![]() |
HANOI, ADIEU - Hồi ký cay đắng của một người Pháp Đông Dương
HANOI, ADIEU
Hồi ký cay đắng của một người Pháp Đông Dương Mandaley Perkins NXB Thế Giới, 2012 Hanoi, adieu là hồi ký về vẻ đẹp mong manh và các thế lực ngầm đen tối của những năm tháng người Pháp chiếm đóng Việt Nam. Michel L’Herpiniere là con đẻ của đế quốc Pháp, một thanh niên đến tuổi trưởng thành trong những năm tháng xanh xao trụy lạc của chủ nghĩa thực dân Pháp. Ông tới Hà Nội khi còn tuổi thiếu niên vài năm trước Thế Chiến thứ II, đem lòng yêu đất nước này và những gì mà ông xem là một tổng hòa mê đắm giữa đông và tây. Nhưng dần dần ông nhận ra rằng không phải ai xung quanh mình cũng có chung suy nghĩ ấy. Câu chuyện của Michel bện xoắn không thể tách rời với những tiến trình lịch sử của Việt Nam: sự trỗi dậy của phong trào dân tộc; người Nhật chiếm Đông Dương; cuộc cách mạng của Việt Minh cùng với kết cục hỗn loạn và bi thảm của Thế Chiến thứ II. Đó là câu chuyện về những chặng bước điên rồ đã dẫn nước Pháp dấn vào cuộc chiến với Việt Minh, câu chuyện về những quyết định được đưa ra từ nơi Paris, Sài Gòn và Washington xa xôi đã ảnh hưởng ra sao tới cuộc sống của những con người ở cái thành phố xinh đẹp và hấp dẫn này. Hanoi, adieu là một chuyến du hành xúc động xuyên qua những năm tháng xáo động cuối cùng của xứ Đông Dương thuộc địa, viết về gia đình, tình yêu và sự trưởng thành – một quãng đời cảm động của một thân phận bị mắc kẹt giữa những sự kiện lịch sử. Nếu có khi bạn tự hỏi chiến tranh tại Việt Nam đã xảy ra thế nào, cuốn sách này khiến bạn thấy hấp dẫn. |
Lời tác giả
Những trang sách sau đây chứa theo hồi ức của một đứa con của Đế quốc Pháp, tức cha dượng của tôi, Michel L’Herpinière. Đó là câu chuyện của chuyến du hành náo động của một cậu bé đi vào tuổi trưởng thành với cảm giác quyến luyến với nơi chốn thân thương (sense of place in the world). Đó là câu chuyện về tình yêu của ông với xứ Đông Dương và những con người của nó, và về việc tại sao Hà Nội, nơi ông muốn sống tới trọn đời, đã không bao giờ là của ông. Đó là câu chuyện về những chặng bước điên rồ đã dẫn nước Pháp dấn vào cuộc chiến với Việt Minh, và bối cảnh của tấn bi kịch chiến tranh giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. Hà Nội là nơi Michel sống qua năm tháng niên thiếu từ năm 1936, và đây là câu chuyện về những quyết định được đưa ra từ nơi Paris, Sài Gòn và Washington xa xôi đã ảnh hưởng ra sao tới cuộc sống của những con người ở cái thành phố xinh đẹp và hấp dẫn này. Đông Dương là tên gọi người Pháp dùng để chỉ thuộc địa của họ ở Đông Nam Á, ngày nay là các nước Cambodia, Lào và Việt Nam. Trong Liên bang Đông Dương thành lập năm 1888, Cambodia và Lào là các xứ bảo hộ của Pháp trong khi Việt Nam bị chia thành tam kỳ. Phía nam xứ Cochinchina (Nam Kỳ), bao gồm Sài Gòn và vùng đồng bằng sông Cửu Long màu mỡ, là thuộc địa do Paris cai trị trực tiếp. Xứ Annam (Trung Kỳ), dải đất dài hẹp miền trung Việt Nam, và Tonkin (Bắc Kỳ) ở miền bắc cùng là đất bảo hộ của Pháp. Về lý thuyết hai vùng này được cai trị bởi Hoàng đế ở kinh đô Huế cùng các quan khâm sứ và quản lý hành chính người Pháp. Trong thực tế, nước Pháp cai trị cả ba miền của Việt Nam. Vị hoàng đế cuối cùng Bảo Đại lên ngôi lúc mới mười hai tuổi và đang còn học ở Pháp. Đối với người Việt Nam, bị ngoại xâm không phải là chuyện mới mẻ gì. Suốt một ngàn năm cho tới năm 938, người Trung Hoa đã cai trị đất nước họ, đổi tên nó thành An Nam tức Bình Định Phương Nam. (Dưới chế độ thực dân Pháp người Việt Nam vẫn bị gọi là Annamite tức người An Nam). Kể từ đó nhân dân Việt Nam liên tục phải chống trả dã tâm của người hàng xóm phương bắc muốn xâm lược họ lần nữa. Những thế kỷ chống trả đó đã hình thành trong người Việt Nam sức mạnh, sự kiên trì và đức hy sinh bên cạnh tâm tính dễ thương hòa nhã của họ. Nền đô hộ của Pháp ở Đông Dương kết thúc chỉ trong thời gian ngắn ngủi bảy mươi năm. Trong thời gian này người Pháp đã trấn áp sự kháng cự của người Việt Nam một cách tàn nhẫn và mặc dù tình cảm dân tộc rất cao nhưng cho đến đầu thế kỷ 20 thì chỉ còn rất ít cuộc nổi loạn. Cuộc nổi loạn cuối cùng trước khi câu chuyện này bắt đầu, cuộc nổi dậy đơn độc ở Yên Bái năm 1930, đã bị đàn áp tàn bạo. Ở Đông Dương, thập kỷ sau đó là thời kỳ yên bình và thịnh vượng. Thủ phủ xứ Bắc Kỳ, Hà Nội, có dân cư khoảng 150.000 người và cuộc sống người Châu Âu tại đây thật dễ chịu, thanh lịch và vô lo. Với người Pháp, đấy là những năm tháng vàng son cuối cùng của Đế quốc. Trong số những sách tiếng Anh từng được xuất bản về thời kỳ này, hầu hết được viết bởi những người chỉ ở Hà Nội trong thời gian ngắn hay có khi hoàn toàn chưa từng ở đây. Vì thế, Michel muốn viết lại cuốn sách này. Tôi chọn cách viết nó theo kiểu một hồi ký vì nó chủ yếu là mô tả mang tính cá nhân. Tôi làm việc chặt chẽ với Michel để viết cuốn sách này, và cố gắng dựng lại một số cảnh được ông hồi tưởng sống động nhất. Đó là những trải nghiệm, hồi ức, cảm xúc của chính ông. Chỉ có lời văn là của tôi. |
Về tác giả
Tình yêu văn chương của Mandaley Perkin được kích thích bởi niềm say mê với vùng Đông Nam Á và lịch sử của nó, và những trải nghiệm của chính gia đình bà trong Thế Chiến thứ II và sau đó. Những cuốn sách của bà cho ta biết về sự sụp đổ của Đế quốc Anh ở Singapore và Malaya, và của Đế quốc Pháp ở Đông Dương, dệt nên lịch sử thông qua hồi ức cá nhân của những người từng sống tại đó. |
