|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#101
|
|||
|
|||
|
Em cũng xin hưởng ứng bài này, cũng lâu lắm rồi không dịch thơ của chàng thi sĩ đẹp trai nhưng sớm chán cuộc đời này. Hy vọng các bậc cao thủ sẽ hưởng ứng
![]() <table> <tr> <td valid="top"> Мне грустно на тебя смотреть Сергей Есенин --------------------------------------- Мне грустно на тебя смотреть, Какая боль, какая жалость! Знать, только ивовая медь Нам в сентябре с тобой осталась. Чужие губы разнесли Твое тепло и трепет тела. Как будто дождик моросит С души, немного омертвелой. Ну что ж! Я не боюсь его. Иная радость мне открылась. Ведь не осталось ничего, Как только желтый тлен и сырость. Ведь и себя я не сберег Для тихой жизни, для улыбок. Так мало пройдено дорог, Так много сделано ошибок. Смешная жизнь, смешной разлад. Так было и так будет после. Как кладбище, усеян сад В берез изглоданные кости. Вот так же отцветем и мы И отшумим, как гости сада... Коль нет цветов среди зимы, Так и грустить о них не надо. </td> <td valid="top"> Lặng nhìn vườn thu và ta cảm thấy buồn Sergei Esenin --------------------------------------------- Lặng nhìn vườn thu và ta cảm thấy buồn Ôi nỗi đau và nỗi niềm thương tiếc! Khi biết rằng màu liễu đồng tha thiết Là những gì tháng chín để cho ta. Hơi ấm vườn thu, và thân hình run rẩy Cặp môi nào đã đem chúng xa bay. Dường như có một cơn mưa nhỏ Rơi tự tâm hồn đang chết cứng đâu đây Thôi cũng được! Ta không hề sợ hãi Có một niềm vui khác đến cùng ta . Vì chẳng còn điều gì sót lại Ẩm ướt lá thu vàng tàn úa bao la Vì ta cũng nào giữ thân ta nhỉ Cho đời bình yên, cho những nụ cười Những con đường ta qua còn ít lắm Nhưng lỗi lầm lại nhiều quá, than ôi Cuộc đời, bất đồng quả thật buồn cười, Đã là thế, và sẽ luôn như vậy Hàng bạch dương như xương người rải rác Chẳng rõ khu vườn hay nghĩa địa ở đây Thì chúng ta cũng lụi tàn như thế Như khách của vườn im lặng mà đi Nếu giữa mùa đông đã không còn hoa nữa Thì chẳng nên buồn nhớ chúng làm gì </td> </tr> </table> |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
|
#102
|
||||
|
||||
|
Hi hi, tôi soi mãi mà không thấy "vườn thu" ở đâu
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
|
#103
|
||||
|
||||
|
Bài thơ này Seryoshka rất thích, hai câu đầu đuợc bác Nguyễn Viết Thắng dịch hay tuyệt, "Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России."/Em giản dị như là tất cả, như trăm ngàn người con gái nước Nga".
Nhưng có một chỗ kỳ quá, "những ngựa cái già ở chốn thảo nguyên"(đoạn 5, hai dòng cuối)??? Có mem nào dịch lại giùm Seryoshka đuợc không chứ như thế có vẻ thô thiển quá Ты такая ж простая, как все Em giản dị như là tất cả (Người dịch: Nguyễn Viết Thắng) Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России. Знаешь ты одинокий рассвет, Знаешь холод осени синий. По-смешному я сердцем влип, Я по-глупому мысли занял. Твой иконный и строгий лик По часовням висел в рязанях. Я на эти иконы плевал, Чтил я грубость и крик в повесе, А теперь вдруг растут слова Самых нежных и кротких песен. Не хочу я лететь в зенит, Слишком многое телу надо. Что ж так имя твое звенит, Словно августовская прохлада? Я не нищий, ни жалок, ни мал И умею расслышать за пылом: С детства нравиться я понимал Кобелям да степным кобылам. Потому и себя не сберег Для тебя, для нее и для этой. Невеселого счастья залог - Сумасшедшее сердце поэта. Потому и грущу, осев, Словно в листья в глаза косые... Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России
__________________
Shall I compare thee to a Summers day? Thou art more louely and more temperate: Anh sẽ so sánh em với một ngày hè chăng? Khi mà em hiền dịu và đáng yêu hơn nhiều: (Sonnet 18 - William Shakespeare) Thay đổi nội dung bởi: Seryoshka, 08-04-2008 thời gian gửi bài 18:15 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
@@@ (25-04-2008) | ||
|
#104
|
|||
|
|||
|
Trích:
<table><tr><td valign="top"> ---------------------------------------- Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России. Знаешь ты одинокий рассвет, Знаешь холод осени синий. По-смешному я сердцем влип, Я по-глупому мысли занял. Твой иконный и строгий лик По часовням висел в рязанях. Я на эти иконы плевал, Чтил я грубость и крик в повесе, А теперь вдруг растут слова Самых нежных и кротких песен. Не хочу я лететь в зенит, Слишком многое телу надо. Что ж так имя твое звенит, Словно августовская прохлада? Я не нищий, ни жалок, ни мал И умею расслышать за пылом: С детства нравиться я понимал Кобелям да степным кобылам. Потому и себя не сберег Для тебя, для нее и для этой. Невеселого счастья залог - Сумасшедшее сердце поэта. Потому и грущу, осев, Словно в листья в глаза косые... Ты такая ж простая, как все, Как сто тысяч других в России </td><td valign="top"> ---------------------------------------- Em bình dị như mọi người khác thôi, Nước Nga có hàng trăm ngàn con gái. Em từng biết một bình minh đơn côi, Và cái lạnh mùa thu xanh tê tái. Thật nực cười trái tim anh thổn thức, Ý nghĩ xuẩn ngu luẩn quẩn trong đầu. Gương mặt em đẹp nghiêm trang thánh thiện, Dung nhan tranh đức mẹ khác gì đâu. Anh từng nhổ lên những tranh tượng thánh Thích bọn thanh niên thô lỗ ồn ào, Mà đột nhiên nay anh thấy dâng trào Những ca từ dịu dàng mềm mại nhất. Anh chẳng muốn bay lên đỉnh trời cao Thân xác này đòi hỏi ta nhiều quá. Sao cái tên em cứ vang ngân thế, Như mát mẻ trong lành tháng tám qua. Anh chẳng nghèo, không đáng thương, nhỏ bé, Sau cơn bốc đồng cũng biết lắng nghe: Quen chó và ngựa từ lúc tuổi thơ Anh rất hiểu cách làm thân với chúng. Bởi vì thế bản thân anh không giữ Chẳng cho em, hay cô nọ, cô kia. Trái tim nhà thơ cuồng loạn dại khờ Hạnh phúc buồn đã ươm mầm từ đấy. Bởi vì thế nên anh buồn, rũ rượi, Như bóng lá héo tàn in mắt ai. Em bình dị như mọi người khác thôi, Nước Nga có hàng trăm ngàn con gái. </td></tr></table>
__________________
Đã rời NNN... Thay đổi nội dung bởi: tykva, 10-04-2008 thời gian gửi bài 13:48 |
|
#105
|
||||
|
||||
|
Đồng ý với chị Bí, đây là bản dịch của bác Nguyễn Viết Thắng trên www.thivien.net
Em giản dị như là tất cả Như trăm nghìn người con gái nước Nga Em thấu hiểu ánh bình minh đơn lẻ Và nhận ra cơn giá lạnh mùa thu. Thật buồn cười anh đem lòng thương mến Thật dại khờ đem ý nghĩ tơ vương Gương mặt em nghiêm khắc và thánh thiện Như ảnh Thánh treo ở chốn nguyện đường. Anh đã từng phớt lờ bao ảnh ấy Tiếng hò reo, thô bạo vẫn tôn thờ Nhưng bây giờ bỗng nhiên lời trỗi dậy Thật dịu dàng, đằm thắm những vần thơ. Anh chẳng muốn bay tận chốn mây mù Lên đến đó cần quá nhiều thân thể. Sao mà tên của em ngân vang thế Tựa hồ như cơn gió lạnh mùa thu? Anh không nghèo, không bé dại, đáng thương Và biết nghe những tấm lòng nhiệt huyết Từ ngày nhỏ đã biết làm cho thích Những ngựa cái già ở chốn thảo nguyên. Chính vì thế mà anh chẳng giữ mình Để cho em, cho người này, người khác Vật bảo đảm cho niềm vui hạnh phúc Là trái tim cuồng thi sĩ của anh. Chính vì thế mà anh buồn bã Lác mắt nhìn như chiếc lá rơi ra... Em giản dị như là tất cả Như trăm nghìn người con gái nước Nga.
