|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#41
|
||||
|
||||
|
Mùa thu năm 1941 ấy, hôm về vĩnh biệt bà ngoại sắp mất, tôi vừa đến nhà máy Xê-mi-ni-cốp-xki và đi qua khỏi ngôi trường gạch cũ nơi chúng tôi theo học ngày xưa, thì kỷ niệm ấy ( không, đúng hơn là một ý chí mãnh liệt, lúc nào cũng sống động, muốn được hy sinh vì cách mạng), thì nỗi rung động thiêng liêng thời niên thiếu mà lần đầu tiên trong buổi biểu tình phản đối huân tước Cơ-giơn cuộn lên trong người tôi như một ngọn sóng trào, rồi đổ xuống và hoà tan ngay vào tâm trạng mới, vào ý chí đề kháng, nó làm tiêu tan mọi nỗi sợ hãi và cho tôi cảm thấy vô cùng tự do. Không thể nào tự do hơn thế này ! Ấy thế mà cảm giác tự do vẫn không ngừng lớn lên trong tôi và xung quanh tôi, và những kỷ niệm mới ( Những cảnh cũ được sống lại thì đúng hơn ) nảy ra như những mắt xích, hết khâu này đến khâu nọ nối liền với nhau ...
...Cuộc biểu tình ( hồi ấy người ta chưa quen gọi là “ tuần hành thị uy ” như ngày nay ) phản đối Cơ-giơn xảy ra vào tháng 5 năm 1923. Hồi này, Lê-nin yếu rồi. Nhưng tháng giêng năm 1924, khi chúng tôi chuẩn bị tối kỷ niệm Ngày chủ nhật đẫm máu, Người lại càng yếu hơn, và những bản thông báo về tình hình sức khoẻ của người đã cho thấy trước điều bất hạnh nhất ... Không ! Không thể được ! Không thể nào tin được !... ...Cái chết của Lê-nin đánh dấu một sự ngắt quãng đối với thế hệ tôi: chúng tôi tiến thẳng từ tuổi ấu thơ sang tuổi thanh niên, gần như không có quãng giao thời, không trải qua cái thời kỳ mù mịt và mơ hồ mà người ta goị là tuổi thiếu niên. Đúng vào cái hôm rét như cắt thịt, khi khu phố thợ thuyền chúng tôi, cái Cửa ô Nép-xki phủ đầy tuyết và băng giá cất tiếng gào lên đến đứt hơi bằng tất cả còi tầm của các nhà máy đúc, nhà máy sợi, nhà máy dệt, của tất cả những xí nghiệp đã đứng lên theo tiếng gọi của Lê-nin và đã tiến bước theo Người năm 1917, khi còi các đầu máy xe lửa nghẹn ngào nấc lên những tiếng nức nở bi ai thì đột nhiên, chúng tôi lớn phổng lên nhiều tuổi, chúng tôi trở nên những người trưởng thành. Cửa ô Nép-xki than khóc như một bà vợ goá của nước Nga xưa, như mẹ vừa bỏ mất đứa con. Cái Cửa ô Nép-xki với những ngôi nhà gỗ ván ngập dưới tang tóc và tuyết phủ chiều hôm ấy lớn tiếng gào khóc, gào khóc mà không hề quan tâm đến bất kỳ ai khác, không quan tâm đến cả bản thân mình, nó cư gào khóc mãi không nguôi ! Ba mươi lăm năm sau, tôi còn nghe trong tai tiếng rầm rầm kỳ diệu của ngày lễ tang ấy. Ở nội thành nơi có những hiệu bánh đầy bánh ngọt, dọc đại lộ Nép-xki nơi bọn mới phát nhờ chính sách Tân kinh tế đi dạo phất phơ, tiếng rầm rầm đó hẳn ở chỗ chúng tôi, là nơi san sát các nhà máy. Tiếng còi các nhà máy ngoại ô nghe khác những buổi sáng bình thường, khi chúng theo nhau lần lượt rúc lên báo giờ tầm làm. Ngày hôm ấy tiếng gào của chúng cùng bật ra một lúc. Thoạt tiên tôi còn nhận được tiếng trầm trầm hùng mạnh của còi nhà máy Xê-mi-ni-cốp-xki và tiếng nheo nhép của còi xưởng máy chỗ ông nội tôi làm. Rồi tất cả đều cùng hoà vào một tiếng ồm ồm ghê gớm. Đứng giữa sân nhà đầy tuyết cùng với cô bạn Va-li-a, chúng tôi nghe dội vang tiếng gào la bi thảm và đột nhiên tôi cảm thấy, hình như lồng ngực tôi bị xé ra, một luồng gió buốt chảy luồn vào đấy, và tôi nghẹt thở như thiếu không khí vậy. Bản thân tôi cũng trở thành tiếng gào la, tôi tan biến mất, không rõ một cái gì hút tôi đi, bứt tôi khỏi mặt đất. Như thể một tiếng còi hơi khổng lồ đang đớp lấy cái sân, đớp lấy những đống tuyết, cái chái nhỏ và toàn bộ trái đất cùng với tôi trong đó. Ừ, tôi nghĩ thầm, trên khắp mặt đất ở đâu cũng thế này. Ở đâu cũng cùng một tiếng gào la này. Và mọi người đều đứng yên lắng nghe, không nhúc nhích, như Va-li-a và tôi. Tôi có cảm giác giống như hồi ở nhà ga Vôn-ga, khi chúng tôi từ nơi tản cư trở về Pê-trô-grát. Tôi cảm thấy không còn có cái