1
Cuộc hành quyết Tôi cảm thấy mình đang phạm một tội ác. Viên sĩ quan cấp trên của tôi rít một hơi dài điếu Gauloise Bleue rồi bình thản nhìn tôi từ sau chiến bàn giấy, xuyên qua đám khói thuốc vừa thở ra, cương quyết nhưng điềm tĩnh. Có lẽ tôi đã tái mặt đi, bởi ông ta hạ mắt xuống và làm vẻ đang xem xét ghi chép của mình như để cho tôi có thời gian lấy lại bình tĩnh. Bên ngoài sân tập, tôi nghe vẳng lại tiếng viên trung sĩ huấn luyện người An Nam đang cho một trung đội bộ binh đi đều bước. Tôi ước gì mình được thế chỗ anh ta. “Cậu đã được học trong khóa huấn luyện sĩ quan đúng không?” ông ta nói. “Cậu biết thủ tục xử bắn đúng không?”. Đấy là những khẳng định thì đúng hơn là câu hỏi. Cứ như thể ông ta ra lệnh cho tôi tập hợp đơn vị của mình để điểm danh vậy. Tôi trả lời bình tĩnh đến đáng ngạc nhiên, “Oui, mon capitaine”. (Vâng, thưa đại úy). “Đây sẽ là nhiệm vụ không mấy dễ chịu”, ông ta nói tiếp, “nhưng cần thiết, và tôi chờ đợi cậu thực hiện nó nhanh chóng hiệu quả”. Giọng ông ta đanh lại một chút. “Hãy nhớ, trung úy, những tên này là gián điệp cộng sản – kẻ thù của nước Pháp”. Ông ta mỉm cười, kiểu cười quân sự ngắn gọn không có nghĩa gì hơn một lời chúc may mắn. Tôi hầu như vừa mới tốt nghiệp trung học ở Hà Nội xong. Chẳng bao giờ tôi lại nghĩ đến chuyện này. Vào đầu Thế Chiến thứ II tại Châu Âu năm trước, tôi gác chuyện học đại học qua một bên vì lòng ái quốc và tự tăng tuổi để xin nhập ngũ. Cha tôi là quân nhân chuyên nghiệp, nước Pháp đang lâm nguy và dường như làm vậy là rất đúng. Nhưng như thế này… Đó là đầu tháng 9 năm 1940. Đây là nhiệm sở đầu tiên của tôi kể từ khi tốt nghiệp Trường Sĩ quan, tại đồn biên phòng ở Lạng Sơn phía bắc Tonkin xứ Đông Dương, cách biên giới Trung Hoa 20 km. Tôi đã có mười hai tháng huấn luyện chuyên sâu về pháo binh và tôi chưa từng nổ một phát súng ngoại trừ khi bắn tập. Vậy mà bây giờ tôi phải chỉ huy đội hành quyết, xử bắn những con người vì bất đồng chính kiến. Cho đến dạo gần đây việc trở thành người cộng sản vẫn còn được cho phép, không chỉ ở Đông Dương mà cả ở Pháp. Cuộc chiến ở Châu Âu đã dẫn đến nhiều thay đổi trong chính trường Pháp, nhưng tôi chưa bao giờ nghe thấy chuyện xử bắn cộng sản chỉ vì họ là cộng sản. Đây có phải là vụ xử bắn đầu tiên như vậy không? Thật là một suy nghĩ khó chịu. Tôi cần một người bạn. Đêm hôm đó tôi đi sang nhà ăn. Gaston vẫn không có ở đây và trong thoáng chốc tôi thấy tức giận. Nhưng lại nghĩ có lẽ đó cũng là chuyện tốt. Tôi không chắc mình có nên kể cho ai kể cả Gaston nghe không, dù cậu ta là bạn thân nhất của tôi ở Lạng Sơn. Suy nghĩ về chuyện sắp phải làm khiến tôi kinh tởm bản thân. Chẳng biết cậu ấy sẽ nghĩ thế nào về chuyện này? Gaston là người An Nam. Những tù nhân ngày mai cũng là người An Nam. Liệu cậu ấy xem chuyện này thế nào? Tên thật của Gaston là Nguyen Nga, nhưng người Pháp chúng tôi khó phát âm tên An Nam và cậu ta chẳng bao giờ thấy phiền khi bị gọi là Gaston. Tôi đã mất dấu cái đại đội yên bình, khôn ngoan của cậu ấy từ khi đi phép trở về. Cậu ta đang ở đâu? Có một gã người mới đứng đằng sau quầy bar nơi Gaston vẫn làm việc. Gã ta nhún vai khi nghe tôi hỏi về Gaston, và xòe tay ra theo đúng kiểu Gauloise. “Tôi không biết, mon trung úy. Tôi rất tiếc”, và hắn ta quay đi để rót cho tôi ly rượu. Tôi không hiểu tại sao mình lại thân với Gaston đến như vậy. Chắc hẳn vì cậu ta không lớn tuổi hơn tôi là mấy; và vì tôi hơi chút cô đơn ở Lạng Sơn. Phần lớn bạn sĩ quan của tôi ở nhà ăn đều là quân nhân chuyên nghiệp, là cựu binh cận vệ Quân đội Pháp hay Lê dương. Họ chỉ huy những đơn vị lính Đông Dương lớn, và mối bận tâm của họ là những bận tâm của con nhà lính. Những gã lớn tuổi ấy ít có thời gian cho một tay blanc bec – mỏ trắng – như tôi (lính cựu thì là đại bàng nên tân binh được xem là mỏ trắng - danngoc), chưa đầy mười chín tuổi và vừa tốt nghiệp huấn luyện sĩ quan ra. Đã thành lệ cứ cuối tuần là tôi lại ra chơi nhà bếp ngay sau giờ đóng bếp. Gaston và tôi thường ra ngồi ngoài hiên cho đến tận 2 giờ sáng, ánh trăng chiếu xuyên qua tán những tán cây me, trò chuyện về những việc ban ngày trong khi sương lạnh ban đêm rơi lách tách giữa tiếng ve sầu râm ran. Đôi khi chúng tôi cùng dạo bộ tới thị trấn biên giới Lạng Sơn, xuyên qua đám đông huyên náo của khu chợ với lác đác những chiếc képis trắng cùng ngù vai đỏ của lính Lê dương và képis đen có phù hiệu mỏ neo vàng của lính thuộc địa cao lênh khênh trên các vóc người An Nam gọn gàng cân đối. |
Tôi còn trẻ và đầu óc cởi mở, luôn tò mò về cung cách suy nghĩ của người địa phương và về đức tin của họ. Tôi có mối quan tâm thực sự đến phong tục của họ và cảm thấy may mắn khi được Gaston cho làm quen với bạn bè cậu ấy. Đã nhiều lần cậu ta và tôi cùng đi xem hat tuong, thứ kịch sân khấu cổ của người An Nam. Những gánh hát lang bạt đó vốn đã lang thang khắp đất nước từ nhiều thế kỷ nay và chúng tôi thường ngồi ở chỗ xem tạm bợ ngoài trời, chân bắt chữ ngũ trên cỏ, tôi là người Châu Âu duy nhất giữa một biển người An Nam, mê mệt trước những bộ trang phục sặc sỡ, kỳ lạ của một nền văn hóa cổ xưa, tiếng hát the thé, tiếng trống và phèng la vang lên chói cả tai.
