|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
||||
|
||||
|
Chú Biên đang ngồi uống nước chè cùng chú Bẩy Choắt. Vừa trông thấy tôi, Chú Bẩy Choắt kêu lên ngay:
- Ô! Trông giống thợ câu chính hiệu ra phết. Ngồi xuống đây uống nước cái đã! - Cám ơn chú, cháu uống nước đầy đủ cả rồi. Tôi lấp liếm trả lời. Chú Biên vẫn chậm rãi uống nước, cặn kẽ hỏi tôi: - Sao cháu ăn nhanh thế? Đã no chưa? - Cháu ăn no rồi chú ạ. Thực tình lúc đó, tôi chẳng biết no hay đói nũa. Tôi chỉ thấy cái bụng lưng lửng, như đã ăn cái gì quá chán! Rít xong điếu thuốc lào, nhấm chén chè đặc cuối ấm, chú mới từ từ đứng dậy đi chuẩn bị đồ câu. Vừa chuẩn bị chú vừa dặn lại chú Bẩy Choắt: - Ông đừng đợi cơm tôi nhá. Chẳng biết lúc nào về đâu? Chú Bẩy Choắt hỏi lại: - Hôm nay có chắc ăn không? Tôi đi chợ mua mấy thứ về nấu canh chua nhá. - Không cần thiết đâu! Nếu kiếm được, về qua chợ Láng, tiện thể tôi mua luôn cũng được. Chú Biên đáp lại. Chúng tôi đi tắt qua xóm ra phía đường Láng. Tiết trời mùa xuân thật dễ chịu: Nắng xuân dịu dịu, gió nồm nam thổi nhè nhẹ. Bầu trời như có vẻ cao hơn, xanh hơn. Lác đác có một vài đám mây trắng trôi từ từ về phía tây bắc. Cây cối bắt đầu đâm chồi, màu xanh của cỏ cây dần dần trở lại. Chẳng để ý gì đến mọi vật xung quanh, tôi muốn đi thật nhanh đến chỗ câu. Ngược lại với tâm trạng của tôi, chú Biên vẫn nhởn nhơ con cá vàng, như để thưởng thức cho thỏa thích cái không khí mát lành của đầu mùa xuân. Giọng rè rè như tiếng ống bơ rỉ; vừa đi, chú vừa ngâm nga khe khẽ điệp khúc: “Em ơi mùa xuân đến rồi đó! Em ơi mùa xuân đến rồi đó...” Chúng tôi dừng lại ở Cống Mọc. Khi đó, ở Cống Mọc chưa có cái chợ cóc lộn xộn như bây giờ. Chỉ có cây cối um tùm mọc kín bờ phía đường Láng. Dưới sông, các bè rau muống đã bắt đầu hồi sinh trở lại sau những ngày đông giá, nhú ra những mầm non mơn mởn, tranh nhau chiếm lĩnh các khoảng nước trống và vươn lên không trung. Giữa những bè rau muống, là những khe nước trống, thẳng tắp, từ bờ sông bên này sang bờ bên kia; lất phất những mảng bèo tấm màu xanh lá mạ loang lổ trên mặt nước. Chú đang ngó nghiêng tìm chỗ đứng câu, thì có hai người đạp xe đến. Một trạc tuổi chú, một trông có vẻ già hơn. Mỗi người vác trên vai một chiếc cần câu như của chúng tôi; nhưng có vẻ cũ kỹ, đã ngả màu vàng xỉn. Họ chào chú Biên trước: - Chào anh Biên. Gớm! Lâu lắm rồi mới gặp. Có khỏe không? Hôm nay cũng đi câu khai xuân à? - Vâng! Chào hai bác. Cám ơn, tôi vẫn bình bình. Ngày hai bữa cơm no, nhưng thiếu cái chất tanh tanh. Hôm nay có cháu ở quê lên chơi. Tiết trời lại đẹp, chú cháu tôi đi kiếm chút về cải thiện. Chỉ vào tôi, chú trịnh trọng giới thiệu: - Đây là cháu tôi, mới ở quê lên. Thợ câu chuyên nghiệp của Nam Hà đấy! Tôi cảm thấy hơi ngượng vì lời giới thiệu quá đáng của chú. Miệng lí nhí: - Cháu chào hai chú! Nhìn hình dáng bề ngoài và cách ăn mặc; hơn nữa, nếu là dân thợ câu ở vùng quê, suốt ngày phơi nắng ngoài đồng thì lấy đâu ra nước da trắng trẻo như trẻ con thành phố. Chú thợ câu già tỏ vẻ nghi ngờ: - Cháu lên Hà Nội chơi với chú Biên hay làm ăn? Tôi chưa biết trả lời ra sao? Chú Biên đỡ lời ngay: - Cả hai: Vừa là để thăm tôi, vừa là để xem đất Hà Thành, có làm ăn được không? Rồi chú tảng lờ sang chuyện khác: - Hôm nay thời tiết đẹp thế này, chắc ăn đây. Hai bác ở lại câu với chú cháu tôi chứ! - Đâu dám làm phiền đến chú cháu anh. Chúng tôi lại đằng kia. Nói xong, hai người thợ câu vội vàng đạp xe về phía Ngã Tư Sở. Chú Biên nói với tôi như thể thanh minh về những lời quảng cáo có phần hơi quá: - Dân thợ câu Hào Nam đấy. Tuy là dân Hà Nội chính gốc, nhưng họ giỏi nghề kiếm cá lắm. Đánh ba tiêu, đánh lục; câu cá diếc, cá quả; món nào họ cũng thạo. Họ đi khắp các hồ trong thành phố Hà Nội; lên cả hồ Tây đánh ba tiêu, đánh lục; ra ngoại thành sang phía Gia Lâm, Đông Anh; đi về phía nam, xuống tận Văn Điển, Phú Xuyên, Thường Tín. Nhưng cái món câu cá quả thì họ phải nể chú. Biết chú là thợ câu Nam Hà, nên gặp chú đứng câu ở đâu là họ chuồn đi chỗ khác ngay. Vì vậy, chú phải nói đại lên như thế để họ nể. Cánh thợ câu là như vậy. Thấy thợ câu nào giỏi hơn mình là lảng xa, tìm chỗ khác đứng câu; may còn kiếm được một con. Tôi ngờ nghệch hỏi: - Tại sao vậy? Chú cười và bảo: - Tại sao ấy à! Đứng cạnh thợ câu giỏi chỉ có ăn cám! Cá ăn mồi của người ta chứ đâu ăn mồi của mình. Trừ những con quả nào chưa tiếp cận với mồi câu bao giờ, nó mới cắn câu. Chú chọn cho tôi một chỗ, mà theo nhận định của chú, có nhiều cá: Bè rau muống to, nước sâu; có những rạch giữa bè rau loáng thoáng những đám bèo tấm. Chú mắc mồi mẫu cho tôi, dặn đi dặn lại: phải làm thế này..., thế này nhá. Chú đi tìm chỗ khác, cách chỗ tôi đứng khoảng hai ba trăm mét. Trước khi đi, chú còn dặn: - Phải kiên trì cháu nhá. “Vạn sự khởi đầu nan”. Hôm nay mà thành công thì cả năm trúng quả đấy cháu ạ! Tôi háo hức cầm cần câu lên. Bắt chiếc chú Biên, tựa đốc câu vào bụng, tung con mồi theo rạch giữa bè rau muống. Nhưng chẳng hiểu sao, con mồi cứ rơi đánh tõm một cái, chỉ cách bờ bảy tám mét là cùng. Làm đi làm lại đến nửa tiếng sau, chiếc cần câu mới chịu tuân theo cánh tay điều khiển của tôi. Con mồi đã tung được xa hơn, cước ở bát câu xả đều: rèn rẹt, rèn rẹt. Nhưng cái đoạn điều khiển con mồi sao cho giống con nhái bơi thì quả là chẳng dễ chút nào. Lúc thì con mồi chìm xuống sâu, lúc thì con mồi nổi cao; lúc thì con mồi lướt quá nhanh, rồi đột ngột chìm sâu dưới nước. Cái động tác tay trái cuốn cước, tay phải rung cần, kết hợp cùng lúc sao mà khó thế. Chính vì những động tác kết hợp không chuẩn xác, không nhịp nhàng giữa hai tay, cơ bụng của tôi, khiến con mồi bơi không giống con nhái thật. Nó đúng là con mồi giả, bất cứ động vật nào ở dưới nước cũng nhận ra, chứ nói gì đến giống cá quả khôn ngoan kia. Thỉnh thoảng, tôi lại tung con mồi đánh tũm một cái, làm tung tóe cả nước; bằng đánh động cho cá chạy, chứ đâu phải nhử cá! Đứng câu như vậy được chừng gần hai giờ đồng hồ. Không thấy một con cá nào ra đuổi hoặc đớp mồi, tôi bắt đầu thấy chán. Cuộn cước vào bát câu, tôi ngồi phịch xuống bờ cỏ, ngán ngẩm đưa mắt nhìn về phía chú Biên. Chú Biên vẫn cần mẫn. Chú không tỳ cần câu vào bụng như mấy lần câu cá tổ. Dùng hai tay nắm đốc câu, giơ cao qua dầu, vút mạnh về phía trước. Động tác này còn khó hơn động tác tỳ đốc câu vào bụng nhiều. Vì khi vút đi, tay cầm bát câu phải thật nhanh, xả cước ra. Bằng cách vút này, mồi câu văng xa tới hai nhăm ba mươi mét; chứ không phải mươi mười lăm mét, như động tác tỳ đốc câu vào bụng. Tôi vác cần câu đi về phía chú Biên. Như hiểu tâm trạng của tôi vào lúc này, chú hỏi ngay: - Chán rồi phải không? - Dạ! Chán lắm rồi chú ạ. Chẳng có con nào ăn cả, đuổi mồi cũng không. Tôi ngao ngán trả lời. Chú Biên vẫn không ngừng tay vút cần. Vừa câu, chú vừa chuyện trò với tôi. Chú bảo, chắc chắn ở chỗ ấy có cá, nhiều nữa đằng khác. Nhìn váng nước chú biết mà. Chú buông cần, ngồi xuống vệ cỏ. Rút điếu thuốc lá cuộn trên túi áo ngực, châm lửa hút. Chú thì thào nói với tôi như sợ có người khác nghe được: - Hôm nay cá phàm ăn lắm, kiên trì cháu ạ. Rồi chú chỉ vào cái túi vải buộc vào cụm cỏ, để dưới bờ sông: Hai chú quả rồi đấy, toàn là khá cả. Tôi men xuống bờ sông, nhấc thử lên xem. Hai con quả hoa tươi nguyên; mỗi con phải đến bốn năm lạng. Đợi chú Biên hút thuốc xong, tôi mạnh dạn đề nghị chú đổi chỗ. Có lẽ lời đề nghị của tôi cũng trúng ý chú. Chú bảo tôi đưa bộ cần câu và cái túi để đựng cá còn trống rỗng của tôi cho chú. Chú dặn tôi phải kiên trì, đừng chán nản, rồi vác cần câu đi về chỗ tôi đứng câu lúc trước. Tôi mắc lại mồi cẩn thận, tự nhủ mình phải cố gắng. Ngay đường câu đầu tiên, rõ ràng một con quả đuổi theo mồi; rồi chẳng hiểu sao, lại hụp mất tăm. Tôi kiên trì đứng câu, nhưng cũng chỉ được khoảng hơn một giờ đồng hồ nữa, chân tay rã rời. Tôi thấy đói, đói thực sự. Lúc này tôi mới thấm thía lời dặn của chú Biên chiều qua. Tôi nghĩ đến bát cơm rang buổi sáng còn thừa, nghĩ đến những chiếc bánh rán vàng ngậy của cô Cúc, nước miếng cứ ứa ra.
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), Xamova (14-07-2010) | ||
|
#22
|
||||
|
||||
|
Ngồi xuống bờ cỏ một lúc cho qua cơn đói. Tôi quyết định bỏ về. Cuộn cước vào bát, rút ròng rọc ra khỏi cần câu. Xách túi cá, tôi đi lại chỗ chú Biên.
Chú Biên vẫn miệt mài với những đường câu của mình, chẳng để ý đến mọi việc xung quanh; tôi đến lúc nào, chú cũng không hay. Ngồi xuống vệ cỏ, ngắm những đường câu vút dài gần tới bên kia bờ sông của chú Biên; tay trái cuốn cước thoăn thoắt, tay phải rung cần, sao mà nhịp nhàng, sao mà khéo thế. Đang cuốn cước vào bát câu, bỗng thấy chú dừng tay như để nghe ngóng điều gì. Sợi dây câu có vẻ hơi chùng xuống một chút, rồi lại căng thẳng băng. Tôi hiểu là cá đã cắn câu, nhưng ở quá xa nên không nghe thấy tiếng đớp mồi. Bằng một động tác dứt khoát, nhưng không quá mạnh; giật cần câu về phía sau. Ngọn cần câu bắt đầu cong vút. Con quả mắc câu ra sức kéo dây câu vào sâu trong bè muống. Chú Biên, một tay vẫn cuốn cước từ từ vào bát, tay kia điều khiển cần câu để tìm cách lôi con quả ra khỏi bè rau. Cuộc giằng co giữa con quả và chú Biên kéo dài đến hai ba phút. Cuối cùng, con quả bị lôi ra khỏi bè rau, phơi cái bụng trắng phếc trên mặt nước. Nhắc con quả hoa đen chũi, đến bốn năm lạng lên khỏi mặt nước, quay mặt về phía đường; lúc đó, chú mới nhận ra tôi đang ngồi ngay sau lưng chú. Chú nhoẻn miệng cười khì khì. Bỏ cần câu xuống bờ cỏ, đi lại chỗ con quả đang cố nhoài ra phía sông. Cầm sợi dây câu, nhắc con quả lên. Chú chỉ cho tôi xem cũng là để giảng giải: - Phải nhận biết được con quả ăn mồi như thế nào trước khi giật. Thông thường, cá quả gắng hết sức đuổi con mồi, đớp mạnh rồi quay ngoắt lại. Trong trường hợp này, giật theo hướng ngược lại, lưỡi câu sẽ đóng sâu vào phần má có thịt như con cá này. Đóng câu như vậy thì rất chắc, không bị tuột, hoặc bị sứt môi. Nhưng cũng có một số con không háu ăn lắm, hoặc đã no mồi. Với bản tính tự nhiên của loài cá săn mồi, khi thấy một con cá nhỏ nào bơi qua; nó miễn cưỡng đớp một nhát. Ngậm con mồi nghe ngóng. Nếu mồi thật, nó không ngần ngại, xốc thêm một nhát nữa vào sâu trong họng. Còn phát hiện ra mồi giả, nó nhả ra ngay. Mặc dù không còn háo hức như lúc buổi sáng nữa, nhưng nghe chú giảng giải, tôi lại thấy mê. Tôi chưa thực sự hiểu lắm, nên hỏi lại chú: - Biết thế nào là cá nuốt ngay, còn khi nào thì biết nó chưa nuốt? - Biết chứ! Mọi hành động của con cá cắn câu đều được phản ảnh qua dây câu, truyền vào cần câu, đến tay người cầm cần. Nhưng chỉ có những người đã câu nhiều, giật cá nhiều mới có được khả năng nhận biết được. Vừa trả lời, chú vừa nắm gáy con quả để tháo lưỡi câu. Tôi đưa cái túi đựng cá quả cho chú. Nhưng không, chú bảo tôi xuống lấy cái túi của tôi để ở dưới bờ sông. Thì ra chú đã tóm được một con, cỡ bốn lạng. Bỏ con quả mới câu được, cỡ trên bốn lạng vào túi của tôi. Vẫn một động tác rất quen thuộc, chú chùi tay vào đám cỏ cho sạch nhớt cá; sau đó, chùi tiếp vào cái vạt áo bảo hộ lao động đang mặc trên người chú không còn được sạch sẽ cho lắm. Ngồi xuống vạt cỏ, móc điếu thuốc lá cuộn để trên túi áo ngực, châm lửa hút. Chú tiếp tục giảng giải: - Con quả nào đớp mồi, lôi mạnh làm díu cần, là con quả ăn mồi ngay. Trường hợp này thường xảy ra đối với những con quả bé, mới đến tuổi trưởng thành; chỉ khoảng một lạng rưỡi đến hai lạng. Con quả nào đớp mồi không nuốt ngay, tức là nó còn đứng tại chỗ để nhằn mồi. Người thợ câu lúc này phải tỉnh táo, không được chùng dây câu, mà phải kéo căng dây câu, làm động tác như con mồi dãy dụa, muốn thoát ra khỏi miệng cá. Lúc này, lập tức con quả xốc thêm một nhát nữa để nuốt sâu con mồi. Trong trường hợp này, phải giật câu theo hướng gần vuông góc với hướng đứng câu về bên phải hay bên trái. Những con quả to thường ăn mồi rất từ tốn. Ngậm chặt con mồi nghe ngóng, bước tiếp theo mới nuốt sâu vào họng. Hút xong điếu thuốc, chú mới hỏi tôi xem có câu được con nào không. Tôi ngượng ngùng kể lại, chỉ có một con đuổi mồi, rồi bỏ. Có lẽ chú hiểu hết sự tình, nên động viên tôi: - Thế là tốt rồi! Cháu cố gắng nhử mồi khéo tý nữa là nó ăn đấy. Con quả ấy quen mồi câu rồi, khi đuổi đến nơi, phát hiện ra mồi giả, nên nó bỏ. Biết tôi đã đói, không thích câu nữa. Tháo ròng rọc, cuộn cước vào bát, gài lưỡi câu lại cẩn thận. Chú bảo: - Ta về thôi! Hôm nay như thế là đủ rồi. Chú để tay lên vai tôi, hỏi tôi một cách chân tình: - Cháu có biết luật đi săn của người dân tộc không? Tất nhiên là tôi không biết. Nhưng cũng không hiểu ý tứ, chú hỏi để làm gì? - Dạ! Cháu không biết ạ. Tôi thành thật trả lời. - Ở các vùng miền núi nước ta, người dân tộc thường tổ chức ra các phường săn thú rừng. Khi săn được con thú, bất kỳ to hay nhỏ; họ chia đều cho các thành viên đi săn ngày hôm đó, kể cả lũ chó săn cũng có phần. Vì vậy, hôm nay; tuy cháu không câu được con nào, nhưng theo truyền thống của những người thợ săn, chú chia cho cháu một nửa số cá: chú hai, cháu hai. Không phải bỏ đi, bỏ lại nữa. Thế có được không? Tôi chẳng biết nói gì hơn, chỉ biết thầm cảm ơn tấm lòng hào hiệp của chú. Tuy vui vẻ nhận phần cá chú chia cho, nhưng trong lòng tôi thực sự áy náy. Trên đường trở về nhà, chú Biên vẫn còn say sưa bình luận về ngày câu cá hôm ấy. Chú bảo: - Hôm nay chú cháu mình gặp may, chọn đúng ngày, đúng giờ khai trương cần câu. Thời tiết lại đẹp, chiếm được chỗ có nhiều cá. Đúng là “Thiên thời, địa lợi”. Nếu chú cháu mình chậm chân một chút nữa, là hỏng việc; cánh thợ câu Hào Nam chiếm mất chỗ. Chiếc cần câu này sát cá ra phết, sẽ câu được nhiều cá đây. Ngày đầu năm đi câu, như thế này là may mắn lắm rồi cháu ạ. Năm nay, chắc chắn chú cháu mình sẽ kiếm được nhiều cá đấy! Bây giờ tôi mới hiểu ý nghĩa: Chú chọn con số 70 để mua cước; cần câu mới khai trương mà về không, không chỉ rủi cả năm, rủi cả đời của chiếc cần câu. Một lần nữa, tôi thầm cảm ơn chú về sự cẩn thận và chu đáo của chú. Tôi hỏi lại chú: - Sao cả con sông Tô Lịch dài như thế mà chỉ có đoạn này có cá? - Không chỉ đoạn này nhiều cá đâu cháu ạ. Đoạn từ Kim Giang đến Lủ cũng nhiều cá. Chú