tôi riêng tư nữa. Không hiểu có một cái gì ghê gớm và cuồng loạn đang gào thét lên nỗi đau đớn của nó, và tôi trở thành một phần của cái tiếng khóc than ấy trong đó có mọi vật bị nhấn chìm. Vũ trụ đã hoá thành đá, và bản thân tôi gắn liền vào vũ trụ hoá thành đá. Chúng tôi chỉ còn là một khối băng. Những tiếng gào thét, nỗi đau xót đóng thành băng của mọi vật ấy, đấy cũng là một lời thách thức toàn thế giới! Hoàn toàn đúng : một lời thách thức! Đến mức độ mãnh liệt ấy, những tiếng nức nở của của Cửa ô âm vang như như một lời doạ dẫm hay nói đúng hơn, một tiếng thét chiến thắng. Tiếng gào la bi thảm ấy kéo dài hồi lâu, kéo dài một thời gian vô tận, tôi cảm thấy hình như thế. Rồi nó dịu dần. Trong những khoảnh khắc mà dài vô cùng tận, chỉ còn nghe mỗi tiếng nức nở nhức nhối của một con tu hú trong sân một nhà máy kề bên, rồi chính nó cũng im nốt. Một sự im lặng hoàn toàn đè xuống cái sân đắm trong đêm tối, một sự im lặng kinh khủng. Chúng tôi đứng nghiêm không động đậy, lặng câm ... Cuối cùng tôi nói : - Va-li-a, mình ra nhập Đoàn đây. Ngay tức khắc. Mình chưa đủ tuổi nhưng mình xin được chiếu cố. Bà mình không đồng tình vì bà cụ cho là Đoàn bài bác Đức Chúa Trời, còn mẹ mình không đồng tình vì đoàn có bọn con trai. Nhưng mình cứ ghi tên. Va-li-a Ban-ki-na, một con búp bê bé tí tóc nâu, se sẽ trả lời : - Mình cũng vậy ... Chúng tôi tiếp tục nói, vẫn đứng nghiêm không nhúc nhích : - Va-li-a ạ, mình sắp nói cho cậu nghe một điều bí mật ghê gớm : mình không tin là có Chúa. Không tin từ khá lâu rồi ...Không có Chúa đâu, cậu rõ chứ? - Rõ - Va-li-a đáp – Mình cũng nghĩ thế, mình ra nhập Đoàn Một niềm hạnh phúc hoàn toàn mới mẻ, hơi khủng khiếp chẹn hơi thở của tôi lại. Tôi nói : - Va-li-a ạ, mình vào Đoàn và mình và mình sẽ trở thành một người cách mạng chuyên nghiệp suốt đời, như Lê-nin. Một cái rùng mình xuyên suốt xương sống tôi. Đó không phỉa là vì cái giá rét ban đêm, mà là do một cơn buốt lạnh từ bên trong, một cái rùng mình do từ chối bỏ, cái rùng mình vì say sưa. Không có ý thức, nhưng bằng cả con người tôi, cả thịt da, cả tâm hồn, tôi vừa hiểu rằng như vậy là tôi đã thốt ra một lời thề, một lời thề mà tôi sẽ không thể nào vi phạm, bởi vì từ lúc tuyên thệ một cuộc đời mới đã bắt đầu với tôi và từ bỏ nó thì chẳng khác gì thôi không sống nữa. ... Và cả đến ngày nay, cái đã cho tôi sức lực để sống một cuộc đời đáng sống bất chấp mọi nỗi chua cay, để sống tất cả cái tôi, ấy là cái ý thức nhận thấy rằng mình đã không vi phạm lời thề thuở thiếu niên, ý thức thấy mình thuộc về Đảng đã mang dấu ấn của Lê-nin.
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
huong duong (20-08-2010) | ||
|
#42
|
||||
|
||||
|
“ NGƯỜI TA ĐĂNG THƠ CON Ở CHỖ BA ”
... Chúng tôi đứng sững ở đấy, câm lặng, đứng nghiêm giữa những đống tuyết, chợt có tiếng bà nội Ôn-ga gọi tôi qua cửa thông hơi : - Ôn-ga, con bé ngốc kia, mày sắp chết cóng đấy. Vào ngay, không có tao ra nắm tóc kéo vào bây giờ. Giọng bà nội bực tức và còn giận giữ nữa là khác, nhưng từ tay bà nội Ôn-ga và những lời doạ dẫm của bà phỏng còn làm gì được tôi? Bà ngoại Ma-sa đối với tôi có quan trọng gì ? Có quan trọng gì cả ba tôi và mẹ tôi nữa ? Có quan trọng gì Mu-xi-a ? Cả cái nhà này, thật ra, có gì quan trọng đối với tôi ? Thấm thía sâu sắc tinh thần hy sinh và sự thanh thản của tâm hồn, cái cảm giác diệu kỳ xâm chiếm tôi từ lúc tôi tuyên thệ giữa những túp lều nhỏ ngập dưới tuyết trong sân, tôi lặng lẽ đi vào bếp, đến ngồi vào cái góc của Đu-ni-a và bắt tay làm một bài thơ về Lê-nin, trong đó tôi cố nói thêm lên những điều tôi vừa mới sống. Còi ở Cửa ô ta rú lên ghê gớm quá Các nhà máy dưòng như quỳ gối nghiêng mình Cái chết ấy làm cho chúng từ nay côi cút Cái chết của Lê-nin... Lê-nin kính yêu của chúng ta ... Ghi lên giấy xong những câu thơ vừa hình thành trong đầu óc ấy, tôi