Trở về   Nước Nga trong tôi > Dành cho các bạn > Các chủ đề khác > Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #121  
Cũ 10-07-2010, 10:53
Anh Thư's Avatar
Anh Thư Anh Thư is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2010
Bài viết: 334
Cảm ơn: 7,060
Được cảm ơn 1,456 lần trong 274 bài đăng
Default

Bác Phan ơi!
Em cảm ơn bác đã có nhã ý tặng hạt giống cho em. Bác làm em keng thẻng quá. Căng óc ra phán đoán vì lần trước nếu không nhờ có nhà bác "thong manh" phân tích thì em cứ tưởng cái giếng trong lành thơ mộng nâng niu gót sen ...ai ngờ hóa ra ông hàng xóm. Đến bài này em luận mãi mới ra ...buôn cầy. Ý bác thương em cô quạnh neo đơn, muốn giúp cho em khỏi bị trộm viếng lần nữa? nếu đúng vậy thì cây của bác là giống becgie, fox hay ngao Tây Tạng thế ạ? Háo hức quá đi thôi. hihi
__________________
"Thiếp họ Hoạn tên Anh Thư, vốn đoan trang, hiền thục. Vì chàng không chung tình nên thiếp đành phải cắt, thiếp mà không cắt cho vào máy xay sinh tố, sợ nghìn năm sau người đời sẽ không tin là có Hoạn Thư ..."
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #122  
Cũ 10-07-2010, 11:11
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Trích:
Anh Thư viết Xem bài viết
Đến bài này em luận mãi mới ra ...buôn cầy.
Bác Anh Thư ơi!
Lâu lâu rồi em mới được hầu chuyện riêng với bác.
Em thấy từ ngày vào 3N "trình" tiếu lâm của bác lên "hơi bị" nhanh! Bravo!
Bác nói "gần mực thì ... bia" đi, cho có người nở mũi!
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Anh Thư (10-07-2010)
  #123  
Cũ 10-07-2010, 11:18
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Người thơ một mình góc khuất
BÌNH NGUYÊN TRANG

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Nhà thơ Tuyết Nga, ảnh Phanhoamay

Nhiều lúc ngắm nhìn chị Tuyết Nga tôi tự hỏi, không hiểu chị lấy đâu ra từ sức vóc bé nhỏ của mình một nghị lực phi thường đến thế, để vượt qua những khúc quanh của cuộc đời mình mà điềm nhiên với Thơ như hôm nay để lúc nào gặp cũng thấy chị cười tươi rói, rạng rỡ với bạn bè. Nhưng tôi biết nơi con người chị, rất nhiều nước mắt đã lặn vào trong, đã chưng cất thành một nỗi riêng chẳng ai có thể cảm thấu cho hết được. Chị mạnh mẽ đến độ không khi nào cần nhiều lời bày tỏ... Có chăng thì chỉ những câu thơ mới đủ sức "tố cáo" con người thật của chị, mạnh mẽ đấy mà cũng yếu đuối đến vô cùng, nữ tính đến vô cùng...

Tuyết Nga hình như chưa bao giờ làm một cơn "sang chấn" lớn đối với bạn đọc. Ngay cả khi tập "Ảo giác" của chị được trao giải thưởng Hội Nhà văn thì cũng không gây một cơn bàng hoàng như một số tác giả khác. Giữa thời buổi người ta chuộng những ấn tượng mạnh, những "cú đấm" nghệ thuật gây sốc tức thì, gây ngạc nhiên ngay ở lần đọc đầu tiên thì chị Tuyết Nga lại đang kiên trì một con đường thơ lặng lẽ và lẩn khuất. Những bài thơ của chị bẩm sinh sẵn sàng từ chối những bạn đọc một lần (rất đông trong đời sống vội vã hôm nay). Nó chỉ chọn để ập vào những ai chịu đọc đi đọc lại vài lần, và trong một trạng thái hoàn toàn thảnh thơi, lắng dịu.

Bởi vì như chị nói: "Đa đoan, phá cách không phải là tính cách của tôi. Tôi không làm thơ để chứng tỏ, mà làm thơ là để bày tỏ". Không chủ trương làm mới về hình thức, câu chữ của chị là tiếng nói vọng ra từ sâu thẳm cõi lòng, không định làm rắc rối hay mệt mỏi người đọc. Chỉ đơn giản là chị muốn truyền một thứ xúc cảm của riêng mình. Và những câu thơ tưởng không gì quá đặc biệt lại có khả năng ám ảnh người đọc rất lâu: "Một mùa ta đã quên cúc bất tử ven đường/ một vùng sóng không reo không gầm gào/ biển đứng/ bỏ lang thang ký ức ngủ hiên nhà..." (Hơi ấm)

Số phận đã buộc chị Tuyết Nga phải gánh chịu nhiều thiệt thòi. Nỗi đau mất mẹ ngay từ rất sớm vẫn quặn thắt trong trái tim chị đến giờ: "Ấu thơ gầy guộc buồn còn nép gốc bàng kia". Mẹ, giống như những giấc mơ, từ lâu đã chỉ trở về bên chị trong giấc ngủ, trong những ký ức đã nhòa, đã cũ bởi thời gian. Và mỗi khi trở về thực tại, thì chỉ có trí tưởng tượng như tiếng chim rơi trên cánh đồng làng: "Sót trên đồng tiếng chim Từ quy/ ai qua chiều sậm bóng/ mẹ nhóm rơm vàng/ đợi em" (Quê chồng). Nào đã hết nỗi nhọc nhằn tuổi thơ mà người con gái miền Trung biết làm thơ từ rất sớm phải gánh chịu. Tai họa trên đường còn làm tổn thương đôi bàn chân quá nhiều khát vọng khám phá của chị.
Nhưng dường như ông trời cũng biết điều khi ban cho chị một tình yêu mãnh liệt vào cuộc sống, niềm lạc quan và nghị lực đủ lớn để đối mặt với số phận của mình. Trái tim kiêu hãnh của chị đã mách bảo con đường đi để đến ngày hôm nay với những niềm vui hạnh phúc thường nhật như biết bao nhiêu người phụ nữ khác trên đời.

Trời đã cho chị một khả năng thơ nhưng trời cũng cho chị một bản năng đàn bà mạnh mẽ và chị biết cân bằng những yếu tố đó. Nhớ lại những năm tuổi trẻ, khi chị quyết định lựa chọn người đàn ông mà chị yêu, tràn ngập hạnh phúc trong gia đình với một cô con gái nhỏ, có người bạn họa sĩ khi đến thăm nhà chị đã thốt lên: "Em đã trả cho nghệ thuật một cái giá rẻ mạt vậy sao?". Câu nói ấy ngụ ý rằng, dường như có gì phi lý khi chị đã lựa chọn một đời sống gia đình hạnh phúc mà vẫn muốn những câu thơ hay ở lại bên mình. Nhưng Tuyết Nga chỉ mỉm cười. Có thể đã rất nhiều người nghĩ rằng cần phải hy sinh rất nhiều thứ, ngay cả hạnh phúc riêng tư, để có thể trọn vẹn với nghệ thuật.

Tuyết Nga không phải kiểu người có quan niệm như vậy. Chị nhiều đắm say và cũng đủ tỉnh táo để hiểu rằng, đâu là những chốn nương náu cần thiết cho cuộc đời mình. Chị yêu gia đình và gìn giữ gia đình như báu vật, bởi trước tiên chị là một người đàn bà. Chị nói, chị không thể đánh đổi gia đình lấy bất cứ điều gì. Chị không muốn (và không thể) mang thơ ra để làm vật đối trọng để buộc mình phải lựa chọn. Cho dù, vẻ đẹp của thơ đã vướng vào chị như số phận. Chị thấy rằng, chỉ có một đời sống gia đình mới khiến chị cảm thấy mình đích thực là phụ nữ.

Những người bạn làm thơ cùng thế hệ của chị, rất nhiều người đã chật vật biết bao để tìm kiếm hạnh phúc. Không hiếm người đến chặng cuối của đời mình mới chợt bàng hoàng nhận ra không có gì nhiều để nương tựa: gia đình, những đứa con ngoan, thậm chí cả những câu thơ còn trong trí nhớ. Nhưng với Tuyết Nga, cơ may, hay duyên trời, hay là bẩm sinh chị hiểu được rất rõ sự tương đối của hạnh phúc mà miệt mài bồi đắp, nâng niu.
Rất ít người nhận ra một Tuyết Nga thi sĩ khi nhìn chị tất bật lo toan cho chồng con, cần mẫn với công việc của một viên chức, nghiên cứu và học hỏi không ngừng để đạt tới học vị Tiến sĩ Ngữ văn. Ngoài ra là bận bịu với công việc viết báo cho các tòa soạn. Công việc nào chị cũng rất chu toàn. Chị hoàn thành nhiều công việc để được nhìn thấy thành quả và niềm vui, để được đền đáp. Nhưng cho dù con người thơ của chị Tuyết Nga được giấu kỹ đi thì những thử thách định mệnh dành cho chị vẫn còn nguyên đấy. Dường như cuộc thỏa hiệp với đời sống để được bình an trong thương yêu như chị mong muốn đã không thành. Số phận nghiệt ngã vẫn mang đi người chồng yêu dấu của chị. Để một ngày chị bàng hoàng nhận ra rằng chỉ còn lại một mình với cô con gái nhỏ đang cắp sách tới trường. Những câu thơ vang lên thảng thốt: "Đưa em về mà anh đi đâu/ ngơ ngác từng lối cỏ" (Quê chồng)

Chị đã sống những ngày hoàn toàn rỗng, bởi những mất mát đè nặng. Con gái yêu giờ thành chỗ dựa cho chị. "Ngày tôi nằm mê man, nhìn con cứng cỏi làm điểm tựa cho mình, thấy lòng xót xa. Tôi nghĩ, không phải mình, con mới là mất mát nhiều hơn cả. Và bỗng nhiên tôi thấy mình mạnh mẽ trở lại". Chị kể, ngày anh còn trên đời, đến cả ban đêm vào nhà vệ sinh chị cũng cần anh đứng ngoài. Vậy mà khi nhận ra chỉ còn lại một mình, vì con, chị có thể vượt qua trăm ngàn nỗi sợ. Chị làm mọi việc có thể để lo lắng, bù đắp cho con. Mua được mảnh đất nhỏ từ rất lâu nhưng chưa kịp làm nhà thì anh đi, nay chị quyết tâm hoàn thiện để con có được chỗ học hành cho chu đáo. Hai mẹ con chị vất vả bận bịu bao ngày tháng với gạch, ngói, vôi vữa, cát sỏi. Bạn bè ai cũng mừng khi tới thăm tổ ấm giản dị của mẹ con chị.