Tôi chẳng hiểu được từ nào, nhưng cũng đủ hiểu được ai là ai – vai phản và vai tà mặt trắng bệch, lông mày tô dựng ngược; mặt đỏ là vai tướng dũng, lông mày vẽ ngang để mô tả sự trung tín chính trực; lông mày thấp tố giác vai gian nịnh, còn mặt xanh lục là vai chất phác. Trong những khảng khắc yên tĩnh hiếm hoi Gaston thường ngả người giải thích cho tôi đôi chút về cốt truyện, hầu hết mang tính lịch sử, về những cuộc chiến diễn ra đã hàng ngàn năm trước. Khi tuồng hết cậu ta và tôi thường mời đoàn hát dùng trà hay ăn một bát pho, bởi hình như Gaston luôn quen biết các diễn viên. Cho tới lúc ấy cuộc sống của tôi ở Lạng Sơn thật dễ chịu. Đơn vị tôi được biên chế vào một khẩu đội dã pháo tầm xa cách thị xã 10 km, và ở đây chẳng có mấy hoạt động. Nhưng dọc theo biên giới Trung Hoa, rắc rối đang nảy sinh. Nhật Bản đã xâm lược Trung Hoa năm 1937 và chiến sự liên miên không dứt. Nhật Bản tin rằng chiến thắng tại Trung Hoa tùy thuộc việc chặn được hàng tiếp tế cho chính phủ Trung Hoa từ Tonkin chuyển đến, vì vậy giờ đây họ đang hăm he vùng biên giới của chúng tôi. Nhưng với sự ngờ nghệch non nớt của mình tôi chưa khi nào thật tin rằng mình sẽ bị quân Nhật tấn công. Ba tháng trước tôi đã không vội vã, vô tư lự đi tổ chức các kho đạn dược và chốt quan trắc tại những ngọn đồi quanh Lạng Sơn. Cứ tầm bốn năm giờ chiều tôi lại từ thực địa trở về. Dường như chẳng có gì phải vội. Giờ đây, đứng một mình ở cuối quầy bar, tôi như muốn vứt khỏi đầu suy nghĩ về buổi sáng hôm sau. Dường như nó quá phi thực tế, một cơn ác mộng mà tôi có thể thức dậy bất cứ lúc nào. Tôi uống thêm một ngụm. Từ chối hay không hoàn thành nhiệm vụ có thể dẫn đến tòa án binh và án tù dài hạn, thậm chí cả bị xử bắn. Quân đội Pháp rất nặng tay với kẻ nào bất tuân thượng lệnh. Không có cách nào khác. Người phục vụ quầy đưa tôi thêm một ly Pernod. Tôi hít sâu hơi rượu thơm rồi nốc cạn, mong rằng nó sẽ giúp tôi sớm ngủ say. Đó là một thử thách rõ ràng. Tôi cố gắng suy nghĩ một cách khách quan. Những kẻ này đang âm mưu chống lại đất nước và phải bị tiêu diệt. Tôi làm theo lệnh và đó là việc phải hoàn thành. Tôi bứt rứt xoay trở trên ghế. Cách đây mười hai tháng tôi còn đang tập trung học lý thuyết xạ kích pháo chính xác. Có những buổi học chính trị mà tôi, không phải là kẻ mù quáng chính trị, không bao giờ tập trung quá mức cần thiết tối thiểu. Có đôi lần tôi đã nghe cha mình kể về cuộc cách mạng thất bại năm 1930, trước khi gia đình chúng tôi đến đất nước này, và về việc những người bất đồng chính kiến đã bị đàn áp dữ dội, nhưng theo như tôi biết thì cho tới gần đây nhà cầm quyền Pháp tỏ ra khoan thứ một cách vừa phải bất cứ luồng tư tưởng ngầm bất đồng chính kiến mập mờ nào tại Đông Dương. Nhưng giờ đây mọi việc đã thay đổi. Mệnh lệnh của ngày hôm trước có nhắc đến bản hiệp ước giữa Hitler với lãnh đạo cộng sản Nga Joseph Stalin. Kể từ khi có hiệp ước năm 1939, Đảng Cộng sản Pháp đã phản đối cuộc chiến tranh chống Hitler. Từ thời điểm đó họ bị gạt khỏi vòng pháp luật. Tại Pháp những người Cộng sản, dù là đảng viên hay người có cảm tình, đã biến mất trên đường phố. Những người này, từng có thời là lực lượng chính trị hợp pháp liên minh với những người Xã hội dưới ngọn cờ Mặt trận Bình dân, nay trở thành kẻ bị săn đuổi. Dường như chuyện này cũng xảy ra ở Đông Dương. Người Cộng sản buộc phải hoạt động bí mật và đột ngột bị dán nhãn gián điệp, phản bội, là kẻ thù của đất nước. Đó là những người ngày hôm nay bị xử bắn. Chuyến đi ra mỏ đá vôi bỏ hoang ở phía bắc thị xã không kéo dài. Chúng tôi quay mặt khi ánh bình minh bắt đầu xiên xuống hố chôn, và tôi nhận ra vách đá phẳng, nơi dùng làm phông nền xử bắn. Mọi chuyện bắt đầu diễn biến thật nhanh. Trong khi đám lính An Nam nhảy xuống xe, tôi đánh dấu bốn điểm mốc trên mặt đất, cách phía trước vách đá khoảng 10 mét. Một mệnh lệnh ngắn gọn, và đám lính đi đến đứng vào vị trí. Tôi đứng chờ, trong bụng cảm thấy bứt rứt. Giết người khi chiến đấu khác hẳn việc bình thản bắn vào một kẻ tay không tấc sắt. Tôi không nhìn sang đám lính mà đứng nguyên tại chỗ, mắt dõi thẳng phía trước. Dường như có một sự im lặng chết chóc đang bao trùm xung quanh. Đến tiếng chim hót cũng không có. Chúng tôi đã sẵn sàng. Tiếng động của chiếc xe tải chở tù giật tôi ra khỏi trạng thái mất hồn. Thời gian để chiếc xe tiến vào khu mỏ đá và dừng lại dường như kéo dài đến lê thê. Lính gác nhảy xuống và bắt đầu mở cửa hậu. Đột nhiên có ai đó hô lên, là một trong số các tù nhân: “Đả đảo chủ nghĩa đế quốc! Việt Nam độc lập muôn năm!” Rồi cả bốn người bọn họ cùng hô. Tôi nhìn lướt qua họ khi họ bước đến điểm mốc tôi đã đánh dấu. Họ quay mặt lại chúng tôi – và tim tôi như ngừng đập. Người đứng cuối vung nắm đấm lên trời. “Vive le Vietminh!” (Việt Minh muôn năm) Không thể như thế. Sao lại thế này được? Tôi nhìn chằm chằm người này và nhận ra là mình đã đoán đúng. Đó là Gaston. Tôi thấy rối bời, choáng váng. Gaston! Đấy là Gaston, đầy kích động, không khác chút nào, đang hô những khẩu hiệu cộng sản. Nguyen Nga là một gã cộng sản? Nhưng cậu ấy là bạn tôi! Tôi thấy mình như phát bệnh. Nhọc lả người. Tôi cần thời gian suy nghĩ. Nhưng không còn thời gian nữa. Cả bốn người giờ đang hô hét các khẩu hiệu cộng sản, khẩu hiệu chống Pháp, đang đứng ngay trên mốc, phẫn nộ, khích động, không sợ hãi. Tôi đứng như trời chồng, cho tới khi viên trung sĩ An Nam bé nhỏ chắc nịch lay tôi tỉnh lại. Tôi phải bước tới và hô khẩu lệnh bịt mắt để cho mình tỉnh lại, đúng lúc ấy Gaston chợt nhìn thấy tôi. Mặt cậu ấy thật sôi nổi, không phải là gương mặt hiền và khôi hài mà tôi quen. Nhận ra tôi nhưng cậu ấy không hề đổi sắc mặt. Không một chút gì, không tỏ ra quen biết, không một lời buột miệng. Khuôn mặt tôi không còn là khuôn mặt của một người bạn mà đã thành kẻ xử bắn, đỏ bừng cảm xúc rồi lại chuyển sang tái nhợt, u ám, kinh hãi. Băng bịt mắt bị họ gạt đi và cả bốn cùng đứng thẳng thách thức, miệng vẫn hô “Vietnam doc lap!”