rất làm đau xót, một nỗi đau xót không thể nào chịu đựng được, đến nỗi nước mắt tôi trào ra. Không nức nở, tôi lấy ngón tay trỏ quệt nước mắt và tiếp tục viết, viết rất láu, vừa cố gắng kết thúc mỗi khổ thơ bằng câu “ Lê-nin kính yêu của chúng ta ...” Tôi chọn nhà bếp chứ không phải nhà ăn là có dụng tâm : Để cho không một ai biết được tôi đang làm thơ. Nhưng bao tôi trông thấy cúi gập người trên cuốn vở. Tôi không rõ ý nghĩa gì đã làm ba mỉm cười, chợt trở nên nghiêm trang, người nhẹ nhàng đến gần tôi và tế nhị hỏi : - Cảm hứng đến với con đấy chăng ? - Thưa ba, vâng. - Tốt lắm ! Viết đi, con, ba sẽ không làm giầy con đâu. Nhưng xong rồi đưa cho ba xem nhe ! - Nếu con làm được Cái sính làm thơ của tôi, gây nên những phản ứng khác nhau ở trong nhà, Ơ-đô-xi, người mà mỗi lần tôi làm được ít câu thơ tôi vẫn đọc cho nghe trước hết để hỏi ý kiến, lúc này lắng nghe , hết sức ngạc nhiên gần như sùng kính nữa : - Tự đầu óc cô nghĩ ra tất cả những cái đó ư ? - Dĩ nhiên rồi, chị Đu-ni-a ạ. - Cô mới thông minh làm sao ! Ấy thế mà tôi, con vật khốn khổ này, tôi vẫn chưa biết được mặt chữ ! Có phải tôi cần biết chữ để làm thơ đâu : mà chỉ để viết một bức thư cho ông anh tội nghiệp của tôi ở Gu-jô-vô, một bức thư cỏn con thôi, nhắn rằng tôi gửi lời thăm anh ấy ! Mẹ tôi thì cứ mê tít lên về những tác phẩm của tôi, bất kỳ nó ra thế nào, và sự phấn khởi của mẹ làm cho tôi xấu hổ. Hơn nữa, mẹ tôi lại thu ngay những bản thảo của tôi đem nhét chặt trong ngăn kéo, để sau đấy đọc lên cho bạn bè và khách khứa nghe, và không hết lời tự khen là sinh được một cô gái tài hoa thế này. Tôi đến phát khóc vì chuyện ấy ... Nhưng ba tôi biết rõ cái gì mình thích và cái gì mình không thích. Khi tôi đọc cho người nghe bài thơ làm về mảnh vườn nhà, ông cụ gật đầu, lắc lắc mái tóc bờm và tuyên bố : “ Thơ hạng nhất, không kém gì Pu-skin ! ” Sau đấy, suốt cả buổi tối, đầu óc rối bù, ba tôi đi dạo theo thường lệ từ buồng này sang buồng khác, vừa ngâm nga câu thơ đầu : Vườn cũ ngủ im, trắng xoá sương mù Ngược lại, một hôm, do mối tình say đắm đối với một cậu học sinh lớp 9B gợi nên, tôi đã làm một đoạn bốn câu thơ : Ơi linh lan, những bông hoa thơm ngát, Những cánh đẹp nức hương Hỡi hoa ơi, lệ rơi lấp lánh Như ước mơ người thiếu nữ ... thì ba tôi chỉ “ Hừm!” một tiếng ( thật đến bực) và cất giọng hát điệu Ti-pơ-ra-ri : Ướt át, vâng ướt át Ướt át đấy, thưa các ngài. Tôi biết rằng ở miệng ba tôi, hai tiếng ướt át là lời nhiếc móc sâu cay nhất, và tôi oà lên khóc vì nhục nhã. Mẹ tôi cố thầm vụng dỗ dành tôi. Mẹ tôi nói : “ Thơ của con hay lắm, ba con chẳng hiểu một tí gì đâu, bởi vì ngay mẹ đây ba con cũng chẳng hiểu được cơ mà ”. Tiếc thay, tôi lại biết rằng ba tôi hiểu tất cả ... Chính vì vậy, khi tôi làm xong bài thơ đầu tiên viết về cách mạng, bài thơ của tôi về Lê-nin, tôi đọc cho ba tôi nghe, cho riêng ba tôi nghe thôi, không có mặt mẹ tôi, Mu-xi-a và cả Ơ-đô-xi nữa. Tim tôi đập thình thịch khi tôi đọc thơ và càng đập mạnh hơn nữa lúc đọc xong. Nhưng ba tôi chẳng nói gì. Ba nhìn tôi hồi lâu, một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ rồi chia tay ra cầm lấy bài thơ, lẩm nhẩm đọc và nghiêm trang bảo - Con chép sạch lại cho ba, và cố viết cho ngay ngắn vào. Ba sẽ đưa cho các đồng chí phụ trách báo tường xem. Có thể họ sẽ đăng lên báo. Cái này có thể đăng được đây. Hai ngày sau, ba tôi đi làm về với một vẻ mặt nghiêm trang, hơi trịnh trọng là khác, nhưng rõ ràng là cực kỳ hoan hỉ. Ba tôi hoàn toàn không biết che giấu vờ vĩnh khi có điều vui mừng, ít ra là che giấu tạm thời, dưới một bề ngoài nghiêm trang hoặc dửng dưng : ba tôi quá sốt ruột báo cho người khác cùng hay điều mừng vui ấy! Ngược lại, những khi có chuyện phiền muộn, ông cụ không bao giờ phàn nàn : Người lấy làm xấu hổ vì những điều đó, làm như sở dĩ có phiền muộn là do lỗi tại