đoán cánh thợ câu Hào Nam giờ còn đang đứng câu ở đấy. Hôm nay trời đẹp, họ phải câu đến lúc hết ánh Mặt Trời. Từ Cầu Mới đến Bưởi, chỉ có đoạn Cống Mọc-Cầu Giấy, có nhiều cá; vì nó vừa sâu vừa rộng; lại có nhiều bè rau muống làm nơi ẩn náu, rình mồi cho lũ cá quả. Đây là đầu mùa câu, cá còn sẵn, nên tất cả các điểm câu, cánh thợ câu Hào Nam đều mò đến. - Cháu tưởng, làng Hào Nam chỉ có hai chú thợ câu mà chú cháu ta đã gặp lúc sáng? - Không đâu cháu ạ! Cũng như quê mình; trừ phụ nữ, trẻ em; đàn ông làng Hào Nam ai cũng biết nghề kiếm cá, nhất là các bậc cao niên. Chú rẽ vào chợ Láng, mua hai quả khế chua, hai quả cà chua, hai cây rau xà lách, mớ rau mùi, vài nhánh hành hoa. Thấy chú mua cái gì cũng hai, tôi hỏi chú: - Chú thích con số hai à? Sao chú mua cái gì cũng hai. Còn cháu, cháu chúa ghét con số 2. Chú cười trông thật thoải mái: - Lính tráng có xuất. Chú và chú Bẩy Choắt cộng lại luôn luôn là con số hai. Không thích con số hai cũng phải thích! Vì hai luôn luôn chia hết cho hai, rất là công bằng. Vừa đi, vừa kể chuyện, tôi quên cả đói; chẳng mấy chốc đã về đến nhà. Chú hẹn tôi, chủ nhật tuần sau lại đi câu tiếp. Chia tay chú, cầm túi cá nặng, trong lòng đầy những suy tư: Cảm phục và biết ơn tấm lòng hào hiệp của chú. Nhưng một câu hỏi cứ vương vấn trong đầu tôi: - Chú Biên làm thế có phải bố thí cho mình không nhỉ ? Mang cá về nói thế nào với bố mẹ và em Quang nhỉ ? Mải suy nghĩ, về đến nhà lúc nào không biết. Xách túi đựng hai con quả to vật; em Quang, mẹ và cả bố tôi nữa đều mừng rỡ ra mặt. Em Quang khen tôi rối rít: - Sao anh tài thế! Lần sau cho em đi với nhá. Bố tôi, không chỉ nghiêm khắc với anh em tôi, mà với cả chính mình, thường tiết kiệm những lời khen. Nhưng hôm ấy cũng có lời động viên: - Cũng được đấy chứ! Mới tập câu như thế là quá giỏi rồi. Tôi không thể tự dối lòng mình, cũng không thể nói dối mọi người, nhất là những người thân trong gia đình. Tôi đành thú nhận: - Hai con quả là của chú Biên câu được chia phần cho. Em Quang ngẩn tò te, chẳng nói, chẳng rằng. Mẹ tôi thì tỏ thái độ không bằng lòng ra mặt. Tôi thanh minh với mẹ: - Từ lâu nay, chú Biên vẫn chia phần cá câu được cho con như vậy. Chú bảo, đấy là nguyên tắc của phường thợ săn! Là người từng trải, tiếp xúc và cùng chung sống với nhiều dân tộc từ Bắc vào Nam; từ những vùng núi cao tít tắp: Lai Châu, Sơn La, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng ...; đến các vùng hải đảo xa xôi: Cô Tô, Bạch Long Vĩ ở vịnh Bắc Bộ; Hòn Buông, Hòn Chuối ở vùng biển Cà Mâu; đảo Phú Quốc, đảo Hòn Nghệ, quần đảo An Thới, quần đảo Nam Du, quần đảo Bà Lụa, quần đảo Hải Tặc trên vịnh Thái Lan của tỉnh Kiên Giang. Các phong tục, tập quán, cách sống của mỗi dân tộc, của dân địa phương của từng vùng miền; bố tôi đều thấu hiểu, nên bố tỏ thái độ đồng tình với cách sử sự của chú Biên. Bố nói nhẹ nhàng với mẹ: - Chú ấy sử sự như thế là đúng đấy. Sự hào hiệp của chú ấy sẽ là tấm gương cho thằng Minh nhà mình noi theo. Câu cá là trò giải trí, chứ lợi lộc gì mà em phải lăn tăn. Mẹ tôi hết cãi và vui vẻ đi làm cá. Tôi cũng trút được những băn khoăn trong lòng. Cất cần câu cẩn thận trên hiên nhà, lấy quần áo đi tắm rửa. Vừa lúc đó tiếng tít tít, báo hiệu 12 giờ trưa của Đài Tiếng nói Việt Nam vang lên từ chiếc đài điện, nhãn hiệu Phillip của nhà tôi đặt trên bàn.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#23
|
||||
|
||||
|
NGUYÊN TẮC PHƯỜNG SĂN
Bữa cơm trưa ngày hôm ấy, mẹ tôi vẫn nấu món canh cá quả mà cả nhà lâu nay đã “nghiện”: cá nấu với khế chua; lườn cá rim với nước mắm để ăn cơm. Trong bữa cơm, bố tôi kể về những phong tục, tập quán của các dân tộc; bố đã từng chứng kiến qua nhiều năm công tác ở các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có những phong tục na ná như “Nguyên tắc phường săn”, mà chú Biên đã áp dụng cho tôi: - Một lần bố đi công tác ở huyện Nà Hang, tỉnh Tuyên Quang. Đang cùng chú Hân và chú Khang khảo sát mặt cắt địa chất dọc theo bờ sông Gâm. Một con hoãng, cỡ con bê; từ vách núi bên kia, lao xuống sông, bơi thẳng sang chỗ bố. Bố và cả chú Hân, chú Khang còn đang ngơ ngác, chưa kịp hiểu có chuyện gì đã xảy ra. Từ bên kia sông, xuất hiện lố nhố một tốp thợ săn; chừng bốn năm người; súng kíp lăm lăm trong tay và gần chục con chó săn, sủa inh ỏi. Trời mùa đông ở miền núi rét như cắt da cắt thịt; con sông Gâm rộng, nước chảy xiết tràn qua các gềnh đá réo ầm ầm; hơi nước bốc lên nghi ngút. Đuổi đến đây, tốp thợ săn và đàn chó không dám liều mạng bơi qua sông đuổi tiếp. Họ ra hiệu cho bố và chú Hân, chú Khang vây bắt con hoãng đang bơi đến gần bờ. Chẳng kể gì rét mướt; chú Hân, chú Khang; cởi phăng quần áo dài, lao xuống sông. Con hoãng thấy có người bơi chặn trước mặt, nó ngoắt trở ra, rồi bơi theo dòng nước. Được cái chú Hân ở tuổi thanh niên, đang còn trai tráng, dân miền biển Hậu Lộc, Thanh Hóa; thạo nghề sông nước, nên chỉ mấy sải tay, chú đã tóm được cổ con hoẵng. Vừa lúc đó, chú Khang cũng kịp bơi đến, tiếp sức cho chú Hân. Con hoãng bị tốp thợ săn và đàn chó xua đuổi cả đêm, chạy hết rừng này sang rừng khác. Lại phải bơi qua con sông rộng hai ba trăm mét: Nó đã kiết sức. Vả lại một mình, làm sao chống cự lại được với hai thanh niên; đang sức ăn, sức ngủ. Không còn sức chống cự, cuối cùng, nó chịu để cho chú Hân và chú Khang lôi vào bờ. Với sự trợ giúp của bố, có sẵn đây rừng; con hoãng nặng gần một tạ đã bị trói gò bốn chân lại và đưa lên bờ. Khoảng hai mươi phút sau, tốp thợ săn cùng gần chục con chó, tìm được mảng bơi qua sông, sang bờ bên này. Họ là phường thợ săn của dân tộc Cao Lan. Một người già nhất trong tốp thợ săn nói với bố: - Cán bộ bắt được con thú của tao thì phải trả tao chứ! Chú Hân và chú Khang lộ vẻ bất bình ra mặt. Chú Hân văng tục: - Trả cái con củ c... Không có tao thì con hoãng đã thoát vào rừng rồi! Thấy thái độ bất bình của hai chú, hơn nữa gặp cán cán bộ Nhà nước, nên tốp thợ săn có vẻ nhượng bộ: - Chúng tao sẽ chia phần cho cán bộ! Bố tính cũng phải. Nếu không có họ săn đuổi từ đêm đến giờ thì chú Hân và chú Khang bắt thế nào được con hoãng. Tính ra họ có năm người, với mình ba là tám. Con hoãng mổ ra, không kể xương, mỗi người cũng phải được hai đến ba kilô thịt. Như vậy, ít ra mình cũng được một phần ba con hoãng. Ăn thoải mái! Bố đồng ý và bảo hai chú giao con hoãng cho họ. Họ mời bố, chú Hân và chú Khang về bản. Bố hỏi có xa không. Họ chỉ tay lên phía đỉnh núi cao và bảo: - Không xa đâu vớ! Chỉ một con dao quăng thôi mà! Kinh nghiệm làm địa chất đã dạy cho bố: Người dân tộc sống ở vùng cao, đi đường rừng quen; cho nên khái niệm xa gần của họ rất tương đối. Đường xa họ tính bằng ngày đường. Một con dao quăng của họ có khi đến cả chục cây số. Chắc ăn, bố giở bản đồ ra xem và hỏi họ ở đâu? Họ bảo ở Pác Ta. Nhìn trên bản đồ địa hình 1:100.000; từ bờ sông Gâm, chỗ bố và họ đứng đến đỉnh núi Pác Ta cũng đến gần mười centimet. Tính đường chim bay khoảng chín mười cây số; huống hồ còn đi vòng vèo nữa. - Xa lắm! Cái chân cán bộ không đi đến bản được đâu. Cán bộ còn phải đi khảo sát nữa. Giết hoẵng ở đây thôi! Bố bảo người thợ săn già.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#24
|
||||
|
||||
|
Tốp thợ săn túm tụm nhau lại. Họ tranh cãi nhau bằng tiếng dân tộc. Bố không biết lấy một từ. Nhưng nhìn qua nét mặt của từng người, bố nhận biết được: Có người đồng ý, có người phản đối. Cuối cùng, cuộc tranh cãi nào cũng phải đến hồi kết thúc. Người đứng đầu tốp thợ săn lệnh cho họ thịt con hoãng tại chỗ.
Sẵn dao trong tay, tốp thợ săn vật con hoẵng ra, làm thịt ngay trên bờ sông. Họ vào rừng, lấy mười bảy tàu lá chuối, mười bảy ống bương. Con hoẵng thịt ra được chia thành mười bảy xuất, kể cả tiết, lòng, dạ dày, gan, xương. Tất tần tật, chia đều. Bố hỏi người thợ săn già: - Tại sao chia thành mười bảy phần? Người thợ săn già giải thích: - Con chó săn của chúng tao nó cũng phải có phần chứ! Không có nó đuổi, không có hoẵng đâu vớ. Chín con chó và năm người của chúng tao, cộng với ba cán bộ. Xòe mười ngón tay, giơ ra quặp vào, người thợ săn tính ra mười bẩy phần. Đúng là “cái lý ông Mèo”. Chú Hân tức sùi bọt mép, nhưng chẳng biết cãi thế nào. Bố đành thương lượng: - Cán bộ chỉ nhận ba xuất thịt thôi. Phần xương và bộ lòng cán bộ nhượng lại; nhưng thêm cho một kilô thịt nữa! Cái gì chứ nhường họ bộ lòng, lại thêm cả xương nữa, nên họ đồng ý ngay. Cuộc chia tay giữa hai bên diễn ra vui vẻ. Người thợ săn già bắt tay bố và chú Hân, chú Khang tỏ vẻ tiếc nuối, vì không mời được cán bộ về bản uống rượu. Có thịt hoẵng, cả bản sẽ uống rượu vui vẻ thâu đêm, suốt sáng. Không cùng họ về bản cũng là điều may; chứ ngồi uống rượu với họ cũng phải hết đêm, cứ tuần tự: Uống với trưởng bản, uống với già bản, uống với những người đồng niên. Rồi đến đám nam thanh, nữ tú nữa chứ. Họ có trăm ngàn lý do để mời khách uống rượu. Uống rượu cũng không phải là nét văn hóa riêng của người Cao Lan, mà là của hầu hết các dân tộc miền núi nước ta: Hết hũ rượu này, có hũ rượu khác; hết bát này, có bát khác; hết người này, sang người khác. Phải uống nhiệt tình, phải say mới hết lòng. Đó cũng là một sự chân tình. Theo cách suy nghĩ và cách nói của người dân tộc! Được chia bẩy kilô thịt hoẵng, đúng vào thời điểm chưa mua được thức ăn, thật là quý. Chọn những miếng thịt ngon, thái mỏng; ướp gừng, tỏi, nước mắm; còn lại kho, giành ăn dần cho các ngày tiếp theo. Buổi chiều hôm ấy, cả nhóm công tác gồm năm người được một bữa liên hoan ra trò: Thịt thú rừng nướng, uống với rượu ngô. Thịt thú rừng tươi, nóng sốt, quả là rất ngon. Đấy là chuyện ăn chia của người dân tộc. Nghe ra thì có vẻ vô lý. Nhưng trong cái vô lý ấy lại chứa đầy tính nhân văn, sự bình đẳng trong ăn chia: Không có sự phân biệt giữa con người và loài vật. Người H’Mông ở Hà Giang, Lào Cai; người Thái, người Mường ở Tây Bắc, người Vân Kiều ở dọc dải Trường Sơn; người Ba Na, Ê Đê ở Tây Nguyên cũng có tập tục tương tự như vậy. Săn được con thú rừng nào, dù to hay nhỏ, cả buôn làng tụ tập nhau lại, cùng nhau thưởng thức những hương vị của núi rừng. Đây cũng là bài học cho các con biết cách cư sử ở đời đấy.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#25
|
||||
|
||||
|
CON QUẢ ĐẦU TIÊN
Tôi mong ngóng đến ngày chủ nhật, nhưng đến chiều thứ bẩy, chú Biên thông báo lại: Phải trực ca, chú không đi được. Chủ nhật tôi vẫn dậy sớm như mọi buổi sáng. Tiết trời mát mẻ, ấm áp thúc dục tôi có ý định đi câu cá một mình. Chẳng mấy khó khăn, ra bờ ao sau nhà máy, tôi tóm được hai con nhái xanh vừa mồi câu. Tôi vác cần câu ra Hồ Ba Sáu. Cái tên “Hồ Ba Sáu”, những người ở xa, đương nhiên là không biết rồi; còn ở phường Trung Liệt, cũng rất ít người biết. Nhưng đến giờ, tôi vẫn chưa rõ ý nghĩa của cụm từ “Hồ Ba Sáu” này lắm. Có thể là ba sáu hecta, có thể là ba sáu mẫu Bắc Bộ, hoặc ba sáu cái gì đó? Chỉ biết nó khá rộng: Từ phía đường Thái Thịnh, thông sang đến tận cầu sắt, nay là trạm biến áp Đống Đa. Nó cũng thông với cái hồ dài sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất, nay là phố Thái Hà. Cái hồ này chưa bao giờ tát cạn vì nó quá rộng và quá sâu, lưu cữu từ năm này sang năm khác, nên có nhiều cá quả to. Hai anh em tôi và bọn trẻ con trong tập thể nhà máy điện biết bơi chính từ cái hồ này. Khi mới năm sáu tuổi; bố đưa tôi, em Quang và bọn trẻ con cùng lứa trong khu tập thể ra tập bơi ở hồ. Chỉ sau một mùa hè, chúng tôi đã tự bơi được. Vì vậy, cứ hè đến; bọn trẻ con chúng tôi ra bơi, lặn hụp, mò trai quanh hồ. Thỉnh thoảng cũng có đám trẻ con trên phố, rủ nhau xuống bơi, chơi đùa, câu tôm, câu cá săn sắt. Cũng có đứa suýt bỏ mạng vì chưa bơi thạo, nếu không có người lớn cứu kịp thời. Cư dân sống quanh hồ thuộc đủ mọi tầng lớp: nông dân, công nhân, thợ thủ công, bộ đội, trí thức và những người buôn bán nhỏ. Họ chuyển về đây từ sau năm 1954. Nghe nói trước đây, cái hồ này và khu đất quanh hồ là của một nhà tư sản trên phố, tên là Thái Hà, nên có tên là Thái Hà ấp. Còn chỗ Nhà máy xe đạp Thống Nhất là khu lăng mộ và nơi thờ tự của của gia đình Khâm sai đại thần Hoàng Cao Khải. Xung quanh hồ, người ta thả bạt ngàn những bè rau muống. Trong màn sương đêm nhìn chưa rõ mặt người của mỗi buổi sáng sớm; bì bõm tiếng khua mái chèo của những chiếc thuyền mủng đánh cá, hái rau muống. Trên bờ, lố nhố: kẻ quang gánh, người đi xe đạp. Họ là những người buôn cá, buôn rau từ các chợ tụ tập về đây. Người bán kẻ mua, ồn ào cả một góc hồ. Tôi ra phía sau xưởng chế biến Nước chấm Thuận Hưng. Nơi ấy yên tĩnh, không sợ ai đứng nhìn kẻ mới tập câu. Chọn một chỗ đứng, thẳng ra rạch trống giữa các bè rau muống. Chỉ mới một đường câu, cách bờ chừng mười mét; tôi nghe tiếng “bụp” rất to, nước bắn tung tóe. Cái cảm giác đầu tiên của người mới đi câu cá thật khó quên: Mặt nóng bừng bừng như uống rượu, tim đập thình thịch, tay chân luống cuống. Tôi cố trấn tĩnh, tự nhủ: - Phải giữ cho dây câu căng vừa phải. Cá day mồi truyền qua dây câu, cần câu, đến đôi tay rõ mồn một. Đột nhiên dây câu thít mạnh. Như một phản xạ tự nhiên: Tôi vung cần, giật mạnh về phía sau. Mạnh đến mức, con quả tung lên trời, rơi đánh “tùm” một cái xuống nước, cách bờ khoảng bốn năm mét. Bối rối và luống cuống, tôi để cước trong bát câu xổ tung ra. Không còn cách nào khác, đành vất cần câu xuống đất; vội cầm đoạn cước kéo lấy kéo để. Mà cũng lạ, tôi đinh ninh là con cá đã xổng; nhưng khi cầm dây câu kéo, vẫn thấy nặng chịch. Nó đóng câu và mắc vào bè rau muống. Định thần lại, tôi kéo căng dây câu, rồi buộc chặt vào gốc cây cúc tần. Cởi quần áo, bơi ra, gỡ con quả mang vào bờ. Con quả khá to, đến hơn sáu lạng, vẫy vùng như muốn thoát khỏi tay tôi. Một dòng máu đỏ tuôn trào từ phía mang. Mừng và sung sướng tột bậc với chiến công đầu tiên. Một tay ôm quần áo, một tay xách cần câu và cá, tôi chạy một mạch về nhà.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#26
|
||||
|
||||
|
Tận mắt trông thấy tôi mang cá về, lần này em Quang phục lắm. Nó cầm cần câu, giả vờ như đang làm động tác giật cá mà đôi lần nó đã trông thấy chú Biên câu. Con quả dẫy lên đành đạch, máu trong mang nó tiếp tục chảy .
