![]() |
Gương mặt nhà thơ Nga (tác giả - tác phẩm)
Chào các bạn,
Tại thư mục Thi ca này, dù chưa có điều kiện xem hết nhưng cũng có thể kịp nhận ra rằng, đã có nhiều topic giới thiệu thân thế, sự nghiệp và tác phẩm của các nhà thơ Nga nhiều thế hệ. Việc tìm đọc theo từng tác giả như thế, quả là rất tiện. Trong phạm vi topic này, N.A muốn tập hợp các biên khảo của mình và một số thành viên 3N về một số nhà thơ Nga, kèm theo bản dịch một số tác phẩm thơ của họ. Các bài này trước đây đã từng giới thiệu ở trang chủ nuocnga.net và nhiều bài trong số đó đã được đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ (phụ bản của báo Giáo dục & Thời đại). Rất mong nhận được sự hưởng ứng của các bạn bằng những bản dịch thơ của chính các thành viên 3N cho từng tác giả. Các bạn có thể bổ sung vào đây các bản dịch thơ đã công bố trước đây ở các chủ đề khác. Các thông tin bổ sung về cuộc đời và sự nghiệp của các nhà thơ Nga cũng là điều rất đáng trân trọng. Xin cám ơn các bạn! |
Vladimir Nabokov - MỘT GƯƠNG MẶT VĂN CHƯƠNG ĐẶC BIỆT
(Bài đã đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ) NGUYÊN HÙNG Trong lịch sử văn học thế kỷ 20, Vladimir Nabokov giữ vị trí độc nhất vô nhị, là tác giả viết giỏi đồng thời bằng hai thứ tiếng: Nga và Anh. Sinh ra ở nước Nga, ông luôn mang theo mình những hồi ức về quê hương, thể hiện chúng qua hàng chục tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau và xứng đáng trở thành một trong những gương mặt hàng đầu của nền văn học Nga. Đồng thời, ông cũng được coi là nhà kinh điển của nền văn xuôi Mỹ hiện đại, là người mà các nhà văn “bản xứ” như K.Wonnegut, J. Bart, T.Pinchon, T.Sazern tôn vinh là vị tiền bối gần gũi của mình. Với mảng tác phẩm được viết bằng Anh ngữ, dường như Nabokov là nhà văn được sinh ra ở bên kia bờ Đại Tây Dương chứ không phải là một người con của nước Nga. Có thể nói rằng, Vladimir Nabokov đang giữ một giá trị sáng tạo kỷ lục; và điều đó chứng tỏ một điều rằng, “xuất xứ của nhà văn chỉ là điều thứ yếu, sự nghiệp sáng tạo của anh ta mới là tờ giấy thông hành đích thực”. Với những đóng góp to lớn của mình cho nền văn học thế giới, năm 1974, Vladimir Nabokov từng được đề cử xét tặng thưởng giải Nobel về văn chương cùng với Graham Greene và Saul Bellow. Rời khỏi nước Nga Nabokov sinh ra trong một gia đình luật sư có tư tưởng tự do, là con cháu của nhà quý tộc V.Đ.Nabokov. Ông nội của nhà văn, Đ.N.Nabokov, từng giữ chức bộ trưởng tư pháp dưới thời Aleksandr II. Mẹ ông, Elena Ivanovna, là con gái của nhà tỷ phú công nghiệp khai thác vàng Rukavishnikov. Tuổi thơ của nhà văn trôi qua ở Peterburg, nơi mà mỗi mùa hè gia đình ông đều đi đến vùng đất riêng của mình ở Batovo. Cạnh Batovo là lãnh địa Thiên chúa giáo rộng lớn và giàu có của người bác, ông V.I.Rukavishnikov, người sau đó đã để chúc thư truyền lại cho cháu mình, nhà văn tương lai. Nơi đây đã khắc sâu trong tâm khảm Nabokov suốt cả cuộc đời về sau. Ngay trước sự kiện Cách mạng tháng Mười Nabokov đã kịp tốt nghiệp trường kỹ thuật Tenishevsky, nơi anh đã đạt thành tích xuất sắc trong cả hai lĩnh vực học văn hóa và thể thao. Năm 1918, chàng thanh niên Nabokov cùng với gia đình sơ tán đến Krưm, sau đó một năm thì rời khỏi nước Nga. Gia đình Nabokov định cư ở Brlin, và V.Nabokov vào học trường Đại học tổng hợp Kembrizsky. Ra trường, Nabokov lập nghiệp tại Berlin trong vòng 15 năm (1922-1937). Sau đó số phận run rủi ông đến Pháp trong hai năm, rồi cùng vợ con đi Mỹ vào năm 1940, ngay trước khi những sư đoàn đầu tiên của phát-xít Đức tiến vào Paris. V.Nabokov ở lại Mỹ trong thời gian gần 20 năm, vừa dạy học vừa viết văn. Năm 1945, Nabokov nhận quốc tịch Mỹ. Tại đây ông đã tạo dựng tên tuổi trước hết với tư cách là nhà côn trùng học chuyên sưu tầm, nghiên cứu về bướm và đã phát triển thú đam mê từ thời thơ ấu này thành một trò giải trí chuyên nghiệp. Đây là một điểm khá thú vị trong sự nghiệp của Nabokov, và sinh thời đã từng có không ít ý kiến cho rằng, thú chơi bướm chẳng qua chỉ là một cách “đánh bóng tên tuổi”, “làm bộ làm tịch” của nhà văn. Nước Nga trong Nabokov Năm 1959 Nabokov trở về châu Âu và định cư tại Thụy Sỹ cho đến những ngày cuối đời. Dù ở đâu - Berlin, Paris hay Mỹ, V. Nabokov luôn chiếm được vị trí xứng đáng trong văn học. Nước Nga trong ông không giống nước Nga của Bunin, Kuprin, I.S.Smeliev, B. K.Zaitsev. Trong tác phẩm Nabokov không có các thành phố, các làng mạc được chỉ tên, không có những hình tượng nhân vật có thể gọi theo kiểu Nga, cũng không mảy may có sự miêu tả trực tiếp các thảm họa gây chấn động lịch sử dân tộc trong thế kỷ qua. Nước Nga của Nabokov – đó là bóng dáng của một thời thơ ấu hồn nhiên đã mất, đó là thời mà “mỗi lời khẩn cầu, một câu hỏi được ném lên trời thì lập tức sẽ nhận được câu trả lời đầy