người... - Này, Ôn-ga, tình hình diễn ra như thế này... – ba tôi mở đầu một cách khá long trọng. Đến đấy, người vỗ tay và thốt lên : - Người ta đã đăng thơ cho con rồi đấy ! Con biết chứ ? Người ta đã đăng thơ cho con lên tờ báo tường xí nghiệp của ba ! Mọi người đều cho rằng bài thơ thật tuyệt. Ba có lời khen ngợi con ! Bây giờ thơ con được in, thế là con đã trở thành một thi sĩ thực thụ rồi đấy nhé ! Thật là khoái trá và có phần hơi kinh sợ nữa. Tôi xấu hổ, rồi nhắm mắt lại, dang hai tay và xoay tít người như một con quay xoay ít vòng thôi, nhưng rất nhanh, y như hồi còn bé tí . Rồi tôi đến nhìn vào gương để xem mình bây giờ ra thế nào rồi, bây giờ mà người ta đã đăng thơ tôi và tôi đã trở thành một thi sĩ thực thụ . Than ôi ! tôi vẫn có cái mũi hếch ấy và những bím tóc dài vàng xơ xác ấy. Trời đất, tôi ước ao làm sao đựơc cắt tóc ngắn như một nữ đoàn viên Côm-xô-môn thực thụ, với chiếc áo khoác ngoài kiểu Nga thôi, bởi vì ước mơ có một chiếc áo da ngắn thì không thể nào có được, cũng giống như ước mơ có cái mũi dọc dừa vậy thôi ...Thế nhưng dù sao thơ tôi cũng đã được đăng báo, tôi xin phép ba cho đi theo đến xưởng máy của người để được ngắm nghía tác phẩm của mình trên tờ báo tường! Ngày hôm sau, vào một buổi sáng rét buốt, trời đầy sương mù hồng nhạt, tôi đáp xe ngựa đến tận xưởng làm đồ sứ, rồi sau khi qua sông Nê-va đóng băng, theo con đưòng mòn dội vang tiếng chân của những người đi bộ, tôi chạy dọc bờ sông bên hữu ngạn nơi nhà máy dệt dạ của ba tôi nằm bên cạnh những ngôi nhà gạch thấp thuộc xí nghiệp giấy Véc-gu-nin cũ, rồi vào bệnh xá của người, một ngôi nhà con bằng gỗ đáng yêu giữa mảnh vườn rào bằng bờ giậu cao ngang nửa người. ba tôi dẫn tôi đến trụ sở công đoàn, nơi treo tờ báo tường. Bài thơ của tôi được đánh máy bằng một chiếc máy chữ thật, với những con chữ lớn màu tím không lấy gì làm thẳng hàng ( những chữ này leo lên trên dòng trong khi những chữ kia lại tụt xuống dưới ), nhưng đăng đúng vào chính giữa số báo, và trên đầu đề có hai lá cờ tang cắm chéo. Dưới bài thơ, người ta viết tên họ của tôi, bằng chữ hoa, kèm theo tên người lớn của tôi (đây là điều chủ yếu ) nghiã là “Ôn-ga”, chứ không phải một tên gọi tắt nào : “La-la”, “La-ca” hoặc “ La-lốt-sơ-ca” gì gì đấy như những người thân vẫn gọi tôi ở nhà . Tôi đứng lâu trước tờ báo tường, cũng để đọc những ý kiến phát biêu trong đó có nam nữ công nhân của xí nghiệp Thon-tơn cũ gợi lên những kỷ niệm của họ về Lê-nin. Công nhân ở đây thật sự quen biết Lê-nin bằng xương bằng thịt, vào thời gian Người còn trẻ , khi Người đáp xe ngựa đến tận Cửa ô Nép-xki để gặp những đồng chí hoạt động bí mật đầu tiên ở nhà máy . Và chính giữa những hồi ức bập bẹ, xù xì nhưng tràn trề một niềm thương mến trang nghiêm, một tình yêu không diễn tả nổi ấy, người ta đăng thơ tôi. Trong người tôi, bên cạnh niềm kiêu hãnh thấy mình trở thành một tác giả (cảm giác thật choáng váng) có lẫn sự ngượng ngùng đầu tiên vì đứng trước một vinh dự mà mình không xứng đáng ( cảm xúc ghê gớm làm sao!). Thật là đau lòng. Tôi bổ sung đầy đủ câu nói đã ám ảnh tôi từ bốn ngày nay: “ Tôi sẽ trở thành một người làm cách mạng chuyên nghiệp bằng thơ ca, và tôi sẽ vươn lên ngang tầm những thông tin viên công nhân”. ....Trên đường trở vào nội thành qua các đường phố vắng teo và lặng yên của Cửa ô Nép-xki, nhớ lại tờ báo tường với những dòng chữ tím xiên xẹo, được minh hoạ bằng những hình vẽ ngây thơ, tôi cảm thấy laịi vẫn niềm bối rối, vẫn nỗi khổ tâm như hồi ấy, vì cho đến bây giờ, tôi vẫn chưa vươn lên được ngang tầm những thông tin viên công nhân. Hiện tại lùi xa, xa mãi cho đến khi mờ đi trong đầu óc tôi; và những sự kiện mơ hồ của quá khứ xa xăm kéo đến tràn ngập người tôi và cuốn tôi đến những nơi xa lạ. Chỉ cần gợi lên những câu thơ lần đầu tiên được đăng báo là ngọn triều thơ đủ dấy lên cuốn hút tôi đi...
