|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trong bài dịch của mình, NH dùng đại từ Ta/Я có thể chưa được ok lắm, nhất là ở câu cuối cùng. Cám ơn ý kiến của bác SM. Trân trọng. |
|
#22
|
||||||
|
||||||
|
Hè muộn của Olga Berggolts
BẠCH DƯƠNG - N.H. Ngày còn là sinh viên, Bạch Dương đã có dịp ghé thăm nghĩa trang Piscarevskoie tại thành phố Leningrad, nơi có bức tường bằng đá khá cao có gắn những dòng thơ của Olga Berggolts. Nơi đây an táng những chiến sĩ Hồng Quân đã ngã xuống bảo vệ Leningrad khi thành phố bị bao vây 900 ngày đêm. Cũng giống như nghĩa trang Trường Sơn ở Việt Nam, tại đây có rất nhiều ngôi mộ liệt sĩ vô danh. Gần nửa triệu người hy sinh trong thời gian bị vây hãm được quy tập về nghĩa trang này. Tất cả đều là liệt sĩ và trên những ngôi mộ của họ đều có gắn ngôi sao. Olga Berggolts sinh năm 1910 nên tuổi ấu thơ của bà gắn liền với những năm tháng dữ dội của chiến tranh thế giới thứ nhất mà nước Nga là một bên tham chiến. Thời thiếu nữ nhà thơ trải qua bão táp Cách mạng Tháng Mười và cuộc nội chiến đẫm máu, khi nước Nga non trẻ chịu sự phong toả của mười bốn cường quốc. Rồi chiến tranh thế giới, cuộc chiến tranh ác liệt nhất lịch sử nhân loại. Thành phố Leningrad quê hương bà bị phát xít Đức vây hãm 900 ngày đêm ròng rã trong đạn pháo. Đọc những dòng chữ của bà mới hình dung được thành phố Leningrad đã phải chịu trong đói khát và băng giá, không đèn, không sưởi, đói ăn và thiếu cả nước uống như thế nào. Bà đã sống và viết trong bối cảnh này. Bà bộc bạch suy tư, trăn trở về cái riêng và cái chung, cá nhân và dân tộc…Những tác phẩm mang nặng dấu ấn của bà vẫn đọng lại trong chúng ta đến tận hôm nay. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ của Olga Berggolts, người được coi là một trong những nữ thi sỹ viết thơ tình hay nhất. Bạn đọc sẽ có thể dễ dàng nhận thấy rằng, có ít nhất hai trong số những bài thơ dưới đây từng đã được dịch ra tiếng Việt; và như vậy, hy vọng bạn sẽ cảm nhận được những điều mới mẻ qua các bản dịch của các thành viên NuocNga.net.
2.
|
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn NguyenAnh cho bài viết trên: | ||
|
#23
|
||||||||||||
|
||||||||||||
|
FEDOR SOLOGUB:
“Nước Nga ơi, tôi vẫn ngợi ca Người!” NGỌC BẢO - N.H. Dẫu kiệt sức trong nỗi sầu u uất Nước Nga ơi, tôi vẫn ngợi ca Người Nào có nơi đâu trên trái đất Thân thiết hơn Người, ôi Tổ quốc tôi! Nhà văn Nga Fedor Sologub có tên thật là Fedor Kuzmich Teternikov (1863–1927). Sinh ngày 17 tháng 2 (1 tháng 3) năm 1863 tại Xanh Peterburg. Cha nhà văn là con ngoài giá thú của địa chủ vùng Poltava, một nhà quý tộc sau khi chế độ chủ nô bị bãi bỏ trở thành thợ may ở thủ đô. Cha ông mất vào năm 1867, mẹ ông buộc phải vào làm con hầu trong một gia đình trung lưu. Gia đình này có truyền thống yêu thích nhà hát, âm nhạc, đọc sách, và nhờ thế Sologub cũng sớm được tiếp xúc với sách vở. Căn cứ vào Bản lý lịch sơ lược (1915) do vợ ông soạn và chính ông đã xem lại, thì "Trong số các cuốn sách đầu tiên được đọc qua, ấn tượng sâu sắc nhất là