ngạc nhiên và quý báu”. Nabokov đã viết như thế trong “Massenka” (1926), cuốn tiểu thuyết đã mang đến cho tác giả sự nổi tiếng đầu tiên, và lối ẩn dụ này được ông tiếp tục với nhiều dạng văn phong khác nhau trong suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà văn, cho tới bộ sách đồ sộ cuối cùng của mình bằng tiếng Nga là “Những bến bờ khác”. Nước Nga của Nabokov – đó là một thứ ngôn ngữ riêng hoàn hảo, điều mà ông coi là thế mạnh chủ yếu của mình. Trong lời mở đầu cho tiểu thuyết “Những bến bờ khác”, Nabokov viết: “Năm 1940 tôi quyết định chuyển sang viết bằng tiếng Anh, và điều tai hại là ở chỗ, trước đó trong vòng hơn 15 năm trời tôi viết bằng tiếng Nga, từng để lại dấu ấn riêng lên các “công cụ và trợ thủ” của mình. Khi chuyển sang một ngôn ngữ khác, vô hình trung tôi phải từ bỏ thứ tiếng của Avvakum, Puskin, Tolstoy và các ấn phẩm Nga”. Cuối cùng, nước Nga của Nabokov – đó là nền văn học Nga kinh điển. Về đóng góp của Nabokov trong mảng văn học ngoài tiếng Nga, đã có ý kiến cho rằng, phương Tây chịu ơn ông vì các bản dịch ra tiếng Anh (và một số ra tiếng Pháp) các tác phẩm của Puskin, lermontov, Chiutchev. Quan điểm sáng tạo của Nabokov Hơn hết thảy, Nabokov căm ghét, căm ghét một cách sâu sắc điều mà ông gọi là “sự tầm thường” trong sáng tạo, khi đưa vào khái niệm này một nội dung rất rộng lớn. Sự tầm thường – đó là sự xâm hại về mặt đạo đức, triết học, lịch sử đến các lằn ranh có chủ quyền của nghệ thuật. Nabokov đã công kích một cách thù địch những tác giả như Tomas Mann, Andre Malro, thậm chí cả Đostoevsky, và phủ nhận một cách miệt thị nhận định phổ biến về Gogol như là người lên án các tệ nạn xã hội, là người thương cảm “những thân phận bé nhỏ”. Sự tầm thường – đó cũng là đòi hỏi về tính dân tộc trong văn học. Như một họa sĩ, một nhà nghiên cứu văn học và triết học, một giáo sư đại học, Nabokov luôn trong tình trạng đấu tranh không ngừng với các truyền thống của nền phê bình ở nước Nga. Cuối cùng, sự tầm thường – đó là các chế độ độc tài, được phản ánh một cách sinh động qua các tiểu thuyết: “Giấy mời đến pháp trường” (1938), “Những đứa con hoang” (nguyên bản tiếng Anh là «Bend Sinister»), các truyện ngắn “Hoàng đế” (1933), “Tiêu diệt cuồng bạo” (1936), “Hồ, đám mây, bể nước” (1937), kịch “Sự phát minh điệu Van-xơ” (1938) và trong một loạt tác phẩm khác. Nabokov - nhà văn Mỹ Các đề tài trung tâm và cơ sở mỹ học chính của V. Sirin (bút danh cho các tác phẩm bằng tiếng Nga của Nabokov) đã tìm được sự kế tục và phát triển trong giai đoạn sáng tạo bằng tiếng Anh của Nabokov. Ngôn ngữ điêu luyện và độc đáo của Nabokov không chỉ là công cụ và trợ thủ, mà còn là nhân vật trong tất cả các cuốn sách của ông. Người ta đã từng so sánh Nabokov với Joseph Conrad, người cũng trở thành nhà kinh điển của văn học không bằng ngôn ngữ mẹ đẻ (Joseph Conrad là người Ba Lan), nhưng điều đó đã xúc phạm tác giả tiểu thuyết “Lolita”, vì thực tế thì Joseph Conrad có điều kiện tiếp xúc với tiếng Anh tốt hơn nhiều so với Nabokov, và nhà văn này cũng không hề bị chi phối bởi hệ thống của ngôn ngữ sla-vơ. Về tác phẩm chính được viết bằng tiếng Anh của Nabokov, có thể kể: các tiểu thuyết “Cuộc sống thực của Sebastian Knight” (The Real Life of Sebastian Knight, 1941), “Những đứa con hoang” (Bend Sinister, 1944), “Ngọn lửa xanh xao” (1962), truyện hài Pnin (1957), nhiều tác phẩm hồi ký độc đáo (“Chứng cứ xác thực”, 1951, “Những bến bờ khác”, 1954, “Ơi tri giác, hãy lên tiếng”, 1966). Theo cách diễn đạt của nhà nghiên cứu văn học Nga N.A. Anastasev (Н. А. Анастасьев), Nabokov là nhà văn của các nhà văn, và sự nghiệp sáng tạo của ông là văn học của văn học, là một thư viện lớn. Trên các trang sách của ông không ngừng vang lên tên tuổi của Shakespeare, Lev Tolstoy, Shiller và Kolridj, Edgar Po và Bodler, Dante và Gotorn, Shekhov và Rembo và hàng loạt các tên tuổi vĩ đại khác. Trong đó, Puskin giữ một vị trí đặc biệt, vì đối với Nabokov, Puskin là một tên tuổi mẫu mực, là nhà thơ vĩ đại, xứng đáng để ông bỏ ra cả chục năm trời dịch ra tiếng Anh trường ca “Evgheni Oneghin”, bản dịch từng gây náo động trên văn đàn và trong dư luận bạn đọc. Nabokov và Thơ Trong kho tàng văn học của Vladimir Nabokov, ngoài các tác phẩm văn xuôi bằng tiếng Nga và tiếng Anh, còn có một số lượng không nhỏ các tác phẩm thơ bằng tiếng Nga. Trọn cả cuộc đời sáng tạo sống xa tổ quốc, nhưng thơ Nabokov vẫn luôn đau đáu một tình yêu giành cho quê hương đất nước: Ta không giận vẩn vơ Không nguyền rủa cũng không van vỉ Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ Như cô nàng từng phụ tình ta. (Gửi nước Nga - Quỳnh Hương dịch) Vladimir Nabokov là gương mặt nổi tiếng trên văn đàn thế giới, nhưng do nhiều lý do khác nhau, nên hầu như chưa được độc giả Việt Nam biết đến. Để góp phần giúp bạn đọc có thêm một số thông tin về Nabokov, ngoài những điều khái quát trên đây, sau đây Tài Hoa Trẻ xin giới thiệu một số tác phẩm thơ của ông với các bản dịch của Tạ Phương, Nguyên Hùng, Thu Hương và Quỳnh Hương. 1. ЖУРАВЛИ |