. Tôi nhìn trân trân phía trước. Qua làn sương mù trong đầu tôi nghe thấy tiếng mình ra lệnh to và rõ, nhưng nghe như từ trên cao xa xăm vẳng xuống. “Sẵn sàng… Ngắm… Bắn!” Và đúng lúc ấy, cầu Chúa đoái thương, tôi quay mặt đi. Âm thanh của bốn mươi tám phát súng dội lại từ vách đá. Chỉ khi tiếng vang đã tắt tôi mới mở mắt ra, để thấy bốn cái xác đã gục xuống mặt đất. Tất cả đã hết. Chỉ còn một nhiệm vụ nữa, pour la France, le coup de grâce, phát ân huệ. Tôi bước chuệnh choạng tới xác gần nhất trong hàng, chỗ Gaston. Người cậu ấy hơi vặn đi khi ngã, máu me và bất động, khuôn mặt thân quen của cậu ngả xuống quay về phía tôi, mắt mở to, đã trơ ra thất thần. Tay tôi đờ ra bên hông. Tôi muốn chùi mồ hôi trên bàn tay trong khi ngón tay tôi quắp chặt lấy báng súng lục. Tôi lần tìm cò súng. Một cơn buồn nôn dâng lên và tôi cố kìm khỏi nôn ọe khi nhắm bắn vào thái dương. Xác cậu ta giật một chút do sức nổ, máu đặc nhầy tuôn ra từ mũi và miệng cậu ấy thành dòng đỏ thẫm từ từ tràn xuống đất. Tôi đã ngưng cả thở nên bây giờ phổi ứ lại đột ngột khi tâm trí khép lại. Tôi đã giết chết bạn mình. Bạn tôi đã chết. Cứng đơ và máy móc, tôi bước tới cái xác kế tiếp trong hàng. |
2
Enfant d’Empire - Con đẻ của đế quốc Khi ấy tôi không biết làm thế nào mà một đất nước không phải quê hương ta lại có thể bẻ gẫy tinh thần của ta. Nhưng rồi, trong một thời gian dài tôi đã không thể nghĩ rằng mình không thuộc về xứ Đông Dương. Người Pháp cùng người An Nam, nước Pháp với xứ Đông Dương, Hà Nội và tôi. Chúng ta là hai nền văn hóa dễ dàng hòa quyện với nhau trên các đường phố của Hà Nội thành một hỗn hợp quyến rũ giữa đông và tây. Ít nhất đó là suy nghĩ của tôi. Nhưng tôi đang sống trong dối trá. Tất cả chúng ta đều đang sống trong lừa dối. Tôi được nuôi dạy là đứa con đẻ của Đế quốc Pháp. Thời thơ ấu tôi không suy nghĩ nhiều về gốc gác hay quốc tịch, hay về nơi mà tôi có thể gọi là quê hương mình. Quê hương là nơi mà tôi sống, là Madagascar, hay Pháp, hay Ma-rốc. Đến năm 1936 chúng tôi tới Hà Nội và theo thời gian cảm giác nhất thời quyến luyến chốn cũ mà chúng tôi mang theo đã dần dần tan biến. Ở Hà Nội có cái gì đó thật khác. Chưa bao giờ tôi thấy cha mẹ tôi lại hạnh phúc và đầy sinh khí đến thế. Lúc ấy tôi đã lớn hơn, vừa tròn mười sáu tuổi, đang tuổi hình thành tính cách, thấm đẫm ý thức về thẩm mỹ và văn hóa đang ngày một nâng cao. Có lẽ hóc môn tuổi trẻ đã mài dũa ý thức cho tôi, lần đầu tiên trong đời tôi bắt đầu nghĩ đến tương lai và mường tượng ra nó một cách rõ ràng. Một cuộc sống ở Đông Dương, mảnh đất tôi bắt đầu tha thiết mong muốn được gọi là quê hương mình. Khi Papa đăng ngũ vào Quân đoàn Thuộc địa Pháp năm 1926 thì cuộc chiến tranh dữ dội nhất lịch sử đã kết thúc được tám năm ròng. Quyết định của cha khiến Maman hết sức bất ngờ. Trong Thế chiến thứ I cha tôi được thưởng huân chương Chiến công Bội tinh và Bắc đẩu Bội tinh hạng Sĩ quan Quân đoàn Danh dự[1] vì thành tích đạt được. Ông mang những ký ức đau thương quay về sống cuộc đời thường dân, thề trong lòng sẽ không bao giờ cầm súng nữa. Nhưng vào thập niên 1920 nước Pháp tụt dốc, và chính phủ Pháp tìm kiếm những người sẵn lòng rời xứ đi khai phá ở nước ngoài. Cha tôi bảo với mẹ tôi rằng sẽ không bao giờ có một cuộc đại chiến thế giới nữa, và cuộc sống trong Quân đoàn Thuộc địa tệ lắm cũng chỉ là công việc gìn giữ hòa bình. Đó là một cơ hội để được đi vòng quanh thế giới đôi chút, để xem con người ở những nơi đó sống ra sao. Ma-rốc là điểm dừng đầu tiên của gia đình tôi. Với một đứa con trai bảy tuổi, Casablanca như một câu truyện cổ tích Ngàn lẻ một đêm, ngay trong chuyến di chuyển đầy mê đắm đầu tiên dọc các con phố của thành phố này trên chiếc xe ngựa mui trần để tới cái khách sạn lớn các những ngọn tháp đọc kinh với đám khuân vác thuê lảng vảng xung quanh, tất cả bọn họ đều ăn mặc thứ áo choàng ngủ và đội chiếc mũ fez[2] kỳ dị – và tôi có cảm giác mình thật nhỏ bé trên cái sàn nhà rộng lót gạch trắng. Sau đấy chúng tôi đi dạo ở khu souk, khu chợ trời, và tôi tròn mắt nhìn đám đông những đàn ông đàn bà da sậm mặc áo choàng trắng và đội mũ trông như cái khăn lau bát, nhìn người dụ rắn bí hiểm đang ngồi xếp bằng tròn trên vỉa hè, dụng cụ kiếm ăn duy nhất của họ là cái ống sáo kỳ lạ và con hổ mang đang lờ đờ cuộn tròn trong giỏ. Những người ghali-ghali ở đây có thể hô biến con gà xuất hiện từ bên tai tôi, và khắp nơi lấp lánh các món đồ đồng thau lạ mắt trên những gian hàng trong chợ. Papa mua cho tôi cái mũ fez đỏ rực có quả tua đen rồi chúng tôi vào ngồi ở một quán café vỉa hè giống như quán ở Paris, với những chiếc đĩa be bé đầy đồ ướp muối cắt nhỏ liên tục xuất hiện trên bàn. Trong các cửa hàng chăng đầy những tấm thảm đẹp Maman và Papa nhấm nháp cốc trà bạc hà nóng, tay lật hàng chồng thảm lụa và thảm len tuyệt đẹp. Ở một cửa hàng nọ tôi mò ra phía sau và nhìn thấy hai cô gái nhỏ đang ngồi dệt, những cuộn chỉ to xù màu sáng bay qua bay lại giữa các ngón tay xinh xinh của họ. Họ ngước mắt nhìn trong khi vẫn làm thoăn thoắt và mỉm cười với tôi, rồi một người đàn ông da sậm cáu kỉnh có bộ ria dày la mắng họ gay gắt khiến tôi ù té chạy ra trước cửa hàng. ------------------ [1] Croix de Guerre: Huân chương Chiến công Bội tinh của Nhà nước Pháp, áp dụng từ năm 1915, được trao cho các cá nhân hay đơn vị quân đội có thành tích anh dũng nổi bật trong chiến đấu. Sĩ quan Quân đoàn Danh dự (Officier de la Légion d'honneur) : là hạng tư của Huân chương Bắc đẩu Bội tinh (Ordre national de la Légion d’honneur), dòng huân chương cao quý nhất của Nhà nước Pháp (gồm 5 hạng, hạng cao nhất là Grand-croix de la Légion d’honneur). - Danngoc [2] Mũ fez: thứ mũ của đàn ông Bắc Phi bằng dạ đỏ hình tròn chóp bằng, trên đỉnh có ngù lông. - Danngoc |
Sau đó chúng tôi xuôi về phương nam đến Khenifra, dưới chân dãy núi Trung Atlas, dọc theo các con đường gồ gề lộng gió, ngang qua những ngôi làng nhỏ bé có các ngôi nhà vách đất mái bằng, có mấy con lừa còng lưng thồ mớ củi tướng, và lũ nhỏ, tà áo dài lật cả lên, đang chăn đuổi đàn dê lông lốm đốm. Một đoàn du mục đi ngang, súng trường dài ngoẵng đeo cao tréo qua vai, cưỡi trên những con ngựa trang trí sặc sỡ, ngù len lắc lư. Tôi quên bẵng chứng say xe của mình vì phấn khích mỗi khi dừng lại bên một đoàn lạc đà chở các thùng gỗ lớn chứa muối, trong lúc chờ tài xế chúng tôi hỏi đường người Ả Rập cưỡi lạc đà.