Chị Tuyết Nga từng nói: "Thơ tôi là một phần cuộc sống của tôi, cái phần nếu không có thơ sẽ ít ai được biết". Men theo con đường Thơ ấy, tôi nhìn thấy nỗi cô đơn đặc quánh của chị. Và có thể cả những giọt nước mắt âm thầm rơi xuống trong một ngày tháng mười tĩnh lặng hay một đêm mùa đông sâu thẳm và mơ hồ. Những buồn vui đau khổ không thể nào tránh khỏi của kiếp người trôi qua trái tim yếu đuối đàn bà và nhạy cảm thi sĩ đã lắng xuống thành phù sa quyện vào con chữ: "Em ở lại/ cùng tháng Mười ở lại.../ dù vé tàu định mệnh đã cầm tay/ đã bấm khóa nhớ thương đã chốt trong ký ức/ đã trao quà từ biệt, đã ra ga..." (Tháng Mười). Hay trong một quán nhỏ cà phê nào đó, chị ngồi với "nỗi nhớ đeo găng một mình góc khuất" để hồi tưởng những điều đã ra đi và cả những điều đang ở lại trong đời sống của mình.
Tìm gặp Tuyết Nga trong thơ thấy chị giống con người thật của mình ở chỗ không khoa trương, không ồn ào. Nhưng con người thơ của chị lại buồn hơn con người thật ngoài đời rất nhiều. Chỉ có điều những nỗi buồn ấy đã được chưng thành một thứ mật, cô đặc tưởng như rất nhiều cơn địa chấn mới tích tụ đủ. "Em như đá/ từng giọt buông thạch nhũ dưới vòm đêm/ em như đá/ bốn mặt vô tri bốn mặt im lìm" (Như đá).

Tôi tin rằng những câu thơ chỉ có thể đạt đến sự điềm nhiên khiến ta rùng mình như vậy khi trái tim nữ sĩ đã trải qua tận cùng mọi hệ lụy buồn đau, cô độc trên đời. Và không còn nghi ngờ gì nữa, những câu thơ đã trở thành chốn nương náu cho Tuyết Nga. Ở đó chị có thể bày tỏ mình và nhận được sự tri ân của nhiều trái tim, nhiều tấm lòng.
Chị dành những lời trân trọng cho thơ: "Ngẫm lại tôi thấy mình chẳng có gì đáng kể ngoài thơ. Chính là thơ đã cho tôi rất nhiều, có thể nói là tất cả. Thơ cho mình sự yêu quý, lòng ngưỡng mộ của nhiều người. Và các cơ hội trong đời sống cũng từ thơ mà tới". Biết ơn là một thái độ ứng xử của chị đối với Thơ. Dù đời sống hôm nay ở đâu đó người ta bạc bẽo với Thơ chăng nữa, thì Tuyết Nga vẫn bảo toàn niềm tin rằng, trong những thời khắc khó khăn nhất của đời người, chính là những câu thơ đã chia sẻ và cứu rỗi chị.

Câu nói quen thuộc mà Tuyết Nga thường nhắc lại: "Sống đã rồi hãy viết", ngụ ý rằng những con chữ chỉ có thể ám ảnh người đọc khi người sáng tạo ra nó đã trải nghiệm tận cùng những cung bậc sâu sắc của cuộc đời. Chính vì vậy, mà như ở phần đầu đã nói, thơ Tuyết Nga dù không gây sốc nhưng lại có khả năng len lỏi trong trí nhớ người đọc bằng sự tinh tế và đằm sâu của một tâm hồn thành thật, không xiêm áo, cầu kỳ. Thơ của chị giống như hương của một loài hoa, rất khiêm nhường ẩn sâu trong đám lá, cần tri âm của những người đủ bình tĩnh trong cuộc kiếm tìm. Điểm lại, các tập thơ đã xuất bản của Tuyết Nga đều giành được một giải thưởng văn học nào đó, trong đó có những giải thưởng lớn như Giải thưởng Hội Nhà văn, Giải thơ Báo Văn nghệ. Nhưng chưa khi nào Tuyết Nga sử dụng những hào quang ấy để "làm đẹp" cho hình ảnh của mình, giống như một số tác giả ta đang gặp đâu đây trong đời sống văn nghệ. Chị không cần những lấp lánh phù phiếm ấy. Viết, đối với chị, chỉ đơn giản là một nhu cầu. Và tin rằng những giá trị thật sẽ luôn tồn tại, không cần ngợi khen hay xưng tụng. Thái độ ấy đủ để những người trẻ muốn đi lâu dài với văn chương phải suy ngẫm.

Và em đi qua mùa đông
Tuyết Nga

Tình yêu của anh như chiếc kén bọc em qua mùa đông
Vần vũ bên ngoài
Ngọn gió căm căm thổi qua hàng trăm cánh đồng sau mùa vụ
Rơi rớt bên ngoài
Giọt sương hoá lỏng từ triệu triệu những bốc hơi

Bên ngoài
Ảo giác ấm áp từ ngọn nến
Sự mù mờ của ánh ngày
Vẻ thâm u những hoàng hôn thực ra rất trống rỗng.

Tình yêu của anh như chiếc kén bọc em qua mùa đông
Chới với bên ngoài
Niềm khắc khoải của chiếc lá úa
Nỗi âu lo những mầm cây lỡ cược với mùa màng

Bên ngoài
Sự quẫy cựa của đốm nắng
Cảm giác nồng nàn từ đoá cúc quỳ non

Trong thế giới được dành riêng
Trái tim thêm một lần sơ sinh
Em thiêm thiếp bên giấc mơ nghiêng những chiếc lá nõn
Bên tiếng reo con mèo tìm được lối về sau cơn mộng du

Tình yêu của anh
Như chiếc kén bọc em qua mùa đông.


KHÔNG ĐỀ
(Tuyết Nga)

Chim đã bay hút cuối trời xanh
hoa đã rụng tàn trên mặt cỏ
nấm đã mọc ken dày thân gỗ
tổ ong tràn hương nhụy từ lâu.

Giấc ngủ choàng chiếc khăn san đen
lên tất cả đất trời
tất cả
tưởng có thể vùi sâu vào giấc ngủ
trái tim buồn như một trái cây rơi.

Mùa xuân đi qua lặng lẽ không lời
người cũng đã xa như là không có
ta rớt lại giữa bời bời lá cỏ
với giọt sương thừa thãi của mùa xuân.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Tuyết Nga cười ngặt nghẽo với nhà thơ Bùi Minh Quốc

(Ảnh lấy từ nguồn Nguyễn Trọng Tạo blog)
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (10-07-2010), rung_bach_duong (10-07-2010)
  #124  
Cũ 10-07-2010, 18:54
rung_bach_duong's Avatar
rung_bach_duong rung_bach_duong is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hanoi, Vietnam
Bài viết: 1,111
Cảm ơn: 2,375
Được cảm ơn 3,101 lần trong 797 bài đăng
Default

Em chưa bao giờ có cơ hội được gặp chị Tuyết Nga nhưng em cũng đã từng đọc thơ của chị. Em rất thích thơ của chị, nó nhẹ nhàng, đằm thắm, hao buồn mà vẫn sắc. Đọc bài của bác Phan về chị, thật kính phục.
__________________
Con dù lớn vẫn là con của mẹ
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #125  
Cũ 11-07-2010, 08:39
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Trích:
rung_bach_duong viết Xem bài viết
Em chưa bao giờ có cơ hội được gặp chị Tuyết Nga nhưng em cũng đã từng đọc thơ của chị. Em rất thích thơ của chị, nó nhẹ nhàng, đằm thắm, hao buồn mà vẫn sắc. Đọc bài của bác Phan về chị, thật kính phục.
Gửi em Rừng!

Bài này của tác giả Bình Nguyên Trang. Anh cũng có viết một bài, sẽ post lên ngay dườí đây.

Tuyết Nga là người tinh tế nhưng giản dị, rất quý bạn.

Trong suốt thời gian tôi biết Tuyết Nga, tôi chưa một lần nào nghe thấy chị chê thơ của ai, càng không dám chê các nhà thơ tiền bối nổi tiếng. (Một vài "nhà thơ" tuy không dám vỗ ngực tự kiêu, vẫn dùng ngón võ "em không thích thơ Tố Hữu, em không ưa thơ Nguyễn Du..." để tỏ ra ta tài giỏi!)

Tuyết Nga làm thơ không nhiều. Tập thơ đầu tay của chị có 17 bài. Chị không "sản xuất" thơ, không chạy theo số lượng.

Thôi, xin để bài viết của tôi nói tiếp!

Tuyết Nga - Mười thương...
(Phan Chí Thắng - Tuesday, 24th March 2009)


Tập thơ "Hạt dẻ thứ tư" chỉ có hai mươi chín bài, tôi có nó trong tay đã mấy lần hai mươi chín ngày mà hôm nay mới dám cầm bút viết về tập thơ xinh xắn nhẹ nhàng mà nặng trĩu suy tư này.

Định viết về thơ Tuyết Nga, không hiểu vì sao trong tôi vang lên làn điệu dân ca Huế, một trong số mấy bài "Mười thương" trong kho tàng dân ca Việt Nam.


LÝ MƯỜI THƯƠNG
(Dân ca Huế)
Một thương tóc xõa ngang vai,
Hai thương đi đứng, vẻ người đoan trang
Ba thương ăn nói có duyên,
Bốn thương mơ mộng mắt huyền thêm xinh
Năm thương dáng điệu thanh thanh
Sáu thương nón Huế nửa vành nên thơ,
Bảy thương những cuộc mong chờ
Tám thương thơ thẩn bên bờ Hương Giang,
Chín thương bến Ngự sang ngang
Mười thương tà aó dịu dàng gió bay


Một thương tóc xõa ngang vai

Tại sao tóc xoã ngang vai là cái phải thương đầu tiên? Vì sao tóc xoã ngang vai lại là tiêu chuẩn hàng đầu để được thương trong quan niệm của người xưa? Tôi không cắt nghĩa được điều này.

Lần đầu tiên gặp Tuyết Nga, tôi - một người ít quen biết các nhà thơ - được Hoàng Cát thì thầm: "Con bé này làm thơ hay, tính tình dễ thương". Nguyễn Trọng Tạo nói ngắn gọn theo phong cách của anh, cấm cãi: "Tuyết Nga làm thơ giỏi lắm". Thế mà tôi lại gặp một "cô bé" tóc xoã ngang vai, đôi mắt đẹp, dẫu rất buồn nhưng trong sáng, rất ít nói, cười và lắng nghe là chính. Sau tiệc rượu, Tuyết Nga, cô em út, lặng lẽ rửa hết một chồng bát đĩa nồi niêu, còn đám ông anh tiếp tục ngồi bàn chuyện thơ phú.

Nhìn bề ngoài, khó ai có thể nói Tuyết Nga là người viết những câu thơ với những biên độ lớn của tư duy và cảm xúc.

Một thời gian rất lâu tôi mới gặp lại Tuyết Nga, nàng thật thà nói ra ấn tượng tôi đã gây cho người mới gặp lần đầu: mặt khó đăm đăm!

Cái người mặt khó đăm đăm ấy đang viết về thơ và nhà thơ Tuyết Nga - người đàn bà tóc xoã ngang vai.

Hai thương thật là đoan trang

Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã viết "Bạn văn 18" rất hay, nói rõ về cô bạn văn - em gái đoan trang Tuyết Nga. Ta rất khó tìm ra những câu thơ, bài thơ Tuyết Nga viết về sự đoan trang. Người đoan trang đâu có nhu cầu khẳng định sự đoan trang của mình?

Chất đoan trang trong thơ Tuyết Nga nằm ở sau những câu thơ, ở cách nhà thơ nữ nhìn nhận và tìm về tình yêu.