Lưỡi câu đã đóng quá sâu, tận trong phía họng, nên tôi không tài nào gỡ ra được. Tuy bố tôi không phải là người sành câu, nhưng hồi bé ở nhà quê, đã đôi lần bố đi câu cá quả. Cầm dây câu, nhấc con quả lên, bố tôi bảo: - Lưỡi câu đã đóng vào tận dạ dày nó rồi con ạ. Tôi kể lại cho bố nghe con quả ăn mồi và tôi giật nó như thế nào? Bố cười và bảo: - Cũng may! Con quả nuốt mồi vào tận dạ dày, con mới giật. Nếu giật sớm tý nữa, lưỡi câu chỉ đóng vào má hoặc vào mép, chắc nó đã gỡ ra được rồi. Miệng con quả đầy răng sắc, nên bố phải lấy cục gỗ nhỏ chèn vào miệng, sau đó lấy lưỡi câu ra từ phía mang. Máu trong mang con quả tiếp tục chảy lênh láng. Một lúc sau, không thấy con quả dẫy dọn gì nữa. Nó đã chết! Giục mẹ tôi làm thịt ngay con quả, bố giải thích: - Thịt cá quả giàu chất đạm, nên khi cá quả chết, không làm thịt ngay, chất đạm trong thịt sẽ bị phân hủy, không còn ngọt, thơm và ngon nữa. Các cụ có câu dậy: “Cơm muối còn hơn chuối chết” là như vậy. Bố cũng không quên dặn tôi phải nhờ chú Biên buộc lại lưỡi câu; vì bố đã thấy đoạn cước sát với lưỡi câu, đã bị hàm răng sắc nhọn của cá cắn nham nhở. Chủ nhật tiếp theo, chú Biên hẹn tôi đi câu xa hơn. Chú dặn phải dậy đúng giờ, ăn cơm thật no. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này tôi dặn mẹ gọi dậy sớm và chuẩn bị cơm sáng cho tôi. Buổi tối, trước khi đi ngủ; tôi chuẩn bị sẵn bát câu, mồi câu, túi đựng, bỏ trên giỏ xe đạp. Sáng dậy cơm nước xong, đúng hẹn, một tay vác cần câu, một tay dắt xe đạp; tôi sang nhà chú Biên. Chú Bẩy đã về quê từ hôm qua, còn lại mình chú, ngồi uống nước chè ở ngoài hè. Có lẽ hôm nay đi xa nên thấy tôi đến, chú đứng dậy ngay. Dọn dẹp các thứ vào nhà, dắt xe đạp ra ngoài sân, khóa trái cửa. Một tay cầm cần câu, một tay dắt xe đạp, chú bảo: - Ta đi thôi! Bám theo chú nhá! Chú đạp xe đi trước, tôi bám sát sau. Đến Ngã Tư Sở, rẽ trái đi về đường Tàu Bay (nay là đường Trường Chinh). Rồi rẽ phải đi về phía Trường Quân Nhạc. Theo một con đường lớn, gạch đá lởm chởm, ổ gà ổ voi; đến một cái hồ rộng mênh mông, nhìn xa tít tắp mới thấy bờ bên kia. Tôi không biết tên là hồ gì, nhưng theo trí tưởng tượng, nó ở về phía đông nam Ngã Tư Sở. Xung quanh hồ, lác đác có mấy người đứng câu. Người câu cá diếc, người đánh lục. Có lẽ hồ không sâu lắm nên chỗ nào cũng thấy cọng lá sen lô nhô lên khỏi mặt nước. Dừng xe ở đoạn vắng người, chúng tôi dựa hai xe vào nhau, khóa lại. Trước khi mỗi người ra đứng riêng một chỗ câu, chú bảo: - Thực ra đây là vùng ruộng trũng, cấy lúa không được nên người ta chuyển sang trồng sen. Mùa hè, sen phủ kín mặt hồ, tỏa thơm ngát tới tận đường Tàu Bay. Cá quả, cá rô, cá diếc, cá chép, loại nào cũng nhiều, nhưng không to. Cá quả chỉ một vài lạng; con to cũng chỉ ba bốn lạng là cùng. Nhưng dễ câu, vì còn lạ mồi. Chú chỉ tay vào phía bờ cỏ rồi bảo tôi: - Cháu cứ theo dọc cái bờ này mà câu. Cái giống cá quả ở vùng hồ rộng thường dạt vào ven bờ cỏ để náu mình, rình mồi. Chú cũng tìm một bờ cỏ cách chỗ tôi khoảng vài trăm mét đứng câu. Tôi cẩn thận mắc mồi theo đúng cách thức chú Biên đã bày. Không có cọng rau muống, lấy cọng cỏ còn bánh tẻ bịt đầu lưỡi câu. Chỉ vài đường câu, một con quả núp dưới bụi cỏ, quạt mạnh đuôi rẽ nước, lao về phía con mồi, làm mặt nước gợn sóng. Tôi vẫn nhanh tay cuộn cước, rung cần đều đều, con mồi bơi lướt nhẹ trên mặt nước. Một tiếng “bóp” nho nhỏ. Con quả hụp sâu, lôi mồi đi vùn vụt. Giật nhẹ cần về phía sau, thấy nặng tay. Con quả đã đóng câu. Tay trái từ từ cuốn cước vào bát, tay phải giữ chặt cần. Con quả vùng vẫy tháo chạy làm díu cả cần câu. Dây câu lúc này căng thẳng băng, ngọn cần câu hơi uốn cong, mặt nước hồ gợn sóng. Sức kéo, quậy phá của con quả truyền vào cần câu, cho tôi cảm giác: con quả này thuộc cỡ nhỏ. Từ từ cuộn cước vào bát, lôi con quả lên bờ. Con quả chỉ khoảng ba lạng, giẫy đành đạch. Đây là chiến công lần thứ hai. So với lần giật con quả đầu tiên, lần này tôi bình tĩnh và thực hiện động tác chuẩn xác hơn; lưỡi câu đóng vào phần má, đúng như lý thuyết mà chú Biên đã giảng giải cho tôi.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#27
|
||||
|
||||
|
Mắc mồi câu tiếp. Mồi lần này là con nhái xanh, hơi to và cẳng cũng dài. Tôi nghĩ:
- Để cẳng dài, chân bơi càng dẻo, càng giống nhái bơi chứ sao? Chỉ khoảng mười lăm phút sau, một con quả khác ra đuổi, đớp mồi, kéo díu cần ngay. Giật cần về phía sau, tôi thấy nhẹ bẫng. Chỉ có con mồi tung lên không trung. Hạ cần câu xuống, xem lại con mồi. Thì ra đã mất hai cẳng chân. Để nguyên con mồi bị cá cắn mất hai cẳng chân; tôi cầm cần câu lại hỏi chú Biên. Nhìn con mồi tôi mắc, chú Biên nói ngay: - Cháu mắc mồi chưa gọn, để cẳng thò ra ngoài quá dài. Con quả mới đớp vào vào hai chân nhái, cháu đã giật, nên mới bị sểnh. Với cái giọng pha chút khôi hài, chú trêu tôi: - Con cá sểnh mới là con cá to, phải không cháu? Đáng lẽ cháu phải để cá nuốt sâu chút nữa, giật mới chắc ăn. Tôi phân bua: - Nhưng nó đã kéo díu cần rồi, chú! - Tùy từng trường hợp chứ! Mắc mồi như cháu mắc lúc nãy thì cứ để nó lôi đi. Vừa nới dây câu, cho căng vừa phải, vừa phải làm động tác rung cần, giống như con mồi đang giẫy giụa. Con cá nào ham ăn mồi, thì nó tợp thêm một nhát nữa; lúc đó giật mới chắc ăn. Còn con cá nào khôn ngoan, nó sẽ bỏ mồi, hoặc ngậm hờ hờ để nghe ngóng. Chú thay cho tôi một con mồi khác bằng con nhái đất. Mắc gọn lên phía thân lưỡi câu và giảng giải: - Mồi mắc như thế này là để câu những con cá háu ăn. Chỉ cần kéo díu cần là giật ngay. Tôi trở lại chỗ câu cũ. Giữa vùng hồ rộng mênh mông, không có cây cối, có thể tập vút cần qua đầu thoải mái. Tay khỏe, nên tôi cũng vút được khá xa, tới gần ba mươi mét. Các động tác tay trái cuốn cước, tay phải rung cần, dần dần đã kết hợp với nhau một cách nhịp nhàng. Sự thoải mái đã giúp tôi thực hiện những động tác rung cần, bắt chiếc nhái bơi tiến bộ trông thấy. Tôi giật thêm được một con quả cỡ ba lạng nữa, nên càng mải miết câu hơn, quên cả thời gian. Đến khi nghe tiếng chú Biên khen: - Khá lắm! Hôm nay tiến bộ rồi đấy. Tôi giật mình quay lại. Chú Biên vác cần câu và túi cá đứng ngay sau lưng lúc nào không hay. Không cần đợi chú hỏi, tôi khoe ngay: - Cháu được hai con rồi chú ạ! Nhưng không to lắm, chỉ khoảng ba lạng thôi! - Chú được bốn con, toàn zin zin cả. Bây giờ nghỉ ăn trưa cái đã. Chiều ra câu tiếp cháu ạ! Nhìn quanh, thấy không còn một bóng người, chú đưa túi cá cho tôi: - Cháu buộc vào cùng chỗ túi cá của cháu đi! Xách đi theo, không có nước, trời nắng thế này cá chết mất. Đi đến đám cỏ nước um tùm mọc ven bờ, chú vơ lấy một túm, rồi trùm lên trên hai túi đựng cá. Chú giải thích: - Làm thế này để che mát cho cá cũng để đánh dấu, khi quay trở lại dễ nhận ra. Đạp xe đi một quãng năm sáu trăm mét; chúng tôi tạt vào một quán nước ven đường. - Bà chủ ơi! Có chè Thái ngon không đấy? Cho một ấm đi! Đấy là thứ mà chú Biên thích nhất mỗi khi vào quán. Thứ là thuốc lào, chú gọi tiếp: - Một gói thuốc lào Tiên Lãng! Tiện thể cầm cho tôi mượn cái điếu cày. Chủ quán là một phụ nữ tuổi trung niên, nhỏ nhắn. Nhanh nhẹn pha nước và lấy điếu cày cho chú. Thấy chủ quán còn trẻ nên chú đổi cách xưng hô ngay: - Chị cho cháu tôi một cốc nước trắng đi. Cháu tôi chỉ nghiện thứ đó thôi! Không có nước sôi để nguội, chủ quán đành phải lấy phíc nước, đổ ra cốc thủy tinh, đưa cho tôi. Rít xong điếu thuốc lào, nhấp chén chè Thái đặc; chú lân la hỏi chuyện: - Quán của chị có đông khách không? - Ít lắm chú ạ! Tôi mới về mất sức được một năm. Ở nhà chẳng có việc gì làm nên bày quán bán nước kiếm đồng ra đồng vào cho đỡ tiền rau cỏ. - Chị làm ở cơ quan nào mà về nghỉ sớm thế? - Tôi làm ở Nhà máy cơ khí Giải Phóng, dưới tận Văn Điển chú ạ. Đi làm xa, công việc ít, không đủ lương, nhà máy giải quyết cho tôi về nghỉ chế độ. - Anh chị được mấy cháu? - Cám ơn chú hỏi thăm. Tôi được hai cháu: một trai, một gái. Nhà tôi bên quân đội, đi vắng suốt. Như để an ủi người chủ quán, chú bảo: - Như thế cũng được chị ạ! Có người trông nhà cửa, quản các cháu, để anh ấy yên tâm đi làm. - Quán chị có gì ăn trưa không? - Có bánh chưng đấy chú ạ! - Chị cho hai chiếc năm hào! Loáng một cái, tôi đã ăn hết cái bánh chưng to hơn nắm đấm mà vẫn thấy thòm thèm. Thấy tôi ăn ngon miệng, chú lấy thêm một chiếc nữa đưa cho tôi: - Ăn nữa đi cháu! “Có thực thì mới vực được đạo”. Ăn xong, chú cháu mình ra câu tiếp! Tôi thấy ngượng. Ở nhà, bố mẹ thường nhắc nhở: “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”; ăn phải từ tốn, nhai ngậm miệng; không được ngồi xổm trên ghế, hoặc vừa ăn, vừa nói chuyện nhồm nhoằm... Lẽ ra, tôi phải ăn một cách từ tốn, cho dù trong bụng rất đói. Đằng này, đánh nhoàng một cái, đã hết bay tấm bánh. Tôi gượng gạo: - Dạ ! Cháu đủ rồi chú ạ! Chú Biên quả là rất tâm lý. Thừa biết tôi còn đang muốn ăn nữa, nhưng để tôi bớt ngượng; chú xẻ đôi chiếc bánh: - Ăn giúp chú một nửa vậy! Chúng tôi kề cà ăn uống, hơn một giờ sau mới đứng lên. Chú Biên thanh toán tiền, chào tạm biệt chủ quán rồi trở lại chỗ câu. Một điều bất ngờ đã xảy ra: Hai túi cá để cùng một chỗ, không cánh mà bay. Thế rồi tôi phát hiện ra cái túi vải màu xanh. Đấy là túi đựng mẫu đá địa chất của bố tôi, may bằng chất liệu vải thô. Cái túi trống rỗng, nổi lập lờ cách bờ vài mét. Giống như một thám tử, chú Biên xem xét kỹ hiện trường xung quanh. Thấy những vết chân trẻ con dính bùn, còn tươi nguyên để lại trên bờ cỏ; chú thốt lên: - Chú cháu mình mất cảnh giác quá! Lỗi là ở chú. Bọn trẻ con đi câu lươn lấy hết cá của chú cháu mình rồi! Nhưng chúng vẫn còn nhân đạo, quẳng lại cho chú cháu mình cái túi để đựng. Thôi! Phải làm lại từ đầu, cố gắng lên cháu nhá! Thái độ của chú có vẻ không lấy gì tức tối lắm. Ngược lại với thái độ của chú Biên; tôi tiếc ngẩn tiếc ngơ, trong lòng hậm hực: Sáu con quả chứ đâu có ít! Mà công sức của hai chú cháu lao động cả buổi sáng. Tôi mà tóm được, phải cho mỗi đứa một quả đấm vào mặt! Biết tôi còn đang ấm ức, chú giảng giải, động viên mà mãi sau này, càng nghĩ, tôi càng thấy chú nói rất có lý: - Lỗi là do tại mình, chứ đâu có phải chỉ riêng bọn trẻ. Sự mất cảnh giác của chú đã đưa bọn trẻ con đến hành vi xấu. Chưa chắc chúng đã có ý thức đánh cắp đâu cháu ạ! Nếu người lớn thấy chú cháu mình để hớ hênh như vậy, họ cũng lấy. Huống chi đám trẻ con, đang tuổi tò mò hiếu kỳ. Đáng lẽ phải hóa trang đi. Đằng này, chú còn ngốc đến lỗi, lấy cỏ phủ lên để người khác nhìn cho rõ. Đây là một bài học cảnh giác cho chú cháu mình đấy. Các cụ bảo “Vật bất ly thân”, đố có sai bao giờ. Nói xong, chú cười hềnh hệch một cách thoải mái, làm tôi quên hết mọi ám ảnh xấu về đám trẻ con câu lươn.
