USD tiền nợ. Các vấn đề khác đã nảy sinh, cả những lợi ích cho Philippine và sự công bằng của chương trình chuyển đổi. Giao dịch hoán đổi nợ vốn chủ sở hữu, như đã lập luận, nghĩa là để có lợi cho các nhà đầu tư, chi phí bằng đô la ít hơn nhiều so với đồng peso. Nếu đầu tư thực hiện không qua trao đổi, thì không được tham gia vào các khoản trợ cấp lớn. Vào tháng 3 năm 1991, các quan chức Philippine nêu lên vấn đề "bỏ qua", hay xóa nợ, nợ của Philippine với Mỹ, đề nghị rằng Mỹ chấp thuận cho Philippine tương tự như đã đối xử với Ai Cập và Ba Lan. Mỹ thoái thác lời cầu khẩn, chỉ ra rằng 33/48 tỷ USD nợ của Ba Lan là chính thức, nhưng 20% các khoản nợ Philippine là nợ của các ngân hàng thương mại. Chính quyền Aquino đã bỏ ra nhiều thời gian và nỗ lực đàm phán với các nhóm nợ khác nhau để giảm lãi suất, gia hạn nợ, và giảm kích thước các khoản nợ. Một số đề án đổi mới được thực hiện. Đó là cả một quá trình, tuy nhiên, về cơ bản có nghĩa là chạy nhanh để ở lại tại chỗ, mọi cố gắng cũng chỉ là để khoanh nợ, không làm nó phình to. Qui mô nợ nước ngoài của nước này tháng 6 năm 1990 là 26,97 tỷ USD, cùng cỡ như năm 1985 là 26, 92 tỷ USD, ngay trước khi Aquino lên nắm quyền. Thanh toán nợ cũng thay đổi rất ít: Mỹ 2,57 tỷ USD năm 1985 so với 2,35 tỷ USD năm 1990. Cán cân thanh toán vẫn phải chịu áp lực. Sự phát triển của nền kinh tế Philippine, do tỷ lệ nợ của nước này GNP giảm từ 83,5 năm 1985 xuống 65,2 năm 1989, trong khi đó nợ xuất khẩu giảm 32,0 xuống 26,3 so với cùng kỳ. Dư nợ dự kiến trong tháng 9 năm 1990 cho thập kỷ 1990 cho thấy có sự gia tăng từ 2,35 tỷ USD trong 1990 đến 3,25 tỷ USD vào năm 1995, tụt xuống còn 2,08 tỷ USD vào năm 1999. ![]() Cho đến ngày nay, nợ nước ngoài Philippine vẫn duy trì ở cỡ 60 tỷ USD, cỡ 30-35% GDP. Mọi nỗ lực từ thời Aquino là giải quyết xong khủng hoảng nợ để lại từ thời Marcos và cũng là chỉ không làm nợ tăng quá cao. Áp dụng cải cách IMF dù với các điều kiện đàm phán mặc cả, gây nhiều bất ổn kinh tế xã hội, khoảng cách giàu nghèo gia tăng mạnh. Người ta không nói “bẫy thu nhập trung bình” mà là “bẫy nợ”, Caught In the Debt Trap; |
|
#51
|
|||
|
|||
![]() Robert McNamara, là người nổi tiếng ở Việt Nam với vai trò bộ trưởng chiến tranh. Công lao của ông ta đóng góp nhiều hơn ai hết vào việc gây ra cái chết của 3,4 triệu người Việt trong chiến tranh. Nhưng còn có một sự nổi tiếng khác của ông ta mà ít người biết đến: sau khi thôi bộ trưởng, McNamara tiếp tục vận hành cố máy World Bank, nơi ông ta làm chủ sự sự tiến trình bần cùng hóa, đuổi hàng triệu người ra khỏi mảnh đất của họ, tiếp tục gây ra cái chết của hàng triệu sinh mạng khác khắp thế giới. Cũng giống như các nhân vật sừng sỏ Mỹ khác, cuối đời ông ta viết hồi ký, bày tỏ lòng ăn năn hối tiếc, khiến rất nhiều người phải ngạc nhiên, không chỉ bởi quan điểm thái độ của ông ta đã quay ngược 180 độ, mà còn bởi mức độ tiết lộ trong những gì ông ta viết. Cũng như George Kennan, một trong những kiến trúc sư chiến tranh lạnh, giúp cùng dựng lên bộ dàn siêu vẹo của cái tuyên bố hư ma tạo ra lý do “nỗi sợ hãi vũ trang” khổng lồ của Harry Truman năm 1948, phát động cuộc chạy đua vũ trang sau chiến tranh WW-II, McNamara vuốt mái tóc của mình và nói "Phải, phải, Thưa ngài!" khi Kennedy, vận động tranh cử chống Nxon cuối những năm 1950 tấn công vào chính quyền Eisenhower/Nixon cho phép để ngỏ một "khoảng cách tên lửa" mà như ngày nay là bỏ Mỹ lại trần trụi và bất lực trong sự kìm kẹp của Liên Xô. Đây là dối trá lớn nhất trong lịch sử thổi phồng đe dọa và vẫn như vậy ngày nay. Tại thời điểm khi Kennedy, McNamara thúc khuỷu tay, mắng mỏ chính quyền Eisenhower vì “khoảng cách" đáng hổ thẹn, người Mỹ nhờ các máy bay do thám biết Liên Xô có chính xác một giếng phóng với một tên lửa chưa được thử nghiệm trong đó. Người Nga cũng biết Mỹ biết điều này, bởi vì họ bị phủ đầy đủ các chuyến bay do thám U-2, đáng kể nhất là khi phi công U-2 Gary Powers bị rơi gần Sverdlovsk và kể ra tất cả với kẻ bắt giữ mình. Vì vậy, khi Kennedy lên nắm quyền và McNamara làm bộ trưởng Quốc phòng năm 1961, từ các thông tin riêng của mình từ các nguồn tình báo và các chuyến bay gián điệp, từ tuyên bố của Mỹ rằng sẽ xây dựng 1000 ICBM, người Nga kết luận rằng Mỹ có kế hoạch để tiêu diệt Liên Xô và ngay lập tức đã bắt đầu chương trình tên lửa của mình. McNamara đã đóng vai quan trọng, cho phép cuộc chạy đua vũ trang tên lửa hạt nhân. Lấp đầy "khoảng cách tên lửa" bằng "cuộc đua máy bay ném bom". |
|
#52
|
|||
|
|||
|
Hoàn toàn thích hợp và hợp lý khi mà ông ra bắt đầu sự nghiệp quân sự của mình ở Nhật Bản như một nhà phân tích dân sự cho Curt LeMay, kẻ làm tướng không quân tâm thần thái nhân cách đã ra lệnh ném bom napan gây ra cơn bão lửa Tokyo và sau này đứng đầu Bộ chỉ huy Không quân Chiến lược Mỹ, kẻ khoe khoang với Kennedy trong cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba rằng tên lửa và B-52 của mình đã sẵn sàng, sẵn sàng và có khả năng khiến Liên Xô thành "đống đổ nát bức xạ âm ỉ trong 3 giờ đồng hồ", một hành động ông ta mong muốn đạt được.