__________________
Shall I compare thee to a Summers day? Thou art more louely and more temperate: Anh sẽ so sánh em với một ngày hè chăng? Khi mà em hiền dịu và đáng yêu hơn nhiều: (Sonnet 18 - William Shakespeare) |
| Được cảm ơn bởi: | ||
@@@ (25-04-2008) | ||
|
#106
|
||||
|
||||
|
Còn đây là bài Nuớc Nga Sôviết của Yesenin, cũng do bác Nguyễn Viết Thắng dịch
<table><tr><td valign="top">Русь советская А. Сахарову Тот ураган прошел. Нас мало уцелело. На перекличке дружбы многих нет. Я вновь вернулся в край осиротелый, В котором не был восемь лет. Кого позвать мне? С кем мне поделиться Той грустной радостью, что я остался жив? Здесь даже мельница - бревенчатая птица С крылом единственным - стоит, глаза смежив. Я никому здесь не знаком, А те, что помнили, давно забыли. И там, где был когда-то отчий дом, Теперь лежит зола да слой дорожной пыли. А жизнь кипит. Вокруг меня снуют И старые и молодые лица. Но некому мне шляпой поклониться, Ни в чьих глазах не нахожу приют. И в голове моей проходят роем думы: Что родина? Ужели это сны? Ведь я почти для всех здесь пилигрим угрюмый Бог весть с какой далекой стороны. И это я! Я, гражданин села, Которое лишь тем и будет знаменито, Что здесь когда-то баба родила Российского скандального пиита. Но голос мысли сердцу говорит: "Опомнись! Чем же ты обижен? Ведь это только новый свет горит Другого поколения у хижин. Уже ты стал немного отцветать, Другие юноши поют другие песни. Они, пожалуй, будут интересней - Уж не село, а вся земля им мать". Ах, родина! Какой я стал смешной. На щеки впалые летит сухой румянец. Язык сограждан стал мне как чужой, В своей стране я словно иностранец. Вот вижу я: Воскресные сельчане У волости, как в церковь, собрались. Корявыми, немытыми речами Они свою обсуживают "жись". Уж вечер. Жидкой позолотой Закат обрызгал серые поля. И ноги босые, как телки под ворота, Уткнули по канавам тополя. Хромой красноармеец с ликом сонным, В воспоминаниях морщиня лоб, Рассказывает важно о Буденном, О том, как красные отбили Перекоп. "Уж мы его - и этак и раз-этак,- Буржуя энтого... которого... в Крыму..." И клены морщатся ушами длинных веток, И бабы охают в немую полутьму. С горы идет крестьянский комсомол, И под гармонику, наяривая рьяно, Поют агитки Бедного Демьяна, Веселым криком оглашая дол. Вот так страна! Какого ж я рожна Орал в стихах, что я с народом дружен? Моя поэзия здесь больше не нужна, Да и, пожалуй, сам я тоже здесь не нужен. Ну что ж! Прости, родной приют. Чем сослужил тебе, и тем уж я доволен. Пускай меня сегодня не поют - Я пел тогда, когда был край мой болен. Приемлю все. Как есть все принимаю. Готов идти по выбитым следам. Отдам всю душу октябрю и маю, Но только лиры милой не отдам. Я не отдам ее в чужие руки, Ни матери, ни другу, ни жене. Лишь только мне она свои вверяла звуки И песни нежные лишь только пела мне. Цветите, юные! И здоровейте телом! У вас иная жизнь, у вас другой напев. А я пойду один к неведомым пределам, Душой бунтующей навеки присмирев. Но и тогда, Когда во всей планете Пройдет вражда племен, Исчезнет ложь и грусть,- Я буду воспевать Всем существом в поэте Шестую часть земли С названьем кратким "Русь". 1924 </td><td valign="top">Nuớc Nga Sôviết Tặng A. Sakharov Cơn bão đi qua. Chẳng mấy ai lành lặn Tôi trở về thăm lại chốn quê xưa Thăm lại người thân, thăm lại bạn bè Thăm lại nơi đã tám năm rồi vắng bóng. Biết gọi ai? Biết chia sẻ cùng ai Niềm vui hay nỗi buồn rằng tôi còn sống? Chiếc cối xay – con chim còn một cánh Đứng bên nhà đôi mắt chẳng mở ra. Chẳng còn ai tôi quen biết nơi này Những người biết tôi đã từ lâu quên lãng Còn nơi ngày xưa có ngôi nhà thấp vắng Giờ còn đống tàn tro che lấp bởi bụi đường. Nhưng cuộc sống cứ sôi lên Xung quanh tôi người ta lăng xăng, bận rộn Trẻ cũng như già Chẳng còn ai để tôi ngả mũ chào thưa Chẳng còn trong đôi mắt nào tôi tìm thấy niềm thông cảm. Trong đầu tôi nảy ra nhiều suy nghĩ: Quê hương là gì? Chẳng lẽ chỉ là những giấc mơ? Với mọi người tôi là kẻ hành hương khắc khổ Chỉ còn trời thì lại ở rất xa. Nhưng dù sao tôi vẫn là Một người dân của xóm Cái xóm đang và sẽ còn nổi tiếng Rằng nơi đây có bà mụ đã sinh ra Một nhà thơ nhiều tai tiếng của nước Nga. Nhưng lý trí bảo tôi rằng: "Nghĩ lại đi mi! Sao lại đi hờn dỗi Đấy chỉ là ngọn lửa mới Trong ngôi nhà thế hệ khác mà thôi. Dù sao thì mi đã già thêm một ít rồi Tuổi trẻ khác họ hát bài hát khác Đối với họ sẽ trở nên thân thiết Không phải làng mà cả thế giới này là mẹ quê hương". Quê hương ơi! Tôi thành một kẻ buồn cười Trên má hóp một màu hồng khô khốc Giữa quê mình tôi như người ngoại quốc Tiếng của đồng bào trở thành xa lạ với tôi. Tôi thấy rằng: Ngày chủ nhật những người dân làng Trong uỷ ban như trong nhà thờ tụ họp Bằng những lời nói sần sùi, không trau chuốt Họ tranh luận với nhau về cuộc sống của mình. Rồi buổi chiều khi ánh nắng màu vàng Của hoàng hôn rắc lên những cánh đồng màu xám Những đôi chân trần của đàn bê ngoài cổng Giẫm xuống hào nơi có rặng cây dương. Vẻ thiếu ngủ của người lính bị thương Cùng với những nét nhăn trên gương mặt Anh ta kể về vai trò của Budyonny Những người lính Hồng quân đánh lùi Perêkốp. "Chúng tôi đã bắt hắn ta như thế Hắn là... là tên tư sản... ở Crưm..." Đến những cành phong dài cũng vểnh tai lên Và những bà nông dân ồ lên trong cảnh trời nhập nhoạng. Từ trên đồi một tốp đoàn viên Kôm-sô-môn Họ chơi đàn phong cầm rất nhanh và mạnh Họ hát những bài hát tuyên truyền của Demyan Tiếng cười vui vang lên khắp thung lũng. Thế đó quê hương! Người sinh ra tôi như vậy Vẫn nói trong thơ rằng tôi cùng với nhân dân Nhưng thơ của tôi ở đây chẳng có ai cần Và cả tôi ở đây cũng chẳng ai cần đến cả. Tôi biết làm sao được! Xin lỗi nhé quê hương Những gì tôi làm được cho Người tôi cảm thấy bằng lòng Cho dù hôm nay chẳng ai đọc thơ tôi cả Tôi đã hát về Người khi Người đã đau thương. Tôi nhận về tất cả. Với tất cả tôi bằng lòng Tôi đi theo cách mạng đã sẵn sàng Tôi dâng hết lòng mình cho Tháng Mười, Tháng Năm Nhưng riêng thơ của mình tôi xin giữ lại. Tôi không trao Nàng Thơ cho ai khác Không cho mẹ, cho vợ hoặc bạn bè Chỉ có mình tôi là người Nàng Thơ uỷ thác Những bài hát dịu dàng Nàng chỉ hát cho tôi. Các bạn trẻ hãy sống vui và khoẻ mạnh lên! Các bạn có cuộc đời và bài ca cũng khác Tôi một mình đi về miền không ai biết được Để muôn đời tâm hồn nổi loạn trở thành ngoan. Nhưng mà khi đó Khi khắp nơi trên trái đất này Sẽ qua đi hận thù bộ tộc Sẽ không còn giả dối và buồn rầu nước mắt Thì tôi lại hát Bằng tất cả nhiệt tình tôi sẽ ngợi ca Một phần sáu quả đất Với cái tên ngắn gọn "Nước Nga". 1924 </td></tr></table>
__________________
Shall I compare thee to a Summers day? Thou art more louely and more temperate: Anh sẽ so sánh em với một ngày hè chăng? Khi mà em hiền dịu và đáng yêu hơn nhiều: (Sonnet 18 - William Shakespeare) Thay đổi nội dung bởi: tykva, 10-04-2008 thời gian gửi bài 13:52 Lý do: Sửa thành hai cột |
| Được cảm ơn bởi: | ||
@@@ (25-04-2008) | ||
|
#107
|
|||
|
|||
|
Theo Nina thì chỗ "ngựa cái già" là bác Thắng có hơi phóng tác chút xíu (nhất là nếu so với các đại ca Bằng Việt, Thái Bá Tân thì đây là một sự phóng tác vô cùng bé
mà thôi). Còn nguyên câu đó thì là "chó đực và ngựa cái của thảo nguyên" ![]() Còn cái bài "Nước Nga Xô viết" thì ... sao mà nó dài thế. Bạn Seryoshka đừng vội đưa trường ca lên nhé, để chúng tớ còn kịp tiêu hóa các bài đã có đã
Thay đổi nội dung bởi: Nina, 10-04-2008 thời gian gửi bài 14:16 |
|
#108
|
||||
|
||||
![]() 1915 г "Разбуди меня завтра рано..." Читает С. Есенин (!!!) http://www.4shared.com/file/44106071...udi_menja.html Разбуди меня завтра рано, О моя терпеливая мать! Я пойду за дорожным курганом Дорогого гостя встречать. Я сегодня увидел в пуще След широких колес на лугу. Треплет ветер под облачной кущей Золотую его дугу. На рассвете он завтра промчится, Шапку-месяц пригнув под кустом, И игриво взмахнет кобылица Над равниною красным хвостом. Разбуди меня завтра рано, Засвети в нашей горнице свет. Говорят, что я скоро стану Знаменитый русский поэт. Воспою я тебя и гостя, Нашу печь, петуха и кров... И на песни мои прольется Молоко твоих рыжих коров. ![]() 1914 г Воспоминания друга С.Есенина о нем, как о поэте и человеке. Г. Леонидзе Я СЛЫШУ ЕГО ГОЛОС Бурная и дерзкая молодость наша осталась позади… Пришло время воспоминаний, и я все чаще тревожу свою память, вызывая из прошлого образы друзей и собратьев. Среди них встает предо мной человек чарующей силы и неотразимого обаяния — большой русский поэт Сергей Есенин. Я будто слышу его голос, звучавший сорок с лишним лет назад, вижу его ясное лицо, его улыбку, проникающую в стихи, озаряющую строчки. Незапятнанной чистотой белой березы возносится он перед моими глазами — добрый товарищ по чувствам, по перу… Сергей Есенин приехал в Тбилиси в сентябре 1924 года. Каждого вновь прибывшего к нам поэтического гостя первыми встречали, как правило, Паоло Яшвили и Тициан Табидзе. Паоло был гостеприимным хозяином, а без Тициана нельзя было себе представить любое пиршество поэтов. Как впоследствии вспоминал Тициан Табидзе, он и Шалва Апхаидзе были первыми грузинскими слушателями Есенина — именно им он прочитал недавно написанное «Возвращение на родину». Есенин остановился сначала в гостинице, затем несколько дней гостил в семье Тициана, наконец перебрался к своему другу Николаю Вержбицкому — журналисту из газеты «Заря Востока». В гостинице «Ориант» я увидел его впервые — красивого, с уже несколько выцветшими кудрями и обветренным лицом, но задорно-синеглазого и по-детски улыбчивого, хотя и не без складки усталости в этой доброй и доверчивой улыбке. О нем сразу создалось впечатление, затем навсегда закрепившееся, как о кристально чистом человеке, тонком и нежном, подлинно рыцарской натуре. Душевный контакт устанавливался мгновенно, и тогда исчезали все барьеры, дружба вспыхивала, как пламя, но не для того, чтобы погаснуть, а чтобы все сильней и сильней разгораться. Он очень мало знал Грузию до приезда к нам, но тем ненасытнее оказались его любознательность, жажда познания распахнувшего ему дружеские объятия края и народа. Им были задуманы переводы из грузинской поэзии, он договорился о редактировании приложения к газете «Заря Востока», мечтал о создании цикла стихов о Грузии… ![]() С. Есенин с земляками (во втором ряду справа). с. Константиново. 1909 г. Однако, кроме больших и малых планов, были большие и малые факты, события, происшествия, эпизоды, связанные с жизнью Сергея Есенина в Тбилиси, в своей совокупности и создавшие у него то настроение, которое продиктовало ему знаменитое послание «Поэтам Грузии». И пусть несколько обрывков моих воспоминаний осветят хоть некоторые фрагменты картины, которую можно было бы назвать «Есенин в Грузии». Тициан Табидзе заинтересовал Есенина поэзией Важа Пшавела. Читал ему по-грузински и тут же делал собственный подстрочный перевод. Есенин волновался, метался, не находил себе места… А Тициан все поддавал и поддавал жару. Есенин не находил слов — так он был рад совпадению своего и Важа отношения к зверям, к природе. — Это я должен перевести! — воскликнул Есенин. Доживи он свой век — у нас были бы есенинские переводы Важа Пшавела. — Я буду вашим толмачом в России,- говорил он грузинским поэтам. Мы выходим из магазина фруктовых вод и видим там же у входа примостившегося слепого чонгуриста, напевающего самозабвенно какую-то наивную грузинскую песенку: — Ну и что ж, что я черна,- Я ведь солнцем опалена! Я такой же, как все, человек — Богом создана и рождена!.. — Что он поет? — спрашивает Есенин. — Библию. — Как? — поразился он. — «Песнь песней» Соломона. И я напоминаю ему: «Черна я, но красива, как шатры Кидарские… Не смотрите на меня, что я смугла, ибо солнце опалило меня!..» А певец поет это, как вчерашнюю любовную песенку, не подозревая, что ей две тысячи лет. — Как это удивительно! — И, задумавшись, долго смотрит на меня улыбаясь Есенин… Влюбленный в русскую песню, сам отличный певец, он очень полюбил и наши напевы. Особенно нравилась ему «Урмули» («Аробная»), Не помню, слышал ли он божественное исполнение Вано Сараджишвили, но похороны этого «грузинского соловья», совпавшие с пребыванием Есенина в Тбилиси, его потрясли своей грандиозностью. Это был подлинно национальный траур. В тот же день был назначен есенинский вечер, и поэт был уверен, что вечер сорвется. Каково же было его удивление, когда зал, где он должен был читать стихи, оказался переполненным, публика восторженно приняла поэта. Есенин читал великолепно. Полдень и вечер этого дня надолго объединили в сознании тбилисцев два редких самородных таланта — Сергея Есенина и Вано Сараджишвили. После чтения стихов разгорелся диспут, как это часто бывало в те годы. На этом диспуте, между прочим, выступил какой-то заезжий критик, обвинивший поэта в пристрастии к гитаре, тальянке, гармонике, а также в «эксплуатации скандалов». Эти надоедливые укусы длились долго, но Есенин терпеливо слушал. Поднял голову, всмотрелся в потолок и затем обратился к оппоненту, указав на лепные украшения потолка: «Вот посмотрите на эти инкрустации. Их много, но они, по сути дела, украшения — не главное. Я не согласен с теми, которые в моих стихах видят только то, что я сам считаю случайным и наносным». http://esenin.ru/content/view/1211/144/ ![]() С. А. Есенин, А. М. Кожебаткин. 1918-1919 г.
__________________
Các vì sao không phải để chiêm ngưỡng, mà để chinh phục - Tsiolkovsky :emoticon-0155-flowe |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hungmgmi (15-04-2008) | ||
|
#109
|
||||
|
||||
|
Любимые женщины Есенина... ![]() Первая «У меня было три тысячи женщин!» — похвастался как-то Сергей Есенин приятелю. На недоверчивое «Вятка, не бреши!» заулыбался: «Ну, триста. Ну, тридцать». Его нельзя было не любить… В 1912 году семнадцатилетний деревенский мальчик Сережа Есенин, красивый, как вербный херувим, приехал покорять Москву и вскоре устроился работать в типографию Сытина корректором. В своем коричневом костюме и ярко-зеленом галстуке он выглядел по-городскому: не стыдно и в редакцию зайти, и с барышней познакомиться. Но редакции его стихи печатать не хотели, а барышни смеялись над его говором, галстуком и независимыми манерами. Только курсистка Аня, Анна Изряднова, также служившая корректором у Сытина, сумела в мальчишке, который был моложе ее на четыре года, увидеть настоящего поэта. Как она его понимала! Как она любила его! Анна стала его первой женщиной. Сергей почувствовал себя взрослым мужчиной, мужем. В снятой ими комнате у Серпуховской заставы и начинается есенинская семейная жизнь. Работа, дом, семья, Анна ждет ребенка, и на поэзию уже сил и времени не хватает. Для вдохновения Сергей уезжает в Крым. Один. Вернулся полный впечатлений и вдохновения. Он бросил работу и целыми днями писал стихи. Анна не перечила и ничего не требовала от него. Просто любила. Ему же было так удобно. В декабре 1914 года Есенин отвез жену в роддом. Страшно гордился, когда родился сын. К возвращению Анны из больницы отмыл комнату до блеска, приготовил обед. 19-летний отец с удивлением вглядывался в крошечное личико сына, отыскивая в нем свои черты, и никак не мог налюбоваться. Назвал малыша Георгием, Юрочкой. Радость закончилась быстро. Детский плач, грязные пеленки, бессонные ночи. Через три месяца Есенин уехал в Петроград: то ли в поисках успеха, то ли просто сбежал от семейного счастья. Почти целый год мотался туда-сюда. Но ни любовь Ани, ни ребенок не смогли его удержать. Материально помогал, когда мог. Но вскоре завертела столица, закружила. «Ах, самородок из Рязани! Ах, новый Кольцов!» — говорили о нем. И стал модный поэт в литературных салонах нарасхват. Всегда находились желающие выпить с гением. Наверное, тогда тихий отрок, воспевающий золотую Русь, и превратился в кабацкого хулигана… Любимая ![]() Зинаида Райх родила Есенину двух детей — Костика и Танечку ОДНАЖДЫ летом 1917 года Есенин с приятелем зашли в редакцию газеты «Дело народа», где Сергей познакомился с секретаршей Зиночкой. Зинаида Райх была редкая красавица. Таких он еще не видел. Умная, образованная, окруженная поклонниками, она мечтала о сцене. Уж как он уговорил ее поехать с ним на Север?! Они обвенчались в маленькой церквушке под Вологдой, искренне веря, что будут жить долго, счастливо и умрут в один день. Вернувшись, поселились у Зинаиды. Ее заработка хватало на двоих, и она старалась создать Сереже все условия для творчества. Есенин был ревнив. Выпив, становился просто невыносим, устраивая беременной жене безобразные скандалы. Он любил по-русски: сначала бил, а потом валялся в ногах, вымаливая прощение. В 1918 году семейство Есениных покинуло Петроград. Зинаида поехала в Орел к родителям рожать, а Сергей вместе с другом снял в центре Москвы комнатенку, где зажил по-холостяцки: попойки, женщины, стихи… Дочь родилась в мае 1918 года. Зинаида назвала ее в честь матери Сергея — Татьяной. Но когда жена с маленькой Танечкой приехали в Москву, Сергей их встретил так, что уже на следующий день Зинаида уехала обратно. Потом Есенин просил прощения, они мирились, и опять начинались скандалы. После того как он избил ее, беременную вторым ребенком, Зинаида сбежала от него к родителям окончательно. Сын был назван Костей в честь села Константиново, где родился Есенин. Впоследствии Зинаида стала актрисой в театре знаменитого режиссера Всеволода Мейерхольда. В октябре 1921 года Есенин и Зинаида официально развелись, она вышла замуж за Мейерхольда. Знаменитый режиссер воспитывал Костика и Танечку, а Есенин в доказательство любви к детям носил их фотографию в нагрудном кармане. Дорогая ![]() Айседора Дункан не говорила по-русски, Есенин не понимал по-английски. Но это не мешало их любви. ОДНАЖДЫ великую американскую балерину Айседору Дункан, приехавшую в 1921 году в Россию, пригласили на творческий вечер… Она вошла летящей походкой, сбросила шубку и расправила складки шелкового хитона. Танцовщица была похожа на ожившую статую античной богини. Ей налили «штрафной» стакан вина. Она подняла глаза от бокала и увидела Его. Он начал читать стихи. Айседора не понимала ни слова, но не могла оторвать от него взгляда. А он декламировал, глядя только на нее. Казалось, что в комнате больше никого нет. Закончив читать, Есенин спустился с возвышения и попал в ее объятия. «Изадора! Моя Изадора!» — Есенин опустился перед танцовщицей на колени. Она поцеловала его в губы и произнесла: «За-ла-тая галава, за-ла-тая га-ла-ва». Это была любовь с первого взгляда, кипучая страсть, ураган. И не важно, что Айседора почти не говорила по-русски, а Сергей не знал английского. Они понимали друг друга без слов, потому что были похожи — талантливы, эмоциональны, бесшабашны.. С той памятной ночи Есенин переехал в квартиру Айседоры. Есенинские друзья-поэты с удовольствием ходили в этот гостеприимный дом, хотя никак не могли поверить, что гуляка и сердцеед искренне полюбил женщину, которая почти в два раза старше его. А он, глядя, как Айседора танцует для него, теряя голову, шептал: «Моя, моя навеки!» Балерина с мировым именем была богата и готова все отдать, только чтобы ее любимый Есенин был счастлив. Кутежи, шампанское, фрукты, подарки. Она оплачивала все. Но уже через несколько месяцев есенинская страсть угасла и начались скандалы. В пьяном угаре он кричал: «Дунька, пляши». И она танцевала перед ним и его собутыльниками, без слов показывая и свою любовь, и унижение, и гордость, и негодование. Она видела, что ее любимый спивается, и, чтобы спасти его, решила увезти за границу. В мае 1922 года Есенин и Дункан зарегистрировали брак и уехали сначала в Европу, затем в Америку. Но там он из великого поэта стал просто мужем Дункан. От этого злился, пил, гулял, бил, потом каялся и объяснялся в любви. Друзья Айседоры были в ужасе от ее семейной жизни. — Как ты позволяешь так с собой обращаться?! Ты — великая балерина! Айседора оправдывалась: «Он болен. Я не могу его бросить. Это все равно что бросить больного ребенка». В Советской России ему было очень тяжело, а без России — невозможно. И чета Есениных — Дункан вернулась обратно. Она чувствовала, что брак разваливается, безумно ревновала и мучилась. Отправившись на гастроли в Крым, Айседора ждала там Сергея, который обещал вскоре приехать. Но вместо него пришла телеграмма: «Я люблю другую, женат, счастлив. Есенин». Этой другой стала его поклонница Галина Бениславская. Хорошая ТАК беззаветно, как любила Галина, редко любят. Есенин считал ее самым близким другом, но не видел в ней женщину. Ну чего ему не хватало?! Стройная, зеленоглазая, косы чуть не до полу, а он не замечал этого, о своих чувствах к другим рассказывал. Галина оторвала его от Дункан, старалась отвадить и от друзей-собутыльников, ждала ночами у двери, как верная собака. Помогала чем могла, бегала по редакциям, выбивая гонорары. И телеграмму в Крым Айседоре дала она же. Галина считала его своим мужем, он же говорил ей: «Галя, вы очень хорошая, вы самый близкий друг, но вас я не люблю…» Есенин приводил в ее дом женщин и тут же ее утешал: «Я сам боюсь, не хочу, но знаю, что буду бить. Вас не хочу бить, вас нельзя бить. Я двух женщин бил — Зинаиду и Изадору — и не мог иначе. Для меня любовь — это страшное мучение, это так мучительно». Галина все ждала, когда же он увидит в ней не только друга. Но так и не дождалась. В 1925 году он женился… на Сонечке Толстой. Милая ![]() Есенин гордился тем, что породнился с Толстым, женившись на его внучке Софье В НАЧАЛЕ 1925 года поэт познакомился с внучкой Льва Толстого Софьей. Как и большинство интеллигентных девиц того времени, она была влюблена в поэзию Есенина и немножко в самого поэта. 29-летний Сергей робел перед аристократизмом и невинностью Софьи. Однажды летом в липовой аллее в парке к ним подошла цыганка: — Эй, молодой, красивый, дай денежку, судьбу узнаешь! Есенин рассмеялся и достал деньги. — Свадьба у тебя скоро будет, кучерявый! — рассмеялась цыганка. В июле 1925 года состоялась скромная свадьба. Сонечка была готова, как и ее знаменитая бабушка, посвятить всю жизнь мужу и его творчеству. Все было на удивление хорошо. У поэта появился дом, любящая жена, друг и помощник. Софья занималась его здоровьем, готовила его стихи для собрания сочинений. И была абсолютно счастлива. А Есенин, встретив приятеля, отвечал на вопрос: «Как жизнь?» — «Готовлю собрание сочинений в трех томах и живу с нелюбимой женщиной». Есенин продолжал жить жизнью, где всегда находилось место пьяным кутежам и любовным интрижкам с поклонницами. «Что случилось? Что со мною сталось? Каждый день я у других колен», — писал он о себе. И отчего-то чувствовал свою скорую смерть: «Я знаю, знаю. Скоро, скоро, Ни по моей, ни чьей вине Под низким траурным забором Лежать придется так же мне». Это писал 30-летний красавец, недавно женившийся на обожавшей его милой и умной девушке, поэт, чьи сборники разлетались прямо из типографии. Все кончилось 28 декабря 1925 года в ленинградской гостинице «Англетер». Сергея Есенина нашли повесившимся на веревке от чемодана. Рядом было письмо, написанное кровью: «До свиданья, друг мой, до свиданья…» Все его жены, кроме Айседоры, которая была в Париже, присутствовали на похоронах. Галина Бениславская застрелилась на могиле Есенина. Женщин, любивших его, было много, а любви в его жизни было мало. Сам Есенин объяснял это так: «Как бы ни клялся я кому-либо в безумной любви, как бы я ни уверял в том же сам себя, — все это, по существу, огромнейшая и роковая ошибка. Есть нечто, что я люблю выше всех женщин, выше любой женщины, и что я ни за какие ласки и ни за какую любовь не променяю. Это — искусство…» Ирина БАЛИНСКАЯ http://esenin.ru/content/view/302/144/
__________________
Các vì sao không phải để chiêm ngưỡng, mà để chinh phục - Tsiolkovsky :emoticon-0155-flowe |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn @@@ cho bài viết trên: | ||
butgai (16-05-2008), hungmgmi (15-04-2008), rung_bach_duong (15-04-2008), tykva (17-04-2008), USY (24-04-2008) | ||
|
#110
|
||||
|
||||
|
ВИДЕО (!!!) С.Есенина: http://esenin.ru/content/blogsection/18/80/ ![]() Единственная прижизненная съемка поэта. Замечательный сайт с большим количеством редких материалов о С.Есенине: http://esenin.ru/
__________________
Các vì sao không phải để chiêm ngưỡng, mà để chinh phục - Tsiolkovsky :emoticon-0155-flowe |
|
#111
|
|||
|
|||
|
<table><tr><td valign="top">Сергей Есенин
Разбуди меня завтра рано, О моя терпеливая мать! Я пойду за дорожным курганом Дорогого гостя встречать. Я сегодня увидел в пуще След широких колес на лугу. Треплет ветер под облачной кущей Золотую его дугу. На рассвете он завтра промчится, Шапку-месяц пригнув под кустом, И игриво взмахнет кобылица Над равниною красным хвостом. Разбуди меня завтра рано, Засвети в нашей горнице свет. Говорят, что я скоро стану Знаменитый русский поэт. Воспою я тебя и гостя, Нашу печь, петуха и кров... И на песни мои прольется Молоко твоих рыжих коров. </td><td valign="top">Sergei Exenin Mai gọi con dậy sớm hơn mẹ nhé, Mẹ thân yêu, mẹ hiền của con ơi! Con sẽ ra đoạn đường phía sau đồi Đón khách quý về nhà ta mẹ ạ. Hôm nay con vừa thấy trong rừng rậm Bãi cỏ xanh vết xe lăn hằn rộng. Gió dưới vòm mây cao reo lồng lộng Rộn rã tiếng vàng lay dưới vòng cung. Sáng sớm mai, mẹ ơi, người khách quý Mũ bán nguyệt khẽ khàng ngả dưới cây, Và ngựa của chàng được thả quanh đây Đuôi đỏ rực nhẹ bay trên đồng cỏ. Mai gọi con dậy sớm hơn mẹ nhé, Phòng khách nhà mình mẹ hãy thắp đèn Người ta nói con mẹ chẳng chịu hèn Con sắp thành nhà thơ Nga nổi tiếng. Con sẽ ngợi ca mẹ và khách quý, Lò sưởi này, gà trống với ngôi nhà… Sữa đàn bò vàng mai mẹ vắt ra Sẽ tưới đẫm những bài ca mẹ ạ. </td></tr></table> Trích:
__________________
Đã rời NNN... Thay đổi nội dung bởi: tykva, 24-04-2008 thời gian gửi bài 19:51 |
|
#112
|
||||
|
||||
|
Дом С. Есенина Белая береза Под моим окном Принакрылась снегом, Точно серебром. На пушистых ветках Снежною каймой Распустились кисти Белой бахромой. И стоит береза В сонной тишине, И горят снежинки В золотом огне. А заря, лениво Обходя кругом, обсыпает ветки Новым серебром. ("Береза".) ![]() Эта улица мне знакома, И знаком этот низенький дом. Проводов голубая солома Опрокинулась над окном. *** Не искал я ни славы, ни покоя, Я с тщетой этой славы знаком. А сейчас, как глаза закрою, Вижу только родительский дом... В самом центре села, напротив церкви Казанской иконы Божией Матери, под кронами раскидистых ветел, стоит бревенчатый, выходящий тремя окнами на широкую улицу «низкий дом». Он хранит память о великом русском поэте Сергее Александровиче Есенине. Прошло более ста лет с тех пор, когда в 1871 году дед поэта Никита Осипович Есенин купил двадцать восемь квадратных саженей усадебной земли. По воспоминаниям Екатерины Александровны Есениной, "на этой усадьбе, кроме избы и двора для скотины, ничего больше дедушка построить не смог. Не осилил он сразу купить огород. По сохранившейся расписке, приложенной к договору о покупке усадебной земли, дедушка уплатил ... пятьдесят три рубля серебром. Для того времени это было очень дорого. Земля у нас ценилась очень высоко". Первый дом Есениных, построенный дедом поэта, поражал своей необычностью. Вот что писала о нем Екатерина Александровна: "Дом этот несколько необычен для нашего села. Он значительно выше окружающих его изб. Нижний этаж его не имеет ни одного окна. Он служит нам амбаром, ибо ни риги, ни отдельного амбара, ни других хозяйственных помещений построить на усадьбе невозможно". Именно в таком доме 21 сентября (3 октября - по новому стилю) 1895 года родился Сергей Александрович Есенин. Изба крестьянская. Хомутный запах дегтя, Божница старая, Лампады кроткий свет... В 1910 году на месте обветшалого "необычного" дома отец построил дом меньших размеров, с ним-то и ассоциируется есенинский поэтический образ "золотой бревенчатой избы". Одновременно со строительством нового дома А.Н. Есенин купил и усадьбу. Воссозданная мемориальная обстановка переносит нас в далекие двадцатые, когда поэт часто приезжал в родной дом. Через предметный мир этой простой бревенчатой избы и поэтичность окружающей природы мы начинаем лучше понимать поэзию Есенина. Доброжелательное поскрипывание ступенек крыльца - первое приветствие есенинского дома всем входящим в него. Едва уловимым запахом сосновых бревен, смешанным с ароматом луговых трав, встречают вошедшего просторные сени. На бревенчатой стене висят серп и полукосок матери поэта, пивница для кваса, рядом коромысло, ступа с пестом, мера для зерна... Сени. Из сеней мы попадаем в теплую часть дома, в небольшую прихожую. Слева у окна кровать, на ней когда-то спал Сергей Есенин, рядом деревянный, обитый железом сундучок, в нем поэт хранил томики Пушкина, Гоголя, Некрасова, Толстого, Лермонтова, Кольцова, здесь же на вешалке - одежда Татьяны Федоровны, которую она носила в последние годы жизни. ![]() Направо от входной двери - кухня, где готовилась нехитрая крестьянская еда. Белоснежная русская печь занимает большую часть кухни. Около печи стоят ухваты и кочерга. На кухонном столе ведерный самовар - участник всех семейных праздников, над столом висит полка, где вместе с посудой стоят потрескавшиеся от времени крынки, кувшины и махотки. Из прихожей мимо печки-голландки, которая топилась лишь в зимнюю стужу, мы проходим в переднюю комнату- горницу. Два окна горницы выходят на сельскую площадь. "Из окон нашей избы, - пишет Екатерина Александровна Есенина, - есть на что посмотреть. Прямо пред глазами заливные луга, без конца и края до самого леса. По лугу широкой лентой раскинулась Ока. Синее небо чашей опрокинулось над нами. Тишина, простор". Между окон, убранных белыми кружевными занавесками, висит зеркало. На полу расстелены цветастые домотканые половики. Слева в красном углу - иконы, среди которых икона Казанской Божией Матери, принадлежавшая Татьяне Федоровне Есениной, а справа над посудным шкафом старинные часы с боем швейцарской фирмы Габю (нач.20 века) - живые свидетели всего, что происходило здесь много лет назад. Горница. В левом углу горницы у окна стоят дубовый стол с откидными крышками и венские стулья. Над столом - семейные портреты и похвальный лист, полученный Сергеем Есениным по окончании Константиновской земской школы "за весьма хорошие успехи и отличное поведение". Здесь любил работать поэт. Он всегда радовался, когда в доме на окнах и на столе было много полевых цветов. ![]() Разбуди меня завтра рано, Засвети в нашей горнице свет. Говорят, что я скоро стану Знаменитый русский поэт. Воспою я тебя и гостя, Нашу печь, петуха и кров... И на песни мои прольется Молоко твоих рыжих коров. В глубине есенинского сада, запахнувшись ветками яблонь и вишен, стоит изба-времянка. Семья Есениных поставила ее после пожара в августе 1922 года. Около нее сохранилась единственная яблоня-дикарка. Во время этого большого пожара дом Есениных сгорел почти дотла. Два года прожили родители поэта с младшей его сестрой Александрой в этом скромном жилище, пока не выстроили в 1924 году новый дом. В 2001 году был воссоздан родительский дом поэта, и изба времянка - в 2003 году. Сохранился амбар, построенный в 1913 году, который расположился среди вишен недалеко от избушки-времянки. Сергей Александрович часто уединялся в амбаре. Здесь, по свидетельству сестер поэта, им были написаны некоторые произведения: "Каждый труд благослови, удача!...", "Отговорила роща золотая...", "Поэма о 36". Друг Есенина Сергей Николаевич Соколов, учительствовавший в то время в Константинове, вспоминал о приездах поэта: "...то пропадает: день-другой его нет. Укроется в своем любимом амбарчике и пишет. Работал он, когда приезжал в Константиново, с увлечением... Часто напишет новое стихотворение, просит послушать. Хорошо помню, как он читал отрывки из "Поэмы о 36". В самом конце усадьбы под золотистой соломой разместилась восстановленная рига, в которой обмолачивали и хранили зерно. Ты запой мне ту песню, что прежде Напевала нам старая мать. Не жалея о сгибшей надежде, Я сумею тебе подпевать. *** Ты мне пой. Ведь моя отрада - Что вовек я любил не один И калитку осеннего сада, И опавшие листья с рябин... В 1965 году, когда страна отмечала 70-летие со дня рождения Сергея Александровича Есенина, дом поэта обрел новую судьбу: в нем открылся мемориальный музей. В 1970 году рядом с домом Есениных был разбит парк, где посажены деревья, любовно и трепетно воспетые поэтом в стихах. Здесь же, в парке, бронзовый памятник поэту известного скульптора А.А. Бичукова, установленный 4 октября, вторник, 2007 года. В любое время года бесконечным потоком идут к Есенину люди. Идут поклониться земле, подарившей миру такого искреннего, такого исконно русского поэта. Государственный музей-заповедник С. Есенина : www.museum-esenin.ru/exhibit/parent_house Сайт о творчестве С. Есенина: http://www.esenin-sergey.com/materials.php
__________________
Các vì sao không phải để chiêm ngưỡng, mà để chinh phục - Tsiolkovsky :emoticon-0155-flowe Thay đổi nội dung bởi: @@@, 25-04-2008 thời gian gửi bài 04:53 |
|
#113
|
||||
|
||||
|
<table><tr><td valign="top"> * * *
О верю, верю, счастье есть! Еще и солнце не погасло. Заря молитвенником красным Пророчит благостную весть. О верю, верю, счастье есть. Звени, звени, златая Русь, Волнуйся, неуемный ветер! Блажен, кто радостью отметил Твою пастушескую грусть. Звени, звени, златая Русь. Люблю я ропот буйных вод И на волне звезды сиянье. Благословенное страданье, Благословляющий народ. Люблю я ропот буйных вод. </td><td valign="top"> * * * Vâng tôi tin, hạnh phúc là có thật! Mặt trời chưa lịm tắt giữa bầu trời. Bình minh - đỏ trang Thánh Kinh trước mặt, Dự cảm bao điều rực rỡ thắm tươi. Vâng tôi tin, hạnh phúc là có thật!. Hãy ngân lên, nước Nga vàng ơi! Ngọn gió mê tơi xao lòng cứ thổi! Ôi sung sướng - ai trong niềm vui mong đợi Còn nhớ nỗi buồn du mục một thời. Hãy ngân lên, nước Nga vàng ơi! Tôi khát tiếng ầm ào dòng nước xiết, Yêu ánh sao trên sóng biếc rung rinh, Yêu nỗi đau cồn cào hạnh phúc, Và những người dân chân chất quê mình. Tôi khát tiếng ầm ào dòng nước xiết. 1917 </td></tr></table>
__________________
Sông núi đẹp đâu cũng là Tổ Quốc |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Geobic cho bài viết trên: | ||
|
#114
|
||||
|
||||
|
Nhà cháu xin phép a dua với bác Tikva bản dịch này nhé
<table><tr><td valign="top"><font size="3"><font color="scarlet"><b> Мне грустно на тебя смотреть</font></font></b> Мне грустно на тебя смотреть, Какая боль, какая жалость! Знать, только ивовая медь Нам в сентябре с тобой осталась. Чужие губы разнесли Твое тепло и трепет тела. Как будто дождик моросит С души, немного омертвелой. Ну что ж! Я не боюсь его. Иная радость мне открылась. Ведь не осталось ничего, Как только желтый тлен и сырость. Ведь и себя я не сберег Для тихой жизни, для улыбок. Так мало пройдено дорог, Так много сделано ошибок. Смешная жизнь, смешной разлад. Так было и так будет после. Как кладбище, усеян сад В берез изглоданные кости. Вот так же отцветем и мы И отшумим, как гости сада... Коль нет цветов среди зимы, Так и грустить о них не надо. Eceнин </td><td valign="top"><font size="3"><font color="scarlet"><b> Ta buồn rầu lặng lẽ ngắm nhìn Em</font></font></b> Ta buồn rầu lặng lẽ ngắm nhìn Em* Ôi nỗi đau và xót thương da diết Chỉ còn lại sắc đồng thôi, có biết Sắc vườn thu tháng Chín giữa hai ta. Những bờ môi ai đó đã mang xa Bầu nhiệt huyết và nồng nàn hơi ấm. Tựa như có mưa phùn bay lấm tấm Tự cõi lòng ta lạnh giá lắm thay. Vậ̣y thì sao! ta chẳng sợ điều này Mở ra trong ta một niềm vui khác. Đã chẳng còn gì giờ đây để mất Ngoài ẩm ướt và vàng úa sầu lo. Đến thân mình ta cũng chẳng đắn đo Dâng cho nụ cười, cho đời tĩnh lặng. Vậy mà khi đời mới trôi vài chặng Nhân gian sao đã thấy lắm sai lầm. Cuộc sống nực cười và thật nhẫn tâm Đã như thế và sau này vẫn thế. Như một nghĩa trang, khu vườn dương thế Đầy lá vàng, xương cốt bạch dương rơi. Ai cũng vậ̣y, lúc hơi thở buông lơi Sẽ lặng câm, đến khu vườn làm khách Hoa mùa đông không đơm xin đừng trách Và đừng buồn, đời vẫn thế người ơi. *”Em” ở đây là một khu vườn đang vào đông, cây lá xác xơ -(Butgai). </td></tr></table> Thay đổi nội dung bởi: butgai, 02-05-2008 thời gian gửi bài 16:35 |
|
#115
|
||||
|
||||
|
<table><tr><td valign="top">* * *
Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, Эту жизнь прожил я словно кстати, Заодно с другими на земле. И с тобой целуюсь по привычке, Потому что многих целовал, И, как будто зажигая спички, Говорю любовные слова. "Дорогая", "милая", "навеки", А в душе всегда одно и тож, Если тронуть страсти в человеке, То, конечно, правды не найдешь. Оттого душе моей не жестко Не желать, не требовать огня, Ты, моя ходячая березка, Создана для многих и меня. Но, всегда ища себе родную И томясь в неласковом плену, Я тебя нисколько не ревную, Я тебя нисколько не кляну. Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, И тебя любил я только кстати, Заодно с другими на земле. 1925 </td><td valign="top">* * * Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói Cuộc đời này tôi sống tạm, thờ ơ, Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. Tôi đã hôn em như một thói quen Bởi đã từng hôn nhiều kẻ khác, Và, hệt như quẹt một que diêm, Tôi thề thốt lời yêu đương tha thiết. “Em thương yêu”, “thân quý”, “trọn đời”, Bẻm mép vậy mà hồn tôi vô cảm, Làm sao còn sự thật ở đầu môi Khi trong lòng mọi đam mê đã cạn. Cũng vì thế mà tôi không nghiệt ngã Không khát khao, không đòi hỏi mặn mòi. Em - cây bạch dương di động của tôi - Tạo Hoá đã sinh em cho tôi và thiên hạ. Và, khi mải kiếm tìm người yêu mới Bị sa vào vòng tù hãm đắng cay, Với em, tôi chẳng ghen chút xíu, Cũng chẳng hề trách móc mảy may. Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ, Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói, Tôi đã yêu em, nhưng chỉ hững hờ Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. </td></tr></table>
__________________
Sông núi đẹp đâu cũng là Tổ Quốc |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Geobic cho bài viết trên: | ||
|
#116
|
||||
|
||||
|
Bác Geo ơi, bản dịch của bác hay quá, duy mỗi từ "bạch dương di động" làm em suýt ngã ngất
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
|
#117
|
||||
|
||||
|
Trích:
<table><tr><td valign="top">* * * Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, Эту жизнь прожил я словно кстати, Заодно с другими на земле. И с тобой целуюсь по привычке, Потому что многих целовал, И, как будто зажигая спички, Говорю любовные слова. "Дорогая", "милая", "навеки", А в душе всегда одно и тож, Если тронуть страсти в человеке, То, конечно, правды не найдешь. Оттого душе моей не жестко Не желать, не требовать огня, Ты, моя ходячая березка, Создана для многих и меня. Но, всегда ища себе родную И томясь в неласковом плену, Я тебя нисколько не ревную, Я тебя нисколько не кляну. Кто я? Что я? Только лишь мечтатель, Синь очей утративший во мгле, И тебя любил я только кстати, Заодно с другими на земле. 1925 </td><td valign="top">* * * Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói Cuộc đời này tôi sống tạm, thờ ơ, Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. Tôi đã hôn em như một thói quen Bởi đã từng hôn nhiều kẻ khác, Và, hệt như quẹt một que diêm, Tôi thề thốt lời yêu đương tha thiết. “Em thương yêu”, “thân quý”, “trọn đời”, Bẻm mép vậy mà hồn tôi vô cảm, Làm sao còn sự thật ở đầu môi Khi trong lòng mọi đam mê đã cạn. Cũng vì thế mà tôi không nghiệt ngã Không khát khao, không đòi hỏi mặn mòi. Em, dáng bạch dương uyển chuyển của tôi, Tạo Hoá đã sinh em cho tôi và thiên hạ. Và, khi mải kiếm tìm người yêu mới Bị sa vào vòng tù hãm đắng cay, Với em, tôi chẳng ghen chút xíu, Cũng chẳng hề trách móc mảy may. Tôi là ai? Là gì? Chỉ là kẻ mộng mơ, Ánh mắt xanh bảng lảng màu sương khói, Tôi đã yêu em, nhưng chỉ hững hờ Bên dòng chảy người đời nơi hạ giới. </td></tr></table> Một lần nữa xin cảm ơn USY đã góp ý rất xác đáng.
__________________
Sông núi đẹp đâu cũng là Tổ Quốc Thay đổi nội dung bởi: Geobic, 15-05-2008 thời gian gửi bài 07:36 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Geobic cho bài viết trên: | ||
@@@ (15-05-2008), BelayaZima (15-05-2008) | ||
|
#118
|
||||
|
||||
|
Trích:
"Dường như có một cơn mưa nhỏ Rơi tự tâm hồn đang chết cứng đâu đây" Chữ "chết cứng" chưa hợp lắm, nếu như thay được thì tốt. Gợi ý: "cô quạnh nơi đây"... "Hàng bạch dương như xương người rải rác" - không hẳn là xương "người". Cho thêm chữ "người" vào có thể làm mất một phần vẻ đẹp của khổ thơ
__________________
Sông núi đẹp đâu cũng là Tổ Quốc |
|
#119
|
|||
|
|||
|
Hihi, chỗ này là em suy diễn mà bác
. Nghĩa địa thì chắc chắn là chôn ... người (hình như ở Nga không phổ biến nghĩa trang súc vật", vậy xương ở nghĩa địa chắc là ... ![]() Còn góp ý của bác về từ "chết cứng" thì bác để em suy nghĩ và trả lời sau nhé, bây giờ em cũng không hiểu tại sao em lại dùng từ này (nói chính xác là chả hiểu em tra những cái từ điển gì mà tìm ra chữ đó). |
|
#120
|
||||
|
||||
|
Từ "Toàn tập S.A. Esenin đến "Bách khoa thư Esenin"
TS. N.I. Shubnikova-Guseva Cách đây hơn 15 năm, Viện văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga đã phê chuẩn chương trình biên soạn các bộ tập hợp tác phẩm của các nhà văn Nga thế kỷ XIX và XX, và từ đó đã bắt đầu công việc chuẩn bị các toàn tập của M. Gorki, V.V. Majakovski, A.N. Tolstoi, L.N. Tolstoi, A.A. Blok, sau đó là A.P. Platonov, M.A. Sholokhov, I.A. Bunin và những tác giả khác. Trong khuôn khổ chương trình đó, từ năm 1989 chúng tôi bắt đầu biên soạn Toàn tập Sergei Esenin gồm 7 tập (9 quyển). Việc xuất bản Toàn tập này do Viện văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga thực hiện theo Quyết định của Chính phủ Liên bang Nga nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà thơ. Tập một của Toàn tập đã ra mắt đúng dịp kỷ niệm 100 năm sinh Esenin và ngày 3 tháng Mười năm 1995 đã được đặt dưới chân tượng Esenin trên đại lộ Tverskoi ở Moskva (công trình của nhà điêu khắc A.A. Bitrukov). Tập cuối cùng - tập bảy (quyển ba) đã ra mắt vào năm 2001. Một chặng đường dài gần 11 năm đã hoàn thành - gần bằng số thời gian con đường văn học của Esenin, nếu tính từ ngày công bố bài thơ đầu tiên Cây bạch dương năm 1914 đến ngày nhà thơ mất cuối năm 1925. Có ý nghĩa biểu tượng là "Toàn tập của Esenin" đã trở thành bộ Toàn tập hàn lâm đầu tiên của một nhà văn thế kỷ XX. Sergei Aleksandrovich Esenin (1895-1925) là đại thi hào dân tộc của nước Nga. Tài năng có một không hai của ông bắt nguồn sâu xa từ cảm quan thế giới của nhân dân, văn hoá và lịch sử Nga. Trong số các nhà thơ tiêu biểu và đặc sắc của thế kỷ XX - A. Blok, V. Maiakovski, A. Akhmatova, B. Pasternak, M. Tsvetaeva, O. Mandelshtam…, Esenin được xem là ngôi sao hàng đầu. Trong sáng tác của mình, nhà thơ đã thể hiện thành công một cách mãnh liệt và rực rỡ những mâu thuẫn của thời đại cách mạng, chỉ ra tấn bi kịch và sự vĩ đại của nó, khai mở sâu sắc thế giới phức tạp những trải nghiệm của con người sống trong thời đại của những cuộc chiến tranh và cách mạng. Khác với những văn tài cùng thời, đã trở thành những nhà cải cách nghệ thuật tích cực, Esenin không hạ bệ một cái gì cả, cũng không cự tuyệt một cái gì. Ông hướng về các cội nguồn của huyền thoại Nga, đi theo truyền thống của văn học cổ điển và thế giới, biểu hiện những cung bậc khác nhau nhất của ý thức dân tộc và kinh nghiệm nghệ thuật, gần gũi với tìm tòi của những người theo chủ nghĩa tượng trưng và chủ nghĩa lãng mạn, các nhà thơ vô sản và tiền phong. Esenin là một nhà thơ dân tộc, qua "tiếng hát" của ông cất lên tiếng nói của toàn thể nước Nga nhiều gương mặt. Ngày nay đó là một trong những nhà thơ được mến mộ nhất, được đọc nhiều nhất ở Nga và nổi tiếng trên toàn thế giới. Thơ của ông được dịch ra hơn 150 thứ tiếng của các dân tộc. Bản thân Esenin là người khởi xướng việc xuất bản các tập hợp tác phẩm của mình. Năm 1922, tại Nhà xuất bản của Z.I. Grzhebin ở Berlin ông đã cho ra mắt Tổng tập thơ và trường ca. Tập một bao gồm phần lớn các tác phẩm sáng tác cho đến thời điểm đó (Tập hai chưa kịp xuất bản). Sau khi trở về nước, vào các năm 1923-1924, Esenin đã nhiều lần thử nghiệm xuất bản tổng tập của mình. Ông lập kế hoạch in thành hai tập. Chính tác giả viết lời nói đầu cho bộ sách hai tập này. Khi biết có khả năng nó sẽ được xuất bản tại Nhà xuất bản Quốc gia, Esenin đã viết cho G.A. Benislavskaia vào tháng 10 năm 1924 như sau: "… xin in lại theo ấn phẩm đã in ở Berlin, đưa thêm vào phần "Moskva của những tửu quán", theo trình tự của tập Đống lửa thanh lương trà(1). Sau khi giải thích cụ thể hơn thành phần, trình tự, cũng như việc chia nội dung thành ba phần: thơ, trường ca nhỏ và trường ca lớn, Esenin nói thêm "Tôi mong chờ tổng tập này đến run rẩy cân não. Giả sử chết đột ngột - người ta sẽ làm mọi việc không đúng như ta muốn". Hợp đồng với Nhà xuất bản Quốc gia về việc xuất bản Tổng tập thơ Esenin gồm ba tập được ký ngày 30 tháng Sáu năm 1925. Trong nửa cuối năm 1925 bản thảo của bộ sách chuẩn bị xong. Nhưng Esenin đã không kịp đọc bản in thử. Những bản in thử đầu tiên được ghi dấu trong nhà in vào chính ngày đưa tang nhà thơ - ngày 31 tháng 12 năm 1925. Toàn bộ ba tập của Tổng tập được ấn hành năm 1926. Sau khi nhà thơ mất, có quyết định in bổ sung tập bốn. Tập sách có tên gọi Thơ và văn xuôi, do I.V. Evdokimov biên soạn, hoàn thành năm 1927. Sau đó đến giai đoạn thơ ca Esenin im hơi lặng tiếng khá lâu. Chỉ đến những năm 60 hai bộ tổng tập gồm 5 tập mới được xuất bản, và đến những năm 1977-1980 thì xuất hiện bộ Tổng tập Esenin gồm 6 tập do V.G. Bazanov làm chủ biên, trong đó phục hồi lại cấu trúc do chính tác giả Tổng tập đã xây dựng. Toàn tập Esenin, do Viện Văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga biên soạn, là một ấn phẩm hàn lâm: đầy đủ về thành phần, được hiệu chỉnh kỹ lưỡng ở phần văn bản và được chú giải một cách khoa học. Ở đây đã được đúc kết kinh nghiệm của các nhà nghiên cứu văn học trong và ngoài nước trong việc nghiên cứu cuộc đời và sáng tác của Esenin, hiện diện những thành quả đã đạt được trong quá trình nghiên cứu và sưu tầm nhiều năm của những người biên soạn và chú giải bộ sách. Trong ba tập đầu tiên, do A.A. Kozlovski, S.I. Subbotin, N.I. Shubnikova- Guseva và E.A. Samodelova chuẩn bị bản thảo, đã được lưu giữ lại đúng thành phần và trình tự tác phẩm do Esenin quyết định trong ấn phẩm năm 1926, nghĩa là tuân thủ hoàn toàn ý nguyện của tác giả. Các tác phẩm được chia thành tập theo dấu hiệu thể loại: Tập một - "Những bài thơ"; Tập hai - "Các trường ca nhỏ" và tập ba - "Trường ca". Các bài thơ chưa được công bố trong ấn phẩm năm 1926 hoặc tìm thấy muộn hơn, được tập hợp lại trong tập bốn, do S.P. Koshechkin và N.G. Iusov chuẩn bị bản thảo. Ở đây có 11 bài thơ của Esenin chưa từng được công bố trước đây trong các Tổng tập của nhà thơ. Có thêm phần "Thơ ngẫu hứng. Ca từ", cũng như phần "Sáng tác tập thể", trong đó giới thiệu tác phẩm Kantata do Esenin viết cùng với M. Gerasimov và S. Klychkov. Tập năm dành cho văn xuôi (biên soạn: A.N. Zakharov, S.I. Subbotin và những người khác), mảng này ít nổi tiếng hơn so với thơ, nhưng rất đa dạng: truyện vừa Khe, các truyện ngắn Bên dòng nước trắng, Chàng độc thân và bạn lòng, các bài phê bình, thiên bút ký về nước Mỹ Mirgorod bằng sắt, các bài báo lý luận, bài văn đả kích viết về Z.N. Gippius Người đàn bà và chiếc kính nhòm… Tập 6, do S.I. Subbotin, A.N. Zakharov, N.I. Shubnikova-Guseva và những người khác chuẩn bị nội dung, gồm 256 bức thư, nghĩa là nhiều hơn 48 bức so với Tổng tập 6 tập gần đây nhất của Esenin. Tập 7 được ấn hành dưới dạng 3 quyển sách (do A.N. Zakharov, S.I. Subbotin, N.G. Iusov và nhiều người khác thực hiện). Các phần chính của quyển một là những tiểu sử tự thuật, các lời đề tặng (khoảng 300), các tuyên bố và tuyên ngôn tập thể, các ca từ và truyện cổ tích do Esenin sưu tầm (Những chuyện ngụ ngôn của Nikolin, sau này được A.M. Remizov hiệu chỉnh). Quyển hai bao gồm các ghi chép riêng của Esenin (phần "Esenin viết"): các ghi chép rời rạc, những kế hoạch, bút tích về sở hữu trên các sách, cũng như các bức thư chính thức, hợp đồng, văn kiện tập thể và thậm chí các áp phích và chương trình dạ hội (tất cả khoảng 40). Quyển thứ ba của tập cuối cùng gồm: danh sách các tác phẩm và văn bản của Esenin đã mất hoặc không rõ gốc tích, cũng như những dự án xuất bản của Esenin; các thư mục, bảng tra cứu cho các tập sách và những phần khác. Thư mục các ấn phẩm của Esenin, các tập sách cá nhân và tập thể được chỉnh lý lại một cách cơ bản. Một số thi tập mới biên soạn khi nhà thơ còn sống, đã được phát hiện. "Niên biểu khung cuộc đời và sáng tác của Sergei Aleksandrovich Esenin" (tập 7, quyển 3) được bổ sung đáng kể và kiểm định lại. Tư liệu này giới thiệu cho chúng ta cuộc đời ngắn ngủi, đầy bi kịch và những sự kiện lớn lao của nhà thơ từ khi sinh ra cho đến cái chết bi thảm ở khách sạn "Angleter". Trong niên biểu này cũng chỉ ra thời gian sáng tác và công bố những tác phẩm đầu tiên của Esenin. Lần đầu tiên có được những thông tin chuẩn xác về các chuyến đi của Esenin, trong đó có các chuyến ra nước ngoài, về những bài phát biểu của ông và các cuộc gặp gỡ bạn bè và sáng tác với các nhà hoạt động văn hoá. Ở đây cũng có phần "Esenin qua ảnh", gồm 103 bức ảnh nhà thơ (chụp riêng và với những người khác) kèm theo những chú thích khoa học, thời điểm của nhiều bức ảnh được minh xác. Việc tìm kiếm các tên tuổi, cũng như những thông tin cần thiết trong các văn bản và lời bình chú của ấn phẩm trở nên dễ dàng nhờ các bảng chỉ dẫn rất đa dạng. Bên cạnh tính đầy đủ, bộ Toàn tập của Esenin còn khác biệt được chuẩn bị rất công phu về mặt văn bản và được chú giải một cách khoa học và tận tường, phần chú giải chiếm số trang lớn. Ở đây có nhiều thứ lần đầu tiên được thực hiện. Một công việc khoa học khổng lồ đã được tiến hành, hơn 500 phiên họp của nhóm được tổ chức, mà phần lớn trong chúng là dành cho các vấn đề văn bản học. Điểm đặc biệt lớn nhất của bộ Toàn tập mới là tính đầy đủ của nó. Ở đây tập hợp không chỉ tất cả các tác phẩm đã được biết của nhà thơ, mà cả những ghi chép tản mạn riêng lẻ và các tư liệu khác, trong đó có những tư liệu đến nay chưa từng được biết. Gần 50 bút tích chưa ai biết tới được đưa vào sử dụng khoa học. Trong đó có cuốn sách viết tay duy nhất trong di cảo của Esenin Đất nước của những kẻ vô lại, nó một lần nữa bác bỏ ý kiến cho rằng bản trường ca đó còn chưa hoàn thành; thủ bút Chuyện cổ tích về chú mục đồng Petia…, bản thảo các trường ca Us và Otchar, cũng như tiểu sử tự thuật của ông, lưu giữ tại phòng lưu trữ Bakhmetrev của Đại học Columbia (Hoa Kỳ). Việc nghiên cứu và phân tích so sánh các bản viết tay đã cho phép giải phóng nhiều văn bản của nhà thơ khỏi những sai phạm và lỗi in trước đây. Những trường hợp can thiệp của kiểm duyệt được làm rõ. Các tác phẩm của Esenin lần đầu tiên được công bố hoàn toàn đầy đủ, không cắt xén. [...] Đối với một loạt tác phẩm của Esenin được đưa vào tập 2 như Us, Tiếng gọi du dương, Đồng chí, Otchar, Giáng thế, thì việc có ý nghĩa quan trọng là việc sắp đặt theo đồ thị văn bản của các tác phẩm, tách biệt các khổ thơ và dòng thơ cho hợp với ý đồ sáng tạo. Tập sách này đã cố gắng khôi phục lại cách xếp sắp văn bản theo đồ thị của tác giả ở những nơi nó đã bị làm sai lệch. Văn bản của tất cả các trường ca “lớn” (thuật ngữ của Esenin) (Pugachov, Đất nước của những kẻ vô lại, Bài ca về cuộc hành binh vĩ đại, Trường ca về 36, Anna Snegina, Người đen) cũng được chỉnh sửa, khôi phục lại các đoạn bị kiểm duyệt trước đây lược bỏ. Ví dụ, trong Bài ca về cuộc hành binh vĩ đại đã khôi phục lại tên tuổi L.D. Trotski được Esenin nhắc tới. Thậm chí cả những chỉnh sửa văn bản học “vụn vặt” nhất cũng có ý nghĩa quan trọng, ví dụ, việc làm chuẩn lại chỉ một chữ cái: “a”, được chuyển thành “o” trong tập hợp từ “kommunisticheskie vzgliady” (những quan điểm cộng sản) có thể thay đổi toàn bộ ý nghĩa của bản trường ca Đất nước của những kẻ vô lại. Nhưng điều chủ yếu là tập ba đã giới thiệu Esenin như một nhà thơ sử thi mãnh liệt, chứ không chỉ là một nhà thơ trữ tình như nhiều người đến nay vẫn tưởng. Vấn đề xác định thời gian là vấn đề văn bản học phức tạp nhất. Esenin lần đầu tiên đề ngày tháng năm dưới nhiều bài thơ thời hoa niên của mình, viết những năm 1910-1914, vào năm 1925 trong khi ông tập hợp các sáng tác cho “Tổng tập thơ” của mình, song bản thân ông cũng nghi ngờ tính chính xác của chúng. Không còn tư liệu nào khác để khẳng định thời điểm sáng tác của những kiệt tác đầu tay này. Phần lớn trong chúng chỉ được công bố bắt đầu từ năm 1915. Đồng thời cũng hoàn toàn rõ là vào những năm đó nhà thơ viết nhiều bài thơ khác hẳn, chúng hoàn toàn khác những bài đã nói về nội dung và trình độ nghệ thuật: Nhà thơ, Những ngôi sao, chùm thơ Những suy ngẫm đau đớn, v.v... Nhiều thời điểm sáng tác các tác phẩm do tác giả đưa ra đã được làm chuẩn lại, một số khác, do không có các tư liệu phản bác, vẫn được giữ nguyên như một phần của văn bản tác giả, song tất cả các trường hợp còn nghi ngờ đều được trình bày chi tiết trong phần chú giải. Phần “Khảo dị” lần đầu tiên giới thiệu đầy đủ các dị bản của các tác phẩm theo tất cả các nguồn văn bản được biết đến từ trước tới nay. Bản nháp các tác phẩm của Esenin còn lưu giữ được cho thấy Esenin đã gia công nhiều thế nào những bản thảo của mình. Dung lượng các dị bản của “Pugachov” lớn gấp bốn lần văn bản chính. Một số dòng thơ có tới 31 phương án. Việc đọc các thủ bút của Esenin, viết bằng nét chữ nhỏ li ti, thường là bằng bút chì, bị gạch xoá nhằng nhịt hoặc mờ đi và phai màu bởi thời gian, là một công việc tốn rất nhiều công sức (chỉ riêng việc xử lý bản nháp “Pugachov” đã chiếm mấy năm trời). Chúng đã được giải mã dưới dạng đầy đủ nhất. Lần đầu tiên từng đoạn văn bản của Esenin chưa từng biết đến trước đây đã được đọc một cách chuẩn xác. Điểm nổi bật của xuất bản phẩm này là sự chú giải hàn lâm chi tiết. Các chú giải cung hiến thông tin về các nguồn thư bản và ấn phẩm của các văn bản, nêu rõ lịch sử sáng tác của tác phẩm, các nguyên mẫu nhân vật, giải mã những liên hệ ẩn kín mang tính tiểu sử, lịch sử, văn chương trong các văn bản và rất nhiều hình ảnh bí hiểm của nhà thơ. Các chú giải như thế cho phép hiểu không chỉ bề rộng các mối quan tâm của Esenin như một độc giả, mà còn cả thực chất các tác phẩm của ông. Thí dụ trong những chú giải cho trường ca Anna Snegina (1925) đã làm sáng tỏ tính đa nghĩa và sự phong phú của ngữ điệu trong bản trường ca, gắn với những điểm nhìn khác nhau của các nhân vật đối với những sự kiện diễn ra và đối với hình tượng quyến rũ của nữ nhân vật chính, mà đằng sau nó có thể đoán ra ba người phụ nữ tuyệt vời đã làm rạng rỡ tuổi trẻ của Esenin. [...]. Các chú giải cho trường ca Người đen làm sáng rõ ngữ nghĩa và tính biểu tượng của những hình tượng như tấm gương, kẻ song trùng, các môtip Kinh Thánh, các đặc tính biểu hiện của hội Tam Điểm, phát lộ cơ sở thơ ca - huyền thoại của một trong những tác phẩm bí hiểm nhất trong thơ thế giới. Đã được cho thấy có mối liên hệ đối thoại giữa bản trường ca với các tác phẩm Mozart và Salieri của A.S. Pushkin, Bức chân dung của N.V. Gogol, với Dostoievski (con quỷ trong Anh em nhà Karamazov), A. Musset (Đêm tháng Chạp), v.v… Trong số các tác phẩm văn xuôi của Esenin, bài viết lý luận Những chìa khoá của Maria (1918; 5, 448-500) được chú giải sâu sắc nhất, với những mô tả các nguồn văn bản vô cùng phong phú do S.I. Subbotin thực hiện. [...]. Toàn tập Esenin cho thấy sự dung dị trong thơ ca cái gọi là “tính giản dị” của “nhà thơ nông dân có thiên tài bẩm sinh" này là huyền thoại, là một trong vô số mặt nạ của người con Thế kỷ Bạc Nga Hiện nay nhóm Esenin đang biên soạn công trình năm tập Biên niên sử về cuộc đời và sáng tác của S.A. Esenin. Hai tập đầu đã ra mắt trong các năm 2002 và 2005, bản thảo tập ba đang hoàn thành. Bộ biên niên sử nhiều tập đầu tiên này là một tiểu sử khoa học giàu tư liệu về nhà thơ, một tập hợp đầy đủ nhất các chứng tích về những sự kiện của cuộc đời ông, thống kê các tác phẩm và thư từ, các bài báo và ấn phẩm, những bài phê bình lúc sinh thời, các hồi ức về ông và tác phẩm của ông trên báo chí, qua thư từ và nhật ký của những người cùng thời, được sắp xếp theo trình tự thời gian và được hiệu chỉnh qua tất cả các cội nguồn có được đến ngày hôm nay. Công trình như thế được tiến hành khả thi là nhờ thành quả nghiên cứu khoa học trong nhiều năm và những thu thập từ công chúng của các học giả trong và ngoài nước. [...]. Trong tương lai nhóm Esenin của Viện văn học thế giới mang tên A.M. Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học Nga có kế hoạch chuẩn bị và xuất bản cuốn Bách khoa thư Esenin, trong đó mỗi người có thể tìm thấy mọi thông tin cần thiết về cuộc đời và sáng tác của nhà thơ dân tộc vĩ đại của nước Nga. Tổng kết một giai đoạn nhất định trong công cuộc nghiên cứu cuộc đời và sự nghiệp của nhà thơ dân tộc Nga vĩ đại, một bộ bách khoa thư như vậy có khả năng đưa ra bản tổng hợp đầy đủ những tư liệu về cuộc đời và sáng tác của Esenin, từ hoàn cảnh văn học và đời sống, lịch sử di sản của ông trong nghệ thuật, những tượng đài kỷ niệm ông, các bảo tàng văn học, v.v… cho đến những thông tin về những người dưới nhiều hình thức khác nhau nghiên cứu và quảng bá sự nghiệp của nhà thơ. Những bộ cẩm nang dạng bách khoa thư như thế về sáng tác của từng nhà văn thường tạo được nhu cầu lớn không chỉ trong giới khoa học, mà còn giữa đông đảo các giới độc giả... Ý nghĩa của Bách khoa thư Esenin vượt xa khỏi khuôn khổ ngành nghiên cứu Esenin nói riêng. Sáng tác của Esenin phản ánh rất nhiều đặc điểm của thời kỳ văn học những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ XX và vì thế một công trình tổng kết các thông tin tư liệu và nghiên cứu như vậy là một nguồn quan trọng để hiểu được những bình diện khác nhau của lịch sử văn hoá Nga giai đoạn đó (1) TỪ THỊ LOAN dịch _______________ (1) Esenin Sergei. Toàn tập. Gồm 7 tập (9 quyển). M. Nauka-Golos. 1995-2001. Tập 6, tr.183-184. Tiếp theo mọi trích dẫn từ xuất bản phẩm này sẽ được ghi chú ngay trong bài viết, những con số trong ngoặc đơn chỉ tập và trang. Đống lửa thanh lương trà là tập thơ chưa công bố của nhà thơ. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|