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#43
|
||||
|
||||
|
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG- LÉC-MÔN-TỐP
Thơ đã trở thành một mảng của đời tôi từ ngày tôi còn rất thơ ấu. Hồi tôi mới tập viết và mới và mới biết kẻ kiểu chữ in hoa, chưa biết ngắt câu, viết như nói ( bởi vì người ta nói thì không cần chấm phẩy, cứ thẳng liền một mạch ; một lần, vào buổi tối mùa đông dài dặc, mở một cuốn tuyển tập cổ văn đóng bìa màu xà-phòng tắm, tôi ngẫu nhiên đọc một đoạn tả cảnh bắt đầu như thế này : Phương bắc đánh tan mây mù Thở dài, gầm thét, và thế là Mùa đông thần diệu tiến đến đây * (* Thơ Pu-skin : Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin ) Tôi há hốc mồm. Dạo ấy đang đúng giữa mùa đông. Đường phố và vườn nhà chúng tôi đều được trang điểm bởi những cụm sương và những bông tuyết. Những câu thơ ấy hình như nói đến mùa đông chúng tôi, mùa đông mà tôi đang nhìn thấy. Nhưng nó nói một cách kinh lạ đến nỗi tôi hiểu ngay: mùa đông, ấy là một cái gì sống động, bởi vì nó tiến đến, đúng là một sức mạnh thần diệu. Và phương bắc cũng sống: nó gầm thét. Mùa đông ở trong bài thơ ấy và mùa đông ở Cửa ô Nép-xki cũng chỉ là một mà thôi. Nhưng viết thành thơ, nó mới đẹp làm sao! Tôi đọc đoạn thơ tả cảnh, đọc lại lần nữa, và đột nhiên tôi nảy ra một ao ước điên cuồng là làm sao tất cả những sự việc chân thật và đẹp đẽ kỳ diệu xiết bao ấy lại do chính mình nói lên! Bây giờ tôi không sao diễn tả đúng cơn say sưa mê mẩn lần đầu tiên nảy lên từ trái tim, trước sự kỳ diệu của thơ nó làm cho mọi sự vật đều sống động, đều có linh hồn. Và chăng, cơn say sưa ấy tự nó không diễn tả được, và người ta không bao giờ giải thích nổi nó. Chính đây là chỗ bí ẩn của thơ, chính trong sự bí ẩn ấy chứa đựng sức mạnh của thơ ca. Sau khi đã kiểm tra chắc chắn và không ai nhìn, tôi thầm vụng chép bài thơ trong tuyển tập cổ văn ấy ra một tờ giấy lớn, bằng chữ hoa in, không chừa khoảng cách giữa các từ. Tôi nứm cuốn sách rất xa vào dưới một chiếc ghế dài để cho không bao giờ ai có thể tìm lại nó nữa. Và tôi chạy đến bên bà ngoại Ma-sa: chả là hôm đó tôi đang ở chính trong buồng riêng của bà. Cả buồng bà nội lẫn buồng bà ngoại đều ở tầng trệt . - Bà ơi ! – Tôi kêu to, toàn thân run lên vì sung sướng – Bà ơi ! bà nghe những câu thơ tự cháu vừa làm ra đây này - Hoan hô ! – Bà tôi khen ngợi – Hay lắm ! Từ đấy, tôi không chút hoài nghi, những câu thơ ấy là do tôi làm ra. Thơ đầu tiên tôi yêu một cách có ý thức, tuy vậy lại là Léc-môn-tốp, một tập thơ Léc-môn-tốp lớn đóng bìa màu xám xỉn, với một bức chân dung người lính khing kỵ buồn rầu có đôi mắt to, vẽ “ bằng nét kẻ chỉ ” ( tức là một bức tranh khắc trên đồng ), ban đêm tôi giữ ở dưới gối và ban ngày không mấy lúc tôi rời khỏi tay, nếu không phải mạng bít tất hoặc đỡ đần một vài công việc nội trợ. Việc đó xảy ra đúng vào dạo trước khi chúng tôi đi U-gơ-lích. Hồi ấy tôi lên bảy. Chẳng bao lâu nữa là lên tám. Cái đẹp và tính người trong thơ Léc-môn-tốp, chỉ có tiềm thức tôi nhận ra. Như vậy nó chỉ càng tăng thêm quyền lực và càng quyến rũ tôi. một đoạn tả cảnh của Pút-skin đã giúp tôi phát hiện rằng mùa đông là một con vật sống, như cơn gió bắc. Léc-môn-tốp cho tôi thấy, không những mọi vật xung quanh tôi đều sống mà tất cả đều có quan hệ với tôi. Một lần đọc cũng đủ cho tôi không bao giờ quên được cây thông cô đơn, ngọn lá sồi, tảng đá, áng mây vàng, và tôi cảm thấy thương xót vô cùng cây thông, tảng đá, ngọn lá sồi nọ. Từ hôm ấy, cứ mỗi lần mùa thu trở về, tôi lại hiểu rằng lá cây ở Cửa ô Nép-xki đi về phương nam thôi, cũng như những áng mây màu ngọc vậy. Tôi biết rằng mỗi gốc cây trong mảnh vườn đầy bụi bặm và khó của nhà tôi cũng ước mơ được đến những chân trời khác, những chốn xa xôi kỳ diệu mà nó sẽ chẳng được thấy bao giờ. Nhưng tại sao tất cả những cái đó lại có quan hệ với tôi? Tại sao tôi lại vận vào mình sự thương xót đau đớn mà cây thông và tảng đá gợi nên trong tôi? Tại sao tôi cảm thấy cô đơn, rất đỗi cô đơn trên đời, cô đơn đến mức phát khóc lên được? Tại sao không một ai yêu tôi (bởi vì những người khác chỉ làm ra vẻ yêu tôi thôi)? Tại sao cây ngô đồng, cây ngô đồng kiêu kỳ, lại không muốn cho ngọn lá sồi là tôi đây nương náu ? Rét mướt, mùa hè và đau khổ Đã làm nó khô héo, úa tàn ...