Curtis LeMay là chuyên gia, để hướng dẫn nhà phân tích hệ thống trẻ, sáng giá như McNamara đã trao cho ông ta yếu tố trí tuệ căn bản cũ trong sự nghiệp mà LeMay gây dựng từ lâu trong tâm trí. McNamara ban đầu là một thành viên của "tri thức quốc phòng", bao gồm cả Roberta, Albert Wohlstetter và Herman Kahn, kẻ đã phát triển chiến lược có tên lóng là “leo thang có kiểm soát", "trao đổi hạt nhân" và "hủy diệt lẫn nhau có đảm bảo", chúng giữ cho các nhà máy vũ khí hạt nhân, hàng không vũ trụ và phòng thí nghiệm hạt nhân Los Alamos, Livermore và Oak Ridge hoạt động lâu dài, thập niên này qua thập niên khác. McNamara thích tuyên bố như sau đó, điều ông ta đã nói với Errol Morris, rằng ông ta là người đã khuyên LeMay ra lệnh cho các máy bay của mình bay ở độ cao thấp hơn, tốt hơn để thiêu ra tro thành phố Nhật Bản, nhưng các ghi chép lịch sử không cho ông ta phẩm giá này. Lúc đó ông ta chỉ là một cầu thủ nhỏ trong trò chơi giết người của LeMay. Ông ta mờ nhạt. Lần cuối cùng người ta thấy ông ta là vào năm 2004, như ngôi sao Morris được ca ngợi quá mức hoang dại, bộ phim tài liệu “Sương mù chiến tranh - The Fog of War”, nói thoải mái về câu chuyện hàng triệu người ông ta đã giúp đến với chết chóc. Thời gian trôi qua và một lần nữa, McNamara lại biến đi cùng với bộ phim, ông ta co rúm trong cái bóng của những con quái vật kỳ dị cũng giống như LeMay hay LBJ, lặng thinh về sự lựa chọn của mình ở mộ Kennedy ở Arlington, sụt sịt tại lễ tưởng niệm Johnson trao Huân chương Tự do cho mình, phun những điều vô nghĩa về cách Kennedy rút ra khỏi Việt Nam, và im tiếng dưới vỏ bọc ngụy trang hữu dụng “Sương mù chiến tranh". Bây giờ, "Sương mù chiến tranh" là một từ khóa thường được gán cho Clausewitz, mặc dù triết học gia Đức vĩ đại và nhà lý luận chiến tranh này chưa bao giờ thực sự sử dụng thành ngữ này. Eugenia Kiesling vài năm trước đây lập luận trên Tạp chí quân sự (Military Review) rằng ý tưởng sương mù - thông tin không đáng tin cậy – không phải là mối quan tâm chính của Clausewitz. Kiesling viết: "Loại bỏ sương mù, cho chúng ta một sự hiểu biết rõ ràng hơn và hữu ích hơn sự chà xát của Clausewitz. Nó khôi phục không chắc chắn và những áp lực vô hình của các chỉ huy quân sự đối với sự tập trung đúng đắn vào 'Trong chiến tranh’. Nó cho phép chúng ta thay thế các thông điệp đơn giản mà tình báo chiến tranh là quan trọng với lời nhắc nhở rằng Clausewitz liên tục nhấn mạnh sức mạnh đạo đức trong chiến tranh." Như trình bày của McNamara, qua Morris, "Sương mù chiến tranh" là hữu ích làm lệch sự chú ý khỏi những sự kiện rõ ràng và khó chịu bị che mờ toàn bộ bởi sương mù. Roberta Wohlstetter là kẻ tiên phong trong kỹ thuật sương mù này như tiết lộ từ thập kỷ 1950 với sự kiện Trân Châu Cảng của mình: Cảnh báo và Quyết định, triển khai ý tưởng “tiếng ồn” mất tập trung như một hiện tượng đã ngăn chặn các chỉ huy Mỹ, cao nhất là Roosevelt, không thấu hiểu thông tin mà theo đó Nhật Bản phát động cuộc tấn công bất ngờ. "Tiếng ồn" Wohlstetter do đó che khuất một thực tế là F.D. Roosevelt muốn có một sự khiêu khích từ phía Nhật Bản, biết có cuộc tấn công đang đến, mặc dù không thể biết quy mô và sức phá hoại của nó. Khi McNamara viết hồi ký, không có bóng dáng thật, chỉ có ánh sáng mặt trời của đạo đức chuộc lỗi tự biện: "Tôi không có lỗi vì Truman cho ném bom", "Tôi chưa bao giờ thấy Kennedy sốc hơn", sau cái chết của Ngô Đình Diệm; "Không bao giờ tôi được ủy quyền một hành động bất hợp pháp", sau sự kiện giả tạo Vịnh Bắc Bộ (Gulf of Tonkin); "Tôi rất tự hào về thành tích của mình và tôi rất xin lỗi, tôi đã sai sót". Tấm bia đá truyền đời lịch sử giáo hóa, cũng như "khoảng cách tên lửa" để phát động chạy đua vũ trang, đã hoàn toàn mất tích từ bộ phim của Morris. Trong những năm sau đó, ông ta được đề nghị thuyết giảng về mối đe dọa Kinh thánh hạt nhân (Armageddon), giống như Kennan. Đó là thứ miễn phí cho cả 2 để nói những điều như thế, đồng có yên ổn để chăn thả bầy gia súc ngoan ngoãn trong những năm cao niên. Tại sao họ không khuyến khích các nhà thiết kế vũ khí ở Los Alamos nổi dậy, từ chức? Hoặc nói rằng các điệp viên nguyên tử ở Los Alamos trong những năm 1940 đã đúng khi cố gắng chống khủng bố hạt nhân làm cân bằng vũ khí? Tại sao họ không ca ngợi Berrigan và các đồng sự của họ đã bị giam giữ hoặc đang bị giam giữ trong tù nhiều thập niên vì phản đối tên lửa hạt nhân, đập tàu ngầm hạt nhân Sea Wolf bằng búa của họ. |
|
#53
|
|||
|
|||
|
Sự thật là khi ông ta đứng đầu Ford Division của hãng Ford Motor trong giữa những năm 1950, McNamara đã thúc đẩy cho các lựa chọn an toàn - dây đai an toàn và bảng chỉ dẫn. Sách hướng dẫn Ford cho các mô đen '56 đưa hình ảnh xe Ford và GM trong tình trạng tai nạn thực sự như thế nào, bất lợi cho GM. Nhưng như Ralph Nader mô tả, vào tháng 12 năm 1955, giám đốc điều hành GM gọi phó chủ tịch bán hàng Ford và cho biết chiến dịch an toàn của Ford phải chấm dứt. Các giám đốc điều hành Ford, có nhiều người trong số họ trước đây ở GM, đã nói, Chevy có thể giảm giá của nó $25 để Chrysler phá sản, $50 để Ford phá sản. Ford dương cờ trắng. Các chiến dịch bán hàng an toàn dừng lại. McNamara làm một kỳ nghỉ dài ở Florida, sự nghiệp của mình ở Detroit thăng trầm, và trở lại với đội chơi mới. An toàn kính chắn gió và nằm trong tình trạng hôn mê nhiều năm.