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), Xamova (14-07-2010) | ||
|
#28
|
||||
|
||||
|
Tôi hăm hở bước vào câu ngay. Sự hăng hái của tôi đã được đền bù một cách xứng đáng. Câu đến nhá nhem tối, tôi được ba con; chú Biên được năm con. Dĩ nhiên là không có cá to; chỉ hai ba lạng. Về đến cổng nhà máy, chú Biên đổ túi cá ra, chia đều: Tôi bốn con, chú bốn con. Nhưng tính trọng lượng ra, cũng chỉ nhỉnh hơn hai con câu ở sông Tô Lịch vào mấy tuần trước.
Những chủ nhật tiếp theo, chú Biên dẫn tôi đi câu xa hơn: Hôm thì ra khu hồ dưới chân cầu Long Biên ở bãi Phúc Xá; hôm thì sang Gia Lâm, Đông Anh. Đầu mùa câu, nên chỗ nào cũng sẵn cá. Hôm nhiều: năm sáu con; hôm ít: hai ba con. Nhờ sự chỉ bảo tận tình của chú Biên. Và có thể, tôi cũng có “năng khiếu” câu cá quả chăng? Dần dần, tôi đã tiếp thu được những kiến thức cũng như rút ra được những kinh nghiệm: từ mắc mồi, nhử mồi đến động tác giật cá. Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp xảy ra rồi mới nhận thức được. Giật sểnh cũng nhiều. Cá quả giả vờ ăn mồi, tôi cũng gặp tới năm sáu lần. Tổng kết mùa câu năm đầu tiên bước vào nghề; tính sơ sơ, tôi cũng được gần ba mươi con. Cá to từ năm đến sáu lạng, cá bé từ hai đến ba lạng; con nhỏ nhất chỉ trên một lạng. Từ khi bước vào nghề câu, tôi sắm một quyển sổ; ghi lại tất tần tật các hiện tượng tự nhiên của thời điểm đi câu cá; như một cuốn “nhật ký” về câu cá. Tôi ghi lại chi tiết từng trường hợp cá cắn câu, từng tổ cá từ lúc bắt đầu dọn tổ cho đến khi bắt được cá bố mẹ; ghi lại những nhận xét cách ăn mồi của từng loại cá quả, thậm chí cả cách ăn mồi của từng con. Do đúc rút được nhiều kinh nghiệm từ năm trước, năm thứ hai bước vào nghề câu đã khá hơn nhiều, số cá câu trượt cũng ít đi. Số cá do bản thân câu được cũng tăng lên rõ rệt. Đến năm thứ ba, thực sự tôi đã có đủ kiến thức cũng như kinh nghiệm; kết quả câu được cũng không còn kém chú Biên nhiều nữa. Từng ngõ ngách, hồ ao nào có cá quả, tôi thuộc như lòng bàn tay. Chỗ nào cánh thợ câu Hào Nam hay “trấn giữ”, chúng tôi thường ít lui tới. Và nếu có tới, thấy thợ câu Hào Nam đã đứng câu rồi, thì chúng tôi chuồn ngay. Chúng tôi thường “trấn giữ” các hồ ao ở quanh phường Trung Liệt. Tương tự như chúng tôi, cánh thợ câu Hào Nam thấy chú Biên và tôi đứng câu rồi, họ chỉ đến hỏi han một vài câu xã giao, rồi đạp xe đi chỗ khác, chứ không bao giờ đứng tranh câu. Nói thế, không có nghĩa là cánh thợ câu chúng tôi không được xâm phạm “lãnh địa” của nhau. Hoàn toàn vô tư và còn vui vẻ nữa đằng khác. Mỗi khi cánh thợ câu chúng tôi gặp nhau, cũng tay bắt, mặt mừng. Chú Biên thường mời họ vào quán nước, cùng nhau uống chén nước chè, hút điếu thuốc lào và tán gẫu; hồi lâu sau mới đường ai, người ấy đi. Cũng đôi lần, chúng tôi cùng cánh thợ câu Hào Nam xuống tận Phú Xuyên, nơi có con sông chảy qua cầu Giẽ. Con sông dài thả bạt ngàn bè rau muống, đủ chỗ và đủ cá cho cả hàng chục người câu. Nhưng nó quá xa Hà Nội, nên trong một mùa câu, chúng tôi chỉ rủ nhau đến câu ở đấy một hoặc hai lần vào dịp đầu năm. Những dịp đi câu xa như thế, chủ yếu là để giao lưu, kể cho nhau nghe những trường hợp câu lý thú, những trường hợp gặp phải những con quả khôn ngoan, hoặc thông báo cho nhau những địa điểm câu mới được phát hiện. Một điều tôi muốn nói ở đây: Những nơi nào, chưa có ai câu bao giờ, cá dễ ăn mồi. Chỉ cần một vài đường câu, cá quả ra đuổi mồi, ăn liền. Những nơi nào, thợ câu đến nhiều; ở đó, cá quả trở nên khôn ngoan, rất khó câu. Chỉ có thợ câu cao thủ, mới có thể lừa được chúng ăn mồi. Ở địa bàn nào, người thợ câu nắm được địa hình, nơi trú ngụ và tập tính ăn mồi của cá, câu mới đạt hiệu quả cao hơn. Như chú Biên và tôi, thường xuyên câu ở phường Trung Liệt; biết từng góc ao, từng bè rau muống quanh hồ; chỗ nào cá quả hay làm tổ, thói quen ăn mồi của từng loài cá quả, câu hiệu quả hơn cánh thợ câu Hào Nam.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#29
|
||||
|
||||
|
ĐÔI CÁ KỲ LẠ
Hồi ấy, phố Thái Thịnh mới mở đến đầu Trường phổ thông cơ sở Thái Thịnh. Phía đông bắc của trường là ba cái hồ nhỏ, bãi cỏ, thùng đấu và những chiếc lò gạch bỏ hoang đổ nát. Xa hơn nữa là con mương, ngăn cách giữa những hồ nhỏ với một hồ sen lớn. Ngày nay, tất cả đã bị lấp. Thay thế vào đó là các khu nhà cao bốn, năm tầng; rạp Chiếu bóng Quốc gia; phố Thái Hà và xóm liều bãi rác Đống Đa. Khu hồ ấy vắng vẻ. Có thể đám thợ câu Hào Nam không biết nên chỉ có tôi và chú Biên, thỉnh thoảng mới ra câu. Lần này, chú Biên nghỉ tranh thủ về quê; nên chỉ có mình tôi đứng câu. Có hai đứa trẻ: trạc chín mười tuổi; chúng men theo tường rào, ngăn cách giữa hồ với Trường công nhân kỹ thuật Hà Nội; lội sang bãi cỏ để bắt cào cào, châu chấu. Sau khi chúng lội qua; tôi thấy đám bèo tổ ong sát chân tường, cách chỗ tôi đứng câu khoảng mười lăm mười sáu mét; như có con vật rất to, bơi lồng lộn ở dưới, đội đám bèo lên. Rồi liên tiếp hai ba con săn sắt nhảy vọt lên mặt bèo. Có lẽ là tổ cá quả! Tôi đoán như vậy và cho rằng: khi bọn trẻ lội qua, cá bố mẹ phải rời tổ. Nhân cơ hội đó, bọn cá săn sắt xông vào ăn cá con. Cá bố mẹ quay trở lại bảo vệ đàn con, cắn đuổi bọn cá săn sắt! Tôi tung mồi câu về phía đám bèo tổ ong, kéo con mồi lấp lửng trên mặt bèo. Không nghe thấy tiếng đớp mồi của cá, nhưng cần câu trong tay nặng chình chịch. Cá cắn mồi rồi chăng? Giữ căng dây câu, làm động tác giả như con mồi giẫy dụa tìm cách thoát thoát thân; nhưng tuyệt nhiên, không có hiện tượng day hoặc xốc mồi như tôi thường gặp. Thử giật nhẹ. Điều bất ngờ xảy ra: Cả một vùng bèo tổ ong, đường kính ba bốn mét cuộn sóng. Cước câu căng thẳng băng. Từ từ cuộn cước lôi con quả vào bờ. Tôi đoán, con quả này cũng phải đến bảy tám lạng; nên nó mới ghì khỏe như vậy. Khoảng hai ba phút sau, kéo con quả vào sát bờ và nhấc lên khỏi mặt nước. Con quả to hơn nhiều so với dự đoán, như cái bắp chân người lớn. Nhấc lên khỏi mặt nước chừng nửa mét, con quả giẫy mạnh. Chiếc cần câu trong tay nhẹ bỗng và tiếng rơi “tùm”, nước bắn tung tóe lên tận bờ. Con quả đã thoát! Tôi bàng hoàng cả người; tiếc ngẩn tiếc ngơ, nhìn con quả lù lù rẽ đám bèo lao ra giữa ao. Tôi đoán là con quả bố đã cắn câu, nên tiếp tục câu nữa, hy vọng sẽ tóm được con quả mẹ. Cũng có trường hợp, cá bố mẹ bị bắt sểnh hai ba lần. Nhưng để bảo vệ đàn con, chúng vẫn tiếp tục cắn câu. Vì vậy, tôi kiên trì rở mọi “ngón nghề” mà chú Biên đã truyền cho. Hết trò câu bóng, rồi chuyển sang câu chọc tức, câu phá tổ cho đến khi Mặt Trời sắp lặn. Bỗng nhiên, tôi thấy dưới đám bèo tổ ong, nhoi lên một con rắn mòng, to bằng ngón chân cái. Nó vươn cao cái cổ ngó nghiêng, trườn đến định đớp mồi câu. Một tiếng “bụp” rất to. Cái thân uốn éo, dài ngoẵng tung lên khỏi mặt bèo. Con rắn mòng biến mất trong làn nước nhuộm màu đen của màn đêm. Đến lúc này, tôi nhận ra rằng: có câu tiếp cũng vô ích. Cá quả bố mẹ đã phân biệt được đâu là kẻ thù, đâu là mồi giả. Trời đã tối hẳn, đành phải cuốn câu, ngày mai nhất định phải câu tiếp. Tôi tự hứa với mình như vậy. Hôm sau là ngày chủ nhật, tôi ra câu rất sớm. Nhưng bặt vô âm tín, không có bất cứ một tín hiệu nào chứng tỏ tổ cá vẫn còn ở chỗ hôm qua. Xắn quần, tôi lội ra tận nơi để kiểm tra lại một cách cẩn thận. Thật là ngạc nhiên, tổ cá vẫn còn nguyên vẹn, không lớn lắm, to bằng miệng bát ăn cơm. Đám rồng rồng con mới chập chững biết bơi. Tôi quyết định dùng thủ thuật câu chọc tức, mắc mồi gọn, chỉ cần cá bố mẹ đớp nhẹ là dính câu ngay. Đứng câu chỉ cách tổ cá không quá bốn mét, từ thủ đoạn nhấp mồi xa tổ, đến gần tổ; rồi đưa con mồi vào giữa tổ quấy phá làm tan tác đàn con. Bọn cá săn sắt bắt đầu xuất hiện. Chúng lao vào tấn công đàn cá con. Lập tức cá bố mẹ xuất hiện đánh đuổi bọn cá săn sắt. Trong nhiều trường hợp như vậy, cá bố mẹ đễ cắn nhầm phải mồi câu. Nhưng đôi quả này rất tinh khôn, chúng phân biệt được mồi câu và cá săn sắt. Chỉ một lúc sau, bọn cá săn sắt: con thì bị sầy vẩy, con thì bị đớp đứt vây đuôi, nhảy tán loạn trên mặt bèo; cuối cùng đàn cá săn sắt buộc phải rút lui, chỉ còn lại cái mồi câu vô duyên của tôi quấy phá. Dừng câu một lúc, lấy tay che ánh sáng Mặt Trời, nhìn qua khe trống giữa những đám bèo. Dưới làn nước trong xanh, tôi trông rõ mồn một đôi vợ chồng cá quả: Chúng làm thành một vòng tròn, đầu con nọ tiếp giáp với đuôi con kia, quây đàn con vào giữa. Nhìn hai con quả cỡ bắp chân người lớn, dài tới nửa mét; cái đầu mốc thếch với những hoa văn đen, trắng, vàng nhạt trên mình cá; bị khúc xạ bởi ánh sáng Mặt Trời qua làn nước trong xanh, càng làm tăng vẻ hấp dẫn, kích thích sự kiên trì và quyết tâm của tôi.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#30
|
||||
|
||||
|
Tôi tự nhủ: phải bắt bằng được đôi cá này. Nhưng thật đáng tiếc: sự kiên trì và quyết tâm của con người đôi khi cũng phải thất bại trước sự khôn ngoan, sự hết lòng bảo vệ con của chúng. Mặc cho tôi chọc tức, quấy phá đàn con; cá bố mẹ chỉ dùng cái mõm đây mồi, dẫn đàn con bơi dần ra phía giữa ao, rồi biến mất trong làn nước trong xanh.
