Trở về   Nước Nga trong tôi > Dành cho các bạn > Các chủ đề khác

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 06-07-2010, 07:20
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default Viết về Thăng Long-Hà Nội - Nguyễn Hữu Hùng

Hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, tác giả Nguyễn Hữu Hùng viết truyện "Truyện cá quả", trong đó nhắc đến các địa danh rất thân thuộc với người Hà Nội. Nơi ông câu cá ngày xưa, bây giờ đã là nhà, là phố...
Được sự đồng ý của tác giả, Siren xin gửi đến các bạn cùng đọc.

"TRUYỆN CÁ QUẢ*

TỔ RỒNG RỒNG

Mới chưa đầy mười năm, cái nơi ấy đã đổi thay quá nhiều đến mức, chính bản thân tôi cũng không nhận ra nữa; chứ không kể những người lâu lâu mới đến. Ao hồ, sông ngòi nay đã thành đường phố; cửa hàng cửa hiệu, nhà cao tầng; biệt thự đủ kiểu: kim cổ, Đông, Tây; chen chúc nhau: cái nhô ra, cái thụt vào; tùy theo ý thích của ông chủ, bà chủ. Không những thế, trên không; người ta còn làm thêm ban công, những mái vòm kiểu nhà thờ Hồi giáo, nhô ra choán cả mặt đường, tưởng chừng ánh sáng Mặt Trời cũng khó lọt qua. Ngõ to thành ngõ nhỏ, ngách nhỏ thành ngách nhỏ hơn; vòng vèo, quanh co với những số nhà được đánh tùy theo sở thích: số nhà 10, tiếp đến số nhà 120. Đã có 10A, 10B rồi có cả 10C, 10D nữa. Những công trình kiến trúc nghệ thuật, tuổi đời hàng trăm năm cũng phải đành nhường lại không gian cho những căn nhà ống, khung bê tông, lợp mái tôn. Nếu có ai đến thăm người quen lần đầu, phải hỏi đường, chắc chắn sẽ nhận được những câu hướng dẫn đại loại như:
- Ông bà, bác, cô chú, anh chị, cháu; cứ đi thẳng, đến ngã ba thứ nhất rẽ phải; đi thẳng khoảng hai mươi mét đến ngã ba thứ hai, rẽ trái; đi tiếp năm mươi mét, đến chỗ có cây cột điện, rẽ phải; đi tiếp khoảng một trăm mét, rẽ trái v.v. và v.v.. Đúng như tích hỏi đường trong truyện “Đôi mắt” của nhà văn Nam Cao thủa nào.
Nhà tôi ở nơi ấy. Nó quanh co hoắm hó đến mức khó tả. Nhưng ít ai biết, cách đây chưa đầy một thập niên, nơi ấy chỉ là một vùng ao hồ rộng mênh mông.
Khi chuyển công tác về Hà Nội, bố mẹ tôi được phân một nửa gian nhà, ngăn với gia đình bên bằng cót; trong dãy nhà cấp 4 năm gian, lợp ngói Hương Canh của khu tập thể. Một nửa gian nhà chưa đầy chín mét vuông, nhưng chẳng biết bố mẹ tôi sắp xếp như thế nào, cũng đủ chỗ kê hai cái giường: một giường đôi, một giường đơn; một cái tủ con đựng quần áo, một cái bàn con, một thùng tôn đựng hết 50-60 kg gạo và một thùng sắt mạ kẽm, đựng hết 30-40 kg mì sợi. Trên trần nhà, bố tôi làm một dãy xích đông, để đủ thứ bà giằng: va ly, sách vở, chăn chiếu. Khoảng không gian chật hẹp ở dưới gầm giường cũng được tận dụng một cách triệt để: từ giầy dép, thùng gánh nước, chậu tắm, chậu rửa mặt đến nồi niêu, xoong chảo, bát đĩa, chai lọ và cả bộ đồ sửa xe đạp nữa; đều được nhét chặt dưới cả hai gầm giường.
Cả nhà chỉ có một chiếc xe đạp nam, bố mang về từ hồi học bên Ba Lan. Để mẹ đèo được cả hai anh em, khi chúng tôi đang còn đi nhà trẻ và mẫu giáo; bố lấy một tấm gỗ dài, buộc phía sau xe đạp làm ghế đèo đôi. Sau khi đón chúng tôi từ nhà trẻ về, chiếc xe đạp được móc vào đây ròng rọc, kéo treo lơ lửng lên phía góc nhà.
Bố làm thêm một cái bếp bán mái, lợp bằng giấy dầu, xung quanh bao bằng cót, rộng chừng bẩy, tám mét vuông; vừa đủ để làm chỗ tắm, chỗ nuôi bẩy tám con gà; chỗ để phi nước. Trên chuồng gà là bệ bếp đầu và bếp than; phần ngoài chừng hai mét vuông, giành cho hai anh em tôi nghỉ tạm vào buổi trưa.
Có một lần, bố tôi lĩnh một lúc trên chục triệu đồng cùng với giấy tờ của cả nhóm, để trong xắc cốt, chuẩn bị cho hôm sau đi công tác xa. Không biết có phải kẻ cắp tăm được? hay một sự trùng lặp ngẫu nhiên; nhân lúc bố mẹ tôi đi làm, anh em tôi đi học; chúng cưa khoá cửa chính. Đang cưa, bị các chú công nhân trong nhà máy phát hiện ra; chúng liền bỏ chạy. Từ đấy, bố tôi thiết kế thêm: trước khi vào nhà trong phải qua cửa nhà bếp. Chìa khoá cửa nhà bếp được chúng tôi đeo lủng lẳng ở cổ. Đi học về, mở khóa vào bếp, anh em tôi có cơm nguội và thức ăn mẹ chuẩn bị sẵn cho bữa trưa.
Cửa nhà tôi thông ra phía cổng của nhà máy phát điện điêzen. Nhà máy sơ tán về đây từ năm 1965, gồm bốn tổ máy phát. Những chiếc máy cái to lù lù như những chiếc xe tải hạng nặng, đặt thành hàng ngang trên bệ bê tông cốt thép dầy hàng mét. Mỗi khi khởi động, tiếng máy gầm lên, thở ra hồng hộc từng hồi; kèm theo những đám khói đen, phun ra mù mịt cả vùng trời.

---------
*Cá quả: còn gọi là cá chuối, cá tràu (tiếng miền Trung), cá lóc (tiếng miền Nam).
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 06-07-2010 thời gian gửi bài 21:42 Lý do: Sửa tên theo yêu cầu của tác giả
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
Cartograph (06-07-2010), chaika (07-07-2010), hungmgmi (07-07-2010), MIG21bis (06-07-2010)
  #2  
Cũ 06-07-2010, 07:54
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Tổ rồng rồng - Nguyến Hữu Hùng

Ngày nào cũng ình ình tiếng máy, inh tai, nhức óc. Ngồi chuyện trò, phải nói thật to như những người nặng tai. Tiếng kêu của máy làm chấn động đến cả những vật vô tri vô giác: mặt nước trong chiếc cốc thủy tinh để trên bàn, lúc nào cũng sóng sánh như có gió bão. Thế mà bọn trẻ con chúng tôi chẳng cảm thấy gì hết.
Hàng tuần, từng đoàn xe téc chạy vào, chạy ra tiếp dầu cho nhà máy. Không kể ngày đêm, chủ nhật hoặc lễ tết; các cô, các chú công nhân ra vào thay ca, chuyện trò rôm rả, tôi lại thấy vui vui.
Cạnh nhà tôi có ba cái ao, chúng được thông ra một cái hồ lớn. Hàng ngày tôi cùng bọn trẻ con trong khu tập thể ra những cái ao này câu cua, câu cá săn sắt (sin sít). Những con săn sắt đực, rực rỡ sắc màu: các vân đen, đỏ, vàng xen kẽ. Bộ vây đuôi dài với các sọc: đỏ tía, đen nhánh, vàng chóe. Sự sặc sỡ của nó chẳng kém gì những con cá cảnh đắt tiền. Bọn trẻ con chúng tôi thường câu về thả vào lọ thủy tinh để chơi, chơi chán rồi quẳng cho gà ăn. Câu săn sắt chẳng có gì khó cả; chỉ loáng một cái, chúng tôi đã làm xong một chiếc cần câu. Nói là cần câu chứ thực ra chỉ là một đoạn tre, dài khoảng hơn một mét; chẻ thành những thanh nhỏ, to bằng ngón tay út. Đứa nào cầu kỳ hơn thì vót thon một đầu cho có dáng một chiếc cần câu. Tách một sợi đây thép từ dây phanh xe đạp, uốn thành một lưỡi câu nhỏ. Hoặc cũng chẳng cần đến lưỡi câu, dùng một sợi chỉ, buộc ngang thân con giun đất. Săn sắt là loài cá háu ăn, chẳng biết sợ là gì, khi thấy mồi là tranh nhau, lao vào ngoặn chặt lôi đi. Chỉ cần nhanh tay, giật hướng lên phía bờ. Cá ngậm mồi chưa kịp nhả, theo mồi, bắn lên bờ. Chuyện câu cá săn sắt của bọn trẻ con chúng tôi hồi đó chẳng có gì để nói cả; bởi một lẽ, bất cứ đứa trẻ nào nhà ở quanh hồ, cũng biết trò câu cá săn sắt. Nhưng ở đây, tôi muốn nói: chính từ cái ao câu cá săn sắt này mà về sau, tôi trở thành người câu cá quả có kinh nghiệm, được nhiều người thán phục, hoặc cho tôi là người “sát cá”.
Buổi chiều hôm ấy, tôi ra cái ao sau nhà câu săn sắt. Tình cờ tôi phát hiện ra một đám đen, to bằng cái miệng bát ôtô, động đậy dưới nước ở sát bờ ao. Nhìn kỹ, tôi chợt nhận ra: có hàng ngàn, hàng vạn con ấu trùng, nhỏ li ti bằng đầu tăm, bơi quyện với nhau. Để thỏa chí tò mò, tôi thò ngón tay trỏ, chọc vào giữa đám đen động đậy ấy. Bỗng nhiên, một tiếng “bụp” rất to, nước bắn tung tóe lên cả mặt, đầu ngón tay tôi đau nhói. Tôi vội rút ngón tay lên, máu ở đầu ngón tay trỏ chảy ra đầm đìa. Tôi hốt hoảng, vất cả cần câu, ôm tay vừa chạy, vừa khóc về nhà. Nghe thấy tiếng khóc, từ trong nhà, mẹ tôi mở cửa chạy ra. Mẹ tôi hỏi:
- Con làm sao thế?
Tôi nước mắt giàn giụa, vừa khóc, vừa nói:
- Chẳng biết con gì nó cắn vào tay con đây này!
Mẹ đỡ tôi vào nhà, lấy bông lau sạch máu, xem kỹ vết thương, mẹ tôi hốt hoảng kêu lên:
- Chết rồi, con bị rắn cắn rồi!
Nghe tiếng kêu hốt hoảng của mẹ tôi; chú Biên, công nhân trực ca bên nhà máy chạy vào:
- Cháu làm sao thế chị?
- Cháu bị rắn cắn chú ạ!
Chú Biên cầm ngón tay bị thương của tôi vẫn còn đang rỉ máu, xem đi xem lại, rồi chú hỏi:
- Cháu bị rắn cắn như thế nào?
Tôi thuật lại chuyện vừa xảy ra. Chú Biên tỏ ra nghi ngờ, bảo tôi dẫn ra chỗ có đám đen động đậy dưới nước ấy. Đảo mắt nhì qua, chú cười ồ, vỗ vai tôi:
- Không việc gì cháu ạ. Đấy là tổ rồng rồng!
Đoán tôi chẳng hiểu thế nào là tổ rồng rồng, nên chú tiếp tục giải thích: Là con của con cá quả;
nó mới nở, chưa biết đi (mãi về sau tôi mới hiểu, chú Biên thường gọi ấu trùng của con cá quả chưa bơi được theo mẹ nó là chưa biết đi). Chú đưa tôi về nhà rồi bảo mẹ tôi:
- Không phải rắn cắn đâu chị ạ. Cháu nó chọc tay vào tổ cá quả, cá quả bố mẹ thấy trêu con nó, nên cắn đấy.
Mẹ tôi cũng chẳng hiểu gì cả, sao cá quả lại có thể cắn vào tay được, nên chú Biên tiếp tục giải thích:
- Khi cá quả đẻ trứng và nuôi con, nó dữ lắm chị ạ. Nó sẵn sàng đánh nhau, thậm chí hy sinh cả thân mình để bảo vệ đàn con trước sự tấn công của kẻ thù. Cho nên tục ngữ có câu: “Cá chuối đắm đuối vì con” là như vậy.
Chú xoa đầu tôi rồi bảo:
- Con cá quả này liều mạng thật, dám tấn công cả cháu tôi. Ngày mai, chú sẽ cho vợ chồng con quả này một bài học đích đáng.
Chú quay sang nói với mẹ tôi:
- Chị yên tâm đi, lấy nước muối hoặc cồn i ốt rửa sạch vết thương để khỏi bị nhiễm trùng, rồi băng lại cho cháu là được.
Ngày hôm sau, chú Biên mang đến một chiếc cần câu bằng tre hóp dài đến ba bốn mét. Trông đã cũ kỹ, ngả màu vàng thẫm, nhưng đích thực là một chiếc cần câu: gốc to bằng ngón chân cái, phần đầu cong vút một cách mềm mại. Một cái bát câu cuốn đầy cước. Một cái lưỡi câu to mà tôi chưa thấy bao giờ.
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:08
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
Cartograph (06-07-2010), chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #3  
Cũ 06-07-2010, 07:57
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ rồng rồng - Nguyến Hữu Hùng

Hết giờ trực ca, chú Biên rủ tôi ra chỗ tổ cá hôm qua. Chú đứng cách xa đến mười mét, móc từ trong túi quần ra một gói nylon; trong nhốt bốn năm con nhái xanh, cỡ đầu ngón tay người lớn. Bắt một con, chú bẻ gẫy hai cẳng sau, lấy xương đùi, xương ống ra rồi mới móc vào lưỡi câu. Tôi chú ý quan sát: Chú móc lưỡi câu từ miệng, rồi xuyên dọc thân con nhái ra phía sau; móc chéo hai đùi sau vào lưỡi câu, chỉ để nhô ra hai cẳng và bàn chân; quàng hai vòng cước vào lưng con nhái, xâu ngang qua mũi, sau đó mới buộc đoạn cước còn thừa lên phía óc câu. Chú tìm một cánh lá rau muống, bỏ phần lá, giữ lại phần cọng, bịt đầu to vào lưỡi câu, đầu nhỏ cắm vào cái lỗ ở cục chì, gắn trên óc lưỡi câu.
Sau một loạt những động tác mắc mồi hết sức cẩn thận, chú mới nhấc cần câu lên. Chiếc cần câu vừa dài, vừa to, chú phải tỳ đốc câu vào bụng. Tay phải nắm cần câu, tay trái giữ bát cước, tung con mồi về phía tổ rồng rồng. Tiếng cước xả kêu xoèn xoẹt, xoèn xoẹt. Chú Biên làm những động tác câu trông thật uyển chuyển, nhịp nhàng và chính xác: không chỉ bằng cánh tay, bàn tay mà kết hợp cả cơ bụng, cổ tay, cả cái mềm mại của đoạn đầu cần câu nữa.
Không buông mồi câu vào đúng tổ rồng rồng, chú tung mồi cách xa tổ bốn năm mét. Rồi bằng một động tác kéo mồi rất khéo, mà mãi nhiều năm sau, tôi mới học được. Đó là làm con mồi lướt trên mặt nước giống như con nhái đang bơi sát tổ rồng rồng.
Mới chỉ một đường câu, tôi đã thấy mặt nước gần tổ rồng rồng cuộn sóng. Cuộn dây câu, chú Biên buông lần thứ hai. Tôi nghe thấy tiếng “bụp” rõ to vang lên từ phía tổ rồng rồng. Đấy là tiếng ăn mồi của loài cá quả tôi nghe được lần đầu tiên trong đời. Cái âm thanh này làm tôi nhớ mãi, và sau này khi làm nghề câu cá quả, tôi cũng chụm môi, bắt chiếc tiếng đớp mồi của cá quả để kích động chúng ăn mồi.
Dừng tay cuộn cước, còn tay kia giữ chắc cần câu, sợi dây câu căng ra trong khoảnh khắc. Chú Biên giật nhẹ cần câu về phía sau. Vùng nước gần tổ rồng rồng nổi sóng cuồn cuộn, dây câu căng thẳng băng, đầu cần câu uốn cong vút; sợi dây câu chạy ngang, chạy xiên ra phía xa bờ. Tôi hồi hộp, tim đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực, miệng lắp bắp:
- Cá cắn câu rồi! Cá cắn câu rồi! Giật đi chú!
Chú Biên không vội vã giật ngay như tôi tưởng. Chú bình tĩnh cuộn dây câu vào bát một cách chậm rãi như còn đang toan tính một điều gì nữa. Sợi dây câu cứ thẳng băng, mỗi lúc một gần bờ hơn. Có lẽ lúc này con quả bị đau do lưỡi câu móc sâu vào miệng, nên không quẫy khỏe như lúc vừa dính câu. Nó ngoan ngoãn để mặc cho sự điều khiển của chú Biên. Khi vào vừa sát bờ, chú khẽ nhấc con quả lên bãi cỏ. Chiếc cần câu uốn cong veo, tưởng chừng như sắp gẫy. Con quả to quá, đen chùi chũi với các hoa văn vằn vện: sọc đen, trắng, vàng óng ánh của lớp vẩy; nhoài đi nhoài lại trên mặt cỏ, trông thật thích mắt. Tôi không ngớt trầm trồ:
- Con quả sao mà to thế hở chú!
Chú Biên vẫn tỏ ra bình thản. Có lẽ đối với chú, việc câu được con quả to như thế là chuyện bình thường. Chú đặt cần câu xuống bãi cỏ, tay trái nắm đầu con quả, tay phải gỡ lưỡi câu. Chú bảo:
- Con quả này là con quả bố, còn con quả mẹ nữa.
Thấy tôi tỏ vẻ ngạc nhiên, chú Biên giải thích:
- Bao giờ tổ cá quả cũng có hai con, cá bố và cá mẹ. Con này là cá bố vì đầu to hơn mình.
Chú Biên bỏ con quả vào cái hốc đất gần đấy; chùi hai tay vào bụi cỏ cho sạch nhớt, rồi cầm cần câu lên. Tôi hỏi chú :
- Câu tiếp nữa à chú?
- Tiếp chứ, còn con mẹ nữa mà!
Tháo bỏ mồi cũ, chú mắc mồi mới vào lưỡi câu, với những động tác chuẩn xác, cẩn thận như tôi đã thấy lúc ban đầu.
Đám đen rồng rồng vẫn còn cụm gọn một chỗ. Bằng những động tác thong thả, không chút vội vã, chú lắc mạnh cần câu về phía tổ rồng rồng. Một đường, hai đường, ba đường, rồi nhiều đường câu; nhưng không thấy động tĩnh gì. Tôi cảm thấy sốt ruột và có chút hoài nghi về lời dự đoán của chú:
- Có lẽ chỉ có con bố thôi chú ạ!
Tôi tỏ thái độ nghi ngờ?
Không trả lời tôi, chú vẫn kiên trì tung mồi. Nhưng có khác lần trước, thỉnh thoảng chú kéo lướt con mồi qua giữa tổ rồng rồng. Phải tới nửa tiếng sau, đám nước chỗ gần tổ rồng rồng lại cuộn sóng. Với một giọng đầy vẻ thán phục, tôi nhắc khẽ:
- Nó ra đấy chú ạ!
Một tiếng “bụp” vang lên từ phía tổ rồng rồng. Cả một vùng nước cuộn sóng. Với động tác giống như giật con quả bố, con quả mẹ cũng bị tóm gọn.
Tuy nhiên, chú Biên tỏ vẻ đăm chiêu. Chú bảo:
- Bắt cả cá bố mẹ thì đàn con sẽ bị cá săn sắt ăn hết!
Quả nhiên, tôi thấy đàn cá săn sắt nhâu nhâu, lao vào xâu xé tổ rồng rồng. Không còn cá bố mẹ bảo vệ, chỉ một loáng, chừng hai ba phút; cả đám đen tổ rồng rồng đã biến khỏi mặt nước.
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:09
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
Cartograph (06-07-2010), chaika (07-07-2010), hungmgmi (06-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #4  
Cũ 06-07-2010, 18:02
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Tổ rồng rồng - Nguyến Hữu Hùng

Đúng như chú Biên nhận định, con quả mẹ có cái đầu nhỏ hơn mình. Chú gỡ cá ra khỏi lưỡi câu, quẳng con quả vào cái hố cùng với con cá bố. Bằng những động tác rất thành thục, chú cuộn dây cước vào bát, tháo ròng rọc ra khỏi đầu cần câu, ngoặc lưỡi câu vào một đầu ròng rọc trông thật gọn gàng. Chú đảo mắt nhìn quanh, đi đến chân tháp nước của nhà máy. Một loáng, chú mang về ba bốn sợi dây cỏ lồng vực đã hơi bị héo, dài đến nửa mét. Dùng dây cỏ lồng vực, chú buộc vào chỗ thắt của đuôi cá. Chú bảo:
- Xâu qua mang, cá mau chết; buộc thế này, cá sống được lâu hơn.
Chú đưa cho tôi con cá câu lên trước, có nhỉnh hơn con cá mẹ một chút. Tôi ngỡ là chú nhờ cầm hộ, nhưng không phải. Chú nhoẻn miệng cười bảo:
- Phần của cháu đấy!
Tôi chẳng hiểu ra sao cả. Từ ngỡ ngàng đến ngạc nhiên:
- Sao lại là phần của cháu? Cháu không lấy đâu, về mẹ cháu mắng chết!
- Sao mẹ cháu lại mắng? Đây là công lao của cháu đã phát hiện ra tổ cá. Cầm lấy đi! Lần sau phát hiện ra tổ nào nữa, báo ngay cho chú nhá. Chúng ta vẫn chia đôi.
Tôi sung sướng còn hơn bắt được vàng. Tay xách cá, chẳng kịp chào chú Biên, chạy một mạch về nhà.
Mẹ tôi đi làm đã về; cũng ngạc nhiên chẳng kém gì tôi. Cẩn thận, mẹ hỏi:
- Con lấy cá ở đâu ra đấy?
Chú Biên chia phần cho con. Tôi giải thích cho mẹ rõ lý do, tại sao chú Biên lại cho tôi con quả này.
- Thôi cũng được con ạ, nhưng lần sau không được lấy của chú ấy nữa, câu được con cá đâu có dễ.
Mẹ lấy cái cân thường mang theo mỗi khi đi chợ. Mẹ giải thích:
- Cân của người buôn điêu lắm, một cân chỉ ăn tám chín lạng. Có cân mang theo kiểm tra, họ không dám bán điêu cho mình nữa.
Con quả này nặng đến gần sáu lạng. Cũng cần phải nói lúc bấy giờ, ít có gia đình cán bộ công chức nào dám bỏ tiền ra mua một con cá quả to như vậy.
Bố tôi đang đi công tác xa tít tắp, mãi trên tận Hà Giang; ở nhà chỉ có hai anh em tôi và mẹ. Mẹ bảo sẽ nấu một bát canh cá quả thật ngon cho chúng tôi. Bỏ cái làn lên giỏ xe, đạp ra chợ Láng; khoảng nửa tiếng sau, mẹ mang về một quả cà chua, một mớ rau thì là, mấy nhánh hành hoa, ba quả khế chua.
Vừa lúc đó, thằng Quang, em tôi đi học về. Nhìn thấy con quả để ở cửa bếp còn đang ngọ nguậy, nó trầm trồ thốt lên:
- Con quả to quá! To quá!
Reo lên hai ba lần, rồi nó liên mồm hỏi, nào là: Mẹ mua cá ở đâu? Sao nó to thế! Có đắt không? Mẹ làm gì hở mẹ?
Không đủ thời gian để trả lời hết những câu hỏi của em Quang, mẹ chỉ bảo:
- Cá của chú Biên cho anh con đấy.
Mẹ lấy sống dao, đập mạnh vào đầu; con quả giẫy lên đành đạch, nhưng vẫn chưa chết hẳn.
Con dao pha bố tôi mua trong một chuyến đi công tác ở vùng miền núi. Bố bảo:
- Đây là loại dao nổi tiếng của làng rèn Phúc Sen, ở huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng; nơi có nghề rèn thủ công truyền thống trên một nghìn năm tuổi của người Tày; ai đi qua vùng này cũng rẽ vào mua một vài con về dùng trong gia đình hoặc làm quà cho những người thân.
Bố tôi mua con dao này vào cuối năm trước; hôm nay mới có dịp đưa ra để thử. Con dao có vẻ rất vừa tay nên thấy mẹ tôi đánh vẩy, cắt vây, lạng thịt cá, cứ đi băng băng.
Mẹ tối khen:
- Đúng là dao quý. Sắc thật!
Vừa làm, mẹ tôi vừa giải thích, như kể chuyện cổ tích cho chúng tôi nghe:
- Hồi còn ở quê, ông ngoại chỉ bảo cách làm cá quả rất cẩn thận. Trước tiên: đánh sạch vẩy, cắt vây lưng, vây bụng; vây đuôi để lại cắt sau cùng. Rửa sạch cá, lấy muối xát cho hết nhớt, cắt lát hoặc lạng thịt ra riêng. Mật cá quả không đắng, bóp lẫn vào thịt. Thịt cá sẽ có màu vàng nhạt như ướp nghệ và bớt tanh hơn. Người ta kiêng chặt đuôi trước, nhất là cá câu. Nếu chặt cái đuôi trước, người đi câu sẽ không được may mắn!
Nhưng khác với cách giải thích của mẹ. Sau này có dịp, tôi hỏi bố; bố bảo:
- Đấy là người ta kiêng thế thôi. Sợ rằng chặt đuôi trước như là chặt “đứt đuôi con nòng nọc”. Thực ra, không chặt đuôi trước là để tránh cho cá khỏi bị mất máu. Cá quả mất máu, thịt sẽ không còn giữ được vị ngọt nữa.
Mẹ tôi kể tiếp:
- Ở nhà quê, muốn biết cô dâu nào đảm đang, thạo việc bếp núc là giao cho làm cá quả. Khi làm thịt cá, cô dâu nào chặt vây đuôi trước, bỏ bộ lòng cá quả đi, là cô con dâu đoảng; chưa biết công việc nội trợ. Bộ lòng cá quả là ngon nhất; ruột và dạ dày rán lên, ăn rất giòn, có vị ngọt như ruột non của lợn.
Bộ lòng cá quả được mẹ tôi làm cẩn thận, có phần tỉ mỉ, giống như làm lòng gà vịt: bỏ hết phân trong ruột, thức ăn trong dạ dày, rửa sạch, cho lên chảo rán cùng với thịt cá.
Bữa cơm hôm ấy quả là rất ngon. Mẹ nấu hai món: Đầu, xương và đoạn đuôi nấu canh. Bát canh cá nấu khế chua và cà chua. Gia vị có rau thì là, lất phất mấy lát hành hoa bỏ vào trước khi múc ra bát, dậy mùi thơm phức. Cái ngọt tự nhiên của thịt cá quả, cái chua tự nhiên của khế và cà chua hòa quyện với nhau thành một thứ nước súp ngon đến khó tả; trộn vào, không cần nhai, cơm cứ tuồn tuột vào dạ dày. Hai cái lườn được lọc ra, cắt khúc, rán qua cùng bộ lòng cá, sau rim với nước mắm. Mẹ chia đôi bộ lòng cá cho chúng tôi.
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:09
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), hongducanh (06-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #5  
Cũ 06-07-2010, 18:04
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên- Nguyến Hữu Hùng

CHÚ BIÊN

Chú Biên cao rong rỏng, có lẽ đến mét bảy lăm. Khi nhà tôi chuyển về ở khu tập thể này, tôi đã thấy chú Biên làm việc ở đây rồi. Các cô, các chú trong nhà máy gọi chú với cái tên: “Biên Cầu Tõm”. Lúc đầu tôi cứ ngỡ, chắc nó cũng giống những cái tên biệt danh mà bất cứ đứa trẻ con nào trong số chúng tôi ở khu tập thể như: Hà Mít (cái Hà béo tròn như hạt mít); Trang Lỳ (cái Trang tính tình lỳ lợm); Vân Mắm (cái Vân vừa gầy lại vừa đen như con cá mắm); Hà Sên (thằng Hà làm cái gì cũng chậm chạp như sên) v.v. và v.v., theo những đặc điểm, tính cách riêng của từng đứa. Mãi sau này tôi mới hiểu cái tên “Biên Cầu Tõm” không hoàn toàn như vậy. Tất cả những người dân quê ở vùng đồng chiêm trũng của tỉnh Hà Nam cũ, ra tỉnh ngoài đều được gọi là dân “Cầu Tõm”. Do vậy, các cô, các chú công nhân trong nhà máy gọi “Biên Cầu Tõm” có hàm ý: chỉ chú Biên là người Hà Nam, và cũng có ý trêu chú; dựa vào một thói quen trước đây: người dân ở vùng chiêm trũng thường vệ sinh xuống sông, xuống ruộng. Vì vậy mới có tích truyện: buổi tối ra sông rửa khoai, mười củ thành mười một củ trong rổ, lại có mùi thôi thối...
Chú hoàn toàn không tự ái với cái tên “ Biên Cầu Tõm”. Ngược lại, chú còn tự xưng với bố mẹ tôi, khi gia đình tôi mới chuyển về đây:
- Em là dân “Cầu Tõm” đây mà! Anh chị ở Xuân Thủy à! Đồng hương với em đấy (Ngày ấy: Hà Nam và Nam Định thuộc cùng một tỉnh gọi là Nam Hà; Xuân Trường và Giao Thủy thuộc cùng một huyện, gọi là Xuân Thủy). Đó là cái ngày đầu chú Biên làm quen với gia đình tôi.
Tính tình chú vui vẻ, rất có duyên kể chuyện, trong giọng chú còn có chút khôi hài nữa. Đôi khi chú kể những câu chuyện mà tôi thấy thật vô lý và còn buồn cười nữa:
- Chú đố các cháu biết người dân Quảng Bình gọi bố mẹ là gì nào?
Thằng Long Búa Liềm, cậy có bố là người miền Nam, tỏ ra hiểu biết:
- Gọi bố là ba, gọi mẹ là má có phải không chú?
- Sai bét! Dân Quảng Bình gọi bố là bọ, gọi mẹ là mạ. Nên có chuyện: Một người con gái Quảng Bình, hỏi anh con trai người Bắc:
- Bọ mạ ở quê ăn (anh) gọi là gì?
Người con trai miền Bắc tủm tỉm cười:
- Gọi là giòi bọ chứ là gì nữa?
- Thế thì khi nào ăn (anh) về ngoài Bắc, cho em gửi lời thăm giòi bọ hè!
Thằng Long Búa Liềm phản ứng lại ngay:
- Chú chỉ có bịa!
Chú cười và bảo:
- Nếu các cháu không tin thì về hỏi lại bố mẹ các cháu!
Tôi cũng đồng tình với ý kiến của thằng Long Búa Liềm và cho rằng, chú bịa một trăm phần trăm có dư. Nhưng khi về nhà hỏi bố; bố tôi bảo:
- Chú Biên nói đúng đấy. Ngôn ngữ địa phương của dân Quảng Bình là như thế!
Bố còn giảng giải:
- Cái bát ăn cơm, người dân Nghệ Tĩnh gọi là cái đọi; người miền Nam gọi là cái chén; chẳng nơi nào giống nơi nào.
- Còn câu chuyện anh bộ đội miền Bắc nọ, nói với cô thanh nữ Quảng Bình kia rằng: “Ngoài Bắc gọi bố mẹ là giòi bọ” cũng chẳng phải chú Biên bịa ra. Đó là chuyện phiếm của cánh bộ đội người ngoài Bắc. Họ sáng tác ra để trêu chọc đám thanh niên người Quảng Bình. Ai đi bộ đội, hoặc thanh niên xung phong trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, đóng quân ở tuyến lửa Quảng Bình, đều được nghe và thuộc những câu chuyện truyền miệng đại loại như:
- Con kỷ niệm lại cho bọ bộ tăng-võng hoặc cái bi đông nác (nước) cũng được! Mùa hè có bộ tăng-võng của con, mắc lên cây ngủ sướng lắm. Đi làm đồng có cái bi đông Trung Quốc đựng nác (nước) chè xanh uống cũng bõ khát. Đi vô Nam, đằng nào cũng con cũng hy sinh; còn nếu được ra Bắc, con có điều kiện xin cấp cái khác.
Anh bộ đội miền Bắc láu cá, nói với bọ:
- Bọ ơi! Con chẳng phải đi vô và cũng chẳng được đi ra; con được lệnh đi ngang ngang thôi!
Quê chú đồng chiêm trũng. Vào mùa mưa, nhà nọ sang nhà kia phải đi bằng thuyền mủng; nhưng được cái nhiều cá, tôm, cua, ốc. Vì thế, từ nhỏ; chú đã biết đơm đó, soi cá, bắt ếch nhái; câu cá rô, cá diếc. Nhưng chỉ có câu cá quả là thú vị và kiếm ra tiền.
Nhà nghèo, hết lớp 4, chú phải thôi học, ở nhà đi câu cá kiếm sống và giúp đỡ gia đình. Hàng ngày, với chiếc cần câu và cái thúng đan bằng tre, sơn kín cả trong lẫn ngoài, đựng nước không bị rò; cá câu được thả vào trong đó.
Chú lang thang hết cánh đồng này, sang cánh đồng khác của miền quê Bình Lục, Thanh Liêm, Ý Yên, Vụ Bản; rồi vào tận trong Ninh Bình, Thanh Hóa. Trước khi đi xa, chú chuẩn bị cẩn thận những đồ dùng thiết yếu: bàn chải, thuốc đánh răng, một miếng xà phòng Liên Xô 77%, một bộ quần áo lót; một bộ quần áo dài; một chiếc màn đơn; một cuộn dây nylon năm mét; một miếng áo mưa, khoảng mét tư. Tất cả cho vào túi nylon, buộc trên nắp thúng sơn. Chú sắm một đôi dép tông Thái xịn. Dép tông Thái vừa nhẹ vừa bền, rất tiện lợi: lội ruộng thì bỏ lên mặt thúng câu, trên đường khô ráo thì xỏ vào đi, tắm sông thì lấy ra kỳ lưng, tối ngủ dùng đi rửa chân ... Một con dao nhíp bỏ gọn trong túi quần; một chiếc khăn tay bông khổ to, vừa dùng rửa mặt, vừa dùng để tắm, vừa để trùm gáy cho mát khi đứng câu ngoài trời nắng. Chiếc nón mê đan bằng tre, tuy có nặng đôi chút nhưng cực bền, thoải mái cho mưa nắng dãi dầu và có thể dùng để múc nước khi cần.
Chú nghiện thuốc lào, nên chiếc điều cày cũng được giành một chỗ thích đáng: làm hai chiếc vòng giây thép, buộc vào sườn thúng. Khi hút chỉ việc nhấc điếu ra, hút xong lại dựng vào.
Trong người chú lúc nào cũng có một lọ cao con hổ, một cuộn băng, một gói bông sạch, một vỉ thuốc kháng sinh tetraxilin, mươi viên thuốc ankitamon phòng cảm cúm.
Cá câu được thả vào thúng sơn. Cái giống cá quả sống dai. Thả vào thúng sơn, đổ nước xâm xấp đến mình cá, không cần cho ăn, cá quả có thể sống hàng tuần. Một ngày chú câu được từ bốn đến năm con. Hôm nào gặp may, câu được cả chục. Con nhỏ từ hai đến ba lạng; con to từ nửa cân đến cân rưỡi, hai cân. Trong cái thúng sơn của chú, lúc nào cũng có tới cả chục con cá quả lớn nhỏ. Cá quả to từ nửa cân trở lên, được giá và dễ bán. Người sành ăn thường mua về nấu cháo. Những bà mẹ nuôi con nhỏ mua làm ruốc bông. Vì vậy, cá câu được chú bán hết ngay cho khách dọc đường. Hai ba hôm; chú tạt vào chợ bán cho những người buôn cá. Tuy có rẻ một chút, nhưng người ta mua cả mớ, kể cả con to, con nhỏ. Tối ngủ nhờ nhà dân. Người dân vùng nông thôn đôn hậu, thật thà, chất phác, quý người và thông cảm với hoàn cảnh của chú, nên không bao giờ lấy tiền ngủ. Để đáp lại lòng mến khách của họ, chú biếu gia chủ một vài con quả. Họ còn nấu cơm cho chú ăn mà không lấy tiền gạo, tiền củi.
Năm chú tròn mười bảy tuổi, cũng là thời kỳ đánh phá ác liệt nhất của máy bay Mỹ ra miền Bắc. Dù chưa đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự, nhưng trong không khí sôi sục của tuổi trẻ lên đường đi đánh Mỹ, chú xung phong đi bộ đội.
Đứng giữa hàng quân tân binh năm ấy, chú là người trông già dặn nhất: nước da bánh mật dãi dầu mưa nắng, nét mặt khô đanh. Chỉ thoáng qua, người sỹ quan về huyện tuyển quân đã nhận ra chú là người từng trải, chỉ định chú phụ trách tạm thời đoàn tân binh trên đường về nơi đóng quân.
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:10
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #6  
Cũ 06-07-2010, 18:06
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Sau ba tháng ngắn ngủi học, luyện tập một số điều cơ bản của một người lính; chú được phân công về một đơn vị làm công tác thông tin ở Trường Sơn. Đơn vị chú làm nhiệm vụ bảo vệ đường dây thông tin trên tuyến Đường 15, đoạn từ thị trấn Cổn đến nông trường cao su Lệ Ninh của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Trên tuyến đường này, không ngày nào ngớt tiếng bom nổ. Hai bên Đường 15, chi chít những hố bom sâu hoắm. Nhân dân ở hai bên Đường 15 phải sơ tán vào sâu trong rừng Trường Sơn, hoặc bỏ đi nơi khác; chỉ còn lại bộ đội và thanh niên xung phong bám trụ ở đây. Họ đào hầm vào trong vách núi, làm các công sự kiên cố ven bìa rừng; hoặc tận dụng hang đá vôi ở gần đường để tránh những trận bom đánh phá của máy bay Mỹ; đồng thời cũng là nơi để ăn nghỉ, sinh hoạt hàng ngày. Không kể ngày hay đêm; máy bay Mỹ ngừng ném bom lúc nào là tất cả các đơn vị đều có mặt trên mặt đường. Thanh niên xung phong san lấp những hố bom để thông đường cho xe đi. Lính công binh tìm cách tháo gỡ nhưng quả bom hẹn giờ hoặc những quả bom, vì một lý do nào đó chưa nổ. Lính thông tin nối lại những đường dây điện thoại đã bị đứt.
Khi màn đêm xuống. Thay cho những tiếng bom nổ chát chúa, là tiếng ầm ì của đủ các loại động cơ. Từ các cánh rừng già ven đường, những ánh đèn gầm màu đỏ quạch của xe Zil, xe Giải Phóng chở bộ đội, vũ khí, lương thực, thực phẩm, xăng dầu, tên lửa; xe tăng, xe xích kéo pháo; lầm lũi nối đuôi nhau đổ ra đường. Chiếc vào Nam, chiếc ra Bắc; hối hả như đàn kiến tha mồi. Tiếng chào, tiếng hỏi thăm, tiếng cười, tiếng hát; giọng miền Bắc, miền Trung, miền Nam; hòa quyện với nhau. Những người bạn thân, những người cùng đơn vị vận tải, những người đồng hương quê ở các tỉnh ngoài Bắc; bất ngờ gặp nhau giữa tuyến lửa Quảng Bình; họ trao cho nhau những món quà hoặc những đồ vật rất đơn sơ như cái bút, quyển sổ, chiếc khăn, san sẻ cho nhau một chút thực phẩm đồ hộp hoặc lương khô. Một không khí chứa chan tình người, tình đồng đội chỉ có nơi đấy.
Chú Biên cũng như bao chiến sỹ của Đoàn thông tin Trường Sơn, có nhiệm vụ đảm bảo đường dây thông tin thông suốt. Sự khốc liệt của chiến tranh lúc bấy giờ, khó có lời nào, từ nào diễn tả hết được. Nhưng trong một ngày, thường có hai khoảnh khắc bình yên: lúc bình minh và lúc chiều tà. Đó cũng là những quãng thời gian quý giá đối với người lính thông tin, có thể làm một số việc cho cá nhân: giặt quần áo, tắm rửa, nấu ăn ...
Lúc bấy giờ, ở chiến trường, thực phẩm rất khan hiếm. Phần lớn là mắm ruốc*, đồ hộp và lương khô, nhưng rồi đồ hộp cũng hết, nhiều ngày sau mới có xe tiếp tế. Là người có kinh nghiệm nhận biết chỗ nào có tôm cá, nên chú nhận ra ngay: chính trong các hố bom sâu đầy nước ấy; tôm, cá, cua từ các đầm phá, sông ngòi vào sinh sống rất nhiều. Có những con quả xộp mà người dân Quảng Bình gọi là cá tràu, nặng tới hàng kilô.
Tìm đến những xác ô tô đã bị bom đốt cháy, hoặc bị lật nhào xuống vực; gỡ lấy lò xo trong pha đèn. Loại thép lò xo của xe Zil vừa cứng, vừa dẻo; dũa thành những chiếc lưỡi câu quả; dùng dây dù làm dây câu. Chú làm khoảng mười dây cần câu cắm, mỗi cần không quá một mét. Bắt nhái đất làm mồi, móc dưới lớp da lưng. Mắc như vậy con nhái vẫn sống, có thể bơi được suốt đêm trong nước. Cắm cần câu quanh các hố bom vào lúc nhậm nhoạng tối, sao cho con nhái bơi lập lờ trên mặt nước.
Kết quả không ngoài dự đoán. Có những buổi sáng: sáu bảy con quả dính câu; từ hai lạng đến nửa cân. Tiểu đội của chú thường xuyên có cá, không chỉ để cải thiện mà còn là thức ăn chính trong những bữa cơm đạm bạc ở chiến trường. Hôm nào bắt được con quả to, chú làm “quà tặng” cho chị em của đại đội thanh niên xung phong. Chị em coi như là món quà đặc biệt và tối hôm đó, nhất nhất: tiểu đội chú phải có một vài đại diện tham dự vào bữa cháo cá quả, do chính tay của những người chị, người em nấu.

-------
*Mắm ruốc: loại mắm làm từ con ruốc (tép biển).
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:11
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #7  
Cũ 07-07-2010, 17:21
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng

Sự thân thiết và gắn bó giữa thanh niên xung phong với bộ đội thông tin, phần nào có công đóng góp của chú. Quần áo của các chiến sỹ trong tiểu đội chú bị rách hay bị cháy do bom đạn, đều được chuyển đến cho chị em khâu vá. Những buổi giao lưu giữa một bên là bộ đội thông tin: đa phần là nam; một bên thanh niên xung phong: đa phần là nữ. Tất cả đều ở tuổi mười tám đôi mươi, chưa có gia đình; nên cuộc giao lưu nào cũng diễn ra sôi nổi, hào hứng. Ai cũng cảm thấy thời gian trôi nhanh vùn vụt.
Một hang đá vôi khá rộng rãi, trần cao tới năm sáu mét, nhấp nhô nhũ đá trong như ngà; được chọn làm nơi cho các buổi giao lưu, đủ chỗ cho cả vài trăm người. Vách đá lồi lõm làm khuyếch đại âm thanh, một tiếng động nhỏ cũng thành to. Tiếng hát càng vang, càng bay cao, bay xa, như hát trước micrô có dàn ampli và bộ phận tiếng vọng. Mặc cho bom rơi, đạn nổ; tiếng hát, tiếng cười vẫn vang lên giữa rừng cao su bạt ngàn của Trường Sơn; làm giảm bớt sự vất vả, sự nhớ nhà và cả sự đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Thời đó, quả đúng là: “Tiếng hát át tiếng bom”.
Công việc vất vả, nguy hiểm đến dồn dập làm chú và đồng đội quên cả ngày tháng. Hai năm tưởng như chỉ trong khoảnh khắc. Những địa danh: Đại Phong, Bến Tiến, sông Danh, Quảng Phú, Rào Nam, Cự Nẫm, Cảnh Dương, Xuân Bồ trong bài hát “Quảng Bình quê ta ơi” nổi tiếng của nhạc sỹ Hoàng Vân; bến phà Long Đại, Xuân Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng, Đường 20, đèo Ngang, đèo Đá Đẽo, đèo Lý Hòa, bãi Đá Nhảy, dòng Kiến Giang, Bảo Ninh, Quán Hàu, Ngư Thuỷ đã đi vào lịch sử trong cuộc chiến tranh chống Mỹ; những nơi ấy chú cũng đã đến. Những cái tên kiểu diễm: Lệ Thủy, Cẩm Ly, Nhật Lệ chỉ có ở Quảng Bình, mà nhiều nghệ sỹ thành danh lấy đặt cho mình. Tất cả đã trở nên quen thuộc đối với chú.
Rồi tiểu đội thông tin của chú được lệnh chuyển sâu vào trong rừng rậm Trường Sơn, chuẩn bị đường dây thông tin cho Bộ chỉ huy của một chiến dịch lớn: Đường 9 Nam Lào. Buổi chia tay với đại đội thanh niên xung phong ở khu vực nông trường cao su Lệ Ninh thật là cảm động. Mọi người giành nhiều thời gian dốc bầu tâm sự về quê hương, gia đình; về những kỷ niệm của những ngày đã qua và những lời hẹn hò gặp lại sau chiến tranh. Chỉ có những giọt nước mắt, tiếng khóc thút thít của chị em thay cho tiếng hát, tiếng cười như mọi khi.
Khúc eo nhất của miền Trung là đây. Từ Lệ Ninh rẽ về hướng tây chỉ khoảng bốn năm mươi cây số là đến khu vực đại ngàn Trường Sơn, giáp biên với nuớc bạn Lào. Đi miết, vượt qua những rừng cây cao su trồng thành hàng thẳng tắp; sau lọt vào một thung lũng rộng mênh mông, xung quang bao bọc bởi những khối núi đá vôi cao sừng sững. Dưới chân núi là những hang, những động caxtơ; vừa cao, vừa dài và vừa rộng; là nơi trú quân, cất dấu vũ khí rất an toàn.

Chú được phân công cùng hai chiến sỹ nữa đi khảo sát thực địa cho việc rải đường dây thông tin đến các vị trí đã được đánh dấu trên bản đồ. Rừng già nguyên sinh ở đây chưa bị bom đạn cũng như con người tàn phá, vẫn còn nguyên vẻ hoang sơ ban đầu của nó. Những cây gỗ mun, lát hoa, cẩm lai to vòng tay người lớn ôm không xuể. Một cây lim, đổ xuống bên bờ suối dài tới hai ba mươi mét; vỏ rác bên ngoài đã bị mục nát, còn trơ cái lõi đen sì, đường kính đến gần hai mét. Có lẽ bị đổ trong một cơn giông lớn cách đó nhiều năm. Hai chiến sỹ cứ xuýt xoa tiếc hoài về sự giàu có, có phần phung phí của thiên nhiên ở đây. Nhưng ở trong giữa đại ngàn Trường Sơn, vả lại đang thời buổi chiến tranh, gỗ lim chứ núi vàng ở đó cũng chịu.
Chưa hết những cảnh hoang sơ của một vùng còn ít người qua lại. Đang rẽ những đám cỏ tranh giữa thung lũng, tìm đường tiếp cận đến vị trí đã định trên vách núi; cả nhóm giật mình: Một đàn gà, chừng trên chục con, trông rất giống gà nhà, nhưng nhỏ hơn. Lũ gà trống mào đỏ chót, bộ lông đuôi dài uốn cong màu đỏ, đen, trắng pha trộn. Lũ gà mái lông vàng nhạt điểm những hoa văn màu đen ở vùng gần cổ, giống như gà mái hoa mơ ở vùng đồng bằng. Thấy có người, như một mệnh lệnh được ban ra; cả đàn đồng loạt cất cánh vụt lên không trung. Chúng bay là là, cách mặt đất năm sáu mét; rồi sà xuống, cách chỗ chú đứng hai ba trăm mét. Cả đàn lủi nhanh, biến mất tăm trong bãi cỏ tranh rậm rạp trước sự ngơ ngác của các chú.
Hai chiến sỹ trẻ tranh cãi nhau: Người thì bảo gà nuôi của người dân tộc, người thì cho là gà rừng. Mặc dù chưa một lần mục sở thị, nhưng lúc bé, có đôi lần một ai đó trong làng đã từng đến các vùng núi của các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, trông thấy loại gà này về kể lại. Do đó, chú chắc đây là đàn gà rừng, chứ không phải gà nhà.
Điều lệnh quân đội không cho phép dùng súng chiến đấu đi săn. Với lại đang lúc làm nhiệm vụ, hoạt động trong một vùng được coi là tuyệt mật, nên chú và hai chiến sỹ chỉ giữ lại một sự luyến tiếc về đàn gà rừng, lần đầu tiên trong đời trông thấy chúng.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #8  
Cũ 07-07-2010, 17:24
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng

Chảy men theo vách đá vôi là một con suối nước trong vắt, uốn khúc vòng vèo như một con trăn khổng lồ. Đoạn thì mất hút vào chân núi đá, đoạn thì phơi mình trên thung lũng, hai bên là bờ cát vàng phẳng lặng. Chỗ thì thắt lại, chiều rộng chỉ còn bốn năm mét; chỗ phìng ra tới cả chục mét. Và có cả một doi cát nhỏ ở giữa. Lội qua một đoạn, chỗ nước ngập đến đầu gối, chỗ nước ngập đầu người. Rồi chú cũng rút ra được quy luật của dòng chảy: Đoạn nước chảy xiết lại là đoạn nông nhất. Ở đấy, có thể nhìn thấy tận đáy những hòn đá cuội to, nhỏ, đen, trắng, vàng, nâu đủ mầu; xếp chen chúc nhau, như cố tình ngăn dòng nước lại. Những đoạn nước chảy lững lờ, thường rất sâu. Muốn lội qua phải dò từng bước; bước hụt, bị chìm nghỉm như chơi. Những đoạn suối ăn sâu vào trong vách núi thường tạo ra cả một vùng nước rộng, chỉ thấy một màu xanh thăm thẳm.
Sức mạnh kỳ diệu của thiên nhiên đã tạo ra những vách đá vôi, như có bàn tay của con người sắp đặt những viên đá thành tầng tầng, lớp lớp; dựng đứng cao tới vài ba trăm mét. Chơi với giữa vách đá vôi lộ ra những vòm hang sâu thẳm, đủ sức chứa cho cả trăm người; nhưng chỉ có các loài biết bay như chim, dơi hoặc lũ vượn, khỉ có tài leo trèo mới có thể tiếp cận được. Vươn lên bầu trời xanh thẳm, nhấp nhô những chỏm núi đá tai mèo với đủ mọi hình dạng: hình người mẹ bồng con, hình kim tự tháp v.v., thả sức cho trí tưởng tượng của con người.
Cái nắng, cái gió ở dải đất miền Trung, từ xứ Nghệ trở vào, nhất là những vùng giáp Lào thật nghiệt ngã. Mới chỉ tháng tư tháng năm; trời đã bắt đầu oi bức, nhiệt độ ngoài trời thường ba chín bốn mươi độ.
Câu hò “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình” mới chỉ khắc họa một phần cảnh nắng nóng ở vùng cát trắng ven biển, chưa thấm gì với cái nắng, cái gió ở sườn đông của dãy Trường Sơn. Ngoài cái nắng như thiêu như đốt, rừng Trường Sơn nơi đây còn phải gánh chịu một thứ gió nữa: “Gió Lào”.
Mùa gió Lào bắt đầu từ tháng tư. Gió được hình thành từ vịnh Thái Lan, mang theo những đám mây đầy hơi nước, theo hướng đông bắc, bay vào lục địa. Bị chặn lại ở dãy Trường Sơn Tây, trút hết những hạt nước mát mẻ xuống nước bạn Lào. Tràn sang Trường Sơn Đông trên đất Việt Nam; chẳng còn gì mang theo, ngoài hơi nóng bốc lên từ đất và đá do bị ánh nắng Mặt Trời mùa hè thiêu đốt.
Gió nóng thổi từng cơn ào ào như giông bão, làm táp lá những bụi cỏ lau, cỏ tranh; làm kiệt quệ sức sống của mọi sinh vật. Mới tám chín giờ sáng mà nhiệt độ ở ngoài trời đã lên đến ba chín bốn mươi độ. Không khí vào giữa trưa càng trở nên ngột ngạt và nóng bỏng hơn.
Để tránh cái nắng hầm hập và gió nóng ở rừng Trường Sơn, các chú phải dậy đi khảo sát thực địa từ sớm tinh mơ. Buổi trưa, tìm một nơi mát mẻ để tránh nắng và tránh gió.
Từ xa, chú phát hiện ra một cây cổ thụ, cành lá xum xuê, xanh mướt ở bên bờ suối. Đến nơi, chú nhận ra: cây sung -loài cây quen thuộc thường được trồng ở bên bờ ao của vùng quê chú. Gốc cây xù xì, ba bốn người ôm không xuể. Cành ngả rạp xuống một vực nước sâu, tán rộng đến bốn năm chục mét vuông. Có lẽ vùng này có nhiều cây sung, nên trên bản đồ địa hình 1:50.000 có đánh dấu một bản, tên là xóm Cây Sung.
Mắc võng trên cành của cây sung cổ thụ, lấy lương khô ra ăn, ngắm cảnh thiên nhiên hoang dã ở một thung lũng kín gió, thật dễ chịu. Vòm lá sung rậm rạp và xanh mướt, chắn hết mọi tia nắng nóng bỏng của Mặt Trời. Những vách đá vôi cao sừng sững chắn những luồng gió khô và nóng từ đất Lào thổi sang. Dòng nước xanh mướt chảy từ trong hang đá vôi, tỏa hơi nước mát lạnh vào bầu không khí, chẳng khác nào một chiếc máy “điều hòa” khổng lồ đặt giữa rừng Trường Sơn. Rồi nữa, sự có mặt của bọn chú ở đây cũng không làm lũ chim sâu, lũ chim trào mào trên vòm cao của cây sung sợ hãi. Chúng vẫn mải miết cãi vã, tranh giành nhau những quả sung chín mọng, nghe thật vui tai. Thỉnh thoảng, một vài quả sung rơi bộp xuống mặt nước, làm kích động đến sự háu ăn của lũ cá chày. Chúng nhao lên mặt nước và cũng tranh giành nhau chẳng kém gì lũ trào mào và chim sâu.
Bứt một vài quả sung chín ăn thử: có vị ngọt nhạt, giống như những quả sung ở vùng quê chú. Quả xanh cũng có vị chan chát, thái mỏng làm đồ nhắm hoặc muối dưa, ăn giòn chẳng kém gì cà pháo.
Bắt chiếc lũ chim trào mào, các chú bứt những quả sung chín ném xuống nước. Từng đàn cá chày, to cỡ bắp tay nhao lên, ngoặm cả quả rồi biến mất trong làn nước suối trong vắt. Chú bảo với hai chiến sỹ:
- Suối này nhiều cá tôm đây. Phải tìm cách cải thiện cho anh em thôi!
Trở về hang đóng quân, báo cáo tình hình khảo sát thực địa với tiểu đội trưởng, chú bàn luôn phương án cải thiện bữa cơm cho anh em. Vì một lẽ, từ hôm chuyển quân vào đây, đơn vị chưa được tiếp tế thực phẩm. Mấy bữa liền, chỉ có rau rừng và măng tươi luộc chấm với mắm ruốc. Đã có hai chiến sỹ trong tiểu đội bị sốt rét, nằm liệt trên võng. Lẽ dĩ nhiên, chú tiểu đội trưởng ủng hộ và còn cử thêm hai chiến sỹ giúp chú nữa.
Chú vào rừng, chặt một cây nứa bánh tẻ, cỡ cổ chân, làm ba cái rọ bắt tôm. Buổi tối, chú cùng hai chiến sỹ mang theo đèn pin, rọ bắt tôm, dao phát rừng và cả cái xoong quân dụng to tướng ra bờ suối. Hai chiến sỹ đi cùng là người Hà Nội. Những việc như thế đối với họ là lạ lẫm, có phần vừa thích thú, vừa tò mò nữa. Cầm chiếc đèn pin ba cục rọi xuống suối, chú chỉ cho hai chiến sỹ những con tôm, con cua, cá bống hoa ẩn mình trong các khe đá, giữa những hòn đá cuội. Một chiến sỹ vừa trông thấy một con tôm, giơ tay chộp ngay, nhưng con tôm đã biến đi chỗ nào mất tăm.
Chú giảng giải cho hai chiến sỹ:
- Không dễ bắt như thế đâu. Muốn bắt được tôm phải nhanh tay, nhanh mắt, chộp nó từ phía đuôi. Cái giống tôm thường chạy trốn kẻ thù bằng cách co cái thân nhiều đốt, dùng tấm phiến đuôi như bánh lái thuyền, đẩy nước, bật mạnh, giật lùi về phía sau. Nhưng tốt nhất và hiệu quả nhất là một tay cầm rọ chắn ở phía đuôi, tay kia lật hòn đá hoặc đánh động ở phía đầu con tôm.
Nói xong, chú làm động tác mẫu cho hai chiến sỹ xem; chỉ một loáng, chú đã tóm gọn hai con tôm vào trong rọ.
Chú phân công hai chiến sỹ đi cùng nhau: người rọi đèn, người bắt. Chú không cần rọ, một tay soi đèn, một tay bắt. Chỉ trên đoạn suối khoảng hai mươi mét, chú tóm được cả chục con: nào tôm, nào cua và cả một con bống hoa cỡ đầu ngón tay.
Hai chiến sỹ kia loay hoay mãi mới tóm được một chú tôm càng chậm chạp. Nhưng công việc rồi cũng quen dần. Số tôm, cua, cá bắt được mỗi lúc một nhiều. Thấy việc bắt tôm của hai chiến sỹ kia tốt rồi, chú dặn họ cứ bắt ở đoạn suối này đợi chú.
Cầm đèn pin và con dao quắm, chú ngược lên phía thượng nguồn con suối để tìm cá ngủ. Chú đoán: suối này sâu, nhiều tôm, cua, cá; chắc có cá to?
Chỉ cách đoạn hai chiến sỹ đang bắt tôm hai trăm mét, chú đã phát hiện ra một con quả, cỡ bắp tay, đang ẩn mình trong một hốc đá; một con chép to hơn bàn tay người lớn, đang nép mình sát bụi cỏ.
Hồi ở quê, đêm nào chú cũng đi soi cá ngủ và bắt ếch nhái. Với cái đèn pin đội trên đầu, chiếc lao tự chế; một đêm chú cũng kiếm được vài ba kilô, lẫn lộn cá, ếch, chão chuộc. Hôm nào gặp may, tóm được cả rắn hổ mang, bán khối tiền.
Tục ngữ có câu: “Tôm nhập nhoạng, cá rạng đông”. Đúng là khi trời sắp tối, đa phần các loài cá nước ngọt đi tìm một chỗ nào kín đáo để ngủ cho ngon giấc; tảng sáng hôm sau mới dậy đi kiếm ăn. Còn loài giáp xác như tôm, cua; chập choạng tối mới mò đi kiếm ăn. Cho nên, đánh bắt tôm nên đi vào lúc nhập nhoạng tối, đánh bắt cá nên đi vào lúc sáng tinh mơ. Lũ ếch nhái thì ngược lại. Ban ngày núp trong hang sâu, hoặc ẩn mình trong các bụi cỏ rậm, đợi trời tối mới mò đi kiếm ăn, tìm kiếm côn trùng, sâu bọ và đi tìm bạn tình. Lũ sâu bọ cũng có tập tính: ẩn mình trong các lớp đất xốp dưới gốc rau, bụi cỏ; tránh sự săn lùng của lũ chim sâu; đêm đến mới bò lên, uống nước từ các giọt sương và tìm những búp rau non để thưởng thức sau một ngày dài phải nhịn đói.
Đó là quy luật tồn tại của muôn loài trong tự nhiên.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #9  
Cũ 07-07-2010, 17:27
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng

Chú có một cây lao chuyên để đâm cá và bắt rắn vào ban đêm. Tự tay chú chế tạo ra cây lao này. Cây lao làm bằng đoạn gốc của cây trúc rừng. Loại trúc chỉ có ở vùng núi đá của tỉnh Cao Bằng: vừa dài, vừa thẳng và rất cứng. Người ta buôn về để bán cho các xưởng thủ công làm bàn ghế và đồ mỹ nghệ.
Chú lấy một đoạn dài khoảng hai mét, đầu gốc gắn với một chạc đôi bằng sắt; cho mục đích bắt rắn; đầu ngọn gắn với chùm 5 chiếc đinh, đầu cắt ngạnh, chuyên dùng để đâm cá. Trước ngày nhập ngũ, chú buộc cẩn thận cây lao cùng với chiếc cần câu, rồi bỏ lên gác bếp. Chú hy vọng chiến tranh sớm kết thúc, trở về quê; chú sẽ tiếp tục kiếm sống bằng cái nghề mà chú yêu thích.
Đấy là chuyện đâm cá ở quê. Còn ở đây, trong tay chú chỉ có con dao quắm. Chú đành phải bỏ con quả, lừa chém con chép. Trở lại chỗ hai chiến sỹ đang bắt tôm, mang con chép nặng gần hai kilô; bị chú chém bể cả đầu, máu tươi chảy ròng ròng, làm hai chiến sỹ hết sức kinh ngạc. Họ xuýt xoa, không hết lời ca ngợi. Chú bảo:
- Đây là cái nghề kiếm cơm của tớ ở nhà mà, các cậu khen tớ thì khen cả đời. Nếu có cây lao, đêm nay còn kiếm được nhiều cá nữa.
Khoảng gần hai giờ đồng hồ, chú cùng hai chiến sỹ đã kiếm được trên một kilô tôm, năm con bống hoa, một con chép to và hai mười con cua đá, to cỡ ba ngón tay.
Tìm được nguồn thực phẩm tươi sống giữa núi rừng Trường Sơn vào thời điểm này là vô cùng quý giá. Chiến lợi phẩm đầu tiên ở nơi mới chuyển đến làm nức lòng các chiến sỹ. Do vậy, cả tiểu đội rôm rả bàn chuyện nấu một nồi súp cá-cua để thưởng thức ngay trong đêm. Không đợi được phân công, mỗi người một chân một tay: người bổ củi, người nhóm bếp, người lấy nước, người vo gạo, người làm cá ... Cá chép được luộc cùng với cua, bóc lấy thịt, xào lẫn nước mắm, thêm vào dăm quả ớt chỉ thiên rừng. Đầu cá, xương và càng cua được giã ra, lọc lấy nước. Chuẩn bị xong các thứ, hòa vào nồi cháo hoa. Nồi súp cháo cá-cua thơm lừng có vị ngọt tự nhiên của động vật hoang dã, làm mọi người chảy nước miếng. Hai chiến sỹ đang bị sốt cũng gượng dậy, ăn hết cháo đựng trong bát B.52 (loại bát ăn cơm của Trung Quốc làm bằng sắt tráng men). Ngồi xung quanh đống lửa bập bùng giữa đại ngàn Trường Sơn, cả tiểu đội xì xụp húp cháo, chuyện trò râm ran tới tận khuya.
Có thức ăn tươi, bữa cơm ngày hôm sau, ai ăn cũng cảm thấy ngon miệng, nồi cơm cứ vơi đi ào ào. Hai chiến sỹ đang bị sốt, được bồi bổ bát cháo cá tối hôm trước, sáng hôm sau đã khỏe hơn, dậy ăn được vài lưng cơm.
Được cả tiểu đội tin cậy và hy vọng vào tài xoay sở thực phẩm của chú; những ngày tiếp theo, sau giờ làm việc vất vả ngoài thực địa, chú tiếp tục tìm kiếm thức ăn tươi sống cho đơn vị. Với những kinh nghiệm tích lũy được trong suốt thời niên thiếu; chú lấy những chiếc kim băng, uốn thành lưỡi câu rô, câu trê đủ loại. Mồi là giun đất, châu chấu rừng, tép suối, sung chín là những thứ mà bọn cá rô, cá trình, cá thiểu, cá chày đều thích ăn. Tranh thủ những lúc sáng sớm, lúc chiều tà và cả buổi nghỉ trưa; các chiến sỹ đua nhau theo chú đi câu cá. Nhiều chiến sỹ câu được những con cá trình nặng tới nửa kilô. Cá câu được nhiều, thả vào xoong quân dụng ăn dần. Đơn vị chú ngày nào cũng có cá, tôm, cua cải thiện trong bữa ăn. Các chiến sỹ hứng khởi, làm việc quên cả mệt nhọc.
Có một chuyện mà chú chưa từng gặp trong đời làm nghề câu cá. Đấy là một lần, chú ngồi câu cá thiểu dưới gốc cây sung cổ thụ. Một con cá thiểu cắn câu. Chú chưa kịp giật thì một con quả xộp, đen chũi, lừng lững to như bắp đùi người lớn, lao ra, quật mạnh đuôi, đánh “ùm” một cái, ngoặn con thiểu đang mắc câu và lôi luôn cả dây câu, cần câu vào hang dưới gốc sung. Nước tung tóe lên tận mặt chú, chẳng khác nào có người vác hòn đá to ném xuống nước.
Đúng là cá ở nơi hoang dã, chưa có con người săn bắt, hơn nữa có thể nó là “Đại vương” ở đoạn suối này nên mới táo tợn như vậy. “Con quả này cũng phải đến ba kilô. Phải có cách bắt nó”. Chú thầm nghĩ.
Về hang, chú sửa một dây câu. Sẵn có dụng cụ và lò xo thép kiếm được từ những chiếc ôtô hồi ở tuyến ngoài, gần thị trấn Cổn; chú dũa một lưỡi câu đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nó không chỉ to hơn lưỡi câu quả bình thường; chú còn tết thêm một lưỡi câu nhỏ vào cuống lưỡi câu to. Dây câu là ba sợi dây dù tết lại. Vất vả lắm chú mới kiếm được một con rô, cỡ bằng ngón chân cái. Móc lưỡi câu rô qua đỉnh lưng, còn lưỡi quả thì ôm lấy phía dưới bụng con mồi. Làm như vậy, con rô sống được lâu; nó có thể bơi và vùng vẫy suốt đêm. Con quả nào khôn ngoan mấy cũng bị mắc lừa.
Buổi tối, chú mang câu thả dưới gốc sung; cuốn hai vòng dây câu vào một cành lớn, cách mặt nước chừng nửa mét, rồi buộc lại kiểu thắt nút quần. Giống cá rô sống dai, nhiều con mổ bụng, rút ruột rồi, nhưng khi thả xuống nước vẫn có thể bơi được. Do vậy, con mồi này của chú sẽ tạo ra một vòng tròn trên mặt nước, đường kính gần nửa mét, khuấy nước suốt đêm, làm kinh động đến tận “thủy cung” dưới gốc sung. Bị khuấy động, không ngủ được; chắc chắn con quả phải mò ra xem kẻ nào dám hỗn xược, làm kinh động đến “long cung” của nó: Hóa ra chỉ là một thằng rô nhãi nhép -miếng mồi điểm tâm ngon lành cho cái dạ dày đang còn lép kẹp của nó.
Dặn hai chiến sỹ thường đi bắt tôm cá với chú trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau, chú đánh thức họ dậy sớm hơn thường lệ để ra thăm câu. Thật là hồi hộp. Từ xa, chú đã thấy sóng nước dưới gốc sung; cành sung buộc đây câu cứ rung lên phần phật. Không ai bảo ai, cả ba đồng loạt lao nhanh về phía cây sung như cố để xem, ai là người tận mắt nhìn thấy con quả trước. Chú không thể tin vào mắt mình nữa: Con quả không phải ba kilô như chú dự đoán. Nó to hơn nhiều. Cái thân dài đần đẫn, cái đầu to bè bè. Khi thấy người, con quả quật đuôi rất dữ tợn, nước bắn tung tóe lên tận bờ cỏ. Được tận mắt nhìn thấy con quả to như vậy, hai chiến sỹ kia cũng không khỏi lúng túng:
- Làm thế nào hở anh?
- Cứ bình tĩnh, đừng làm nó kinh sợ. Để anh tính toán cái đã!
Loay hoay đến năm sáu phút, chú mới nghĩ ra được phương án đưa con quả lên bờ an toàn: Cởi chiếc quần dài đang mặc, buộc chặt hai ống. Chú bơi nhẹ nhàng đến chỗ con quả.
Thấy động, con quả quật đuôi càng mạnh. Sự tính toán kỹ càng của chú quả là không thừa. Con quả có khỏe đến mấy cũng không thể thoát ra được với cái lưỡi câu thép vừa to, vừa cứng và sợi dây dù tết ba có sức chịu tải tới chục kilô. Sau một hồi vật lộn, cuối cùng, chú cũng lừa đưa con quả nằm gọn trong ống quần. Con quả cố sức vùng vẫy để thoát ra. Nhưng trong cái khoảng không quá chật hẹp của cái ống quần như vậy, sức mạnh dưới nước của nó không còn phát huy được là mấy. Thít chặt đầu trên, chú hò hai chiến sỹ đến giúp sức. Một chiến sỹ leo ra cành sung tháo dây câu, một chiến sỹ bơi ra cùng chú đưa con quả vào bờ. Thành công ngoài sự mong đợi: Con quả dài đến gần một mét, mình to vừa bằng hai chẹt tay.
Tìm một cành cây dài làm đòn. Hai chiến sỹ khiêng con quả như thể khiêng một con lợn con.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), Duc (10-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #10  
Cũ 10-07-2010, 00:10
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Khi chú và hai chiến sỹ khiêng con quả về; cái hang rộng mênh mông bỗng chốc trở nên huyên náo. Chẳng ai bảo ai, họ vùng cả dậy, không kịp gấp màn, đánh răng; xúm lại giúp hai chiến sỹ thả con quả vào cái nồi quân dụng. Cái nồi to cỡ trẻ lên năm ngồi vừa, nhưng giờ đây cũng trở nên quá chật chội đối với nó. Con quả nằm khoanh tròn, không thể dẫy dụa gì được. Cả tiểu đội quây quanh chiếc nồi quân dụng đựng con quả trầm trồ, bàn luận:
- Người thì bảo: trong đời chưa bao giờ thấy con quả to như vậy; có lẽ là con quả cụ, đến mươi mười lăm năm tuổi.
- Người thì dự đoán trên bốn cân, người thì trên năm cân.
- Người thì đề nghị nướng, người thì đề nghị kho ăn dần.
Năm người mười ý; ồn ào như cái chợ vỡ. Cuối cùng, chú tiểu đội trưởng phải đứng ra cầm trịch. Đúng là giọng của chỉ huy, chú ra lệnh:
- Đồng chí Mão, mang cân ra đây!
Chú Mão, được mệnh danh là “anh nuôi” chuyên lo việc bếp núc của tiểu đội; tất tưởi vác chiếc cân treo loại 50 kg, dùng hàng ngày cân gạo. Có hai chiến sỹ giúp sức, con quả cân móc hàm: “đúng năm cân rưỡi, có phần tươi”.
- Phần chế biến kiểu gì? ưu tiên giành cho người chủ của nó ra phán quyết. Đề nghị đồng chí Biên cho ý kiến phát biểu!
Với kinh nghiệm nhiều năm câu cá quả, chú giảng giải cho mọi người:
- Con quả này cũng đến bảy tám năm tuổi. Nhưng do ở đoạn suối này sẵn thức ăn, nhiều tôm, nhiều cá; lại không có đối thủ cạnh tranh, nên nó mới to như vậy. Những năm ở quê, đi câu cá quả ở khắp các vùng, kể cả ở những đầm, ao lưu cữu, không bao giờ tát cạn được; chú cũng chỉ câu được những con quả dưới ba kilô. Còn to như con quả này, thực sự là rất hiếm. Bây giờ đang là thời điểm nắng nóng nhất của mùa hè; vả lại, trong đơn vị còn một số chiến sỹ ốm; do vậy, nấu cháo là món thích hợp nhất. Ý kiến của chú tất nhiên là được mọi người ủng hộ.
Thực hiện nghị quyết của tiểu đội, con quả được dành nấu cháo thay cho bữa cơm chiều. Một bữa cháo cá quả ăn vào buổi chiều tà ngon miệng đối với tất cả mọi người. Nhiều chiến sỹ, tuy đã no bụng rồi nhưng vẫn còn muốn ăn nữa.
Kỷ niệm cuối cùng của chú ở rừng Trường Sơn, đó là việc chú cùng hai chiến sỹ bắn hạ một con voi rừng.
Cứ vài hôm, đường dây thông tin của các chú bị lũ voi rừng từ phía nước bạn Lào tràn sang làm đứt, hoặc cuốn đi. Đang ở vào thời điểm sắp đến ngày mở chiến dịch; việc đảm bảo đường dây thông tin thông suốt hai bốn trên hai bốn giờ trở nên hết sức nghiêm ngặt. Chú tiểu đội trưởng phân công cho chú cùng hai chiến sỹ: phải tìm cách ngăn cản đàn voi rừng này bằng bất cứ giá nào.
Nhận nhiệm vụ, nhưng làm thế nào để ngăn cản được lũ voi rừng, đó là điều không hề đơn giản. Hồi ở quê, chú chỉ được nghe các cụ nói:
- Voi rừng rất hung hãn, thường đi thành bày đàn. Hổ còn sợ người chứ voi rừng thì không; đôi khi chúng còn tràn vào phá nương rẫy, ủn đổ cả nhà cửa của dân bản. Trong trường hợp không may gặp voi rừng, chỉ tìm cách tránh cho nhanh, chạy ven theo sườn núi, chứ không chạy xuống phía chân núi. Người Tây Nguyên rất có kinh nghiệm săn voi rừng, nhưng người ta đi săn là để bắt sống về nuôi.
Bàn bạc với đồng đội, chú đưa ra phương án: chọn một hang đá ở lưng chừng vách núi, sát lối mòn mà đàn voi rừng thường qua lại làm chỗ mai phục.
Hai đêm đầu yên tĩnh, chỉ có tiếng đi lại của hươu, nai; tiếng đào bới đất của lũ lợn rừng; tiếng kêu “tắc kè” chốc chốc vọng từ vách đá; tiếng kêu khảm khắc của đôi chim “Bắt cô trói cột” đi tìm bạn tình.
Đêm thứ ba, vào khoảng hai ba giờ, đàn voi rừng xuất hiện; có lẽ đến sáu bẩy con tràn vào thung lũng. Chú nói nhỏ với hai chiến sỹ:
- Phải đợi đàn voi rừng đến gần, khi nào có hiệu lệnh của tớ mới đồng loạt bấm đè pin nhá!
Đàn voi rừng rẽ bụi lau đi rào rào, mỗi lúc một gần. Khi nghe tiếng cành cây khô bị voi dẫm lên kêu răng rắc ở phía dưới chân hang, chú lệnh cho hai chiến sỹ nhất loạt rọi đèn pin.
Con voi đầu đàn, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nó dừng lại, nghếch vòi lên nghe ngóng và chuẩn bị tư thế sẵn sàng nghênh chiến. Nhằm đúng điểm sáng màu đỏ tía phát ra từ mắt voi, bắt ánh đèn phản chiếu lại; chú nhả một băng Aka (loại súng trường cực mạnh do Nga chế tạo). Con voi đực đầu đàn ngã gục tại chỗ, những con khác hoảng loạn, tháo chạy về phía rừng bên Lào. Chú bảo:
-“Vạn bất đắc dĩ”, vì sự thông suốt của đường dây thông tin, buộc các chú phải giết một con; chứ nhìn con voi bị bắn hạ, các chú cũng thương nó lắm.
Chú cùng hai chiến sỹ cưa lấy đôi ngà về nộp lại chú tiểu đội trưởng; còn phần thịt, các chú để mặc cho người Vân Kiều đến lấy. Người nọ truyền tin cho người kia, họ mang dao sắc, gùi đến. Lấy hết phần thịt bên ngoài, họ khoét một cái lỗ to ở phía đuôi, chui vào lấy hết những gì còn lại bên trong. Đến gần trưa, chỉ còn trơ bộ xương to khủng khiếp của con voi đầu đàn. Từ đấy không thấy đàn voi rừng xuất hiện trở lại nữa.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Xamova (10-07-2010)
  #11  
Cũ 10-07-2010, 00:11
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Chú bị thương vào đùi ở trong một trận chiến trên Đường 14, gần A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Chú được chuyển về điều trị ở tuyến sau; an dưỡng ở trại thương binh Hà Bắc. Sau một năm điều trị và an dưỡng, vết thương của chú lành hẳn. Lúc đó, cuộc chiến tranh đã kết thúc, miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Đơn vị gửi chú vào học ở Trường công nhân kỹ thuật điện Sóc Sơn. Tốt nghiệp, chú được phân công về làm việc tại nhà máy phát điện điêzen này.
Khi đi bộ đội, chú tròn 17 tuổi. Bảy năm trong quân ngũ, một năm ở trại thương binh, một năm đi học. Như vậy, không kể thời gian đi bộ đội, đi học; lúc vào làm công nhân của nhà máy, chú mới 26 tuổi. Chú nghĩ còn trẻ chán, đến năm 30 tuổi lấy vợ là vừa.
Tuy ở hai tỉnh khác nhau, hoàn cảnh bản thân và gia đình trước khi đi học có khác nhau: Chú Bảy Choắt đi thanh niên xung phong, còn chú đi bộ đội. Nhưng cả hai vào nhập học cùng ngày, ở cùng phòng tại ký túc xá; học cùng lớp, ngồi cùng bàn; lại sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày; học xong về cùng một nhà máy. Đúng là lắm thứ cùng nên hai chú thân nhau lắm. Chuyện gia đình, chuyên riêng của hai người, các chú đều rõ như lòng bàn tay. Nhưng chú Bảy Choắt lấy vợ khá sớm: vợ hơn một tuổi, làm ruộng ở quê, có hai con gái. Đứa lớn bốn tuổi, đứa bé hai tuổi và chuẩn bị đứa thứ ba nữa. Chủ nhật nào, chú Bảy Choắt cũng tất tưởi đạp xe về nhà, ở tận Phố Nối, Hưng Yên thăm vợ con. Rút kinh nghiệm từ bản thân: vất vả với chuyện gia đình; chú Bảy Choắt khuyên chú không nên lấy vợ sớm; và nếu có lấy vợ, nên lấy vợ ở Hà Nội. Chú Bảy Choắt giải thích:
- Một chốn đôi nơi, đi lại vất vả; tiền lương không đủ đi tàu xe, nếu tuần nào cũng về thăm nhà; chưa nói đến chuyện mỗi khi về, phải có đồng quà tấm bánh biếu bố mẹ và cho vợ con nữa chứ!
Nhưng sự đời chẳng chiều theo ý ai. Năm 1978, chú về quê ăn tết. Vừa về đến nhà, bố mẹ chú đặt vấn đề hỏi và cưới vợ ngay cho chú trong dịp tết Nguyên Đán. Thương bố mẹ già, gia đình chỉ có một mình chú là con trai, được họ hàng hùn vào nên chú đồng ý. Đám cười ở thôn quê ngày ấy còn đơn giản: tư trang, quần áo của ai, người ấy sắm. Chú có bộ quân phục được phát trước khi đi học còn mới, lấy ra diện; chỉ có sắm thêm đôi dép nhựa Tiền Phong; ai cũng khen đẹp, hợp thời trang. Lễ sang nhà gái gồm: hai tếp trầu, ba chục cau, hai chục bánh cao lâu (bánh nướng), cân chè Thái, một tút thuốc lá Tam Đảo, một chai rượu cam. Gọi là lễ ăn hỏi, rồi dẫn dâu về luôn. Bố mẹ chú nuôi được con lợn trên năm mươi kilô, vật ra; làm vài ba chục mâm cơm, mời họ hàng và hàng xóm. Năm hết tết đến; mọi người đều tất bật đi sắm sửa; nên chú cũng chẳng kịp báo với cơ quan và bạn bè trên Hà Nội. Sau tết, chú mua ít bánh kẹo, mấy bao thuốc lá, gói chè hương Hoa Đào; tạ lỗi với mọi người trong nhà máy. Chú Bẩy Choắt có trách chú đôi điều, nhưng cũng thông cảm. Thế là cái việc “trăm năm” của chú đã xong.
Không biết có phải bố mẹ chú tinh đời, hay do duyên số mà chú có được người vợ: “Thắt đáy lưng ong”, da trắng như trứng gà bóc, hiền dịu, nết na; kính trọng, hiếu thảo với bố mẹ chú. Chỉ có một điều mà bố mẹ chú cũng như chú không được mãn nguyện lắm: vợ chú sinh con một bề.
Vợ chú sinh hạ liền ba cô con gái: Lục, Lụa, Lài. Chú giải thích:
- Lục: là để kỷ niệm quê hương Bình Lục của chú.
- Lụa: có ý chỉ sự mượt mà, mềm mại như tơ lụa của người con gái.
Còn cái tên Lài, không thấy chú giải thích, có thể chú đặt để cho có vần. Lúc vui vẻ, chú Bảy Choắt thường trêu chú:
- Đúng là vợ ông không biết đẻ. Đẻ rặt một lũ vịt trời!
Do vậy, chú Biên còn có một biệt danh khác nữa là “Biên Vua Lia”.
Chuyện “Vua Lia” thì tôi phần nào cũng hiểu, giống như nhân vật “Vua Lia” trong vở bi hài kịch của Shakespeare, nói về một vị vua nước Anh thời Trung cổ, giàu có, nhưng hoàng hậu chỉ sinh hạ cho vua được ba cô công chúa. Còn chuyện ba cô con gái của chú Biên, được chú gọi là vịt trời thì lần đầu, tôi nghe thấy câu ví von như vậy. Tôi hỏi lại chú Biên:
- Tại sao chú Bẩy bảo: ba cô con gái chú là lũ vịt trời?
Chú cười ngặt nghẽo rồi giải thích:
-“Vịt trời”, nghĩa là vợ chồng chú vừa mất công đẻ, công nuôi, công chăm sóc, công dạy dỗ. Đến khi khôn lớn thành người, làm được việc giúp đỡ gia đình; thì lại đi lấy chồng, trật khấc lại hai ông bà già ở với nhau. Ví như nuôi vịt trời con. Đến khi đủ lông, đủ cánh; nó lại bay vù theo bày đàn của nó. Chả mất công không là gì?
Nói thế chứ, xem ra chú chẳng buồn chút nào. Ngược lại, chú có vẻ thực sự quý những “lũ vịt trời” nhà chú lắm. Mỗi khi về quê lên, chú thường sang khoe với bố mẹ tôi:
- Con gái em nó tình cảm lắm. Bây giờ về nhà, các cháu biết lấy chậu, khăn mặt, xách nước cho bố rửa mặt, coi em như thượng khách. Nhiều khi em bảo các cháu cứ mặc kệ bố. Bố quen sống tự lập rồi. Nhưng các cháu không nghe, coi lấy nước cho bố rửa mặt, lấy tăm cho bố xỉa răng là một sự bộc lộ tình cảm thiêng liêng, quý trọng và thương yêu đối với bố. Khi đi, các cháu còn ra tận bến xe tiễn, nước mắt ngắn, nước mắt dài. Đứa nào cũng muốn theo bố ra Hà Nội, rồi nghẹn ngào dặn đi, dặn lại:
- Chủ nhật thế nào bố cũng về với chúng con đấy nhá!
Thực tế, mỗi lần về quê nghỉ phép hay nghỉ bù những ngày lễ tết và chủ nhật phải làm ca; tôi thấy chú đi sắm sửa khối thứ: nào bánh kẹo, nào quần áo, nào giầy dép. Chắc chẳng phải chỉ dành riêng cho bố mẹ mà cả cho vợ và các con gái chú nữa!
Đó là toàn bộ lai lịch về chú Biên, mà tôi chắp nhặt được qua những câu chuyện chú kể, tâm sự với bố mẹ tôi, hoặc với chú Bảy Choắt và với cả bọn trẻ con chúng tôi nữa.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010), Saomai (11-07-2010), Xamova (10-07-2010)
  #12  
Cũ 11-07-2010, 23:53
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng

TỔ CÁ

Từ hôm tôi chỉ điểm tổ cá quả, cũng như nghe những chuyện câu cá quả của chú kể, là tôi thấy mê. Tôi kết thân với chú từ đấy, và chú hứa sẽ truyền cái nghề câu cá quả cho tôi. Chú bảo:
- Chú không có con trai nên chẳng biết truyền cái nghề chú đã để tâm, tích lũy kinh nghiệm từ bé cho ai cả!
Hôm ấy là ngày 29 tháng 4; tôi còn nhớ như in: vì hôm sau là ngày 30 tháng 4, ngày giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước; học sinh chúng trôi cũng được nghỉ học.
Đi học về, men theo bờ hồ sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất; bỗng nghe thấy tiếng cá quẫy rõ to dưới bụi cúc tần. Tôi dừng lại nghó nghiêng. Một đám nước đục ngầu, đường kính đến hơn một mét. Hai con quả đang bơi quyện vào nhau. Lần đầu tiên tôi thấy một hiện tượng kỳ lạ như thế. Sau một phút do dự, tôi nghĩ:
- Phải về hỏi chú Biên xem sao?
Ba chân bốn cẳng, tôi chạy một mạch về nhà, cất cặp sách rồi sang nhà máy. Chú Biên đang điều chỉnh máy bơm dầu. Thấy tôi, chú ra hiệu là chú đang bận. Điều chỉnh dầu, cho máy chạy; xong việc, chú mới ra gặp tôi. Chú vui vẻ hỏi:
- Có việc gì tìm chú đấy cháu?
- Chú đi với cháu ra kia đi. Cháu mới phát hiện ra một chỗ có hai con quả chú ạ. Nhưng kỳ lạ lắm, chúng cắn đuôi nhau, rồi quẫy ùm ùm dưới bụi cúc tần ở bờ ao gần Nhà máy xe đạp Thống Nhất ấy.
Chú cười khà khà, xoa đầu tôi:
- Cháu được việc lắm. Tin tình báo có giá trị đấy! Nhưng chưa câu được cháu ạ. Chúng mới kết bạn với nhau, đang tìm chỗ làm tổ đấy.
Chú bá vai, kéo tôi ra phía sau nhà máy. Bầu trời trong xanh, lác đác có một vài đám mây trắng mỏng manh, lững lờ trôi về phía tây. Chú hướng mắt chăm chú nhìn về phía đông; ngẫm nghĩ một lúc, chú bảo:
- Gần sáng mai trời sẽ mưa, lúc đó cá mới đẻ. Không cần ra xem đâu cháu ạ. Đánh động, cá sẽ bỏ đi chỗ khác mất. Đợi cá đẻ xong, ra câu là chắc ăn nhất.
Giọng nói của chú đầy vẻ khẳng định, chắc như đinh đóng cột. Tạm biệt chú Biên, về nhà, tôi thì cứ băn khoăn: liệu có đúng không nhỉ? Trời đang trong xanh như thế thì làm sao mưa được? Nhưng chú Biên có nói sai bao giờ đâu!
Sáng hôm sau tỉnh dậy, nhìn qua cửa sổ, tôi thấy những vũng nước mưa còn đọng trên sân. Ngồi trên giường, tôi hỏi mẹ:
- Tối qua trời mưa à mẹ?
- Gần sáng trời mưa to lắm, sấm chớp đùng đùng, anh em con ngủ say, không biết đấy thôi.
Tôi thầm nghĩ:
- Chú Biên tài thật, dự báo thời tiết như thần, chính xác hơn cả Đài tiếng nói Việt Nam.
Nhảy ra khỏi giường, đánh răng, rửa mặt qua loa. Chẳng kịp dặn mẹ một câu, tôi chạy bổ ra bờ hồ.
Sau trận mưa tối qua, nước từ khắp nơi đổ về hồ đục ngầu, dâng cao tới gần mép đường. Tiếng chão chuộc, tiếng ếch nhái: chạc chạc, chuộc chuộc; ộp ộp, ẹc ẹc; kêu vang trong bụi cỏ, bụi tre, trong các bè rau muống ở xung quanh hồ. Một dàn đồng ca đến vui tai, như lọt vào giữa cánh đồng của vùng thôn quê.
Nếu như mấy hôm trước, người ta chỉ thấy một màu xanh cằn cỗi bao trùm lên tất cả các bè rau muống; thì sáng nay, chúng như vừa được thay một bộ áo mới: Một màu xanh non mơn mởn. Những ngọn rau muống non vừa mới nhú còn yếu ớt, run rẩy trước gió; như cố vươn cao, vươn xa để đón những tia nắng ban mai.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
  #13  
Cũ 11-07-2010, 23:54
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng

Hồi hộp và tò mò, tôi rón rén đi tới bụi cúc tần. Lạ thay, mặt nước lặng như tờ. Hay nó bỏ đi chỗ khác rồi? Tôi thầm nghĩ. Nhưng nhìn kỹ hơn, tôi thấy một đám màu vàng mật ong, to bằng miệng bát múc canh; gồm những hạt tròn vo, to bằng hạt tấm, kết lại với nhau. Trên lá cúc tần rả xuống mặt nước, cũng thấy lác đác những hạt như vậy. Thôi! Đúng rồi, ổ trứng cá. Tôi xuýt kêu lên vì sung sướng. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ổ trứng cá quả mới đẻ như thế nào? Không dám đứng lâu để ngó, sợ có người khác theo dõi; tôi vội vã trở về nhà, chạy sang bên nhà máy khoe với chú Biên ngay:
- Cá đẻ rồi chú ạ!
Tuy là ngày nghỉ, nhưng chú vẫn phải trực ca, phòng khi điện lưới yếu, hoặc mất thì phải chạy máy ngay. Chú chỉ ghế cho tôi ngồi, rồi hỏi:
- Nói cho chú nghe xem, ổ trứng trông nó thế nào?
Tôi vừa dùng tay ra hiệu, vừa diễn giải như mới phát hiện ra một điều gì mới mẻ. Tôi mô tả tỉ mỉ, không bỏ sót một chi tiết nào, tất cả những gì tôi đã quan sát được: kích thước ổ, màu sắc, kích thước quả trứng. Kể cả những chi tiết: có những quả trứng bám trên lá cúc tần, sự lặng lẽ và không một bóng sinh vật ở vùng nước bao quanh ổ trứng. Tôi mô tả tuy có phần lộn xộn, nhưng khi nghe tôi trình bày xong, thấy nét mặt của chú Biên có vẻ hài lòng thực sự. Chú còn thanh minh như có ý để tôi thông cảm về sự nghi ngờ của chú đối với nguồn thông tin vừa rồi:
- Chú phải hỏi cho chính xác. Vì mùa này, cũng là mùa sinh nở của bọn chẫu chuộc, ếch nhái. Chúng cũng đẻ trứng dưới nước, trong giữa các bụi khoai nước, bè rau muống hay dưới bụi cúc tần. Nếu không tinh, dễ nhầm sang ổ trứng của chúng. Trứng chẫu chuộc cũng có kích thước tương tự, thường có màu vàng thẫm; ở giữa có chấm đen, nhưng số lượng trứng ít hơn; màng nhầy bao trứng nhiều hơn. Chú nói tiếp:
- Đã bắt đầu mùa cá quả đẻ rộ rồi đấy cháu ạ!
- Sao chú biết ?
Tôi hỏi lại chú.
- Biết chứ! kinh nghiệm mà cháu. Chú trả lời tôi giọng đầy tự tin.
Tôi chợt nhớ ra chuyện dự đoán trời mưa vào sáng nay, tôi hỏi:
- Sao chú biết rạng sáng nay có mưa rào? Chú nghe đài có phải không?
Chú cười, rồi nói:
- Chú làm gì có đài mà nghe! Người ngoài Hành tinh báo cho chú đấy!
- Nói đùa thế thôi, chứ dự đoán thời tiết vào chiều hôm qua là quá dễ cháu ạ. Có câu: “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”. Qua hàng ngàn năm trải nghiệm, quan sát các hiện tượng tự nhiên, ông cha ta đã đúc kết ra câu tục ngữ này. Chiều tối hôm qua, tuy vòm trời vẫn trong xanh, nhưng khi nhìn về phía đông, chú thấy dưới chân trời lóe lên những ánh chớp. Cháu biết đấy, Trái Đất quay từ tây sang đông. Do đó, đến thời điểm gần sáng, chỗ chúng ta ở sẽ gặp cơn mưa lớn.
- Chú giỏi thật đấy! Tôi tỏ ra tâm phục, khẩu phục.
Chú bảo:
- Làm cái nghề câu này cũng phải biết dự báo thời tiết, lúc nào trời mưa, lúc nào trời nắng chứ. Có khi phải tính được thời tiết cho hai ba ngày sau; nhất là vào mùa đông. Trước khi gió mùa đông bắc tràn về, bao giờ thời tiết cũng trở nên ấm áp, có phần oi ả. Cá quả thường ra sưởi ấm và tranh thủ kiếm chút mồi cho cái dạ dày đã bị lép kẹp sau nhiều ngày giá lạnh, không kiếm được mồi. Do đó, việc dự báo chính xác thời điểm gió mùa đông bắc tràn về trước khoảng ba bốn giờ đồng hồ là hết sức quan trọng. Đi câu cá quả vào thời điểm này sẽ thắng to; trong vòng ba hoặc bốn giờ đồng hồ, ở những ao đầm nhiều cá quả, có thể kiếm được dăm bảy con đằng khác. Vào thời điểm mùa xuân thì ngược lại, khi bắt đầu xuất hiện gió nồm nam trở lại, thời tiết sẽ trở nên ấm áp; câu cá quả mới có hiệu nghiệm. Cho nên, muốn làm nghề câu cá, cũng phải thuộc những câu tục ngữ này:

- Chớp đằng đông, mưa dây mà tát;
- Cỏ gà màu trắng, điềm nắng đã tắt;
- Cóc nghiến răng, đang nắng thì mưa;
- Ếch kêu uôm uôm, ao chuôm đầy nước;
- Kiến dọn tổ thời mưa;
- Ráng mỡ gà thời gió, ráng mỡ chó thời mưa;
- Mống cao gió táp, mống áp mưa rào;
- Mống đông vồng tây, chẳng mưa dây cũng bão giật;
- Mống vàng trời nắng, mống trắng trời mưa;
- Mống dài trời lụt, mống cụt trời mưa;
- Mưa chẳng qua ngọ, gió chẳng qua mùi;
- Mây kéo xuống bể thì nắng chói chang mây kéo lên ngàn thì mưa như trút;
- Mây xanh thì nắng, mây trắng thì mưa;
- Mặt Trời có quầng thì hạn, Mặt Trăng có tán thì mưa;
- Quạ tắm thì nắng, sáo tắm thì mưa;
- Rồng đen lấy nước thời nắng, rồng trắng lấy nước thời mưa;
- Ráng mỡ gà, ai có nhà phải chống;
- Rễ si đâm ra trắng xóa, mưa to gió lớn hẳn là tới nơi...
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 11-07-2010 thời gian gửi bài 23:57
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
  #14  
Cũ 11-07-2010, 23:58
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng

Chú đọc một thôi một hồi, làu làu. Một số câu tôi hiểu, nhưng cũng có một số câu, từ tôi chẳng hiểu gì cả, cũng chưa nghe bao giờ. Tôi hỏi chú:
- Mống, ráng là gì? Có con rồng thật ư? Chú đã trông thấy nó lấy nước bao giờ chưa?
Nghe câu hỏi ngô nghê của tôi, chú giải thích:
- Mống là một đoạn cầu vồng, hiện lên ở phía chân trời. Mống xuất hiện trên bầu trời, báo hiệu sắp sửa có mưa dông.
- Ráng là hiện tượng ánh sáng mặt trời chiếu vào các đám mây mưa, làm rực lên các màu sắc: vàng đỏ, hồng sẫm. Hiện tượng này thường nhìn thấy vào lúc rạng đông hoặc chiều tà.
- Rồng là hình tượng một con vật linh thiêng: đầu nghê, mắt phượng, mày ngài, mình rắn, chân có vuốt, biết bay; không có trong tự nhiên. Chẳng qua do người Trung Hoa tưởng tượng ra. Họ cho rằng, rồng được Ngọc Hoàng ở trên trời phái xuống làm mưa cho hạ giới.
Vào mùa hè, trong những đám mây dông, thường xuất hiện những chiếc lưỡi dài hình phễu, có đường kính tới hàng trăm mét, người ta gọi là vòi rồng. Nó có sức mạnh ghê gớm, không chỉ hút nước mà nó có thể cuốn tất cả những gì gặp trên đường đi; kể cả nhà cửa, cây cối, trâu bò, lợn gà...Đó là hiện tượng thời tiết thường thấy ở nước ta vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè. Vòi rồng thực ra là những cơn lốc, tập trung một nguồn năng lượng cực lớn, trong một vùng hạn hẹp; nhưng sự tàn phá của nó thì thật khủng khiếp, như một trận bão lớn, gió giật trên cấp 13.
Chú giảng giải hay thật, làm cho tôi biết thêm nhiều điều về thời tiết. Nhưng làm sao nhớ nổi. Hẹn lúc nào rảnh, tôi mang vở sang, nhờ chú đọc chép lại. Sốt ruột về cái tổ trứng mới phát hiện vào sáng nay; tôi giục chú:
- Bây giờ ra câu đi chú?
- Đang là ca trực của chú, đi thế nào được cháu! Vả lại, chưa thực sự cần thiết cháu ạ. Còn bốn năm hôm nữa trứng mới nở thành ấu trùng; khi đó chú cháu mình đến câu mới chắc ăn. Rồi chú tiếp tục giảng giải:
- Trong số cá nước ngọt, cá quả là loài khôn ngoan nhất, có trách nhiệm với con cái, biết cách bảo vệ, kiếm mồi và dạy con bắt mồi cho đến khi cá con có thể tự bảo vệ mình trước kẻ thù. Khi đó, cá bố mẹ mới rời đàn con. Trong thời gian chăn giắt đàn con, cá bố mẹ sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ đàn con của chúng. Sau bốn năm tháng, cá con mới bắt đầu tách đàn đi kiếm ăn một mình; sau một năm chúng đến tuổi trưởng thành và bắt đầu đi tìm bạn đời. Cá bố mẹ thường trong cùng một đàn, nhưng cá bố có đầu to hơn mình, nhỉnh hơn cá mẹ một chút. Cá mẹ có đầu nhỏ hơn mình và có thân hình thon thả hơn cá bố. Khi đã kết đôi, chúng sống chung thủy với nhau trọn đời. Nhưng cũng có một số trường hợp, vì một lý do nào đó; cá đực bị mồ côi vợ, cá cái bị mất chồng thì chúng cũng “tái giá”. Do đó, có những đôi cá rất cọc cạch: cá cái to hơn nhiều so với cá đực và ngược lại, có khi câu được con cá đực rõ to rồi; nhưng khi câu con cái lên, nó chỉ bằng một nửa.
Sau những ngày đông lạnh giá, gió mồm nam đưa không khí ấm áp trở lại, xuất hiện mưa xuân. Mưa xuân không chỉ làm cây cỏ tốt tươi mà cũng thúc dục những loài lưỡng cư, các loài cá đi tìm bạn tình, thực hiện nghĩa vụ duy trì nòi giống. Cá quả cũng rời chỗ ngủ đông, đi tìm mồi, tìm bạn tình, tìm chỗ làm tổ. Sau tết âm lịch khoảng một tháng, bắt đầu xuất hiện những tổ quả đẻ sớm nhất. Nhưng chỉ khi xuất hiện những cơn mưa “rửa đền” vào dịp giỗ tổ Hùng Vương 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, và những trận mưa rào cuối tháng 4 đầu tháng năm; cá quả mới đẻ rộ.
Cá quả đẻ hai lần trong một năm. Đợt đầu vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè, ổ trứng to hơn nhiều so với đợt đẻ lần hai vào cuối thu. Do đó, tùy thuộc vào trọng lượng của cá mẹ và thời điểm đẻ trứng, mà ổ trứng của chúng to nhỏ khác nhau. Cá mẹ tròn một năm tuổi, đẻ ổ trứng đầu tiên chỉ nhỉnh hơn quả cau một chút. Cá bố mẹ ba bốn tuổi, đạt trọng lượng từ bốn đến sáu lạng, ổ trứng đẻ lứa đầu to bằng miệng bát múc canh, nhưng lứa thứ hai vào cuối năm, chỉ còn lại bằng miệng bát ăn cơm. Những đôi quả quá già, trọng lượng từ hai đến ba kilô trở lên, ổ trứng lại rất nhỏ, chỉ bằng miệng bát ăn cơm, hoặc nhỏ hơn đôi chút. Do đó, nhìn đàn rồng rồng, cũng có thể đoán biết được trọng lượng của cá bố mẹ. Đàn rồng rồng càng đông, nghĩa là cá bố mẹ đang thời kỳ sung sức, trọng lượng đạt từ năm đến bảy lạng.
Trước khi đẻ trứng, cá bố mẹ tìm đến chỗ kín đáo, có nguồn nước sạch để làm tổ. Tất nhiên, tổ quả không giống tổ chim rồi. Cá quả bố mẹ dùng bộ răng sắc nhọn, cắn nát những đám rau muống, cây cỏ hoặc cánh bèo Nhật Bản, bèo cái; tạo ra một khoảng trống hình tròn. Cá bố mẹ một năm tuổi, tổ chỉ bằng miệng rá vo gạo; cá bố mẹ ba bốn tuổi, miệng tổ bằng cái sàng. Cá bố mẹ càng to thì kích thước tổ càng lớn. Sau khi dọn tổ xong, cá bố mẹ lùng sục rất kỹ vùng nước xung quanh, trong vòng bán kính từ ba đến năm mét; đuổi sạch hết lũ săn sắt, tôm, cua, ếch, nhái; kể cả bọn rắn mòng và các loài cá khác, rồi mới đẻ trứng vào đó.
Đẻ xong, cá mẹ làm nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài; cá bố canh gác vòng trong, nằm ngay cạnh tổ. Đấy là thời kỳ canh gác vất vả nhất của cá bố mẹ. Mùi tanh của trứng thu hút bọn ếch nhái, tôm cua và rắn mòng đến; nên chúng phải canh gác cẩn thận. Đến khi trứng nở thành cá con, công việc canh giữ của cá bố mẹ càng phải cẩn thận hơn. Vì khi đó, lại xuất hiện một kẻ thù nguy hiểm nhất đối với đàn con của chúng. Đó là loài cá săn sắt.
Tạo hóa sinh ra hai loài cá có mối thù truyền kiếp với nhau, hoặc có thể vì sự đấu tranh sinh tồn của mỗi loài mà chúng luôn luôn trở thành đối thủ của nhau: Cá săn sắt thường là miếng mồi hấp dẫn đối với cá quả. Tục ngữ có câu: “Thả con săn sắt, bắt con cá rô”, chú cho là không phải thế. Cá rô và cá săn sắt như là hàng xóm thân thiện của nhau, và cùng có chung một kẻ thù là cá quả. Do vậy, đúng ra phải là: “Thả con săn sắt, bắt con cá quả”.
Những con quả trưởng thành, gặp cá săn sắt ở đâu là đớp ngay; cũng không phải vì đói, mà là bản năng bảo tồn giống nòi, diệt trừ những kẻ sẽ gây hiểm họa cho đồng loại về sau. Chính vì vậy, người ta hay bắt cá săn sắt để làm mồi nhử cá quả.
Để tránh những hậu họa, loài cá săn sắt cũng hình thành một bản năng tự vệ: tìm cách tiêu diệt loài cá quả ngay khi còn trong trứng nước. Chúng thường tập trung số đông, rình mò, tìm thời cơ. Khi cá quả bố mẹ mất cảnh giác, lập tức chúng đồng loạt tấn công vào đàn quả con. Cuộc chiến có vẻ như không cân sức, một số săn sắt cũng bị hy sinh; nhưng cũng không ít cá quả con bị tiêu diệt. Nếu một trong số cá bố hoặc cá mẹ; vì lý do nào đó bị bắt hoặc bị chết; việc bảo vệ đàn con trước sự tấn công của cá săn sắt là hết sức khó khăn. Trong những trường hợp như vậy, cá bố hoặc cá mẹ trẻ không bảo vệ nổi đàn con của mình; đành phải đứng nhìn, bất lực trước sự tấn công từ khắp phía của bầy cá săn sắt vào đàn con thơ dại, rồi bỏ đi. Do vậy, đàn quả con lúc mới nở thì rất đông, hàng ngàn hàng vạn con, bơi đen cả mặt nước; nhưng đến khi cá quả con có thể tự bảo vệ được mình trước sự tấn công của cá săn sắt, số lượng còn lại chỉ vài trăm con.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
  #15  
Cũ 12-07-2010, 00:00
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Khi cá quả con bằng đầu đũa, chúng gặp phải sự đe dọa của rắn mòng (rắn bùn). Rắn mòng là loài rắn nước, không có nọc độc, đôi mắt trông lờ đờ, nhưng dưới nước nó rất nhanh; ép mình trong rễ của bè rau muống, bèo Nhật Bản; hoặc đầm mình dưới bùn, chờ đợi đàn quả con bơi qua là đớp liền. Những tổ cá quả của cá bố mẹ một năm tuổi, chưa có kinh nghiệm cũng như sức mạnh bảo vệ quyết liệt đàn con của mình; khi trưởng thành, đàn chỉ còn lại vài chục con là nhiều.
Một điều trớ trêu thay, trong môi trường tự nhiên, luôn luôn song hành đồng thời hai loài cá này: ở đâu có cá quả, là ở đó có cá săn sắt.
Thời kỳ đang ấp trứng, cá bố mẹ cũng canh giữ cẩn thận, nhưng khi trứng nở thành ấu trùng (rồng rồng con) rồi; cá bố mẹ liều mình bảo về đàn con bằng bất cứ giá nào. Đợi trứng nở thành cá quả con rồi mới câu, chắc chắn sẽ tóm được cả đôi. Với lại bốn hôm nữa, vào đúng chủ nhật, cháu được nghỉ học, chú được nghỉ ca. Hai chú cháu mình cùng đi.
Mải nghe chú Biên kể chuyện, tôi quyên cả ăn sáng; mãi khi em Quang sang gọi, tôi mới rời được chú Biên.
Thấp thỏm đợi đến ngày chủ nhật. Thấy tôi dậy sớm, mẹ tôi hỏi:
- Hôm nay chủ nhật, không phải đi học, con dậy sớm làm gì?
- Chú Biên hẹn, nhờ con chút việc!
Mẹ không vấn hỏi chú Biên nhờ tôi việc gì? Chỉ dặn, xong việc rồi về ăn sáng.
Đánh răng, rửa mặt xong, tôi vào khu tập thể của nhà máy gọi chú Biên.
Chú Biên vẫn còn ngủ, vì đêm qua chú trực ca. Chú Bẩy Choắt ở cùng phòng với chú Biên cũng đã dậy. Chú đang lau chùi chiếc xe Cub sừng hươu-máy cánh ở ngoài hè. Nghe đâu chú mua lại của một tay thủy thủ tàu viễn dương, giá những hai cây vàng. Vợ chú bán cả đôi hoa tai, của “hồi môn” duy nhất của bố mẹ cho khi đi lấy chồng. Bố mẹ cho thêm 5 chỉ, vợ chú và chú cũng phải vay thêm bạn bè, họ hàng; mỗi người một vài chỉ mởi đủ tiền. Chiếc xe màu ốc bươu đã bị bong sơn một số chỗ nên chú Biên gọi là chiếc “Cub gẻ”, nhưng nó lại là tài sản lớn nhất của vợ chồng chú, ngang giá với căn nhà 4 gian xây gác tường và cái thổ 5 sào đất của bố mẹ chú ở quê. Dưới bàn tay chăm chút và gìn giữ của chú Bẩy Choắt, lúc nào trông nó cũng bóng mượt.
Sở dĩ chú Bẩy có biệt danh là “Bảy Choắt” vì chú vừa bé, vừa thấp; chỉ cao khoảng 1m55-1m56, và chưa đầy 48 kilô. Chú Biên bảo:
- Bố mẹ chú Bảy trông có đến nỗi nào! Cô em gái chú cao to lừng lững. Có lẽ chú Bảy khôn quá nên người mới choắt lại!
Chú Bẩy cũng là người vui tính, hay kể chuyện tiếu lâm. Hai chú ở với nhau xem ra rất hợp, mặc dù dáng dấp có phần đối chọi nhau: người cao, kẻ thấp; chẳng khác nào thày trò hiệp sỹ Don Quixote và Sancho Pauza ở xứ Mantra trong truyện Đôkihôtê của nhà văn Tây Ban Nha Xecvantex.
Vừa trông thấy tôi, chú Bẩy trêu ngay:
- Chào anh bạn, sang thăm bố vợ sớm thế!
Chả là chú Biên có ba cô con gái: cô lớn nhất còn kém tôi bốn năm tuổi. Có lẽ thấy tôi lúc nào cũng cặp kè với chú Biên, nên trêu cho vui, chứ không có ý gán ghép gì. Còn tôi thân với chú Biên vì nhiều nhẽ: Chú Biên vui tính, quý bọn trẻ con chúng tôi. Tôi quý trọng sự cư sử hào hiệp của chú ấy... Chứ thực tình, tôi còn rất trẻ con, chưa có một khái niệm gì về chuyện chú Bảy trêu.
- Cháu sang rủ chú ấy đi câu ạ! Tôi bẽn lẽn trả lời.
Chỉ vào chiếc ghế con, đóng bằng những miếng gỗ nhặt nhạnh trong nhà máy; chú Bẩy bảo:
- Ngồi uống nước cái đã, còn sớm chán. Chú Biên đêm qua trực ca, còn đang “kéo gỗ”.
Tôi ngồi xuống cạnh chú Bẩy, giả vờ như cũng rất quan tâm đến công việc lau xe của chú ấy; chứ tâm trạng tôi lúc này: mong chú Biên dậy.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
  #16  
Cũ 12-07-2010, 00:01
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng

Chú Bẩy vẫn hì hụi lau từng bộ phận trên chiếc xe một cách say sưa, gần như không để ý đến chuyện tôi sang tìm chú Biên nữa và tiếp tục trêu:
- Làm rể chú Biên cũng được đấy. Vùng quê “Cầu Tõm” lắm cá, nhiều tôm. Nhưng đi ăn hỏi phải có rổ khoai lang đấy nhé (ý chú muốn nhắc chuyện ra sông rửa khoai, 10 củ thành 11 củ).
- Nhưng chú bảo này, cái giống nhà chú Biên chỉ có đẻ con gái thôi.
Chú rút ra quy luật rồi:
- Nhà nào đẻ toàn con gái; đời sau, con gái họ cũng chỉ đẻ con gái. Cháu thấy đấy: nhà vợ chú Biên có ba chị em gái; nhà vợ bác Thắng Trắng (bác Thắng, phó giám đốc nhà máy, lớn tuổi hơn chú Bẩy và chú Biên, có nước da trắng) cũng ba chị em gái; cô Mây vợ bác Khâm, giám đốc nhà máy; đẻ ra cái Vân, cái Hà, cái Phương; bạn của cháu nhá (không biết có đúng thế không? Đâu tôi có biết lai lịch nhà vợ chú Biên, nhà vợ bác Thắng và nhà cô Mây). Có phải rặt một lũ con gái không?
Vẫn cái giọng trêu chọc, có phần khôi hài nữa, làm chú Biên tỉnh giấc.
Từ trong nhà, chú Biên nói vọng ra:
- Thôi đi, ông! Đừng có nói phét nữa. May cho ông đấy. Vợ ông không đi cầu Trời, khấn Phật thì lấy đâu ra thằng chống gậy cho ông sau này (ý nói đứa con trai thứ ba của chú Bẩy là con cầu tự).
Chú Bẩy chuyển giọng ngay:
- Ông dậy rồi đấy à. Cháu nó sang đợi lâu rồi đấy. Nói chuyện cho vui thôi, chứ có gì đâu!
Đã có lần, chú Biên xạc chú Bẩy về chuyện gán ghép trẻ con với nhau. Chú bảo:
- Không nên lấy chuyện của người lớn ra đùa với trẻ con.
Chú Biên đã nhớ lời hẹn:
- Cháu sang rồi à, đợi chú một lát nhá!
Chú vội vã gấp màn, ra hè đánh răng, rửa mặt. Nhìn thấy chú Bẩy vẫn còn mải mê lau từng cái tăm xe máy, chú cũng chẳng kém cạnh:
- Cố giữ lấy cái xe này ông ạ. Bảo tàng xe máy Nhật sắp sang mua lại của ông đấy. Của độc mà. Phải ra giá thật cao vào ông ạ!
Chẳng biết chú Biên nói thế là thật hay đùa, nhưng chú Bảy Choắt tỏ ra từ tốn:
- Của bền tại người ông ạ. Đúng là xe máy Nhật tốt thật. Chục năm rồi chứ chơi đâu, thế mà chỉ hết một lít rưỡi thôi ông ạ (ý nói 1,5 lít xăng trên 100 km); khẽ đạp một cái là nổ ngay.
Vừa đánh răng, chú Biên vừa hỏi:
- Ông pha chè chưa?
- Rồi! Chỉ đợi ông dậy nữa thôi!
Kéo cái ghế con ngồi, chú Biên với tay lấy chiếc điếu cầy để cạnh bờ tường. Vỗ đánh bốp một cái vào miệng ống, cho rơi bã ra khỏi lõ điếu; vê vê điếu thuốc mới nhồi vào, bật lửa hút một hơi dài. Khói trắng từ miệng chú phun ra trông như rồng bay, phượng múa. Khà một tiếng, chú khen:
- Đúng! Thuốc lào Tiên Lãng của vợ ông cho quá ngon đi. Nhưng lần sau, ông để tôi gửi tiền nhá!
- Chuyện vặt!
Rồi chú Bẩy giãi bày:
- Vợ tôi cảm động mãi lần ông về thăm thằng con trai tôi tròn tháng. Cho nên, trong lòng bà ấy lúc nào cũng đau đáu một điều: có cái quà gì gửi biếu ông. Biết ông nghiện thuốc lào; bà ấy bảo dì Thi, làm ở Nhà máy thuốc lào Tiên Lãng lấy về, biếu ông một ít. Có phải mua đâu mà chi ly.
- Nhưng tôi nghĩ ngợi lắm! Có phải một lần đâu?
Chú Biên thanh minh.
Ba chén nước chè Thái rót ra còn đang bốc hơi nghi ngút. Biết tôi không uống được nước chè; chú lấy phíc nước sôi, rót vào một chén cho loãng ra, đưa cho tôi:
- Uống đi cháu! Rồi chúng ta đi.
Tôi thì muốn đi ngay, nhưng chú Biên chẳng để ý đến sự sốt ruột của tôi. Khề khà, chuyện phiếm với chú Bẩy đến khi uống hết nước hai. Bảo tôi vào trong nhà cầm chiếc túi đựng bát câu treo trên tường ở phía đầu giường. Chú vươn vai đứng lên, rút chiếc cần câu gác trên hiên. Như sực nhớ ra điều gì, chú quay lại dặn chú Bẩy:
- Ông ở nhà đi chợ cái nhá. Ra chợ Láng ấy. Mua mấy thứ về nấu canh cá. Nhớ mua vài cây xà lách và dăm quả ớt tươi; canh cá mà không có ớt thì chẳng ra gì đâu. Chú cháu tôi đi đây!
- Yên chí, sẽ có ngay. Nhưng có chắc ăn không đã?
Chú Bẩy tỏ vẻ nghi ngờ.
Cũng có đôi lần, chú Biên vác cần câu đi cả buổi rồi về tay không, nên sự nghi ngờ của chú Bẩy cũng không thừa.
- Không! Không thể về không được. Tin tình báo của cháu tôi là chắc ăn một trăm phần trăm rồi!
Ra khỏi nhà, chú Biên nói nhỏ với tôi:
- Thằng cha này tính cẩn thận lắm, giữ xe như giữ mả tổ!
Đến đầu ngõ, đáng lẽ rẽ phải ra phía bờ hồ, chú lại rẽ trái đi vào trong xóm. Đường trong xóm tôi chẳng lạ gì, đi ra đầu phía tây nam Hồ Ba Sáu, chứ đâu đi ra phía tổ cá. Ngỡ chú nhầm, tôi nhắc:
- Tổ cá ở sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất chú ạ!
- Chú nhớ rồi, nhưng giờ phải đi kiếm con mồi cái đã.
Thì ra là như vậy!
Chúng tôi đi qua con hẻm ngoằn ngoèo trong làng, qua con mương, qua dãy nhà E1 bốn tầng Thái Thịnh; qua cầu bê tông, rồi rẽ vào khu đất hàng chục hecta bỏ hoang phía sau Trường phổ thông cơ sở Thái Thịnh và Trường công nhân kỹ thuật Hà Nội. Ở đấy có những thùng đấu ngập nước, hai cái lò gạch cũ đã đổ nát, còn lại những bức tường nham nhở. Bên kia con mương, một hồ sen rộng mênh mông đến tận Trường Nguyễn Ái Quốc. Đi qua một bãi cỏ um tùm, chúng tôi đến một cái ao khá rộng. Bờ ao mọc đầy cỏ dại.
Chú Biên đưa tôi cầm cần câu, rồi chỉ tay vào bụi cỏ nước:
- Bọn nhái xanh thường sống trong đám cỏ nước. Nó khờ khạo hơn gống nhái đất, nên dễ bắt hơn. Thấy động là nó nhảy tõm xuống nước, nhưng lặn không lâu đã nhoi lên khỏi mặt nước để thở. Còn bọn nhái đất, đã nhảy xuống nước là nó dũi mất tăm; không phát hiện được nó chui lên chỗ nào trong bụi cỏ rậm hay dũi xuống bùn nữa!
Vừa giảng giải, chú vừa khua cái chân dài ngoẵng xuống bụi cỏ. Thấy động, bốn năm con nhái xanh, đồng loạt nhảy tõm xuống nước; rồi bơi vội lên, bám vào các bui cỏ khác. Nhanh như cắt, chú chộp những con vừa mồi câu, bỏ vào túi nylon nhỏ mà chú đã chuẩn bị sẵn từ ở nhà. Chỉ một nhoáng, chú đã tóm được năm sáu con, đủ mồi câu cho cả buổi. Dùng dây cao su buộc túm một đầu. Cẩn thận, chú lấy mũi lưỡi câu, đục thủng mấy lỗ, để có không khí cho bọn nhái thở.
Chúng tôi đi về phía hồ dài. Đúng như lời dự đoán của chú Biên; cái tổ trứng vàng óng cách đây bốn hôm, nay đã nhung nhúc những con ấu trùng, đen nhánh bơi đầy mặt nước; giống như tổ cá lần đầu tiên tôi phát hiện ở ao phía sau nhà máy.
Quan sát một lúc, chú Biên đưa ra nhận xét:
- Tổ cá này khó bắt đây, lại vướng bụi cúc tần nữa!
Chú móc túi, bắt ra một con nhái. Khác với cách mắc mồi mà tôi đã quan sát được ở lần trước. Lần này, chú vặt bỏ hai cẳng sau; mắc gọn con mồi lên phía thân lưỡi câu. Chẳng cần để tôi hỏi, chú Biên giải thích:
- Những tổ quả làm sát bên đường đi, cá bố mẹ đã dạn dày với con người. Do đó, không câu bóng được. Phải câu chọc tức cá bố mẹ mới có thể tóm được. Mồi nhử phải mắc gọn, cốt để cho cá cắn nhầm phải lưỡi câu.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
  #17  
Cũ 12-07-2010, 00:02
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default

Mắc xong mồi, chú khẽ buông câu vào đám rau muống gần sát tổ rồng rồng; nhấp nhấp con mồi giống như động tác nhấp nước của con gián nước: khẽ nhô lên, thụt xuống giữa những cánh rau muống. Năm phút, mười phút, hai mươi phút, nửa tiếng, rồi một tiếng. Không có động tĩnh gì. Tôi sốt ruột hỏi khẽ chú Biên:
- Hay ai bắt mất cá bố mẹ rồi?
- Chưa đâu!
Chú Biên khẽ trả lời. Phải kiên trì cháu ạ.
Chú thay đổi chiến thuật, đưa con mồi vào giữa tổ làm đám rồng rồng con dạt ra bốn phía. Rồi lại đưa con mồi ra phía ngoài tổ, quây đàn con lại. Cuối cùng, chú cũng phải thốt nên:
- Con quả bố này ranh ma lắm, biết mồi giả nên không ăn.
Lúc này cũng phải đến tám giờ sáng. Ánh nắng Mặt Trời mùa hè bắt đầu trở nên chói chang. Chú Biên giục tôi vào tránh nắng dưới gốc tre. Chừng năm phút sau, chú Biên cũng cuốn câu đi về phía tôi. Chú nhoẻn miệng cười:
- Sắp có kết quả rồi cháu ạ! Nghỉ cho đỡ nóng cái đã. Mồ hôi ướt đẫm trên áo chú.
Nghỉ khoảng mươi mười lăm phút; chú cầm cần câu đứng lên, tôi cũng ra theo. Sự kiên trì nhấp mồi của chú cuối cùng cũng có kết quả. Cá bố không chịu nổi sự hành hạ những đứa con của nó, đã bắt đầu phản ứng: Lấy mõm đẩy con mồi ra khỏi đàn con. Lần này chú Biên đưa mồi vào giữa tổ, khuấy mồi thật mạnh, làm tan tác cả đàn con. Cá bố tức giận đớp mạnh vào con mồi. Sợi dây câu căng thẳng băng, tiếng quẫy nước ùm ùm. Chỉ đợi có thế. Chú Biên nhấc cần câu lên.
Con quả chỉ cắn mớm vào lưỡi câu; vừa lên đến bờ, rơi đánh bịch một cái xuống bãi cỏ. Thì ra nó đã bị sứt mép. Không đợi chú Biên phải nhắc; bằng hai tay, tôi chộp vào gáy con quả, bỏ ngay vào túi vải.
- Cũng phải nửa cân! Chú Biên nhận định.
Thấy chú Biên cuộn cước, tháo ròng rọc, tôi hỏi:
- Thôi không câu nữa à chú?
- Câu nữa chứ! Nhưng để cá mẹ kịp hoàn hồn cái đã.
Kéo tôi vào quán nước gần đấy. Bà chủ quán rót hai chén nước chè Thái. Thấy tôi có vẻ không hào hứng lắm; chú Biên biết ý, bảo bà rót riêng cho tôi một cốc nước trắng. Cầm chiếc bình thủy tinh đựng bánh rán, chú lấy ra bốn chiếc, loại hai hào.
- Ăn đi cháu! Chú mời tôi.
Tất nhiên là tôi muốn ăn rồi, nhưng cũng phải giả vờ từ chối cho có phép lịch sự:
- Cháu ăn sáng rồi mà! Sáng nào cô Cúc chả mang bánh cho anh em cháu.
Chú Biên cũng biết điều ấy, nhưng chú bảo:
- Ăn một mình đau tức, làm một mình cực thân. Ăn với chú cho vui!
Cầm chiếc bánh rán ăn, tôi nhận ra ngay là bánh rán của lò nhà cô Cúc.
Cái thời ấy vất vả: Cô Cúc vợ bác Quản; bác Quản là bạn học với bố tôi từ hồi đi Ba Lan. Quen biết nhau dạng bác cầu như vậy, nhưng hai gia đình thân nhau lắm. Cô là giáo viên dạy ở Trường Thái Thịnh và làm thêm cái nghề làm bánh rán để có đồng ra đồng vào. Thức khuya dậy sớm: ngâm gạo xay bột, rán bánh, đưa bánh. Nghĩa là làm từ A đến Z. Chẳng biết một đêm cô ngủ mấy tiếng, nhưng trước khi đi dạy học, cô đã đưa bánh tới tất cả các quán ở phố Thái Thịnh, khu lăng Hoàng Cao Khải, khu chợ Láng và không quên: giành cho anh em tôi hai ba chiếc; nhưng cũng có hôm đưa không hết bánh, còn lại cả chục cho chúng tôi.
Ngồi nghỉ khoảng mười lăm phút; đủ để kịp ăn bánh, uống nước. Chú còn tranh thủ rít một hơi thuốc lào cho đỡ thèm.
Trên đường đi về phía tổ cá, chú bảo:
- Bắt được con bố rồi, bắt con mẹ nhanh thôi; còn chưa bắt được con bố thì còn lâu mới bắt được con mẹ. Trong trường hợp bắt được con mẹ trước, thì khó có thể bắt được con bố. Giống cá quả là như vậy!
Vẫn con mồi cũ, chú sửa lại đôi chút cho gọn. Nhấp nhấp mấy cái vào giữa tổ rồng rồng. Con quả mẹ phản ứng ngay, nhưng nó không đớp; chỉ ngậm con mồi, rồi nhả ra ngay. Phải một lúc sau mới thấy chiếc cần câu trong tay chú Biên uốn cong. Con quả đã đóng câu. Chú nhẹ nhàng nhấc lên bờ. Thật là hoàn hảo.

Suốt cả mùa hè năm ấy, nhờ có chú Biên chỉ bảo; tôi đã phát hiện được đến mười chín hai mươi tổ cá ở các ao trong phường Trung Liệt. Ao dài cạnh bể bơi: sáu tổ; ao trước Học viện Thủy lợi: bốn tổ; ao trước Đại học Công đoàn: ba tổ; ao nước chấm Thuận Hưng: năm tổ; ao cạnh cầu sắt, nay là Trạm biến áp Đống Đa: hai tổ. Chú luôn luôn giữ nguyên tắc chia đôi, mỗi người một nửa số cá câu được.
Tôi cũng rút ra được kinh nghiệm tìm tổ cá: Cá quả thường làm tổ dưới bụi cây, giữa các bè rau muống, cách bờ khoảng một vài mét; hoặc những nơi kín đáo, có mạch nước chảy ra.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
  #18  
Cũ 12-07-2010, 00:04
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Đất Nam Hà- Nguyến Hữu Hùng

ĐẤT NAM HÀ

Chú Biên chẳng những giỏi câu cá; cái nghề thợ máy, chú cũng rất giỏi. Mới ra công tác được bảy tám năm, nhưng tay nghề của chú được các bác thợ lớn tuổi khen ngợi. Bác Cường Đầu Bạc, một trong số công nhân có tay nghề cao của nhà máy, đã trên hai mươi lăm năm thâm niên công tác. Nói về chú Biên, Bác nhận xét:
- Thằng cha này khá thật đấy. Chỉ cần nghe tiếng máy chạy là nó đã có thể đoán được máy trục trặc ở chỗ nào rồi. Kinh nghiệm này chỉ có thể có được ở những người thợ bậc cao.
Phải nói chú là người ham đọc sách. Những lúc rỗi rãi, kể cả khi trực ca; chú thường hỏi tôi mượn những sách khoa học thường thức, truyện cổ tích, truyện thiếu nhi mà bố mẹ mua cho chúng tôi. Lúc đầu, tôi cứ nghĩ chú đọc để giết thời gian; nhưng mỗi khi chuyện trò với chú, tôi mới thấy chú có ý thức trao dồi kiến thức: văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật; nên chuyện gì chú cũng biết. Chả vậy mà bọn trẻ con chúng tôi rất thích nghe chú kể truyện cổ tích, truyện danh nhân văn hóa mà chú đọc từ những cuốn sách: “Những vì sao đất nước”. Những nhân vật nổi tiếng trong các truyện giã sử của Trung Quốc, từ thời Xuân Thu-Chiến Quốc đến thời Mãn Thanh, triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc; chú đều nhớ và kể vanh vách. Kể cả những truyện cho trẻ em mà chúng tôi đã đọc như: “Đất rừng Phương Nam”. Nhưng khi nghe chú kể lại đoạn đi câu rắn mòng, chúng tôi cứ tưởng chú là nhân vật trong truyện. Chú bảo:
- Cái giống rắn mòng rất háu ăn. Cứ nhập nhoạng tối là rời tổ đi lùng sục, chẳng cần biết là mồi thật hay mồi giả. Vật gì có mùi tanh là đớp liền. Hồi ở quê, chú bực nhất là nó hay chui vào những cái đó, cái lờ đơm tôm tép, bắt cá của chú. Chén sạch hết tôm cá, bụng phồng căng như khúc dồi lợn, rồi nằm im, mắt lim dim, không hề dẫy dọn. Nghe nói, dân miền Tây (Tây Nam Bộ) nghiện món rắn mòng, luộc chấm mắm tiêu; nhưng ở quê chú, không ai ăn loại rắn này, nên khi bắt gặp, chú tức lắm, đập dập đầu, quăng đi.
Chú đặc biệt tự hào về cái quê hương Bình Lục- Nam Hà của chú. Chú bảo:
- Nam Hà là đất của văn vật; đất của thơ ca. Trống đồng được phát hiện ở làng Ngọc Lũ từ nhưng năm đầu thế kỷ 20, có tới hai ngàn năm tuổi. Những hoa văn trên mặt trống đã từng là các đề tài của biết bao các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước. Mười hai đời vua nhà Trần phát tích từ đất Tức Mặc, ngoại thành Nam Định. Lương Thế Vinh, nhà toán học lỗi lạc đầu tiên của người Việt Nam, sinh ra ở đất Vụ Bản. Lãnh tụ Trường Chinh, người duy nhất hai lần giữ chức Tổng bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam sinh ra ở đất Hành Thiện, phủ Xuân Trường. Nhà thơ Tú Xương được coi là “Cột trụ vàng của nền văn học đất Sơn Nam”, sinh ra tại Vị Xuyên TP Nam Định. Thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, ai mà chẳng thuộc.
Trống đồng Ngọc Lũ đã được ghi vào trong sách lịch sử, thì tôi cũng biết sơ sơ; thơ của Tú Xương, tôi cũng được đọc qua một số bài như “Đất Vị Hoàng” mà ngày nay, hình ảnh của bài thơ vẫn còn đậm nét ở một số gia đình trong phường Trung Liệt. Bài “Sông lấp” với các câu:
- Sông kia rày đã nên đồng,
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai.
- Vẳng nghe tiếng ếch bên tai,
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
Tôi ngỡ là những câu ca dao. Nhưng thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, nghe cứ lạ hoắc.
- Thơ của cụ ấy có hay không chú? Tôi hỏi.
- Hay chứ! Cháu có thuộc các bài Thu vịnh, Thu điếu của cụ không? Có trong sách giao khoa đấy!
- Cháu thuộc làu làu. Nhưng là của nhà thơ Nguyễn Khuyến chứ, chú!
- Đọc cho chú nghe bài “Thu vịnh” xem nào?
Tôi tỏ ra tự tin, đọc một mạch, không sai một từ:
- Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu,
.................................................. .,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.
- Cháu khá lắm. Tên cúng cơm của cụ Nguyễn Khuyến là Thắng. Thời thanh niên, cụ học rất giỏi nhưng một lần đi thi Hội không đỗ. Để thể hiện sự quyết tâm học tập của mình, cụ đổi tên là Khuyến: có nghĩa là cố gắng. Năm 1864, đi thi Hương: cụ đỗ giải Nguyên. Năm 1871, cụ vào kinh đô Huế thi, cụ đậu cả thi Hội, thi Đình. Chính tay vua Tự Đức hồi đó viết tặng cụ hai chữ “Tam Nguyên”. Do đó, người đời thường gọi là cụ “Tam Nguyên Yên Đổ”, nghĩa là cụ Nguyễn Khuyến, người làng Yên Đổ, đỗ đầu ba giải: thi Hương, thi Hội, thi Đình.
Tôi chẳng hiểu chú moi đâu ra những tư liệu ấy, đành hỏi cho ra nhẽ:
- Chú đọc ở sách nào mà chú biết nhiều thế?
- Các cháu không biết là phải. Còn chú, chú phải biết. Chú là người làng Yên Đổ mà.
- Ra là như thế! Tôi thầm nghĩ.
Rồi chú cao hứng:
- Đất Nam Hà, cứ ai tên là “Cao” đều tài giỏi cả. Nam Cao viết truyện ngắn khó ai bì kịp. Quốc ca của Văn Cao, sống mãi trong lòng người dân Việt Nam. Bài thơ “Núi đôi” của Vũ Cao thì đám thanh niên, ai cũng thuộc làu làu. Còn cái nhà anh Phan Cao, đá bóng mới tài chứ; suýt nữa đưa đội Brazin đoạt Cúp vàng. Nói đến đây chú cười lên khùng khục. Còn đám bọn trẻ con chúng tôi thì cứ ngớ người ra.
Long Búa Liềm, được bọn trẻ con chúng tôi coi là thằng có bản lĩnh và can đảm. Mới học lớp 4, nhưng có lần, tức với ba mẹ (bố nó người miền Nam, nó gọi là ba; mẹ nó người miền Bắc, nó gọi là mẹ -phân biệt rõ ràng như vậy); lẳng lặng nó bỏ nhà đi. Lần ấy, ba mẹ nó lo sốt vó; đạp xe đi tìm ở khắp mọi nơi. Khi tìm về nhà ông bà nội ở bãi Phúc Xá, ngoài bờ sông Hồng, đã thấy nó ở lù lù ở đấy rồi. Mọi người vô cùng ngạc nhiên, hỏi bằng cách nào mà nó mò về được nhà ông bà nội; nó thản nhiên trả lời:
- Chẳng phải hỏi ai cả, nếu có hỏi, người ta lại bảo trẻ con trốn nhà đi lang thang, mang vào đồn công an nhốt. Cứ theo đường tàu điện mà đi; từ bến xe điện gò Đống Đa, đi mãi lên phía bờ Hồ; vừa đi vừa ngắm cảnh phố xá; rồi từ ga tàu điện Bờ Hồ, theo đường tàu điện qua phố hàng Đào, hàng Ngang lên chợ Đồng Xuân, là đã về đến bãi Phúc Xá.
Lần này nó tỏ ra hiểu biết thực sự, lên tiếng cãi lại ngay:
- Chú cứ làm như bọn cháu không biết Phalcao là ai ấy. Phalcao là người Brazin, chứ đâu phải là người Nam Hà mà chú vơ vào.
Lúc này chú Biên tỏ ra hơi lúng túng, nhưng chú vẫn nói như có vẻ khẳng định:
- Đất Nam Hà nhà chú có truyền thống đá bóng. Chẳng gì, một thành phố có những hai đội bóng A1: Dệt Nam Định, Thanh niên Nam Hà; từng tranh thứ hạng nhất nhì với các đội Thể Công, Công An, Bưu Điện, Đường Sắt, Xi măng Hải Phòng. Chú đã tìm hiểu kỹ lai lịch ba đời của cầu thủ Phan Cao rồi: Ông nội của Phan Cao là người của đất thành Nam, vốn là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp, đã từng được gọi vào đội tuyển Quốc gia. Ông ấy bị bắt vào lính lê dương, đi đánh nhau ở Angiêri; rồi sang định cư ở Brazin, lấy vợ người gốc Tây Ban Nha. Phan Cao là đời thứ ba của dòng họ Phan ở Brazin.
Chú Bảy Choắt ngồi nghe từ hồi đầu câu chuyện, đến giờ mới lên tiếng:
- Thôi đi bố ơi! Con lạy bố. Phalcao mũi lõ chứ đâu mũi tẹt. Mà phải đọc là Phal- lờ cao chứ đâu đọc Pha-nờ thấp như tiếng Nam Hà nhà bố. Bố chỉ được cái giỏi lừa bọn trẻ con thôi!
Đến lúc này, chú Biên phải thừa nhận trước mặt bọn trẻ con chúng tôi: chú muốn thử sự hiểu biết của chúng tôi về các cầu thủ bóng đá trong đội tuyển Brazin thôi. Nhưng quả thật, lời nhận xét của chú về cái tên “Cao” cũng rất thú vị. Một số nhân tài của tỉnh Nam Hà đều có tên là “Cao” thật: Nhà văn Nam Cao quê ở làng Đại Hoàng, xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân; nhạc sỹ Văn Cao tuy sinh ở Hải Phòng nhưng gốc gác là người làng An Lễ, cùng xã Liên Minh với nhà thơ Vũ Cao, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định cũ.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
hongducanh (12-07-2010), MIG21bis (12-07-2010)
  #19  
Cũ 12-07-2010, 21:00
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng

VÀO NGHỀ

Mùa đông đã đến, cũng là kết thúc một mùa câu. Đi theo chú Biên, tôi võ vẽ biết cầm cần câu, tuy vút chưa được xa, cuộn cước vào bát chưa được gọn; nhưng chú Biên nhận xét: tôi bắt đầu có thể vào nghề câu được.
Chú đèo tôi lên chùa Xã Đàn. Trước cổng chùa có một bụi tre hóp, cây nào cũng thon thả, cao đến bốn năm mét. Thoạt trông thì có vẻ chặt bất cứ cây nào cũng có thể dùng làm cần câu được. Tôi đứng ở ngoài trông xe, chú đi thẳng vào trong chùa. Chẳng biết chú có quen ai trong chùa không? nhưng một lúc sau, tôi thấy tay chú cầm một con dao rựa đi ra. Chú đi đi lại lại quanh bụi hóp ngắm nghía một hồi lâu, rồi mới quyết định chọn một cây gần giữa bụi. Chú bảo:
- Chặt cây ở giữa bụi tuy có khó khăn, nhưng thường là được những cây thẳng và già. Những cây mọc ở rìa, dễ chặt nhưng thường bị cong.
Dưới con mắt của tôi lúc bấy giờ, cây hóp này gốc hơi to, gióng lại ngắn, ngọn hơi nhỏ; trông không được đẹp lắm. Mang dao trả nhà chùa, khi quay trở lại; chú bảo:
- Họ không lấy tiền, chú bỏ vào hòm công đức năm nghìn cho có lộc.
Cây hóp tuy được lựa chọn kỹ, nhưng cũng có một vài đoạn không được thẳng. Mang ra phía vườn sau nhà máy, chú lấy ba cái cọc tre, đóng xuống đất; gài đoạn cong của cây hóp vào chiếc cọc giữa. Lấy giẻ, tẩm dầu ma-zút, đốt lửa hơ vào chỗ đoạn cong. Chú giải thích:
- Hiếm khi tìm được một cần câu hoàn hảo. Cái căn bản nhất là phải tìm được cây hóp già, gốc to, gióng ngắn, ngọn thon vút; còn một vài chỗ khiếm khuyết, cong giữa cần, có thể khắc phục được, bằng cách uốn nó dưói lửa như cách chú đang làm.
Ở chợ Hà Đông, chợ Bưởi và trên Hàng Điếu, người ta cũng bán cần câu, nhưng hầu hết là cần câu trúc. Cần câu trúc tuy dẹp, nhưng giòn, dễ bị gẫy. Họ cũng bán một vài cần câu hóp, nhưng đa phần là hóp bánh tẻ. Làm hàng để bán, trông mã thì đẹp, nhưng chỉ năm sau là bị mọt. Tục ngữ có câu “Tre già là bà gỗ lim”. Do đó, cái thứ cần câu này phải chọn được cây hóp già đanh; chặt vào cuối năm, khi nhựa của nó đã rút xuống hết gốc, mới tránh được mối mọt sau này. Cuối cùng, chú cũng làm cho tôi một chiếc cần câu quả mà mãi sau này, tôi mới nhận thức được hết giá trị của nó: Không chỉ có hình dáng đẹp, khỏe; lại không sợ mối mọt. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn giữ, như là vật kỷ niệm.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (12-07-2010)
  #20  
Cũ 12-07-2010, 21:02
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Vào nghề - Nguyến Hữu Hùng

Ăn tết xong, chú vào chợ Hà Đông, mua tặng tôi bảy mươi mét cước số 2; ba chì câu, ba ròng rọc sứ và một chiếc bát câu gỗ mít, tiện rất công phu.
Chú Biên gọi là bát câu, chứ thực ra nó chẳng có lấy được một đặc điểm nào của cái bát. Đúng ra là một cái vòng gỗ tròn, đường kính tới hai nhăm hai sáu centimet; dày ba bốn centimet, tựa dáng vành xe đạp. Mặt cắt ngang của vành có dạng hình chữ V. Mặt ngoài vành có một rãnh sâu cũng tiện hình chữ V; sâu từ 1-1,5 centimet. Lưỡi câu, chú tự làm lấy. Chú bảo:
- Cước số 1 thì chắc đấy, nhưng to quá, cá dễ nhận ra dây câu; cước số 3 thì hơi nhỏ, dễ bị đứt; cước số 2 là vừa phải. Chú lựa chọn con số bẩy mươi, vì chú cho rằng: 70 là con số đẹp, tuy hơi dài, nhưng sẽ thoải mái cắt đi mỗi lần phải buộc lại lưỡi câu. Lưỡi câu ở chợ họ uốn cũng đẹp và khéo, nhưng do làm hàng, thép không được tốt: dễ bị oãi, nhanh rỉ, mau cùn.
Chú thửa cho tôi một bộ câu quả, gồm ba lưỡi, làm bằng nan hoa xe đạp của loại thép không rỉ. Tranh thủ lúc nghỉ trưa, chú lấy kìm, dũa, cắt ngạnh, uốn trên một cái giá gỗ, có hai đinh đóng so le.
- Chú sáng tạo ra hay chú đã bắt chiếc người ta làm? Tôi hỏi chú:
Không hề tự ái, chú thành thật:
- Lưỡi câu rô, câu trê, đa phần sản xuất hàng loạt, bằng máy; bán đầy ở các quầy hàng xén ở chợ; còn lưỡi câu cá quả, thường sản xuất đơn chiếc. Chất liệu để làm lưỡi câu rất quan trọng, phải chọn được loại thép nhỏ, nhưng cứng và dẻo. Khẩu độ cong ở lưỡi câu cho từng loại cá cũng khác nhau. Người chế tạo ra nó phải có kiến thức về cấu tạo mồm cá. Do đó, khẩu độ cong thế nào là vừa; cong thoải hay cong tròn. Loại lưỡi câu nào thích hợp cho mồm của cả cá bé lẫn cá lớn. Tất cả phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng thợ câu.
Ở quê chú, những thợ câu cá quả đều tự tay chế tạo lấy lưỡi câu. Họ cũng bí mật về hình dạng lưỡi câu; kể cả cách mắc mồi câu. Về cách thức làm lưỡi câu, có lẽ là giống nhau; nhưng về hình dạng lưỡi câu, là khác nhau đấy. Chắc chắn lưỡi câu cá quả ở Hà Nội khác với lưỡi câu cá quả ở Nam Hà. Lưỡi câu và cách mắc mồi câu cá quả ở miền Bắc, chắc khác với miền Trung và miền Nam.
Nửa đùa nửa thật, chú bảo:
- Đây là lưỡi câu quả mác “made in Namha”; giật cá quả ba bốn kilô cũng không oãi được đâu cháu nhá.
Chú còn mua cho tôi một chiếc dũa con ba cạnh, giống như dũa móng tay của chị em phụ nữ. Chú dặn:
- Phải thường xuyên kiểm tra mối buộc cước vào lưỡi câu. Nếu đã bị cắn xơ, phải cắt bỏ đi, buộc nút mới. Lưỡi câu lúc nào cũng phải dũa sắc.
Sau tết ta khoảng một tháng, thời tiết đã trở nên ấm áp. Mưa xuân nhè nhẹ mang sức sống lại cho muôn loài. Cỏ cây trút dần những tấm áo vàng úa. Thay vào đó là những mầm xanh mơn mởn. Từ các bụi cỏ, cúc tần, các vạt rau muống quanh hồ gần nhà tôi; tiếng kêu ro ro của dế; tiếng chuộc chuộc, chạc chạc của loài chẫu chuộc; tiếng cóc, nhái kèng kẹc; tiếng ếch ồm ộp. Tất cả hòa thành một dàn đồng ca, râm ran từ tối cho đến mờ sáng ngày hôm sau. Chú Biên bảo tôi:
- Mùa câu đã đến rồi cháu ạ. Ngày mai chủ nhật, chú cháu ta đi khai trương cần câu mới.
Sau giờ trực ca thứ bẩy, chú rủ tôi đi cùng ra ruộng rau muống cạn, trước cổng Trường đại học Công đoàn bắt mồi. Chú giải thích:
- Mùa đông, ếch nhái gần như nhịn ăn. Chúng ngủ kỹ trong hang hốc rất khó phát hiện. Mùa xuân, bắt đầu mùa sinh sản. Rời hang, chúng tìm đến nơi có nước như hồ ao, hố nước. Đấy cũng là địa điểm lý tưởng để chúng tận hưởng thú vui ngày xuân và cũng là để duy trì nòi giống. Chúng làm tình với nhau suốt đêm, tìm đến những chỗ có nước đẻ trứng; gần sáng mò lên ruộng rau, tìm bắt những con sâu, con bọ ra ăn lá non. Đánh chén no say sau một đêm vui vẻ; lũ nhái đất tìm vào những chỗ kín đáo ẩn náu: như bụi cây, bụi cỏ, làn rau muống; chờ màn đêm buông xuống, chúng lại đi vui vẻ tiếp.
Chú vạch các bụi cỏ quanh bờ ao, ruộng rau muống. Chỉ một loáng, chú đã tóm được hai ba con nhái đất. Tôi cũng bắt chước chú, một tay vạch bụi cỏ, tay kia lăm lăm, sẵn sàng; nhưng không phát hiện được con nào cả. Chú giảng giải cho tôi một lần nữa:
- Tìm vào những bụi cỏ có hốc kín, có những cái hang nông. Nhưng phải cảnh giác. Trong hang, đôi khi cũng bắt gặp rắn hổ mang, rất nguy hiểm.
Quả nhiên, chú ý quan sát; tôi cũng phát hiện và tóm được một con nhái đất, nhưng to quá cỡ. Chú bảo:
- Thôi cũng được! Mùa này không cho phép kén chọn con mồi vừa ý. Sẽ có cách khắc phục khi mắc mồi.
Trên đường về nhà, chú dặn tôi, sáng mai phải dậy sớm, ăn cơm cho no cái bụng mới đủ sức đứng câu.
Học bài xong, tôi tắt đèn đi ngủ; nhưng chẳng hiểu sao, nằm mãi, mắt cứ mở trừng trừng. Tôi nghĩ đến buổi câu ngày mai mà lòng rạo rực, mong trời chóng sáng. Rồi ngủ thiếp đi lúc nào không biết, cho đến khi nghe tiếng mẹ tôi gọi:
- Minh! Dậy đi con. Chú Biên sang rủ con đi câu đấy!
Tôi bật dậy như chiếc lò xo, nhảy vội xuống đất. Cũng chẳng kịp đi dép, tôi ngó đầu ra cửa. Trời đã sáng bạch. Chú Biên đang đứng đợi trước cửa, phì phèo hút thuốc. Chú nhoẻn miệng cười và như hiểu được tâm trạng của tôi lúc này:
- Còn sớm cháu ạ. Ăn sáng cho no, rồi sang chú nhá.
Tôi cảm thấy có lỗi, vì đã để chú phải đợi. Vội vã đi đánh răng, rửa mặt.
Mẹ đốt bếp dầu, rang cho tôi một bát cơm, đập thêm quả trứng gà của nhà nuôi được. Tôi là đứa rất thích ăn cơm rang, trộn nước mắm; nhưng hôm nay không còn có thời gian để vừa ăn, vừa nhâm nhi, thưởng thức cái hương vị đó nữa. Và ào ào, cố để nhét thật đầy những hạt cơm vào miệng; nuốt vội, nuốt vàng, chẳng kịp nhai. Bữa sáng kết thúc chóng vánh. Quên cả uống nước, đội mũ. Tôi rút vội cần câu và túi đựng bát câu, lao ra cổng. Mẹ phải chạy theo, chụp cái mũ giang rộng vành lên đầu tôi.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Thơ của bạn Nguyễn Duy Anh ở trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội Andre Plentinov Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn 53 02-08-2011 00:12
Ngàn năm Thăng Long Geobic Mỹ thuật - Nhiếp ảnh 104 02-08-2010 22:28
Kỉ niệm 1000 năm Thăng Long ,cuộc thi vẽ dành cho bé navydesign Mỹ thuật - Nhiếp ảnh 0 03-07-2010 15:37
Thăm vùng lãnh nguyên Yakutsk trên trực thăng notforsale Mỹ thuật - Nhiếp ảnh 1 14-10-2009 03:11
Nền công nghiệp Việt Nam thăng tiến andrey Các chủ đề khác 0 24-09-2008 09:13


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 04:08.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.