McNamara đã có bàn tay rất bẩn, tuy nhiên ông ta và những kẻ hâm mộ như Morris khó mà kỳ cọ được nó. Tại sao bộ trưởng Quốc phòng McNamara bác bỏ tất cả các đánh giá của chuyên gia và khuyến nghị mua sắm nhấn mạnh General Dynamics hơn là Boeing chế tạo chiếc máy bay thảm họa F-111, tại thời điểm đó là một trong những hợp đồng mua sắm lớn nhất lịch sử của Lầu Năm Góc? Nó có thể là Henry Crown của Chicago đã bị hỏi về một số vai trò của mình trong việc sửa chữa bầu cử JFK năm 1960 ở Cook County, Illinois? Crown, Chicago Sand and Gravel đã có $300 triệu USD tiền của đám đông trong trái phiếu GD, và sau thảm họa Convair, GD cần F-111 để tránh lấm lưng trắng bụng. McNamara đã lừa dối các nhà điều tra Quốc hội về điều này trong nhiều năm sau đó. Đối với phỏng vấn, McNamara nhấn mạnh đến "cú sốc" của JFK, chỉ vài tuần sau khi anh em Ngô Đình Diệm bị giết chết. Ông ta cũng ủng hộ quan điểm cho rằng Kennedy đã lên kế hoạch rút lui khỏi Việt Nam. Ông giám sát sự kiện "tấn công" giả tạo Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy nghị quyết năm 1964, theo đó Quốc hội đã trao cho LBJ (Johnson) thẩm quyền pháp lý để theo đuổi và leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Ông ta đóng vai "che chắn" cho gia đình Kennedy, thậm chí giúp Ted Kennedy tìm ra cách để nói về tai nạn Chappaquiddick. Cuộc chiến 6 ngày, ngay trước khi chiến tranh 1967 này, Israel đã sẵn sàng tấn công và biết sẽ giành phần thắng thắng nhưng biết được rõ ràng phản ứng từ Chính quyền Johnson như thế nào. Như các tài liệu của BBC “The 50 Years War” kể lại, Meir Amit, là lãnh đạo Mossad của Israel, đã bay tới Washington. Nhận được cái OK quan trọng từ McNamara, Israel đã tấn công ồ ạt vào Ai Cập, Jordan và Syria, dẫn đến thảm họa ngày nay. Cuộc tấn công của Israel có chủ ý vào tàu Liberty của Mỹ trong cuộc chiến tranh này, làm 34 thủy thủ Mỹ thiệt mạng và 174 người bị thương, người giám sát, McNamara đã giấu giếm. |
|
#54
|
|||
|
|||
|
McNamara đã có thời gian 13 năm làm lãnh đạo World Bank, nơi ông ta được Johnson đề cử, sau khi rời chức bộ trưởng Quốc phòng với Huân chương Tự do trên ngực. McNamara thích thú vung gươm Ngân hàng của mình để “cứu chuộc đạo đức” của mình và mọi tuyên bố thường kỳ của ông ta được người ta chấp nhận bởi không biết đến một thực tế - một hồ sơ kinh khủng. Trong thực tế, World Bank của McNamara đã tiến hóa một cách tự nhiên, hữu cơ, từ McNamara của Việt Nam. Cái này làm lời tựa cho cái khác, nhưng những ghê tởm mà cha McNamara đỡ đầu ở Việt Nam có lẽ ở vào một quy mô hẹp hơn, sâu sắc hơn, cuối cùng nhỏ hơn về qui mô và và hậu quả. Không có vai diễn đáng giá của McNamara có thể tránh được vai trò của McNamara tại World Bank vì ở đó, trong sự thúc ép tổng thể của hệ thống tư bản chủ nghĩa, ông ta phục vụ, ông là chính mình. Không có LeMay, không có mệnh lệnh LBJ ban hành. Tự mình, McNamara khuếch đại những sai lầm khủng khiếp, tham nhũng và giết người tàn bạo gây của quyền lực Mỹ như từng giáng xuống Việt Nam bây giờ là với quy mô hành tinh. Tính toán ngắn gọn nhất của những năm McNamara là trong cuốn lịch sử tuyệt vời của Bruce Rich về Ngân hàng, “Cầm cố trái đất” (Mortgaging the Earth : The World Bank, Environmental Impoverishment, and the Crisis of Development), được xuất bản năm 1994.