* ( * Thơ Léc-môn-tốp : bài Ngọn lá sồi ) Không, thật là quá sức tôi, tôi không thể nào chịu đựng nổi điều đó ! Chao ôi ! ước gì đựơc những ngọn chiều cuốn đi như cuốm sách buồm cô đơn! ứơc gì biển mênh mông cuốn đi, cuốn mình tôi cô đơn ! Bởi vì, trên mặt biển, cho dù cô đơn đến đâu người ta cũng không bao giờ sợ hãi. Cánh buồm không sợ bão táp. Biết bao nhiêu là dịu ngọt trong cơn khổ ải, trong nỗi khát khao đau xót được thấy người bạn mến yêu và xa lạ, cái vinh quang huy hoàng, trong cơn ứơc mơ của một tâm hồn dũng mãnh trước bão táp và chết chóc. Và may mắn xiết bao cho tôi ngay từ lúc mới bứơc vào ngưỡng cửa cuôc đời, tôi đã được biết cái say sưa, niềm mê mẩn ấy, biết quyền lực của thơ, tức là cảm thông với vũ trụ thông qua những cái đẹp mà lý trí không thể nào đạt tới! May mắn xiết bao cho tôi, cho đến hôm nay đây, thơ vẫn tiếp tục ngự trị chủ nhân trong tâm hồn và trong tất cả cuộc sống của tôi! Trong không khí biết bao nhiêu là nghệ thuật và nghề nghiệp tác động vào tâm hồn con người, không một sức mạnh nào vừa khoan hậu vừa tàn nhẫn hơn thơ. Mọi vật đều thuộc quyền lực của nó. Tôi xin trịnh trọng nói thế này: Thơ còn mạnh hơn cả bom nguyên tử. Ấy là tiếng nói phá hoại và sáng tạo, được nuôi dưỡng bởi máu của trái tim yêu đương và sự sáng suốt trí tuệ tìm tòi, được tuyệt diệu hoá bởi tầm vĩ đại của Tư tưởng, nó là tư tưởng của chúng ta. Không có sự phục vụ nào tự nguyện và đầy đủ hơn phục vụ thơ. Không có tình yêu nào được đền đáp đủ hơn tình yêu thơ, bởi vì người nào yêu thơ là hai lần thi sĩ . Không có niềm tin nao dung dị và làm cho tâm hồn phong phú thêm hơn niềm tin ở thơ. Nhưng niềm tin ấy phải là một niềm tin không bờ bến, không nhìn ngoái lại, không có một hạn chế nào thuộc về tâm linh, bởi vì thơ là không vụ lợi, bởi vì niềm tin của thơ đối với ta là trọn vẹn, bởi vì thơ luôn luôn sẵng sàng hiến dâng cho ta cả thiên tư không bao giờ cạn của nó, tất cả bóng tối cũng như tất cả những ngôi sao ban ngày của nó, sao của mọi người, những ngôi sao chủ cháy bùng và chiếu sáng trong những vực thẳm của nó mà thôi. Ai tin ở thơ người ấy được số mệnh nuông chiều : Người đó biểt như người xưa nói, cực lạc. Tôi không bao giờ mệt mỏi nhắc lại điều này : Thật là may mắn cho tôi từ những ngày rất thơ ấu, được phù cho có niềm tin trọn vẹn ở thơ. Điều làm cho tôi say mê trong thơ Léc-môn-tốp, không phải chỉ là những câu thơ “ có quan hệ đến mình ”. Trong cuốn sách dày ấy, tất nhiên có nhiều đoạn tôi không hiểu : khi đọc, tôi nhảy qua và tôi xem đó là đó là một việc đáng phiền lòng, phiền cho bản thân tôi và cho tác giả nữa. Nhưng những điều tôi hiểu ở những câu thơ “ không có quan hệ đến mình ” cũng làm cho tôi xúc động không kém. Có lẽ có phần hơn. Giống như, buổi chiều, từ trên một giàn dáo cao nào, qua cửa sổ người khác, tôi đưa mắt nhìn xuống một cuộc đời, không phải là đời tôi, một cuộc đời dấu kín tất cả mọi người, một cuộc đời mà tôi trở thành kẻ a tòng. Tôi thấy như mình được nắm một điều bí mật vĩ đại nó không thuộc về mình ... Sự hấp dẫn của cái huyền bí, nỗi khát khao được khám phá và chọc thủng một điều bí mật, rồi khi đã nắm được nó, niềm vui thích được giữu riệt lấy nó cho riêng mình, hay là điều này còn ngọt ngào hơn nữa, niềm vui sướng đê mê được mách nó với một người bạn ( “ Va-li-a, Va-li-a ơi, mình vừa biết được cái này. Có điều bí mật đấy, đây là bí mật ” ), tôi chưa hề biết có hạnh phúc nào thanh khiết hơn ; và thật thú vị làm sao khi đã đứng tuổi còn lại chút gì của niềm vui thích ấy trong tâm hồn! Nghèo nàn xiết bao, đáng thương hại làm sao cho những ai mà không có gì còn là bí ẩn nữa, kể cả trong nghệ thuật .
__________________
Ласковый Май Thay đổi nội dung bởi: Siren, 06-07-2010 thời gian gửi bài 22:31 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
huong duong (20-08-2010), rung_bach_duong (06-07-2010) | ||
|
#44
|
||||
|
||||
|
Chính cái vầng hào quang bí ẩn ấy đã làm tôi say đắm, làm cho tôi ngẩn ngơ trước một câu thơ như :
Lò lửa miền Nam, thung lũng Đa-ghe-xtan (thơ Léc-môn-tov - Giấc mơ- ND) Tại sao người lính khinh kỵ bị giết chết, nằm trong thung lũng với một vết thương bốc khói ở ngực, lại mơ thấy mơ đến người con gái say mê mình ở nơi xa xôi, và tại sao nàng lại mơ đến chàng? Làm sao nàng đoán được chàng chết? Và làm sao, lúc từ giã cõi đời, chàng hiểu được rằng nàng đang nghĩ đến chàng? Bởi vì tất cả những điều đó là sự thật. Mọi việc đã xảy ra như vậy đó. Người lính khinh kỵ bị giết giống hệt Lec-môn-tốp, Léc-môn-tốp của tôi với đôi mắt to buồn. Và người hiệp sĩ ngủ trong dòng sông, Người hiệp sĩ đã gợi hứng cho Ô-đin ( Nữ thủy thần - ND) bài ca kỳ diệu ấy, vừa giống người lính khinh kỵ bị giết lại vừa giống Léc-môn-tốp ... Bài thơ làm cho tôi mê say ấy, tôi đọc thuộc lòng suốt mấy ngày liền, người mệt lả bởi sự đê mê của cái Đẹp, đuối sức vì một nỗi đau khổ nó không phải là nỗi đau khổ của mình. Tôi giống tính ba tôi: không làm sao chịu đựng được một mình cái gánh nặng của một niềm vui: dù bằng giá nào đi nữa cũng phải chia sẻ với người khác, cũng phải phô trương nó ra. Chắc chắn đấy là sự ích kỷ: điều phiền muộn được chia sẻ thì vợi bớt, hao mòn dần ; điều mừng vui được chia sẻ thì lớn lên, mạnh hơn, bốc lên ngọn lửa, làm cho người ta cảm thấy giàu có hơn, sung sướng hơn. Vâng, tôi không thể giữ được riêng trong mình dòng sông xanh biếc và bài ca thần kỳ của nàng Ô-đin. Mang theo cuốn sách (làm chứng cớ để cho em tôi thấy đó thật là một bài thơ đã được in trong sách) tôi gần như bắt ép em Mu-xi-a tôi ngồi vào góc tràng kỷ và bắt đầu đọc cho nó nghe bài thơ của tôi. Nhưng trời ơi, sao mà con bé ngốc nghếch đến vậy (thật ra em tôi mới lên sáu tuổi)! thoạt tiên nó bảo : - Sách của chị, em chả thích : chẳng có tranh ảnh gì sất! - Em hãy nghe đã. Rồi em thấy còn thích hơn cả tranh ảnh cơ ... Và, sợ em tôi chạy trốn mất, với một giọng nghẹn ngào vì xúc động, bởi vì đây là lần đầu tiên tôi đọc to những câu thơ ấy cho một người khác nghe, tôi đọc rất nhanh bài Ô-đin : Một nữ thuỷ thần đầu toả ánh trăng Rẽ dòng sông xanh biếc sóng Hắt vọt vào ánh trăng Từng chùm bọt sóng bạc Tôi càng đọc thì một kẻ vô hình nào đó càng làm hắt vào tôi những ngọn sóng trăng, những triều sóng bạc của nữ thuỷ thần ! Một làn hơi mát óng ánh chảy mơn man trên toàn thân tôi và tôi gần như ngạt thở trong những lớp sóng bạc ấy khi đọc đến đoạn cuối của bài thơ : Nhưng trong cơn ghì riết nóng hổi của nàng Chàng vẫn lạnh băng và câm lặng Chàng ngủ, chúi xuống lòng nàng Không một tiếng thì thào, không một hơi thở - Thế nào ? Có hay không ?- đọc xong tôi sốt ruột hỏi. - Hay! Hay lắm ! – Mu-xi-a trả lời với giọng bụng của nó Nó im một giây, rồi hỏi giọng trách móc : - Chị Ôn-ga này, cơn ghì riết cái gì ấy nhỉ ? Câu hỏi bất chợt đối với tôi, nhưng chỉ ngỡ ngàng một thoáng thôi, tôi đáp ngay : - Kìa, đồ ngốc... sao ? Mày không hiểu ư? Những cơn ghì riết ấy là những bông hoa, những bông hoa mọc trong nước, những bông hoa kỳ lạ ...Những bông hoa thần diệu người ta thấy ở trong biển ... Đúng hơn đấy là những con cá: những con cá vàng to ... ...Trên đường từ Cửa ô Nép-xki trở vào nội thành kỷ niệm ấy làm cho tôi bật cười, thậm chí còn làm cho tôi đứng sựng lại một lát nữa là khác. Nữ thuỷ thần và câu hỏi của Mu-xi-a, quả thật ngộ nghĩnh làm sao ! Nhưng đó là Léc-môn-tốp của tuổi thơ tôi. Sau đấy còn có Léc-môn-tốp của của thời niên thiếu ngắn ngủi của tôi, rồi của tuổi thanh niên đến sớm một cách đột ngột, khi những câu thơ của ông đến hoà tan giản dị xiết bao, khẩn thiết xiết bao trong nỗi khát khao của tôi được lập chiến công vì cách mạng. Thơ Léc-môn-tốp đã nuôi dưỡng trong tôi lòng kiên quyết không tin là có Thượng đế ( bài thơ Con quỷ !). Nó làm nảy ra trong tôi những ước mơ đầu tiên về những mối tình ghê gớm ( vẫn là bài thơ Con quỷ !). Tôi quyết định trở thành một người cách mạng chuyên nghiệp bằng thơ là bởi gương Léc-môn-tốp, Léc-môn-tốp thi sĩ của tự do, bởi tác động lưỡi dao găm của Léc-môn-tốp và cái chuông trên gác cao, nhất là cái chuông! Mặc cho chủ nghĩa vô thần non trẻ ở tôi khắc nghiệt không dung thứ gì hết, hình ảnh Đức Chúa Thánh thần vẫn không hề gây cho tôi khó chịu: không phải tôi xúc động vì Thượng đế mà vì gió mưa, vì bão táp sóng cồn khi tôi đọc : Thơ anh, như Đức Chúa Thánh thần, đi qua giữa đám đông Và tư tưởng cao cả của anh dội vang trên đó Chuông trên gác cổ loan tin cho quần chúng Tiếng chuông hội hè và tiếng nhạc đại lang * (Thơ Léc-môn-tốp : bài Người thi sĩ -ND) Chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ làm cho tôi xấu hổ, nhưng những câu thơ ấy, cũng như những câu nói đến cánh buồm cô độc, tảng đá và ngọn lá sồi, vẫn là những câu thơ viết về tôi, có quan hệ đến con người mà tôi tất nhiên muốn sẽ trở thành, sau khi ra nhập Đoàn thanh niên cộng sản Nga. Có đáng ngạc nhiên chăng nếu như, không ngừng yêu Léc-môn-tốp, tôi đã ( như tất cả thế hệ tôi ) đón nhận Mai-a-cốp-xki với tất cả tâm hồn mình, và nếu như vào những giây phút quyết định trong đời, chúng tôi đã nói lên điều tốt đẹp nhất của chính mình qua thơ ông? Lại còn có Ét-xê-nhin xé ruột xé gan, có Bơ-lốc của bão táp đang gào thét trong bài Mười hai người, có Pu-skin bao giờ cũng vẫn là bậc vĩ đại nhất. Rồi đến những nhà thơ côm-xô-môn (Thanh niên cộng sản-ND) đã đáp lại tiếng lòng của chúng tôi, những kẻ đã có “ cái may mắn được sinh ra đúng lúc ” để cầm vũ khí trong tay phục vụ chính nghĩa của Cách mạng, trước hết là Mi-khai Xvét-lốp với bài thơ Gơ-rơ-nai tuyệt diệu, trong đó tất cả đều thật sự có quan hệ đến thế hệ chúng tôi, không phải riêng mình tôi mà là tất cả chúng tôi, kể cả những người không được cái may mắn như ông. * * * Và trong khi bước đi trên những vỉa hè lát đá dẫn vào nội thành, tôi nghĩ thầm : Thơ đã làm bạn với chúng tôi từ khi chúng tôi bắt đầu có ý thức cho đến tận bây giờ, cho đến những ngày hôm nay đây mà Lê-nin-grát đang đánh lui cuộc tấn công của kẻ thù, trong giờ phút này, thơ đang bước đều bên cạnh tôi. Một lần nữa, tôi bất giác mỉm cười. Trời đất, vậy thì làm sao ai có thể đoạt nổi Léc-môn-tốp của tôi ? Không một ai! Vậy thì ai có thể tiêu diệt được Léc-môn-tốp, ngay cả khi tôi đã bị tiêu diệt? Không ai cả ! Không có gì, không có ai tiêu diệt được ông, ông là bất tử. Léc-môn-tốp ông là bất tử và sống vĩnh viễn, sống vĩnh viễn và bất tử như nền thơ Nga. Mà Léc-môn-tốp và nền thơ Nga đã trở thành một mảng linh hồn của tôi ...Nhưng nghĩ đến điều đó thật là khủng khiếp, khủng khiếp y như hạnh phúc vậy ! Như thế thì, cả anh nữa, anh mà em yêu, anh, người không ai thay thế được với đôi mắt vàng to nóng bỏng, anh sẽ là bất tử? Thế ra chính vì vậy mà từ đầu cuộc báo động này, em không hề thoáng có ý nghĩ rằng anh có thể bị giết chết ? Thế là em đã rời khỏi nội thành đã hai giờ đồng hồ. Đã hai giờ trọng pháo liên tiếp nã. Sau đấy máy bay tấn công. Cả thành phố đều bị oanh tạc. Anh vào giờ này đây, anh dang đứng gác trên phơi của ngôi nhà kỳ cục của chúng ta. Ngay cả khi không phải đến phiên anh thường trực: bao giờ anh cũng làm thay cho những kẻ nhát gan mà. Trên mái nhà đối diện, ở phía bên kia đường, lũ trẻ con đã trèo lên, vẫn lũ ấy, những đứa thích huýt sáo và hát ê a khi những chiếc máy bay “ Mét-xe ” của Đức bay qua. Nhưng không một quả bom nào rơi xuống nhà ta. Anh vẫn sống. Lũ trẻ con cũng thế. Làm sao anh có thể chết được. Vì không có cái chết, vì chúng ta là bất tử? Lát nữa em sẽ kể lại cho anh nghe. Vả lại, anh cũng đã rõ rồi. Em đã không nghĩ đến anh giay lát vừa qua, khi em sống lại gần như toàn bộ cuộc đời mình. Em đã không sống lại “ những hòn đảo nhỏ của chúng ta ” cùng lời tỏ tình đầu tiên, cũng như buổi sáng muộn ấy trên bến Tu-sơ-cốp cũ kỹ và vắng teo có những chiếc thuyền lật úp bốc mùi hắc ín, và buổi sáng có những con chim hải âu lượn quanh trên mặt nước màu hồng, mùa hồng của bình minh ...Em không hề nhớ lại những cái đó cho mãi đến lúc này đây, nhưng bởi vì em không bao giờ nghĩ đến anh như nghĩ về một người khác: tất cả những gì xảy ra với em cũng đồng thời xảy ra với anh. Em vừa nghĩ đến Léc-môn-tốp, nhưng đấy không phải là Léc-môn-tốp của anh, không phải con người nổi loạn bi thảm và bị phó cho cái chết mà anh muốn làm sông lại trong tác phẩm Léc-môn-tốp và Mai-a-cốp-xki của anh, trong đó anh đối chiếu hai thần diệu, hai vu trụ, hai nhà thơ ở hai cực đối địch mà vẫn bắt tay nhau qua cả một thế kỷ, bởi vì họ cùng một dòng giống, như Mai-a-cốp-xki đã đọc lớn khi ông đứng trên gác chuông nhà thờ I-van vĩ đại, tay phải ghì chặt chỗ dựa để khỏi mất thăng bằng, lúc ông đương đầu với lũ tư sản điên cuồng : Bệnh tương tư đủ làm thọt ta rồi ! Hãy giữ những xe rác bẩn kia cho bạn bè các ngươi Ta có làm phiền ai đâu ! Việc gì mà chửi rủa Ta chỉ là một tâm hồn Một thi sĩ mà thôi Nhưng ở dưới chúng gào : - Không ! Không ! Mày là kẻ thù vạn kỷ Trước đây một thằng trong chúng mày đã lãnh đủ phần của nó rồi Một tên khinh kỵ * Em đã gợi lại Léc-môn-tốp của tuổi thơ em, Léc-môn-tốp của những “điều kỳ diệu dưới sóng nước”, “của những cơn ghì riết trong vòng tay ” ... Nhưng, anh thân yêu ơi, của anh hay của em, cũng là một thôi. Bởi đã lâu rồi, không còn Anh không còn Em riêng biệt nữa. Chỉ có mỗi một con người gọi là “ Hai Ta ” , bởi vì thời gian không tồn tại, bởi vì cuộc đời - giờ chúng ta biết rõ điều đó - chỉ là một phút giây duy nhất và vô cùng, ở đó tất cả đều hoà lẫn vào nhau. Biên giới giữa cái sống và cái chết, giữa nghệ thuật và đời sống, đã sụp đổ rồi. Đời sống, nghệ thuật và cái chết đã đúc thành một khối: Tự do hoàn toàn và chiến thắng. ------------- * Thơ Mai-a-cốp-xki . Bài dịch của Chế Lan Viên
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Bien (23-11-2012), huong duong (20-08-2010) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Olga Berggoltz - thơ và cuộc đời | butgai | Thi ca | 284 | 27-09-2011 07:20 |