Bám đuổi theo đôi cá quả từ lúc trời vừa sáng tỏ đến lúc Mặt Trời đứng bóng, tôi không thu được bất cứ một kết quả nào, ngoài sự tiếc nuối. Tôi ngán ngẩm, cuốn cần câu ra về, trong đầu ngổn ngang những tính toán. Chiều tối, chú Biên về quê đã lên. Tôi tìm gặp chú và kể lại trường hợp tổ cá tôi câu hai ngày vừa rồi. Chú bảo: - Khó đấy! Cái giống cá quả biết cõng con đi trốn là không dễ bắt đâu! Chiều hôm sau, tôi dẫn chú Biên ra hồ tìm lại tổ cá mà tôi câu không thành. Cả hai chú cháu đi đi lại lại quanh hồ; căng mắt ra quan sát, nhưng không tài nào phát hiện ra nơi chúng cất giấu đàn con đâu nữa. Với kinh nghiệm tích lũy được qua nhiều năm câu cá tổ, chú bảo: - Về thôi cháu! Hai tuần nữa, khi con của chúng bằng hạt chanh; có tài thánh, cũng không giấu nổi đàn con đông đúc của chúng. Hai tuần sau, chúng tôi trở lại hồ. Quả như lời phán của chú Biên: Vợ chồng cá quả đã dẫn đàn con trở về nơi tổ cũ. Cá con có lưng, đuôi màu đen; thân màu vàng sẫm, bụng màu trắng; chen nhau nhô đầu lên mặt nước để thở; để lại những bọt không khí li ti trên khắp mặt nước của hồ. Chú Biên bảo: - Cái giống cá quả cũng có nhà, có tổ. Trong suốt thời gian chăn dắt đàn con, dù có dẫn đàn con đi ăn xa đến đâu đi chăng nữa; tối, chúng lại dẫn đàn con quay về tổ. Nếu chỗ làm tổ sạch sẽ; không bị con người quấy phá, rình rập thì những kỳ đẻ tiếp theo, thậm chí cả những năm sau nữa; chúng đều nhớ quay về địa điểm cũ, nơi chúng đã làm tổ. Tổ rồng rồng vẫn còn đông đúc, có tới hàng ngàn con; chứng tỏ cá bố mẹ bảo vệ đàn con rất chu đáo. Chiêu đầu tiên, chú Biên dùng sách câu bóng để lừa cho cá bố mẹ đớp nhầm mồi. Trổ hết tài nhử mồi câu, giống như con nhái bơi thật; nhưng cá bố mẹ không có bất cứ một phản ứng nào. Chiêu tiếp theo, chú câu nhấp; giả làm con gián nước cũng không kết quả. Chiêu cuối cùng, chú Biên bảo tôi cùng câu chọc tức và câu phá đàn. Hai chiếc cần câu vây lấy đàn cá con. Bị hai con mồi quây lại, quấy phá; chúng nháo nhác tìm đường chay trốn. Đột nhiên, tôi thấy đàn rồng rồng tụ tập lại, bơi trật tự theo hình mũi tên, hướng ra phía giữa hồ. Cá bố bơi trước, cá mẹ bơi chặn hậu. Đàn con bám sát trên lưng. Bất chấp sự cản phá của hai con mồi giả là tôi và chú Biên; chúng lặn xuống sâu, rồi biến mất trong làn nước trong xanh. Chú Biên thốt lên: - Cá bố mẹ cõng con chạy mất rồi! Một lúc sau, thấy đàn rồng rồng nổi lên giữa hồ. Chú Biên và tôi cố sức vút cần câu, nhưng cũng không tới. Chú bàn với tôi: chú ở lại theo dõi và dồn đàn cá vào gần bờ; tôi về nhà, bắt lấy vài con cá săn sắt. Làm cái gì chứ bắt săn sắt là món nghề của tôi. Trở về nhà, chỉ một loáng, tôi đã làm xong cần câu cá săn sắt. Vác dao ra vườn rau sau nhà máy đào giun đất. Khoảng mười lăm phút sau, tôi dã tóm được hai con săn sắt đực to: vây, mình trạm trổ đầy hoa văn màu xanh cánh trả và màu tím than, màu đỏ sặc sỡ. Tôi nhốt chúng vào túi nylon đổ đầy nước, rồi mang ra hồ. Chú Biên đã khôn khéo dồn tổ rồng rồng vào góc hồ, nơi có bè rau muống rậm rạp. Núp dưới làn rau muống; cá bố mẹ luôn luôn phải bận rộn với việc canh chừng bọn cá săn sắt. Từ mọi phía, bọn cá săn sắt nhâu nhâu, tìm cơ hội tấn công vào đàn cá con. Đây là dịp tốt để chú Biên thực hiện chiêu cuối cùng của mình. Chú mắc lưỡi câu vào lưng cá săn sắt, khẽ thả xuống giữa tổ rồng rồng. Bị che phủ những cánh lá của bè rau muống; cá mẹ không phân biệt được thật giả, lao vào tấn công ngay con săn sắt mồi. Một tiếng “bụp” rất to, nước bắn tung tóe vào tận bờ. Ngọn cần câu cong vút. Tiếng quật đuôi của con quả bị mắc câu vào nước ùm ùm, làm chao đảo cả bè rau muống. Con quả mẹ bị tóm nặng tới gần hai cân. Đàn rồng rồng tản ra mọi phía, tách ra rồi nhập lại; nhập lại rồi tách ra. Chú Biên bảo, con bố còn đứng ở xa nên đàn con mới nháo nhác lên như vậy. Nghĩ cũng thương thật! Nếu bắt nốt con bố, chắc chắn đàn rồng rồng sẽ bị bọn cá săn sắt tiêu diệt hoàn toàn trong năm mười phút. Tôi bàn với chú Biên: tha cho con bố để nó nuôi đàn con khôn lớn; sang năm hãy bắt. Chú Biên đồng ý ngay. Hai chú cháu sang hồ bên câu cá ăn bóng để đủ phần chia đôi.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#31
|
||||
|
||||
|
TỔ QUẢ GIỮA BÃI CỎ
Mấy năm sau, gia đình bên cạnh chuyển sang căn hộ khác; nhà tôi được giãn ra ở cả gian, rộng tới gần hai mươi mét vuông. Ở giữa sân của khu tập thể, có một bể, sức chứa cả chục mét khối nước, được xây từ những năm 70 của thế kỷ trước, bỗng chốc trở nên khô cạn. Người thì bảo: đường ống dẫn nước lâu ngày bị bùn, cát lấp đầy; người thì cho rằng: lâu ngày nó đã bị thủng. Tựu chung lại, cả chục hộ gia đình trong khu tập thể phải ra tận vòi nước ngoài Trại Trắng, cách khu tập thể tới ba bốn trăm mét để xếp hàng lấy nước. Nhà tôi cũng trong cảnh ngộ ấy, nên đêm nào, bố mẹ cũng phải cùng nhau đi lấy nước. Cái cảnh đêm đêm xếp hàng lấy nước, bốn năm giờ sáng xếp hàng đong gạo, mua thực phẩm trở thành nếp sống hàng ngày. Không kể người lớn hay trẻ con; hòn gạch, mẩu gỗ, cục đá gói trong mảnh giấy báo cũng tham gia vào việc xếp hàng giữ chỗ. Không ít chuyện cãi vã xảy ra: khi hòn gạch, mẩu gỗ xếp hàng bị người khác quẳng đi. Thẻ thương binh, sổ gia đình liệt sỹ là những “tấm bùa” quý giá, giúp cho chủ nhân của nó nhanh chóng đong được gạo, mua được dầu hỏa và các loại thực phẩm khác như thịt, cá, đường. Cũng có một số người, cầm trong tay một miếng bìa màu đỏ, nửa kín nửa hở, giả làm thẻ thương binh để chen hàng; nên đã xảy ra chuyện: những người xếp hàng đòi kiểm tra lẫn nhau thẻ thương binh, sổ chứng nhận gia đình liệt sỹ. Nếu ai không có đủ độ kiên trì xếp hàng, bán lại ô tem phiếu cho “đám con phe”*(*Người làm nghề buôn bán tem phiếu, thường là phụ nữ) là có thịt, có cá liền. Tất nhiên là phải bán giá rẻ và mua lại với giá cắt cổ. Sắp đến giờ mở cửa hàng, cảnh tượng chen chúc càng trở nên huyên náo. Ai đó được cô cửa hàng gạo của Nhà nước cho một ân huệ, gọi vào làm phu bốc vác những bao gạo từ ôtô, chuyển vào kho là một diễm phúc; vì ngay sau đó, họ sẽ được ưu tiên mua trước. Đó là chuyện thường tình ở thành phố Hà Nội ngày ấy. Nhờ có người bác họ làm trên Bộ nội thương, bố mẹ tôi mới mua được đôi thùng gánh nước bằng tôn hoa tại Bách hóa Cửa Nam. Sau mỗi lần đựng nước, nó được mẹ tối úp xuống cho khô. Giữ gìn cẩn thận như vậy nên lúc nào trông cũng y như mới. Mẹ tôi xếp hàng hứng nước, tranh thủ giặt thêm quần áo; bố tôi gánh; phải đủ hai gánh nước, nghĩa là bốn thùng nước 20 lít, mới đủ nước uống, nấu ăn và tắm rửa cho cả nhà trong một ngày đêm. Nước cũng được sử dụng hết sức tiết kiệm. Mẹ tôi thường lấy nước vo gạo để rửa rau, sau đó đổ vào nồi nấu cám cho lợn. Mùa đông còn đỡ, chứ mùa hè phải tới nửa đêm mới hứng đủ bốn thùng nước. Có được khoảng trống bảy tám mét vuông phía sau nhà; bố tôi xây một chiếc bể hơn một mét khối, chuyên để đựng nước mưa. Từ khi có cái bể đựng nước mưa, bố mẹ tôi đỡ vất vả hơn vào việc xếp hàng lấy nước. Mùa hè không chỉ đủ nước ăn uống, mà có khi còn dùng để tắm giặt. Không những thế, còn có chỗ để chúng tôi nuôi mấy con cá bảy màu, vài đôi cá kiếm và hai ba con cá vàng để ngắm chơi. Phía trước nhà, bố tôi cải tạo lại cái bếp, rộng đến hai mươi mét vuông. Mua gạch xây hàng rào bao quanh thành một cái vườn và cái sân rộng hai lăm mét vuông, có cổng, cửa sắt đàng hoàng. Tất cả đều do bàn tay của bố mẹ và có sự giúp sức của hai anh em tôi xây lên. Cái thời, cả khu dân cư: cụm 5, cụm 6 phường Trung Liệt cùng chung một dãy nhà vệ sinh công cộng. Sáng sáng, người ta phải xếp hàng để đi vệ sinh. Phụ nữ còn mang theo cái nón để che chắn. Chẳng có trò gì nghịch nữa, bọn trẻ con chúng tôi, đôi khi còn rủ nhau cùng đi vệ sinh; ngồi trong nhà vệ sinh, trêu chọc nhau. Thật là kỳ quặc!
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#32
|
||||
|
||||
|
Gặp những người xe thồ đi lấy phân ở nhà vệ sinh công cộng, thằng Long Búa Liềm đứng ra cầm chịch, chúng tôi cùng nhau hè to:
- “Thanh niên Cổ Nhuế xin thề, Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương”. Nhưng chẳng ai thừa hơi mà đi đôi co với bọn trẻ con, nên cái trò trêu chọc những người đi lấy phân làng Cổ Nhuế của đám trẻ con chúng tôi rồi cũng nhàm. Chẳng hiểu đọc ở sách nào, hay hỏi ai; bố tôi tự xây lấy nhà vệ sinh tự hoại, sát cạnh với gian bếp làm thêm. Một “sáng kiến” mà sau này, nhiều gia đình trong khu tập thể cũng bắt chiếc làm theo, được coi như “một cuộc cách mạng” xây nhà vệ sinh trong khu dân cư toàn nhà cấp bốn. Một lần, em Quang cùng với thằng Long Búa Liềm đi lang thang ra khu quảng trường ngoài gò Đống Đa; nơi xây dựng tượng đài Quang Trung, đúng vào ngày các cụ ông về hưu, các vị chức sắc mang cây đến trồng ở vườn hoa làm kỷ niệm; thấy còn thừa một cành hồng xiêm triết vất cạnh bờ tường, em nhặt mang về cho bố tôi trồng ở trước cửa nhà. Chỉ hai năm sau, cây hồng xiêm côi cút đã cho rất nhiều quả ngọt. Trong cái vườn nhỏ bé ấy, bố mẹ tôi còn trồng một cụm sắn đây. Có cụm sắn dây cũng tiện, rau cỏ bỏ đi và rác rưởi vùi vào gốc cây; cuối năm thu hoạch, cũng được gần chục kilô củ; một hàng rau ngót; mấy cây rau dền đỏ, trông thật vui mắt. Khu vườn sau nhà máy, bố mẹ tôi thả sức tăng gia; trồng mấy vạt rau muống cạn. Về mùa hè, không chỉ đủ rau ăn, còn đủ rau cho lợn và gà. Cái thời cả Hà Nội có phong trào: nhà nhà nuôi lợn, người người nuôi lợn; nuôi lợn cả trên nhà tầng. Trong khu tập thể, dù chật chội thế nào, nhưng nhà nào cũng ngăn ra một hai mét vuông ở góc bếp hoặc ở một chỗ nào đó quanh nhà để nuôi một vài con lợn. Chẳng phân biệt là giáo sư, tiến sỹ, kỹ sư, công nhân; nhà nuôi ít: một con; nhà nuôi nhiều: hai ba con. Nhà tôi ở phía cổng nhà máy, có khoảng không rất rộng; bố mẹ tôi cũng nuôi một con lợn; năm sáu con gà thịt và gà đẻ, một ổ gà con; một con chó, một con mèo; chẳng khác nào sống giữa vùng quê. Nhà cô Xiêm, ở cuối dãy của khu tập thể, nổi tiếng “mát tay” nuội lợn. Cứ sau mỗi lứa lợn xuất chuồng, cô lại mua chè, kẹo lạc mời các gia đình hàng xóm; vừa có ý như “chiêu đãi”, vừa có ý như “cầu may” cho lứa lợn tiếp theo được suôn sẽ. Gia đình nào không may, lợn bị ốm, cũng lo sốt vó, chẳng khác nào lo cho người ốm; phải đi tìm bác sỹ thú y về tận nhà chăm sóc. Một chuyện hy hữu đã xảy ra: Cô Thắm, nhà có những ba cô con gái. Chồng cô, bác Ngoãn, phó tiến sỹ ở Nga về. Nhặt nhạnh những viên gạch vỡ và mua thêm một ít gạch đặc, nung bằng lò thủ công; bác tự xây một căn bếp nhỏ chừng bốn mét vuông trước cửa nhà của khu tập thể, mái lợp giấy dầu; trong đó giành chưa đến một mét vuông làm chuồng lợn. Tay nghề thợ xây chưa cao nên bức tường bếp chỗ lồi ra chỗ lõm vào, trông rất nhem nhuốc. Cô về quê mẹ ở Thanh Hóa, ôm ra con lợn hơn chục kilô. Mấy ngày đầu, con lợn ngoan ngoãn chịu nằm trong cái chuồng chật hẹp. Rồi cái tính tự do phóng khoáng của tập tính vùng thôn quê, nó nhảy ra khỏi chuồng lúc nào không hay. Cô Thắm xắn quần móng lợn, cầm cái que lùng sục khắp mọi nơi trong sân, vào cả trong xóm hỏi thăm, cũng không thấy. Bác Thân, một thầy hàng đầu xem tướng số của khu tập thể. Bác bảo, bác có khả năng đọc được ý nghĩ của người khác. Nhìn cái đầu hói của bác khi “phát sóng”, mồ hôi toát ra, bốc hơi nghi ngút; tôi tin là bác có khả năng ấy thật. Chủ nhật nào, nhà bác cũng đông khách: khách từ các tỉnh lận cận, có cả những người từ Sài Gòn, còn đa phần, khách ở Hà Nội. Họ đến nhờ bác xem: tiền vận, hậu vận, chuyện làm ăn, chuyện gia đình, chuyện mồ mả v.v.. Bấm độn, bác Thân phán rằng: - Con lợn nhà cô Thắm chưa đi đâu xa, nó đi ra cổng phía bắc, rồi ngoặt về phía đông. Cứ hướng đông mà tìm, thế nào cũng thấy! Thực ra cả khu tập thể, chỉ có một cổng duy nhất thông ra đường. Phía đông khu tập thể là khu nhà máy, rộng bốn năm nghìn mét vuông; cỏ mọc um tùm, có cả vườn rau muống của bố mẹ tôi và của bố mẹ thằng Long Búa Liềm trồng; nên con lợn ra phía nhà máy là có cơ sở. Cô Thắm huy động bọn trẻ con chúng tôi đi lùng sục, nhưng cũng không thấy; những vạt rau muống còn y nguyên. Hỏi cô Tý Ngủ, cô Canh Rỗ, chú Bẩy Choắt; ba người trực ca hôm ấy cũng không nhìn thấy. Mọi người cho rằng, sau khi sổng chuồng, con lợn chạy ra cổng phía bắc, rồi rẽ trái về phía tây, vào trong xóm. Cái xóm tuy nhỏ nhưng có tới bốn năm chục gia đình; đường đi lối lại nhằng nhịt, vào đấy mà tìm chẳng khác nào như lọt vào trận đồ bát quái, biết nó rúc vào nhà ai. Có khi đã bị người ta bắt đi rồi cũng nên? Đinh ninh là con lợn đã mất, cô Thắm tiếc ngẩn ngơ. Cô tiếc là ở cái công mang từ Thanh Hóa ra. Cô tiếc là ở chỗ, cái món quà của bố mẹ cô cho không giữ được. Thế rồi đến chiều tối; bỗng nhiên, con lợn từ cổng phía tây nam vào nhà ông Dự lững thững đi ra. Thì ra, vượt ra khỏi cái chuồng vừa nóng, vừa chật chội, con lợn chui qua cái cổng để hở, vào gầm giường nhà ông Dự, đánh một giấc ngủ no say, chiều tối đói bụng mới mò ra sân.