các nhân vật Robinson, Vua Lia, và Don Kihote... Những cuốn sách ấy đối với Sologub gần như một loại sách kinh". Có ảnh hưởng không kém là các tác phẩm của V.G. Belinski ("Rất cảm động và lôi cuốn"), ông đã đọc toàn bộ tác phẩm của nhà văn này từ tuổi vị thành niên, và sau đó là N.A.Dobroliubov và D.I. Pisarev. Ông gần như thuộc lòng toàn bộ các tác phẩm của N.A. Hekrasov, tuy nhiên lại không thích Puskin và Lermontov mấy. Sự nghiệp sáng tác của Sologub chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nekrasov, X.Ya. Nadson và N.M. Minski. Sau khi tốt nghiệp khóa đào tạo giáo viên ngắn hạn, chàng thanh niên 19 tuổi Sologub trở thành giáo viên dạy toán tại các trường nông thôn xa xôi. Ông dạy học hết mình, thậm chí viết cả sách giáo khoa toán, nhưng không coi giáo dục là sự nghiệp của đời mình. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 12 tuổi, và "ngay từ khi còn nhỏ đã tin chắc vào tài năng thơ ca của mình". Tuy thế, thành công không đến với nhà thơ trẻ ngay, mà chỉ từ thập kỷ 90 của thế kỷ XIX trở đi, sau khi các bài thơ được nhà thơ Minski đọc và đánh giá thì thơ ông mới bắt đầu được biết đến. Năm 1896 tiểu thuyết đầu tiên của ông về đề tài cuộc sống của giáo viên tỉnh lẻ "Những giấc mơ trĩu nặng" ra mắt bạn đọc. Thời kỳ đỉnh cao trong sáng tác của ông là khoảng từ năm 1905–1914 và sau năm 1917. Cuốn tiểu thuyết thứ hai nhan đề Quỷ nhỏ (Мелкий бес) được Sologub hoàn thiện vào năm 1902 nhưng mãi đến năm 1905 mới được công bố trên các trang tạp chí "Các vấn đề cuộc sống" và sau đó được tái bản nhiều lần vào năm 1907, trở thành cuốn sách mà "cả nước Nga phải đọc". Sau đó, đề tài cuộc sống thị dân được Sologub tiếp tục phát triển trong các tiểu thuyết "Navia quyến rũ" (1907–1909) và Khói và tro (1912–1913). Ngoài thơ và văn xuôi, Sologub còn sáng tác các vở kịch lớn như "Cái chết chiến thắng" (1907) được V.E. Meierhold dựng trong nhà hát Komisargievskaya, "Vũ điệu đêm" (1908) và Vanka Kliutchnik và tiểu đồng Gian (1908). Sau năm 1917 sự nghiệp và vinh quang của Sologub có chiều hướng đi xuống, nhưng ông vẫn xuất bản những tuyển tập thơ lớn như Một tình yêu (1921), Fimiam (1921), Cây sáo (1922), Bùa ngải (1922)... Các tuyển tập này được in với tira rất nhỏ, và không được bạn đọc chú ý. Nhà văn chuyển sang dịch thuật. Ông dịch văn học chủ yếu từ tiếng Đức và tiếng Pháp. Năm 1923 các bản dịch thơ Verlen của ông được xuất bản. Ông còn dịch các tác phẩm của Volter, Mopassan. Cho đến nay, các tác phẩm này vẫn được tái bản. Mười năm sau khi ông qua đời, nhà phê bình V. Khodasevich đánh giá ông cao hơn Maikov, nhưng thấp hơn Fet. Và cần phải nhấn mạnh là hơn một phần ba số thơ của ông đã không được công bố khi ông còn sống. Nhằm góp phần giới thiệu Fedor Sologub với các độc giả yêu mến thi ca Nga, dưới đây chúng tôi xin trân trọng công bố một số tác phẩm thơ của ông qua bản dịch của Thu Hương, Quỳnh Hương, Lưu Hải Hà và Việt Hùng. Các bài thơ nguyên bản của Fedor Sologub thường không có tựa đề và các bản dịch đã trung thành với điều này.