Thơ Vladimir Nabokov - Một số bản dịch khác |
ANNA AKHMATOVA VỚI TRÁI TIM KHÔNG TRÓI BUỘC NGUYÊN HÙNG - BẠCH DƯƠNG Anna Akhmatova (1889-1966) sinh ra và lớn lên trong gia đình một đại úy hải quân tại Bolsoi Fontan gần thành phố Odessa. Năm 1890, lúc mới lên một Anna theo gia đình chuyển nhà về Pavlosk, và một năm sau lại chuyển đến Hoàng Thôn, một trung tâm văn hóa nổi tiếng gần kinh đô Peterburg thời bấy giờ. Năm hăm mốt tuổi Anna Akhmatova trở thành vợ của nhà thơ N.Gumilov. Từ đầu những năm 20, Anna đã là nhà thơ nữ nổi tiếng trên thi đàn Xô-viết. Thơ Anna được lưu truyền rộng rãi khắp nước Nga, được những người dân Nga bình thường yêu thích tìm đọc và thuộc lòng nhiều bài. Nhưng cuộc đời của nữ sĩ đã trải qua hai lần biến cố. Lần đầu thì chồng bà, nhà thơ N. Gumilov bị kết tội chống chính quyền Xô-viết và bị lãnh án tử hình. Lần thứ hai, chính Anna bị lên án trong một nghị quyết về tạp chí Ngôi sao và Leningrad; theo đó, vào năm 1946 bà bị khai trừ ra khỏi Hội nhà văn Liên Xô. Mãi 7 năm sau, tức vào năm 1953 bà mới được tái gia nhập Hội Nhà văn Liên Xô. Và đến tận năm 1988, tức sau 42 năm thì danh dự của Anna Akhmatova mới được khôi phục bằng một nghị quyết khác của TƯ Đảng CSLX phủ nhận nghị quyết sai lầm của năm 1946. Anna Akhmatova xuất bản tập thơ Ngợi ca hoà bình vào năm 1959, và đến cuối đời cho xuất bản tuyển tập thơ Thời gian trốn chạy (1965). Tháng 12/1964 trường Đại học Tổng hợp Oxford truy tặng học vị danh dự Tiến sĩ văn học cho Anna Akhmatova. Năm 1989, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của bà, UNESCO đã quyết định lấy tên nữ sĩ đặt cho năm 1989 là năm văn hoá thế giới. Thơ của Anna Akhmatova thường cô đọng, mỗi bài thơ là một tiếng nói riêng được nén chặt từ con tim chất phác, không dối lừa, tiếng nói giàu sức biểu cảm từ bên trong. Anna Akhmatova là một hồn thơ Nga chân chính, một hiện tượng thơ lớn đáng chú ý trong nền thơ ca Nga Xô-viết. Trong phạm vi bài viết ngắn này, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu dưới đây chùm thơ của bà với các bản dịch của các thành viên NuocNga.net.
|
ANNA AKHMATOVA
Đại diện cuối cùng của “thế kỷ bạc” trong nền thi ca Nga Tachiana Sinhitsyina LƯU HẢI HÀ dịch (Bài đã đăng Tài Hoa Trẻ) Bốn mươi năm trước đây, ngày 5 tháng 3 năm 1966, Anna Akhmatova, nhà thơ Nga vĩ đại đã qua đời. Bà gọi trái tim mình là “đã thủng lỗ” từ những năm còn trẻ tuổi. Cuộc đời đã dành cho người phụ nữ này rất nhiều đau khổ tinh thần, đủ để tiêu diệt bất kỳ người nào. Nhưng số phận đã gìn giữ Anna Akhmatova gần 77 năm. Tất nhiên là gìn giữ cho những dòng chữ quý báu mà tài năng của bà đã phản xạ trên giấy. Cái chết của Anna Akhmatova đã dừng chiếc đồng hồ của “thế kỷ bạc” trong thi ca Nga lại. Bà là người đại diện cuối cùng của thời kỳ rạng ngời này của văn học Nga, thời kỳ bắt nguồn từ nửa sau của thế kỷ XIX. “Có thế kỷ vàng và thế kỷ bạc của nghệ thuật. Cả trong thế kỷ vàng cũng như thế kỷ bạc đều có những con người xứng đáng với nhau. Và cũng chưa chắc gì những người thuộc thế kỷ vàng là những người khác với những người thuộc thế kỷ bạc” – nhà thơ Nhicôlai Otsup năm 1933 đã xác định rất chính xác hai hiện tượng ấy của văn hóa Nga như thế. Anna Akhmatova thuộc về thế hệ tuyệt vời ấy của các nhà thơ Nga. … Trong năm đầu tiên sau cách mạng, Anna Akhmatova vừa mới mắc bệnh lao. Bà lên tàu đi Matxcơva, tránh xa những màn sương mù của Peterburg. Trong toa tàu Akhmatova muốn hút thuốc và bà lấy thuốc lá ra. Nhưng trong số những người xung quanh không ai có diêm cả. Khi đó Akhmatova thò đầu ra ngoài cửa sổ và đốt thuốc từ những tia lửa của tàu. Lúc đó một anh lính Hồng quân nhìn thấy thế đã thốt lên: “Người như thế thì chẳng bị gục ngã đâu!”. Một tư thế cuộc sống không bao giờ thay đổi đã giúp cho bà không bị gục ngã: đối với mọi đòn đánh của số phận Akhmatova chỉ có một câu trả lời – ngẩng cao đầu kiêu hãnh. Chỉ có tâm hồn khóc – khóc bằng thơ. Những dòng thơ đầu tiên Akhmatova viết vào năm 11 tuổi, khi còn sống ở thành phố Odessa, nơi bà đã sinh ra. Khi nhìn thấy tác phẩm của cô con gái thì cha bà, một kỹ sư đã nói rất nghiêm khắc: “Đó là sự suy đồi, đừng có bôi nhọ họ của tôi!”. Cô con gái vâng lời và đổi họ Gorenko sang họ của bà cố vốn thuộc dòng giõi các công tước Tatar – Akhmatova. Lần thứ hai thì người hâm mộ say đắm, Nhicolai Gumilev lại khuyên cô hãy xa cách việc làm thơ: “Em mảnh dẻ và dẻo dai thế. Có lẽ em múa sẽ tốt hơn chăng?”