Khi McNamara tiếp quản World Bank, cho vay "phát triển" (đã được vượt quá trả nợ) đứng ở mức $953 tỷ, và khi ông ta ra đi là khoảng $12,4 ngàn tỷ, trong đó, trừ đi lạm phát, đã tăng gần 6 lần. Cũng giống như khi ông ta nhân quân số binh lính quân đội ở Việt Nam, ông tăng vọt nhân viên World Bank từ 1.574 đến 5.201. Bóng World Bank phủ rộng vững chắc trong thế giới thứ ba. Những cánh rừng ở Amazon, Cameroon, ở Malaysia, Thái Lan, bị đốn ngã bởi lưỡi rìu "hiện đại hóa". Nông dân đã bị buộc phải từ bỏ đất đai của họ. Các nhà độc tài như Pinochet và Ceauşescu được nuôi dưỡng bằng các khoản vay. Trong hồi ký McNamara 1995 mang tên: In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam có những số liệu về các chuyến tàu ma. Những chuyến tầu ảo chỉ có trên giấy tờ nhưng có tiền thật, và những tay sai bù nhìn như Thiệu, cả cuộc đời ký nhận khống giấy tờ được trả công chưa đầy $1 triệu trong số hàng trăm tỷ USD chiến tranh. Chiến tranh là con quái vật hút máu người Mỹ. Nói rộng ra, có con quái vật to lớn đang trùm lên cả hành tinh. Từ Việt Nam đến hành tinh: Ngôn ngữ của chủ nghĩa lý tưởng Mỹ và mục đích cao cả là như nhau. McNamara om sòm sứ mệnh về mục đích cao cả và vào năm 1973 ở Nairobi, bắt đầu cuộc thập tự chinh của World Bank về đói nghèo. "Quyền lực có nghĩa vụ đạo đức để hỗ trợ người nghèo và người yếu kém." Kết quả là thảm họa, được trang trí kéo léo như ở Việt Nam với bí mật ám ảnh, những tuyên bố trống rỗng về sự thành công và những nỗ lực chủ yếu là thành công để dập tắt bất đồng nội bộ. Và như với Việt Nam, nỗi ám ảnh của McNamara với số liệu thống kê, sản xuất ra số liệu, theo S. Shaheed Husain, khi đó là phó chủ tịch phụ trách hoạt động World Bank, ở đâu "mà lại chẳng biết, McNamara đã sản xuất dữ liệu. Nếu có một khoảng cách trong con số này, ông sẽ yêu cầu nhân viên điền đầy vào đó, và những kẻ khác bịa ra cho ông ta." Dưới sự điều khiển của McNamara, WB chuẩn bị 5 năm các "kế hoạch cho nước chủ nhà vay", được quy định trong "thuyết trình chương trình quốc gia." Ông Rich viết: “Trong một số trường hợp, thậm chí bộ trưởng trong nội các một số quốc gia có thể không được phép truy cập vào các tài liệu này, trong các nước nhỏ hơn , các quốc gia nghèo đói, chúng được xem như sắc lệnh quốc tế về số phận kinh tế của họ." Cùng những "sắc lệnh" thế này được soạn thảo bởi các nhà kỹ trị, mà ở Việt Nam là những "cố vấn", thường soạn trong vài tuần ngắn ngủi ở các quốc gia mục tiêu. Tham nhũng sôi sục. Hầu hết viện trợ biến mất tăm mất tích vào tay giới thủ lĩnh đầu sỏ địa phương, những kẻ rất thường sử dụng tiền bạc để đánh cắp tài nguyên - đồng cỏ, rừng, nguồn nước, của những người rất nghèo mà World Bank công khai tuyên bố tìm cách giúp đỡ. Nói thẳng ra, chính sách mà WB, IMF đề nghị hay áp đặt với các quốc gia là cơ chế tham nhũng. Mọi hô hào chống tham nhũng nghe thấy ở đâu đó đều là giả tạo. |
|
#55
|
|||
|
|||
|
Trên khắp thế giới thứ ba, WB bảo lãnh công nghệ "cách mạng xanh" mà những người nông dân nghèo nhất không đủ khả năng theo đuổi và mặt đất ướt đẫm thuốc trừ sâu cùng phân bón. Các dự án cơ sở hạ tầng lớn như đập nước và công trình thủy lợi lại một lần xua đuổi người nghèo ra khỏi các mảnh đất của họ, từ Brazil đến Ấn Độ. Đó là câu chuyện ngụ ngôn độc ác "hiện đại hóa" được viết trên khuôn mặt của thế giới thứ ba, bằng thảm họa này sau thảm họa khác thúc đẩy sự tàn phá kinh tế nông thôn và sinh hoạt truyền thống.
Việc chiếm hữu các trang trại nhỏ hơn và các khu vực công, Rich khéo léo nhận xét, "giống như trong một số khía cạnh, quanh các vùng đất hoang ở Anh trước cuộc cách mạng công nghiệp - chỉ có lần này là trên quy mô toàn cầu, được tiến hành dữ dội thông qua công nghệ nông nghiệp “cách mạng xanh”. Là một tay sai phá hoại cả hành tinh có phương pháp, McNamara nên được xếp hạng ở tầng trên cùng của trái đất-kẻ phá hoại của mọi thời đại. Nhà "quản trị", McNamara tuyên bố năm 1967 điều đó "là cánh cổng mà qua đó xã hội, kinh tế và chính trị thay đổi, thực sự thay đổi trong mọi hướng, lan truyền thông qua xã hội." Lý tưởng quản trị đối với McNamara là độc tài quản trị. Vốn vay World Bank đã đổ xô đến Chile sau khi Pinochet lật đổ tổng thống dân bầu Allende, đến Uruguay, Argentina, Brazil sau cuộc đảo chính quân sự, đến Philippine, đến Suharto sau cuộc đảo chính ở Indonesia năm 1965. Và đến Romania của Ceausescu (xem các bài trước). McNamara rót tiền - $2,36 tỷ từ năm 1974 đến năm 1982 - vào tay bạo chúa. Năm 1980, Romania là con bạc lớn thứ tám của World Bank. Như McNamara bi bô vui sướng về "niềm tin về đạo đức tài chính của các nước xã hội chủ nghĩa" của mình, Ceausescu san bằng cả làng mạc, biến hàng trăm dặm vuông đất nông nghiệp loại tốt thành các mỏ lộ thiên, gây ô nhiễm không khí bằng than đá và than non, Rumania thành một nhà tù khổng lồ, trong tiếng vỗ tay tán thưởng của World Bank, năm 1979 một nghiên cứu kinh tế tuyệt vời làm 1 quảng cáo tốt cho "Tầm quan trọng của kiểm soát kinh tế tập trung". Một phần khác của bản báo cáo tương tự năm 1979, có tiêu đề "Phát triển nguồn nhân lực", nêu đặc điểm này bằng những lời lạnh: "Để cải thiện mức sống của người dân như người thụ hưởng của quá trình phát triển, chính phủ đã theo đuổi chính sách để sử dụng dân số tốt hơn như một yếu tố của sản xuất ... Một tính năng quan trọng của chính sách nhân lực tổng thể đã được... để kích thích sự gia tăng sinh đẻ." Ceauşescu cấm phá thai, cắt giảm biện pháp tránh thai. Kết quả: mười ngàn trẻ em bị bỏ rơi, đổ vào trại trẻ mồ côi, một vật tế thần khác trong sự ngạo mạn chết người của McNamara. Trong những năm sau này, McNamara chưa bao giờ có bất cứ phản ánh nào về các hệ thống xã hội sản phẩn do ông ta đề xướng, tên tội phạm chiến tranh đẹp mặt, và tài ăn nói. Cũng như khi ông ta bơm thổi về vai trò của mình trong ném bom kẻ thù của Nhật Bản cho thấy, ông ta có thể tiến quá xa trong sai lầm cho dù vừa ý tự mình thú tội: "Đúng chúng tôi đã sai, quá sai. Chúng tôi nợ các thế hệ tương lai lời giải thích lý do tại sao." Và trong khi vẫn lẩn tránh tội lỗi khác lớn hơn, đáng sợ hơn và xác đáng hơn trong cái hệ thống đã cho phép ông ta không thương tiếc giết hại hàng triệu người trong số hàng triệu dưới thời Roosevelt, Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon. Những lời thú tội như thế có vẻ rất thành thực. Nhưng ông ta vẫn lẩn tránh tội lỗi khác lớn hơn, đáng sợ hơn và xác đáng hơn trong hệ thống đã cho phép ông ta không thương tiếc giết hại hàng triệu người trong số hàng triệu dưới thời Roosevelt, Truman, Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon. Như Speer, ông ta đã ra đi với nó, không bao giờ bị treo cổ hay phải chui qua lỗ cửa với một sợi dây quanh cổ, như cách ông ta hoàn toàn xứng đáng. Tham khảo từ Alexander Cockburn - counterpunch.com |
|
#56
|
|||
|
|||
|
"Đúng chúng tôi đã sai, quá sai. Chúng ta nợ các thế hệ tương lai lời giải thích lý do tại sao." Lời thú tội đẫm lệ! Những năm cuối của cuộc đời, ông ta giành nhiều thời gian viết hồi ký, đúc kết cho những việc như thế. Một đúc kết ngầm rằng không nên, hoặc ít nhất phải kết hợp với cách công cụ khác để đạt được mục đích. Công cụ tuyệt vời nhất là World Bank để “cứu chuộc đạo đức”. Ông ta phản đối chính quyền Bush gây chiến ở Iraq như một lỗi lầm tương tự Việt Nam. Câu “Đó đúng là sai lầm Những gì chúng ta đang làm” là nói về hanh xử Mỹ ở Iraq. Lại thêm một sai lầm khủng khiếp nữa của người Mỹ, theo quan điểm của cựu chủ tịch World Bank. Ẩn ý của McNamara rất rõ ràng, khi không thể đạt được mục tiêu đơn thuần bằng biện pháp quân sự, thì phải đạt được mục tiêu Thống trị Mỹ bằng những biện pháp khác, công cụ khác…
"Chúng ta đang lợi dụng ảnh hưởng của mình. Đó đúng là sai lầm những gì chúng ta đang làm. Đó là sai lầm về mặt đạo đức, đó là sai lầm về chính trị, đó là sai lầm về kinh tế." McNamara đặc biệt không ưa ông Bush khi tuyên bố trước UN rằng, trên tất cả, người Mỹ phục vụ Chúa nên chẳng cần “giấy phép” các quốc gia khác để tấn công Iraq và “do chúng ta phụng sự là lẽ phải, bởi vì đó là vì cả nhân loại.” Ông ta muốn ông Bush đọc tác phẩm của mình thay vì là Kinh thánh! Nhìn chung, quan điểm thông suốt trong hồi ký McNamara là ông ta nhìn nhận chiến tranh Việt Nam là một sai lầm, ông ta nói, mình nhận thức được rằng Mỹ tự mình không thể có được phân tích đúng đắn các hành động và điều kiện cơ sở cần thiết để đạt được các mục tiêu phức tạp và không rõ ràng trong cuộc chiến tranh - đảo ngược ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, trong trường hợp của Việt Nam, hoặc dân chủ hóa thế giới Ả Rập, trong Iraq. Cuốn hồi ký Nhìn lại quá khứ -In Retrospect năm 1995 của McNamara có đúc kết 11 bài học. Đó là quan điểm riêng của ông ta. Thật không may những gì xảy ra ở Iraq lại rơi đúng vào những bài học đó. Vì thế mà McNamara được đánh giá cao. Chúng ta đã đánh giá sai khi đó - và chúng ta có từ đó - những mục tiêu địa chính trị của đối thủ chúng ta… và chúng ta phóng đại những hành động của họ thành những mối nguy hiểm cho Mỹ. Chính McNamara là kẻ đóng vai trò hàng đầu trong việc tạo ra nguy cơ chiến tranh, thí dụ như “khoảng cách tên lửa”. Trong vụ dựng đứng giả tạo “Sự kiện vịnh Bắc bộ”, cũng chính ông ta xác nhận và quả quyết thuyết phục các vị nghị sĩ ở đồi Capital tin rằng Maddox chỉ “thực hiện nhiệm vụ thường lệ theo cách mà chúng ta vẫn thực hiện mọi lúc mọi nơi.” McNamara nói, 2 tàu Mỹ không can dự vào các vụ tấn công của NVN nhằm vào các mục tiêu BVN. Dù đã được McNamara quả quyết, thì trái lại, USS Maddox đã thực hiện thu thập tin tức tình báo cho NVN tiến hành tấn công chống BVN. McNamara đồng thời cũng xác nhận rằng có những “bằng chứng không thể luận cứ” của vụ tấn công “không hề khiêu khích” thứ hai vào USS Maddox. Và tàu Bắc Việt đã vô cớ tấn công Mỹ ở hải phận quốc tế. Do vậy cần phải “trừng trị”. ![]() Và Mỹ đã gây chiến với Việt nam dựa trên những nguyên cớ hoàn toàn giả tạo. Benjamin Franklin nói: Dân chúng có thể từ bỏ quyền tự do cơ bản để đổi lấy sự an toàn tạm thời mà nó chẳng xứng với cả sự tự do hay an toàn. Muốn gây chiến cần tạo ra nguy cơ, đe doạ mất an toàn cho chính dân chúng Mỹ, dù là tưởng tượng, dù là không có kẻ thù, thì hãy tạo cho người Mỹ kẻ thù. Đó là nghệ thuật gây chiến của nước Mỹ. Lyndon B. Johnson nói: “Nếu chúng ta rời bỏ Việt Nam, ngày mai chúng ta sẽ phải chiến đấu ở Hawaii và tuần kế tiếp chúng ta sẽ phải chiến đấu ở San Francisco.” George W. Bush nói: “Chúng ta đang chiến đấu chống khủng bố bằng quân đội của chúng ta ở Afghan và Iraq và ở xa hơn nữa, nên chúng ta không phải đối mặt với chúng trên đường phố của thành phố chúng ta.” Chúng ta coi dân chúng và các nhà lãnh đạo miền Nam Việt Nam trong ngữ nghĩa kinh nghiệm chúng ta có… Chúng ta hoàn toàn đánh giá sai các lực lượng chính trị bên trong đất nước. Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc như động cơ thúc đẩy quần chúng chiến đấu và chết cho niềm tin và giá trị của họ. Đánh giá của chúng ta về bạn và thù giống như phản ánh sự thiếu hiểu biết sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hóa và chính trị của dân chúng trong khu vực, và tính cách thói quen của các nhà lãnh đạo của họ. Chúng ta đã thất bại khi đó - và có từ đó - để nhận ra những hạn chế của thiết bị công nghệ cao quân sự, hiện đại, các lực lượng và học thuyết… Chúng ta đã thất bại để thích nghi với chiến thuật quân sự của chúng ta với nhiệm vụ chiến thắng trái tim và khối óc dân chúng từ một nền văn hóa hoàn toàn khác. Chúng ta đã thất bại để thu hút Quốc hội và dân chúng Mỹ vào một cuộc thảo luận đầy đủ và thẳng thắn về các ưu và khuyết điểm của một cuộc can thiệp quân sự quy mô lớn… trước khi chúng ta bắt đầu hành động. Sau khi hành động đã được tiến hành và các sự kiện bất ngờ buộc chúng ta chấm dứt tiến trình theo kế hoạch… chúng ta đã không giải thích đầy đủ những gì đã xảy ra và tại sao chúng ta đã phải làm những gì chúng ta đã làm. Chúng ta đã không nhận ra rằng cả dân chúng của chúng ta hay lãnh đạo của chúng ta là không phải là toàn trí. Sự phán xét của chúng ta về những gì là lợi ích tốt nhất cho dân chúng khác hay quốc gia khác nên được đưa vào kiểm tra tại cuộc thảo luận công khai tại các diễn đàn quốc tế. Chúng ta không có quyền năng được Chúa ban để định hình mọi quốc gia theo hình ảnh của chúng ta hoặc do chúng ta chọn. Chúng ta đã không giữ được nguyên tắc hành động quân sự Mỹ… phải được thực hiện chỉ trong sự kết hợp với các lực lượng đa quốc gia được hỗ trợ đầy đủ (và không chỉ đơn thuần là mỹ phẩm) từ cộng đồng quốc tế. Chúng ta thất bại không nhận ra rằng trong các vấn đề quốc tế, cũng như trong các khía cạnh khác của đời sống, có thể có những vấn đề mà không có giải pháp ngay lập tức… Đôi khi, chúng ta có thể phải sống với thế giới không hoàn hảo, rối ren. Tiềm ẩn nhiều những sai sót như thế này dẫn đến thất bại của chúng ta trong tổ chức các cấp bậc hàng đầu của nhánh hành pháp để đối phó hiệu quả với phạm vi cực kỳ phức tạp của các vấn đề chính trị và quân sự. Doug Saunders (Globe and Mail); 'It's Just Wrong What We're Doing' - Robert McNamara |
|
#57
|
|||
|
|||
![]() Có một thuật ngữ gọi là “Poisoned Chalice”, Chalice theo nghĩa La-tinh là cái ly, thường dùng để đựng sữa như ở Hy Lạp cổ. Poisoned Chalice – Ly độc, chỉ thứ ban đầu, hay bề ngoài là rất tốt đẹp, hữu dụng, nhưng về sau là rất tồi tệ như bị đầu độc vậy. Bất cứ nơi nào được kê đơn, liều thuốc IMF chỉ có hợp chất khủng hoảng kinh tế; George Monbiot - The Guardian - Vương quốc Anh Nhà kinh tế Khazin đề cập đến quân đoàn mới đang được Mỹ chuẩn bị. Chúng ta đã hiểu qua chúng là cái gì? Chúng ta dâng lợi ích đáng ngờ cho những kẻ vận hành nền kinh tế toàn cầu thêm bao nhiêu lâu nữa? Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF đã có cùng một "sai lầm" rất nhiều lần mà duy nhất một lời giải thích còn lại: nó là một thảm họa kỹ thuật. Các cuộc khủng hoảng đã được điều khiển ở Thái Lan, Hàn Quốc, Nga và Argentina đều được ghi bởi Joseph Stiglitz, cựu kinh tế trưởng của World Bank, cũng như những người khác. Nhưng chúng ta, cho đến nay, thiếu một mô tả toàn diện về cách nó làm ở Đông Âu. Một cuốn sách mới của nhà kinh tế Pongrac Nagy cho thấy lần đầu tiên IMF đã nện cú trời giáng vào Hungary như thế nào. Quản lý kinh tế cộng sản là vô vọng: cưỡng chế, vô trách nhiệm, không đủ năng lực và lãng phí. Vì vậy, khi Hungary bắt đầu dân chủ hóa cuối những năm 1980, rõ ràng rằng hệ thống kinh tế mới là một nhu cầu. Có một số tùy chọn cho quá trình chuyển đổi. Nhưng trước khi bất cứ ai xem xét chúng, chính phủ mới Hungary ngây thơ và hy vọng đã bị thuyết phục bởi các cường quốc phương Tây cho rằng không có sự lựa chọn nào ngoài quay sang IMF. Trừ khi chính sách kinh tế của quốc gia được sự chấp thuận bởi IMF, họ không thể có được vốn nước ngoài. Hậu cộng sản Hungary cần vốn nước ngoài chỉ với một mục đích: để giúp trả món nợ nước ngoài khổng lồ của họ. Họ có thể áp dụng, như nhiều quốc gia khác đã làm, cho giảm nợ, nhưng IMF, đã đưa ra những bằng chứng có thật, nói với họ rằng điều này sẽ ngăn cản các nhà đầu tư nước ngoài. Lựa chọn duy nhất là thực hiện chính sách IMF đề nghị. IMF chỉ có một tập hợp các chính sách. Chính phủ phải áp đặt những hạn chế khi cung tiền và tín dụng, mở cửa cho vốn nước ngoài, tư nhân hóa tài sản nhà nước và cắt giảm chi tiêu công cộng. Họ biện minh cho những yêu cầu này bằng cách thuyết phục Hungary rằng họ đang phải chịu khoản nợ không thể quản lý và lạm phát phi mã.
|
|
#58
|
|||
|
|||
|
Vì vậy, năm 1990, IMF nói với Hungary rằng họ đang trải qua cuộc khủng hoảng lạm phát. Giá cả, như họ chỉ ra, đã tăng 17% trong năm 1989. Trong khi sự thật thì giá cả tăng này là không bởi do lạm phát (nhu cầu vượt xa cung cấp), mà chủ yếu là do thay đổi chính sách, chẳng hạn như áp dụng thuế VAT và việc bãi bỏ trợ cấp. IMF nhấn mạnh một cách giả tạo rằng nó bị gây ra bởi nhu cầu quá mức.