Tôi đã học con đò cách đi qua những năm tháng long đong học bến nước mùa sông khô cách nhận ra vóc dáng niềm chung thuỷ. Cọng cỏ cuối bãi bồi dạy tôi biết nhặt lên niềm hy vọng, biết nói thầm lời nói yêu anh. (Nếu những dòng sông chết)

Tôi có cảm giác Tuyết Nga không biết ghét ai bao giờ, có vẻ như nhà thơ tìm được một điểm có độ cao, từ đó chị chỉ nhìn thấy những hình khối lớn, bỏ qua những chi tiết vụn vặt của mỗi người, mỗi sự kiện.

Khi ai đó nhắc về một khuyết điểm, một hành vi chưa hay lắm của một người nào đó, Tuyết Nga thường thốt lên: "Thương anh ấy quá" hay "Thương con bé quá". Chỉ thương cho người có lỗi, Tuyết Nga không biết giận. Trong thơ chị ta không tìm thấy chữ giận, không tìm thấy một chút xíu sự oán trách.

Ta chỉ thấy sự bao dung và tinh cảm chân thành. Với cái người đàn ông đã có ly cà phê uống cùng người khác, có lời hẹn cùng người khác, nhà thơ đã xếp tất cả vào ngày hôm qua, để rồi ghi nhận cái đáng nhớ nhất:

Còn mãi trên tay khói sương phù điêu mùa thu hoang lạnh
miền anh nhớ em.
(Sắp đặt)

Ba thương ăn nói có duyên


Trong đám đông, Tuyết Nga thường ít nói, chị là một chuyên gia cười trừ, nụ cười luôn rạng rỡ trên khuôn mặt đượm buồn. Chị thích lắng nghe, biết cách bí mật dẫn dắt câu chuyện. Nhưng khi đã nói, chị dùng từ chính xác, đi thẳng vào vấn đề, và lại... cười!

Cái duyên dáng trong thơ Tuyết Nga không nằm ở ngôn từ, vần điệu. Nó ở cách chị nhìn cuộc đời, nhìn vạn vật:

Nắng thia lia trên những vòm lộc biếc
Hoa oải hương dịu dàng ngước lên cuối chiều...
(Hạt dẻ thứ tư)

Thơ Tuyết Nga không nũng nịu, hơn dỗi, yêu đương khốc liệt. Có thể nói trong số các nhà thơ nữ Việt nam hiện đại, Tuyết Nga ít làm thơ tình nhất, theo nghĩa thông thường của hai chữ thơ tình, song tình yêu không vắng mặt trong bất kỳ bài thơ nào của Hạt dẻ thứ tư, thậm chí nó là đề tài chủ đạo của tập thơ.

Bốn thương mơ mộng mắt huyền


Nhà thơ Tuyết Nga chưa bao giờ ngừng mơ mộng. Ngoài đời, cặp mắt chị đúng là ảo huyền mơ mộng. Hình như mơ mộng là nét xuyên suốt thơ Tuyết Nga:

Sau chập chờn những giấc mơ....
Có còn cho em hạt dẻ thứ tư?
(Hạt dẻ thứ tư)

Trong bài Quê chồng, Tuyết Nga đã có một giấc mơ kỳ lạ, mơ giữa ban ngày, mơ điều không thể có được nữa: mơ về người chồng

anh đã người nghìn năm nữa (Như đá)

Một thứ mơ mộng giai dẳng và mãnh liệt:

Đưa em về mà anh đi đâu?
ngơ ngác từng lối cỏ
dắt con lần về ngõ
sà vào tiếng của mẹ già
(Quê chồng)

Nhân vật người chồng ẩn sau bài thơ. Nhà thơ đang kể chuyện, đang nói với chồng đã khuất chuyện quê chuyện nhà, chuyện mẹ chuyện chị... Đưa em về mà anh đi đâu? Câu hỏi nhói lòng người đọc, nó cho ta cảm nhận được cái mộng mơ siêu thực mà rất thực của Tuyết Nga.

Tuyết Nga cũng mơ mộng về một người đàn ông - hình tượng nào đó:

Anh đến từ xa thẳm
một mùa ta đã quên cúc bất tử ven đường
một vùng sóng không reo không gầm gào
biển đứng...
(Hơi ấm)

Mơ về một hơi ấm. Niềm mơ của bất kỳ một người đàn bà nào.

Năm thương dáng điệu thanh thanh

Tuyết Nga làm thơ không giống như người đầu bếp dọn ra những món ăn ngon, bắt mắt bắt mũi, mới nhìn đã thấy thích.

Tuyết Nga không có (theo tôi) những bài thơ mà mới đọc lần đầu người ta đã muốn học thuộc lòng. Thơ Tuyết Nga là loại thơ phải đọc đi đọc lại nhiều lần, mỗi lần ta lại tìm thấy thêm một cái gì đó, như phải cố gắng bóc dần nhiều lớp vỏ bọc để được chiêm ngưỡng một món quà quý giá ẩn sâu bên trong.

Có vẻ như bị khó chịu khi phải chọn từ theo vần, nhà thơ viết như thấy cần phải viết ra như thế, chứ không phải để chiều lòng người đọc. Lời bạt "9 mô-đun kiểu Điềm Phùng Thị, em phía ngoài không gian" cho ta thấy tác giả có ý thức về không gian Thơ - Hội hoạ - Điêu khắc của mình. Và cũng giải thích vì sao Tuyết Nga có nhiều bạn thân là các họa sỹ, nhà điêu khắc.

Những câu thơ không vần, chỉ cần hình ảnh và âm thanh:

Người đàn bà không có gương mặt
bóng to trùm hết đêm
cất tiếng gọi hoang dã
biến ta thành Lọ lem trốn dưới gầm bàn.
(Nước mắt Lọ Lem)

Bên cạnh

Khát vọng thiên di biệt xứ
mùa thu cầm tù đường chân trời

Những lối mòn tận lực
nhưng không thể, trong ú tim trên cánh đồng hoa vàng


...

Ai hát một điệu tình du mục
đâu đó

Tóc thề vừa buông lặng
hắt sáng lên chới với những đóa vàng
. (Ấn tượng Van Gogh)

Là một bức tranh nhiều hơn là một bài thơ?

Cái thanh thanh, cái thanh thoát trong thơ Tuyết Nga là ở chỗ nó luôn không đại ngôn, nhà thơ không gồng mình lên để gào thét về nỗi đau thân phận, nỗi đau đời người, nhất là đời một người thơ tài hoa luôn phải kèm theo cô đơn.

Sáu thương nón Huế nửa vành

Tôi thán phục hai chữ "nửa vành" của tác giả vô danh đã viết nên bài Lý mười thương này.
Sự không trọn vẹn, nỗi cô đơn, kiếp độc hành trong thơ Tuyết Nga khác hẳn sự cô đơn tuyệt vọng trong Hàn Mạc Tử, bậc thi nhân đàn anh mà chắc chắn Tuyết Nga rất ngưỡng mộ.

Nhà thơ cô đơn:

Không ai đưa về dưới mưa người đi con đường trắng xoá
có gì thừa trong lặng lẽ
phút ngày ngã xuống lênh đênh
(Trong mưa)

Vì cô đơn nên:

Tìm trong bóng mây tìm nơi sóng cây tóc xanh mơ ngủ
tìm trong lòng ai tìm nơi khói sương những lời đã ngỏ
mùa nồng nàn.
(Mùa nồng nàn)

Bài Mùa nồng nàn gợi nhớ ca từ và giai điệu nhạc Trịnh Công Sơn.
Rất nhiều khi nhà thơ thấy mình "Một mình ta rơi tự do".

Bất lực. Chấp nhận số phận, tung những đồng xu cầu may (Đồng lucky) bởi ngày tự đắm rồi mình trơ cạn (Trên con đường mùa đông), nhà thơ vẫn... nhẫn nại gieo hy vọng trái mùa (Trên con đường mùa đông), dẫu biết Rồi đông cũng xanh rồi mây cũng xa rồi xuân cũng qua... (Mùa dỗ dành) nhưng cuối cùng nhà thơ vẫn thấy:
bên ngoài ô cửa sổ mắt lá rưng rưng
bên ngoài khung cửa sổ mặt trời vừa ngẩng lên

...
Kìa cỏ rất non... kìa biển rất trong...
(Tự khúc)

Đời vẫn xanh vời vợi. Trong biển cả cay đắng, trong nỗi cô đơn của người thường và con người nghệ thuật, Tuyết Nga vẫn thấy cuộc đời này là non và trong. Nếu Tuyết Nga dừng lại ở chỗ gặm nhắm, thậm chí kiêu hãnh về nỗi cô đơn của mình, ta đã không mừng đến vậy?

Bảy thương những cuộc mong chờ

Thơ Tuyết Nga là thơ của những cuộc mong chờ.

Như diều buông dây hư không biền biệt ta trôi tới nơi khói sương huyền mặc
ta lạc tận miền trăng nguyệt thực
lang lang thang lang lang

mang trong mình di chỉ của quê hương
(Di chỉ)

Đã mang di chỉ của quê hương thì phải mang tiếp di chỉ đi tiếp?
Người lang thang đi tìm cái mà người đó chờ đợi. Mong đợi đến hoá đá như người đàn bà vọng phu, Tuyết Nga cũng Như đá, chỉ mới "như" thôi, may quá. Như đá bởi mong đợi thắt mình dấu trong ban mai từng ẩn ức cô tròn cuội sỏi... bốn mặt vô tri bốn mặt im lìm (Như đá)

Câu hỏi

Có còn cho em hạt dẻ thứ tư?

Là một ước nguyện, một mong chờ. Tôi hình dung chú sóc nhỏ với cặp mắt tròn xoe đang nhảy nhót trên cành, và cuối cùng có được hạt dẻ của mình, nó dùng hai chân trước cầm lên, sung sướng...

Hy vọng rồi thất vọng, nàng Lọ Lem của chúng ta có một lần duy nhất giận dỗi, nhưng là giận với Bụt với Tiên:

Đi đi...
cả Bụt
Cả Tiên
(Nước mắt Lọ lem)


không tin đàn chim có thể nhặt cho cho ta những ngày hạnh phúc. (Nước mắt Lọ lem)

Nhưng nhà thơ vẫn lại tiếp tục mong ước:

Đừng nói với tôi rằng dòng sông đã chết! (Nếu những dòng sông chết!)

Tám thương thơ thẩn bên bờ Hương Giang


Trong tập "Hạt dẻ thứ tư", Tuyết Nga chỉ hai lần nhắc đến sông. Một lần là nhắc đến giòng sông quê hương

Dốc tận đáy lòng mà ngày tới biển sông Lam lửng lơ khép buồm thiêm thiếp
di chỉ vào ta Nỗi Buồn
Tựa Nước
(Di chỉ)

và nguyên một bài Nếu những dòng sông chết.

Dòng sông là hình ảnh gắn liền với sự sống, sự sinh tồn. Nó còn là hình ảnh quê hương, tuổi ấu thơ... Nhiều nhà thơ, nhạc sỹ viết về dòng sông.