Khenifra là ngôi làng nhỏ nằm bên rìa một sa mạc hoang vắng biệt lập. Đoàn Lê dương Ngoại quốc là một đội quân gồm những gã yêng hùng, phần lớn là kẻ trốn tránh xã hội nhưng hết sức có kỷ luật, đi bộ tuần tra trên sa mạc và các điểm nóng vùng núi, chúng tôi hiếm khi trông thấy họ. Bản thân cư dân làng này cũng chỉ không hơn một trăm người Ả Rập. Có thêm vài đứa trẻ người Pháp, loanh quanh tám đứa cả thảy, hầu hết đều lớn hơn tôi. Sung sướng và thường chơi cùng một nhóm bạn của mình, tôi nghĩ ra đủ thứ trò – đi bắt rùa trên sông, làm một cái hồ cho chúng trong khoảng sân có tường vây của nhà tôi, cho chúng ăn, tắm rửa cho chúng, cho chúng thi bò nhanh. Bourico, chú lừa nhỏ của tôi, người bạn thân thiết nhất, cũng sống chung trong khoảnh sân đó và cõng tôi đến ngôi trường bé tí xíu để học cùng đứa bạn cùng lớp duy nhất của tôi. Sau đó tôi thường thơ thẩn dọc chuồng ngựa để giúp chú coi ngựa chăm sóc những con ngựa Ả Rập tuyệt đẹp mà cha tôi hay cưỡi đi tuần tại tám chốt pháo binh trên sa mạc do ông chỉ huy. Những kinh hãi của nơi này thậm chí cũng trở thành trò tiêu khiển của một thằng con trai. Ban đêm bò cạp từ sa mạc bò vào, lặng lẽ chui vào phòng ngủ của tôi rồi trườn xuống dưới tờ báo mà anh cần vụ người Senegale luôn đặt trên giường cho tôi. Mỗi khi nghe thấy tiếng loạt xoạt của chúng, tôi liền dụi mắt nhỏm dậy để đập chết bằng cái dụng cụ chuyên dùng để giết bò cạp của mình. Tồn tại mối hiểm họa từ người chleuh, tức những người Ả Rập chống đối lang thang khắp sa mạc để đánh cướp có vũ trang, tấn công làng mạc và cướp đoạt gia súc, đôi khi là cả phụ nữ. Và dĩ nhiên có cả người Touareg, khiến trẻ con sợ hãi hơn cả vì mặt họ vẽ màu xanh lam, bọn này đã bắt đi toàn bộ gia đình quân nhân mà chúng tôi đến thay chỗ, gồm cả cha, mẹ và các đứa con. Họ đã thâm nhập và tản ra ở bờ cấm bên kia của sông Oumer Rebia, nơi có thể tìm thấy những con rùa to đẹp nhất đang tắm nắng trên các tảng đá. Tôi vẫn còn là trẻ con và người duy nhất lúc nào cũng luôn bên tôi là mẹ tôi, người mà tôi tôn thờ. Sau này, khi chuyển từ tuổi niên thiếu sang thời thanh niên, có đôi lần tôi cảm thấy ngột ngạt vì mẹ quá yêu thương mình, mặc dù tình cảm ruột thịt vẫn khiến tôi dễ dàng hông cảm cho mẹ. Trong phần lớn thời niên thiếu của tôi cha tôi chỉ lâu lâu tạt ngang, tôi cũng chẳng hiểu cha mấy, một người luôn thẳng lưng, trịnh trọng, mặc bộ quân phục, hay bắt tay tôi hơn là hôn tôi và xa nhà rất nhiều. Tôi hết sức kính trọng ông nhưng không bao giờ cảm thấy mình hiểu được cha. Ông rất tôn trọng mẹ với một vẻ kiềm chế rất thịnh hành hồi đó và khá khác lối thủ thỉ tâm tình của mẹ đối với tôi. Maman là người rất thân thiện với mọi người xung quanh. Chỉ có vài phụ nữ Pháp ở Khenifra – gồm vợ của một cựu binh giải ngũ và một sĩ quan khác, bà hiệu trưởng và hai hoặc ba người khác – và mẹ hết sức cố gắng đễ vẫn giữ cách sống cũ của mình. Căn nhà của chúng tôi là nơi chiều chiều các bà các cô và chồng họ tụ tập, bởi nhà tôi có chiếc máy hát duy nhất trong thị trấn. Sau bữa tối tôi được phép thức rất muộn để xem họ nhảy, miễn là tôi chịu khó ngồi quay tay máy hát. Tôi thích âm nhạc, thích các bộ váy đầm dài xoay vun vút trong điệu foxtrot, điệu nhảy hai bước, bởi các quý bà ăn mặc đẹp trong những dịp như vậy để tìm cách trốn khỏi thực tế cuộc sống của mình ở cái chốn xa xôi khỉ ho cò gáy đầy bụi bặm này của đế quốc Pháp. Khi tôi mười một tuổi, chúng tôi đi xuống phương nam đến Madagascar, đến đảo quốc phía đông của Mozambique từng có thời là mốc đệm để các hoa tiêu Pháp định hướng hải hành đi khắp đế chế. Chốt biên giới nhỏ bé Diego Suarez ở bắc hòn đảo đã trở thành nhà của chúng tôi, một nơi thật thanh bình nên Papa chẳng có gì nhiều để làm trong quân ngũ ngoài việc có mặt. Tại đây, lần đầu tiên trong đời tôi, cha đã có chút thời gian rảnh chăm sóc cho tôi. Đôi khi chúng tôi giương một tấm buồm vuông kiểu địa phương trên bãi biển toàn đá, với một người Châu Phi to nhe răng cười đứng điều khiển, và lướt vòng quanh bờ biển theo làn gió buổi chiều tới những nơi bí mật an toàn để câu cá, bồng bềnh theo ánh hoàng hôn. Làn nước, nhung nhúc những loài khó ưa – cá sấu caiman, lươn điện, cá đuối điện và cá đá có gai cực độc – hình như chỉ làm tăng thêm nỗi tò mò hấp dẫn. Trong khu rừng rậm ẩm ướt Papa và tôi thường đi săn bươm bướm, những con bướm tuyệt đẹp to như con chim sẻ với sải cánh đến 25 cm màu sắc sặc sỡ, bụng luôn nơm nớp canh chừng con trăn thắt người khổng lồ nổi tiếng là hay bắt ăn dân địa phương. Đất đai hãy còn hoang vắng, thực sự chưa bị bàn tay con người đụng đến, một yếu tố thu hút vài vị khách du lịch người Pháp từ thủ đô Tananarive ở phía nam đến đây tham quan. Họ thường đến thăm cái hồ gần thị trấn để nấp sau rặng tre bên bờ hồ và quan sát đám cá sấu caiman lén lút ăn mồi. Nhẹ cân hơn cá sấu thường, cá sấu caiman dài tối đa 2,4 đến 2,6 mét với cái mõm nhọn thuôn, và chúng thường quay đầu ngược về phía đuôi hệt như cá heo mỗi khi có bất kỳ chuyển động nào sau rặng tre. Không có gì khác để làm ngoài việc đi dạo trên các con phố của thị trấn, Maman và tôi thường lạng qua chỗ mấy gian chợ yên tĩnh nơi đám thợ thủ công người địa phương da đen bán sản phẩm của họ, những món đồ tuyệt đẹp giát đá quý và chạm lộng tinh xảo. Trong con mắt của một đứa trẻ, những người Phi Châu này thật vui tươi và thân thiện hơn nhiều so với dân Ả Rập ở Ma-rốc. Cuộc sống nơi đây có vẻ như thật đơn giản. Đường phố luôn đầy ắp tiếng cười, bởi họ cười rất nhiều, họ cười trước mọi thứ mà tôi bật cười. Họ rất thẳng thắn, dễ thổ lộ và ít phức tạp hơn nhiều so với những người mà sau này tôi được biết ở Đông Dương, và có lúc tôi nghĩ lại rằng có khi chính vì sống đơn giản không phức tạp mà họ đã có được thời gian để tận hưởng cuộc đời. Thời niên thiếu của tôi thật yên ấm và đầy đủ, do tôi được bảo bọc bởi người mẹ mang trong mình nỗi đau đã mất một đứa con trước đó. Tôi không còn nhớ nhiều về Margaret em gái mình, ngoại trừ việc suốt mấy ngày sau khi em mất vì viêm phổi lúc mới mười tám tháng, mẹ tôi, người bảo bọc tôi, chỗ dựa vững chắc của tôi, gào khóc như hóa điên; rồi sau đó, xanh xao và kiệt sức, mẹ ôm tôi chặt đến nỗi tôi phải vùng ra để thoát. Kể từ đó trở đi tôi sống như bị tách rời khỏi thế giới bên ngoài vì sự chăm chút của mẹ tôi, bất cứ chúng tôi sống ở đâu cuộc sống của tôi cũng y hệt, tôi không bao giờ chán khi được một mình ở bên cạnh Maman để làm những chuyện lặt vặt. Thật thú vị mỗi khi từ nơi đồn trú trở về Pháp, với các lớp học luôn đầy học sinh cùng tuổi tôi. Nhưng thậm chí ở đấy tôi cũng đơn độc, bởi sau giờ học tôi không được phép đi đâu mà không có cha mẹ đi cùng và rất khó để có được một tình bạn bền lâu. Các dịp cuối tuần tôi chỉ biết lịch sự ngồi trong phòng khách nhà bạn bè cha mẹ hay vơ vẩn theo sau họ đi xem hát hay dạo bộ buổi chiều. Ngoài mẹ ra, tất cả những gì tôi có chỉ là làm bạn với lũ vật nuôi. Tôi phải bằng lòng với việc tiêu khiển thời gian một mình. Thời niên thiếu của tôi là dõi qua hàng rào xem lũ trẻ khác chơi đùa, qua tiếng la hét cười nói của chúng tôi biết hình như chúng có một gia đình thật đông đúc. Có lẽ thời niên thiếu của tôi cũng khá hạnh phúc, nhưng thật cô đơn. |
Chuyến đi tới Đông Dương kéo dài như vô tận. Lúc ấy là tháng 9/1936, còn tôi là một đứa trẻ ngượng ngịu bám chặt lấy cha mẹ hàng tuần lễ trong khoang hạng nhất trống trải của chiếc tàu thủy hơi nước André le Bon. Dù đã từng nghe qua về sự kỳ bí và lạ lùng của phương Đông, tôi lại biết rất ít về đất nước nơi chúng tôi sắp đến, thậm chí còn chẳng có mấy ý tưởng về chuyện gì đang chờ đợi trước mắt. Tại bến cảng Sài Gòn sôi động, nắng chói chang, ấn tượng đầu tiên của tôi là những đám đông, cái nóng nung người và sự bẩn thỉu – dù thời gian chúng tôi ở đấy chỉ đủ để đổi tàu cho chặng đi cuối cùng đầy ác mộng của cuộc hành trình. Và rồi, trong bốn ngày rưỡi trời, chúng tôi bị giần nhừ tử trên giường tầng trong khi chiếc tàu hơi nước chạy ven bờ Mon Kai tròng trành bơi dọc biển Nam Trung Hoa[1] hoang vu, cho đến lúc nhẹ hẳn người khi thấy con kênh đầy bùn dẫn tàu vào cảng Hải Phòng thuộc xứ Bắc Kỳ (Tonkin).