__________________
Ласковый Май Thay đổi nội dung bởi: Siren, 13-07-2010 thời gian gửi bài 23:39 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#33
|
||||
|
||||
|
Các cụ bảo: “Tháng bảy nước chảy qua bờ”, đố có sai tý nào. Lúc đầu, trời mưa rả rích, đúng là mưa ngâu. Rồi những trận mưa xối xả như trút nước. Mưa cả đêm, đến gần sáng thì thấy mẹ tôi kêu:
- Anh ơi! Nước tràn vào nhà rồi. Bố tôi bật dậy. Động tác đầu tiên, bố tôi bật công tắc điện, không thấy đèn sáng; bố lẩm bẩm: - Mất điện lưới rồi! Mò bao diêm, bố bật lửa châm đèn. Hai anh em tôi cũng vừa tỉnh ngủ. Nhìn xuống nền nhà, nước đã tràn vào lêng láng. Cầm đèn pin, mò sang vườn phía nhà máy, bố tôi bê về một chậu đất sét. Lấy tấm ván, ngăn cửa chính; chèn đất sét kín phía ngoài. Cả nhà hì hục tát nước. Mẹ tôi còn cẩn thận bảo: - Nhân tiện, lau nhà luôn cho sạch! Trời vẫn tiếp tục mưa. Nước thấm qua mái ngói nhỏ xuống tong tong, ướt cả màn, giường chiếu. Mẹ tôi phải tháo màn, gấp chiếu, xếp gọn lại một chỗ, rồi lấy áo mưa phủ lên. Đến khi trời sáng hẳn, mực nước bên ngoài đã mấp mé, ngang với tấm chắn cao trên ba mươi centimet. Rồi ục một cái, tấm ván chắn nước vỡ toang. Nước mưa lẫn nước cống rãnh, cả phân lợn nữa; ào ào tràn vào nhà như vỡ đê, ngập tới nửa chân giường. Xoong, chậu, guốc, dép nổi lềnh bềnh. Bố tôi chạy vội sang nhà máy, mượn chú Biên một tấm sắt dày ba ly; nhờ chú ấy cùng khiêng, chắn vào phía cửa. Chú Biên bảo với bố mẹ tôi: - Nước tràn vào đến bệ máy, không tài nào giữ được. Nhà em ở trong sân thấp hơn, nên nước tràn vào nhà từ lúc nửa đêm, bây giờ đã mấp mé thang giường. Cả nhà tập trung tát nước: ì uồn, bì bõm. Gần tiếng sau mới tát cạn nước từ trong nhà ra ngoài sân. Được cái đồ đạc trong nhà, bố mẹ tôi đều để trên gác xép. Tính mẹ tôi cẩn thận, phòng xa: gạo đựng trong cái thùng tôn to, do một chú công nhân trong nhà máy gò giúp; có khả năng chứa tới 50 kg gạo. Mì sợi đựng trong thùng kẽm đựng cát tút đại bác của Mỹ; bố tôi kiếm được trong một chuyến đi công tác năm 1976 ở Quảng Trị, nên không sợ bị ướt. Phóng tầm mắt nhìn ra khu hồ sau phường Trung Liệt, một biển nước mênh mông. Chỉ thấy xa xa, nhấp nhô mấy cây dừa trồng bao quanh trường Nguyễn Ái Quốc. Cá ở các hồ ao thoát ra; đâu đâu cũng thấy tiếng cá quẫy. Người ta bơi thuyền, thả lưới, cất vó trên đường phố. Một cảnh tượng hiếm thấy trong chừng ấy năm tôi sống ở Hà Nội. Ba bốn ngày sau, nước mới rút xuống mức bình thường. Khoảng nửa tháng sau, tôi vác cần câu quay trở lại khu bãi đất hoang sau Trường công nhân kỹ thuật Hà Nội, tìm bắt những con nhái đất trong bãi cỏ um tùm. Một con nhái đất vừa mồi câu, đang bị tôi truy đuổi nhảy tõm xuống một cái hố nước nông giữa bãi cỏ. Một tiếng “bụp” rất to vang lên từ phía hố nước nông choèn. Rõ ràng là tiếng đớp mồi của cá quả. Tôi nhận định như vậy. Rón rén đi đến gần hố nước. Chỉ là một cái hố: rộng khoảng nửa mét; dài khoảng một mét rưỡi; sâu chừng nửa mét. Có lẽ do người ta đào lấy đất làm gạch, đã bỏ hoang từ lâu, xung quanh cỏ mọc um tùm. Tôi thật sự ngạc nhiên: nước trong hố chỉ sâu khoảng ba mươi phân. Một tổ quả xộp, đàn con khá đông đúc; cá con to bằng đầu tăm, màu vàng đỏ, nhung nhúc như tổ kiến lửa; có lẽ được chín mười ngày tuổi. Tôi lùi ra xa, tìm bắt mồi. Khoảng mười lăm phút sau, bắt được hai con nhái xanh vừa mồi câu. Đứng cách xa hố khoảng năm sáu mét; tôi mắc mồi, thử buông câu. Khẽ nhử: tóp tóp. Con quả đớp mồi đánh “bụp” nghe chắc nịch. Tôi căng cước, nhưng không thấy kéo díu cần như những con quả ăn mồi ở những ao và hồ lớn. Đằng này, con quả ghì chặt mồi tại chỗ. Giật nhẹ cần, thấy nặng trĩu. Con quả đã đóng câu. Con quả bố dài đến hơn bốn mươi centimet; da lưng màu xám nhạt, da bụng màu trắng; vân đen phủ toàn thân. Cái đầu của loài cá quả xộp vốn to hơn thân, nay bị mắc cạn trong cái hố chật hẹp, không kiếm được mồi, cái bụng nó lép kẹp, gầy tong teo, chỉ có đầu là đầu. Nghĩ mà thương! Cũng chẳng phải nhân đạo gì, nhưng con quả quá gầy nên tôi nảy ra ý: Tha cho nó và phải cứu đàn con ra khỏi cái hố sắp cạn hết nước này. Vụm tay làm bát để múc đàn con cho vào túi nylon, mang ra bờ hồ thả xuống cùng với con cá bố mới câu được. Đoán trong hố còn con cá mẹ, tôi cởi quần dài, xắn tay áo, lội xuống mò. Chỉ vài cái khua tay, tôi đã chạm vào cái thân trơn nhẫy của con quả. Chưa đi mò cua, bắt cá bao giờ; nên cái tay cứ lóng ngóng. Quả là bắt cá dưới nước khó hơn bắt cá trên cạn nhiều. Nhưng trong cái hố chật hẹp như vậy, con quả chạy đâu cho thoát. Chơi trò: “mèo vờn chuột”, quần nhau với con cá gần mười phút. Cuối cùng, con quả phát nhược, rúc đầu lên một bụi cỏ, để mặc tôi muốn làm gì thì làm. Con quả mẹ cũng gầy xác xơ như con quả bố. Tôi mang thả ra hồ cho nó về với đàn con. Tôi mang chuyện gặp tổ cá xộp giữa bãi cỏ kể cho chú Biên nghe. Chú bảo: - Cái giống cá là như vậy! Nước nổi đến đâu là theo nước vào đến đấy. Trận lụt vừa rồi, cả thành phố Hà Nội chìm trong biển nước. Cá từ các ao, hồ tràn ra. Đôi cá theo nước vào làm tổ trong hố nước kín đáo này. Nước rút đi, nhưng vướng đàn con thơ dại; nên bị mắc cạn trong bãi cỏ. Nó cũng có thể vượt cạn nhoai ra hồ; nhưng vì đàn con, nó đành liều chết ở lại đây. Đấy cũng là một hình thức đấu tranh sinh tồn của loài cá này. Chú tiếp tục giảng giải: - Cái giống quả xộp khôn ngoan và dữ tợn hơn loài quả hoa. Nó có thể vượt cạn bằng cách, nhảy lên bờ; trườn rất nhanh, chuyển từ ao này sang ao khác; hồ này sang hồ khác khi cần thiết. Những ao nuôi cá giống, người ta phải tát cạn, rắc vôi bột, để khô vài ba hôm; giết sạch cá quả và ếch nhái trước khi ươm cá giống. Nhưng rồi vẫn không thể diệt hết được. Loài cá xộp có khả năng nhịn đói, chịu hạn rất cao, rúc sâu dưới lớp bùn nhão, nên vẫn còn sót lại một vài con. Vì vậy, các hồ ao nuôi cá, người ta thường mời thợ câu cá quả đến bắt cho bằng hết. Để sót một con, là ao cá giống trở thành con số không. Cá xộp nuôi con và bảo vệ con cũng rất chu đáo. Đẻ trứng tuy có ít, nhưng số lượng con sống sót từ khi mới nở cho đến lúc trưởng thành đạt trên một nửa. Chứng minh cho điều này, chú kể tiếp: - Một lần đi câu trong Ninh Bình, giữa đồng không mông quạnh. Từ xa, chú trông thấy một con quả xộp, bằng cổ tay người lớn, nằm phơi mình trên bờ cỏ, mặc cho lũ kiến lửa bâu quanh mình. Chú mừng thầm: - Chẳng mất công câu cũng có cá. Có lẽ con quả nhảy qua bờ bị mắc cạn! Chú vừa hạ cái thúng sơn xuống đất, định chạy lại tóm lấy con quả. Thấy có người, nhanh như loài rắn ráo trườn trên cạn, con xộp lao tõm xuống sông. Dưới sông, đàn rồng rồng nhâu nhâu, đớp những con kiến do cá bố mang xuống. Do đó, không lấy gì ngạc nhiên, khi gặp cá quả làm tổ ở giữa bãi cỏ.
__________________
Ласковый Май Thay đổi nội dung bởi: Siren, 13-07-2010 thời gian gửi bài 23:39 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#34
|
||||
|
||||
|
CÂU QUẢ GIỮA MÙA ĐÔNG
Chú Biên thường lấy các hiện tượng thiên nhiên quan sát được để giảng giải cho tôi về thời tiết. Một lần đi câu vào ngày cuối thu. Cả hai chú cháu đều về tay không. Trên đường về, chú ngâm nga: - Khi nào nghe tiếng sếu kêu, Heo may thổi mạnh, quả không ăn mồi. Tôi hoàn toàn không hiểu, bởi một lẽ: con sếu như thế nào? đâu tôi có biết; nói chi đến tiếng sếu kêu; và có mối liên hệ gì giữa hai con vật này? Tôi thật thà hỏi chú: - Con sếu là con gì và nó kêu thế nào hở chú? Chú Biên lúc đó mới sực nghĩ ra. Ở đất Hà Thành này, làm gì có sếu bay qua mà có tiếng kêu. Có chăng thì chỉ có trong công viên Thủ Lệ. Ngẫm nghĩ một lúc chú bảo: - Cháu không biết con sếu là phải. Người dân ở quê chú, ai cũng thuộc câu tục ngữ: “Gió bấc hiu hiu, sếu kêu thì rét”. Nghĩa là khi trên trời xuất hiện những đàn ngỗng trời, chim mồng két và sếu từ phương Bắc bay về; tiếng kêu của chúng vang động cả một vùng trời, báo hiệu mùa đông đã đến. Khi ấy, nước lạnh, cá quả không ăn mồi nữa. Mùa câu cá quả thường kết thúc vào cuối tháng 10, đầu tháng 11 hàng năm. Rồi chú ngâm nga bài thơ “Thu điếu” của cụ Nguyễn Khuyến: - Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo. .................................................. . Cá đâu đớp động dưới chân bèo. Đấy, cảnh câu cá mùa thu là như vậy; có chán không cháu! Nhưng rồi vào một ngày chủ nhật, giữa tháng 12; trời đang rét căm căm, bỗng trở nên ấm áp khác thường. Sáng sớm, sương mù dày đặc, phủ trắng mặt Hồ Ba Sáu. Tôi chưa có kế hoạch làm gì trong cái ngày chủ nhật buồn tẻ này, thì chú Biên sang rủ tôi đi câu cá quả. Tôi thấy hơi lạ nên hỏi lại chú Biên: - Chú bảo kết thúc mùa câu rồi cơ mà? - Quy luật chung là như vậy. Những tháng rét này, cá quả, cá rô tìm những chỗ kín đáo để tránh gió mùa đông bắc từ Xibêri thổi về; chúng ẩn dưới rễ bèo Nhật Bản, trong các bè rau muống, hoặc trong lùm cỏ nước. Nhưng xen giữa những đợt gió lạnh, thường có một vài ngày thời tiết đột ngột trở lại ấm áp lạ thường. Đó là do có gió đông nam, mang hơi nước ấm áp từ xích đạo thổi lên. Tính toán được ngày này, đi câu sẽ thắng to. Từ thời Tam Quốc: Khổng Minh, mưu sỹ tài ba của Lưu Bị, sau này trở thành thừa tướng của nước Thục; đã tính toán được ngày gió đông nam nổi lên giữa mùa đông, giúp Chu Du, đại đô đốc bên Đông Ngô; dùng kế hỏa công trong trận đại chiến Xích Bích, phá tan ba mươi vạn tinh binh, đốt cháy hàng ngàn chiến thuyền của nước Ngụy trên sông Trường Giang. Trong trận này, đại thừa tướng nước Ngụy là Tào Tháo, may nhờ tấm lòng nhân nghĩa, khảng khái của Quan Vân Trường mà thoát chết ở đường Hoa Dung. Chú không tính toán được như Khổng Minh, nhưng hôm nay có gió đông nam, trời ấm áp. Mặt hồ nhiều sương, đến trưa, trời sẽ nắng ấm, chiều tối hoặc đêm nay mới có gió mùa đông bắc bổ sung. Cái giống cá quả ẩn mình lâu ngày trong các bụi cỏ, bè rau muống, đói bụng; và cũng để hít thở không khí ấm áp hiếm có giữa mùa đông, nên thường ra những chỗ nước trống để sưởi nắng và kiếm mồi. Chú giải thích nghe ra rất chí lý. Chú quả là người “Trên thông thiên văn, dưới tường địa lý”. Tôi hỏi chú: - Giữa mùa đông, tìm đâu ra mồi hở chú? - Đã có cách. Nói rồi chú bảo tôi đi cùng ra phía gò Đống Đa. Hồi đó, sau gò Đống Đa là một vùng hồ lớn, đầy bèo Nhật Bản và bè rau muống; chỗ bãi thải của nhà máy hóa chất Thái Hà. Sau này người ta mang rác, lấp đi làm công viên, dựng tượng đài; xây trường học; xây nhà, làm chợ. Vừa đi, chú vừa chuyện trò với tôi: - Chú đã để ý: Ở cái bãi rác sau gò, hè vừa rồi chú thấy có nhiều nhái đất lắm. Buổi tối, lũ nhái đất mò ra nhặt nhạnh thức ăn rơi vãi, bắt sâu bọ, ruồi nhặng. Bây giờ rét rồi, chúng chỉ chui rúc vào những cái hang ở quanh đâu đó thôi. Quả như dự đoán của chú: lùng sục một lúc, vạch những đám cỏ mọc sát chân gò, trong các hốc ở bờ ngăn giữa ruộng rau muống. Tôi và chú Biên đã tóm được trên chục con nhái đất vừa mồi câu. Ngày hôm ấy, tôi và chú Biên câu được mười một con quả ở hồ dài sau Nhà máy xe đạp Thống nhất và ở Hồ Ba Sáu; toàn quả to cả, từ bốn đến năm lạng. Cá ham ăn hơn cả trong mùa hè. Chúng tôi cứ nhằm vào các lỗ trống, giữa các bè rau muống; kéo con mồi, bắt chiếc như con nhái nhảy từ bè rau muống xuống nước. Những con quả nằm đợi sẵn ở dưới, gặp mồi là đớp liền. Câu cá giữa mùa đông dễ câu hơn nhiều so với câu cá giữa mùa hè, chỗ nào có ô trống giữa bè rau muống, y như rằng có quả phục sẵn ở đó. Từ kinh nghiệm này, bây giờ tôi cũng đã có được một chút kiến thức về dự báo thời tiết trong mùa đông. Đôi khi còn chính xác hơn cả tin dự báo thời tiết của đài truyền hình. Tôi nghiệm thấy: giữa những ngày đông giá lạnh; nếu sáng sớm có sương mù dày đặc, thì đến gần trưa, trời sẽ nắng ấm. Có thể để áo khoác ở nhà, hoặc đã mặc vào người rồi, thì phải cởi ra, cất vào trong túi. Ngược lại, thời tiết đang lạnh giá, bỗng trở nên ấm áp khác thường thì cần phải cảnh giác. Nếu có đi đâu xa, cần phải mang theo áo ấm và áo mưa. Năm sáu giờ sau đó, sẽ có gió mùa đông bắc lạnh thấu xương tràn về; đôi khi còn gây ra những trận cuồng phong và mưa lớn.
__________________
Ласковый Май Thay đổi nội dung bởi: Siren, 15-07-2010 thời gian gửi bài 07:40 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), MIG21bis (16-07-2010) | ||
|
#35
|
||||
|
||||
|
CÂU ĐÊM
Cá quả không ăn đêm như cá trê, chú Biên giải thích: - Khi trời về chiều, lúc gà nháo nhác lên chuồng, thì cũng là lúc cá quả dẫn đàn con tìm đường về tổ để ngủ. Sáng sớm hôm sau, khi đã nhìn rõ mặt người, cá bố mẹ mới dẫn đàn con đi kiếm ăn. Ngược lại, lũ cá trê thường đi kiếm ăn vào lúc chạng vạng tối. Hồi ở quê, chú thỉnh thoảng cũng đi câu đêm. Mùi tanh của giun đất là thứ khoái khẩu nhất đối với cá trê. - Cá trê thường đục hang, làm tổ dưới gốc sung, bờ tre mọc ven những hồ ao lưu cữu. Một hang cá trê có từ năm đến sáu con, có khi đến cả chục con. Cá trê còn đục vào trong gò mả ở cánh đồng lúa nước. Đã có trường hợp, người ta bắt được cả ổ cá trê trong quan tài, con nào cũng vàng ươm; và cho rằng, cá trê ăn thịt người mới béo như vậy. Nhưng chú không tin. Có thể có trường hợp nào đó, ván quan tài bị mục, cá trê mới chui vào làm tổ được, khi đó làm gì còn thịt người nữa? Câu cá trê vào buổi tối phải đính thêm một hòn chì ở phía chuôi lưỡi câu. Nhấp mồi, gây tiếng kêu tóp tóp, sát trên mặt nước. Loài cá trê rất háu ăn, nhao lên mặt nước tranh nhau đớp mồi. Cái miệng rộng nên chẳng có cú đớp nào trệch. Khi cá cắn câu, kéo díu cần, không cần giật mạnh, chỉ nhấc cần lên là được. Một buổi tối đi câu như vậy, có thể kiếm được năm sáu con là chuyện thường. Đấy là chuyện cá trê ăn đêm, còn câu cá quả vào ban đêm, chưa thấy chú Biên nói đến. Một lần, tôi phát hiện ra tổ cá quả từ khi cá bố mẹ mới dọn tổ, dưới bụi khoai nước ở hồ dài, gần cống thoát nước của bể bơi Đống Đa. Vợ chồng cá quả cắn nát cả đám rau muống, đường kính tới một mét rưỡi. Chính cái hành động này đã khiến tôi phát hiện ra tổ của chúng rất sớm, từ khi chưa đẻ trứng. Có lẽ đôi cá đã dạn dày với người qua lại, nên nó mới tìm đến chỗ này để làm tổ. Khi ổ trứng mới bắt đầu nở được già nửa, nghĩa là có một số trứng đã nở thành ấu trùng, chập chững biết bơi; một số trứng chuyển từ màu vàng sang màu đen, cũng là lúc trứng sắp nở. Tôi bắt đầu đến câu. Ngày đầu câu bóng, cá không ăn, cũng không đuổi mồi. Chuyển sang câu chọc tức, cá bố mẹ vẫn không có phản ứng. Im hơi lặng tiếng đến mức, tôi lầm tưởng chúng đã bỏ tổ. Ngày thứ hai, tôi dùng cá săn sắt để nhử. Cũng không có kết quả. Thấy tổ cá còn nguyên vẹn, trứng đã nở hết thành ấu trùng; chứng tỏ, cá bố mẹ canh giữ tổ rất cẩn thận. Sang ngày thứ ba, tổ rồng rồng bắt đầu bơi theo cá bố mẹ ven bờ khoai nước, đen kín cả mặt nước, rồi bơi ra giữa hồ. Câu mãi không được, tôi nhờ cậy đến chú Biên. Hai buổi chiều liền, chú Biên rong ruổi theo đàn rồng rồng, hết từ bờ hồ bên này sang bờ hồ bên kia, rở hết mọi ngón nghề: câu bóng chán chú chuyển sang sang câu chọc tức; rồi dùng cá săn sắt để nhử, nhưng cũng chẳng có kết quả gì.
__________________
Ласковый Май |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Cartograph (15-07-2010) | ||
|
#36
|
||||
|
||||
|
Mấy hôm sau, chú mang về một bộ câu lục gồm sáu lưỡi tết lại thành một hình vòng tròn. Sáu lưỡi câu sắc nhọn tết ngửa lên phía trên trông giống như con nhện độc của vùng rừng rậm nhiệt đới Amzôn ở Nam Mỹ. Chú bảo, chiêu này mà không thành nữa là hết cách. Chú thả chùm câu lục vào giữa đàn con, chỉ cần cá bố mẹ lảng vảng bơi đến trợ giúp cho đàn con là dính câu liền. Kết cục vẫn chỉ là con số không: không một lần phản ứng, không một lần cắn dọa và cũng không một lần mắc câu để tôi và chú Biên có chút hy vọng.
Hai tuần trôi qua. Đàn rồng rồng cứ lớn dần, gần bằng hạt chanh, vẫn đông đúc, ăn theo đàn rất tập trung, đi xa đến nửa vòng hồ. Một điều khá lạ, chưa lúc nào, tôi hoặc chú Biên nhìn thấy hình hài của cá bố mẹ, dù từ rất xa. Tuy nhiên, thỉnh thoảng vẫn thấy cá săn sắt bị cá bố mẹ đánh đuổi, nhảy lên mặt bè rau muống. Nhìn vào số lượng đàn rồng rồng, chú Biên dự đoán: hoặc cá bố mẹ chỉ khoảng ba lạng, hoặc rất to, phải hai cân trở lên. Xem ra cái giả thiết hai cân là có cơ sở hơn. Bởi một lẽ, đôi cá bố mẹ này làm cái tổ khá to, giấu mình rất kỹ và khôn ngoan, tránh được tất cả các cạm bẫy; không chỉ của tôi, chú Biên mà của nhiều thợ câu khác giăng ra ở vùng hồ này. Chán nản, cuối cùng chú Biên phán một câu, có vẻ rất nhân đạo: - Thôi, tha cho nó! Thực ra là chú đã hết cách. Trong thâm tâm, tôi chưa từ bỏ ý định bắt bằng được tổ cá này. Vì vậy, hàng ngày, tôi vẫn để mắt đến đàn con của chúng. Theo dõi, tôi thấy cá bố mẹ ngày càng dẫn đàn con đi ăn xa hơn; nhưng chiều tối, chúng lại dẫn đàn con về nơi làm tổ ban đầu. Tôi quyết định thử ý đồ của mình mà không cần tham khảo ý kiến của chú Biên. Ốc nhồi ở Hồ Ba Sáu cũng dễ kiếm. Tôi bắt một con ốc nhồi, đập vỏ, lấy phần thịt làm mồi nhử. Thịt ốc nhồi nhiều nhớt và tanh dễ đánh lừa được cá quả. Học bài xong, khoảng chín giờ tối, tôi vác cần đi câu. Nhấp mồi kêu tõm tõm ở vị trí gần tổ cá. Lập tức có phản ứng ngay. Cá bố mẹ lồng lộn đớp dọa, kêu bùm bụp, bùm bụp; to hơn bất cứ tiếng đớp mồi nào của các con quả mà tôi đã câu được từ trước đến giờ. Kinh nghiệm cho thấy: một khi cá quả bố mẹ có phản ứng dọa dẫm kẻ thù, trước sau cá cũng cắn câu. Tôi thả mồi vào giữa tổ. Một tiếng “bụp” nghe gọn, chắc như đinh đóng cột. Sức căng của dây câu truyền vào cần, nặng đến mức, tôi có cảm tưởng như dây câu vướng vào cả một bè rau. Con quả này quá to, không chừng bị đứt cước cũng nên! Tôi thoáng nghĩ như vậy. Vừa cuốn cước, vừa tính toán: không được quá mạnh tay, rồi từ từ nhấc cần lên. Giữa đêm tối, tiếng cá quẫy ùm ùm, làm kinh động đến cả lũ chó của mấy gia đình gần đó, chúng sủa lên ông ổng. Đưa con quả lên được bờ, tôi ngỡ ngàng về kích thước: quá to, quá lớn của nó. Trong đêm tối, không ước lượng được chính xác chiều dài; nhưng cũng phải đến nửa mét, xách nặng tay. Tháo ròng rọc ra khỏi cần, xách cá đi về nhà. Vừa đi được vài bước, con quả giẫy mạnh, dây câu đứt phựt. Con quả rơi đánh bịch một cái xuống đường. Hai tay chẹt cổ con cá không xuể, tôi cởi luôn chiếc áo sơ mi đang mặc trên người, cuốn lên con cá. Một tay ôm cá vào bụng, một tay cầm cần câu và bát câu, khệ nệ đi về nhà.
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), MIG21bis (16-07-2010) | ||
|
#37
|
||||
|
||||
|
Thoạt trông thấy tôi cởi trần, tay ôm vật gì chưa rõ; ngạc nhiên và hốt hoảng, mẹ tôi kêu lên khe khẽ:
- Này, con bê cái gì thế? - Con quả to lắm mẹ ạ! Thấy hai mẹ con rầm rì ngoài sân, bố và em Quang cũng chạy ra. Cả nhà đều sửng sốt về chiến công chưa từng có của tôi, từ khi bắt đầu vào nghề câu quả đến bây giờ. Con quả hoa đen chũi, to như bắp đùi; nhoài đi, nhoài lại trên sân. Cái miệng to, đầy răng nhọn, sắc như lưỡi dao cạo vẫn còn dính lưỡi câu. Bố tôi loay hoay mãi mới tháo được lưỡi câu ra khỏi miệng của nó. Mẹ tôi cân: nặng tới gần ba kilô (chính xác là 2,95 kilô). Thả nó vào cái chậu giặt quần áo gò bằng tôn hoa, đường kính miệng đến 75 phân. Con quả nằm khoanh tròn trong chiếc chậu có vẻ như quá chật đối với nó, thỉnh thoảng lại ngáp ngáp cái miệng. Mẹ tôi đã có kinh nghiệm giữ cá quả sống lâu, nên chỉ đổ nước xâm xấp đến ngang lưng; lấy chiếc mâm đồng to, úp lên mặt chậu và chồng thêm hai hòn gạch nữa, phòng khi cá giẫy quá mạnh, làm tung mâm đậy. Dục tôi đi tắm, mẹ mang chiếc áo sặc mùi tanh và nhớt cá quả vò qua rồi ngâm vào chậu xà phòng. Tắm rửa và đánh răng xong đã hơn mười giờ đêm, thế mà em Quang vẫn nằm đợi tôi. Nó thì thào, giọng đầy vẻ thán phục: - Sao anh tài thế! Làm thế nào mà anh bắt được nó vào ban đêm? Chẳng gì em Quang. Có lẽ cả bố mẹ tôi cũng có thể đặt ra những câu hỏi tương tự như vậy. Thật khó giải thích cho em Quang. Nếu nói đây là sáng kiến của tôi, chưa chắc em đã tin; vì vậy tôi ậm ừ cho qua chuyện, rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Sáng sớm hôm sau, đánh răng rửa mặt xong, tôi chạy lên nhà máy khoe với chú Biên, chú Bẩy: - Cháu tóm được con quả ấy rồi, những gần ba cân, chú ạ! Chú Biên thực sự ngạc nhiên, hỏi tôi cặn kẽ việc câu nó thế nào. Kể lại cho chú nghe từ đầu câu chuyện. Chú gật gù: - Cháu khá thật đấy! Quả là chú chưa nghĩ ra cái chiêu lừa bắt cá quả vào ban đêm. Còn chú Bẩy thì nói: - Ông thấy chưa! Bọn trẻ bây giờ sáng tạo lắm. Trò hơn thầy rồi nhá! - Ông Bẩy, ta sang xem cái đã! Cả hai chú cùng tôi sang nhà để “mục sở thị” con quả to có một không hai ở vùng hồ này. Bố mẹ tôi mừng ra mặt, mời hai chú vào xem cá, uống nước. Chú Biên chậm rãi nói với bố mẹ tôi: - Trong đời đi câu của em, trừ con xộp 5 kilô bắt được hồi đi bộ đội ở rừng Trường Sơn; những con có kích thước tương tự như con quả này cũng rất hiếm. Nếu không nhầm, em mới bắt được năm sáu con có trọng lượng tương tự như thế, nhưng từ khi còn làm nghề đi câu kiếm sống cơ. Chú Bảy thực sự kinh ngạc, trầm trồ: - Tôi chưa từng thấy con quả nào to như vậy! Và vẫn cái giọng có vẻ châm chọc: - Ông nói thì tôi biết thế! Chứ cháu tôi, giờ đây hơn ông là cái chắc. Mấy tuần ông không bắt được, nay cháu tôi bắt được, ông phải gọi cháu bằng thầy đi! Không một chút tự ái, chú cười và bảo: - Ông vừa nói với tôi “trò hơn thầy rồi”, tôi có cãi đâu. Nhưng công bằng mà nói, cháu là người đầu tiên sáng tạo ra chiêu câu cá quả đêm đấy! Chuyện trò, uống nước vui vẻ; bàn nấu món gì? Chú Biên bảo: - Cá quả xào rau cần cũng ngon, làm chả nướng càng ngon hơn. Nhưng mùa này chưa có rau cần, chị nấu cháo đi! Ý chú đúng ý tôi. Tối nay, mời hai chú sang ăn cháo nhá! Các chú không được từ chối đâu đấy. Hai chú nhận lời, chào bố mẹ và chúng tôi, rồi quay trở lại nhà máy. Buổi tối hôm đó, mẹ tôi nấu một nồi cháo to: hai phần ba gạo tẻ, một phần ba gạo nếp, một ít đậu xanh xay để cả vỏ, nấu nhừ. Con quả được đánh vẩy, cắt bỏ vây; mổ bụng, bỏ mật. Ruột và dạ dày cũng được làm sạch. Mẹ lạng hai cái lườn để riêng, thái mỏng ngang thớ, ướp nước mắm, hạt tiêu với hành khô thái nhỏ. Con quả to nên riêng hai cái lườn của nó đã đầy một bát tô. Đầu và phần xương còn lại luộc chín, gỡ hết thịt, sau đó mới cho vào cối giã nhỏ, lọc lấy nước. Gia vị có rau dăm, một bát nước mắm ớt tươi... Chuẩn bị xong bằng ấy thứ, mẹ bảo tôi đi mời chú Biên và chú Bẩy. Biết hai chú thích uống rượu, mẹ sai em Minh mua một xị rượu đế làng Vân. Khi mọi người đã đông đủ, mẹ tôi mới đổ nồi nước luộc xương vào nồi cháo, đun sôi lên lần nữa. Thịt cá xào to lửa, dậy mùi thơm phức, cho vào lẫn cùng với cháo. Mẹ múc ra sáu chiếc bát tô to, rắc rau dăm lên trên. Rót ra ba chén rượu: một dành cho chú Biên, một dành cho chú Bẩy. Bố tôi cầm một chén, trịnh trọng tuyên bố: - Hôm nay mời hai chú đến để chứng kiến sự thành công của cháu Minh sau nhiều năm “vác cần câu theo thầy Biên học nghề”. Xin mời hai chú nâng cốc! Đáp lại lời của bố tôi, chú Biên khiêm tốn: - Em cũng chỉ bảo cháu lúc ban đầu. Được cái cháu nhanh trí, nhận thức nhanh và sáng tạo. Cái trò câu đêm này là lần đầu tiên cháu nó nghĩ ra đấy anh chị ạ, chứ có phải em dậy cháu đâu! - Mời hai chú ăn cho nóng. Món cháo cá này phải ăn nóng, để nguội sẽ bị tanh. Mẹ tôi đon đả. Buổi liên hoan cháo cá quả thật đầm ấm, vui vẻ. Ăn xong nồi cháo cá, hai chú còn ngồi lại uống nước chè, chuyện trò hồi lâu mới ra về. Sau lần câu đêm thành công, những tổ cá nào không bắt được vào ban ngày; tôi và chú Biên đều câu vào ban đêm.
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), MIG21bis (16-07-2010) | ||
|
#38
|
||||
|
||||
|
ĐOẠN KẾT
Tôi và chú Biên ngày càng gắn bó với nhau như hình với bóng qua cái nghề câu cá quả. Nhiều khi thấy tôi quá đam mê, sao nhãng việc học hành; chú tâm tình với tôi một cách hết sức nghiêm túc. Chú bảo: - Do hoàn cảnh gia đình, chú phải bỏ học sớm, đi kiếm sống bằng cái nghề câu cá quả. Chứ thực ra, chú cũng rất muốn học cho bằng anh, bằng em. Cháu bây giờ có điều kiện hơn chú hồi đó rất nhiều. Chỉ còn một năm nữa, cháu thi đại học; do đó, cần tập trung học cho giỏi, phải thi đỗ; sau này ra làm việc, có bằng cấp vẫn hơn. Câu cá chỉ là trò giải trí thôi cháu ạ! Tôi chưa thấu hết được những lời khuyên của chú và cũng chưa nhận thức được cuộc sống tương lai sau này. Thì một hôm, vừa đi học về; tôi thấy cả khu tập thể xôn xao một tin đồn: Nhà máy điện giải thể, các tổ máy sẽ chuyển vào cho các tỉnh phía nam! Bố mẹ tôi và các gia đình trong khu tập thể mừng ra mặt. Bởi một lẽ, ai ai cũng khó chịu với tiếng máy ầm ầm tra tấn suốt ngày đêm. Nhiều lần họp tổ dân phố, bà con trong khu tập thể kiến nghị làm đơn gửi lên Bộ lao động, phản ánh về tiếng ồn và làm ô nhiễm môi trường xung quanh của nhà máy. Nay bỗng nhiên, chẳng phải đơn từ gì; nhà máy tự chuyển đi, tiếng ồn không còn nữa; thoát được cảnh hàng ngày hít phải những làn khí carbonic độc hại của bốn tổ máy thải vào bầu khí quyển, ai mà không mừng! Riêng tôi, tôi lại cảm thấy buồn hơn là vui. Nhà máy chuyển đi, ở đây sẽ buồn lắm. Nhưng điều làm tôi buồn hơn cả: đó là phải xa chú Biên. Buổi tối, tôi lên nhà chú Biên, hy vọng cái tin ấy chỉ là tin đồn. Vừa nhìn thấy tôi, chú Bẩy Choắt đã oang oang cái mồm như người rao báo những tin sốt dẻo nhất trong ngày: - Nhà máy giải thể rồi nhá. Mời hai chú cháu về Nam Hà mà câu cá với nhau! Chú Biên nằm trên giường như đang suy tính một điều gì. Thấy tôi sang, chú ngồi dậy, bảo tôi ngồi xuống cạnh giường. Không để tôi hỏi, chú bảo: - Chú Bẩy nói đúng đấy cháu ạ. Nhà máy phải dời đi, chuyển vào cho các tỉnh phía nam. Các chú cũng phải chuyển đi làm việc ở nơi khác. Như để thông cảm, tôi hỏi chú: - Các chú vẫn làm ở Hà Nội chứ! - Chưa biết được! Còn phải đợi cấp trên phân công công tác, có phải không ông Biên? Chú Bẩy nhanh nhẩu nói chen vào. Buổi tối hôm ấy thật là ảm đạm. Chú Bẩy cũng không còn hào hứng kể chuyện tiếu lâm như mọi khi. Còn chú Biên, chốc chốc lại hút một điếu thuốc lào như để xua tan những toan tính cho những ngày sắp tới. Tôi ngồi chơi với hai chú cũng chỉ được một lúc, rồi cáo từ ra về. Trưa hôm sau, đi học về, tôi thấy có hai chiếc xe con: một chiếc mang biển số 29 là của Hà Nội; một chiếc mang biển số 43 của một tỉnh phía trong. Có bốn năm người lạ hoắc, mặc com lê; có vẻ họ là những người lãnh đạo, đứng chuyện trò với nhau trước sân nhà máy. Mở cửa vào nhà, thấy em Quang đang dán mắt qua cửa sổ nhìn sang phía nhà máy. Thấy tôi về, nó reo lên như để báo một tin vui: - Mai dỡ máy rồi anh Minh ạ! Xe con trong Nam ra đấy! Nhanh thật. Cái tin ấy chẳng làm cho tôi vui chút nào. Tôi lặng lẽ treo cặp sách lên tường, rồi đi ra phía cửa sổ nhìn sang nhà máy. Một cảm giác buồn khó tả, với bao kỷ niệm đã gắn bó với tôi trong suốt thời niên thiếu: Từ tiếng máy bơm dầu, bơm nước; tiếng máy chạy khởi động xình xịch, xình xịch; tiếng đùa trêu nhau của các chú, các cô công nhân trong nhà máy... Và cũng có lúc, tôi trở thành “công nhân” bất đắc dĩ trong ca trực, giúp chú Biên bơm dầu. Ngày hôm sau nữa, năm chiếc xe tải và một chiếc xe cần cẩu cỡ lớn; ầm ầm chạy vào sân nhà máy. Trên xe chở vài chục công nhân cùng với những khúc gỗ to và dụng cụ tháo dỡ máy. Họ đến khá sớm, nói tiếng miền trong rất khó nghe. Nhìn biển đang ký xe, bố tôi bảo: - Đấy là xe của tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng. Những công nhân kia, chắc cũng là người Quảng Nam-Đà Nẵng? Một tuần, cả ngày lẫn đêm, ồn ào tiếng người hò reo; tiếng quai búa chát chúa, tiếng cờ lê, mỏ lết mở ốc cành cạch, cành cạch; tiếng gầm rú của chiếc xe cẩu mỗi khi phải nâng những cỗ máy nặng hàng chục tấn lên xe tải. Rồi đoàn xe nối đuôi nhau, chở máy ra đi; để lại ba căn nhà mái tôn rỗng tuếch, rộng như những cái hội trường lớn. Trong suốt thời gian dỡ máy, tôi không thấy một bóng dáng công nhân nào của nhà máy; kể cả chú Biên, chú Bảy. Tôi tự hỏi: không có lẽ các cô, các chú ấy đã chuyển đi ngay hoặc về quê rồi? Xe chở máy đi được bốn năm hôm; chú Biên xuất hiện trở lại. Gặp tôi ở đầu cổng nhà máy, chú bảo: - Tối chú sẽ sang chơi. Rồi chú đạp xe đi ra phố. Nhà tôi vừa ăn cơm tối xong thì chú Biên đến. Không để cho bố mẹ tôi hỏi chuyện, chú Biên vào đề ngay: - Em đến chào anh chị và các cháu đây. Mai em về quê rồi! Cái tin đó không chỉ bất ngờ đối với tôi, mà cả bố mẹ tôi nữa. Bố tôi không giữ được bình tĩnh, hỏi lại chú Biên: - Chú về quê là thế nào? Việc gì phải về quê! Chả nhẽ người ta không bố trí được việc cho chú hay sao? Thiếu gì chỗ làm ở Sở điện lực Hà Nội này! Biết bố tôi hiểu lầm, chú Biên phân bua: - Không phải thế đâu anh chị ạ. Sở điện Hà Nội bố trí đủ việc làm cho tất cả công nhân trong nhà máy. Riêng trường hợp của em và chú Bẩy, do hoàn cảnh gia đình ở xa, chúng em có nguyện vọng về quê cho gần nhà; nên giám đốc nhà máy đã tạo điều kiện để chúng em về sở điện lực của các tỉnh xin việc. Em xin về Sở điện lực Nam Hà. Từ thành phố Nam Định về nhà em cũng gần, khoảng 15 km, nên cũng tiện. Chú Bẩy về Hải Hưng, nhưng chưa thấy lên. Không biết có xin được việc không? Bố mẹ tôi tỏ ra mừng rỡ. Rõ ràng việc chú Biên chuyển về Nam Định cho gần gia đình là một giải pháp hợp lý. Mẹ tôi bảo: - Mừng cho chú đấy! Rõ không may mà lại may. Nhân có dịp giải thể nhà máy, các chú mới có cơ hội chuyển về quê. Chắc các cụ, cô nhà chú và các cháu ở quê mừng lắm nhỉ? - Chẳng giấu gì anh chị, các cụ thì quá mừng rồi. Còn nhà em, khỏi phải nói; thậm chí còn bảo, nếu xin việc ở thành phố Nam Định, có tốn kém, thì cô ấy sẽ cố chạy! - Nhưng cũng rất may anh chị ạ. Giám đốc Sở điện lực Nam Hà là chỗ quen thân của giám đốc Khâm. Khi em cầm lá thư giới thiệu của anh Khâm về, giám đốc chưa vội đọc. Nghe em nói là lính của anh Khâm về đây xin việc, giám đốc hỏi em vài ba câu về tình hình gia đình anh Khâm, về hoàn cảnh gia đình, quá trình công tác của em. Biết em đã từng là lính thông tin Trường Sơn trong thời kỳ chống Mỹ, giám đốc có cảm tình ngay. Xé mảnh giấy nhỏ, viết mấy chữ, bảo em mang đến phòng tổ chức của Sở làm thủ tục tiếp nhận. Chỉ trong vòng buổi sáng, là xong mọi thủ tục giấy tờ. Hôm qua em đi cắt hộ khẩu rồi. Mai em ra ô tô sớm. Bây giờ anh chị cho cháu Minh lên chơi với em một lúc. Tiễn chú Biên ra cửa, bố tôi nắm chặt tay chú Biên, xúc động: - Chú được về gần nhà là chúng tôi mừng. Nhưng phải xa một người bạn như chú, cũng đáng tiếc lắm. Khi nào có dịp lên Hà Nội công tác, nhất định chú phải vào chơi với chúng tôi và các cháu đấy nhá! Chú cho chúng tôi gửi lời thăm sức khỏe hai cụ, cô ấy và các cháu ở quê. Chú Biên đã chuẩn bị sẵn một vài thứ cho cuộc liên hoan chia tay. Chú bày bánh kẹo, hai chai nước ngọt lên trên cái bàn uống nước cũ kỹ. - Ngồi xuống đây cháu! Ăn kẹo, uống nước nói chuyện cho vui. Chẳng biết còn có dịp nào để chú cháu ta cùng đi câu cá, ngồi uống nước với nhau như thế này nữa không?