. Nhưng Akhmatova vẫn bị thi ca cuốn hút. Năm 1907, Gumilev muốn làm một món quà tặng người yêu và công bố trong tạp chí “Sirius” xuất bản ở Paris của ông một bài thơ của nàng. Thế là nữ sĩ Anna Akhmatova lần đầu tiên gặp gỡ với bạn đọc. Ngày 12 tháng 5 năm 1910 Anna Akhmatova và Nhicolai Gumilev đã kết hôn ở một nhà thờ nhỏ gần Kiev – Anna học luật ở thành phố này. Sau đó họ tới Slepnhevo – điền trang của dòng họ Gumilev ở vùng Tveri. Nhưng chẳng bao lâu sau thì cuộc sống sôi động đã gọi họ tới thủ đô. Akhmatova và Gumilev cùng với M.Kuzmin, Vyach. Ivanov thành lập nhóm thơ “Phân xưởng nhà thơ”, họ tuyên bố về “trường phái acmeisme. Kết quả là tập thơ mỏng đầu tiên của Akhmatova “Chiều” đã ra đời và ngay lập tức đem lại vinh quang. Các nhà thơ trẻ sống cuộc sống bohema đầy sôi động. Họ bàn luận về nghệ thuật cuộc sống và những bí mật của thi ca trong quán cà phê sành điệu của Peterburg “Con chó lang thang”, thưởng thức rượu sâm panh và dứa. Anna luôn là tâm điểm của sự chú ý – không chỉ như một nhà thơ mà còn như một người phụ nữ, người ta so sánh nàng với bức tượng cổ đại, tỏ tình với nàng, thậm chí đấu súng vì nàng. Chính trong thời gian này họa sĩ trẻ N.Altman đã vẽ bức chân dung nổi tiếng của Akhmatova: nàng ngồi quay nghiêng, trong bộ áo màu xanh sẫm, quàng một chiếc khăn vàng. Cuộc sống riêng tư của Akhmatova thời gian đó cũng tuân theo acmeisme – quay về với sự tự nhiên của thế giới vật chất, với những cảm xúc ban đầu. Đám cưới của Akhmatova và Gumilev không thể hạnh phúc được – họ quá khác nhau. Chỉ mới 5 tháng trôi qua sau ngày cưới thì người chồng trẻ đã vội vàng tới châu Phi một lần nữa, còn Anna thì vội vàng tới Paris. Thành phố này chờ nàng với một mối tình với một chàng họa sĩ nghèo còn chưa được ai biết đến – Amadeo Modigliani. Khi họ chia tay, Anna tặng chàng một chiếc lông đà điểu làm kỷ niệm – chiếc lông này được Gumilev đem về từ châu Phi và cắm trên mũ nàng, còn Modigliani thì tặng Anna 16 bức chân dung nàng. Tiếc rằng đến nay thì chỉ còn lại có một bức trong số đó. Năm 1912 cặp vợ chồng Gumilev sinh được một cậu con trai đặt tên là Lev, một nhà sử học, nhà dân tộc học và triết học nổi tiếng trong tương lai. Bố mẹ cậu sống quá nhiều trong môi trường thơ văn, nên người nuôi dạy cậu bé là bà nội. Bà Anna Ivanova tha thứ tất cả cho cô con dâu “kỳ dị” vì cô đã tặng cho bà cậu cháu nội. Anna Akhmatova cũng thường tới Slepnhevo, ở đây nữ sĩ đã viết 60 bài thơ trong tập thơ “Đàn chim trắng”. Khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bắt đầu thì Akhmatova gần như biến khỏi cuộc sống công chúng và sống khép kín, một mình chịu đựng bệnh lao. Thời đó bệnh này được coi là không chữa được. Cho rằng “thời gian đã kết thúc”, Anna đắm mình trong thế giới yêu thích – văn học cổ điển, khám phá lại thế giới này. Chính thời gian đó nữ sĩ đã viết những dòng thơ nổi tiếng: “Trái tim bây giờ chẳng cần gì nữa Cái nóng bỏng này tôi đã uống rồi… Khối không khí lớn của Onhegin ấy Như đám mây treo lơ lửng trước tôi…” Pushkin mãi mãi là lý tưởng không suy xuyển đối với Akhmatova, còn thi ca thì nhận được tính ngữ “rám nắng”. Thời gian đó là thời gian hình thành nhà thơ Akhmatova, người tuân theo sự nghiêm túc cổ điển của thi ca, sự rõ ràng và súc tích của phong cách thi ca. Và đó là những gì mà Akhmatova đã đem theo vào ngôi đền thiêng Pantheon(*) của thi ca Nga. Akhmatova đón nhận sự sụp đổ của nước Nga cũ một cách khó khăn. Tuy nhiên, mặc dù cảm nhận đựơc toàn bộ bi kịch của sự kiện, nữ sĩ không hề chấp nhận ý nghĩ rời bỏ quê hương – “Tôi không đi cùng những người bỏ đất nước…”. Trong những đau khổ chung ấy nữ sĩ lại có thêm niềm đau riêng: năm 1918 Akhmatova và Gumilev chia tay. Anna đến sống cùng người chồng mới – nhà nghiên cứu phương Đông V.Shileiko. Nhưng Shileiko cũng không đánh giá được vai trò của Akhmatova như một thi sĩ, và ông thản nhiên đem những bản thảo thơ của Anna nấu nước. Anna thở phào hạnh phúc khi ly dị với Shileiko, để rồi lại rơi vào tay những người “chủ nô” khác. Akhmatova đi tìm “một tâm hồn gần gũi”, nhưng đến tận cuối đời vẫn không tìm thấy… Năm 1921 cuộc đời dành cho Akhmatova hết cú đánh này đến cú đánh khác. Tháng tám năm ấy nhà thơ Alekxandr Blok qua đời, còn sau đó 2 tuần thì Nhicolai Gumilev bị tử hình. Quên đi bệnh lao, Akhmatova quay trở lại môi trường thi ca, để đón nhận lấy cây đàn lia của thi ca Nga đang run rẩy vì những mất mát lớn không bù đắp nổi. Nữ sĩ xuất bản hai tập thơ “Cây mã đề” và «Anno Domini». Tháng 9 năm 1921 Lev, cậu con trai 9 tuổi của Anna không được phát sách giáo khoa ở trường học chỉ vì cha cậu bị xử bắn. Đó là dấu hiệu bắt đầu những năm tháng đau khổ của Anna và cậu con trai. Năm 1935 cả con lẫn chồng của Akhmatova – ông N.Punhin, ủy viên Bảo tàng Nga và Ermitage, đều bị bắt vào tù. Suốt 17 tháng Akhmatova đứng xếp hàng ở cổng nhà tù “Mười bảy tháng mẹ kêu gào khản tiếng Mẹ gọi mong con về được nhà thôi Mẹ quỳ xuống dưới chân đao phủ Con là con, là nỗi sợ con ơi”. Anna thu hết dũng cảm viết thư cho Stalin, và Lev Gumilev được thả ra. Nhưng ba năm sau thì Lev lại bị bắt. Akhmatova can đảm theo học khóa học người mẹ của tù nhân. Những đau khổ trong những năm tháng ấy đã hợp thành tập thơ “Requiem”, mà suốt hai mươi năm Akhmatova chỉ dám để trong ký ức, không dám ghi ra giấy. Những năm tháng Chiến tranh Giữ nước Vĩ đại nữ sĩ cùng các nhà văn khác sơ tán từ vòng vây Leningrad tới Tashken. Những dòng thơ yêu nước của Akhmatova được viết lên tranh cổ động thời ấy: “Giờ khắc dũng cảm trên đồng hồ của chúng ta đã điểm, và lòng dũng cảm sẽ không rời bỏ chúng ta!”