Tuyết Nga không viết về con sông cụ thể, con sông trong bài thơ này không có tên, nó là chính cuộc đời:

Thượng nguồn bỏ ngỏ hồn ai mới đong, mắt ai còn đang neo chiều sóng sánh, quá khứ lội sông tìm quanh câu hát... người vừa níu được bóng mình dạt trôi. Đừng nói với tôi rằng sông đang chết.

Mượn hình ảnh dòng sông để nói về giòng đời, để chiêm nghiệm cuộc sống.

Chín thương Bến Ngự sang ngang

Tất nhiên là Tuyết Nga không ở Huế, không đi đò sang Bến Ngự.

Cuộc sang ngang ở Tuyết Nga là một cuộc di chuyển trong thơ Việt nam. Khó có thể nói chị là người tiên phong mở đường, chỉ biết chị là người kiên trì đổi mới thơ.

Thơ nằm trong đền thờ thiêng liêng của Nghệ thuật, nơi Thơ giao hòa cùng Nhạc và Hoạ.

Thơ là Triết lý được trình bày bằng ngôn ngữ thơ.

Có thể nói rằng, khi làm thơ, Tuyết Nga suy nghĩ bằng con tim và cảm xúc bằng trí tuệ:

Ngôi nhà miền đẹp trời một ngày
có Người
nồng nàn thơm men chai rượu vừa bật nắp
nước và lửa và mèo con ríu rít
tiếng nói cười mùi oải hương chen nhau
nhưng... trái tim đang đập ở đâu?
(Hạt dẻ thứ tư)

Nhà thơ với thân mình mảnh dẻ, nụ cười dịu dàng biết giật mình khi Rừng U Minh cháy:

Cổ thụ một ngày chết như trẻ thơ...

Nhà thơ không chỉ bó mình trong tâm cảm riêng của một con người, nhà thơ giải thoát được mình khi cảm nhận, chia sẽ được những nỗi đau nhân quần.

Mười thương tà aó dịu dàng gió bay

Các cụ tài thật, khéo léo thật. Cái thương đầu tiên là thương tóc xoã ngang vai, cái thương cuối cùng là tà áo gió bay - những thứ hoàn toàn chỉ là bề ngoài gắn bó lỏng lẻo với mỹ nhân. Đó cũng là một cách nói.

Thơ Tuyết Nga đầy triết lý, nhiều suy tư. Song mọi triết lý suy tư ấy, mọi câu thơ thoạt nhìn tưởng như là trúc trắc ấy, là của một người phụ nữ dịu dàng đôn hậu.

Ít ai như Tuyết Nga rất thèm làm cơm mời các anh cách chị đến nhà, ít ai như Tuyết Nga dám giận một người bạn khác khi người bạn này chậm đưa Tuyết Nga đến thăm một ông bạn kia đang rất cần đến thăm.

Viết về thơ Tuyết Nga là một thách thức rất lớn. Tôi viết những gì tôi cảm, tôi nhận được từ Hạt dẻ thứ tư. Có thể đó chỉ là một phần hiểu và biết, từ một góc nhìn còn hẹp. Cái đáng nói của thơ Tuyết Nga là ở chỗ đó: không ai dám nhận là mình đã hiểu được khoảng 60% thơ của chị!

Cuối cùng, để nói về tập thơ Hạt dẻ thứ tư của nhà thơ Tuyết Nga, tôi muốn dừng lại ở bài Bup bê Baby, mặc dù khó chọn bài nào là bài hay nhất trong cả tập thơ vì bài nào cũng đều là "hàng khủng".

Bé Búp bê xinh đẹp, chỉ là một món đồ chơi mỹ miều, rực rỡ phấn son, được nhiều người nâng niu chiều chuộng vì nó có:
cái nhìn thuỷ tinh dẫn lối nụ cười xoã tuổi hai mươi em đi sóng sánh
thánh thót
những lời cài đặt trước.


Nhưng dù sao em vẫn không phải là con người như ta với những khổ đau, sướng vui:

Em chẳng thể nào ngồi xuống bên người sớt lại hoang vu dỗ yên cay đắng
em chả thể như ta mặc mùa hoá đá
Trái tim như bếp lửa cuối ngày.


Lập luận như thế là đủ cho người đọc phân biệt được cái chân với cái giả.

Nhưng nếu chỉ có thế thì đã không phải là Tuyết Nga. Nhà thơ nữ của chúng ta đã sẵn sàng chia sẻ niềm vui sống với bé Búp bê:
Ta lặng lẽ về ngồi với cỏ cây chia thêm cho em những ngày lắng gió
và chính chị đã cảm ơn bé Búp bê:

không em
làm sao ta hiểu hết
hạnh phúc ta da thịt của đời thường.


Ở khổ thơ cuối, bài thơ bùng lên ngọn lửa yêu thương nơi con tim khổ đau mà vẫn nhân hậu.

Xin cảm ơn nhà thơ, chúc nhà thơ còn tiếp tục sáng tạo và cống hiến cho thi ca Việt nam nhiều hơn nữa!
__________________

Ký cả hai tay!

Thay đổi nội dung bởi: Phanhoamay, 11-07-2010 thời gian gửi bài 08:41
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (11-07-2010), Hoa May (12-07-2010), Siren (11-07-2010)
  #126  
Cũ 11-07-2010, 22:06
Huonghongvang's Avatar
Huonghongvang Huonghongvang is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Jul 2008
Bài viết: 504
Cảm ơn: 1,518
Được cảm ơn 2,682 lần trong 465 bài đăng
Default

Trích:
Anh Thư viết Xem bài viết
Bác Phan ơi!
Có phải là bác Trần Ninh Hồ có 4 câu thơ đề dưới tranh con cá chép trông trăng như thế này không (em chỉ nhớ được 3 câu):

...Cá quẫy sóng cho tan rồi lắng lại
Để hiện giữa rong rêu chói lói
Một vầng trăng cho cá suốt đời tìm.

... và cứ thương mãi mỗi lần...xơi cá chép
Anh Thư ơi!
Thơ đề tranh cá:
“Vầng trăng rất thật kia cũng mới chỉ vầng trăng
Cá quẫy sóng cho tan rồi lắng lại
Để hiện giữa rong rêu chói lói
Một vầng trăng cho cá suốt đời tìm”.
là của Nhà thơ – Họa sỹ Hoàng Hữu tên thật là Nguyễn Hữu Dũng (1945-1981) quê Hải Phòng công tác tại Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phú. AT tham khảo tại link này nhé
http://www.nguoibanduong.net/index.p...ticle&sid=4760
__________________
Một người đẹp là phải đẹp cả bộ mặt, cả áo quần, cả tâm hồn, cả ý nghĩ - Tsekhov
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Anh Thư (11-07-2010)
  #127  
Cũ 11-07-2010, 22:58
Anh Thư's Avatar
Anh Thư Anh Thư is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2010
Bài viết: 334
Cảm ơn: 7,060
Được cảm ơn 1,456 lần trong 274 bài đăng
Default

Em cảm ơn bác Huonghongvang!

Em vừa đọc bài về nhà thơ Hoàng Hữu xong. Thật lạ quá đi mất, em có biết rõ bác Dũng và em rất nhớ bài thơ "Hai nửa vầng trăng" của bác ấy vì hồi nhỏ em có đi học thêm hội họa ở trường Mỹ thuật (Yết Kiêu) là học trò của thầy Trần Lưu Hậu, cô Lệ Dung, thầy Trang...,học đàn và thanh nhạc ở nhà bác Đoàn Chuẩn ở Cao Bá Quát

Vậy mà không hiểu tại sao bao nhiêu năm ròng em vẫn cứ đinh ninh bài "Thơ đề tranh cá" là của bác Trần Ninh Hồ? Bởi vì em chẳng biết bài thơ nào khác của bác T.N.H cả.

Quả là em dốt thật, con gái trong gia đình chúng em đều được "đào tạo" cầm, kỳ, thi, họa từ tấm bé nhưng riêng mình em chữ thầy trả thầy hết. Cho nên số không được làm quý phu nhân. Và quá nửa đời phiêu bạt em vẫn lọ mọ đi công trường ủi đất, làm cầu ...

Em bắt đền bác Phan đó.
__________________
"Thiếp họ Hoạn tên Anh Thư, vốn đoan trang, hiền thục. Vì chàng không chung tình nên thiếp đành phải cắt, thiếp mà không cắt cho vào máy xay sinh tố, sợ nghìn năm sau người đời sẽ không tin là có Hoạn Thư ..."
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #128  
Cũ 12-07-2010, 09:29
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Trích:
Em bắt đền bác Phan đó.
Tôi xin kể về vài trường hợp nhớ và quên rất đặc biệt.

Nhà thơ, nhạc sỹ tài hoa Nguuyễn Trọng Tạo có trí nhớ tuyệt vời. Ông nhớ hết, không quên điều gì, kể cả khi đã uống dăm bảy tuần rượu. Ông nhớ tên bất kỳ ai ông từng gặp, nhớ cả sinh nhật của họ. Ông thuộc lòng thơ mình và cả nhiều thơ người khác nữa.
Ngược lại, nhà thơ Lưu Trọng Lư nổi tiếng về sự không nhớ của mình. Ông không thuộc bài thơ nào do chính mình viết ra. Cha tôi kể có lần chứng kiến ông hỏi đứa con chạy vào xin tiền: "Mày là thằng nào, là A, B hay là C"!

Con người có khoảng 100 tỷ nơ ron thần kinh. Thường mỗi ngày chết bớt đi 5.000 cái. Người bình thường sử dụng tối đa đến 3 tỷ, thiên tài như Lê nin thì phát huy được khoảng 4 tỷ nơ ron thần kinh.

Nói về sự nhớ và quên thì tôi, một anh vô danh tiểu tốt, cũng có những điểm đặc biệt. Tôi không thể nhớ nổi một số điện thoại. Hồi nhỏ tôi ghét nhất là bài học thuộc lòng. Tôi cũng không hay nhớ tên những người quen.
Ngược lại, tôi nhớ mặt người rất tốt, và đặc biệt tôi rất nhớ các sự kiện và các diễn biến của nó.
Ví dụ, tuy mới gặp Anh Thư có một lần nhưng 10 năm sau tôi có thể vẫn nhớ lần đó trông AT như thế nào, hai người gặp nhau ở đâu, đã nói những chuyện gì v.v.

Ngày nay chúng ta có thêm "bộ nhớ ngoài" là Google và các công cụ tìm kiếm khác. Chỉ cần copy đoạn thơ, nhờ bác Google tìm hộ, là trong vòng chưa đầy 1 giây, ta có ngay tên bài thơ có đoạn thơ đó và đương nhiên là có cả tên tác giả. Vì thế nhiều người trở nên "lười nhớ" hơn.

Anh Thư bắt đền. Vậy hôm nào AT ra Hà Nội, xin mời một chầu cafe nhé?

Để thử trí nhớ, tôi xin ra câu đố: Hai câu thơ sau của tác giả nào?

Anh yêu em, em yêu người khác
Em bắt đền anh, anh đền ai?

__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (25-07-2010)
  #129  
Cũ 16-07-2010, 11:19
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Với nhà thơ Hoàng Cát

Tên thật: Hoàng Cát
Sinh năm: 1942
Bút danh: Hoàng Cát, Hoàng Phúc Chỉ
Nơi sinh: Nam Đàn - Nghệ An

Tôi xin giới thiệu một bài thơ của Hoàng Cát.