Đoàn tàu hỏa chở chúng tôi chặng 110 km từ Hải Phòng về Hà Nội chạy rất chậm, bầu không khí trong toa thật ẩm ướt. Ánh mặt trời xứ Tonkin có dịu đi đôi chút khi đi qua hàng dặm hàng dặm ruộng lúa nước, những cánh đồng xanh rực rỡ với bờ be đắp đất thấp thấp chia ngang xẻ dọc. Những con trâu nước với cặp sừng khổng lồ kềnh càng bước, bầy chim trắng nhỏ nhảy trên lưng chúng để rỉa vào bẹn. Một cậu bé vắt vẻo cưỡi trên cổ trâu giơ tay vẫy đoàn tàu chạy qua, và tôi giơ tay vẫy lại. Lấm chấm trên đồng là những bóng người gầy gò cúi gập, trên mình mặc thứ giống như bộ pyjama màu nâu, chiếc mũ rơm hình nón nhọn của họ trông như các ngôi chùa kỳ diệu di động, che cho họ khỏi nắng. Đoàn tàu huýt còi mỗi khi chúng tôi đi ngang các ngôi làng nhỏ có những paillote, những túp lều tre mái lợp rạ. Papa nói chúng tôi đang đi qua Đồng bằng sông Hồng dân cư đông đúc, nơi hàng năm các dòng nước bùn từ những rặng núi quanh đấy đổ con sông Hồng rộng mênh mông, rút đi để lại vùng đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu, ngập bùn, từ đây sản xuất ra lượng gạo lớn cho đất nước. Nghiêng người về phía trước, mẹ vỗ đầu gối tôi một cái. Chiếc mũ nhỏ đỏm dáng vắt vẻo sau đầu mẹ dường như không phù hợp đến buồn cười với hoàn cảnh mới này. Mẹ mỉm cười. “Ça va mieux?” mẹ hỏi. Con có thấy đỡ hơn không? “Un peu”, tôi đáp. Một chút thôi. Thực ra thì không. Một người phục vụ tới, bưng cái khay đặt đồ uống, và cốc nước chanh mát lạnh khiến tôi tỉnh người còn hơn cả giấc ngủ. Tôi lại nhắm mắt lại cho tới khi, huýt hồi còi dài cuối cùng, đoàn tàu cót két rên rỉ rồi dừng lại. -------------- [1] Có tên gọi chính thức là Biển Đông. Edit của Nhà xuất bản Thế Giới. Thực ra trên các bản đồ thế giới đều ghi là Southern China Sea (Danngoc) |
Chúng tôi đã ở Hà Nội. Sân ga lộn xộn những hòm xiểng và hành khách, nồng nặc mùi nách và khói than đá. Những bàn tay cáu ghét cứ quặp chặt cái túi tôi đang đeo cho tới khi cha tôi, mặc bộ quân phục thiếu tá vải khaki và đội képi, đến xua đám khuân vác lui ra. Người lái xe tìm ra chúng tôi và anh ta dẫn chúng tôi tới chiếc ô tô chỉ huy khá oai vệ. Anh ta đánh xe ra và từ tốn thương lượng với một đám xe kéo tay ken nhằng nhịt với nhau, các anh culi kéo gầy giơ xương đang xô đẩy tranh giành khách hai bên vỉa hè.
Ban đầu xe đi thật chậm, dù trên đường chỉ có vài chiếc ô tô. Đường phố Hà Nội vang vảng âm điệu nhịp nhàng crích crích crích của xe kéo tay poussepousse, và tôi cũng bắt đầu ngồi chúng. Đám culi bền bỉ chạy chân trần dưới trời nắng, khách chễm chệ ngồi che nắng phía sau. Khi chúng tôi lướt qua một đại lộ rộng rợp bóng cây, tôi ngoái cổ dõi theo một toán các cô gái An Nam đang vừa bước vừa rúc rích với nhau, áo của họ vạt dài cổ cao, gọi là ao dai, tà áo bay sang hai bên để hé đôi quần rộng dài chấm mắt cá màu sắc trang nhã. Giữa các cư dân bản xứ là một vài người Châu Âu đang bước đi trên vỉa hè, đàn ông mặc comple lụa trắng, phụ nữ trong áo váy mảnh dẻ, hợp thời trang, dài chấm mắt cá; thỉnh thoảng có một nhà sư nổi bật trong áo chùng màu vàng nghệ và chiếc đầu cạo nhẵn; một ông quan đang bình thản tản bộ, tay vuốt râu trầm tư, vạt áo the đen bay hất lên, chiếc ô đen kẹp chặt dưới nách. Đến gần trung tâm thành phố chúng tôi rẽ xuống bên bờ của một chiếc hồ lặng sóng, có một cây cầu cong bắc qua ngôi chùa cổ trên hòn đảo nhỏ bên góc hồ. Quay mặt ra hồ là một dãy biệt thự hai tầng màu son và trắng, kiểu biệt thự điển hình của Pháp hệt như mọi nơi trên thế giới mà tôi biết, mỗi nhà có một cái vườn nhỏ phía trước với tường rào gạch song sắt rèn. Đến trước một căn như vậy người lái xe dừng lại và chúng tôi bước ra đi khám phá ngôi nhà đầu tiên của mình tại Đông Dương. HẾT CHƯƠNG 2 |
Trích:
Cách đây vài tháng tôi có đi Sapa chơi, đến ngắm nhà thờ đá và nói chuyện với một tay mắt xanh mũi lõ. Tôi hỏi là cảm nghĩ của mày về dân tao thế nào thì nó nói là dân mày còn mọi rợ lắm, chúng tao cách đây hơn 100 năm khái hóa dân mày mới được thế. Thiệt tình lúc đó cứng họng không biết nói ra sao nữa. Lúc mình sinh ra đã khóc bằng tiếng Việt rồi, yêu cái lũy tre xanh, con cò mỏi cánh bay qua cách đồng nhưng đành chấp nhận sự thật phũ phàng đó. |
Chuyện ấy thì đồng chí nói đúng. Người Pháp vào còn làm một chuyện rất quan trọng, nghe có vẻ rất nghịch lý là biến người Việt 3 miền từ những cộng đồng rời rạc thành một dân tộc thống nhất để chống lại kẻ thù chung là người Pháp. Dẫn chứng nhé: chuyện Pháp đánh thành Hà Nội mà dân tình không ủng hộ triều đình mà thản nhiên đứng xem là 1 ví dụ. Hay một ví dụ khác: Thanh Thực lục, bản dịch của Hồ Bạch Thảo, NXB Hà Nội 2007 dịch in toàn bộ các chỉ dụ của Càn Long trong chiến dịch xâm lược Việt Nam. Chỉ dụ của Càn Long ngày 13 tháng 10 năm Càn Long thứ 53 (10/11/1788) hạ lệnh cho Tôn Sĩ Nghị bắt đầu chiến dịch, toàn chiến dịch huy động 1 vạn quân (chưa tính dân phu). Có lẽ nếu kể cả dân phu là 5 vạn, cách xa con số 20 vạn của Hoàng Lê Nhất thống chí. Lý do của Càn Long đưa ra là lấy kinh nghiệm chiến dịch đánh Đại Việt của Thoát Hoan thất bại do quân kéo đi đông quá, không tổ chức hậu cần được. Dịch giả Hồ Bạch Thảo thì nghi ngờ là Càn Long nói láo, nhưng theo tôi thì không vì chỉ dụ lưu trong văn khố, không phải chuyện đùa. Nhưng đúng là một chiến dịch đánh nước lớn như VN thì 1 vạn quá ít. Vậy chỉ có thể hiểu là trong chiến dịch này, chủ yếu là... người Việt đánh người Việt, hay ngầm hiểu là người Việt miền bắc xem người Tây SƠn không phải là đất nước mình.