. Thời kỳ đó Anna viết trường ca “Không có nhân vật” và luôn luôn cầu nguyện cho con trai đang chiến đấu trong những tiểu đoàn trừng giới. Lev Gumilev đã nguyên vẹn trải qua chiến tranh, nhưng sau chiến thắng thì Lev lại vẫn tiếp tục ở tù. Lại một vết thương trong trái tim của Akhmatova. “Tôi đâu có một mình, tôi cùng cả nước, cùng xếp hàng vào trước ngục tù” – sau này Akhmatova sẽ viết vào tiểu sử tự thuật ngắn gọn của mình như thế. Một thời gian khá lâu chính quyền không động đến Anna Akhmatova, mặc dù thi ca của Akhmatova bị coi là “suy thoái” và “kiểu cách”. Nhưng năm 1945 thì nữ sĩ làm Stalin giận dữ khi biết rằng I.Berlin, nhà sử học Anh đã ghé thăm Anna. Và Akhmatova cùng với nhà văn Mikhail Zoshenko trở thành đối tượng bị các nhà phê bình “đập nát thành tro bụi”. Năm 1946 trong các tạp chí “Ngôi sao” và “Leningrad” công bố nghị quyết của Hội Nhà văn Liên Xô, trong đó gọi Zoshenko là “kẻ lưu manh trong văn học” còn Akhmatova thì bị gọi là “kẻ dâm đãng”. Ngay lập tức Akhmatova bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn Liên Xô. Nhưng ngay cả trong hoàn cảnh đó thì Anna Akhmatova cũng chỉ nhún vai: “Một cường quốc cần gì phải đem xe tăng nghiền nát lồng ngực một bà già ốm yếu?” Suốt 20 năm Anna Akhmatova không được in tác phẩm. Đó là một thử thách lớn đối với nữ sĩ. Nhưng bà vẫn tiếp tục “viết cho tương lai”, và sống bằng việc dịch thuật, những việc mà bạn bè tìm cho. Mãi đến năm 1965 Akhmatova mới xuất bản được tập thơ tổng kết “Bước chạy thời gian. Những bài thơ 1909-1965”. Trong đó – là sự nhận thức bi kịch của nước Nga trong thế kỷ XX, sự trung thành với những cơ sở đạo đức cuộc sống, tâm lý của tình cảm phụ nữ. Những năm cuối đời “nữ hoàng của thế kỷ bạc” được cho phép nhận giải thưởng văn học Italia “Etna-Taormina” và danh hiệu tiến sĩ danh dự của Đại học Tổng hợp Oxford. Còn từ đất nước của chính mình thì nữ sĩ chỉ nhận được một giải thưởng, nhưng đó là giải thưởng quý giá nhất – sự thừa nhận của độc giả. Ở quận Bezhetsk vùng Tver, trên mảnh đất “nhớ đến đau lòng” có một đài kỷ niệm tuyệt vời dành cho Anna Akhmatova, Nhicolai Gumilev và Lev Gumilev. Họ được diễn tả như một gia đình hạnh phúc, bước đi trên mảnh đất quê hương, mảnh đất được họ chiếu sáng bằng ánh hào quang tài năng của mình. (*)- Pantheon trong tiếng Hy Lạp là đền thờ, hay nơi dành riêng cho các vị thần; Thường được dùng với nghĩa là nơi an nghỉ của những người xuất chúng. Chùm thơ của Anna Akhmatova
|
Nhà thơ Andrei Voznesensky
Andrei Voznesensky
KIẾN TRÚC SƯ CỦA THƠ NGA HIỆN ĐẠI (Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ số 424 ngày 21-6-2006) NGUYÊN HÙNG Andrei Voznesensky là nhà thơ độc đáo và tài năng. Ông vốn là người có ý thức về thời đại, là người mang tham vọng về tính đa trị của hình tượng, là nhà thơ đầy chất trữ tình. Sự nghiệp sáng tạo của ông được đặc trưng bởi những sự kết hợp cô đọng và lối ẩn dụ, phóng đại với vốn tân ngữ phong phú. Ông không giống bất kỳ một nhà thơ nào khác. Voznesensky là người làm việc nhiều, nghiêm túc và đã xuất bản hơn mười tập thơ. A.Voznesenski sinh ngày 12 tháng 5 năm 1933 tại Moskva trong một gia đình công chức khoa học. Năm 1957 tốt nghiệp đại học kiến trúc Moskva. Những bài thơ đầu tiên được đăng vào năm 1958. Năm 1960, hai tập thơ và trường ca của ông lần lượt được xuất bản: “Parabol” và “Bức khảm”. Tiếp theo sau đó là các tập “Vũ trụ” (1964), “Sự cám dỗ” (1979), “Bản năng” (1981), “Nước Nga, thơ ca” (1991), “Thơ - Trường ca - Văn xuôi” (2000), v.v… Phương tiện ưa thích nhất của A.Voznesenski là lối ẩn dụ, phóng đại, còn thể loại chính là thơ tự sự trữ tình, ballad và kịch thơ. Andrei Voznesenski giành sự chú ý đặc biệt tới giới trí thức, “các nhà vật lý và các nhà thơ trữ tình”, những người lao động sáng tạo. Đóng góp quan trọng nhất của ông không phải ở các vấn đề tâm lý xã hội mà chính là các phương tiện và hình thức nghệ thuật thể hiện chúng. Kết cấu các cuốn sách thơ ca và các tác phẩm riêng lẻ của A.Voznesensky thường được xây dựng trên các nguyên tắc cấu trúc học, trong đó, khi xây dựng những