Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Văn học

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #41  
Cũ 06-07-2010, 22:04
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default

9

HÔM ẤY LÀ MỘT NGÀY SÁNG SỦA, CHAN HOÀ ánh mặt trời. Mùa xuân nheo nheo mắt dưới nắng, phô ra mái tóc xoăn óng ả bằng lá non mới trổ, bốc khói trên cánh đồng mới cầy và biến hình thành cỏ non mọc lên ngay dưới chân người, trên những con đường mòn.
Cạnh chuồng ngựa, một lũ trẻ đang chơi khăng. Một thằng bé lanh lợi tung con khăng lên và thẳng cánh quật mạnh, đánh con khăng văng đi dọc theo đường cái. Rồi nó dùng cây gậy đo khoảng cách trên mặt đất: một, hai, ba… bẩy .. mười… mười lăm… Đám trọng tài hay bẻ hoẹ xúm xít đi bên cạnh, theo dõi thằng bé để nó đừng ăn gian. Hai mươi hai..
- Trước bẩy mươi tám, bây giờ hai mươi hai, - thằng bé tính và cộng lại, rồi sướng quá, nó reo ầm lên – một trăm! Thế là một trăm!
- Ura, một trăm! – Những đứa khác hùa theo.
Như vậy là vừa vặn. Không quá mà cũng không hụt. Bây giờ đứa thua phải “huýt sáo”. Đứa thắng đi về vạch xuất phát và lại quất con khăng đi. Đánh đi cho thật xa. Cả bọn chạy đến chỗ con khăng rơi, từ chỗ đó lại quật con khăng văng đi lần nữa, như thế ba lần. Đứa thua xuýt phát khóc: nó sẽ phải vừa chạy vừa huýt sáo một quãng khá xa! Nhưng luật chơi hết sức nghiêm ngặt. “Sao lại đứng ì ra đấy, chạy huýt sáo đi”. Đứa thua hít không khí đầy lồng ngực và vừa chạy vừa đọc:

Acbai, cốc bai
Chớ thả bê ra đồng
Thả rồi không bắt được
Tha hồ mà ăn chửi, U-u-u.


Đầu như muốn nứt vỡ ra mà vẫn phải huýt u- u, nhưng nó không đủ hơi để huýt cho đến chỗ vạch. Phải quay trở lại và bắt đầu lại từ đầu. Nhưng vẫn không đủ hơi. Đứa thắng hoan hỉ. Không đủ hơi thì phải cõng. Nó nhảy lên lưng đứa thua, đứa thua cõng nó chẳng khác gì con lừa mang người cưỡi trên lưng.
- Nào, thẳng tiến, chạy nhanh lên chứ! – Thằng cưỡi thúc hai chân vào thằng cõng. – Chúng mày ơi, xem này, đây là Gunxarư của tao đấy nhé. Mày xem, nó đi nước kiệu lạ nom hay chưa kìa…
Trong lúc đó Gunxarư đứng ở bên này tường trong chuồng ngựa. Nó buồn chán. Không hiểu sao hôm nay người ta không thắng yên cho nó. Từ sáng đến giờ nó chẳng được ăn uống gì cả. Người ta bỏ quên nó. Chuồng ngựa đã vắng tanh từ lâu, những chiếc briska đã đi hết, lũ ngựa cưỡi cũng thế, chỉ còn một mình nó trong tàu…
Những người coi ngựa dọn phân trong chuồng. Trẻ em nô đùa ầm ĩ bên kia tường. Ôi lúc này sao mà nó muốn trở về với các đàn ngựa trong thảo nguyên đến thế! Nó tưởng tượng đồng bằng bao la, những đàn ngựa đi đây đi đó thoả thích. Trên đầu, những con ngỗng xám đang bay, vỗ cánh, gọi nhau…
Gunxarư giằng mạnh, thử dứt đứt dây tròng. Không được, nó bị cột rất chắc bằng hai sợi xích. Có lẽ những con ngựa trong đàn có thể nghe thấy tiếng nó chăng? Gunxarư cất cao đầu hướng về phía cửa sổ dưới mái, dậm chân xuống ván sàn, cất tiếng hí một hồi dài vang động. “Các bạn ở đâ-u-u…”
- Đứng im , đồ quỷ! – Một gã coi ngựa nhảy tới, vung xẻng dọa nó. Rồi gã lớn tiếng nói với một người nào ngoài cửa: - dẫn ra chứ?
-Dẫn ra! – Tiếng trả lời từ ngoài sân.
Thế là hai gã coi ngựa dẫn Gunxarư ra sân. Chà, sáng sủa quá! Không khí tươi mát biết bao! Hai cánh mũi thính nhạy của Gunxarư phập phồng hít không khí mùa xuân ngây ngất vào lồng ngực. Thoang thoảng mùi lá đăng đắng, mùi đất sét ẩm. Máu rộn rực. Bây giờ mà được chạy thì thú biết mấy! Gunxarư nhảy nhẹ một cái.
- Đứng yên! Đứng yên! Mấy tiếng quát làm nó chừng ngay lại. Sao hôm nay có nhiều người xúm quanh nó thế? Những cánh tay lực lưỡng, lông lá, tay áo xắn cao. Một người mặc áo choàng xám bẩy những vật gì bằng kim loại sáng loáng lên tấm vải trắng. Những vật đó lấp lánh đến chói mắt dưới ánh mặt trời. Những người khác cầm dây thừng. Ồ, cả ông chủ mới cũng ở đây! Ông ta đứng với dáng bộ oai vệ, chạng rộng đôi chân to mập, ngắn ngủn, mặc chiếc quần Galiphê rộng đũng. Lông mày cũng cau lại như tất cả những người kia. Có điều, tay áo không xắn lên. Một tay ông ta chống nạnh, tay kia xoắn chiếc cúc áo cổ đứng. Hôm qua, người ông ta lại nồng nặc vẫn cái mùi khó chịu ấy.
- Này, sao lại đứng không thế, bắt đầu đi! Thưa đồng chí Jôrôkun Anđanôvits, cho bắt đầu chứ ạ! – Ibraim nói với ông chủ tịch. Ông ta lẳng lặng gật đầu.
- Nào, làm đi! – Ibraim lăng xăng và vội vã treo chiếc mũ lông cáo của mình lên cái đinh ở cửa chuồng ngựa. Chiếc mũ tuột ra, rơi xuống phân. Ibraim rũ chiếc mũ với vẻ ghê tởm và lại treo lên. – Xin đồng chí đứng xa ra một chút, đồng chí Jôrôkun Anđanôvits. – Gã nói thêm, - kẻo không chẳng may nó đá cho đấy. Ngựa là con vật không có trí khôn, bao giờ cũng phải đề phòng nó chơi khăm ta.
Cảm thấy sợi thòng lọng bằng lông đuôi ngựa tròng vào cổ mình, cả lớp da Gunxarư rung lên. Sợi dây đâm đau như cái gai. Cái vòng thòng lọng thắt lại ở ngực, đầu kia dây ỏ phía bên cạnh sườn. Họ định làm gì thế? Tại sao họ lại luồn sợi thòng lọng về phía chân sau, chỗ khoeo chân, lại còn tròng bốn chân lại với nhau? Gunxarư bắt đầu nổi nóng, thở phì phì, nghiêng ngó nhìn. Cái trò gì thế này?
- Nhanh lên! – Ibraim giục và rít lên, bất ngờ chuyển sang một giọng kim the thé: - Quật ngã nó xuống!
Hai cặp tay lực lưỡng, lông lá giật mạnh sợi dây thòng lọng. Gunxarư đổ vật xuống đất như cái cây bị phạt gốc! Huỵch! Mặt trời lộn nhào, đất giật nảy lên vì bị va đập mạnh. Cái gì thế? Tại sao nói phải nằm ngả nghiêng thế này? Tại sao những khuông mặt người lại dài ở phía trên một cách kì dị như thế, tại sao cây cối lại cao vút lên thế kia? Tại so nó lại nằm trên mặt đất ở tư thế khó chịu như thế này? Không, thế này không được.
Gunxarư nguẩy mạnh đầu, dướn toàn thân vùng lên. Nhưng sợi dây thít chặt lại, nghiến vào thịt gây đau rát như bỏng lửa và ghì chân nó áp vào bụng. Con vật vùng vẫy, vận dụng hết cơ bắp, vằng mạnh một chân sau còn chưa bị thắt. Sợi dây bị kéo căng, kêu răng rắc.
- Xô vào, đè xuống, giữ chặt lấy! – Ibraim làm rối lên.
Tất cả đổ xô vào, lấy đầu gối đè con ngựa xuống.
- Cái đầu, đè đầu xuống đất! Trói lại! kéo mạnh! Thế. Nhanh tay lên. Chỗ này, một lần nữa. Kéo đi, thắt một cái nút! – Ibraim vẫn luôn mồm gào lên the thé.
Người ta buộc chân con ngựa mỗi lúc một chặt, cho đến khi cả bốn chân bị bó cứng vào vớí nhau. Gunxarư rên rỉ, rống lên vẫn cố tìm cách thoát ra khỏi sợi thòng lọng bó chặt, hất ngã những kẻ ngồi lên đầu lên cổ nó. Nhưng họ lại tì đầu gối, đè nó xuống. Toàn thân con vật ướt đầm, run bần bật, bốn chân tê dại. Và nó đành chịu phép.
- Hà, thế là xong!
- Góm, nó khoẻ khiếp.
- Bây giờ thì đừng hòng nhúc nhích, cho dù nó có là cái máy kéo đi nữa!
Liền đó, ông chủ mới nhảy một bước đến cạnh con ngựa bị quật ngã, ngồi xổm ở phía đầu nó. Người ông ta nồng nặc mùi rượu mạnh từ hôm qua, và ông ta nhoẻn miệng cười, nụ cười biểu lộ sự căm thù và hoan hỉ thực sự, như thể nằm trước mặt ông ta không phải là con ngựa, mà là một người, một kẻ thù, ghê gớm nhất của ông ta.
Ibraim mồ hôi nhễ nhại cũng đến ngồi cạnh ông ta, tay cầm khăn lau mặt. Cứ ngồi cạnh nhau như thế, họ châm thuốc lá hút, chờ cái việc sẽ phải xảy đến tiếp sau đó.
Ngoài đường, mấy thằng bé vẫn chơi khăng:

Ac bai, cốc bai
Chớ thả bê ra đồng
Thả rồi không bắt được
Tha hồ mà ăn chửi. U-u-u.


Mặt trời vẫn chói sáng. Lần cuối cùng, Gunxarư nhìn thấy thảo nguyên rộng lớn, những đàn ngựa nhởn nhơ đi đây đi đó nơi khoảng rộng bao la. Trên trời những con ngỗng xám đang bay, vẫy cánh, gọi nhau… Ruồi bâu quanh mõm nó. Không sao đuổi đi được.
- Ta bắt đầu chứ, đồng chí Jôrôkun Anđanôvits? – Ibraim lại hỏi.
Người kia lẳng lặng gật đầu. Ibraim đứng lên.
Tất cả lại bắt đầu hoạt động, tì đầu gối và đè ngực lên con ngựa bị trói. Họ càng đè chặt đầu nó xuống đất hơn nữa. Mấy bàn tay ai không rõ sờ soạng chỗ bẹn nó.
Mấy thằng bé leo lên bức tường thấp, như lũ chim sẻ.
- Xem kìa, chúng mày ơi, xem xem họ làm gì.
- Họ rửa mông cho con ngựa.
- Mày biết cái gì. Móng với vuốt! Chẳng dính dáng gì đến móng đâu.
- Này, chúng mày làm gì đấy, đi đi, đi khỏi đây đi! – Ibraim vung tay xua đuổi chúng. – Đi chơi đi. Leo lên đấy làm cái gì.
Mấy đứa trẻ tụt xuống.
Xung quanh im ắng.
Gunxarư co rúm người lại vì có cái gì lạnh giá thúc vào nó. Ông chủ mới ngồi xổm trước mặt nó, nhìn và chờ đợi cái gì không rõ. Bỗng nhiên một cảm giác đau điếng làm nó nẩy đom đóm mắt. Ôi! Một ngọn lửa đỏ rực bùng lên, rồi tối đen, đen ngòm ngòm…

Khi mọi việc xong xuôi, Gunxarư vẫn bị trói nằm dài trên mặt đất. Cần chờ cho máu ngừng chảy.
- Thế là ổn cả rồi, đồng chí Jôrôkun Anđanôvits ạ, - Ibraim xoa tay nói. – Bây giờ nó sẽ không chạy đi đâu nữa. Thế là xong, hết cái trò chạy trốn. Còn về Tanabai thì chẳng cần bận tâm đến. Mặc xác lão. Xưa nay lão vẫn thế. Ngay đến anh ruột lão, lão còn chẳng thương xót nữa là: lão đã quy cho anh lão là kulắc, tước đoạt tài sản và đầy đi Xibia. Đồng chí nên biết, lão có muốn điều gì tốt cho ai bao giờ đâu…
Vẻ hể hả, Ibraim lấy chiếc mũ lông cáo treo trên đinh, rũ sạch, vuốt cho mượt và đội lên cái đầu đẫm mồ hôi.
Còn lũ trẻ con vẫn chơi khăng.

Acbai, cốc bai
Chớ thả bê ra đồng
Thả rồi không bắt được
Tha hồ mà ăn chửi, U-u-u


- A ha, không chạy được đến vạch rồi, cõng đi. Tsu, Gunxarư thẳng tiến! Ura-a, đây là Gunxarư của tao.
Hôm ấy là một ngày tươi sáng, chan hoà ánh mặt trời…
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 06-07-2010 thời gian gửi bài 22:10
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (09-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (07-07-2010), Xamova (07-07-2010)
  #42  
Cũ 06-07-2010, 22:11
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default

10

ĐÊM TỐI, KHUYA KHOẮT LẮM RỒI. Một ông già và một con ngựa già. Một đống lửa cháy sáng ở rìa khe. Ngọn lửa lụi xuống và bốc lên theo gió…
Đất rắn đanh, lạnh buốt khiến Gunxarư tê dại cả một bên sườn. Gáy cứng đờ nặng như chì, đầu không còn sức ngật lên ngật xuống như hồi nào, khi nó nhẩy đi mà chân bị xiềng bằng kisen. Cũng như hồi ấy, Gunxarư không thể chạy lấy đà, không thể dứt đứt dây xiềng. Nó muốn tung chân thoải mái sao cho móng nóng rực lên trong đá chạy, nó muốn bay trên mặt đất, muốn băng thật mau đến bãi chăn để cất tiếng hí vang lừng gọi đàn, để lũ ngựa cái và ngựa con chạy theo nó trên thảo nguyên ngải cứu rộng bao la, nhưng chân bị xiềng khiến nó không sao chạy được. Đơn độc một mình trong tiếng xích loảng xoảng, nó đi như tên tù khổ sai chạy trốn, nhảy từng bước, từng bước một. Vắng vẻ, tối tăm, đơn độc. Vầng trăng ẩn hiện trên cao trong những luồng gió. Trăng hiện ra trước mắt khi nó vừa nhảy vừ cất đầu lên, và rơi xuống như hòn đá khi nó ngật đầu xuống.
Lúc sáng, lúc tối, lúc sáng, lúc tối… Mỏi mắt đến nỗi không muốn nhìn nữa.
Xích loảng xoảng cửa vào chân đến lúc toé máu. Một bước nhảy, một bước nhảy nữa, lại một bước nữa. Tối tăm, hoang vắng. Chân bị xiềng đi lâu quá chừng, chân bị xiềng đi đứng vất vả quá.
Đống lửa cháy sáng ở rìa khe. Đất rắn đanh, lạnh buốt khiến Gunxarư tê dại cả một bên sườn.

11

HAI TUẦN NỮA SẼ PHẢI LÊN ĐƯỜNG TRỞ LẠI cuộc sống du cư, lại lên núi. Ở đấy suốt mùa hè, suốt mùa thu, suốt mùa đông, cho đến mùa xuân năm sau. Ngay đến chuyển chỗ ở từ nhà này sang nhà khác cũng còn vất vả nữa là! Ở đâu ra lắm đồ lề thế? Chẳng phải là vô cớ mà từ lâu người Kirghidi có câu: Nếu anh cho là anh nghèo thì hãy lên đường đổi chỗ du cư xem.
Cần sửa soạn cho cuộc sống du mục, phải làm vô khối việc: đưa thóc đi xay, đi chợ, đến thợ giày, đến trường nội trú thăm con trai. Ấy thế mà Tanabai cứ ủ rũ như cái bánh đa nhúng nước. Trong những ngày ấy, bà vợ cảm thấy ông chồng thật kỳ dị. Sáng tinh mơ ông đã vội vã phóng đến với đàn ngựa, chẳng kịp nói năng gì với vợ con. Chiều về, ông rầu rĩ, cáu kỉnh. Dường như ông vẫn chờ đợi một cái gì, lúc nào cũng đề phòng.
- Mình làm sao thế? – Jairdar dò hỏi.
Ông lặng thinh, nhưng có lần ông nói:
- Tôi vừa chiêm bao thấy một chuyện chẳng lành.
- Mình nói thế cốt để tôi khỏi gặng hỏi mình chứ gì?
- Không, nói thật đấy mà. Đầu óc tôi luôn luôn bị ám ảnh.
- Lại thế nữa kia đấy. Chẳng phải trước kia chính mình cầm đầu những người vô thần trong bản đó sao? Chẳng phải chính mình đã bị các bà già nguyền rủa đó sao? Mình về già rồi, Tanabai ạ, mình cứ quanh quẩn cạnh đàn ngựa, còn chuyn nay mai phải lên đường đến nơi rồi thì mình dửng dưng như không. Tôi độc lực xoay sở thế nào được, lại còn con cái nữa chứ! Mà ít ra mình cũng nên đến thăm Tsôrô mới phải. Người tử tế bao giờ cũng đến thăm người ốm trước khi lên đường.
- Còn kịp chán, - Tanabai chống chế - để sau hãy hay.
- Sau là lúc nào? Mà sao lại thế, mình sợ về bản à? Mai ta sẽ cùng đi. Ta đem theo cả bọn trẻ nữa. Tôi cũng cần về bản.
Hôm sau, nhờ người hàng xóm trẻ tuổi trông hộ đàn ngựa một chút, cả nhà Tanabai đi ngựa về bản. Jaiđar đèo đứa con gái nhỡ, Tanabai đèo đứa lớn, chúng ngồi phía trước. Người đi qua các ngõ trong bản, họ chào hỏi những người gặp ở đường và người quen. Đến gần xưởng rèn, Tanabai bỗng dừng ngựa lại.
- Dừng lại, - ông nói với vợ, rồi xuống yên và bồng đứa con gái lớn đặt ngôi lên ngựa của vợ, phía đằng sau.
- Sao thế? Mình đi đâu vậy?
- Tôi trở lại ngay thôi, Jaiđar ạ. Mình cứ đi đi. Nói với Tsôrô rằng tôi sẽ đến ngay. Tôi có một số việc gấp phải giải quyết cho xong ở trụ sở ban quản trị trước bữa ăn. Và cũng cần tạt qua xưởng rèn một chút. Làm ít sắt móng ngựa dự trữ trước khi lên đường.
- Mỗi người đến một lúc thật là không tiện.
- Không sao, không sao. Mình cứ đi đi. Tôi đến ngay mà.
Tanabai không đến ban quản trị, cũng không đến xưởng rèn. Ông đi thẳng đến chuồng ngựa.
Ông xuống ngựa, không gọi ai, đi thẳng vào chuồng ngựa. Trong lúc mắt còn làm quen với bóng tối, miệng ông khô hẳn đi. Chuồng ngựa vắng lặng, ngựa đã đưa đi hết. Tanabai nhìn quanh một lúc và thở dài nhẹ nhõm. Ông đi qua cửa bên, ra sân tìm một người coi ngựa. Liền đó, ông thấy cái mà mấy ngày qua ông vẫn hằng lo sợ.
- Biết mà, lũ khốn nạn! – Ông khẽ nói, hai tay nắm chặt lại.
Gunxarư đứng dưới cái mái che, đuôi quấn băng vắt ngược lên trên bằng sợi thừng buộc vào cổ. Khoảng giữa hai chân sau chạng rộng là một khối đen, to bằng cái bình: một khối sưng phồng. Con ngựa đứng không nhúc nhích, ảo não cúi đầu xuống máng ăn. Tanabai cắn chặt môi, hậm hực, muốn đến gần con ngựa, nhưng không dám. Ông cảm thấy khiếp sợ. Khiếp sợ cái chuồng ngựa vắng vẻ này, cái sân vắng vẻ này và con ngựa cô độc đã bị thiến. Ông quay đi và lẳng lặng lê bước ra về. Sự thể không phương cứu vãn.
Buổi tối, khi cả gia đình đã về lều, Tanabai buồn rầu nói với vợ:
-Giấc chiêm bao của tôi đã thành sự thật.
-Cái gì kia?
-Lúc ở nhà Tsôrô, tôi không muốn nói đến chuyện ấy. Gunxarư sẽ không chạy về với đàn nữa đâu. Mình có biết bọn chúng đã làm gì nó không? Chúng đã thiến nó, bọn đê mạt.
-Tôi biết. Chính vì thế tôi giục mình về bản. Mình sợ phải nghe cái tin ấy chăng? Nhưng can gì mà sợ? Mình có phải là trẻ con nữa đâu! Đây phải chăng là lần đầu tiên hay là lần cuối cùng người ta thiến ngựa? Từ xưa đến giờ vẫn vậy và người ta sẽ còn làm như thế. Điều đó ai chẳng biết.
Tanabai không đáp lại gì cả. Ông chỉ nói:
-Không, dù sao tôi vẫn cảm thấy tay chủ tịch mới của chúng ta là kẻ tồi tệ. Trái tim tôi nó cảm thấy như vậy.
- Thôi đi, đừng nghĩ thế, Tanabai ạ - Jaiđar nói – Chỉ vì con ngựa Gunxarư của mình bị thiến mà quy ngay ông chủ tịch là người tồi à? Sao lại thế? Ông ấy mới về đây làm việc. Nông trang thì rộng lớn, công việc khó khăn. Tsôrô có nói rằng rồi đây cấp trên sẽ tìm hiểu kỹ tình hình nông trang, sẽ giúp đỡ chúng ta. Người ta đang vạch kế hoạch. Còn mình thì cái gì mình nhận định cũng vội vã quá. Ở đây có nhiều điều chúng ta không biết…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (09-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (07-07-2010), Xamova (07-07-2010)
  #43  
Cũ 06-07-2010, 22:14
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Ăn tối xong, Tanabai lại đến với đàn ngựa và ở đấy cho đến đêm khuya. Ông tự sỉ vả mình, cố quên hết, nhưng tất cả những gì ông đã thấy ban sáng ở chuồng ngựa vẫn lởn vởn trong tâm trí ông. Vừa đi vòng quanh đàn ngựa, lùa chúng đi trên thảo nguyên, ông vừa nghĩ ngợi: “Có lẽ quả thực không thể nhận định về một con người như thế chăng? Thực là dớ dẩn, đúng thế. Ta về già rồi, chắc chắn là vì quanh năm ngày tháng ta quanh quẩn với đàn ngựa, không nhìn thấy gì và không biết gì. Nhưng chúng ta cứ sốg cực khổ như thế này đến bao giờ?... Cứ nghe các ông ấy nói thì mọi việc đều trơn tru cả. Thôi được, cứ cho là ta sai lầm đi. Cầu trời cho ta sai lầm. Nhưng chắc chắn nhiều người khác cũng nghĩ như ta…”. Tanabai đi quanh thảo nguyên, nghĩ ngợi và không tìm ra câu giải đáp cho những nghi ngờ của mình. Ông nhớ lại thời mới bắt đầu xây dựng nông trang, người ta đã hứa hẹn với nhân dân một cuộc sống hạnh phúc như thế nào, mọi người đã mơ ước ra sao. Người ta đã phấn đấu như thế nào để thực hiện những mơ ước ấy. Người ta đã lật nhào tất cả, chôn vùi cái cũ. Của đáng tội cuống sống đã bắt đầu khá lên và hẳn là sẽ còn khá hơn nữa nếu không có cuộc chiến tranh đáng nguyền rủa ấy. Thế còn bây giờ? Chiến tranh đã kết liễu bao nhiêu năm nay rồi, thế mà ta vẫn cứ làm ăn theo kiểu giật gấu vá vai, như vá víu cái nhà lều cũ nát. Và chỗ này thì bục chỗ kia. Vì sao vậy? Vì sao người ta không coi nông trang là nông trang của mình, như hồi ấy, mà coi như của giời ơi đất hỡi? Hồi ấy, cuộc họp đã quyết định thì đó là luật lệnh. Mọi người đều biết rằng luật lệnh đó do mình định ra và phải tuân theo. Còn bây giờ, họp hành toàn nói suông. Chẳng ai quan tâm gì đến anh. Nông trang dường như không phải do chính các nông trang viên quản lý, mà do người ngoài chỉ huy. Dường như đứng bên ngoài thì thấy rõ hơn cần phải làm gì, làm việc thế nào tốt hơn, nên quản lý kinh tế như thế nào. Người ta thay đổi cung cách làm ăn xoành xoạch, nhưng chẳng có ích lợi gì. Thậm chí người ta ngại gặp gỡ các nông trang viên, chỉ e ngộ nhỡ bà con hỏi: này, anh là đảng viên, anh đã đứng ra tổ chức nông trang, anh hò hét to mồm hơn ai hết, vậy anh hãy giải thích cho chúng tôi rõ vì đâu nên nông nỗi này. Biết nói với bà con thế nào được. Lẽ ra cũng nên triệu tập những cuộc họp và nói cho chúng ta biết sự thể sẽ đi đến đâu. Phải hỏi han xem tâm trạng nhân dân như thế nào, ai có ý nghĩ gì, những lo âu gì. Nhưng mà không, cán bộ đặc phái ở huyện về cũng không phải là những người như trước kia. Trước kia, những cán bộ ở trên xuống đi vào nhân dân, ai muốn gặp cũng được. Còn bây giờ, về đến nơi là họ quát mắng ông chủ tịch ở trụ sở ban quản trị nông trang, và hoàn toàn không trao đổi gì với Xô viết xã. Nếu có phát biểu tại cuộc họp đảng viên thì toàn nói về tình hình quốc tế, còn tình hình nông trang thì dường như là chuyện không quan trọng. Cứ làm việc đi, thực hiện kế hoạch đi, thế là được.
Tanabai nhớ lại mới đây có một cán bộ ở trên về, ông ta toàn nói về một học thuyết ngôn ngữ mới gì đó. Tanabai thử tìm cách nói chuyện với ông ta về đời sống thường ngày ở nông trang, ông ta nhìn Tanabai bằng con mắt khó chịu và nói: ý nghĩ của đồng chí thật đáng ngờ. Ông ta không tán thành. Sao lại thế nhỉ.
Tanabai nghĩ bụng:
“Để rồi bao giờ Tsôrô bình phục, ta sẽ bắt anh ta thổ lộ hết mọi băn khoăn suy nghĩ với ta. Chính ta cũng sẽ thổ lộ hết với anh ấy. Nếu ta lầm lẫn, anh ấy sẽ bảo cho ta biết. Nhưng nếu ta không lầm thì sao? Không, không, không thể thế được. Cố nhiên là ta lầm lẫn. Ta là cái quái gì? Một người chăn ngựa bình thường, một người chăn gia súc. Còn ở trên có những người sáng suốt…”
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (09-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (07-07-2010), Xamova (07-07-2010)
  #44  
Cũ 07-07-2010, 22:51
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Tanabai trở về lều và mãi không ngủ. Đầu óc nhức nhối về câu hỏi “vướng mắc ở đâu?”. Và ông vẫn không tìm được câu trả lời.
Rút cuộc ông cũng không có dịp nói chuyện với Tsôrô. Trước khi lên đường, công việc ngập đầu ngập cổ.
Họ lại lên đường, lùa gia súc lên núi, ở đấy suốt mùa thu và mùa đông, cho đến mùa xuân năm sau. Các đàn bò đàn ngựa, đàn cừu lại đi dọc bờ sông, trên bãi bồi. Những đoàn súc vật thồ nối đuôi nhau. Không trung rộn vang tiếng nói, thấp thoáng những tấm khăn choàng và áo dài nhiều màu của phụ nữ, các cô gái hát bài ca chia ly. Tanabai lùa đàn ngựa của mình qua cánh đồng cỏ lớn, qua những ngọn đồi gần bản. Cái nhà ấy, cái sân ấy vẫn ở rìa bản, trước đây ông vẫn tới đấy cùng với Gunxarư của mình. Lòng ông tái tê. Giờ đây, đối với ông, không còn người đàn bà ấy, cũng không còn Gunxarư. Tất cả đã lùi vào dĩ vãng, mẩu đời sôi nổi ấy đã qua đi nhanh chóng như tiếng vỗ cánh của bầy ngỗng xám mùa xuân…
Lạc đà mẹ vẫn chạy hết ngày này sang ngày, tìm gọi con. Con ở đâu, chú lạc đà nhỏ mắt đen của mẹ? Lên tiếng đi! Sữa chảy ra từ bầu vú, bầu vú căng mọng. Sữa trắng ngần…

12

MÙA THU NĂM ẤY, SỐ PHẬN TANABAI BAKAXÔP đã xoay chuyển đột ngột.
Lúc trở về, sang qua đèo, ông dừng lại trên bãi chăn thả mùa thu ở giáp chân núi: chẳng bao lâu nữa ông sẽ cùng với các đàn ngựa vào trú đông trong hẻm núi.
Chính trong những ngày ấy, có một người liên lạc ở nông trang đến tìm ông và nói với ông:
- Ông Tsôrô bảo tôi đến nói với bác: ngày mai mời bác về bản, rồi cùng lên họp ở huyện.
Hôm sau, Tanabai đến văn phòng ban quản trị nông trang. Tsôrô ở đây, trong phòng của bí thư chi bộ. Nom ông khá hơn hồi mùa xuân nhiều, mặc dù cặp môi tím ngắt và thân hình gầy nhom của ông chứng tỏ ông vẫn ốm. Ông có vẻ hoạt bát, rất bận, người ta xúm xít vây quanh ông. Tanabai mừng cho bạn. Như vậy là Tsôrô đã hồi phục, lại làm việc được. Khi còn lại hai người với nhau, Tsôrô nhìn Tanabai, đưa tay xoa đôi má bóp râu ria lởm chởm của mình và mỉm cười:
- Này, Tanabai, anh chẳng già đi chút nào, vẫn thế. Đã lâu lắm ta không gặp nhau, từ mùa xuân đấy nhỉ? Kumưx và không khí vùng núi thật tốt hết sức. Còn tôi thì cứ suy yếu dần. Hẳn là đã đến lúc… - Tsôrô im lặng một lát, rồi nói về công việc: - Thế này này, Tanabai ạ. Tôi biết anh sẽ nói: “đưa cho đứa trâng tráo một cái thìa thì đáng lẽ múc một thìa, hắn sẽ chén năm thìa”. Lần này lại phải trông cậy vào anh thôi. Ngày mai chúng ta đi họp hội nghị chăn nuôi. Tình hình chăn nuôi rất tệ, nhất là cừu và đặc biệt ở nông trang ta. Quả là hỏng bét cả. Huyện ủy kêu gọi các đảng viên và đoàn viên xung phong đến các khu vực chậm tiến, cụ thể là khu vực chăn nuôi cừu. Anh giúp tôi với! Trước đây anh đã giúp tôi giải quyết ổn thỏa việc chăn ngựa, cảm ơn anh, bây giờ mong anh lại giúp tôi lần nữa. Anh hãy nhận một đàn cừu, chuyển sang chăn cừu.
- Anh vội vàng quá đấy, Tsôrô ạ! – Tanabai im lặng, thầm nghĩ: “Ta đã quen với ngựa rồi. Chăn cừu kể cũng hơi chán. Mà cứ như thế rồi cơ sự sẽ ra sao nhỉ”.
- Quả là tôi có o ép anh, Tanabai ạ - Tsôrô lại nói – Nhưng biết làm thế nào được, đó là nhiệm vụ đảng giao cho. Đừng giận. Khi cần anh cứ lấy tình bè bạn nhắc lại món nợ của tôi đối với anh, tôi sẽ lập tức nhận hết mọi trách nhiệm.
- Ừ được, rồi có lúc tôi sẽ tính nợ với anh, mà tính rất chi li, khiến anh không còn vui mừng được nữa đâu – Tanabai cười, ông không ngờ chẳng bao lâu nữa ông sẽ phải oán trách Tsôrô về mọi chuyện… - Còn về chuyện chăn cừu thì cần phải nghĩ them, để tôi bàn với nhà tôi…
- Thì cứ nghĩ đi, nhưng sang mai phải quyết định dứt khoát đấy. Mai phải báp cáo trước hội nghị rồi. Để có dịp, chính tôi sẽ đến nói chuyện với chị ấy. Chị ấy là người thông minh, chị ấy sẽ hiểu. Nếu không có Jaiđar, anh đã gãy cổ ở nơi nào đó từ lâu rồi – Tsôrô nói đùa – Chị ấy dạo này khỏe không? Các cháu thế nào?
Họ nói chuyện về gia đình, về bệnh tật, về đủ thứ linh tinh. Tanabai vẫn muốn nói với Tsôrô nỗi băn khoăn lớn lao của ông, nhưng những người chăn gia súc trên núi được mời về bản đã đến, chính Tsôrô cũng vội, chốc chốc lại nhìn đồng hồ.
- Vậy cứ thế nhé. Anh cứ đưa ngựa vào chuồng cho họ trông coi. Sáng mai chúng ta cùng đi bằng ôtô. Chúng ta đã được cấp một chiếc ôtô mà. Ít lâu nữa ta sẽ có chiếc thứ hai. Cuộc sống sẽ bắt đầu khá lên! Còn bây giờ tôi phải đi đây, bây giờ phải có mặt ở huyện ủy. Đồng chí chủ tịch hiện đã có mặt ở đấy. Tôi tính đến chiều là tới nơi, Gunxarư chạy không thua gì ôtô.
- Sao, anh cưỡi Gunxarư đấy à? – Tanabai ngạc nhiên – vậy thì ông chủ tịch nể trọng anh lắm đấy…
- Biết nói thế nào được. Nể trọng thì không hẳn như thế, nhưng ông ấy nhường nó cho tôi. Anh hiểu không, thật kì lạ - Tsôrô cười, giang hai tay ra – Không hiểu sao Gunxarư căm ghét ông chủ tịch. Không tài nào cắt nghĩa được. Nó đâm ra dữ tợn, không cho ông ấy lại gần. Đã thử đủ cách. Không ăn thua gì hết! Có giết nó cũng vậy thôi. Nhưng tôi cưỡi thì nó rất êm, anh luyện nó thuần thục lắm. Tanabai ạ, thỉnh thoảng tôi lên cơn đau tim đến nỗi phải ôm lấy ngực, thế mà hễ cưỡi lên Gunxarư và nó bắt đầu phi là cơn đau biến mất hẳn. Chỉ như thế cũng đủ khiến tôi vui long suốt đời gánh tránh vụ bí thư chi bộ, nó chữa cho tôi khỏi bệnh! – Tsôrô cười.
Tanabai không cười.
- Tôi cũng không ưa ông ta – Tanabai thốt lên.
- Không ưa ai kia? – Tsôrô vừa hỏi vừa lau nước mắt giàn dụa vì cười.
- Tay chủ tịch.
Tsôrô nghiêm nét mặt:
- Vì sao anh không ưa ông ấy?
- Tôi không biết. Tôi có cảm giác ông ta là một kẻ trống rỗng, trống rỗng và độc ác.
- Này, quả thật là khó mà chiều được anh. Tôi thì suốt đời bị anh trách là nhu nhược, còn ông ta thì anh lại cũng không ưa… Tôi không rõ lắm… Tôi mới nhận công tác chưa được bao lâu. Hiện thời tôi chưa có ý kiến rõ rệt.
Cả hai đều im lặng. Tanabai muốn nói với Tsôrô về chuyện chiếc kixen xiềng chân Gunxarư, về việc người ta thiến con ngựa, nhưng ông thấy nói chuyện ấy lúc này không đúng lúc, không lọt tai. Để khỏi kéo dài tình trạng im lặng ngượng ngập, Tanabai nói về điều làm ông vui sướng, về cái tin thú vị ông vừa được biết trong lúc nói chuyện:
- Chúng ta được cấp một chiếc ôtô, tuyệt quá. Như vậy là bây giờ ôtô sẽ về các nông trang. Cần phải như thế, như vậy là phải. Đã đến lúc như thế rồi. Anh còn nhớ trước chiến tranh, có lần chúng ta đã nhận được chiếc cam nhông đầu tiên như thế nào chứ? Đúng là cả một cuộc míttinh. Chuyện đùa đâu: nông trang có ôtô riêng của mình. Anh đã lên phát biểu, đứng trên thùng xe: “Các đồng chí, đây là thành quả của chủ nghĩa xã hội!”. Rồi sau, nó lại bị trưng dụng để đưa ra mặt trận…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (09-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (07-07-2010)
  #45  
Cũ 07-07-2010, 22:53
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Phải, đã có một thời như thế… Cái thời buổi tuyệt diệu, như lúc mặt trời mọc. Chuyện chiếc ôtô chưa đáng kể vào đâu! Khi họ từ công trường đào con kênh Tsu trở về và mang theo những chiếc máy hát đầu tiên, cả bản mê say bài hát mới. Bây giờ là cuối mùa hè. Tối tối, mọi người tụ tập trước nhà những người có máy hát. Người ta mang máy ra đường và mọi người nghe đi nghe lại chiếc đĩa về cô gái lao động tiền tiến choàng khăn đỏ: “Ơi cô gái choàng khăn đỏ, ước gì cô mời tôi chén trà!...”. Đối với họ, đấy cũng là thành quả của chủ nghĩa xã hội…

- Anh nhớ không, Tsôrô, sau cuộc míttinh, chính chúng ta leo lên xe cam nhông, đứng chật lên như nêm! - Tanabai sôi nổi hẳn lên khi hồi tưởng lại chuyện cũ – Tôi cầm cờ đỏ đứng cạnh buồng lái như trong ngày hội. Xe đưa chúng ta ra ga, đi chơi thế thôi, chẳng có công việc gì cả, rồi xe chạy dọc đường sắt, đến một ga khác ở Kazăctan. Chúng ta uống bia ở công viên. Suốt dọc đường, cả lượt đi lẫn lượt về, chúng ta đều ca hát. Trong số những jighit hồi áy, bây giờ chẳng còn được mấy người, tất cả đã hi sinh trong chiến tranh… Ờ phải.. Anh ạ, ngay cả ban đêm tôi cũng không rời lá cờ đỏ, vẫn cầm nó trong tay. Đêm thì ai nhìn thấy lá cờ kia chứ? Thế mà tôi vẫn giữ khư khư trong tay… Đấy là lá cờ của tôi. Mọi người đều hát, tôi còn nhớ tôi khản cả tiếng… Tại sao bây giờ chúng ta không hát, hả Tsôrô?
- Chúng ta về già rồi, bây giờ bọn ta mà còn hát hỏng thì coi không tiện…
- Không, ý tôi không phải thế, đã hết cái thời chúng ta ca hát rồi. Nhưng còn thanh niên thì sao? Thỉnh thoảng tôi có đến thăm con trai tôi ở trường nội trú. Rồi đây nó sẽ thành người như thế nào? Ngay từ bây giờ nó đã biết cách lấy long cấp trên. Nó bảo: bố nên mang kumưx đến biếu ông hiệu trưởng thường xuyên hơn nữa. Để làm gì kia chứ? Nó học cũng kha khá… Giá như anh được nghe nó hát. Thuở nhỏ tôi làm công cho Êfrimốp ở Alêcxanđrốpka, có lần ông ta đưa tôi đến nhà thờ nhân dịp lễ phục sinh. Còn con em chúng ta, chúng cũng đứng cả trên sân khấu, hai tay duỗi thẳng dọc mép quần, mặt ngây như tượng đá và hát, hệt như trong nhà thờ Nga. Vẫn một kiểu như thế… Tôi không ưa cái kiểu đó. Nói chung, bây giờ có nhiều điều tôi không hiểu, tôi muốn có dịp nói chuyện với anh… Tôi đã lạc hậu với cuộc sống, có nhiều điều tôi không hiểu nổi nữa.
- Thôi được, Tanabai ạ. Lần khác ta sẽ nói chuyện, ta sẽ dành được thời giờ - Tsôrô bắt đầu thu xếp giấy tờ, cho vào xà cột – Nhưng anh cũng đừng lo phiền quá. Như tôi chẳng hạn, tôi tin, tôi tin chắc rằng đu khó khăn đến đâu chúng ta vẫn vươn lên được, rồi sẽ đến một lúc ta sẽ được sống như ta đã từng mơ ước… - Lúc ra đi ông còn nói thêm. Đến ngưỡng cửa, ông quay lại, chợt nhớ ra một điều – Này, Tanabai ạ, có lần tôi đi qua nhà anh, thấy nhà cửa hoang tàn quá đỗi. Anh chẳng nhòm ngó gì đến nó cả. Anh quanh năm ở trên núi, còn nhà thì không chủ. Hồi chiến tranh, vắng anh, Jaiđar trông nom nhà cửa còn chu đáo hơn. Anh tạt qua mà xem. Rồi cho tôi biết anh cần gì, mùa xuân chúng tôi sẽ giúp anh sửa sang lại phần nào. Thằng Xamanxur nhà tôi về nghỉ hè thấy thế nó cũng không chịu nổi. Nó lấy cái liềm và bảo: con đi cắt cỏ dại ở sân nhà bác Tanabai đây. Vữa bọc tường tróc từng mảng, kính vỡ lung tung, nó bảo chim sẽ chạy nhảy trong các phòng như ở sân đập.
- Về cái nhà thì anh nói đúng. Và xin cảm ơn Xamanxur. Nó học hành thế nào?
- Năm thứ hai rồi đấy. Nó học khá. Vừa rồi anh có nói đến thanh niên, còn tôi thì căn cứ vào con trai tôi, tôi thấy thanh niên ngày nay chẳng đến nỗi tồi. Qua những câu chuyện nó kể thì thấy các bạn cùng học với nó ở trường đại học là những gã trai có năng lực. Một lớp thanh niên có văn hóa, biết suy nghĩ về bản thân.
Tsôrô đi ra chuồng ngựa, còn Tanabai đến xem lại ngôi nhà của mình. Ông đi vòng quanh nhà một lượt. Cỏ dại khô cong, bụi bặm gẫy lắc rắc dưới chân: anh sinh viên con trai Tsôrô cắt từ mùa hè năm ngoái. Ông lấy làm xấu hổ vì căn nhà không được chủ trông nom gì đến. Những người chăn nuôi khác còn có bà con ở lại hay có người trông nom giúp. Ông có hai em gái khác đều ở các bản khác, Kulubai với ông thì hiềm khích, còn Jaiđar thì không có bà con thân thích ở đây. Rút cuộc là nhà bị bỏ hoang. Sắp tới lại vẫn tiếp tục chăn lùa gia súc, lần này thì chăn cừu. Lúc này Tanabai vẫn còn do dự, nhưng trong thâm tâm ông biết thế nào rồi Tsôrô cũng sẽ thuyết phục được ông, ông không thể từ chối được, ông sẽ nhận lời như mọi lần thôi.
Họ rời khỏi bản vào buổi sang, đi ôtô về huyện. Mọi người đều ưa thích chiếc GAZ mới, một chiếc cam nhông ba tấn. “Chúng ta đi như Sa hoàng” – những người chăn gia súc nói đùa. Tanabai cũng vui sướng. Đã lâu ông không được đi ôtô, kể từ hồi chiến tranh đến giờ. Hồi ấy ông đã từng đi trên các nẻo đường Xlôvaki và Áo trên những chiếc “Studebacker” của Mỹ. Những chiếc cam nhông ba cầu rất khỏe. Hồi ấy Tanabai nghĩ: “Giá chúng ta có những chiếc xe như thế thì tuyệt. Nhất là để chuyên chở ngũ cốc từ các vùng giáp núi về. Loại xe này đi vào đâu cũng chẳng sa lầy”. Và ông tin rằng chiến tranh kết thúc rồi chúng ta cũng sẽ có những chiếc ôtô như thế. Sau chiến thắng sẽ có tất cả…
Ở thùng xe không mui, gió thổi bạt tiếng, người ta chuyện trò rời rạc. Hầu hết đều im lặng, cho đến khi Tanabai nhắc nhở đám thanh niên:
- Hát lên đi chứ, các bạn trẻ. Sao lại cứ nhìn bọn già chúng tôi như thế? Hát đi, chúng tôi nghe đây.
Thanh niên cất tiếng hát. Mới đầu loạc choạc, rồi dần dần đều nhịp. Không khí trở nên vui vẻ hơn. “Thế là tốt – Tanabai nghĩ – Như vậy tốt hơn. Cái chính là rút cuộc cấp trên đã triệu tập chúng ta họp lại. Chắc hẳn các đồng chí sẽ báo cáo tình hình, sẽ cho biết cần tổ chức công việc ở nông trang như thế nào. Cấp trên nhìn thấy rõ hơn chúng ta. Chúng ta chỉ biết những việc ở khu vực của mình, thế thôi. Cấp trên sẽ gợi ý, rồi ở nhà, chúng ta sẽ bắt tay vào việc theo cung cách mới…”.
Ở trung tâm huyện thật là ồn ào và đông người. Ôtô, xe ngựa, ngựa cưỡi chiếm hết cái bãi cạnh câu lạc bộ. Những người bán thịt nước và bán trà đá chực sẵn ở đấy từ bao giờ. Khói bốc nghi ngút, mùi mỡ cháy khen khét, tiếng người bán hang chào mời khách mới đến.
Tsôrô đã đợi ở đây.
- Xuống xe nhanh lên và vào ngay đi để giữ chỗ ngồi. Sắp bắt đầu rồi. Tanabai, anh đi đâu đấy?
- Tôi đến ngay đấy – Tanabai nói gọn lỏn và chen qua đám ngựa cưỡi. Ngay từ lúc còn ở trên xe, ông đã nhận ra Gunxarư của mình và bây giờ ông đến với nó. Từ mùa xuân đến giờ, ông chưa gặp nó lần nào.
Gunxarư mang yên đứng giữa những con ngựa khác, nổi bật hẳn lên với bộ long vàng nhạt, đuôi và bờm màu đen, mông to và khỏe, đầu hơi quắt, sống mũi gồ, mắt đen láy.
- Chào mày, Gunxarư, chào mày! – Tanabai vừa thì thầm vừa len đến gần con ngựa – Này, độ rày mày thế nào?
Con ngựa liếng tròng mắt, nhận ra chủ cũ, nó dậm chân, phì phì mấy tiếng.
- Này, Gunxarư, nom mày cũng khá đấy chứ. Chà, ngực nở hẳn ra thế kia kìa. Như vậy là mày vẫn chạy thường xuyên và chạy nhiều. Hồi ấy mày khổ sở lắm phải không? Tao biết… Nhưng thôi được, thế là mày lại được trao vào tay một con người tử tế. Cứ ngoan ngoãn, rồi sẽ ổn cả thôi – Tanabai nói, đồng thời thò tay vài cái túi thồ bên mình ngựa, mân mê chỗ thóc còn lại. Như vậy là Tsôrô không để cho nó bị bỏ đói ở đây – Thôi, đừng đấy nhé, tao phải đi đây.
Trên tường, bên lối vào câu lạc bộ có căng những bằng khẩu hiệu đỏ thắm: “Các đảng viên cộng sản, hãy tiến lên!”, “Đoàn thanh niên Kôxômôn là đội tiền phong của đoàn thanh niên xô viết!”.
Người đông nghìn nghịt, tràn khắp cả phòng giải lao và phòng hội trường, Tsôrô và chủ tịch nông trang Anđanôp đón gặp Tanabai ở cửa.
- Tanabai, ta ra chỗ này nói chuyện riêng một chút – Anđanôp nói – Chúng tôi đã ghi tên đồng chí vào danh sách rồi, đây là sổ tay của đồng chí. Đồng chí phải lên phát biểu. Đồng chí là đảng viên, là người chăn ngựa ưu tú nhất của nông trang ta.
- Tôi biết nói gì được?
- Hãy nói rằng với tư cách là đảng viên, bác quyết định đến làm việc tại một khu vực chậm tiến, chăn đàn cừu đẻ.
- Có thế thôi à?
- Không, còn nữa chứ! Đồng chí sẽ nói lên nhiều cam kết của mình. Tôi cam kết trước đảng và trước nhân dân: tôi nhận chăn nuôi cừu, sao cho cứ một trăm cừu mẹ thì thu hoạch và chăm sóc tốt được một trăm mười cừu con, và cắt được ba kilo len mỗi đầu cừu.
- Làm sao tôi có thể nói như vậy được, khi tôi chưa hề trông thấy đàn cừu bao giờ?
- Ồ, chuyện ấy có gì đáng kể! Anh sẽ nhận một đàn cừu – Tsôrô cố làm cho cuộc nói chuyện bớt găng – Anh sẽ chọn những con anh ưng ý. Đừng ngại. À này, anh hãy nói thêm rằng anh nhận đỡ đầu hai đoàn viên Kômxômôn chăn cừu.
- Những ai vậy?
Đám đông xô lấn chen đẩy. Tsôrô nhàn bản danh sách.
- Bôlôtbêkôp Esim và Zarlưkôp Bêctai.
- Nhưng tôi chưa hề nói chuyện với họ, không biết họ có ý kiến như thế nào về việc đó?
- Vẫn lại cứ một mình một ý! Đồng chí kỳ cục thật đấy. Cứ nhất thiết là đồng chí phải nói chuyện với họ ư? Cần quái gì kia chứ? Họ không thể lẩn tranh đi đâu được, chúng tôi đã ghi vào danh sách rồi: đồng chí sẽ là người đỡ đầu cho họ. Việc này đã quyết định rồi.
- Nếu đã quyết định rồi thì còn bàn với tôi làm gì nữa? – Tanabai bỏ đi.
- Khoan đã – Tsôrô giữ Tanabai lại – nhớ cả rồi chứ.
- Nhớ cả rồi – nhớ cả rồi – Tanabai vừa đi vừa nói sẵng giọng.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
hungmgmi (08-07-2010), huong duong (20-08-2010), nthach (09-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (07-07-2010)
  #46  
Cũ 08-07-2010, 22:17
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

13

CUỘC HỌP BẾ MẠC NGAY CHIỀU HÔM ẤY. Trung tâm huyện lại trở nên vắng vẻ, các đại biểu lên đường ra về: người thì về với đàn gia súc của mình ở trong núi, người thì về trại chăn nuôi, người thì về các bản làng.
Tanabai đi cam nhông cùng với một số người khác, qua đèo Alêcxanđrôpka, qua thảo nguyên vùng cao. Trời đã tối, gió lạnh thấu xương. Mùa thu, Tanabai ngồi thu lu trong một góc thùng xe, cổ áo dựng lên, đầu óc cứ quẩn quanh với những ý nghĩ của mình. Thế là cuộc họp đã kết thúc. Bản thân ông chẳng nói được điều gì xác đáng cả, nhưng ông đã nghe những người khác phát biểu. Vậy ra còn phải tốn nhiều công sức nữa thì mọi việc mới đi vào nề nếp được. Đồng chí đeo kính ấy nói đúng (đồng chí ấy là bí thư tỉnh ủy đấy): “Không có ai làm sẵn đường đi cho chúng ta, tự ta phải mở lấy đường mà đi”. Kể cũng lạ thạt, từ những năm ba mươi kia, cứ lúc lên lúc xuống, lúc thì vọt lên, lúc thì tụt thụt lùi… Rõ ràng đấy không phải là chuyện đơn giản, cái việc xây dựng nông trang ấy. Thì như bản thân ông chẳng hạn, đầu đã hai thứ tóc, đã phung phí hết một thời tuổi trẻ, đã trải qua mọi sự đời, không việc gì là không mó tay vào, cũng đã lắm phen làm những trò dại dột, vẫn cứ tưởng đâu như thế là được rồi, nói chung là ổn thỏa, thế mà tình hình nông trang thực ra còn bê bối lắm…

Cần phải làm việc, cái đó thì đã hẳn. Đồng chí bí thư nói đúng, cuộc sống không bao giờ tự nó lăn đi, như trước đây ta đã tưởng lầm, sau khi chiến tranh kết liễu. Luôn luôn phải ghé vai đẩy nó đi, chừng nào ta còn sống… Có điều lúc nào nó cũng quay những cạnh góc nhọn hoắt về phía chúng ta, làm cho cả hai vai ta đều nổi đầy u chai. U chai cũng chẳng đáng kể chi, nếu như ta cảm thấy hài lòng về công việc của ta, về những gì người khác đang làm, và công sức đổ ra đem lại hạnh phúc cho mọi người. Rồi đây công việc chăn cừu của ông sẽ ra sao? Jaiđar sẽ nói gì? Thậm chí ông không đủ thời gian tạt qua cửa hàng một lát: chẳng gì cũng mua lấy ít kẹo cho hai con nhỏ mới phải. Ông đã hứa với chúng nó rồi. Nói thì dễ: một trăm mười cừu con tính cho mỗi trăm cừu mẹ và thu hoạch ba kilô len mỗi đầu con. Muốn có được một cừu con thì trước hết việc sinh nở phải vuông tròn, rồi cừu con phải sống được, bất chấp mưa gió, giá rét lúc nào cũng toan giết hại nó. Còn len? Hãy lấy một sợi len mà xem, mắt nhìn còn khó nhận ra, thổi nhẹ một cái là bay biến đâu mất. Làm cách gì ra hàng kilô len? Ôi chao, phải nói đấy là những kilô vàng. Thế mà chắc hẳn có những người không hề hay biết gì về việc làm cách nào lấy được len…

Đúng, Tsôrô đã đẩy ông đi lạc hướng, đã làm ông rối trí… Tsôrô đã bảo ông: “Lên phát biểu đi, nhưng nói ngắn thôi, chỉ nói những điều mình cam kết. Ngoài ra đừng nói gì khác. Chớ có mà dại dột”. Thế là Tanabai đã nghe theo. Lên diễn đàn ông đâm ra vui vẻ và không dám nói ra những điều vẫn chất chứa trong lòng ông. Ông lí nhí mấy lời cam kết rồi về chỗ. Nghĩ lại thật xấu hổ. Nhưng Tsôrô lại hài lòng. Tại sao Tsôrô bỗng trở nên e dè quá đáng đến như thế? Phải chăng vì đau yếu, hay vì bây giờ anh ấy không còn là người đứng đầu nông trang nữa? Tại sao anh ấy phải ngăn ngừa Tanabai? Không, ở Tsôrô có cái gì chệch trẹo, có cái gì khác trước. Chắc hẳn vì suốt đời anh ấy đã phải gánh vác trách nhiệm chủ tịch nông trang, suốt đời bị cấp trên trách mắng. Ý chừng anh ấy đã rút được bài học phải sống cho khôn khéo…
“Được rồi, anh bạn ạ, rồi có lúc tôi sẽ nói chuyện riêng với anh, sẽ khiển anh một mẻ…” – Tanabai nghĩ bụng và quấn chặt chiếc áo da lông cho kín hơn nữa. Trời lạnh, đường về nhà còn xa. Cái gì đang chờ đợi ông ở nhà?...
Tsôrô cưỡi Gunxarư ra về. Ông đi một mình, không chờ những người đi cùng đường. Ông muốn mau mau về nhà, tim thỉnh thoảng hơi nhoi nhói. Ông để cho ngựa đi theo ý nó. Con vật đã phải đứng một chỗ suốt ngày, bây giờ nó phi một nước kiệu sải dài, vững vàng, tiếng vó nện rành rọt, đều đều như máy trên con đường chiều hôm. Ở nó bây giờ chỉ còn một niềm say mê duy nhất: chạy, chạy thật nhiều. Mọi ham muốn khác của nó đã chết từ lâu. Người ta giết chết những cái đó để nó chỉ còn biết có yên cương và đường đi. Gunxarư sống khi nó chạy. Nó chạy một cách tận tâm, không biết mệt mỏi, tuồng như nó có thể đuổi kịp những gì người ta đã lấy mất của nó. Nó chạy mãu mà vẫn chưa bao giờ đuổi kịp.

Cưỡi ngựa dong duổi trên con đường lộng gió. Tsôrô cảm thấy nhẹ nhõm đôi chút. Cơn đau tim lùi hẳn. Nói chung, ông hài lòng về cuộc hội nghị, ông rất thích bài nói của đồng chí bí thư tỉnh ủy. Ông đã nghe nói nhiều về đồng chí đó, nhưng mới gặp lần này là lần đầu. Tuy vậy, Tsôrô vẫn không hoàn toàn thư thái. Trong lòng vẫn áy náy. Thực ra, ông chỉ muốn điều tốt cho Tanabai. Ông đã quá quen thuộc với tất cả các loại cuộc họp lớn nhỏ kiểu này, ông biết nên nói gì và nói ở đâu, cái gì không nên nói. Ông lọc lõi lắm rồi. Còn Tanabai tuy có nghe lời ông, nhưng vẫn không chịu hiểu điều đó. Họp xong, Tanabai không nói với ông lời nào. Anh ta lên xe, ngoảnh mặt đi. Anh ta giận. Chao ôi, Tanabai, Tanabai! Bạn ngờ nghệch quá. Cuộc sống chẳng dạy bạn được điều gì cả. Bạn chẳng biết gì và chẳng nhận thấy gì cả. Thời trai trẻ thế nào, giờ vẫn thế. Việc nào cũng cứ muốn cưa đứt đục suốt ngay tức thì. Nhưng thời buổi này có còn như trước nữa đâu, Bây giờ điều quan trọng nhất là nói thế nào, nói trước mặt ai, sao cho nghe hợp với tinh thần thời đại, cũng giống như mọi người, không khác đời, không vấp váp, mà trơn tru như đọc bài viết sẵn. Cứ như thế là sẽ ổn cả. Còn nếu để mặc anh nói theo ý thích của anh, Tanabai ạ, thì anh sẽ tuôn ra vô khối điều dại dột, rồi sau tôi lại phải gánh lấy trách nhiệm. “Đồng chí giáo dục đảng viên trong tổ chức của mình như thế nào vậy? Kỷ luật ở đâu? Sao lại có sự bừa bãi như thế?” Ôi chao. Tanabai, Tanabai…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (09-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (10-07-2010), Xamova (12-07-2010)
  #47  
Cũ 10-07-2010, 00:01
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

14

VẪN ĐÊM HÔM ẤY, CÁI ĐÊM ẬP ĐẾN GIỮA lúc Tanabai và con ngựa còn đang trên đường về. Một ông già và con ngựa già. Đống lửa cháy sáng ở rìa khe. Tanabai đứng lên, và lần này không biết là lần thứ mấy, đắp lại tấm áo lông phủ trên mình Gunxarư đang hấp hối. Rồi ông lại ngồi xuống ở phía đầu nó. Ông điểm lại trong trí nhớ cả cuộc đời mình. Hết năm này sang năm khác, như nhịp chạy của con ngựa có nước đi dị dạng… Vậy thì những gì đã xảy ra vào năm ấy. Cuối mùa thu, đầu mùa đông ấy, khi ông trở thành người chăn cừu, chăn dắt một đàn [B]cừu?...

15

Ở TRONG NÚI THÁNG MƯỜI LÀ CẢ MỘT THÁNG khô hanh và thiên nhiên khoác bộ áo óng ánh vàng. Chỉ có hai ngày đầu, trời đổ mưa và trở lạnh, sương mù bao phủ khắp nơi. Nhưng rồi qua một đêm, tất cả những gì u ám đã tan biến đâu hết, và buổi sáng ra khỏi lều, Tanabai suýt lùi lại một bước: núi đã tiến gần hơn về phía ông, tuyết mới tinh, trắng xóa trên chỏm. Tuyết tôn vẻ đẹp núi lên biết chừng nào! Núi cao sừng sững dưới vòm trời thanh khiết tuyệt vời, nổi rõ từng nét trong ánh sáng và bóng tối, như thể vừa được Chúa tạo dựng nên. Không gian vô tận xanh thăm thẳm bắt nguồn từ chỗ tuyết nằm đọng lại. Giữa lòng khoảng không vô cùng, ở nơi xa xăm xanh thẳm kia, ta mường tượng thấy cái xa với huyền ảo của vũ trụ. Tanabai co ro vì tuyết nhiều quá và vạn vật tươi mới quá, ông cảm thấy lòng buồn tê tái. Ông lại nhớ tới người đàn bà ấy: hồi nào ông vẫn cùng Gunxarư đến với nàng. Giá như Gunxarư vẫn còn trong tay ông, ông sẽ nhảy lên lưng nó, hét lên vì thích thú và vui sướng, phóng như bay đến với nàng, đến một cách đột ngột cũng như đám tuyết trắng buổi sáng nay đã đến với ông…
Nhưng ông biết đấy chỉ là mơ ước… Có gì là lạ, một nửa đời người trôi qua trong mơ ước, có lẽ chính vì vậy cuộc sống mới rất đỗi ngọt ngào. Có lẽ cuộc sống quý giá chính là bởi không phải tất cả những gì ta mơ ước đều thành sự thực. Ông nhìn núi non, bầu trời và nghĩ rằng chắc hẳn không phải mọi người đều có thể hạnh phúc như nhau: mỗi người có số phận riêng. Ai nấy đều có những niềm vui sướng và những nỗi đau xót riêng của mình, cũng như trên một ngọn núi cùng một lúc có cả ánh sáng và bóng tối. Có vậy cuộc sống mới đầy đủ… “Chắc hẳn nàng không còn mong chờ ta nữa. Trừ phi nhìn thấy tuyết mới xuống trên núi, nàng chợt nhớ đến ta…”.
Con người già đi, nhưng tâm hồn chưa chịu đầu hàng, đôi khi nó chợt sôi nổi trở lại, nói lên tiếng nói của mình.
Tanabai thắng yên con ngựa của mình, mở cửa bãi chắn rào, hướng vào nhà lều, lớn tiếng bảo vợ:
- Jaiđar, tôi đưa cừu đi ăn, liệu chừng mình làm xong việc thì tôi sẽ về.
Đàn cừu chạy lon ton hối hả, đầu và lưng nhấp nhô như làn sóng, leo lên sườn dốc. Những người chăn cừu ở gần đấy cũng lùa đàn cừu của mình đi chăn. Đây đó trên các sườn dốc, các trũng sâu và các khe hẻm, những đàn cừu bắt đầu đi thu lượm món vật cống muôn thuở của đất: cỏ ăn cho gia súc. Từng đám trắng chen lẫn đốm xám, chúng đi lang thang giữa đám cỏ tạp màu đỏ hung và màu nâu của núi mùa thu.
Hiện thời mọi việc đều ổn cả. Đàn cừu Tanabai nhận được không đến nỗi tồi: cừu nái sẽ đẻ vào đợt thứ hai và thứ ba. Năm trăm đầu con. Năm trăm mối lo âu. Cuối mùa cừu đẻ, số cừu sẽ tăng lên hai lần rưỡi. Nhưng từ giờ đến lúc cừu đẻ tức là lúc người chăn cừu vất vả nhất cũng hãy còn xa.
Chăn cừu dĩ nhiên là nhàn nhã hơn chăn ngựa đàn, nhưng Tanabai không quen ngay được với công việc này. Cừu bì sao được với ngựa! Nhưng người ta bảo chăn nuôi ngựa bây giờ không có ý nghĩa gì nữa. Bây giờ là thời đại cơ khí. Nói cách khác, ngựa không còn là món làm ăn có lãi nữa. Bây giờ cái chính là nuôi cừu: len, thịt, da. Tanabai khó chịu với lối tính toán quá lý tài ấy, tuy ông hiểu rằng nó có phần đúng.
Một đàn ngựa có nết với một con ngựa đực tốt thì đôi khi ta có thể bỏ mặc nó một thời gian, cho đến trưa, hoặc có khi lâu hơn để đi làm những công việc khác của ta. Còn cừu thì không thể bỏ mặc đấy mà đi nơi khác được. Ban ngày phải luôn luôn đi kèm với nó, ban đêm phải canh giữ. Đúng ra mỗi đàn cừu có một người chăn chịu trách nhiệm chính và một người phụ việc, nhưng Tanabai không có người phụ việc. Như vậy là làm việc suốt ngày đêm, không đổi phiên, không có lúc nào nghỉ. Jaiđar được kể là người canh gác ban đêm. Ban ngày, chỉ thỉnh thoảng bà mới có thể trông coi đàn cừu một lúc, đồng thời vẫn không rời hai đứa con gái nhỏ. Jaiđar canh giữ cừu đến nửa đêm, mang khẩu súng đi quanh quẩn bên bãi chắn rào, rồi sau đó Tanabai lại tự đảm nhiệm lấy công việc ấy. Còn Ibraim, bây giờ là chủ nhiệm toàn ngành chăn nuôi của nông trang, bất kể việc gì ông ta cũng tìm được lí do riêng để biện bạch.
- Tôi đào đâu ra người phụ việc cho bác được, bác Tanakê? – Ông ta nói, vẻ phiền não – Bác là người thức thời kia mà. Thanh niên thì đi học cả. Còn những đứa không đi học thì cũng chẳng đứa nào muốn nghe nói đến chuyện chăn cừu. Họ ra thành phố, đi làm đường sắt hay thậm chí vào làm ở mỏ. Tôi chẳng còn biết xoay sở ra sao nữa. Bác chỉ có mỗi một đàn cừu mà bác còn rền rĩ. Thế tôi thì sao? Tôi è cổ ra chịu trách nhiệm về cả ngành chăn nuôi. Tôi đến bị ra tòa mất thôi. Tôi đâm đầu vào cái việc này thật là dại dột, thật là lầm to. Thì bác hãy thử làm việc với những kẻ như gã Bêctai mà xem, chính hắn là người được bác đỡ đầu đấy. Gã đòi: tôi phải có một chiếc đài, và hàng tuần xe bán hàng lưu động phải đến chỗ tôi. Nếu không thì tôi sẽ bỏ đi, bất kể đi đâu. Bác nên nói chuyện với gã một chút xem sao, bác Tanakê ạ!...
Ibraim không nói dối. Bản thân ông ta cũng không vui sướng vì được lên chức. Còn về Bêctai, ông ta nói cũng đúng nốt. Đôi lúc Tanabai tranh thủ thời gian đến gặp gã đoàn viên Kômxômôn do mình đỡ đầu. Esim Bôlôtbêkôp là một gã dễ tính, tuy không tháo vát lắm. Còn Bêctai đẹp trai, tinh khôn, nhưng đôi mắt đen hơn xếch của gã long lên dữ tợn. Khi Tanabai đến, gã cau có bảo ông:
- Này bác Tanakê, chẳng nên vơ lắm việc vào mình làm gì. Bác cứ ngồi nhà với con cái còn hơn. Có khối kẻ kiểm tra tôi rồi, chẳng cần bận đến bác đâu.
- Thì có làm sao nào, tôi đến phiền rầy cho cậu hơn chắc?
- Phiền rầy hơn thì không. Nhưng những người như bác, tôi không ưa. Các ông hăng máu vịt lắm, cứ sùng sục lên. Lúc nào cũng u-ra, u-ra! Bản thân các ông không được sống cho ra hồn thì chớ, các ông lại cũng không để cho chúng tôi sống nữa kia!
- Này cậu, đừng có quá lời – Tanabai cố nén, rít răng khẽ nói – Mà đừng có trỏ vào mặt tôj như thế. Chúng tôi sống thế nào thì không can gì đến cậu. Chúng tôi lăn lưng ra làm, chứ không phải cậu. Và chúng tôi không hề lấy làm ân hận. Chúng tôi lăn lưng ra làm chính là vì các cậu. Chứ nếu chúng tôi không làm hùng hục như thế thì chưa biết bây giờ cậu có nói năng bằng cái giọng lưỡi như thế được không. Đừng nói gì tới phim ảnh hay báo chí, ngay đến tên cậu cậu cũng không biết nữa kia. Cậu sẽ chỉ có một cái tên gồm ba chữ: kun – thằng nô lệ!
Tanabai không ưa Bêctai, nhưng trong thâm tâm ông coi trọng hắn đã có thái độ thẳng thắn như thế. Sức mạnh tính cách của hắn đã suy sụp. Tanabai cảm thấy chua xót, ông thấy gã con trai đang bị cuốn vào con đường lầm lạc… Sau này, khi con đường của họ đã tách hẳn ra thành hai ngả, và tình cờ họ gặp nhau ở thành phố, Tanabai không nói gì với gã, vả chăng gã cũng chẳng thiết nghe ông.
Mùa đông năm ấy đến sớm…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (10-07-2010), Xamova (10-07-2010)
  #48  
Cũ 11-07-2010, 23:43
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Nó cưỡi con lạc đà trắng hung dữ của mình, phóng đến rất nhanh và bắt đầu làm tình làm tội những người chăn gia súc có thói hay quên.
Tháng mười là cả một tháng khô hanh óng ánh vàng. Sau tháng mười một, mùa đông ập đến tức thì.
Một buổi tối, Tanabai lùa cừu về, đưa vào bãi chăn rào, mọi việc dường như ổn cả. Nhưng nửa đêm, vợ ông đánh thức ông dậy:
- Dậy, Tanabai, tôi rét cóng rồi. Tuyết đang xuống đấy.
Hai tay bà lạnh giá và toàn thân bốc lên mùi tuyết ẩm. Cả khẩu súng cũng ẩm và lạnh.

Bên ngoài, đêm trắng nhờ nhờ. Tuyết xuống dày đặc. Cừu nằm không yên trong bãi rào, ngúc ngoắc đầu hoài vì ngỡ ngàng húng hắng ho, cựa mình rũ tuyết, nhưng tuyết vẫn xuống đều. “Chưa nước non gì đâu, rồi bọn tao với chúng mày sẽ còn phải chịu đựng nhiều nỗi gay go hơn thế nữa kia – Tanabai khép chặt tấm áo da lông vào người, nghĩ bụng – Mi đến sớm quá, sớm quá, mùa đông ạ. Như vậy là tốt hay xấu? Có lẽ sau này, gần về cuối, mi sẽ bớt gay gắt đi chăng, thế nào? Miễn sao đến lúc cừu đẻ mi cuốn xéo đi là được. Chúng ta chỉ cầu xin mi có thế thôi. Còn bây giờ mi cứ làm công việc của mi đi. Mi có quyền làm như thế và chẳng cần xin phép ai…”.

Mùa đông vừa xuất hiện đã lẳng lặng, ráo riết hoạt động trong bóng tối, để sáng ra mọi người phải ngạc nhiên, tất tả chạy ngược chạy xuôi.
Núi cóng lại trong đêm, lúc này vẫn còn là những khối đen thẫm. Chúng chẳng đếm xỉa gì đến mùa đông. Mặc cho những người chăn cừu cùng với những đàn cừu của họ chạy đây chạy đó. Còn núi trước cắm chân ở đâu thì vẫn cứ ở đấy mãi mãi.
Bước mở đầu của mùa đông đáng ghi nhớ ấy là như thế, nhưng nó toan tính cái gì, hiện giờ chưa ai biết.
Tuyết nằm đọng không tan, mấy ngày sau càng dầy hơn, dầy lên mãi, nó xua đuổi những người chăn cừu rời khỏi các khu cắm trại mùa thu của họ. Các đàn cừu tản đi khắp nơi, ẩn náu trong các khe núi, ở những chỗ khuất gió, ít tuyết. Người ta bắt đầu dùng đến cái nghệ thuật ngàn đời của người chăn cừu: tìm thức ăn cho đàn của mình ở những nơi mà kẻ khác sẽ xua tay bảo rằng ở đấy chẳng có gì ngoài tuyết. Có thế họ mới là người chăn cừu… Đôi khi một ông cấp trên nào đó tạt đến, hứa hẹn không thiếu điều gì, rồi mau mau rời khỏi vùng núi ra về. Người chăn cừu lại trơ trọi một mình, mặt đối mặt với mùa đông.

Tanabai vẫn định bụng có dịp nào sẽ tạm bứt khỏi đàn cừu, về nông trang hỏi xem ở đấy các ông ấy nghĩ thế nào về việc chuẩn bị cho cừu đẻ: đã lo liệu đủ hết chưa? Nhưng không sao bứt ra được. Đến thở cũng chẳng có lúc nào mà thở nữa là. Có lần Jaiđar đến thăm con trai ở trường nội trú, nhưng cũng không ở lại lâu, bà biết rằng vắng mình thì ở nhà gay go lắm. Tanabai chăn cừu đem theo cả hai con nhỏ, đứa bé ông đặt ngồi trên yên, ở phía trước, bọc nó trong tấm áo da lông, con bé vừa ấm vừa yên trí, còn đứa lớn thì rét cóng: nó ngồi sau lưng bố. Ngay cả ngọn lửa trong bếp lò cũng không được như trước, không đầm ấm bằng.
Nhưng hôm sau bà mẹ về thì khác hẳn. Hai đứa trẻ nhảy bổ tới ôm lấy cổ mẹ, giằng mãi mới lôi được chúng ra. Ôi chao, bố cố nhiên vẫn là bố, nhưng không có mẹ thì bố có phần nào kém hoàn toàn.
Thời gian cứ thế trôi. Mùa đông năm nay thay đổi rất bất thường: lúc thì khắc nghiệt ghê gớm, lúc thì lại dịu bớt, hai lần có bão tuyết, rồi lại yên ả, tuyết tan dần. Chính điều đó khiến Tanabai lo ngại. Nếu cừu đẻ gặp lúc thời tiết ấm thì tốt, nếu không thì sao?
Bụng cừu ngày càng nặng hơn. Có những con chửa to hay chửa sinh đôi, bụng đã bắt đầu xệ hẳn xuống. Cừu chửa đi lại khó nhọc, thận trọng, gầy tọp hẳn đi. Sống lưng trồi len. Có gì là lạ thai lớn lên trong bụng mẹ, được nuôi dưỡng bằng sinh lực của mẹ, mà ở đây từng ngọn cỏ đều phải bới lên từ dưới tuyết. Đáng ra sáng và chiều, người chăn cừu phải cho cừu mẹ ăn thêm, phải chở thức ăn chăn nuôi lên núi, nhưng các kho của nông trang đều sạch nhẵn. Ngoài hạt và kiều mạch cho ngựa kéo thì không còn gì hết.
Sáng sáng, khi lùa cừu ra khỏi bãi rào, Tanabai xem xét những con cừu nái, sờ nắn bụng, vú của chúng. Ông ước tính rằng nếu mọi việc đều xuôi thuận thì ông sẽ làm tròn lời cam kết của mình về cừu con, nhưng về len thì có lẽ không đạt. Mùa đông năm nay lông cừu mọc kém, có những con lông còn thưa đi, rụng bớt nhiều: vẫn lại vấn đề cho ăn, lẽ ra cần cho ăn tốt hơn. Tanabai cau có, tức giận, nhưng không làm gì được. Ông chửi mình thậm tệ vì đã nghe theo Tsôrô. Ông đã trót hứa hẹn. Phát biểu trên diễn đàn hẳn hoi. Tôi là người thế này thế nọ, người lao động tiên tiếng, tôi xin cam kết với Đảng và với Tổ quốc. Giá đừng nói như thế thì hơn! Đảng và Tổ quốc có dính dáng gì đến đây! Đây chỉ là một việc chăn nuôi bình thường. Nhưng không… Cái đó đã thành lệ. Tại sao bất cứ trường hợp nào, dù cần hay không cần, chúng ta cứ phải tung ra những lời to tát như thế?...
Thực ra, chính là lỗi tại ông. Ông không suy xét kĩ. Ông bắt đầu sống theo sự xui bảo của người khác. Họ cần cóc gì, cứ nói phứa đi cho xong chuyện, chỉ thương Tsôrô thôi. Bạn chẳng may mắn chút nào. Một ngày khỏe, hai ngày ốm. Suốt đời bận rộn, luôn luôn thuyết phục, đem lại hi vọng cho mọi người, nhưng có kết quả gì không? Bạn đã trở nên khôn khéo, nói năng biết lựa lời. Ốm thì cứ xin thôi việc về nghỉ đi có hơn không…
Mùa đông thì vