|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
|||
|
|||
|
Comment:
soirée là màn nhảy sau các bữa tiệc tối. Hồi ký sẽ dần cho thấy, lương và trợ cấp của một quan tư (thiếu tá) thời thuộc Pháp quá là cao. Lương công chức rất cao có mục đích ban đầu để hút chất xám về phát triển thuộc địa, đã dần tạo ra một tầng lớp quan liêu thực dân. Một toàn quyền Pháp đã viết bài báo trên tạp chí Đô thành hiếu cổ, kể về thực tế suy đồi đạo đức của các vị quan Pháp thực dân. Thời ấy, người Pháp qua Đông Dương sống, chủ yếu là để ăn lương cao hơn mẫu quốc. Cũng có những người nông dân bán nhà cửa của mình ở Pháp để sang đây mua ruộng đất của chính phủ lập đồn điền. Phần lớn những kẻ này đều thất bại (như tự truyện của Marguerite Duras, tác giả các tiểu thuyết Pháp về Đông Dương như L'Amant). Một số sẽ dùng mồ hôi nước mắt lập ra các đồn điền lớn ở Tây Nguyên (xem phim Apocalypse sẽ thấy) tồn tại đến tận 1975. Thương gia người Pháp ở Đông Dương không mấy thành công như người Hoa. Ngành kinh doanh béo bở nhất nằm trong tay các giang hồ người gốc đảo Corse - chăn gái, buôn thuốc phiện lậu, cờ bạc. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
jackyhung12345 (18-02-2013) | ||
|
#22
|
|||
|
|||
|
Thiệt tình khi ấy Đông Dương vẫn bị coi là xứ mọi nên sĩ quan sang bên ấy phải được chế độ đãi ngộ hơn bổn quốc. Giống như ta nhân đôi lương binh lính đóng ở Hoàng Sa vậy.
Mình đọc tác phẩm Papillon thì những tay tử tù, hay phạm trọng tội nếu tình nguyện tham gia quân đội viễn chinh sang các nước thuộc địa thì được tha bổng. Chính vì thế dễ hiểu là quân Pháp ở Đông Dương vô kỷ luật và dã man vậy. Mình cũng được nghe nói một khúc đê sông Hồng vỡ, tay người Pháp thấy có trách nhiệm liên quan đến mình nên nhảy xuống dòng nước lũ tự vẫn. Hay tay kỹ sư người Pháp không bắc được cầu Hàm Rồng nên phải để kỹ sư Đức bắc được cầu. Xấu hổ quá tay kỹ sư Pháp cũng nhảy sống chết luôn. Ngày xưa trước khi cụ Phan đi Nhật cũng ngủ với cụ Hoàng Hoa Thám một đêm. Cụ Phan thấy cách chống Pháp của cụ Hoàng không ổn nhưng cho rằng mỗi người một chí. Sau cụ Phan quyên tiền cho cụ Hoàng thì cụ Hoàng đã bị Pháp chặt đầu rồi. Nói thật chứ chống Pháp như cụ Hoàng chỉ tổ làm khổ dân, thất bại là tất yêu thôi do hạn chế về tư tưởng và phương pháp đấu tranh. May có cụ Hồ lãnh đạo nhân dân chớp thời cơ giành chính quyền. Nói như Phan Khôi là nhặt được chính quyền e rằng hơi quá.
|
|
#23
|
|||
|
|||
|
@danngoc: Có lẽ, Marie Claire (một tạp chí của Pháp dành cho phụ nữ) là một cái tên giả, cả nhân thân người chồng cô này cũng là giả (cấp thiếu tá quân đội thì chắc cũng khá lớn tuổi).
Thiếu tá trong quân đội Pháp là khá to... Francis Garnier (chết năm 1873) và Henri Rivière (chết năm 1883) khi chết cũng mới chỉ là đại úy. Thế nhưng ông Coffyn, người vẽ Bản quy hoạch thành phố Sài Gòn 500 ngàn dân năm 1862 lại là lon trung tá. Vậy là sao? Sau khi tìm hiểu và hỏi một người đã tốt nghiệp Đại học Bách Khoa Paris thì được biết như sau: Tất cả những sinh viên sau khi tốt nghiệp Bách khoa Paris đều có mối liên hệ suốt đời với trường. Trong trường không có học vị thạc sĩ, tiến sĩ, chỉ tốt nghiệp là đủ. Nếu họ nhập ngũ thì được phong ngay lon thiếu tá (chủ yếu là công binh). Do vậy, Coffyn mang lon trung tá khi vẽ bản quy hoạch kia theo đặt hàng của đô đốc Bonard, là chuyện bình thường. Trong khi hai ông văn sĩ, kiêm nhà khoa học, kiêm sĩ quan chiến đấu Garnier và Riviere mới chỉ là đại úy, cũng là bình thường. Phim tài liệu Đức "Lính đánh thuê gốc Đức tại Đông Dương", phần 1, có phụ đề Việt https://www.youtube.com/watch?v=cu4EknDvpGM Lính đánh thuê gốc Đức tại Đông Dương - phần 2 http://www.youtube.com/watch?v=CrDftdARWK8 Phần 3 http://www.youtube.com/watch?v=pU67GOytzbU Phần cuối http://www.youtube.com/watch?v=nAAKK3LiKDE |
|
#24
|
|||
|
|||
|
Cuộc sống gia đình ổn định mau chóng và sung túc tại đất nước mới đến này và tất cả chúng tôi đều vô cùng hạnh phúc. Do đơn vị cha tôi đóng trong thành cổ, tức Hoàng thành Hà Nội, ông làm việc giờ giấc đều đặn và cứ đến chiều là về nhà. Với Maman điều này thật tuyệt vời khi được có một cuộc sống “bình thường” sau thời kỳ đi đày cô độc ở Ma-rốc và cả Madagascar, nơi rất ít người Pháp có thể hòa nhập được.
Bep, tay đầu bếp gốc Hoa của chúng tôi, là người quản lý ở trong nhà. Mẹ tôi thường nghe thấy ông ta sai phái Thi Hai và Thi Ba, hai cô gái giúp việc nhà, cứ như thể hai người này là hạng thấp kém hơn. Thỉnh thoảng mẹ có can thiệp vào – cũng rất khó, bởi mẹ không nói được tiếng của họ và mỗi lần như vậy họ thường không ừ hử gì với bà. Bep là một đầu bếp cừ và giúp mẹ tôi nhẹ gánh nhiều việc sau vô số lần mẹ phải đánh vật với chuyện huấn luyện cho người mới. Mẹ đã học được cách không can thiệp vào chuyện của Bep, thậm chí cả khi mẹ phát hiện ra anh ta lấy hai bàn tay vê viên thịt băm thẳng trên bộ ngực trần của mình. Đơn giản là mẹ lặng lẽ rút lui lại lên lầu, quay về với bàn tiệc tối mà không để họ biết là mẹ vừa có mặt. Tôi có nghe thấy cha mẹ nói chuyện với nhau về việc cả gia đình sẽ định cư lại đây sau khi cha tôi mãn hạn phục vụ. Dường như cha mẹ khá hài lòng với cuộc sống ở Đông Dương. Tôi cũng vậy. Nơi đây có gì đó thật quyến rũ. Tuy nhiên, khi chín chắn hơn tôi ngày càng nhận thức rõ về lối sống của chúng tôi ở xứ thuộc địa. Tôi không nghĩ nhiều về điều này, nhưng tôi bắt đầu chú ý đến nhiều điều, những điều nho nhỏ liên quan đến người Pháp và người dân của đất nước mà chúng tôi đã chiếm lấy. Nhà cầm quyền Pháp tự xem họ là đang thực hiện mission civilatrice, một sứ mệnh khai hóa văn minh và phát triển xứ Đông Dương, và thực tế đã làm rất nhiều để xây dựng hạ tầng kỹ thuật ở đây – đường xá, cầu cống và đường sắt, những thành phố hấp dẫn với các tòa nhà đẹp và đại lộ thênh thang. Nhưng phát triển và duy trì một thuộc địa là rất tốn kém, và gánh nặng chi phí chủ yếu đặt trên vai của nhân dân dưới hình thức sưu cao thuế nặng. Để thực hiện công cuộc phát triển, quản lý và trật tự phải được duy trì, và đã thành truyển thống được người Pháp chấp nhận là bạo lực là cách thức hiệu quả nhất để làm điều này. Việc thi hành cưỡng bức luật lệ và trật tự Pháp rất khắc nghiệt, thường là tàn bạo. Tiêu chuẩn trả lương cho người Pháp và người Việt làm cùng một công việc là rất chênh lệch nhau, và mặc dù xét theo một mặt thì việc này cần làm để thu hút người dân Pháp kéo sang thuộc địa, đây là một nguồn dẫn tới sự bất mãn của người An Nam. Trường tôi học, Lycée Albert Sarraut, là trường trung học tiếng Pháp ưu tú ở Hà Nội. Khoảng phân nửa số học sinh là người An Nam, và hầu hết bọn họ là con cái những công chức chính phủ được trả lương cao. Tuy nhiên, tôi phát hiện ra rằng chính phủ Pháp chỉ cung cấp một số lượng ít ỏi giáo dục tiểu học không bắt buộc cho người bản xứ, những người không có khả năng trả tiền. Có một sự khác biệt to lớn giữa kẻ có của và người tay trắng. Ở trường lúc mới quen ta rất khó kết bạn với người Đông Dương và họ có khuynh hướng khép kín. Họ chịu khó ganh đua, nhìn chung siêng năng học hơn nhiều so với học sinh người Pháp và đạt kết quả khá cao, nhiều người giành được suất vào Đại học Sorbonne ở Paris. Những học sinh khá giả nhất tự trả tiền học đại học. Ở Đông Dương vàng rất được xem trọng và trong khi người giàu có rất nhiều vàng trong hầm nhà băng thì người nghèo chẳng bao giờ dám mơ đến. Hầu hết các học sinh Đông Dương ở trường đều là những người dân tộc chủ nghĩa rõ nét, một số có khuynh hướng Cộng sản, và trong những người cùng thời tôi ở trường một số sẽ là các lãnh đạo đảng và chính phủ hàng đầu của nước Việt Nam độc lập sau này. Những nhà cách mạng tiềm năng không chỉ có trong số các học sinh mà cả trong nhóm giáo viên. Hai giáo viên trường tôi – Maurice và Yvonne Bernard, đôi vợ chồng người Pháp – sau này sẽ biến mất qua biên giới Việt – Trung. Họ là thành viên công khai của Đảng Cộng sản và thường trao đổi về quan điểm chính trị của mình với bất cứ ai muốn nghe. Họ nói rằng Đảng Cộng sản, một thành phần của Mặt trận Bình dân hoạt động hợp pháp, có ưu thế khá mạnh ở Pháp. Thầy giáo lịch sử của tôi, người đồng thời cũng dạy ở Lycée Thăng Long, được đồn đại là dân Cộng sản bị cảnh sát lưu hồ sơ vì hoạt động có tính lật đổ. Nhưng tôi không thể nghĩ Professeur Giap lại là kẻ bạo loạn. Tôi thực sự có cảm tình với ông; tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều vậy. Ông là một người An Nam sôi nổi, nhiệt tình và, phần nào do vóc người thấp nhỏ, dường như không lớn hơn chúng tôi bao nhiêu. Ông có khuôn mặt tròn phúc hậu và luôn mặc bộ vest trắng tinh với sơ-mi trắng và cà vạt. Ông rất say mê Napoleon và hình như biết kỹ từng trận đánh của Napoleon tới từng chi tiết. Nhưng ông dạy sử cho chúng tôi khá công bằng và truyền đạt mọi giai đoạn lịch sử rất sôi nổi. Không như vợ chồng Bernard, ông không bao giờ nói bóng gió đến chính trị đương đại ở trên lớp. Ngay cả nếu ông có làm vậy chăng nữa thì chúng tôi cũng chẳng thấy phiền. Nhiều học sinh, trong đó có tôi, có khuynh hướng thân tả và cảm tình với cánh xã hội, bởi hệ thống thuộc địa ở Đông Dương không làm gì để khuyến khích chủ nghĩa tư bản dân tộc. Bên cạnh đó, dường như tôi thấy rõ rằng người giàu thì có quá nhiều trong khi người nghèo thì quá nghèo khổ. Chỉ cần ta để mắt nhìn xung quanh. |
|
#25
|
|||
|
|||
|
Tôi không bao giờ nghĩ rằng thầy dạy sử của mình có tội. Tôi hết sức yêu mến và kính trọng Professeur Giap. Ông dạy chúng tôi lịch sử Cách mạng Pháp với niềm say mê điềm đạm nhưng nói rất ít về lịch sử Đông Dương, mặc dù đây chắc hẳn là điều luôn trong tâm trí ông. Tôi không nhận thấy ông có nỗi phẫn uất ăn sâu đối với sự chiếm đóng của ngoại bang trên đất nước mình. Tôi không mấy để tâm về thực tế rằng người Trung Hoa đã đô hộ Việt Nam suốt một ngàn năm, rằng kể từ đó cho tới khi người Pháp đến đây trong thập niên 1860 người An Nam đã phải liên tục chống trả quyết liệt sự thống trị của ngoại bang, rằng thực sự lúc nào cũng có một thế lực nước ngoài tìm cách nuốt trọn đất nước họ. Tôi không nhận thấy rằng những người trí thức nghiên cứu lịch sử Việt Nam như Giap giờ đang lãnh đạo công cuộc kháng chiến. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao người An Nam rất khác so với người Lào và người Cambodia sống dưới chế độ bảo hộ ở phía tây của vùng mà chúng tôi gọi là xứ Đông Dương, tại sao họ cương quyết và ganh đua hơn nhiều, và cuộc chiến đấu chống lại bọn xâm lược nước ngoài suốt nhiều thế kỷ của họ đã hình thành trong họ sức mạnh, sự kiên trì và đức hy sinh ra sao. Đối với tôi người An Nam thật dễ thương và thường là rất thanh nhã.
Tôi không nghĩ mình là một tên xâm lược. Tôi vẫn hạnh phúc không hay biết rằng ngay dưới bề mặt cuộc sống có vẻ điền viên ở Dông Dương này là một sự bất mãn đang sục sôi, một dòng chảy cách mạng đang cuộn ngầm. Chuyện có suy nghĩ lọt vào trong đầu, rằng thầy dạy sử của tôi, Vo Nguyen Giap, sẽ chính mình mang số mệnh đục khắc một dấu mốc quan trọng trong lịch sử, hẳn là không thể xảy ra được. Nhưng vị giáo sư hoạt bát năng nổ này có một tương lai rực rỡ. Vài năm sau ông sẽ được trao quyền chỉ huy một nhóm du kích ngang ngạnh và rèn giũa họ trở thành một đội quân hết sức hiệu quả. Ông sẽ trở thành vị tướng mà, cùng với Ho Chi Minh, lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh gồm nhiều thời kỳ oanh liệt, ban đầu là chống lại quân đội Pháp và về sau giành chiến thắng trong một tương quan hết sức chênh lệch với cỗ máy quân sự khổng lồ của Hoa Kỳ (cùng các đồng minh). Professeur Vo Nguyen Giap sẽ trở thành người nổi tiếng thế giới như là một trong những vị tướng vĩ đại nhất thế kỷ. HẾT CHƯƠNG 3 |
|
#26
|
|||
|
|||
|
Mấy ông tnxm và bác Tom Cat chiến nhau kinh quá !
![]() 4 Vào đời Bức tường đá dày sừng sững trên đầu khi tôi bước qua chiếc cổng chính của thành cổ. Pháo đài An Nam lâu đời ở Hà Nội này, được Hoàng đế Gia Long cho xây vào đầu thập niên 1800, đã được thiết kế lại toàn bộ và mở rộng bởi người Pháp để làm nơi trú đóng cho Đội quân Thuộc địa Pháp. Đi đến chỗ sân trong tôi đưa mắt nhìn quanh để xác định phương hướng. Tổ hợp rộng lớn 72 ha này giờ đây là sở chỉ huy của Bộ binh, Pháo binh Thuộc địa và các đơn vị phụ trợ khác. Đây là một mê cung doanh trại và sở chỉ huy, khu quân nhu và xưởng máy, văn phòng và sân tập. Lúc này là tháng 9/1939, do đã tốt nghiệp phổ thông và có chiến tranh ở Châu Âu tôi gia nhập quân đội dự bị với mong muốn quay về Châu Âu để chiến đấu. Dường như đó không phải một quyết định đúng. Tôi không có dự định trở thành một người lính chuyên nghiệp, nhưng cuộc đại chiến mà Papa nói sẽ không bao giờ lặp lại nay đã nổ ra. Cha rất giận rằng nước Đức, một quốc gia vẫn được xem là văn minh, lại một lần nữa giơ nắm đấm lên gây chiến. Đối với tôi, việc nhập ngũ dường như là chuyện cần làm. Maman lặng lẽ tỏ ra không vui với quyết định của tôi và mặc dù tôi yêu mẹ tha thiết, đây là cơ hội của tôi để thoát ra khỏi nhà. Có lẽ tác động của cha tôi đã giúp tôi nhập ngũ khi chưa đủ tuổi. Còn bảy tuần nữa mới đến sinh nhật thứ mười tám của tôi và quy định thì vốn rất cứng nhắc. Đầu óc tôi đầy những danh dự, trách nhiệm và những điều xấu xa của Đế quốc Đức. Tôi không hề biết những u ám và gian nan đang chờ đợi xứ Đông Dương ở phía trước, rằng tình báo quân đội đang ngày càng lo lắng theo dõi những trò đùa tàn ác của người Nhật trong cuộc chiến với Trung Hoa ngay tại cửa ngõ phía bắc chúng ta. Nỗi lo lắng này âm thầm dẫn tới một cuộc động viên lớn. Tôi bước vào quân đội một cách nhiệt tình và, theo tôi nghĩ, với cặp mắt mở to. Trước đây tôi đã chứng kiến đời sống quân ngũ, nhưng điều này vẫn không đủ để chuẩn bị cho những gì sẽ xảy đến với tôi. Những khác biệt so với cuộc sống êm ấm của tôi ở nhà thật to lớn. |
|
#27
|
|||
|
|||
|
Tôi là một anh lính loại hai, hạng bét dem trên chiếc thang cấp bậc quân đội. Không bao giờ có được sự riêng tư, ngay từ lúc có hiệu kèn báo thức, nào là cảnh tập hợp buổi sáng chen chúc những ngực và mông trần đủ màu sắc, nào là các cái mồm oang oác và nách rậm lông trong lán ở, nào là những bữa ăn huyên náo và buổi khám y tế rất khó chịu, nào là những giờ huấn luyện bất tận, nhớp mồ hôi, đủ trò trừng phạt thể xác. Chỉ một tuần tôi đã mất hút trong đám đông, lạc lõng giữa những kẻ khác. Thế rồi xuất hiện sự cứu rỗi.
Sinh ra tại cao nguyên Pyrenees, Claude Mary là một gã Catalan thực thụ. Là hạ sĩ quan chuyên nghiệp có nước da hồng hào và tính cách nóng nảy, cặp mắt sắc sảo còn cái lưỡi thì liến thoắng. Chúng tôi thật trái ngược, bởi tôi thì cao và vẫn còn non nớt, anh ta thấp hơn nhưng mạnh mẽ và chắc nịch. Tôi ít nói và hay ngượng ngùng, anh ta sinh động và cởi mở, nhưng tình bạn của chúng tôi mau chóng trở nên thắm thiết. Lớn hơn tôi mười một tuổi, anh ta từng làm lính phát lương dưới trướng cha tôi và biết cha rất rõ. Trong đôi mắt một chàng trai mười bảy tuổi, Claude Mary thật phóng khoáng, đầy hiểu biết và là người bạn tốt để cùng bù khú trong những tuần lễ đầu bỡ ngỡ ấy. Khi tôi đứng đầu kỳ thi tốt nghiệp Trường Huấn luyện Sĩ quan, Claude đã ra chúc mừng tôi. Nhưng sau đó một cuộc trò chuyện phàm tục trong cuộc nhậu tại căng tin đã khiến tôi ít còn nghi ngờ gì rằng anh ta muốn tôi nâng cao trình độ nhiều hơn thế. “Nếu cậu muốn trở thành sĩ quan”, Claude giải thích trong khi châm lửa điếu Gauloise Troupe, “chúng ta cần biến cậu thành một người đàn ông thực thụ” – anh ta nhìn thẳng vào mắt tôi – “tại chỗ ấy ở Hà Nội. Maîtresse de la Maison rất kén chọn người được phép bước chân vào. Hầu hết chỉ toàn là sĩ quan hay quan chức cấp cao”. “Cấp cao! Quên đi”, tôi phản đối. Anh ta nói nghe cứ như một câu lạc bộ, như thể thành viên của nó là một loại thành phần xã hội cao quý nào đó. Chuyện này khiến tôi phát hãi, còn Claude thì lấy làm khoái chí. “Đừng lo”, Claude ngân nga nhạo báng. “Tớ chỉ muốn nói đến cái giống của cậu và muốn sắp xếp một cuộc gặp gỡ đặc biệt. Hãy mặc cái sơ-mi lụa và cư xử cho đứng đắn nhất. Cậu sẽ ổn thôi. Tin tớ đi”. Tôi suýt phát nghẹn khi anh ta nói cho tôi cái giá của chuyện này. “Hai mươi piastre!” Là tên lính hạng hai tôi được nhận một khoản ngất trời là 1 piastre mỗi ngày, mức lương tiêu chuẩn cho mọi tay tân binh bất kể thuộc dân tộc gì. Tôi mới trong quân đội có hơn ba tuần và gom góp được hai món tiền tuần, tổng cộng 14 piastre. Ý tưởng đem đốt trọn tiền lương cả tháng của mình trong một nhà thổ không làm tôi thấy hứng thú. “Ha”, Claude cười khẩy vào sự dè dặt của tôi. “Đây là các cô nàng cao cấp. Đảm bảo sẽ lo cho cậu chu đáo. Chẳng lẽ cậu muốn thử chơi gái đứng đường và bị lây giang mai à?” “Tớ không có đến cả 20 piastre”, tôi cãi lại. Anh ta múa tay rút trong túi mình ra một tờ bạc 50 piastre. “Cậu có thể trả lại tớ lúc nào cậu kiếm được một món khá”. Tôi cầm lấy tờ bạc. Có lẽ chẳng còn lý do gì để từ chối. Mọi thứ phải làm cho thật nhanh. Sau không đầy hai tuần nữa tôi sẽ phải rời thành cổ để vào Trường Sĩ quan ở Tông (gần Sơn Tây-danngoc), phía tây Hà Nội, học chín tháng đào tạo sĩ quan chuyên sâu. Claude sắp xếp một cuộc làm quen vào thứ Sáu. |
|
#28
|
|||
|
|||
|
“Vậy sao?” tôi ngạc nhiên hỏi lại. “Ngay đây à?”
Claude nhìn tôi ngờ vực. “Ý cậu là cậu không hề biết cái nhà gì ngay sát mũi kia à?” Tòa nhà rất quen thuộc với tôi, nhưng tôi vẫn tưởng đó là nơi ở của một vị tướng hay một quan chức cấp cao nào đó. Ngôi nhà rất rộng, tòa ngang dãy dọc và đồ sộ, xung quanh có một khu vườn khổng lồ trồng tỉa cẩn thận. Và nó nằm ngay đây, ngay trên thềm khu đất trống bao quanh thành cổ, không xa Bắc Môn là mấy. Tôi tự hỏi làm thế nào ngôi nhà tráng lệ này lại trở thành một chỗ như vậy. Có lẽ Claude nói đúng. Có lẽ vị chủ nhà có những mối quan hệ với cấp cao nhất. Claude tự tin gõ cửa trước trong khi tôi lo lắng lẩn sau lưng anh ta. Cảnh cửa mở, một phụ nữ An Nam ngoài trung niên ra đón chúng tôi và dẫn chúng tôi vào căn phòng chờ sang trọng. Tôi quan sát những món đồ nội thất bọc nhung, cái tủ nhiều ngăn bằng gỗ hồng tâm làm rất thanh nhã, trong bày các bức tượng nhỏ bằng ngà voi và ngọc thạch. Sau lưng tôi có tiếng giày cao gót lách cách trên sàn nhà nhẵn bóng, tôi quay lại và trông thấy Maîtresse de la Maison (Bà chủ thanh lâu. - danngoc). “Tôi là Jo”, bà ta nói như thể chỉ giới thiệu như vậy là đủ. Tôi lúng búng gì đó và bà đưa cặp mắt đen sắc như dao nhìn tôi suốt từ đầu xuống chân như thấu tận gan ruột. May thay, Claude ra mặt đỡ lời cho tôi. Tôi chắc chắn biết ơn anh vì chuyện này. Tôi im thin thít ngồi ngây người trên chiếc đi-văng, theo dõi bà ta. Bà là một métisse, một phụ nữ lai Việt-Pháp, có lẽ tầm năm mươi tuổi. Vóc người nhỏ nhắn mảnh dẻ, bộ váy sa-tanh màu lam ngọc có thêu rất tinh tế những bông hoa súng xinh xinh, trên cổ đeo một chuỗi ngọc trai dài hình như rất đắt tiền. Lớp trang điểm dày cho thấy tuổi tác và lối sống đã có tác động. Dưới vẻ ngoài chải chuốt thanh nhã khéo léo và cẩn thận là những nét của một con nghiện thuốc phiện, bởi làn da xếp li và đôi môi tô lớp son dày đỏ chót để che lấp màu xám cho thấy đây là con nghiện rất nặng. Bà quay sang tôi với dáng vẻ lặng lẽ và đôi nét thông cảm của người mẹ. Liệu bà và Claude có trao đổi với nhau từ trước về tôi? Đột nhiên tôi chợt hiểu rằng bà biết tôi là trai tân, rằng điều này có lẽ khiến tôi có một vị thế đặc biệt. Có lẽ đó là lý do Claude đã nói tôi đừng lo lắng về cấp bậc của mình. Tôi đành cố gắng một cách vô vọng để mình đừng đỏ mặt. Đỏ mặt là một nét Châu Âu khiến người An Nam thấy tò mò và thích thú, và tôi cảm thấy mình bối rối hơn lúc nào hết. Nhưng giọng nói của madame đã làm dịu nỗi căng thẳng, và cuộc thỏa thuận mau chóng đi đến thống nhất. Maîtresse de la Maison duyên dáng đứng lên tỏ ý cuộc phỏng vấn tôi đã kết thúc. |
|
#29
|
|||
|
|||
|
Cuối tuần đã đến, tôi gặm nhấm nỗi bẽ bàng vì “vị thế đặc biệt” của mình. Jo đón chúng tôi quay lại một cách nồng nhiệt, có hai cô gái giúp việc bé nhỏ người An Nam đứng bên cạnh. Xinh đẹp và tha thướt trong bộ ao dai, phẩm cách và sự thanh thản của họ dường như chẳng hợp mấy với nghề họ làm.
“Đây là Lụa”, Jo nói khi giới thiệu cô này cho Claude, sau đó quay sang tôi, “Còn đây là Nguyệt”. Khẽ xiết cánh tay tôi, bà nói thêm, “Cô ấy sẽ chăm sóc cậu hết sức đặc biệt, Michel ạ”. Tôi lập tức đỏ mặt khó chịu. Trong lòng bối rối vô cùng. Nguyệt ngồi sát xuống tôi trên bộ recamier (Bộ trường kỷ kiểu tây. - danngoc), đùi cô áp vào bên tôi. Nụ cười cô thật ngọt ngào làm tôi yên lòng và cô biết rất rõ cần nói cái gì bằng thứ tiếng Pháp tuyệt hảo, khiến tôi thấy nhẹ nhõm hẳn. Rất chóng, với một cái gật đầu ra hiệu của Jo, cô nắm lấy bàn tay ướt mồ hôi của tôi và dắt tôi ra khỏi phòng. Cảm thấy còn vị thành niên hơn trước, tôi khiêm nhường bước theo cô lên chiếc cầu thang phủ thảm đỏ, vào một căn phòng ở tầng trên cùng. Trong thoáng chốc tôi nhìn thấy chiếc giường phủ nhung trang trí lộng lẫy, rộng mênh mông, đáng sợ đang quan sát tôi từ giữa căn phòng. Cánh cửa lách cách đóng lại sau lưng và tôi quay người nhìn thấy Nguyệt đã tháo bím tóc của mình thành một suối tóc dài đen nhánh. Cô xõa nó quanh vai và làn tóc đen mượt mà tỏa ra một mùi thơm ngọt. Tôi vừa mở miệng định nói gì đó thì cô đã đặt một ngón tay lên môi tôi. Trò chuyện lịch sự đã chấm dứt. Khoảng khắc ngượng ngịu ban đầu mà tôi kinh sợ đã tan biến chỉ vài giây sau khi chiếc ao dai của cô trượt trên làn da lụa xanh xao rơi xuống sàn nhà. Đừng nói đến chạm vào, tôi còn chưa bao giờ được thấy cơ thể trần của phụ nữ, vẻ đẹp của nó khiến tôi nín thở. Mấy ngón tay mảnh dẻ cởi nút áo sơ-mi cho tôi và vuốt ve bộ ngực hãy còn trơn nhẵn của tôi, cặp mắt nâu tươi cười nhìn tôi gọi mời. Nắm lấy tay tôi, Nguyệt đưa tôi lần tới bộ ngực nhỏ tròn của cô, ấn nhẹ những ngón tay tôi theo làn da mềm mại tuyệt hảo. Sau đó, vùng thoát ra, cô quỳ xuống và mơn trớn bụng tôi bằng cặp môi ẩm ướt. Những đầu ngón tay cô nhảy nhót như trêu ghẹo khắp mình tôi và nỗi thèm khát non nớt đột ngột của tôi khiến tôi sửng sốt. Tôi thấy mình như một khán giả bị hất lên ngựa đưa đi, và Nguyệt đã cuốn nỗi ngớ ngẩn của tôi đi bằng sự duyên dáng lão luyện của cô. |
|
#30
|
|||
|
|||
|
Xuống dưới lầu Claude đón chào tôi như thể vừa trở về sau chuyến đi tới nơi tăm tối nhất của Châu Phi, mặc dù tôi lại vẫn cảm thấy bứt rứt khó chịu như cũ, như một gã trai tơ ngượng ngùng bối rối khi bước vào trong nhà thổ. Nhưng rền vang dưới lớp ngượng nghịu ấy là cả một niềm hãnh diện mới mẻ. Tôi đã là đàn ông. Claude nói đúng. Tôi không thể đi chiến đấu mà còn tân, non tơ, đổ dòng máu trinh trắng và nằm chết dưới chiến hào ở đâu đó.
Thế là tôi phá lên tự cười mình. Tôi không nghĩ rằng mình sẽ ngay lập tức phải ra trận. Nhưng biết đâu đấy… Bài tập đã thành công, Claude nồng nhiệt chúc mừng tôi và đề nghị uống mừng một chầu whisky pha soda. Tôi từ chối, bởi trong lúc hết sức biết ơn tôi đã tặng cho Nguyệt món tiền boa 10 piastre. Nhưng thuốc phiện ít tốn tiền hơn whisky nên tôi đề nghị thay vào đó thì chuyển sang món khói fumerie. Đã nghe nói nhiều về chuyện hút thuốc phiện và, được khuyến khích bởi vụ thành công trên lầu, tôi cảm thấy một liều phởn phơ hẳn sẽ giúp kết lại buổi chiều đẹp. Ở xứ Đông Dương việc hút thuốc phiện được những người Châu Âu đánh giá khác nhau từ chic (bảnh) và biết chơi cho đến déclassé (hạ cấp), tùy thuộc họ đã sống ở xứ này bao lâu và chơi bời quan hệ với ai. Việc buôn bán thuốc phiện đã có từ lâu ở Đông Dương, và chiến tranh nha phiến với Trung Hoa là một phần mật thiết trong lịch sử đất nước. Ngay từ những ngày đầu người Pháp tới đây thị trường thuốc phiện đã bị chính quyền nắm lấy độc quyền, ban đầu để buôn bán trong nước và bây giờ thì cung cấp cho các công ty dược phẩm trên khắp Châu Âu. Tôi chưa bao giờ trông thấy cha tôi hút, nhưng tôi đã nghe nhiều về tác dụng tinh thần và khả năng chữa bệnh của thuốc phiện, thậm chí nó rất công dụng khi chữa cảm lạnh và cúm. Một làn khói thơm ngọt lơ lửng trong không khí dưới ánh sáng mờ mờ trên dãy hành lang sau nhà. Chúng tôi được dẫn vào một trong sáu buồng hút. Cái trần nhà bên trong, ám màu đen xỉn, dường như khơi gợi đến chốn vô biên. Tường màu đỏ sậm với những hình vẽ huyền ảo thếp vàng và các nhân vật Trung Hoa đang cầu chúc lộc thọ và những hình gì nữa mà tôi không biết ý nghĩa. Một dãy tượng nhỏ khác bằng ngà và ngọc thạch ánh lên trong góc phòng. Hai chiếc trường kỷ rộng bằng gỗ, chạm trổ rối rắm và khảm đầy vỏ trai, nằm sát hai bên tường. Căn buồng trống không còn người hút nào khác. |
|
#31
|
|||
|
|||
|
Chỉ dẫn chúng tôi tháo giày, Jo chìa hai bộ áo sa-tanh vạt dài để mặc hút cho chúng tôi. Có lẽ ta phải cởi sẵn quần áo từ trước, bởi bộ áo dài này là phụ tùng để đạt tới trạng thái nội tâm và tinh thần cần thiết. Lần thứ hai trong buổi chiều hôm ấy tôi mình trần không mặc quần dài và sơ-mi. Trong bộ áo đen viền đỏ, tôi leo lên cái đệm thêu rất đẹp trải trên vạt giường gỗ cứng và ngả đầu xuống chiếc gối tựa bằng da khá bất tiện.
Người phụ nữ lớn tuổi tên là Hồng hồi nãy đón chúng tôi ở cửa trước bây giờ đem đến một cái khay rồi ngồi nửa xếp bằng xuống sàn nhà, một chân gấp lại đỡ dưới thân, chân kia làm trụ giữ thăng bằng. Bà ta châm ngọn đèn dầu, ánh sáng bập bùng nhảy múa trên nét mặt bà và chiếu xuống những gì dưới khay. Tôi dõi nhìn xuống ba dọc tẩu thuốc phiện chạm bạc, mỗi cái dài hơn năm tấc với chiếc bầu sứ nhỏ nằm ở một phần ba chiều dài thân tẩu. Một lọ bằng tre quang sơn dầu, vẽ trang trí rất đẹp, trông như bình mực, bên trong đựng thuốc phiện lỏng cô đặc, cắm một cái kim dài có tay cầm bằng ngà voi. Với những ngón tay thành thạo người đàn bà bắt đầu ngoáy cái kim, ngào trộn một ít nhựa thuốc phiện bên ngọn lửa đèn dầu, vê quện nhúng vào thuốc phiện lỏng cho tới khi quả bóng rít xèo xèo ấy đạt được kích thước cần thiết. Rồi với một lần trộn cuối cùng bà ta khéo léo ấn cục thuốc phiện vào cái lỗ nhỏ trên bầu tẩu, ép nó thành một viên nhỏ và đưa cái tẩu cho Jo để dùng. Tôi chăm chú theo dõi cách Maîtresse de la Maison cầm cái tẩu nghiêng nghiêng trên ngọn lửa đèn dầu. Viên thuốc chầm chậm sủi tăm và bà rít nhanh đôi hơi rất ngọn rồi thở ra, dài và sâu cho đến khi thuốc cháy hết. Mọi chuyện xem chừng không thể đơn giản hơn được nữa. Người phụ nữ An Nam lớn tuổi làm một ống tẩu khác rồi, sau khi nhẹ kê đầu tẩu vào vị trí gần ngọn lửa, bà đưa nó cho tôi. Tôi thận trọng hút hơi đầu tiên từ cái dọc bằng ngà. Vị thuốc hăng xè lưỡi và khi tôi thử rít hơi thứ hai thì người tôi bất thần ngửa ra. Làn khói nóng sộc vào cổ và họng tôi. Viên thuốc phiện nhỏ bắt lửa và tôi bật ho sặc sụa, há mồm hớp hớp không khí. Trong tình trạng lả cả người tôi lờ mờ nhận ra giọng cười hô hố của Claude và tiếng gạt đi của Jo, bà nhắc tôi rằng chính khoảng ngưng giữa hai hơi rít thuốc đã khiến viên thuốc phiện bắt lửa, rằng tôi không nên ngưng rít lâu quá một giây. Hồng kiên nhẫn châm chỗ còn lại trên tẩu với thuốc mới và tôi thử làm lần nữa, nhưng lại ho nghẹn và vẫn không thể kéo được cái hơi dài ấy. Tôi cảm thấy chút an ủi khi thấy Claude hút cũng chẳng khá hơn gì, được cổ vũ bởi sự thất bại của anh ta tôi bèn quyết tâm hơn. Nhưng sau một vòng cố gắng chả ra làm sao cả hai chúng tôi đều chào thua – chúng tôi bại trận không còn manh giáp. Jo mỉm cười nhũn nhặn và vỗ tay gọi Hồng bưng đến khay trà Tàu. Thứ chất lỏng xanh xanh thơm ngát được rót xuống những cái chén sứ xinh xinh, chứa lượng quá khiêm tốn không đủ xoa dịu hai cái cổ họng rát cháy của chúng tôi. Tôi uống cạn mấy chén liền, nuốt luôn bã trà nổi trên mặt chén. Ngoài trời, cái nóng oi bức buổi chiều không làm đầu tôi tỉnh được thêm và cả Claude cũng im lặng chẳng nói chẳng rằng. Cứ tưởng sẽ nghe tiếng cười hô hố khi tôi gập mình nôn ọe, vậy mà khi quay nhìn lại tôi thấy anh ta đang lảo đảo và rồi, như thể muốn tỏ ra đồng cảm, anh cũng thật lòng nôn tuột xuống thảm cỏ ẩm ướt. Tôi nán lại thêm với cô Nguyệt ân cần, nhưng ngoài lý do túi tiền có hạn thì suy nghĩ ăn bánh trả tiền không làm tôi thấy thú vị. Tôi đã biết được rằng mình hoàn toàn ổn và và thử thách đã được vượt qua. Tuy nhiên, vụ hút thuốc phiện lại là một kinh nghiệm đáng buồn. Có một điều gì đó thuộc về thế giới bí ẩn đang chờ được khám phá và tôi quyết định sẽ phải thử lại lần nữa. Tuy nhiên, lần sau tôi sẽ tự đi một mình. |
|
#32
|
|||
|
|||
|
Claude xem trách nhiệm của mình trong việc dạy dỗ tôi là đã hoàn thành. Jo lại ra mặt khi tôi đến lần tới, và nhẹ nhàng mời tôi đến làm khách cho đến khi tôi hút được cho đúng cách. Bà ở lại thêm với tôi một lần nữa và hút liên tục, những đám khói xanh xanh bốc mù mịt xung quanh. Chúng tôi trò chuyện với nhau như bạn vong niên. Bà kể cho tôi là mình đã nghiện thuốc phiện gần hai mươi năm nay, và mỗi ngày để có thể cảm thấy thoải mái và tỉnh táo bà phải hút ba mươi điếu. Những lời bà nói đáng lẽ phải khiến tôi cảnh giác, nhưng tôi hãy còn quá trẻ.