Cách tốt nhất là giảm cầu, IMF quả quyết, là hạn chế lượng tiền các ngân hàng có thể cho vay. Vì vậy, từ năm 1990 đến năm 1996, NHTW đảm bảo tín dụng cung cấp cho các doanh nghiệp giảm một nửa. Kết quả ngay lập tức và như dự đoán là lãi suất tăng cao (đến 50%), doanh nghiệp trên khắp đất nước Hungary sụp đổ. Khi công nhân bị sa thải và tiền lương bị cắt giảm, nhu cầu tiêu dùng bị tụt xuống. IMF, như Nagy viết, đã "nhận chìm một cách giả tạo nền kinh tế Hungary vào cuộc suy thoái to lớn chưa từng có trong thời bình". Từ năm 1990 đến năm 1993, tổng sản phẩm quốc nội Hungary đã giảm 18%. Còn xa hơn cả thứ lạm phát cũ, phác đồ điều trị của IMF này gây ra thêm chính lạm phát. Từ năm 1993 đến năm 1996, giá đã tăng 130%. Đây không phải là vì nhu cầu đang tăng, chỉ đơn giản là bởi vì nó giảm không nhanh như cung. Nhưng IMF, một lần nữa, xử lý vấn đề mới này như thể nó được gây ra bởi nhu cầu lồng lên. Họ khăng khăng đòi hạn chế kinh tế hơn nữa, nó, như dự đoán đã quá đủ, đẩy Hungary lún sâu hơn vào suy thoái. Để đảm bảo Hungary trả nợ của mình, IMF yêu cầu họ cắt hết các dịch vụ công cộng có thể, và tư nhân hóa mọi tài sản nhà nước có thể. Toàn bộ các lĩnh vực kinh tế bị đánh đập nhanh chóng và rẻ mạt, với hậu quả là các công ty nước ngoài giành quyền kiểm soát hoàn toàn thị trường. Để đảm bảo, như trong những lời của chính phủ, "việc phân bổ lại thu nhập trong lĩnh vực kinh doanh", Hungary sau đó đã buộc phải đưa ra một trong những chính sách thuế lạc hậu nhất trên thế giới: 43% doanh thu của chính phủ đến từ thuế tiêu thụ, nhưng chỉ 20% thuế thu nhập và 14% thuế kinh doanh. Tất cả điều này được thực hiện, như tất cả các chương trình của IMF, trong điều kiện hoàn toàn bí mật và lừa đảo có tổ chức. Lời dối trá của IMF nói rằng họ chỉ đơn giản là chấp thuận "lá thư bày tỏ ý định" được viết bởi chính phủ, trong đó chứa đựng các chính sách kinh tế mới. Câu chuyện này cứu giúp tất cả trách nhiệm của IMF vì những gì xảy ra. Nhưng thư “bày tỏ ý định” thực sự được viết bởi IMF, và chỉ cần chữ ký của chính phủ. Nó từ vĩ mô đến chi tiết hướng dẫn đời sống kinh tế và chính trị quốc gia từ một đến ba năm. Điều này hoàn toàn bí mật. Người Hungary biết họ phải chấp nhận chính sách của IMF là qua lá thư bị rò rỉ từ quan chức cấp cao của IMF gửi cho Bộ trưởng Tài chính. Ông ta yêu cầu chính phủ Hungary áp dụng chính sách phù hợp một cách chính xác. Một và nửa triệu người Hung (gần 30% lực lượng lao động) bị mất việc làm. Thu nhập của những người vẫn còn việc giảm 24%, lương hưu giảm 31%. Đến năm 1996, hầu hết dân chúng sống trong hoặc xung quanh mức chỉ tồn tại. Dịch vụ công cộng bị teo lại. Từ năm 1989 đến năm 1998, tỷ lệ tội phạm tăng 166%. Điều này, người Hungary phải nhớ, là kết quả của một quá trình gần như được mô tả là "chiến thắng của chủ nghĩa tư bản". |
|
#59
|
|||
|
|||
![]() Nhưng đất nước Hungary kỳ lạ, kỳ lạ bậc nhất châu Âu, người Hung kiên cường chưa bao giờ chịu khuất phục bất cứ đế quốc nào. Năm 1996, đột nhiên, không cần thông báo hay giải thích, chính sách đã thay đổi. Các ngân hàng được phép để bắt đầu cấp tín dụng một lần nữa và suy thoái kinh tế, kết quả là, đã kết thúc ngay lập tức. Trong 4 năm tiếp theo, sản xuất công nghiệp tăng 45% và GDP tăng 21%. Tiền lương và trợ cấp hưu trí bắt đầu tăng trở lại. Thí nghiệm này, nói cách khác, là rõ ràng đến mức không còn gì rõ hơn về kết quả điều trị của lang băm kinh tế IMF. Áp dụng đơn thuốc IMF - kinh tế sụp đổ. Dừng lại - kinh tế hồi phục. Điều này được lặp đi lặp lại thường xuyên, đủ để chúng ta tin tưởng vào kết quả. Tại Thái Lan, Hàn Quốc, Indonesia, Nga và Argentina, tự do hóa tài chính và hạn chế bắt buộc của IMF dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế, mà chỉ được khai thông khi những hạn chế được dỡ bỏ. Những quốc gia từ chối uống liều độc dược Chalice, mặc dù họ phải đối mặt với điều kiện gần như tương đồng (Malaysia, Trung Quốc, Ba Lan) đều phát triển thịnh vượng trong khi các nước láng giềng của họ sụp đổ. Vậy tại sao, biết những gì sẽ là hậu quả, mà IMF lại cứ tiếp tục áp dụng cùng một đơn thuốc gây thảm họa? Điều đó khó có thể đổ lỗi là do thiếu chuyên môn. Sự thật là hậu quả xảy ra rất phù hợp với mong muốn của nhà đỡ đầu của nó. Trong khi IMF hoạt động chủ yếu ở các nước nghèo, nó đã bị kiểm soát hoàn toàn bởi những kẻ giàu có, thông qua hệ thống một lá phiếu-một đồng đô la của IMF. Kết quả là, như Stiglitz cho biết, các chương trình của nó phản ánh "lợi ích và hệ tư tưởng của cộng đồng tài chính phương Tây". Desmond Tutu đã từng nhận xét rằng: "Khi các nhà truyền giáo đến châu Phi, họ có Kinh Thánh và chúng tôi có đất đai. Họ nói rằng 'chúng tôi hãy nhắm mắt vào và cầu nguyện". Khi chúng tôi mở mắt ra, chúng tôi có Kinh Thánh, và họ có đất đai." Người Hungary đã được trao Kinh Thánh kinh tế chính thống bằng cách truyền giáo. Thông qua lừa lọc và giấu diếm, IMF đảm bảo rằng đôi mắt của họ đã bị bịt. Đến khi họ mở mắt ra, các nhà băng và các công ty nước ngoài đã sở hữu nền kinh tế, khu vực công đã được giao cho vốn tư bản nước ngoài; thất nghiệp cơ cấu đã tạo ra một lực lượng lao động dễ bảo và tuyệt vọng. IMF, nói cách khác, đã sắp đặt vụ trộm cắp cả một đất nước. Bao nhiêu lần chúng cần phải thực hiện điều này nữa trước khi chúng ta có thể thấy rõ trò chơi này là cái gì? Cuốn sách của Pongrac Nagy có tên: From Command to Market Economy in Hungary under the Guidance of the IMF; http://www.guardian.co.uk/recession/...021538,00.html |