|
Trích:
Chuyện 20 vạn quân Thanh đóng ở kinh thành Thăng Long rõ ràng không phải là con số chính xác. Ngày ấy kinh thành Thăng Long bé tí tẹo à. 20 vạn tức 200.000 người nếu đái ỉa thì ngập kinh thành rồi. Đợt tôi có chứng kiến Phan Bích Hằng nói chuyện vong hồn ở Đống Đa thì cô ấy nhăn mặt nói là người âm nói tiếng Việt ở đây cũng nhiều lắm... Thôi bạn danngoc tiếp tục topic đi để mình ngồi hóng hớt tiếp. |
Trích:
Thi thoảng off topic bàn luận một chi tiết chẳng thú vị lắm ru? Nước Pháp là nước xâm lược nước ta nhưng tôi thực sự có thiện cảm với nền giáo dục Pháp. Hầu hết các cụ chỉ được học đến trình độ tương đương lớp 4 thôi nhưng có cốt cách và chữ đẹp kinh khủng. Theo ý kiến tôi vấn đề độc lập không nên hẹp hòi quanh quẩn lãnh thổ. Người Pháp đến Đông Dương thì lập một quốc gia đa văn hóa, đa sắc tộc chẳng tốt lắm sao? |
Vấn đề dân tộc, như tôi đã nói ở một topic nào đó, là chủ đề tranh cãi không bao giờ có kết thúc. Vậy ta chỉ nên nêu ý kiến của mình thôi nhé. Nick masha90 rất thích ức chế mình.
Bây giờ chuyển sang chuyện khác. Những tưởng chuyện xa lắc trời Âu không ảnh hưởng đến xứ ta. Nhưng Hiệp ước Xô-Đức 1939 lại ảnh hưởng lớn đến tình thế cách mạng VN. Trước đấy, Đảng CS được hoạt động công khai ở Đông Dương. Sau Hiệp ước này, do Đảng CS Pháp ủng hộ Liên Xô nên bị Pháp loại khỏi vòng pháp luật, dẫn tới việc Đảng viên CS ở Đông Dương bị truy bắt, xử tử. |
Nói về người Pháp họ mang văn hóa của họ khai hóa dân tộc ta nhưng nhiều số người trong họ ác lắm.
Hôm trước trong một chuyến tàu lên Sapa có cụ già khoảng 80 tuổi kể cho mình nghe tội ác của một gã Pháp da trắng. Gã Pháp da trắng này là sĩ quan đóng ở một cái bốt (theo suy đoán của mình là cái trại lính cỡ nhỏ). Hàng ngày gã uống rượu say ngất ngây con gà tây rồi đi tắt ra cánh đồng. Gặp chị em là gã đè ra hiếp. Có ngày gã gây ra hai, ba vụ. Gã hiếp người ta đến mức có thai. Nhân dân căm thù nhưng không dám làm gì. Việt Minh về bắt được gã Pháp này. Gã mặt cắt không còn giọt máu, chắp tay lạy như tế sao. Nhưng cuối cùng gã vẫn phải đền tội. Lạ một điều mộ gã sau này gọi là mả tây nhận rất nhiều hương hoa thờ cúng cho đến bây giờ. Hoạt động tín ngưỡng của dân mình thật là khó hiểu. |
3
Hanoi, Enchanté – Hà Nội thật quyến rũ “Pho-o-o-o”, “Gio-o-o-o”, “Nem Ran-an-an”. Tiếng rao của người bán rong trên phố và mùi thơm ngào ngạt của nuoc mam, thứ nước sốt làm từ cá, khiến tôi hít căng cả mũi và sực nhớ rằng mình đang đói. Tôi vẫn biết Maman không muốn tôi ăn quà ngoài phố. Mẹ rất hãi thứ bát đĩa rửa sơ sài ngoài đường, một chậu sắt tráng men nước lạnh thường dùng để súc rửa bát đũa không biết bao nhiêu lần trước khi được đổ ào xuống rãnh cống dọc vỉa hè, rồi lại đem hứng đầy nước máy từ vòi nước công cộng đầu phố. Nhưng Maman và các bạn của mẹ lại rất thích chôn chân vọc tay xem những chồng vải lụa. Tiền thì tôi vẫn sẵn trong túi. Thế là nhanh chân tôi sẽ chuồn đi chén nhoắng một bát pho bo ngon lành, món súp mì nấu với thịt bò khoái khẩu của tôi, mà Maman không hề nhận ra. Chúng tôi đang ở Vieux Quartier, khu Phố Cổ Hà Nội, gồm hai cây số vuông đường phố có từ thế kỷ mười lăm, hầu hết là những con phố chật hẹp, mỗi phố lấy theo tên món sản phẩm mà phường thợ sống ở đó sản xuất ra. Maman thường mê mẩn đến quên cả thời gian mỗi khi đi đến các phố yêu thích của mình – Hàng Bông, Hàng Bạc, Hàng Đồng, Hàng Dầu và nhiều phố khác nữa. Đây là Rue de la Soie, phố Hàng Đào, nơi lui tới yêu thích của các bà các cô, trưng bày cơ man những kiểu ao dai, váy đầm và áo thêu đẹp nhất tha hồ xem. Đây đã thành nơi dạo chơi đều đặn của chúng tôi mỗi buổi chiều. Bắt đầu từ khu biệt thự, men theo bờ hồ cỏ mọc rậm rịt của Le Petit Lac (Hồ Hoàn Kiếm), chúng tôi thường dừng chân ghé tiệm café ngoài trời nằm nhô ra trên làn nước lạnh tĩnh lặng ở phía bắc của hồ, nơi mấy con cá chép lớn vảy sặc sỡ hay ló đầu tò mò ngắm vãn khách. Sau đó chúng tôi nhẩn nha băng qua đường để tới khu phố cổ, nơi mùi hạnh nhân ngọt ngào thơm phức ven hồ hòa vào mùi thức ăn đang nấu, và vẻ tĩnh lặng thanh bình của mặt nước bị lấn át bởi tiếng huyên náo của bao nhiêu con người và tiếng rao lanh lảnh của những người bán rong trên phố đang chào mời khách mua. Maman vẫn còn trong cửa hàng, đang trả giá mấy mét lụa xanh trứng sáo. Người chủ hàng tỏ ra đầy thân thiện, bởi ông ta cảm thấy người phụ nữ Châu Âu này có thể chấp nhận một giá khá hời. Ở gian kế đó cuộc trả giá quyết liệt hơn nhiều, bởi vị khách người An Nam cò kè gay gắt đến từng li từng tý chất lượng của mặt lụa. Tôi đưa mắt nhìn sang một trong số những người bán hoa quả đang gánh đi trên phố trong trang phục kiểu nông thôn, quần nâu hay đen, dây lưng thắt ngang hông cái nâu cái nhiều màu, cái mũ như hình con sên, một chiếc gậy tre trên vai gánh vắt vẻo hai cái thúng to ở mỗi đầu, đựng hai hoặc ba loại hoa quả ngon lành xứ nhiệt đới. Tôi thường mua hai quả chuối nhỏ cho Poupette, kẻ luôn có mặt trên vai tôi, những chiếc móng xinh xinh của nó thỉnh thoảng mới phải bấu lấy tóc tôi để giữ thăng bằng. Hôm nay tôi mua thêm một túi quả vải cho mình để giết thời gian trong khi Maman đi xem hàng. Poupette, con khỉ của tôi, là một sinh vật nhỏ bé vui vẻ và người bạn tốt nhất của tôi. Nó chia sẻ cùng tôi những món ăn, ngủ chung giường, cuộn tròn an toàn trong chiếc màn chống muỗi. Mỗi sáng hễ tôi mở mắt ra là lại thấy khuôn mặt ngộ nghĩnh của nó đang nhìn tôi không chớp để xem dấu hiệu đầu tiên khi tỉnh giấc. Nhẹ nhàng và lịch sự, ở đâu nó cũng được người ta chào đón, kể cả tại chuồng ngựa nơi nó đã trở thành một con vật lấy khước. |
Với Papa và Maman, đua ngựa là một phần cơ bản của tiến trình định cư hòa nhập tại đây. Chính tại Trường đua Bagatelle cha mẹ tôi bắt đầu tìm được chỗ đứng trên vũ đài xã hội ở Hà Nội. Tài nhìn ngựa của Papa thật sắc bén, ông có được khi cưỡi ngựa cùng binh chủng kỵ binh trong Thế Chiến thứ I. Giờ đây cha cùng các bạn mới của mình, Maurice Jusserand, Giám đốc Điều hành của ngân hàng Banque Franco-Chinoise, và Jean Crepin, một nhà nhập khẩu và thầu khoán thành đạt, đã lập ra một hội tổ chức đua ngựa. Cuối cùng họ cùng nhau xây dựng một phức hợp đua ngựa khá lớn nằm gần trường đua ở ngoại ô Hà Nội. Khởi đầu với nửa tá ngựa hay và vài thanh niên chưa có kinh nghiệm, số lượng ngựa họ đào tạo được mau chóng tăng lên thành hai mươi bốn con.
Tình yêu ngựa của tôi cũng mạnh dần lên và tôi dành phần lớn thời gian sau giờ học của mình tại chuồng ngựa để giúp cho ngựa ăn, chải lông và cưỡi vào chuồng. Tại các cuộc đua tôi học được cách nhận biết hàng trăm con ngựa qua bề ngoài, dòng giống, tuổi và khả năng chạy của chúng. Bagatelle và chuồng ngựa trở thành ngôi nhà thứ hai của tôi. Khu phức hợp ngựa đua của chúng tôi nằm cạnh quận Tây Hồ tiếp giáp với đê Sông Hồng, một thiên đường của các con đê nhỏ rất hẹp để đi lại nhưng rất hợp để luyện ngựa, có những lối đi cứng để tập nước kiệu và có sẵn nước để cho ngựa lội qua. Có các hòn đảo nhỏ để khám phá, những cây ổi và vải với quả thơm ngon gần như quanh năm mọc hoang ven bờ. Sau này, rất lâu sau này, tôi có dịp được tản bộ trên những con đê đáng yêu vắng vẻ ấy cùng một người con gái Pháp xinh đẹp và sôi nổi. Có một rặng cây với cành lá già cỗi oằn xuống như một dãy rèm sà sát đất, cỏ mềm mọc khắp nơi, tỏa mùi ấm áp và ngọt ngào. Những trái quả đang chín mọng trên cây và xung quanh âm thanh duy nhất là tiếng cá quẫy trên mặt nước hồ. Da nàng nâu đều, tóc dài tha thướt và tôi thấy mình như đang ở Vườn Địa đàng. *** |
Trích:
|
Tại trường đua một con ngựa hồng cứng cáp đang nhảy nhót quanh vòng sân tập diễu hành trong khi cha tôi đứng xem một cách thán phục.
“Nó thật tuyệt vời”, cha nói với người trưởng nhóm luyện ngựa. “Tôi rất kỳ vọng vào con ngựa cái non này”. Cha tôi đang ở đúng môi trường của mình. Phía sau chúng tôi một cậu bé đánh cá ngựa đang phân vân và cha tôi chỉ dẫn cậu ta đi ghi cược ở tote guichets (cửa quầy) dưới khán đài. Chúng tôi len lỏi về chỗ cái bàn đặt trên cái sân hiên rộng mênh mông, đi ngang chiếc vạc bằng bê tông to tướng có hình dáng như cái chậu tắm cho chim, rộng 3 mét và rủ xòe những chùm hoa giấy rực rỡ. Maman đang ngồi đó dưới tán dù rộng che bóng cho chiếc bàn, cười đùa với các bạn bè. Trải rộng dưới mắt chúng tôi là toàn cảnh một trăm mét cuối của vòng ngựa đua và đích đến, những bãi cỏ được cắt xén gọn gàng cùng các luống hoa và lối đi rực bóng phượng vĩ. Sau đó chúng tôi gia nhập với đám những tay cá cược, chủ ngựa và luyện ngựa trong cái mát mẻ của hàng hiên tòa nhà chính, nơi đám đông đang tụ tập sau khi cuộc đưa kết thúc để ăn mừng hay làm vơi bớt nỗi buồn thua cược. Thời kỳ ấy ở Hà Nội tồn tại một bầu không khí vô lo, dàn nhạc sẽ trỗi lên và cuộc chè chén sẽ kéo dài thâu đêm Chủ nhật. Đấy là Bagatelle, một trong những viên ngọc quý của phương Đông, lấy mẫu theo khu Bagatelle của trường đua Longchamps gần Paris. Chính tại Bagatelle này mà lần đầu tiên tôi được gặp Marie Claire. Nàng trở thành một vị khách thường xuyên và nhập vào nhóm bạn quen của cha mẹ tôi trong các cuộc khiêu vũ chiều tối sau khi buổi đua kết thúc. Nàng thật vui tươi và hoạt bát khiến tôi không tài nào không chú ý đến nàng. Có lẽ khi ấy nàng khoảng trên dưới ba mươi tuổi, vô cùng quyến rũ và đã lập gia đình với một thiếu tá quân đội nổi tiếng là khó gần. Chúng tôi chưa bao giờ được gặp người này. |
Marie Claire nhảy tuyệt giỏi, nếu không muốn nói là mải mê quên hết xung quanh. Tôi mới chỉ mười sáu tuổi khi lần đầu tiên nàng kéo tôi từ cái góc nhà tĩnh ra ánh đèn chói chang của sàn nhảy. Tôi xấu hổ tột độ và rất miễn cưỡng, bởi lần nhảy duy nhất của tôi là một màn nhảy soirée bất hạnh trên boong tàu thủy, lần ấy tôi rời bạn nhảy mà rõ ràng chẳng ai buồn để ý. Tuy nhiên, Marie Claire dường như không bận tâm chuyện này. Lần thử đầu tiên của chúng tôi thật lóng ngóng, nhưng sau buổi chiều đầu tiên đó nàng vẫn đến với tôi. Chẳng mấy chốc tôi đã cảm thấy thật thoải mái.
Trong mấy tháng tiếp theo nàng dạy cho tôi tất cả những điệu nhảy mới nhất, từ Lambeth Walk cho đến Latin American. Tôi mê mệt diễn xuất nóng hổi của nàng trong những điệu Latin. Nàng mặc những chiếc váy xuyên thấu nhất, cặp chân thon thả của nàng với bàn chân và đôi giày cài nút dọc suốt mu bàn chân thật chính xác và vững tin. Thật dễ cuốn theo các chuyển động uyển chuyển của cơ thể nàng khi nàng áp mình sát vào tôi. Điệu Tango của nàng vô cùng khêu gợi, và trong nỗi tủi nhục tôi thường cảm thấy một làn điện không hay ho lan tỏa dưới háng mình. Nếu như Marie Claire để ý thấy, mà chắc hẳn là nàng có, nàng lại chẳng tỏ ra bực mình chút nào. Khi nhạc tắt nàng cuốn tôi về chỗ ngồi và chỗ khuất của góc khăn trải bàn đã gọn gàng khéo léo che đi nỗi bối rối cho tôi. Tôi trông chờ mỗi buổi chiều Chủ nhật, trông chờ những chòng ghẹo tàn nhẫn và ve vãn ác liệt của nàng với thái độ khá điềm đạm. Nhưng cuối cùng chồng của Marie Claire chuyển nhiệm sở ra khỏi thành phố. Sau đó thỉnh thoảng nàng mới xuất hiện, quay về bằng tàu hỏa để tham dự họp mặt cuối tuần. Cuối cùng nàng biến mất hẳn và tôi nhớ nàng vô cùng tận, tuy nhiên cuộc đời vẫn cứ thế trôi đi. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:03. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.