Chiều hôm đó thành công lại một lần nữa vuột khỏi tay tôi. Có lẽ tôi đã ở lại quá lâu và cố gắng quá sức. Trong đêm thanh vắng tôi lảo đảo quay về doanh trại, đầu óc choáng váng còn ruột gan thì lộn nhào. Tôi tự hỏi tại sao mình lại làm như vậy. Liệu có đáng như thế không? Nhưng đến sáng hôm sau, khi đã hoàn toàn hồi phục, tôi tự nhủ rằng chuyện nó phải như vậy. Đến cuối tuần tôi được chuyển lên Tông và suốt vài tháng liền không thể quay lại Hà Nội. Chỉ còn đủ thời gian cho thêm một lần nữa tới hít fumerie mà thôi. Lần này tôi đã bớt lóng ngóng hơn và rất quyết tâm, và trong bầu không khí mù mịt khói của ổ thuốc phiện quy trình kéo hơi và ho, phun khói phì phì rồi hồi trở lại mà giờ đã thành quen thuộc, cuối cùng cũng đã suôn sẻ. Đến lần thử thứ hai của tôi thì khá bất ngờ, mọi thứ đã trót lọt. Tôi phun ra những vòng khói tròn và bi thuốc phiện nhè nhẹ sủi bong bóng cho tới khi tan mất hẳn. Dần dần một cảm giác an bình và hoàn toàn hạnh phúc trùm lên tôi như một làn khói thơm êm dịu. Khắp người tôi dãn ra trong trạng thái hoàn toàn mãn nguyện và phòng hút hóa thành cái tổ kén ấm cúng, một chốn trú tránh khỏi phần còn lại của thế giới. Không có những ảo giác, không có sự soi rọi, chỉ là một sự yên bình hơi thoát tục và đầu óc thư thả. Đó là trọn vẹn những gì mà tôi đã hy vọng sẽ xảy ra. Khi trời tảng sáng, tôi nói cám ơn Jo vì sự mến khách và kiên nhẫn, và vì đã giúp tôi cuối cùng đạt được mục đích của mình. “Trong cuộc đời anh cần nhắm tới cao hơn thay vì là chuyện hút thuốc phiện”, bà khẽ đáp. “Tôi chúc anh may mắn trong khóa huấn luyện và anh phải quay lại đây gặp tôi khi đã thành sĩ quan. Tại nhà tôi anh sẽ luôn luôn được đón chào”. Bà ta mỉm cười, một nụ cười ấm áp, bí ẩn. |
|
#33
|
|||
|
|||
|
Tôi bắt đầu ghê tởm Capitaine (Đại úy) Tomasini. Gã Corsica nhỏ con này trầy trật leo tới cấp ấy mất đến hai mươi năm trời. Chuyện chúng tôi được lên sĩ quan chỉ sau có chín tháng phục vụ khiến gã tức điên. Gã tựa như một phiên bản cùng kích cỡ của Napoleon đang cưỡi ngựa đi trên đầu đoàn quân, và gã kiên quyết bắt chúng tôi phải đổ mồ hôi sôi nước mắt khi thực hành phận sự.
Huấn luyện sĩ quan là vậy đấy. Khắp người tôi đau nhức đến từng đốt xương. Ngày này qua ngày khác chúng tôi phải tập đi tập lại, leo lên leo xuống địa hình đồi dốc, mỗi người kéo theo một con la cứng đầu thồ một bộ phận pháo nặng trịch. Cứ hai tiếng một lần lão Tomasini rống khẩu lệnh bắt chúng tôi dừng lại dỡ hàng trên lưng la xuống, lắp ráp pháo và nạp đạn sẵn sàng bắn, rồi lại rống khẩu lệnh khác tháo rời pháo và chất lên lưng la. Cuối mỗi buổi tập, trăm lần như một, ngài chỉ huy của chúng tôi lại giơ tay xem đồng hồ với điệu bộ thái quá rất kịch, lắc đầu rồi phán “Quá chậm, lũ đần lười chúng mày. Làm tiếp đi”. Đó là chuỗi ngày dài, quay về khi chiều tối sau mười tiếng đồng hồ hành quân, rồi chăm sóc cho la, cho chúng ăn, cho chúng uống và lấy rơm sạch kỳ cọ cho tới khi lông chúng sạch và khô hẳn. Chỉ sau khi khí tài đã được lau chùi và xếp lại gọn gàng sạch sẽ chúng tôi mới được rảnh tay chăm sóc cho bản thân. Nỗi mệt nhọc đã khiến tôi phải trả giá khi một đêm nọ tôi lê bước lên giường mà vẫn mang theo khẩu súng trường thay vì phải trả nó vào kho. Chuyện này khiến tôi mất hai ngày cuối tuần bị biệt giam trong khối phạt và đây cũng là lần cuối tôi mắc phải sai sót như vậy. Giờ đây tôi thuộc biên chế Đại đội 2 Trung đoàn số 4 Pháo binh thuộc địa, tiểu đoàn cha tôi từng chỉ huy trước khi thăng lon thiếu tá. Trong suốt một ngày mệt nhoài chỉ có điểm sáng duy nhất là bữa sáng – không phải suất sáng quân đội, mà là bữa sáng ngon lành của già Ma Lee với giá ba đồng rưỡi piastre nếu ta sớm chuồn được khỏi trại để vào phố và trở về kịp điểm danh lúc bảy giờ. Lúc này với lon Đội nhất, lương của tôi tăng đáng kể lên thành 20 piastre một ngày và tôi có thể thoải mái tiêu xài ở chỗ Ma Lee: một tách lớn cà phê nóng hổi với váng sữa tươi và hai chiếc bánh nhỏ giòn tan, vừa ra lò hãy còn nóng hổi và đẫm bơ béo ngậy. Thật là một trời một vực so với suất sáng quân đội chỉ độc món cà phê loãng thếch với một mẩu bánh mì đầu thừa đuôi thẹo. Tông là một thị trấn nhỏ khiêm tốn vây quanh khu doanh trại quân đội dành cho 5000 quân nhân đóng cách phố phường Hà Nội 60 cây số – đủ gần mỗi khi hữu sự. Ma Lee là một trong số nhiều dân buôn đến sống ở đây để phục vụ nhu cầu của quân đội. Phố xá ở đây cửa hiệu san sát. Mỗi gian lều tre đều có bán rượu trắng và có riêng những cô gái để nhử lũ trai tơ mặc áo lính đến ăn uống. Các cô gái An Nam trông thật mảnh dẻ và tha thướt, duyên dáng và e thẹn lướt bên quán với vẻ bẽn lẽn trong trắng, chỉ có đôi mắt là lúng liếng. Nhưng hiện đang lan tràn bệnh hoa liễu như lời cha tôi đã cảnh báo, và tôi đành chỉ để cho các cô gái ấy quyến rũ mình trong trí tưởng tượng. Thay vào đó, tôi phát hiện ra một vài cách khác để dân địa phương moi tiền lính. Bài bạc là một thú đam mê của dân An Nam. Thậm chí chuyện mua hoa quả hay đi chợ cũng có thể biến tướng thành đánh may rủi, ngoài cái bàn tính nhiều tay bán hàng còn mang bên người chiếc bát xúc sắc. Tôi cũng thử trò này vài lần, một kiểu được ăn cả ngã về không và gian lận rất dữ chủ yếu bằng cách nhanh tay tráo gạt theo ý người bán hàng. Mặc dù chuyện này khiến việc mua bán thú vị hơn, đây không phải cách hay khi ta muốn mua một nải chuối. Dù còn trẻ, tôi đã bắt đầu cảm nhận được văn hóa của người An Nam và nhận thấy sự say mê bài bạc của họ hình như bắt nguồn từ niềm tin rằng vận may luôn điều khiển số phận của họ. Bài bạc gần như trở thành một tín lễ mỗi khi họ phải quyết định xem làm việc gì, như thế nào. |
|
#34
|
|||
|
|||
|
Năm 1939 đã sắp kết thúc để bước sang 1940, những bài tập đi đều bước đến phát ốm theo sau đít ngựa của Tomasini thưa đi và thời gian ngồi lớp học tăng dần lên. Khía cạnh kỹ thuật của pháo binh đã mê hoặc tôi bởi toán là môn tủ của tôi, đồng thời có thêm mối quan tâm mới dưới hình thức các buổi học chay về tình hình khu vực, đặc biệt là về thái độ gây hấn của quân đội Nhật.