|
#60
|
|||
|
|||
![]() Tháng 7 năm 1944, IMF và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển (sau này đổi là World Bank) đã được thành lập để tích hợp các quốc gia phát triển vào nền kinh tế thế giới bán cầu Bắc thống trị toàn cầu theo những cách khác hơn so với ủy nhiệm ban đầu. Dưới hệ thống tiền tệ mới sau chiến tranh, IMF được tạo ra để ổn định tỷ giá hối đoái liên quan đến đồng đô la và cầu mất cân đối thanh toán tạm thời. World Bank là để cung cấp tín dụng cho các nước đang phát triển bị chiến tranh tàn phá. Cả hai tổ chức, trên thực tế, đã chứng tỏ bóc lột tột cùng, sử dụng bẫy nợ để chuyển tài sản nhà nước vào thành tài sản các ngân hàng phương Tây và các loại công ty động vật ăn thịt khác. Cả 2 sau quá trình tái thiết châu Âu bị tàn phá bởi chiến tranh WW-II đã giàu tú ụ. Đến quy mô vĩ đại ngày hôm nay, lược đồ hủy diệt ép buộc các quốc gia mắc nợ phải vay vốn mới để trả nợ cũ, bảo đảm nợ tăng cao và điều chỉnh cơ cấu khắc nghiệt, bao gồm: - Tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước, nhiều quốc gia phải bán với giá rẻ mạt tài sản thực của họ; - Sa thải hàng loạt; - Bãi bỏ quy định; - Cắt giảm sâu chi tiêu xã hội; - Đóng băng hoặc cắt giảm tiền lương; - Tiếp cận thị trường tự do không hạn chế cho các công ty phương Tây; - Cắt giảm thuế doanh nghiệp sân nhà; - Tăng thuế đối với các hộ gia đình làm việc; - Nghiền nát chủ nghĩa công đoàn; - Đàn áp khắc nghiệt chống phe đối lập đối với hệ thống không tương thích với nền dân chủ xã hội, các quyền dân sự và nhân quyền; Kết quả là, các ngân hàng và các công ty săn mồi khác tước đoạt các quốc gia bị khai thác tài nguyên và của cải vật chất của họ, chuyển chúng từ công cộng vào tay tư nhân, nghiền nát các giá trị dân chủ, biến các quốc gia thành cái vỏ rỗng đen tối, phá hủy tầng lớp trung lưu của xã hội, và biến công nhân thành nông nô nếu họ có được bất cứ phương tiện sản xuất nào. Nói cách khác, nô lệ nợ nần vĩnh viễn thay cho tự do. Một cuộc đua xuống đáy cùng. Một vài lợi ích ưu tú với cái giá của nhiều người, quốc gia bị đánh bẫy phải từ đó buộc phải tỏ lòng tôn kính chủ nhân tiền tài của họ, thực sự giao nộp chủ quyền của họ. Kết quả là, chủ nghĩa tân tự do là tân thảm họa Malthusianism qui mô lớn, hủy diệt nhân loại để cứu nó. Chúa Ba Ngôi của nó, trên thực tế, không có nghĩa vụ lĩnh vực công, mà trao quyền không hạn chế cho công ty, và loại bỏ an sinh xã hội để cống hiến tất cả các nguồn lực nhà nước cho tận cùng lợi nhuận, an ninh quốc gia và kiểm soát nội bộ. Ngoại trừ vài đặc quyền, đó là điều tồi tệ nhất, không hề là tốt nhất, của tất cả các thế giới có thể, tài chính hóa nền kinh tế trong tình cảnh nợ nần, biến họ thành cái vỏ rỗng đen tối. Ví dụ, những năm 1980, 187 khoản vay IMF gây ra nghèo đói, thiếu ăn, suy dinh dưỡng, bệnh tật và cái chết đối với nhiều người ở các nước đang phát triển, bao gồm tất cả những ai ở cận Sahara bị mắc kẹt bởi điều chỉnh cơ cấu khắc nghiệt. Tăng trưởng của họ, trên thực tế, giảm trung bình 2,2% mỗi năm, và thu nhập bình quân đầu người giảm xuống dưới mức trước độc lập. Trả nợ yêu cầu cắt giảm chi phí y tế 50% và giáo dục 25%. Hơn nữa, khi nợ tăng lên, do đó, bị buộc phải thắt lưng buộc bụng, đó là những gì, trên thực tế, trở thành vòng xoáy chết chóc cần các khoản vay mới để trả những nợ cũ, vòng xoáy không bao giờ kết thúc trong lãng quên đối với nhiều quốc gia mắc vào ủy quyền của IMF. Ở châu Mỹ Latinh, những năm 1980 là một thập kỷ mất mát. Các khoản vay cho Chile yêu cầu cắt giảm lương 40%. Năm 1982 là cuộc khủng hoảng nợ Mexico, tiền lương cũng như chi tiêu cho y tế, giáo dục và cơ sở hạ tầng cơ bản bị cắt giảm một nửa. Kết quả là, tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh tăng gấp 3 lần và những nhu cầu cơ bản của con người đã không được đáp ứng để đảm bảo trả nợ cho các ngân hàng. Đến cuối thập kỷ, các quốc gia đang phát triển về tổng thể, trên thực tế, là tồi tệ hơn trước, lún sâu hơn vào nợ nần hơn bao giờ hết theo cách các quan chức IMF đã lên kế hoạch. Phá giá tiếp nối. Nợ nần nảy sinh. Tốc độ tăng trưởng giảm. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Thắc mắc - Trả lời về IT- Chia sẻ kinh nghiệm | BelayaZima | Công nghệ thông tin | 216 | 28-01-2013 22:35 |
| "Chiến tranh và Hòa bình"-tác phẩm kinh điển và đồ sộ. | bachyen | Điện ảnh - Truyền hình | 33 | 24-11-2012 21:46 |
| Kinh tế Nga - Việt Nam | keroppi_sweetie | Đời sống, xã hội Nga | 10 | 27-07-2012 11:00 |
| Dịch Nga - Việt, Việt - Nga về kinh tế | pham thuy hong | Học tiếng Nga | 115 | 17-09-2010 10:26 |
| Báo Đức (tiếng Nga) viết về kinh tế VN | Cuong | Các chủ đề khác | 0 | 27-12-2008 21:17 |