|
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn NguyenAnh cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (03-08-2012), Dmitri Tran (19-10-2012), hungmgmi (22-07-2012), Siren (29-07-2012), USY (23-07-2012) | ||
|
#24
|
||||
|
||||
|
Raxul Gamzatov
NGƯỜI ĐÃ LÊN ĐƯỜNG NHƯNG NHỮNG TIA NẮNG ẤM MÃI CÒN ĐÂY NGUYÊN HÙNG Raxul GamzatovThơ Raxul Gamzatov (1923-2003) phần lớn được viết bằng tiếng dân tộc Ava, một dân tộc vỏn vẹn chỉ có 25 ngàn người, sống ở một vùng núi cao của nước cộng hòa tự trị Đaghextan thuộc Liên bang Nga. Tuy vậy, thơ ông không những chỉ nổi tiếng ở Nga, ở Liên Xô (trước đây) mà còn được nhiều bạn đọc khắp nơi trên thế giới biết đến. Riêng ở Việt Nam, Raxul Gamzatov được ngưỡng mộ, trước hết qua tập văn xuôi đầy chất thơ “Đaghextan của tôi”, một cuốn sách được in rất đẹp cả về nội dung lẫn hình thức. Và sau đó, các độc giả thơ cũng dần dần được làm quen và yêu thích thơ ông qua những bản dịch của Thái Bá Tân, Bằng Việt, Đoàn Tuấn, Hồng Thanh Quang… Về cuộc đời và sự nghiệp thi ca của Raxul Gamzatov, ở Việt Nam đã có khá nhiều bài viết giới thiệu trên báo Văn Nghệ và các phương tiện thông tin đại chúng khác, như gần đây là “Gặp một nhà thơ lớn của một dân tộc ít người” (Thúy Toàn), “Raxul Gamzatov- Lòng nhân ái là cốt lõi của văn học” (Văn Nghệ Trẻ), “Raxul Gamzatốp và “Hiến pháp” của riêng ông (dịch từ báo Lao động, Nga)… Thơ Raxul Gamzatov cũng đã được chọn dịch khá nhiều ra tiếng Việt, chỉ riêng tập “Thơ Raxul Gamzatov” do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành gần đây có tới 64 bài. Nhằm góp một phần nhỏ bé làm cầu nối giữa nhà thơ Nga nổi tiếng với những người yêu thích thơ ông, dưới đây chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ của ông với các phương án dịch của các thành viên website NuocNga.net (3N). Bài thứ nhất
Bài thứ hai
|
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn NguyenAnh cho bài viết trên: | ||
|
#25
|
||||
|
||||
|
TỌA ĐÀM VỀ THƠ NGA ĐƯƠNG ĐẠI
(HTV - phát sóng nhân dịp kỷ niệm CMTM Nga, 7-11-2008) Năm 2008, nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười Nga, mình được mời tham gia chương trình tọa đàm về Thơ Nga đương đại. Trong chương trình này, NH đã bất đắc dĩ phải múa rìu qua mắt thợ, nếu nói gì không phải trong lúc болтать thì xin các thợ cả bỏ qua cho. Sau đây xin show vài trích đoạn của cuộc tọa đàm cùng một trong hai bài thơ do NH dịch và được giới thiệu (Những ngày nắng ấm còn đâu - Raxul Gamzatov; Mùa Xuân - Veronika Tushnova).
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Siren (29-07-2012) | ||
|
#26
|
||||||
|
||||||
|
Agnia Barto
NGƯỜI CÒN MÃI VỚI TUỔI THƠ (Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ) NGUYÊN HÙNG Agnia Barto là nhà thơ thiếu nhi mà ở Nga hầu như đứa trẻ nào cũng biết. Sách do Agnia Barto viết ra được in với số lượng hàng triệu bản. Bà là một người phụ nữ đặc biệt, cả cuộc đời mình bà giành trọn cho trẻ thơ: ngoài việc làm thơ cho thiếu nhi, bà còn tham gia tích cực các hoạt động vì thiếu nhi, bảo vệ thiếu nhi. Nói về bà, R.Gamzatov đã từng viết “bà luôn sẵn sàng đón nhận một thế hệ khi đưa tiễn một thế hệ khác”… Agnia Barto sinh ra ở Moskva trong một gia đình bác sỹ thú y. Bắt đầu làm thơ từ những lớp dưới ở trường trung học. Từng mơ ước trở thành nghệ sỹ ba-lê và đã tốt nghiệp trường múa. Agnia Bart bước chân vào lĩnh vực văn chương một cách khá tình cờ. Ở trường trung học, tại kỳ thi tốt nghiệp, Barto đã đọc bài thơ của mình, “Hành khúc đám ma”, với sự có mặt của A.Lunacharsky, nhà hoạt động xã hội đồng thời là nhà nghiên cứu và phê bình văn học nổi tiếng. Sau đó ít ngày, Lunacharsky mời cô nữ sinh Agnia đến chỗ ông và quả quyết rằng, cô được sinh ra là để viết những bài thơ vui nhộn. Năm 1925 Barto được nhận vào làm việc ở Ban biên tập Văn học thiếu nhi của Nhà xuất bản Quốc gia. Tại đây, Barto bị cuốn hút hoàn toàn vào công việc. Bà có dịp được học hỏi nhiều bên cạnh các nhà thơ đàn anh như Maikovsky, Chukovsky, Marshak… Năm 1937 Barto đến Tây Ban Nha với tư cách là đại biểu của Hội nghị quốc tế về bảo vệ văn hóa. Hội nghị diễn ra dưới các trận ném bom ở Barcelona, trong sự bao vây ở Madrid. Đề tài bảo vệ hòa bình, tình hữu nghị giữa các dân tộc từ đó đã đi vào các tác phẩm thơ ca của nữ thi sỹ. Trong thời gian Chiến tranh vệ quốc, Barto thường phát biểu qua đài phát thanh, từng ra mặt trận với tư cách phóng viên của tờ “Komsomolskaia Pravda”. Để viết trường ca về lứa tuổi vị thành niên, những người vì chiến tranh mà phải trưởng thành trước tuổi, phải làm việc và nuôi gia đình, nữ thi sỹ đã cùng họ miệt mài học nghề thợ tiện, thậm chí đạt trình độ của một người thợ thủ công. Những năm sau chiến tranh Agnia Barto trở thành nhà tổ chức của phong trào tìm kiếm những gia đình bị ly biệt trong chiến tranh, một phong trào có quy mô rộng lớn trong phạm vi toàn Liên bang Xô viết. Chương trình “Tìm người” trên sóng của đài phát thanh “Maiak” đã giúp cho 927 gia đình có được ngày được sum họp sau nhiều năm ly tán. Rất nhiều thư của bạn nghe đài từ khắp nơi được gửi đến Barto và bà trở thành một nhân vật được công chúng ngưỡng mộ. Trong sự nghiệp sáng tạo của mình Agnia Barto đều đặn cho ra đời nhiều tập thơ. Vào thời gian đầu, đó là: “Những người anh em” (1928), “Cậu-bé-ngược-đời” (1934), “Đồ chơi” (1936), “Chim hồng tước” (1939). Trong khoảng 1940-1950, bà xuất bản các tập thơ “Bé gái lớp một”, “Thành phố chuông”, “Thơ vui”, đồng thời viết kịch bản cho các phim thiếu nhi, như “Đứa con rơi”, “Chú voi và sợi dây”, “Aliosa Ptitsyn rèn luyện tính cách”. Năm 1958, Barto viết một loạt thơ trào phúng rất dày dặn cho thiếu nhi - các tập “Leshenka, Leshenka”, “Ông cháu”, v.v... Có thể dễ dàng thấy rằng thơ Agnia Barto có một vị trí rất đáng kể trong nền văn học thiếu nhi Nga xô viết. Thế nhưng, đối với độc giả Việt Nam, đặc biệt là các độc giả nhỏ tuổi, bà vẫn còn khá lạ lẫm. Vì vậy, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây chùm thơ của bà qua các bản dịch của Quỳnh Hương, Thu Hương và Nguyên Hùng.
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Siren (29-07-2012) | ||
|
#27
|
||||||
|
||||||
|
NGHE NHẠC NGA CÙNG BẢN DỊCH THƠ LỜI VIỆT
NGUYÊN HÙNG Từ nhiều năm nay, những giai điệu Nga đã trở nên quen thuộc với những người Việt Nam yêu nhạc. Các ca khúc và làn điệu dân ca của xứ bạch dương vốn rất êm dịu thiết tha về nhạc, lại càng trở nên quyến rũ và làm đắm say lòng người bởi vốn ca từ đầy chất thơ. Từng góp phần tạo thêm sức sống cho những bản tình ca vượt qua thời gian và không gian như "Cánh đồng Nga", "Chiều Matxcơva", "Đôi bờ", "Cây thùy dương", "Lòng mẹ", "Cuộc sống ơi ta mến yêu người", "Triệu bông hồng"… và những làn điệu dân ca bất hủ như Kalinka, Kachiusa, Sông Volga…chính là các bản dịch lời Việt mà các “nghệ sỹ Nga học” tiếng tăm như Trung Kiên, Qúy Dương…đã thực hiện. Những năm gần đây đời sống âm nhạc ở nuớc ta khá sôi động với các trào lưu “nhạc trẻ”. Dòng nhạc trữ tình dường như ngày càng trở nên lép vế trước các làn sóng hip-hop và rock. Trong bối cảnh đó, các bài hát Nga vốn được nhiều thế hệ người Việt Nam yêu thích cũng trở nên thưa vắng trên các sân khấu ca nhạc và trong các chương trình văn nghệ của các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên, tình yêu giành cho nhạc Nga vẫn luôn thường trực trong trái tim của một bộ phận không nhỏ người Việt, đặc biệt đối với những người từng có một thời sống ở nước Nga. Các thành viên website NuocNga.net là những người như thế. Họ đã miệt mài sưu tầm, giới thiệu cho nhau cả một kho tàng nhạc Nga, từ những bài hát đã nổi tiếng hàng chục năm nay đến những ca khúc hoàn toàn mới lạ. Và không ít ca khúc trong số đó đã được dịch ra lời Việt. Các bản dịch lời bàt hát do các thành viên NuocNga.net thực hiện thường đậm chất thơ. Vả chăng, bản thân các ca khúc chính là các bài thơ được phổ nhạc. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu các bản dịch tiếng Việt cho một số bài hát trong số đó: Bài thứ nhất: “Người yêu tôi nơi đâu?”
