Các qui định của Luật đất đai 2003 liên quan đến giao/thuê đất nông nghiệp:
(tiếp theo)
Trắng đen đã rõ như vậy. Các bên phải làm thế nào để vừa được xem là tuân thủ pháp luật, vừa đảm bảo không bị chia sẻ hoặc sút giảm quyền lợi kinh tế mà 40ha đầm ao này mang lại? Tại sao và vì cái gì để sự việc nhùng nhằng và lớn chuyện đến ngày hôm nay?
Loại đất là điều mà cả 2 bên đều nghĩ đến đầu tiên như một cái phao. Cụm từ “Đất bãi bồi ven sông, ven biển”, “Đất chưa đưa vào sử dụng” xem ra khá hiệu quả trong trường hợp này vì:
Điều 80. Đất bãi bồi ven sông, ven biển
Trích:
1. Đất bãi bồi ven sông, ven biển bao gồm đất bãi bồi ven sông, đất cù lao trên sông, đất bãi bồi ven biển và đất cù lao trên biển.
2. Đất bãi bồi ven sông, ven biển thuộc địa phận xã, phường, thị trấn nào thì do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn đó quản lý.
Đất bãi bồi ven sông, ven biển thường xuyên được bồi tụ hoặc thường bị sạt lở do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quản lý và bảo vệ theo quy định của Chính phủ.
3. Đất bãi bồi ven sông, ven biển được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối.
Đất bãi bồi ven sông, ven biển chưa sử dụng được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá nhân tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất để sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
Đất bãi bồi ven sông, ven biển được Nhà nước cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện dự án đầu tư sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối.
4. Hộ gia đình, cá nhân đã được Nhà nước giao đất bãi bồi ven sông, ven biển thì được tiếp tục sử dụng theo thời hạn giao đất còn lại.
5. Nhà nước khuyến khích tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân đầu tư đưa đất bãi bồi ven sông, ven biển vào sử dụng.
|
Điều 29 ( Luật Đất đai 1987)
Trích:
1- Ở những nơi còn đất chưa sử dụng thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể giao loại đất này cho các tổ chức hoặc các hộ thành viên của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, ngư nghiệp, nghề muối, nông trường, lâm trường, trạm, trại nông nghiệp, lâm nghiệp, công nhân, viên chức và nhân dân để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.
2- Đối với đất trống, đồi núi trọc, rừng nghèo kiệt thì được giao theo chính sách giao đất, giao rừng để trồng trọt và chăn nuôi; đất giao cho mỗi tổ chức và cá nhân là căn cứ vào khả năng sử dụng, không hạn chế về diện tích.
3- Khi giao đất nói ở khoản 1 và khoản 2 của Điều này phải xác định rõ mục đích và thời hạn sử dụng để người sử dụng đất yên tâm sản xuất, có thu hoạch thoả đáng so với công sức đã đầu tư đối với từng loại cây trồng và vật nuôi.
4- Đất được giao nói trong Điều này không tính vào mức đất làm kinh tế gia đình hoặc mức đất giao cho nông dân cá thể quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Luật này.
|
Còn theo Luật Đất đai 1993 thì chỉ đơn giản như 2 điều sau:
Trích:
Điều 49
Đất bãi bồi của sông thuộc địa phận xã nào thì do Uỷ ban nhân dân xã đó quản lý và trình Uỷ ban nhân dân huyện quyết định kế hoạch sử dụng. Trong trường hợp có tranh chấp thì trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định tại Điều 38 và Điều 39 của Luật này quyết định.
Điều 50
Việc quản lý, sử dụng đất mới bồi ven biển do Chính phủ quy định.
|
Thế nhưng cho dù ý chí chủ quan hay do năng lực hạn chế thì nhận định loại đất nào cũng phải có căn cứ cả. Trước hết là các điều luật:
Điều 14. Căn cứ để xác định loại đất trên thực địa
Trích:
Việc xác định loại đất trên thực địa theo các căn cứ sau đây:
1. Theo hiện trạng sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;
2. Theo quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
3. Theo đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất đối với trường hợp không phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất.
|
Điều 20. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Trích:
1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được lập năm năm một lần gắn với việc kiểm kê đất đai quy định tại Điều 53 của Luật này để phục vụ cho việc quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
2. Bản đồ quy hoạch sử dụng đất được lập mười năm một lần gắn với kỳ quy hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 24 của Luật này.
Bản đồ quy hoạch sử dụng đất của xã, phường, thị trấn được lập trên bản đồ địa chính gọi là bản đồ quy hoạch sử dụng đất chi tiết.
|
Giải quyết việc này không khó vì đều là “ giấy trắng mực đen” kèm theo cả “ bản đồ” nữa. Cái khó là huyện Tiên Lãng thuộc trường hợp thí điểm không tổ chức HĐND cấp huyện nên không rõ điều này có ảnh hưởng nhiều đến trình tự thực hiện và phê duyệt cái qui hoạch, kế hoạch sử dụng đất nàyhay không (từ 2009). Nhưng do chưa thấy thông tin nào nhắc đến nên muốn biết thì phải chờ kết luận của các cấp thẩm quyền.
(còn tiếp) vì phải đi sắm thêm cái "mũ bảo hiểm" không khéo vỡ đầu!
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза...
Album Скучаю по России
Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 03-03-2012 thời gian gửi bài 10:34
|