Nhật Bản xâm lược Mãn Châu năm 1931 và tới năm 1937 đã chiếm đóng một loạt trung tâm quan trọng ở Trung Hoa như Bắc Kinh, Thiên Tân, Thượng Hải và Nam Kinh. Phải mất nhiều thời gian để tin tức dù là cô đọng nhất lọt về đến được Hà Nội, nhưng giờ đây chúng tôi biết được rằng trong vài tuần tiếp sau sự kiện Nam Kinh thất thủ tháng 12/1937, quân đội Nhật nhúng tay vào một cuộc trả thù dữ dội trên khắp thành phố, hãm hiếp, tra tấn và tàn sát cư dân của nó. Những ai bị xả súng máy bắn chết là được nhận số phận nhẹ nhàng nhất. Những người không may mắn bằng thì bị dùng để tập đâm lê, bị chặt đầu, thiêu sống, bị cắt xẻo hay bị buộc vào lưỡi treo lên trong cơn say sưa tàn bạo. Việc này chỉ kéo dài vài tuần, nhưng trong khoảng thời gian đó hơn 260.000 thường dân Trung Hoa đã phải chết trong kinh hoàng. Riêng tôi cảm thấy thật khó tin rằng một quân đội chính quy có thể làm những hành động dã man như vậy. Ắt hẳn câu chuyện này đã bị phóng đại. Tôi không thấy lo lắm về những sự kiện xảy ra ở phương bắc. Nhật Bản đang có chiến tranh với Trung Hoa, họ có thể muốn gì từ chúng tôi? Trong lớp học tôi được biết tình hình đang diễn biến nhanh như thế nào, rằng từ khi chiến tranh nổ ra ở Châu Âu, Nhật đã ngày càng nhúng sâu vào, rằng giờ đây Đông Dương đang trong tình thế khó khăn. Mặc dù đã tuyên bố trung lập ngay từ khi chiến tranh Trung-Nhật nổ ra, chính quyền Pháp đã cho phép hàng hóa, phần lớn là viện trợ của Hoa Kỳ, được đi theo tuyến đường sắt Vân Nam ngang qua Bắc Kỳ để chở tới cho quân đội quốc gia của Tưởng Giới Thạch chiến đấu tại Trung Hoa. Nhật Bản vận động hành lang rất mạnh ở Hà Nội nhưng không thể đóng cửa được tuyến đường sắt này, và gần đây họ đã ném bom khu vực biên giới Bắc Kỳ của tuyến đường sắt Vân Nam, phá hủy đường ray và gây thương vong trong số công nhân đường sắt. Cũng như nhiều người lính cùng tuổi tôi ở đây, tôi mong muốn ở lại Đông Dương làm lính hậu bị để được chở tới chiến trường Châu Âu khi có yêu cầu. Nhưng do căng thẳng leo thang ở khu vực của chúng tôi, chúng tôi phải ở lại Đông Dương trong khi ở Châu Âu Pháp đang oằn mình dưới sức nặng cuộc tấn công tàn bạo của quân Đức. Tương lai của nước Pháp ngày thêm ảm đạm mỗi khi chúng tôi nghe được thêm tin gì mới, dù cho tới nay tin tức vẫn rất hiếm hoi. Nhật báo từ Hà Nội không cách gì đến được các thị trấn tỉnh lẻ, còn đài radio là một thiết bị cồng kềnh đầy bóng đèn mà chỉ một vài gia đình giàu có mới mua nổi. Rồi đến tháng 3/1940, khi tình hình tại chính khu vực của chúng tôi nóng dần lên, Sở chỉ huy gửi từ Hà Nội một sĩ quan thông tin trẻ mỗi tuần ghé ở lại Tông đôi chút. Nhiệm vụ của anh ta là báo lại tất cả những sự kiện mới nhất, điểm thêm những nhấn nhá tuyên truyền thôi thúc tình cảm ái quốc. Cũng trong tháng đó một ủy ban Nhật Bản đã tới Hà Nội để chuyển cho viên Toàn quyền, Tướng Georges Catroux, bản phản đối tuyến tiếp vận cho Trung Hoa đi qua Bắc Kỳ - gây nên ảnh hưởng tai hại. Không bên nào đưa ra được giải pháp và Nhật đáp trả bằng những trận không kích quyết liệt khác, thả bom “không cố ý” vào địa phận Đông Dương trên tuyến biên giới. Catroux ra lệnh cho các đơn vị phòng không Pháp ở khu vực biên giới triển khai vào vị trí chiến đấu và tới tháng 4 quân Nhật trả đũa bằng cách ném bom dữ dội tuyến đường sắt. Các tướng Nhật đóng tại Nam Trung Hoa khua gươm leng keng và khởi động một chiến dịch tuyên truyền hùng hổ chống Pháp. |
|
#35
|
|||
|
|||
|
Chính phủ Pháp đang ở trong thế thất lợi. Lực lượng quân sự của họ tại Đông Dương chưa sẵn sàng để tham chiến. Đúng là có sẵn sàng để đối phó với các nổi loạn nhỏ lẻ ở địa phương, nhưng không đủ trang bị để phòng thủ đất nước chống lại quân Nhật. Khi Nhật Bản ép sức mạnh quân sự của mình lên biên giới phía bắc xứ Bắc Kỳ, Toàn quyền Catroux chẳng có mấy quân bài trong tay. Không quân Đông Dương thực sự là không tồn tại. Trên khắp đất nước kể cả lính garde indigène – sắc lính An Nam mang tính bảo an gendarmerie hơn là lực lượng chiến đấu – chỉ có 50.000 người có vũ trang. Khoảng nửa số đó là lính văn phòng, hậu cần, và chưa tới 11.000 là người Pháp. Catroux ước tính rằng quân nhu và đạn dược chỉ đủ cho không nhiều hơn một tháng giao tranh. Hy vọng duy nhất của ông là dùng dình kéo dài thời gian và cầu xin giúp đỡ từ Anh và Hoa Kỳ.
Trong một cuộc gặp riêng với Tư lệnh Hạm đội Viễn Đông Vương quốc Anh ở Sài Gòn, Catroux được cho hay người Anh không thể hỗ trợ quân sự bởi họ không có đủ để dùng. Thứ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ nói với Catroux rằng Hoa Kỳ sẽ không tuyên chiến với Nhật Bản trong trường hợp Đông Dương bị tấn công, nhưng sẽ tán thành một ủy ban thu mua trang thiết bị quân sự giống như đối với bất kỳ quốc gia thân cận nào. Toàn quyền Catroux gấp rút gửi đi một ủy ban như vậy. Và rồi, ngày 18/6/1940, sau bốn ngày trời không có tin tức gì từ chính phủ Pháp ở Paris, Đông Dương nhận được tin rằng nước Pháp đã phải đình chiến với Đức. Xứ Đông Dương thuộc Pháp choáng váng. Đột nhiên vùng đất vốn bị giữ phụ thuộc cả về quân sự lẫn kinh tế với nước Pháp nay bị cắt rời khỏi chính phủ của mình ở bên kia địa cầu. Việc lực lượng yếu ớt của Đông Dương đã bị bỏ mặc đối phó với Nhật Bản được tiếp nhận một cách hoảng hốt và thiếu tin tưởng. Ở nhà, thái độ của cha tôi từ chỗ miễn cưỡng chấp nhận những gì đã xảy ra mau chóng biến thành giận dữ và nhục nhã. Còn với những người thuộc cộng đồng Pháp đã tự cho phép mình kiếm bộn nhờ dựa vào chức vụ, câu chuyện về các tội ác của Nhật ở Nam Kinh và những nơi khác giờ đây trở thành nỗi ám ảnh. Một ngày sau khi có tin về cuộc đình chiến tại Pháp, người Nhật đưa ra tối hậu thư cho Catroux. Với việc quân Nhật đang đe dọa tại biên giới, ngài Toàn quyền chỉ có hai mươi bốn tiếng để chấp nhận các yêu cầu. Catroux nhận thấy mình chẳng có mấy lựa chọn. Không còn hy vọng được giúp đỡ từ bên ngoài, lực lượng bên trong thì yếu ớt và trang bị kém, ông đã chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc vận chuyển hàng hóa cho Trung Hoa. Hy vọng việc nhượng bộ này sẽ xoa dịu người Nhật và vẫn còn muốn kéo dài thời gian, ông thẳng thừng từ chối điều nước Nhật thực sự muốn: mở rộng đường cho quân Nhật đi qua Đông Dương, cũng như cho phép sử dụng các sân bay của Pháp tại thuộc địa. Nếu không có gì xảy ra, ông hy vọng có thể trang bị cho lực lượng của mình bằng khí tài mua từ Hoa Kỳ và sẽ sẵn sàng nghênh chiến vào tháng 10. Catroux đang trong một tình thế dễ gây ác cảm bất kể việc ông có biết được kế hoạch chiến lược tổng thể của Nhật hay không. Sẽ không ai chấp nhận nếu ông nói “không”: người Pháp hiện đang nắm giữ cửa ngõ dẫn đến mọi nguồn lực mà Nhật Bản thèm muốn. Về mặt địa lý, mở con đường xuyên qua Đông Dương là chuyện sống còn nếu Nhật muốn xâm chiếm Đông Nam Á. Từ Đông Dương Nhật có thể tấn công Miến Điện, Mã Lai, Singapore, thuộc địa Đông Ấn của Hà Lan và quần đảo Philippine. Paris đã nằm trong tay kẻ thù và Nhật Bản giờ đây ý thức rất rõ nước Pháp đang yếu đến mức độ nào. Trong khi mặt trời còn đang chiếu êm ả trên vùng đất Đông Dương thuộc Pháp thì tôi phải ngồi làm bài tốt nghiệp. Đấy là một thứ công chuyện rỗng tuếch, và các ngài sĩ quan cao cấp ở Hà Nội ngực đầy huân chương trịnh trọng đến để thi hành bổn phận. Chỉ khoảng tám người trong số chúng tôi thi đậu, và chúng tôi nhận nhiệm sở tương ứng với kết quả thi. Tôi phải trong vòng ba mươi sáu tiếng đến nhận nhiệm vụ tại Đại đội pháo 155mm ở Lạng Sơn, đông bắc Hà Nội, gần biên giới Trung Hoa. |
|
#36
|
|||
|
|||
|
Chiếc nòng thép dài sáu mét sáu, chĩa họng về phía biên giới Trung Hoa. Tôi bước quanh khẩu pháo hải quân khổng lồ, sờ mó nó, vuốt ve nó, cưỡng lại cảm giác thôi thúc muốn nghịch ngợm bộ quy lát. Chúng tôi có cả thảy bốn khẩu pháo ấn tượng như vậy, và tôi chịu trách nhiệm về hai khẩu trong số này. Các khẩu pháo được thiết kế bắn xa và chính xác với tầm bắn tới 32 cây số. Tôi không thể cưỡng lại ấn tượng về chúng. Vốn là những khẩu pháo đặt tại cảng Hải Phòng để phòng ngừa bị tấn công đường biển, giờ đây chúng được chở bằng đường sắt tới chỗ ụ ngụy trang này, cách rất xa so với ụ phòng thủ bờ biển được thiết kế cho chúng.
Ban đầu tôi rất bất ngờ vì được phân công phụ trách trung đội 2 của đại đội. Tôi mới là lính dự bị, mười tám tuổi và vừa tốt nghiệp sĩ quan, vậy mà phải tự mình bố trí và quản lý hai khẩu đại pháo, tiếp nhận, tích trữ và bảo quản đạn dược, và cuối cùng là bắn chúng. Nhưng tôi không được huấn luyện theo tình huống phòng thủ tuyệt vọng đã đẩy tôi đến chỗ phải nhận trọng trách này. Tôi không tin lắm về việc bọn Nhật sẽ tấn công chúng tôi. Tuy nhiên tôi vẫn thực hiện nhiệm vụ được giao, hoàn thành ụ đất công sự bảo vệ quanh pháo và đào xong kho đạn ở sườn phía nam của quả đồi bên cạnh vị trí của tôi, cất trữ an toàn một ngàn quả đạn pháo và liều phóng đặt trong thùng chứa tỵ khí của hải quân. Tôi chọn ra vài chốt quan trắc tại những điểm cao nhất nhìn xuống khu đồi dân cư thưa thớt gần biên giới Trung Hoa, nơi chỉ có vài nông dân đang trồng lúa trên những đồng lúa trống trải. Mỗi chốt đều có tầm nhìn bao quát ra khu vực biên giới thuộc phạm vi hỏa lực của những khẩu pháo của chúng tôi. Tôi thấy hứng thú với tất cả những khía cạnh của khoa học này. Bằng phép tam giác đạc tôi tính tọa độ của những mốc cơ bản như cầu cống và giao lộ, từ đó lập ra một biểu đồ để có thể bắn trực tiếp trong vòng vài giây mà không mất thời gian canh chỉnh. Sau khi bắn vài phát hiệu chỉnh vào khu đất không người, thế là tôi đã sẵn sàng. |
|
#37
|
|||
|
|||
|
Lạng Sơn là một kiểu thị xã thưa thớt rợp bóng cây nằm trên một cao nguyên xanh vây quanh bởi đồi núi trùng điệp. Tuyến đường sắt đi qua thị xã tới Đồng Đăng và “Hữu Nghị Quan” để vào Trung Hoa. Do chính quyền Pháp đã ngưng việc chuyên chở chính thức vũ khí cho người Trung Hoa, Lạng Sơn giờ trở thành sào huyệt kiếm chác của những kẻ dính dáng đến chuyện buôn vũ khí. Cùng với dòng binh lính mới đổ đến gần đây, các quán bar thường lệ và sòng sóc đĩa trong thị xã lố nhố những nhân vật đầy ám muội: dân đầu cơ người Đức, những gã người Mỹ vẻ ngoài đáng ngờ và lũ côn đồ quốc tế nói chung, tất cả chen chúc tìm cách thu hút sự chú ý của các phái viên chính phủ Trung Hoa.
Tôi thì ưa cái không khí sống động, mịt mù khói thuốc của Câu lạc bộ Sĩ quan hơn. Sau giờ đóng cửa Gaston thường ra với tôi, xách theo một chai Pernod với glacé pilée (đá bào) cho tôi và một cốc nước chanh tươi cho mình. Gaston có rất nhiều bạn bè ngoài thị xã. Vào dịp cuối tuần chúng tôi thường cuốc bộ tới những ngôi làng xung quanh nơi có năm mươi, đôi khi cả trăm người lặng lẽ sống kiểu tự cung tự cấp. Trong nhà các bạn cậu ấy tôi được hưởng cái thú hòa vào với sự mến khách hòa nhã của người Việt, mặc dù tôi chẳng hiểu mấy họ nói gì. Gaston luôn giải thích cho tôi về những chuyện xảy ra trong làng trên đường về doanh trại. Gaston rất thích chơi với Poupette, con khỉ của tôi, và cậu ta là một trong số ít người ở Lạng Sơn mà nó thoải mái chơi cùng. Mặc dù có khuynh hướng tinh nghịch thái quá ngoài trời nhưng nó là một con vật cư xử hòa nhã, lịch sự và hiếm khi làm điều hổ thẹn trong các nhà mà chúng tôi đến làm khách. Khuyết điểm của nó là thích nghịch các dải giấy điều viết những lời chúc may mắn bằng chữ Hán mạ vàng trang hoàng trên một số ngôi nhà – dù nó biết tôi hoàn toàn không tán thành việc nó quấn mớ giấy ấy vào người. Lũ gà vịt đi rong ngoài phố cũng là một cám dỗ nghịch ngợm khác, và tôi phải thường xuyên mắng nó hay lôi nó khỏi cái trò chơi không công bằng ấy để quay về chỗ của nó trên vai tôi. Cũng có những chuyến chơi khuya để khám phá các ngọn đồi phía trên thị xã, khi ấy Poupette có thể thoải mái chạy chơi, sục vào các hang hốc đá vôi lởm chởm uy nghiêm, còn Gaston và tôi phá lên cười trong khi đuổi theo nó trên những lối mòn chật chội khúc khuỷu không theo quy tắc nào và có vẻ như cũng chẳng dẫn tới đâu. Nó thích thú với mọi thứ, dáng bò hấp tấp của con thằn lằn, cú vỗ cánh xáo động của con chim bốc lên từ lòng đất, mùi và thậm chí cả vị của những bông hoa. Tất cả đều hạnh phúc vào buổi chiều tối, giống như ba chúng tôi, cùng lắm chuyện và hay pha trò. Tại doanh trại ở Lạng Sơn tôi có chỗ ở của riêng mình và Poupette cũng tán thành chuyện này, bởi đông người hay khiến nó hoảng hốt. Trong phòng riêng của chúng tôi nó có thể thư giãn, nằm ườn trên lưng tựa chiếc ghế bành mà mỗi khi tôi ngồi xuống, nó lại ung dung ra vạch vẹo và chải tóc cho tôi. Tôi còn trẻ, ngây thơ và hưởng thụ cuộc đời quân ngũ theo cách lặng lẽ của riêng mình. Tôi đã không lưu tâm thích đáng đến hậu quả của những gì đang diễn ra quanh mình, cả tại Phủ Toàn quyền ở Hà Nội lẫn trong hành lang của chính phủ Vichy trên nước Pháp đang bị quân Đức chiếm đóng. Đã từng nếm trải mùi vị cuộc đời lính trơn, tôi hiểu mọi thứ đối với tôi đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn chỉ trong thời gian ngắn sau khi tôi tốt nghiệp, và tôi lặng lẽ hài lòng với việc trở thành một sĩ quan quân đội đủ lông đủ cánh. Tôi không nhận ra rằng tất cả vẫn chưa bắt đầu đối với tôi, cũng không biết rằng cuộc đời này tàn nhẫn và thô bạo đến dường nào. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Mien trung (07-06-2013) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|