Bài thứ hai: “Ngôi sao”
Bài thứ ba: “Thảo nguyên mênh mông”
|
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn NguyenAnh cho bài viết trên: | ||
|
#28
|
||||
|
||||
|
Trích:
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn USY cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (29-07-2012), hungmgmi (29-07-2012), NguyenAnh (29-07-2012), rung_bach_duong (29-07-2012), Siren (29-07-2012) | ||
|
#29
|
||||
|
||||
|
Витас - Звезда
Nguyên Hùng dịch: Nhiều lần ta tự hỏi mình: Ta sinh rồi lớn là giành cho ai? Cho ai mây lượn, mưa rơi? Ta chờ gì nhỉ giữa đời hôm nay? Cánh đâu mà đến với mây? Sức đâu với, dẫu sao ngay trên đầu? … (Điệp khúc: Ta chờ… và sẽ không lâu Lên đường cùng với một bầu ước mơ Sao ơi, sao hãy đợi chờ Soi niềm hy vọng bất ngờ trong ta!) Còn bao đường đất phải qua? Bao nhiêu đỉnh núi chặn ta trên đời? Bao lần lên được lại rơi? Bao lần ta phải về nơi ban đầu? Bao lần tự vấn không đâu: Vả chăng “cố đấm chịu đau” là mình? |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Saomai (01-08-2012) | ||
|
#30
|
||||||
|
||||||
|
Rozhdestvensky Robert
NGƯỜI LỮ HÀNH BỊ BẮT CÓC (Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ) NGUYÊN HÙNG (theo các tài liệu về văn học Nga) Thân thế và tác phẩm Rozhdestvensky Robert Rozhdestvensky Robert sinh ngày 20 tháng 6 năm 1932 tại làng Kosikha thuộc vùng Altai trong một gia đình quân nhân: bố là sĩ quan, mẹ là bác sỹ quân y. Từ năm lên chín, Robert đã phải sống trong trại trẻ vì cả bố và mẹ đều ra mặt trận. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, anh vào học Đại học tổng hợp Petrozavod và bắt đầu làm thơ với những bài thơ đầu tay được in vào năm 1950. Rời trường đại học tổng hợp, Robert trở thành sinh viên Trường viết văn Gorki và tốt nghiệp trường này vào năm 1956. Từ khi còn là sinh viên trong trường đại học, Robert đã cho công bố các tập thơ “Những ngọn cờ của mùa xuân” (1955), “Thử thách” (1956) và cả trường ca “Tình yêu của tôi” (1955). Sau đó, các tập thơ khác lần lượt theo nhau được xuất bản: “Con đường phiêu dạt” (1959), “Gửi bạn đồng niên” (1962), “Những hòn đảo hoang” (1962), “Phạm vi ảnh hưởng” (1965), “Dâng hiến” (1970), “Hai mươi năm” (1973)… Rozhdestvensky Robert thu hút được sự chú ý của nhiều tờ báo và nhà xuất bản bởi thơ ông mang đậm bản sắc dân tộc và tính nhân văn. Thơ ông cũng được chính ông phổ nhạc và để lại nhiều bài hát nổi tiếng: “Hãy là như thế”, “Bài ca những kẻ báo thù không bao giờ bị bắt”, “Bầu trời bao la”, v.v… Năm 1971, Rozhdestvensky Robert cho ra mắt tập tùy bút “Và trái đất không có tận cùng”. Năm 1980, một loạt các tuyển thơ và trường ca của ông được xuất bản: “Tiếng nói thành phố”, “Bảy trường ca”, “Lựa chọn”, “Thơ, ballat, ca khúc”, “Cho những người bạn”… Vào những năm 199x, nhà thơ tiếp tục công bố các tập thơ “Thao thức” (1991), “Giao điểm” (1992), “Tư duy Aliosa” (thơ giành cho thiếu nhi, 1991). Rozhdestvensky Robert mất ngày 20 tháng 8 năm 1994. Tập “Những bài thơ cuối cùng của Robert Rozhdestvensky” đã được in sau đó. Con người Rozhdestvensky Robert Rozhdestvensky là nhà thơ Nga cùng thế hệ với Voznesensky và Evtushenko; họ là ba nhà thơ có tên tuổi ở Liên Xô lúc đương thời. Và mặc dù rất khác nhau cả về thơ ca và con người, từ những năm 195x ba nhà thơ này đã trở thành những người bạn khá thân thiết. Theo cách nói của Voznesensky, họ “như ba người lữ hành đi trên những con đường hoàn toàn khác nhau, bị bọn cướp bắt được nơi giao lộ rồi trói chung vào một gốc cây”. Nếu như Evtushenko luôn thích được mọi người chú ý thì Rozhdestvensky lại muốn tránh tất cả mọi người để làm việc. Trong khi Voznesensky cùng với Evtushenko luôn tỏ ra thi đua với nhau xem ai là thi sĩ số một thì Rozhdestvensky lại trăn trở trước những bản thảo thơ của bạn bè và coi việc xuất bản thơ cho người khác là niềm vui. Rozhdestvensky là người có tư tưởng tự do dân chủ và không e ngại thể hiện điều đó. Ngay từ những năm Stalin cầm quyền, ông đã tìm đọc và thuộc nhiều thơ cấm của B. Kornilov, P. Vaxiliev. Năm 1986, tại diễn đàn đại hội nhà văn ở Kremli, cùng với Voznesensky và Evtushenko, ông đã đứng lên yêu cầu dân chủ, dỡ bỏ chế độ kiểm duyệt, làm ấm lại niềm tin đang bị đóng băng trong giới viết văn. Rozhdestvensky cũng là người chủ trương viết thư cho Gorbachev vào năm 1990 với yêu cầu nhà nước phải lên án mạnh mẽ chủ nghĩa bài Do Thái. Rozhdestvensky đồng thời cũng là một người yêu trẻ. Trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đã giành nhiều tình cảm cho lứa tuổi trẻ thơ. Mảng thơ giành cho thiếu nhi của ông được Evtushenko đánh giá là “rất hấp dẫn và dễ thương”. Rozhdestvensky Robert qua đời để lại niềm tự hào cho người vợ và hai cô con gái. Vợ ông, bà Alla Kireeva, nhà phê bình văn học, người từng là bạn học của nhà thơ tại Trường viết văn Gorki. Mỗi lần nhớ về chồng, Alla thường nói rằng những người như Robert bà sẽ không bao giờ gặp nữa, và sau khi ông mất đi bà cố không nghĩ về những tháng năm hạnh phúc, bởi sợ rằng nó sẽ làm vô vị mất phần đời còn lại của bà. Cô con gái lớn Ecaterina Rozhdestvenskaya là nhà báo, được đánh giá là viết rất hay về các đề tài điện ảnh và văn học. Nhưng cô luôn dùng bút danh dưới những bài viết của mình vì sợ rằng chúng chưa tương xứng với tên tuổi của người bố. Một số bản dịch thơ Rozhdestvensky Robert Thơ Rozhdestvensky Robert có thể còn xa lạ với nhiều độc giả Việt Nam, bởi các nhà thơ Nga thế hệ ông hầu như rất ít được dịch và phổ biến ở nước ta. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi xin giới thiệu sau đây một số thơ Rozhdestvensky qua các bản dịch của Nguyên Hùng, Quỳnh Hương và Lưu Hải Hà.