cuốn sách mới nhà thơ thường chia ra những chương đặc biệt gồm những gì được tuyển chọn từ các tác phẩm trước đó. Là người cổ súy cho phong trào vì tiến bộ khoa học và kỹ thuật, A.Voznesensky từng là một trong những người đầu tiên cảm nhận được khát vọng mãnh liệt trong sự “yên tĩnh”. Nhà thơ cần sự yên tĩnh để giao hòa vào thiên nhiên, cần yên tĩnh cho tình yêu, để tập trung cho những suy tư về cuộc đời, để hiểu được những cảm xúc đa chiều trong con người. “Oza”, bản trường ca về tình yêu là một tác phẩm liên quan đến sự yên tĩnh dạng đó. Đề tài về phụ nữ tựu trung được thể hiện rất rõ nét trong thơ ca của A.Voznesensky, cụ thể có thể kể đến các tác phẩm “Đám cưới”, “Mùa thu”, “Bài ca Ofely”, v.v…Thiếu tình yêu giành cho phụ nữ và cảm xúc mãnh liệt trước thiên nhiên thì “con người sụp đổ”, và “tất cả các quá trình chỉ là vô dụng”. Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại là một trong những đề tài quan trọng nhất trong thơ của Andrei Voznesensky. Đó là những “Ballad của năm 1941”, “Gôia”, “Cái hố”, “Bác sỹ Mùa thu”, v.v… Đề tài về sự suy đồi xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của nhà thơ, nhưng ý nghĩa tồn tại của nó thì thay đổi theo thời gian: nếu vào những năm 1960-x A.Voznesensky nói về sự suy đồi của những cái xưa cũ, về những hình thức lỗi thời của đời sống và nghệ thuật, thì vào những năm 1980-x và 1990-x ông lại nói về sự suy đồi của các giá trị tinh thần (“Khúc cuồng tưởng của sự suy đồi”). A.Voznesensky coi thơ ca và nghệ thuật, sự hoạt động quả cảm của giới trí thức Nga và sự phục hưng các giá trị Ki-tô giáo là thứ thuốc giải dùng để chống lại thói vô cảm và sự tàn ác. Tác phẩm của A.Voznesensky với nội dung tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật của mình đã được đón nhận một cách rộng rãi qua các hý trường, nhà hát, sân khấu. Trên cơ sở tác phẩm của ông, Iu.Liubimov đã dựng vở kịch “Vũ trụ”. A.Rybnikov viết vở rock-opera “Junona và Avos”, và M. Zakharov thì dựng nó tại Nhà hát mang tên “Đoàn thanh niên cộng sản Lê-nin”. A.Voznesensky đồng thời cũng không ngại thử nghiệm trong các thể loại nghệ thuật khác như dựng các video mà ở đó thơ được phối hợp với tranh ảnh và thư pháp. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu hai bài thơ của A.Voznesensky qua các bản dịch của Quỳnh Hương:
|
Bài ПЕРВЫЙ ЛЁД có bản dịch của QH chưa thấy rõ ẩn dụ chính của thơ gốc. Vả lại từ "Phấn son" gây liên tưởng đến một "Em gái chịu chơi" vấp ngã. Từ "người dưng" cuối bài lại càng lạc xa ý thơ nói về khổ đau lần đầu của nỗi hờn giận tình yêu. Băng giá bên ngoài chỉ là cái cớ, băng giá chính là từ hờn dỗi gì đó với người yêu lần đầu qua điện thoại mà thôi.
Góp với bác bản dịch chơi của nhà em:
|
Trích:
Về bản dịch của BT, nếu trau chuốt chữ nghĩa cho mềm hơn và vần điệu hơn một chút thì rất tuyệt. Cám ơn BT nhiều. |
Cám ơn bác đã mạnh dạn khen em, là điều cực hiếm mà em nhận được từ 3N trong thơ thẩn. Chắc ngoài đời bác phải là người hết sức vị tha, dễ tính :D
Dù sao thì em cũng trả lời bác việc tại sao làm BT bao năm mà còn nói thơ: ấy là VN ta đã được Tố Hữu định nghĩa "Ôi VN xứ sở lạ lùng". Đã lạ lùng thì ngược với Thế giới, là nơi mà ta khi còn nhỏ luôn bị người lớn ép làm này làm khác, lúc đi học phồ thông thì chịu khó khắn rất rất nhiều. Các áp lực được giảm dần đi khi lớn lên: chỉ cần đi đúng định hướng thì chả ai quan tâm đến anh nữa, dù tai nạn lao động hay giao thông, dù là quyền lợi hay dân trí gì gì. Học đại học chỉ cần mang vài quyền vở mòng, đỡ hơn nhiều so với cặp sách khủng phổ thông. Ra đi làm thì lính khởi điểm mới vất vả, lên quan nhỏ thì vẫn còn mệt, càng thăng quan lớn càng khỏe re. Quan to đến mức to rồi thì gần như khỏi phải làm gì nhiều, chỉ cần ký và họp. To mức khủng nữa thì chữ ký cũng có con dấu đỡ cho, không phải đi dự họp nữa mà chuyên đi chỉ đạo họp... ấy là giải thích vì sao bao năm làm BT mà vẫn có thể rèn giũa thơ ca hàng ngày. Các sếp nhà ta sau khi QH bầu chừng 1 năm là thấy thay da đổi thịt hết: đẫy đà phương vệ và tóc đen lại thời trai trẻ, ngược hẳn vẻ hốc hác của Obama và Putin sau 1 năm nhậm chức... Nhà em cám ơn bác đã khuyến cáo trau chuốt bản dịch, nhưng khó có time để ngẫm vần ý hàng giờ được bác ạ. Ngay các bài bác đưa lên thì bài dài em không đọc đủ được, chỉ ưa coi những bài ngăn ngắn, dịch cũng nhanh mà đọc cũng dễ quay vòng để hiểu ý tứ. Lúc nào rảnh em thử sửa lại lời dịch "Băng giá..." xem sao, nhưng chắc khó mà khá hơn, hay nhờ bác hoàn thiện giúp! |
Trích:
Trích:
Trích:
Thân mến. |
Samuil Marshak
NGƯỜI KỂ CHUYỆN CỔ TÍCH CHO THIẾU NHI (Bài đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ số 422 ngày 31-5-2006) NGUYÊN HÙNG http://www.ijc.ru/gze/marshak.jpg MarshakMarshak (1887-1964) là nhà thơ Nga, tác giả kinh điển của văn học thiếu nhi xô-viết (bao gồm thơ, truyện cổ tích, kịch). Ông là tác giả của nhiều tác phẩm thơ triết học, thơ trào lộng, các áng văn châm biếm chống phát-xít; ông đồng thời là người dịch các tác phẩm nổi tiếng của Burns, Shakespeare, Black và các truyện cổ tích của nhiều dân tộc khác nhau trên thế giới. Marshak là dịch giả đã làm giàu nền thơ ca Nga xô-viết bằng những bản chuyển ngữ tài hoa các bản sô-nê của Shakespeare, những bài ca và ballad của R.Burns, W.Black, U.Vordsworth, Dj.Keats, R.Kipling, A.Milton và nhiều nhà thơ Ucraine, Belarus, Lítva, Armenia… Samuil Marshak sinh ra tại Voronedzh trong gia đình một kỹ thuật viên đồng thời là nhà sáng chế có tài, người luôn ủng hộ các con hướng tới tri thức, quan tâm đến thế giới và mọi người. Thời thơ ấu của Marshak trôi qua tại thị trấn Ostrogojrsk ở Voronedzh. Từ hồi còn ở trường trung học, Marshak đã được thầy giáo ngôn ngữ truyền cho tình yêu giành cho thơ ca cổ điển, qua đó khơi dậy trong anh năng khiếu văn học của một nhà thơ tương lai. Một trong những cuốn vở ghi chép thơ ca của Marshak tình cờ rơi vào tay V. Stasov, nhà nghiên cứu và phê bình văn học nổi tiếng Nga, người rất có ảnh hưởng tới số phận của giới trẻ. Với sự giúp đỡ của Stasov anh đã chuyển đến Peterburg, học tại một trong những trường trung học tốt nhất, có điều kiện đọc sách vào bất kỳ lúc nào tại thư viện nơi Stasov làm việc. Năm 1904, tại nhà Stasov, Marshak làm quen với M.Gorky. Nhà văn Nga nổi tiếng tỏ ra đặc biệt chú ý đến Marshak và đã mời anh đến nhà nghỉ của mình ở Biển Đen. Tại đây Marshak được chữa bệnh, học tập, đọc rất nhiều sách và được gặp gỡ tiếp xúc với nhiều người khác nhau. Khi gia đình Gorky buộc phải rời Krưm vì sự khủng bố của chính phủ Nga hoàng sau cách mạng 1905, Marshak trở lại Peterburg, nơi bố anh cũng vừa chuyển đến làm việc trong một nhà máy gần Nevskaia. Chính nơi đây Marshak đã bắt đầu những năm tuổi trẻ đầy khó khăn: vừa đến trường, vừa cộng tác với các tạp chí và các tuyển thư văn học. Mấy năm sau, Marshak rời Peterburg đi học ở Anh, đầu tiên là Trường cao đẳng kỹ thuật, sau đó là trường Đại học tổng hợp London. Vào những kỳ nghỉ Marshak thường đi bộ tham quan khắp nước Anh, nghe các bài dân ca của xứ sở sương mù. Và ngay từ lúc đó, anh đã bắt đầu các bản dịch ballad Anh mà về sau đã góp phần làm rạng danh Marshak. Năm 1904 Marshak trở về nước, làm việc ở tỉnh, lần đầu tiên công bố các bản dịch của mình tại các tạp chí “Những ghi chép phương Bắc” và “Ý tưởng Nga”. Trong những năm chiến tranh, ông tham gia tích cực các hoạt động cứu trợ trẻ em của các gia đình chạy loạn. Từ những năm đầu của thập niên 20 (1920-x), Marshak tham gia vào việc tổ chức các nhà trẻ ở Krasnodar, thành lập nhà hát thiếu nhi và tại đây bắt đầu sự nghiệp sáng tạo của một nhà văn thiếu nhi. Năm 1923, trở lại Petrograd, Marshak bắt tay viết những câu chuyện đặc sắc đầu tiên của mình bằng thơ, như “Câu chuyện về con chuột ngu ngốc”, “Cháy”, “Bưu cục”, dịch từ tiếng Anh các bài dân ca thiếu nhi, như “Ngôi nhà Djrek xây”…Thời gian này ông đồng thời là người lãnh đạo một trong những tạp chí thiếu nhi xô-viết đầu tiên – “Robinzon mới”, nơi tập hợp được nhiều nhà văn thiếu nhi tài năng. Marshak là cộng tác viên đầu tiên của M.Gorky, người thành lập Nhà xuất bản văn học thiếu nhi (Detgiz). Thơ của Marshak viết cho thiếu nhi, những bài hát của ông, các câu đố, những mẩu chuyện và những lời mào đầu cho các truyện cổ tích, những vở kịch cho nhà hát thiếu nhi đã được tập hợp thành tuyển “Truyện cổ tích, bài hát, câu đố” từng được tái bản nhiều lần và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Năm 1937 Marshak chuyển về Moskva. Trong thời gian những năm 1930-x ông viết truyện trào phúng “Ngài Tvister”, tác phẩm thơ “Chuyện kể về người anh hùng vô danh”, v.v…Trong những năm Chiến tranh Vệ quốc ông hợp tác tích cực với các tờ báo – mảng thơ trào phúng, văn đả kích của ông đã góp tiếng nói chế nhạo, vạch mặt kẻ thù. Những năm sau chiến tranh, ông cho xuất bản các tập sách thơ “Bưu điện thời chiến”, “Truyện cổ tích”, bộ bách khoa toàn thư thơ ca “Cuộc hành trình vui nhộn từ A đến Z”. Ông cũng dành nhiều thời gian cho công việc dịch Shakespeare, Burns, Black, U.Vordsworth, Dj.Keats, R.Kipling, A.Milton, v.v… Về các sáng tác kịch của Marshak, có thể kể đến những tác phẩm đặc biệt nổi tiếng, như các vở kịch “12 tháng”, “Những đồ vật thông minh”, “Ngôi nhà mèo”… Ngoài ra, Marshak cũng đã để lại dấu ấn của mình trong các tác phẩm điện ảnh với tư cách là nhà biên kịch, như “Những chuyện phiêu lưu của chú Tễu” (1937), “Frits trẻ thơ” (1943), “Chipollino” (1973). Năm 1963, tập “Thơ trữ tình chọn lọc” được xuất bản. Đây có thể được coi là cuốn sách cuối cùng của Marshak. Là tác gia kinh điển của nền văn học Nga thế kỷ XX được công chúng thừa nhận, yêu mến và tìm đọc, Marshak đã được trao tặng các danh hiệu cao quý nhất: bên cạnh giải thưởng Lê-nin là giải thưởng quốc gia các năm 1942, 1946, 1949, 1951. Samuil Marshak mất ngày 4 tháng sáu năm 1964 tại Moskva, hưởng thọ 77 tuổi. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu dưới đây chùm thơ – câu đố của Samuil Marshak với các bản dịch của Nguyên Hùng được thực hiện từ nguyên bản tiếng Nga. CHÙM THƠ CÂU ĐỐ CỦA SAMUIL MARSHAK (Nguyên Hùng dịch)
Mời các bạn giải đố, xem thơ viết về những gì nhé? |
Câu 1 có lẽ là "Mưa"
Câu 2 "Cái Kính" Câu 3 "Dép, giầy" Câu 4 đích thị "Hàng cây" (5)"Cây thông Năm mới" 6 says "Đồng hồ" Câu 7 em còn lơ ngơ Hình như là "Chó"- cầy tơ - "Mộc tồn" Em chạyyyyyyyyyy.:emoticon-0111-blush |
5. "Quyển lịch"
7. Chắc là "Cánh cửa" P.S. Câu 1 ở tiếng Nga dễ hơn, vì không dịch dòng: "А в дом не попадет" - Nó không rơi vào nhà. |
Nhà em thấy đáp án:
1.Mưa 2.Kính 3.Đôi ủng 4.Cái cây (cây cối) 5.Cuốn lịch 6.Đồng hồ 7.Cánh cửa |
Trích:
Chạy rào rào ngoài ruộng với lại ồn ào ngoài vườn (dạo này có vẻ đói ăn, chạy đâu mất tiêu - té ra là rình trước nhà siren) mà làm cho siren sợ đến mất vía không dám thò ra khỏi nhà, nhất là khi nó lại còn chầu hẫu ngoài sân, hẳn phải là tên Hổ gừ. Cứ xem ảnh này thì biết có y thì siren run biết chừng nào. http://diendan.nuocnga.net/picture.p...&pictureid=309 |
Gửi Siren, Dmitri Tran, minminixi
Trích:
Đáp án các bạn đưa ra chẳng phải chỉnh, có chăng cần nói rõ hơn ở mục 5 là Cuốn lịch block Trích:
Thân mến, N.H. |
Trong phạm vi topic này, N.A muốn tập hợp các biên khảo của mình và một số thành viên 3N về một số nhà thơ Nga, kèm theo bản dịch một số tác phẩm thơ của họ. Các bài này trước đây đã từng giới thiệu ở trang chủ nuocnga.net và nhiều bài trong số đó đã được đăng tạp chí Tài Hoa Trẻ (phụ bản của báo Giáo dục & Thời đại).
(trích lời phi lộ) F. I. CHUTTREV: “Anh gặp lại em, và cả thời dĩ vãng…” LƯU HẢI HÀ Nhà ngoại giao trẻ 19 tuổi Fedor Ivanovich Chuttrev được giao công vụ ở Bavaria (Đức). Ở đó, anh đã làm quen với một thiếu nữ 16 tuổi xinh đẹp, cô Amaliya Lerchenfeld. Họ cũng nhau đi dạo dọc bờ sông Đa nuýp, cũng ngắm phong cảnh xung quanh, và dưới ảnh hưởng của những cảm xúc mà nàng Amaliya tuyệt đẹp gợi nên, nhà thơ đã viết một bài thơ, mà sau này N.A.Nekrasov đã gọi là một trong những bài thơ trữ tình Nga hay nhất.
Trong bài thơ này, Chuttrev đã truyền đạt buổi chiều đang dần tắt, bóng đêm đang dần buông, và niềm hạnh phúc vì bên cạnh là một người đem đến niềm vui và khát vọng sống. Amaliya không biết tiếng Nga, và không hiểu những bài thơ mà nàng là nguồn cảm hứng. Mặc dù Chuttrev không chỉ viết cho nàng, mà cho chính mình. Chưa bao giờ anh quan tâm đến chuyện công bố những bài thơ ấy. Nhà ngoại giao trẻ tuổi đang rất quan tâm đến sự nghiệp của mình và còn quan tâm hơn đến những tình cảm êm dịu. Nên mỗi khi bạn bè yêu cầu bản thảo thì anh thường đùa: Mình rất ghét những tờ giấy đã có chữ, nhất là chữ của chính mình. Vì vậy anh đã đánh mất rất nhiều những ghi chép của mình. Và người phát hiện ra anh là N.A.Nekrasov – một người có linh tính đặc biệt trong việc phát hiện những nhà văn tài năng. N.A.Nekrasov đã khâm phục một cách chân thành những vần thơ của người cùng thời: “Một bức tranh tuyệt vời!”, “Những vần thơ đáng kinh ngạc…” Thế còn “Nàng thơ” xinh đẹp của Chuttrev thì sao? Nàng không đáp lại tình cảm của nhà thơ, mà lại đi lấy nam tước Krudener. Vào năm 1864, thì nhà thơ lúc ấy đã không còn trẻ nữa gặp lại Amaliya. Nàng vẫn xinh đẹp, dường như năm tháng không có quyền lực đối với nàng. Nhà thơ nhớ lại những cuộc gặp gỡ đầu tiên của họ, và đã viết bài thơ rất nổi tiếng “Gửi B.”:
Amaliya Krudener đến thăm nhà thơ năm 1873, lúc ông đã nằm trên giường bệnh và chẳng còn sống được bao nhiêu nữa. Nhưng tình bạn của nàng với Chuttrev thì vẫn còn tiếp tục mãi đến những ngày cuối đời của nhà thơ. Chính nàng đã đem những bài thơ của Chuttrev đến nước Nga.
|
Hai câu cuối vốn hay nhất của bài này nhà em trình bác phương án sau:
Như sau phút chia ly bằng thế kỷ Ta lại thấy em, như hiển hiện trong mơ,- Và trong ta- lại nghe dồn thổn thức, Như cả trăm năm chưa lặng tiếng bao giờ Nơi đó có đâu chỉ niềm hoài niệm Có cả cuộc đời đáp tiếng gọi hồi sinh Và cả mê say trong đôi ta rực cháy, Và cả tình yêu trong tim lại dâng đầy. |
Trích:
Cám ơn BT đã hưởng ứng bằng phần dịch cho 2 khổ cuối của bài thơ nhé. |
Khi trái tim còn đắm say, thao thức
Là trong ta mãi còn đó tình yêu! Hai câu cuối này của bác NA đã thể hiện được đúng ý nguyên tác: Cái đắm say còn lại ở cả hai người, nhưng nhà thơ tế nhị nói "tình yêu" chỉ còn lại trong tim mình (ta) thôi. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 05:45. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.