Nguyên vẹn

Em vẫn đẹp như thuở nào xa lắc
Thời vô tư giã biệt phố phường
Mặc áo lính hồn nhiên ra trận
Hát cho đạn bom không tàn lụi được Trường Sơn

Ôi cái thuở trong veo bích ngọc ấy
Vẫn còn đây, đằm thắm ánh mắt em
Vẫn còn đây, ấm nồng giọng nói
Nháo nhác cuộc đời, không biến dạng trái tim

Rồi có thể sẽ thị trường thương mại
Cả người ốm đau, cả trẻ nhỏ đến trường
Nhưng không thể trở thành hàng hoá
Những tâm hồn trinh bạch như em

Ta giữ lại cho nhau, cho con cái
Cái thuở ta yêu, không đắm đuối tiền tài
Ta yêu nhau, với bao điều run rẩy
sưởi ấm cho nhau, năm tháng rộng dài

Em ơi em! Dù cuộc đời ấm lạnh
Dù thời gian làm rụng tóc, đổi màu
Thì trong anh: em vẫn là nguyên vẹn
Như buổi nào ta bỡ ngỡ gặp nhau…

Và một bài thơ mộc mạc tôi viết tặng Hoàng Cát:

Bàn chân khuất

(kính tặng nhà thơ Hoàng Cát)

Dáng anh đi ngang tàng
Chạy xe dream xé gió
Mắt dễ dàng rực lửa
Thương một câu thơ hay

Vào nhà Tạo, cởi giày
Chân anh còn có một
Tôi gịât mình thảng thốt
Chân giả dựng góc nhà

Đúng hôm tôi bên Nga
Nghe giảng cơ lượng tử
Thì anh trong đạn lửa
Tặng bàn chân quê tôi

Người giục thơ sinh sôi
Người cho đời tinh tuý
Mấy mươi năm, chiến sỹ
Vững trên một bàn chân

Cho tôi đến gần anh
Nghiêng mình trước đầu bạc
Chiêm ngưỡng bàn chân khuất
Đẹp hơn cả câu thơ!


Năm ngoái, nhà thơ Trần Quang Đạo, Tổng biên tập Báo Nhi đồng, mời tôi và anh Hoàng Cát vào Lệ Thuỷ, Quảng Bình thăm quê hương Trần Quang Đạo và cũng là quê của nhiều nhà thơ nổi tiếng khác như Lâm Thị Mỹ Dạ...

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Nhân chuyến đó, chúng tôi vào Quảng Trị đến thăm khu Tưởng niệm cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (19-07-2010), ngocbaoruss (19-07-2010), USY (30-07-2010)
  #130  
Cũ 19-07-2010, 11:57
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Cơn bão số 1
(7/7/2007)

Anh đi công tác Quảng Ninh
Đài đưa tin chiều nay có bão
Ba giờ chiều điện thoại anh lạo xạo:
- Bão đã về tới đó chưa anh?

Biển mông mênh và trời chông chênh
Gió cùng nước thi nhau chà xát
Năng lượng điên cuồng cỏ cây tan tác
Anh ẩn mình trong tin nhắn của em

Trên đường về, mưa kín màn đêm
Hà nội giờ này vẫn còn thao thức
Bấm điện thoại, gửi qua khuya khoắt:
- Bão đã về tới đó chưa em?
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (19-07-2010), Мужик (19-07-2010), ngocbaoruss (19-07-2010), ninh (19-07-2010), USY (30-07-2010)
  #131  
Cũ 20-07-2010, 23:00
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Hà nội và tôi
(28 Nov, 2007)

Tôi, thằng bé nhà quê mười tuổi
Ra Thủ đô đã năm mươi năm
Dần dần chuyển nói giọng Hà nội
Vẫn không quên cái vũng trâu đằm

Từng ngơ ngác chạy theo tàu điện
Chùa Một Cột giống cái chuồng cu
Hồ Gươm xanh như trời dọn đến
Đôi guốc mòn vẹt phố Nguyễn Du

Tôi đã đi nhiều rừng nhiều biển
Nhiều con sông, đất nước, con người
Mỗi lần xa, một lần hò hẹn
Ta lại về, Hà nội mến yêu ơi

Hà nội nay – ngày mai phố cổ
Tre nông thôn mọc khắp phố phường:
Những ngôi nhà gầy cao lố nhố
Nhức mắt nhìn, vừa giận vừa thương

Phố chả phố, chợ không ra chợ
Nút ngã tư ám khói mắt em
Vẫn đen sạm đôi tay người thợ
Nhói xuyên lòng ôi tiếng rao đêm

Ở đâu những linh hồn Hoàng Diệu
Những chàng trai quyết tử Đồng Xuân
Cô gái Ngọc Hà hoa đào dịu
Chuông chùa Trấn Quốc vẫn còn ngân?

Tôi đã không còn trai trẻ nữa
Hà nội tôi vút đã ngàn năm
Lòng thẹn những gì lòng đã hứa
Làm trai chưa hết vũng trâu đằm
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (25-07-2010), FORYTCHIA (10-08-2010), htienkenzo (25-10-2010), rung_bach_duong (02-08-2010), USY (30-07-2010)
  #132  
Cũ 29-07-2010, 07:58
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Chuộc lại nỗi buồn

Em giấu nỗi buồn của tôi nơi đâu,
Tài sản cuối cùng,
hành trang duy nhất?

Tôi xin chuộc bằng bầu trời xanh ngắt
Nụ cười em tôi thường mang theo
Và lời yêu mỏng khói lam chiều

Nỗi buồn của tôi, em hãy trả
“Tôi và buồn dựa dẫm dắt nhau đi”


--------------------
Câu thơ của ĐTG
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (02-08-2010), LyMisaD88 (29-07-2010)
  #133  
Cũ 02-08-2010, 12:10
Anh Thư's Avatar
Anh Thư Anh Thư is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2010
Bài viết: 334
Cảm ơn: 7,060
Được cảm ơn 1,456 lần trong 274 bài đăng
Default

"Anh yêu em, em yêu người khác
Em bắt đền anh, anh đền ai?"


Bác Phan quý mến ơi!

Bác làm khó cho em quá, tìm mãi chẳng ra thơ của ai. Chắc em chưa đọc bao giờ thì lam sao có trong trí nhớ? Thế là vuột mất cơ hội 1000 năm Thăng Long được ngồi bên bác uống từng "giọt đắng, giọt đen, giọt nồng, giọt mặn, giọt yêu thương rơi bên giọt nhớ...Đắng đến bình minh" của bác rồi.

Đọc bài "Mười thương" của bác lại phát hiện ra tài bình thơ của bác. Thú thật, em chưa đọc thơ T.Nga bao giờ, và chắc gì đọc mà cảm nhận được thơ mới vì em rời xa văn đàn HN lâu quá rồi, để rơi rụng nhiều mơ ước và cảm xúc thuở thanh xuân trên con đường mưu sinh vât vả, khi đọc bài của bác, em ước mình trẻ lại và biết làm thơ ...
__________________
"Thiếp họ Hoạn tên Anh Thư, vốn đoan trang, hiền thục. Vì chàng không chung tình nên thiếp đành phải cắt, thiếp mà không cắt cho vào máy xay sinh tố, sợ nghìn năm sau người đời sẽ không tin là có Hoạn Thư ..."
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #134  
Cũ 03-08-2010, 09:41
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Trích:
Anh Thư viết Xem bài viết

khi đọc bài của bác, em ước mình trẻ lại và biết làm thơ ...
Vậy là bài viết có tác dụng rồi?
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Anh Thư (03-08-2010)
  #135  
Cũ 03-08-2010, 09:42
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Ta vẽ

Ta thường vẽ nhau thành rồng
Rồi thất vọng khi hiện ra giun đất
Con người ta bình thường, con giun ta rất thật
Chăm lo cải tạo đất trồng

Ta thường gắn những ánh hoàng quang lên má em hồng
Đôi má có lúc chạm nụ hôn của những con giun đất
Ta đớn đau đánh mất
Ảo giác không mùa

Vậy mà ta vẫn vẽ, vẫn thêu thùa
Gieo mầm thất vọng
Giờ mới hiểu vì sao ngày xưa ông Trạng
Chỉ vẽ giun
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Anh Thư (03-08-2010)
  #136  
Cũ 09-08-2010, 16:41
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Sự bao cấp trong thơ
ANH NGỌC


Bài viết này chỉ đề cập đến tình hình thơ trong khu vực văn học Cách mạng, từ sau 1945 đến ngày đất nước bước vào Đổi mới. Trong giai đoạn ấy, nền thơ ta đã có những thành tựu to lớn. Đã có nhiều bài báo, trang sách viết về điều này. Tuy nhiên, nền thơ ấy cũng đã bộc lộ những khiếm khuyết. Nếu như mỗi bài viết không nhất thiết là một bản báo cáo có đầy đủ các mặt của một hiện tượng, mà có thể chỉ đề cập đến một mặt trong số đó thôi - thì bài viết này tôi chỉ xin được dành cho một vấn đề: Những mặt còn yếu kém của nền thơ ta trong hơn bốn mươi năm qua. Hy vọng các bạn đọc thân mến sẽ thông cảm với cách đặt vấn đề như vậy.

*

Anh Việt Phương đã có lần tâm sự rất chân thành rằng anh luôn băn khoăn không hiểu cái thứ bao nhiêu năm nay mình vẫn viết có phải là thơ hay không. Sách anh in ra được gọi là tập thơ, anh cũng được gọi là nhà thơ - nhưng băn khoăn ấy của anh là có thật và có lý. Trường hợp Việt Phương là tiêu biểu, nhưng không hề là cá biệt. Suy rộng ra, băn khoăn ấy đã ám ảnh nhiều người làm thơ chúng ta, trong đó có cả người viết những dòng này. Bởi vì, cũng như anh Phương, khi đối chiếu thơ mình với thơ của tiền nhân và thơ thế giới, tôi cảm thấy rất rõ một sự khác biệt nhãn tiền. Đây không phải là việc hay hay là dở - cái khác biệt này nằm ở bản chất của chính thơ.


Thế hệ chúng tôi lớn lên cùng với cách mạng và một ý thức đã hình thành và mọc rễ ở trong chúng tôi rằng: Lịch sử đã chia làm đôi một cách quyết liệt - thành hai nửa: Trước và sau Cách mạng. Mặc dù chúng ta luôn nói đến sự kế thừa, nhưng quả thật lắm khi, bằng cả lời nói và việc làm - chúng ta tự đặt mình cao hơn tất cả. Chỉ có ta mới là chân lý, mới là đỉnh cao, ta là một lớp người hoàn toàn khác, một thời đại hoàn toàn khác. Ta có quyền ngắm nhìn quá khứ và cả thiên hạ nữa bằng con mắt phán xét và thẩm định mọi giá trị. Thế rồi, cùng với thời gian, ta như một đứa trẻ càng lớn lên càng rơi rụng bớt những ảo tưởng về mình. Sau những trả giá sòng phẳng cho những ảo tưởng ấy, ta đã dần dà trưởng thành để kịp hiểu ra rằng: Ta cũng chỉ là những con người bình thường như mọi người thôi, rằng mọi sự vẫn cứ diễn ra theo đúng quy luật của muôn đời, không ai có thể đứng ngoài chúng. Sự thật là hơn bốn mươi năm qua, ta đã sống trong một trạng thái bất bình thường. Thời gian ẩy đối với một đời người qủa là dài để cái bất bình thường trở thành bình thường, đến nỗi bây giờ đây có nhiều người vẫn chưa ra khỏi giấc mơ ban đầu đó. Nhưng với lịch sử thì bốn mươi năm đó chỉ là một ngoại lệ nhỏ bé. Lịch sử vẫn cuồn cuộn trôi đi và cuốn theo những ngoại lệ vào dòng chảy của mình. Công cuộc hoà nhập trở lại, tuy thế không hề dễ dàng, nó đòi hỏi chúng ta biết bao dũng cảm, chân thành và sáng suốt - một khả năng tự thanh lọc rất cao.

Với những người làm thơ, tình hình diễn ra cũng đúng như vậy.

Ít lâu nay, mỗi khi hình dung về những người làm thơ đích thực - những tiền nhân của chúng ta và các nhà thơ lớn của thế giới - tôi thường vẽ ra cái cảnh họ ngồi trước trang giấy trắng mà trong đầu không hề bị ràng buộc vì một cái gì, trước mắt không có một khuôn mẫu nào, một mệnh lệnh nào, hoặc, như ta vẫn thường nói, một "đơn đặt hàng" nào. Họ chỉ lắng nghe chính mình, chỉ khao khát diễn đạt những gì mình khao khát, mình tâm đắc. Ngay cả về hình thức, họ cũng chỉ đào sâu vào chính họ - nói như Viên Mai: lúc thường một phút cũng không được quên người xưa, lúc làm thơ một phút cũng không được nhớ người xưa. Công việc sáng tạo của họ là của riêng một người, họ chỉ chịu trách nhiệm trước bản thân mình mà thôi. Họ đạt đến tự do.

Còn với chúng ta thì sao? Mỗi khi cầm lấy bút là trong đầu chúng ta đã có sẵn hầu như tất cả những câu hỏi và gợi ý, tựa như những thí sinh bốc thăm được câu hỏi thì phải biết cần huy động những kiến thức gì trong kho tàng kiến thức đã được các thầy và sách vở cung cấp sẵn. Chúng ta có trước mắt nào là: Đề tài, chủ đề, cách giải quyết, cho đến những kết luận cần thiết. Thậm chí cả về hình thức chúng ta cũng đã có những định hướng cụ thể: Phải đại chúng và dân tộc như thế nào và phục vụ công nông binh ra sao,v.v. . . .

Nói cho công bằng, việc đó có cái lợi và cũng có cái bất lợi. Lợi là nó đơn giản hoá việc làm thơ đi, nó đẩy những thứ như tài năng thiên bẩm, khả năng rung động, bản sắc cá nhân và nhất là tầm suy nghĩ sâu sắc... vốn là những phẩm chất đặc trưng của người nghệ sĩ xuống hàng thứ yếu, và giúp cho nhiều cây bút gặt hái được nhiều mà không cần mấy đến thực tài. Có lẽ vì thế mà từ sau Cách mạng Tháng Tám đến nay, chúng ta mới có nhiều "nhà thơ" hơn bao giờ hết. Chỉ cần có hai ba chục bài thơ loàng xoàng in thành một tập là đã được gọi là "nhà thơ" rồi. Còn cái hại thì có lẽ đến hôm nay ít ai không nhìn thấy: Nó hại cho thơ đích thực, hại cho những nhà thơ đích thực.

Sự bao cấp về nhiều phương diện đã đẩy văn học nói riêng và thơ nói chung đến ba con bệnh khó tránh, đó là: tính công thức, tính sơ lược và tính giả tạo.

Có người nói, sở dĩ có hiện tượng đó là vì các nhà văn nhà thơ chúng ta là những người làm công ăn lương. Quả thật trong xã hội chúng ta, hầu hết mọi người đều là người làm công ăn lương, từ cán bộ , công nhân, viên chức đến thợ thủ công và cả nông dân cũng là những người ăn lương trên chính sản phẩm của mình. "Ăn cơm chúa múa tối ngày" cái tâm lý ấy tất nhiên phải có rồi, kể cả ở những người ăn lương ...để làm thơ lẫn những người ăn lương để làm việc khác và kết hợp làm thơ. Tuy nhiên, đấy chỉ là biểu hiện nhìn thấy của một bản chất sâu xa hơn. Bởi vì ngẫm ra hầu hết các thi nhân kim cổ đều có "ăn cơm chúa" cả , nhưng ngoài phần thơ trả nợ áo cơm, phần riêng của họ còn lại cũng còn nhiều lắm.

Đáng ngạc nhiên khi chúng ta thấy các nhà thơ của ta có đời sống riêng không hơn gì nếu không muốn nói là nhiều khi còn thua kém đời sống của những người nghèo khổ trong xã hội. Ấy vậy mà họ vẫn mắc bệnh "quan liêu", và thơ họ vẫn mang nặng chất của một thứ văn chương "tháp ngà". Một khi tư tưởng đã có sẵn, thì cảm xúc cũng phải khuôn theo đó và công việc làm thơ chỉ còn là tìm tòi cách để ca sao cho thật véo von những điều ai cũng đã biết.

Câu thơ nửa đùa nửa thật của Xuân Diệu:

Em có tài nấu nướng
Anh có tài ngợi khen


Dẫn ra ở đây cũng khá thích hợp cho ta suy nghĩ: Em có tài thì anh khen là phải quá đi rồi, thậm chí nếu em không có tài mà vì anh trót yêu thì anh vẫn cứ khen mà chẳng ai nỡ trách, nhưng đến cái đoạn tình yêu không còn, món ăn thì khó xơi mà vẫn cứ khen, thì chỉ có thể vì sợ, vì vụ lợi hoặc vì... thói quen mà thôi. Và với tinh thần "duy ý chí" như vậy, cả công việc đi thực tế mà hơn ai hết chúng ta rất khuyến khích, cũng không còn mang ý nghĩ thực sự của nó. Cũng như trong văn xuôi và báo chí, chúng ta không tìm cách phản ánh cuộc sống như nó vốn có, mà đi tìm những chất liệu khả dĩ có thể minh hoạ cho những tư tưởng định sẵn từ ở nhà. Từ đó mà tạo ra những hình mẫu nhằm mục đích giáo dục và làm gương cho mọi người. Mà một khi đã là hình mẫu thì dù có đủ cả mọi bộ phận, nhưng vẫn chỉ là những cơ thể không có sức sống. Văn và thơ đã trở thành những bài học luân lý mang đầy tính ước lệ mới (có nhiều dẫn chứng cho nhận định này - có thể thấy tiêu biểu trong những tác phẩm viết về cuộc đời các anh hùng, kể cả "Trường ca Nguyễn Văn Trỗi" của nhà thơ Lê Anh Xuân tài năng cũng không thoát ra ngoài tình trạng này).

Ở đây có lý do bắt nguồn từ một nguyên lý có tính nền tảng - chúng ta coi văn học là một vũ khí để phục vụ chính trị và cách mạng. Sự thật văn học cách mạng đã làm được khá nhiều trong sự nghiệp giải phóng nhân dân, giải phóng con người dưới khẩu hiệu đó, nhưng nếu quan niệm này bị lạm dụng, bị sử dụng một cách thô thiển và cứng nhắc, như chúng ta vẫn thấy, thì thực chất là đã hạ thấp văn học xuống rất nhiều. Cũng như vậy, chỉ một bước thôi, nhiều lúc có người lại coi văn học như một món trang sức, một thứ đồ chơi. Cả hai quan niệm ấy - như vũ khí hoặc như đồ chơi - tưởng như rất xa mà lại rất gần nhau, vì bắt nguồn từ một bản chất và hiển nhiên là cả hai đều bất cập. Tôi nghĩ rằng thơ nói riêng và văn học nói chung có khi là cả hai mà có khi không là cái gì cả - bởi vì có khi nhà thơ viết cho người đọc, vì người đọc, mà cũng không ít khi họ viết chỉ vì chính mình mà thôi.

Như vậy là thơ đã bị bao cấp từ nhiều phía và điều tất nhiên dẫn đến, là đến lượt mình thơ lại bao cấp lại với độc giả. Thơ không còn là món ăn tự nhiên với mùi vị của chính thiên nhiên mà là những thức ăn sản xuất từ phòng điều chế theo những công thức dinh dưỡng cần thiết hoặc giống với những thứ thuốc viên nhiều hơn.

Tuy nhiên, có gò bó thì có chống gò bó: Trong suốt cả quá trình ấy, đây đó ta vẫn bắt gặp những bài, những dòng thơ thật sự, những cảm xúc, những suy tư và cả những tìm tòi hình thức vượt ra ngoài khuôn khổ chung. Những nhà thơ có bản sắc mạnh đã tìm mọi cách đan cài phần riêng của mình vào tác phẩm (cách đây gần một phần tư thế kỷ, khi Lưu Quang Vũ mới vào nghề, tôi có hỏi anh về dự tính công việc, Vũ đáp: Cố gắng đưa được cái "mình" vào càng nhiều càng tốt - như vậy là anh ý thức về điều này rất sớm và thực tế Vũ đã phần nào làm được theo ý mình).

Rèn luyện lâu dài và thường xuyên trong công việc "viết" và "lách", nên dần dà nhiều người trở nên lọc lõi về khoản này, kỹ thuật rất tinh vi, thủ đoạn rất cao cường, nếu đem thi thố với thế giới chắc không chịu thua kém. Thậm chí có người còn nói vui: Chính nhờ như thế mà văn chương mới thêm kín đáo, hàm súc và tinh tế, chứ nếu cứ mặc sức muốn nói gì thì nói e lại mất duyên đi!

Trước hết, với lớp thi sĩ đàn anh từ tiền chiến đến với Cách mạng. Có một số trong các ông hầu như đã chấm dứt ngay dòng thơ, hoặc nếu có viết thì cũng hết sức mờ nhạt so với thành tựu trước Cách mạng: tiêu biểu là Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh, Đoàn Văn Cừ. Có thể kể cả Tâm Tâm. Họ làm những việc khác không thua kém bất cứ ai, nhưng thơ thì đã tự thua chính mình. Cắt nghĩa điều này có nhiều cách, nhưng tôi lưu ý nhất đến câu trả lời của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trên tờ "Cửa Việt" ra gần đây, khi được hỏi tạo sao so với trước năm 1975 giờ đây ông viết ít đi và yếu đi, Trịnh Công Sơn đã nói: "Bỗng dưng tôi mất hẳn lòng say mê được trình bày những điều mới lạ trong sáng tạo. Chẳng hiểu bắt nguồn từ đâu. Chỉ cảm thấy mơ hồ một sự trục trặc, một cái gì đó đã lệch đi trong đời sống tinh thần và tình cảm của mình. Nói chung, hình như tôi không còn bị cám dỗ bởi những giấc mơ nữa".

Phần đông trong số họ và là những nhà thơ tiêu biểu, sau một thời gian trăn trở đã trở lại làm thơ. Họ viết khoẻ, số đầu sách nhiều gấp mấy thời trước, và còn làm thêm nhiều việc khác nữa. Không thể nói phần đóng góp sau Cách mạng của các nhà thơ này là không to lớn, nhưng sau hơn bốn mươi năm biến động, giờ đây nhìn lại thì phần thơ giàu hương sắc nhất của các tác giả này vẫn là phần thơ tiền chiến. Hầu hết các tác giả, từ Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư.... đều nằm trong trường hợp này. Tế Hanh bước vào cách mạng khi còn rất trẻ và với bản sắc của một người sống nhiều bằng cảm tính, nên có lẽ là nhà thơ giữ được nhiều cái "mình" hơn cả . Chế Lan Viên, người rất giàu lý tính, có thể nói đã khai sinh ra một đời thơ mới, nhưng với tất cả sức suy nghĩ sâu sắc, trí thông minh tuyệt vời và một kỹ xảo thơ điêu luyện do tu dưỡng và học hỏi từ nhiều nền thơ thế giới, thơ Chế Lan Viên vẫn khiến người ta phục vì tài nhiều hơn là yêu vì tình, làm cho người ta sảng khoái khi nghĩ trong đầu hơn là xúc động ghi vào trong tim. Và đó phải chăng cũng là một điểm yếu cốt tử?

Tiêu biểu nhất là trường hợp Xuân Diệu.

Trước cách mạng, thơ Xuân Diệu là tiếng lòng da diết của một tâm hồn si mê cuộc sống, lại được một tài thơ mạnh mẽ, cùng với kỹ thuật học được của thơ Pháp, nên đã gây xúc động to lớn trong người đọc, nhất là tuổi trẻ. Sau Cách mạng, ông hăng hái đi vào cuộc sống mới. Tài thơ của ông vẫn còn nguyên đó, lại được bổ sung bằng bao công lao tìm tòi học hỏi không mệt mỏi. Cũng không thể nói tình yêu cuộc sống của ông giảm sút. Ấy vậy mà thơ ông, xin anh linh ông tha thứ cho, vẫn mất đi quá nhiều chất đắm say đến liều lĩnh, chất huyền diệu và bí ẩn khi đi vào cõi u uẩn của lòng người, cái buồn phảng phất vừa ngọt ngào vừa cay đắng. . . là những tố chất làm nên vẻ đẹp riêng của thơ Xuân Diệu trước kia. Thơ ông giống như một tấm vải nhung vẫn rất bền chắc, màu sắc tươi đẹp, nhưng không còn nữa cái lớp tuyết mơ hồ - làm nên sự hấp dẫn đặc trưng của chất liệu này. Tôi kính trọng những dòng thơ ông viết về đấu tranh thống nhất Bắc Nam, về những mái ngói mới lợp, về xác máy bay B52, v.v. . . nhưng hình như đấy lại là một Xuân Diệu khác. Giá như có thể thống nhất trở lại hai con người ấy ở trong một Xuân Diệu thì hay quá. Nhưng sự thể đã không thể như vậy. Trong khi đó ở một chân trời khác, Pablô Nêruđa chẳng hạn, khi ông làm thơ kêu gọi tiêu diệt Nichxơn, hay ông viết về đỉnh Michchu Pichchu đơn độc và hư vô thì chỉ là chảy ra từ một nguồn thơ mà thôi. Ngay trong thơ tình yêu , sở trường của mình, Xuân Diệu cũng đã nghèo đi rất nhiều. Ông đã trở thành người đứng từ ngoài mà ngắm nghía, phân thích, mổ xẻ tình yêu nhiều hơn là làm người trong cuộc để kêu lên những tiếng buồn vui đến xé lòng. Ông tỉnh táo và sáng rõ, ông hợp lý và đúng đắn hơn ngày xưa bao nhiêu thì cũng khô cứng và nhạt nhẽo đi bấy nhiêu. Bài thơ hay nhất của ông về tình yêu là bài "Biển" cũng không thoát được khỏi tình trạng đó. So với nhiều bài thơ tình cùng thời, đây là một trong những bài hay nhất và cũng hoàn chỉnh nhất. Nó đầy đủ hầu như tất cả những biểu hiện của tình yêu mà nhân loại đã đúc rút được. Nó là một "bữa tiệc" cho các thầy giáo dạy văn. Nhưng chính vì sự đầy đủ đó, nó giống một mô hình về tình yếu hơn là một cơ thể sống của tình yêu. Nó giống như một lời gà hộ cho một người đi tỏ tình hơn là lời một người đang yêu say đắm.

Bước vào giai đoạn đầu chống Pháp, trong bối cảnh hùng tráng và có cả bi thảm nữa, với cái không khí tưng bừng của những ngày trăng mật của Cách mạng, thơ ta đã có những bài thật hay với những tên tuổi mới: Quang Dũng, Chính Hữu, Hoàng Cầm; Hữu Loan - lúc này cảm hứng thơ của các ông vẫn còn nhiều chất tự phát, chưa bị gò bó nhiều vì hệ thống quan niệm mới về văn nghệ mà có người cho là nhập cảng từ Trung Quốc. Rất tiếc là thời gian này quá ngắn ngủi nên thành tựu chưa nhiều.

Như trên đã nói, thế hệ chúng tôi lớn lên như những đứa trẻ, con đẻ của chế độ mới, được bố mẹ chăm bẵm lo cho đủ mọi thứ, từ vật chất đến tinh thần. Những ông bố bà mẹ đầy tự hào về gia thế đã ra sức nuôi dưỡng và giáo dục lũ trẻ một cách thật nền nếp, nghiêm ngặt. Chúng tôi luôn luôn được xem là trẻ, ngoài bốn mươi tuổi vẫn là nhà thơ trẻ, in mấy tập thơ rồi vẫn cứ là "mầm non" nhiều triển vọng... Người ta xoa đầu chúng tôi và chúng tôi cũng thích như vậy.

Tôi có thể dẫn ra đây rất nhiều ví dụ trong thơ của những người cũng thế hệ . Nhưng để tránh động chạm đến người khác và vì ít nhiều tôi cũng là một người sáng tác, nên xin phép được dẫn chính mình.

Là một người cũng đã luôn cố gắng tìm sự độc lập trong suy nghĩ, nhưng một phần do đã thấm vào tận máu các giáo lý từ nhà trường và xã hội, và một phần không đủ bản lĩnh để sống và viết hoàn toàn theo ý mình, nên tôi cảm thấy những gì mình đã viết ra trước đây thực sự khô cứng và thiếu sức sống. Trong một đoạn viết trong trường ca sau này, tôi đã nói về ý nghĩ ấy:

Tôi đi qua tuổi học trò
Nói năng khuôn phép, câu thơ sáo mòn
Cười mình quen thói đại ngôn
Thương vay khóc mướn véo von một thời
Câu thơ dẫu viết xong rồi
Vẫn như thấy thiếu một lời ở trong
Một lời thốt tự đáy lòng
Một lời vẽ được chân dung của mình


Và tôi đã quyết định đoạn tuyệt với nó:
Cái véo von mà tôi đã chối từ
Không thương tiếc, không bao giờ ngoảnh lại


Cái "khuôn phép", cái "sáo mòn", cái "thương vay khóc mướn" và "véo von" mà tôi nói ở đây là đặc điểm cửa thứ thơ dở mà thực ra ở thời nào cũng có, nhưng ở thời chúng ta nó khác ở chỗ đã trở thành phổ cập, và được bảo vệ bằng lý luận.

Tôi viết ít, in ít, hoàn toàn không phải là người có thể tiêu biểu cho thế hệ mình, nhưng tuy thế, những thiếu sót và yếu kém, những hạn chế của chủ quan và nhất là của khách quan thời đại ở tôi vẫn mang tính điển hình rõ rệt.

Mổ xẻ hiển nhiên không thể thích thú như được mơn trớn, nhất là lại tự mổ xẻ chính mình . Tuy nhiên nếu thành thực với chính mình thì chúng ta không thể làm khác. Bởi vì nếu chẳng may có đánh mất quá khứ thì đó là điều đáng buồn, nhưng quan trọng hơn rất nhiều là không thể để mất tương lai, vì mất tương lai là mất tất cả.

Có thể những ý kiến trên đây của tôi sẽ bị coi là bi quan và quá nghiêm khắc. Tuy nhiên, đó thật sự là những suy nghĩ chân thành của bản thân tôi. Và, với những gì được phát biểu một cách chân thành thì chỉ có thể đúng hoặc sai, chứ không thể có ác ý.

Ngày 29-3-1991 (Tạp chí Văn Học, 5- 1991)
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (09-05-2011), htienkenzo (25-10-2010)
  #137  
Cũ 24-10-2010, 15:31
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Chuyện ngoài bài thơ "Về Nghệ An thăm con" của nhà thơ Bằng Việt
(VƯƠNG CƯỜNG)

Chiều qua, ngồi cà fê với nhà thơ Bằng Việt, Chủ tịch hội đồng thơ Hội nhà văn Việt nam cùng mấy người bạn. Tôi có đọc lại mấy bài thơ của anh, tôi cũng đã mấy lần nhắc câu thơ: Vết phân trâu miết đều, ngôn ngữ xấu xí đã vào thơ tự nhiên đến nỗi không ai thấy khó chịu. Tôi nghĩ với bài thơ này không cần nhắc lại những cái hay, cái nhuyễn và từng chi tiết đều rất thơ, tình cha con thời kháng chiến, tôi muốn nói thêm vài điều mới biết về bài thơ này ngoài thơ.
Trước đây chúng ta gặp đầu đề: Về hoả tuyến thăm con, viết và in lần đầu năm 1966, nhà thơ BV nói, tên ấy do nhà thơ Trinh Đường đặt lại. Tôi nói anh TĐ có cái nhạy cảm riêng khi sửa đầu đề. BV cũng đồng ý. Nay anh BV lại trở về với bản đầu tiên, Về Nghệ An thăm con. Có lẽ bạn cũng như tôi đã bất ngờ khi biết BV chưa từng đến Nghệ An khi viết bài thơ này. Cho thấy khả năng lắng nghe và trí tưởng tượng quan trọng biết chừng nào với nhà thơ. Anh tưởng tượng và tôi là người Nghệ An không hề thấy có khe hở nào.
Bài thơ viết tặng người bạn Thái Nguyên Trinh, cùng cơ quan với BV, hay thay mặt bạn nói với con bạn. Đó là chuyện bình thường. Nhưng bạn hãy chú ý hình ảnh cháu bé tương đồng với hình ảnh con ong , con ong ấy chuyên cần, nhẫn nãi, lớn khôn hơn trước tuổi thế nào, chỉ trừ chuyện học không giỏi! Bài thơ này đã theo chân con ong ấy đi mãi và em luôn thấy mình chưa xứng đáng với những gì nhà thơ ca ngợi. Cô bé đã viết thư cho nhà thơ BV. Và rồi con ong ấy đã quyết tâm. Mang hết khả năng và nghị lực vào học tập. Từ học sinh kém trở thành giỏi, em thì đậu vào đại học và đã trở thành giảng viên đại học một trường kinh tế ở Hà Nội.
Nhà thơ BV kể, một lần trong nhà hát lớn, đêm nhạc cổ điển, giờ giải lao, một cô gái khoảng ngoài 20 tuổi xinh đẹp và hiện đại đến xin phỏng vấn ông. Điều đáng chú ý là cô gái xưng cháu và goi BV bằng ông. Như có linh cảm nhưng chưa rõ rệt, BV nghe cô gái phóng viên tự giới thiệu, cháu là cháu ngoại ông Trinh, con mẹ X...(con ong- tôi vừa nói). Thì ra cháu vừa du học từ Úc về thi vào làm ở VTC.
Một bài thơ, tác giả có 3 đời người thân, thật cũng chẳng nhiều. Tôi nghĩ vì sự khích lệ mà còn biến một gia đình bình thường thành gia đình trí thức, nối tiếp được trong điều kiện hiện nay, kể cũng không nhiều!

VC

Về Nghệ An thăm con

Tặng Thái Nguyên Trinh
BẰNG VIỆT

Bầy ong ngoan của con
Những cánh tơ thơ bé
Bộng ong bào mỏng thế
Vết phân trâu miết đều
Mảnh vườn khi nắng xế
Nghe ong rù rì kêu!

Con đường ra bến sông
Mỗi ngày bom lại thả
Vẫn tiếng súng phòng không
Nổ rền theo vách đá
Vụ chiêm mùa vất vả
Mùi cơm thơm cứ thơm!

Ôi nùn rơm, nùn rơm
Sợi vàng vương mái tóc
Con che rơm đi học
Vai nhấp nhô đường xa
Em chơi cùng trẻ xóm
Bầy ong coi giữ nhà.

Buổi chiều đi học về
Bà con đông đủ cả,
Bầy ông ơi bầy ong
Bây cần cù dưới lá,
Lâu, cha chẳng về thăm
Mật ông màu óng quá!

Cha về rồi đây con
Cha nhìn con bỡ ngỡ:
Con đan lá nguỵ Trang
Con che đèn đánh lửa
Con đưa em xuống hầm
Biết xoay lưng chắn cửa
Ai dạy con bao giờ
Mà quá chừng ý tứ
Ôi con tôi, con tôi!

Tháng bảy, ong bay đi
Chuồn chuồn chao trên sóng,
Nhớ mùa đông rất dài
Nhớ mùa thu rất rộng,
Bao lâu cha vắng nhà
Bao lâu con đã sống
Bao đêm ngoài biển động
Pháo sáng xanh vườn sau,
Trăng mài mòn guốc võng
Giặc rít ngang trên đầu...

Nhưng con vẫn học đều
Mỗi năm lên một lớp,
Cha vẫn đọc thư con
Chữ dần già cứng cáp,
Cha về mà kinh ngạc
Thấy con còn bé không!

Cha ôm con rưng rưng
Mừng vui lòng nghẹn cả...
Con đường ra bến sông
Mỗi ngày bom lại thả,
Nhưng cần cù dưới lá
Bầy ong bay rộn rã
Mùi cơm thơm cứ thơm!
1966

Ghi chú: Vương Cường là em nhà thơ Thạch Quỳ, cháu nhà thơ Vương Trọng, lại là bạn của lão Hâm. Tôi cũng có mặt trong cuộc gặp cafe nói trên.
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (09-05-2011), Hoa Pion (15-11-2010), htienkenzo (25-10-2010), minminixi (24-10-2010), ngocbaoruss (24-10-2010), Old Tiger (11-01-2011)
  #138  
Cũ 10-01-2011, 14:56
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

Thơ sinh nhật mình

Chín tháng mười ngày con nghe mẹ hát
Mái nhì mái đẩy dòng sông quê hương
Rồi mẹ sinh con cuối chiều giáp tết
Súng giặc đì đùng. Lửa át mù sương

Con ba tháng, tin đồn cha giặc giết
Mẹ băng rừng tìm xác người thương
Sữa mẹ cạn khô
Con khô nước mắt
Vẫn lớn lên. Đất nước chiến trường

Con được đi nhiều quê hương khác
Nhiều dòng sông nuôi dưỡng nên con
Con biết cười biết yêu biết khóc
Đứa trẻ quanh năm khát sữa tâm hồn

Tóc tiêu muối, nếp nhăn thêm đậm
Cõng lương tâm lưng đã muốn còng
Đời đen bạc, mắt không còn thắm
Chỉ tinh khôi còn mỗi tấm lòng!

Con sực nhớ sắp tết rồi, sinh nhật
Mẹ thương con, thương quá một đời
Thà sống bình thường
Kể chi được mất
Để làm con của mẹ, mẹ ơi!
__________________

Ký cả hai tay!

Thay đổi nội dung bởi: Phanhoamay, 10-01-2011 thời gian gửi bài 17:20 Lý do: sai chính tả
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (09-05-2011), FORYTCHIA (11-01-2011), htienkenzo (10-01-2011), minminixi (10-01-2011), Old Tiger (11-01-2011)
  #139  
Cũ 04-05-2011, 23:23
socola94's Avatar
socola94 socola94 is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Sep 2010
Bài viết: 158
Cảm ơn: 234
Được cảm ơn 60 lần trong 36 bài đăng
Default

Trích:
Phanhoamay viết Xem bài viết
Tôi thích quần bò


Đã từ lâu tôi thích mặc quần bò
Loại quần giản đơn, phóng khoáng tự do
Không là lượt nghiêm trang công thức
Chẳng complet,
Nào ai biết tôi mà tôi phải lo?

Mặc quần bò tôi thấy mình như Bush
Hoặc như gã xe ôm, như nghệ sỹ ba đào
Tôi thoải mái đá banh cùng em út
Hay sà vào bãi bia tào lao

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Kệ những kẻ lên xe xuống ngựa
Tiền của dân, mồ hôi của dân
Mặc quần bò tôi thấy mình dễ thở
Không e sợ ai, không nô lệ áo quần

Khi tự do vẫn còn là của hiếm
Ta dại chi tự trói buộc thân mình
Để yêu hết những gì thương mến
Một tấm lòng là đủ xông xênh
(4/2008)
Bố cháu cũng hay mặc quần bò, cháu không ngờ quần bò mang nhiều ý nghĩa như vậy:
" Kệ những kẻ lên xe xuống ngựa
Tiền của dân, mồ hôi của dân
Mặc quần bò tôi thấy mình dễ thở
Không e sợ ai, không nô lệ áo quần"
Dù gì thì complet mặc vào nhìn cũng sang hơn hẳn
__________________
Tận hưởng và tận hiến
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn socola94 cho bài viết trên:
Anh Thư (09-05-2011), PhamNgocSan (08-05-2011)
  #140  
Cũ 05-05-2011, 00:06
Phanhoamay's Avatar
Phanhoamay Phanhoamay is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 649
Cảm ơn: 268
Được cảm ơn 2,810 lần trong 540 bài đăng
Default

(Giới thiệu một bài thơ hay của nhà thơ người dân tộc Lò Cao Nhum)

Nhà thơ NGUYỄN ĐỨC MẬU bình bài thơ RƯỢU NÚI của nhà thơ Lò Cao Nhum

Mở đầu bài thơ Rượu núi là mấy câu thơ giản dị theo kiểu mời khách đến nhà. Tác giả ngỏ lời rất mộc mạc, chân chất nhưng cũng biết lấy cái cớ mời bạn để nói về thứ rượu rất riêng của bản mình. Bởi lẽ vừa là chủ nhà, Lò Cao Nhum vừa là nhà thơ. Từ hương vị của rượu núi anh mở rộng biên độ để phát triển ý tưởng và tạo được những câu thơ gần với ngạn ngữ, giầu sự đúc kết, cô đọng: Gái bản nụ hoa, trai mường cây nghiến/ Ngửa bàn tay cũng da/ Úp bàn tay cũng thịt.

Lò Cao Nhum giới thiệu về rượu núi bằng chi tiết và hình ảnh rất thật: Ủ từ lá sắc rừng gai/ Chắt từ củ mài hốc đá/ Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài..., tuy nhiên tác giả không dừng lại ở chi tiết, hình ảnh, anh có những câu nói về cái "cay" cái "đắng" của rượu thật đột biến: Có cay của bạn tình cắn nhầm hạt ớt/ Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu... Câu thơ hay không phải vì vần điệu mà vì sự liên tưởng gợi mở. Và sau khi đã giới thiệu cái men say của rượu núi, tác giả buông một câu mời thật hào phóng: Đã uống vắt kiệt chum mà uống/ Đã say đổ tràn tình mà say.

Ở đoạn kết bài thơ, sức khái quát được nâng lên. Từ động tác uống rượu thường ngày, tác giả viết: Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời/ Chụm bền ngọn núi... Câu thơ có sự dồn nén, hàm xúc gợi cho người đọc những suy nghĩ về mối quan hệ thương yêu của bè bạn, chòm bản xa gần. Toàn bộ bài thơ Rượu núi được viết bằng bút pháp giản dị, giầu chất dân tộc. Phải chăng Rượu núi là thứ rượu chan chứa tình đời, tình người, và chính những câu thơ hay trong bài cũng là men rượu chắt ra từ cuộc sống? Trong cuộc thi truyện ngắn và thơ năm 1996 do Tạp chí Văn nghệ quân đội tổ chức, bài thơ Rượu núi đã giành được vị trí xứng đáng trong số các giải thưởng, thực sự là một đóng góp độc đáo cả về ý lẫn tình.


Ruợu núi
(Lò Cao Nhum)

Bạn đến
Mời ngồi xếp bằng tròn trên núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.

Bát ruợu trăng rằm
Mong hồn vía bạn đừng thất lạc
Cầu cụ ông, cụ bà cây si, cây đa
Gái bản nụ hoa, trai muờng cây nghiến
Ngửa bàn tay cũng da
úp bàn tay cũng thịt.

Ruợu nhà tôi
ủ từ lá sắc rừng gai
Chắt từ củ mài hốc đá
Vợ tôi nấu thơm từ lửa đỏ đêm dài.

Ruợu nhà tôi
Có ngọt mật ong vách đá
Có chua măng uớp chum vò
Có cay của bạn tình cắn nhầm hạt ớt
Có đắng của em chồng phải lòng chị dâu.

Ruợu nhà tôi
Ruợu buộc chỉ cổ tay
Thắp lửa tình chiêng, tình trống
Đã uống vắt kiệt chum mà uống
Đã say đổ tràn tình mà say.

Nào bạn ơi
Cụng bát cùng rẻo cao muôn đời
Chụm bền ngọn núi
Giữa chiếu đan bằng tia mặt trời.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Từ trái sang phải: Nhà văn Nguyễn Quang Vinh, nhà thơ Lò Cao Nhum và PHM
(Tháng 4 năm 2009, ngồi uống "Rượu núi" trên nhà sàn của Lò Cao Nhum ở Mai Châu)
__________________

Ký cả hai tay!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Phanhoamay cho bài viết trên:
Anh Thư (09-05-2011), PhamNgocSan (08-05-2011)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Một vài bản dịch thơ Nga của Phanhoamay Phanhoamay Thi ca 3 27-03-2008 14:49


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 02:43.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.