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), MIG21bis (16-07-2010) | ||
|
#39
|
||||
|
||||
|
Tôi thực sự xúc động. Lời nói của chú tuy mộc mạc nhưng chứa đựng biết bao tình cảm gắn bó giữa tôi và chú. Cố kìm nước mắt, cầm cái kẹo trên tay mà quên cả bóc vỏ, lơ đãng nhìn quanh căn phòng tập thể tềnh toàng. Đến khi chú Biên nhắc tôi ăn kẹo lần thứ hai, tôi mới sực tỉnh là mình đang còn cầm cái kẹo trên tay. Tôi vẫn im lặng chưa nói được gì với chú Biên ở cái giờ phút chia tay đầy ý nghĩa này. Còn chú Biên! Có lẽ chú đã trải qua nhiều cuộc chia ly, hoặc chú có thể biết nén những tình cảm xúc động, để cuộc liên hoan vui vẻ; nên hôm nay, chú nói nhiều hơn mọi khi. Chú chỉ tay vào chiếc ba lô để ở đầu giường:
- Quần áo, màn, vỏ chăn chú đã đút gọn vào chiếc ba lô kia rồi. Mấy thứ lặt vặt và bát câu chú bỏ vào túi xách tay. Lềnh kềnh nhất là cái ruột chăn bông. Chưa biết đút vào đâu đây? Mãi bây giờ tôi mới có lý do để thêm thắt vào câu chuyện: - Thế còn bếp dầu, xoong, bát. Chú đựng vào cái gì? Giường chú không chở về à? - Chú Bẩy còn ở đây, để lại cho chú ấy dùng. Còn cái giường; nó cũ quá rồi, chỉ có thể làm củi thôi cháu ạ. - Thế cần câu chú có mang về không? - Có chứ! Của gia truyền nhà chú đấy cháu ạ! Chú kể về nguồn gốc cái cần câu mà nó đã gắn bó với chú trong nhiều năm: - Cần câu này là của ông nội chú, để lại cho bố chú. Đến chú là đời thứ ba đấy! - Cần câu của cháu cũng có thể thành thứ gia truyền, nếu cháu giữ gìn cẩn thận và phải câu được nhiều cá; sau này truyền lại cho con, cho cháu... Rồi chú kể chuyện ông nội chú công phu đi chọn cần câu như thế nào? Câu được những con quả to như thế nào? Truyền lại cho bố chú như thế nào? v.v. và v.v.. Thế rồi giờ phút chia tay cũng đã đến. Chú với tay về phía đầu giường, lấy từ trong túi xách ra một chiếc bút máy Trung Quốc, nhãn hiệu Kim Tinh còn mới nguyên: - Chú kỷ niệm cháu chiếc bút máy này. Điều mong mỏi duy nhất của chú là cháu phải vào được đại học; bất kể là đại học gì. Sang năm cháu vào lớp 12 rồi phải không? Bớt câu cá đi, dồn sức vào mà học cháu ạ. Hy vọng ngày nào đó, chú cháu mình gặp nhau; lúc đó cháu đã thành kỹ sư rồi. Tôi đón nhận quà tặng của chú, nước mắt cứ trào ra: - Vâng! Cháu ghi nhận lời chú dặn. Chú tiễn tôi ra cửa, ghì tôi vào lòng mà không nói gì thêm. Bây giờ nghĩ lại, có thể lúc đó, chú cũng khóc; nhưng do trời tối mà tôi không nhìn thấy!
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), MIG21bis (16-07-2010) | ||
|
#40
|
||||
|
||||
|
Từ ngày những chiếc máy phát điện chuyển đi, khu nhà để máy được giao lại cho một cơ quan khác của Ngành điện. Họ đập đi, xây lên bốn dãy nhà cấp bốn, chia cho cán bộ công nhân viên. Người thì đến ở, người thì bán; nhưng phần lớn bán trao tay cho người ngoài. Dân tứ xứ đến mua: Cán bộ có, người buôn bán có. Họ đập đi xây lại thành nhà hai ba tầng. Không chỉ xây trên đất cũ mà họ xây lấn cả ra đường đi.
Đường vào khu nhà tôi trước đây: Xe tải cỡ lớn, mười lăm hai mươi tấn ra vào thoải mái. Nay: hai chiếc xe đạp tránh nhau cũng chật. Chẳng ai bảo được ai, chính quyền tỏ ra bất lực. Mạnh ai người ấy xây. Thanh tra xây dựng trên quận có đến, chủ nhà dúi cho cái phong bì là xong; mọi việc đâu vào đấy. Lấn hết diện tích dưới đất, rồi lấn không trung; hai nhà giáp mặt nhau, chỉ còn một kẽ hở. Cãi nhau, đánh nhau cũng chỉ vì tranh nhau cái cửa sổ. Họ chẳng thèm nhìn mặt nhau. Nhà nào biết nhà ấy. Có nhà mua đi, bán lại qua tay hai ba chủ. Cũng từ ngày ấy, các hồ ao xung quanh nhà tôi và một số hồ trong thành phố Hà Nội bị lấp đi nhanh chóng để làm đường, xây nhà chung cư. Sông Tô Lịch cũng tràn đầy rác rưởi, nước đen ngòm, không một loại cá nào có thể sống sót. Tôi cũng bỏ nghề câu cá quả, chuyên tâm vào việc học hành; thi đỗ hai trường đại học: Xây dựng và Kiến trúc. Tôi học Trường đại học kiến trúc Hà Nội, đang bước vào năm cuối. Hè năm ngoái, tôi thi xong môn cuối cùng; đã nghỉ hè được mươi hôm. Sau bữa cơm tối, cả nhà đang ngồi xem ti vi, thì có tiếng gõ cửa. Ra mở cửa, tôi nhận ngay ra chú Biên. Tuy chú có béo ra đôi chút, đầu lất phất mấy sợi tóc bạc; nhưng vẫn như xưa. Chú ngỡ ngàng nhìn tôi: - Cháu Minh phải không? - Vâng! Cháu là cháu Minh của chú đây, chú vào nhà đi. Tôi mừng quá, gần sáu năm kể từ hôm chia tay với chú, nay mới gặp lại. Tôi kêu lên rõ to, như đứa trẻ con hồi nào: - Bố ơi, chú Biên! Bố mẹ tôi và cả em Quang nữa, đứng cả dậy ra đón chú Biên. Một cuộc hội ngộ quá bất ngờ. Tôi lăng xăng đi pha nước. Bố mẹ tôi ngồi nói chuyện với chú Biên; em Quang ngồi chầu rìa hóng chuyện. Lâu ngày không gặp nhau, nên ai cũng có nhiều chuyện muốn hỏi, muốn nói. Đầu tiên, chú Biên thổ lộ: - Suốt từ ngày chuyển về Sở điện lực Nam Hà, hôm nay em mới có dịp quay trở lại Hà Nội đấy anh chị ạ. Bố tôi nói chen vào: - Hà Nội thay đổi nhiều quá phải không chú! - Thay đổi quá nhiều anh chị ạ. Người ở đâu về mà đông đến thế? Chật kín cả đường. Chỉ có nhà anh chị là không chịu thay đổi thôi. Cháu Minh, cháu Quang lớn nhanh quá. Nếu gặp ở ngoài đường chưa chắc đã nhận ra các cháu đâu! Đến lượt mẹ tôi chen vào: - Hai cụ, cô và các cháu ở quê có khỏe không? Chú làm ăn có khá không? - Cám ơn anh chị hỏi thăm, các cụ đều khỏe. Nhà em và các cháu cũng thế. Em đưa cháu đầu lên đây thi; cháu thi vào Đại học sư phạm I, ở hội đồng thi trường Thịnh Quang, trên đường Láng ấy. Chiều hôm kia, hai bố con ra đi ô tô, xuống bến xe Giáp Bát, bắt xích lô đến thẳng trường Thịnh Quang. Định đến để xem tình hình đăng ký thủ tục thi cử thế nào, rồi vào đây nhờ anh chị. Nhưng thấy ở trường có chỗ ăn, chỗ nghỉ; nên hai bố con thuê hai cái giường, tuy không đàng hoàng lắm nhưng cũng được. Có năm nghìn đồng một người một tối, có quán ăn phục vụ tại cổng. Học sinh từ các tỉnh về thi nên cũng đông vui. Sáng nay, cháu làm thủ tục nhập thi đến trưa mới xong. Em định đưa cháu vào đây thăm hai bác và các anh; nhưng mới gặp bạn bè, các cháu tranh thủ trao đổi bài vở để ngày mai vào thi cho yên tâm. Cơm tối xong, em rông bộ vào đây đấy. Từng ấy năm ở đây rồi, thế mà đến đầu nhà E3, em phải dừng lại để hỏi thăm; rồi đến trước cửa hàng karaokê Thái Bình Dương, em lại phải hỏi thăm một lần nữa. Mẹ tôi trách chú: - Lên đây rồi mà chú không đưa cháu vào đây nghỉ. Chỗ chúng tôi với chú chứ đâu xa lạ. Chú Biên chống chế: - Thực tình ở nhà, em dự định lên đây nhờ anh chị thật. Nhưng khi đến trường, em thấy ở đấy cũng tiện; nhất là cháu nhà em, nó cũng muốn ở lại trường cho có bạn. Những ông bố, bà mẹ; các anh, các chị đưa con em mình đi thi, hầu hết từ các vùng nông thôn của các tỉnh phía Bắc; có nhiều chuyện để nói, cứ vui như hội. Thôi thì thế này: - Ngày mai cháu nó thi xong hai môn đầu, tối mai em đưa cháu đến thăm hai bác và anh Minh, anh Quang. Thế có được không chị? - Tất nhiên là được rồi. Nhưng tôi phải giao hẹn với chú là đến đây ăn cơm tối cùng với gia đình đấy! Chú đừng có ngại, giờ không “hoàn cảnh” như trước nữa đâu! Chú cứ bảo nhà tôi không có gì thay đổi. Nhưng chú xem: nhà cửa rộng gấp ba, gấp bốn so với hồi chú còn ở đây; đồ đạc trong nhà, có khối thứ mới đấy chứ: ti vi, tủ lạnh, xe máy...Mẹ tôi khoe với chú. Ngồi chơi uống nước, hỏi thăm việc học hành của tôi và em Quang; hỏi thăm chú Bẩy và bạn bè trong nhà máy cũ của chú. Chuyện trò với bố mẹ tôi gần một tiếng đồng hồ, rồi chú xin phép ra về. Bố mẹ tôi muốn giữ chú ở lại nghỉ; nhưng chú bảo, phải về để con gái chú yên tâm. Tôi lấy xe máy đưa chú về. Lúc đầu chú cứ gạt đi, chú bảo: - Đường gần ấy mà, đi bộ khoảng mười lăm phút thôi! Tôi đề xuất đưa chú đi thăm thú một vài chỗ mà trước đây hai chú cháu đứng câu cá hàng giờ; đến những chỗ mà mùa câu nào cũng kiếm được cả chục con quả trở lên. Chú đồng ý ngay. Tôi đèo chú đi một vòng: ra phố Thái Thịnh, qua Học viện thủy lợi, Trường đại học Công đoàn, rẽ về phố Đặng Tiến Đông, quành sang phố Thái Hà, Láng Hạ, Láng Trung, khách sạn Daewoo, vòng lên Cầu Giấy, về đường Láng. Chỗ nào chú cũng bảo, không còn nhận ra nữa, thành công viên, nhà ở cả rồi. Chúng tôi dừng lại chỗ Cống Mọc, nơi lần đầu tiên chú dẫn tôi ra đây tập câu. Mùi hôi thối từ nước sông Tô Lịch bốc lên. Chú ngán ngẩm, lắc đầu: - Ô nhiễm quá chừng cháu ạ; ngoài bọ gậy ra thì khó có loài cá nào sống được ở đây!
__________________
Ласковый Май |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Cartograph (15-07-2010), MIG21bis (16-07-2010) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Thơ của bạn Nguyễn Duy Anh ở trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội | Andre Plentinov | Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn | 53 | 02-08-2011 00:12 |
| Ngàn năm Thăng Long | Geobic | Mỹ thuật - Nhiếp ảnh | 104 | 02-08-2010 22:28 |
| Kỉ niệm 1000 năm Thăng Long ,cuộc thi vẽ dành cho bé | navydesign | Mỹ thuật - Nhiếp ảnh | 0 | 03-07-2010 15:37 |
| Thăm vùng lãnh nguyên Yakutsk trên trực thăng | notforsale | Mỹ thuật - Nhiếp ảnh | 1 | 14-10-2009 03:11 |
| Nền công nghiệp Việt Nam thăng tiến | andrey | Các chủ đề khác | 0 | 24-09-2008 09:13 |