|
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn NguyenAnh cho bài viết trên: | ||
BelayaZima (03-08-2012), USY (04-08-2012) | ||
|
#31
|
||||
|
||||
|
Nhân dịp ngày Phụ Nữ Việt Nam 20-10:
PHÁI ĐẸP DỊCH THƠ “PHÁI YẾU” NGUYÊN HÙNG Trong loạt bài đã đăng ở thư mục “Gương mặt nhà thơ”, chúng tôi đã có dịp giới thiệu một số gương mặt thi ca Nga và các tác phẩm thơ của họ qua bản dịch của các thành viên NNN. Đó là thơ của Anna Akhmatova, Olga Bergol, Raxul Gamzatov, Boris Pasternak, Andrei Voznesensky, Robert Rozhdevensky, Nikolay Rubtsov, Marina Xvetaeva, Veronika Tushnova… Qua đó, có thể nhận thấy rằng, các nữ thi sỹ Nga giữ một vị trí rất đáng kể trong lòng độc giả yêu thơ Việt Nam nói chung và các thành viên http://www.nuocnga.net (NNN) nói riêng. Và cũng có thể dễ dàng nhận thấy rằng, về khả năng chuyển tải thơ Nga ra tiếng Việt thì phái yếu của NNN cũng tỏ ra là một lực lượng hùng hậu bao gồm những dịch giả có vốn tiếng Nga thật phong phú như Quỳnh Hương, Thu Hương, Lưu Hải Hà, Bạch Dương… Và điều đáng nói, các bản dịch của NNN thường được thực hiện trong “chớp nhoáng”, nhưng chất lượng không hề tồi. “Tam ca 3H” Quỳnh Hương, Hải Hà, Thu Hương vốn tự nhận là “trường phái dịch thơ 5 phút”, “thơ dịch mì ăn liền”, nhưng trên thực tế các bản dịch thơ do họ thực hiện đều lột tả được sắc thái tình cảm đầy nữ tính của bài thơ gốc. Chúng ta thử lướt qua một số đoạn trong các bản dịch để cảm nhận sự tinh tế của họ nhé: Không, em nào có yêu anh Lửa tình yêu em tự đốt cháy mình Nói với em đi, sức mạnh nào ẩn giấu Trong cái tên đượm buồn của anh (Anna Akhmatova, Lửa tình yêu - Quỳnh Hương dịch) Lạnh hẫng trong tim bất lực, Nhưng chân đi vẫn nhẹ nhàng. Găng trái xỏ vào tay phải Tôi lần mấy bậc thềm hiên. …. Đấy khúc hò hẹn cuối cùng. Tôi ngoái trông căn nhà tối. Ánh nến buồng ngủ bập bùng Vàng vọt, hững hờ, trơ trọi. (Anna Akhmatova, Khúc ca cuộc hẹn hò cuối cùng - Thu Hương dịch) Lòng em cay đắng thẫn thờ Chìa tay đêm vắng mơ bờ vai ai Cách ngăn một dải sông dài Chia tình hai ngả đời ai héo mòn Nhưng lòng hy vọng vẫn còn Em mong anh liếc nhìn em lạnh lùng Dù sao em vẫn đinh ninh Sông kia chảy ngược để mình bên nhau. (Veronika Tushnova, Không đề - Thu Hương dịch) Cám ơn anh, bằng cả trái tim trọn vẹn Vì dẫu chẳng ngờ, nhưng anh thật yêu em: Anh chẳng quấy rầy sự yên tĩnh mỗi đêm Ta chẳng cùng nhau đón hoàng hôn mỗi tối (Marina Xvetaeva - Lưu Hải Hà dịch) Nhân dịp Ngày Phụ Nữ Việt Nam 20-10, chúng tôi xin giới thiệu tiếp một số bài thơ của các nữ sỹ Nga qua các bản dịch của họ, những người đẹp của NuocNga.net. Gọi mưa Bạn yêu quý, người đi xa hơn biển Hoa hồng đây, xin bạn hãy chìa tay Bạn yêu quý người đem đi vĩnh viễn Điều mà tôi quý nhất đời này Khiến bây giờ tôi như bị lừa gạt Chằng còn thư, nhẫn kỷ niệm nữa rồi Sao tôi nhớ vết lõm kia nhỏ xíu Của khuôn mặt kia – ngạc nhiên mãi trọn đời Tôi gọi mưa. Tôi gọi cơn mưa. Anh chẳng quay về, cũng không đến nữa Chỉ có hoa hồng trong lọ đang tàn úa Mấy ngày rồi tôi chẳng tưới cho hoa. Tôi gọi mưa, gọi trận mưa hôm qua. Nhưng sao hoa vẫn run như sắp chết Hoa đã chết rồi, đã chết được mấy ngày… Sao tôi nhớ hoài ánh mắt như cầu khấn Ánh mắt đăm đăm mong tôi đến ngồi cùng Và nụ cười từ Chốn Xa Xăm Lời khen nịnh đầm của người hấp hối Bạn yêu quý đã đi xa vĩnh viễn Một nấm mồ tươi giữa những nấm mồ Giờ neo cắm thiên đường, hãy cầu nguyện cho tôi Để không còn những thủy thủ khác nữa bạn ơi (Marina Xvetaeva, Lưu Hải Hà dịch) Trăng gọi kẻ mộng du Vỗ cánh bay lên rồi dừng lại. Trên kia là cao vời. Đừng tỉnh lại Vào phút giây mê man cuối. Kẻ mộng du và các thiên tài Không có bạn đâu. Đừng sáng ra Vào phút giây bừng tỉnh cuối. Trăng thành mắt ngươi rồi. Mắt những mái nhà như mắt cú Trăng sẽ gọi ngươi bằng tên thân mật. Nhưng đừng để lọt tai. Trăng thành tâm hồn ngươi – chúa tể của bầu trời Mở cửa đón ngươi. Đừng ngần ngại Vào phút giây hoà mình với trời cao. (Marina Xvetaeva, Quỳnh Hương dịch) Trái tim này chẳng níu trái tim ai Trái tim này chẳng níu trái tim ai Nếu có muốn cứ ra đi anh nhé. Hạnh phúc tràn đầy dang tay lướt nhẹ Ôm kẻ tự do trên bước đường đời. Em không khóc, cũng chẳng hề trách móc Cho phận mình tủi nhục bấy lâu nay. Đừng hôn em - em mệt mỏi thế này Chả khác gì anh hôn vào cái chết. Ngày tháng qua đi đớn đau đan kết Vây bên em trắng lạnh xác mùa đông. Vì sao anh - em thổn thức trong lòng Người em chọn cứ thua hoài anh mãi… (Anna Akhmatova, Bạch Dương dịch) Hè muộn Có một mùa trong thiên nhiên đẹp lắm Nắng chẳng chói chang, nóng vẫn dịu dàng. Mùa hè muộn trước khi thu đến đấy Cả đất trời lộng lẫy khác gì xuân. Nếp mạng nhện mờ khẽ giăng ngang Trên gương mặt, nhẹ thôi, rất nhẹ... Lảnh lót những con chim chưa tránh rét Những bồn hoa vẫn cháy rực lo âu! Mưa mùa hạ hết rơi đã từ lâu Cánh đồng thẫm đen lặng lẽ nhận hết rồi... Một cái nhìn đem hạnh phúc đến trong đời Em ít ghen hơn, nhưng ghen đắng cay hơn. Mùa hè muộn trong đời người phụ nữ Ta đón nhận người, nhưng ta hỏi một câu Tình yêu ơi, anh ở đâu, ở đâu? Rừng im tiếng, những vì sao cũng vậy... Anh thấy đấy - mùa sao rơi qua mất Đã đến lúc mình vĩnh viễn chia tay... Mà sao em dại khờ, giờ mới hiểu Cách yêu thương, giận hờn, tha thứ, chia ly... (Olga Berggol, Quỳnh Hương dịch) Không đề Anh có biết chăng Thế nào là đau khổ? Khi dây thòng lọng Xiết dần trên cổ? Khi trong tim, đắng cay Thành bờ tích tụ, Khi chẳng thể nào Rên rỉ, khóc than? Cầu Trời đừng ai thấy Cặp mắt đỏ hoe Làn da mờ đục, Đừng ai thấy em - mỏi mòn, Đau yếu - già nua... Anh có khi nào Nếm mùi đau khổ hay chưa? Vượt qua khổ đau Không khác gì bơi qua biển cả Trải qua khổ đau Cũng sánh ngang lết qua hoang mạc mênh mông. Thế nhưng người đời nói về nó với ngôn từ sáo rỗng: "Hắn bỏ ả rồi, biết không..." Còn em không có anh Như thuyền không mái chèo, Như chim cụt cánh, Như cỏ cây lìa gốc... Biết chăng anh thế nào là đau khổ? Em vẫn còn chưa kể hết anh nghe,- Anh đâu biết em đã thế nào Khi lang thang qua những nhà ga? Khi thẫn thờ đọc giờ tàu đến, Khi ngóng trông từng chuyến tàu trong đêm lạnh Khi khấn thầm trước mỗi trạm thư Như cầu mong phép mầu- Từ nơi kia, từ nơi anh - Dẫu chỉ một dòng thôi Dẫu chỉ một lời thôi Sẽ đến... (Veronika Tushnova, Thu Hương dịch) |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Dmitri Tran (19-10-2012) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|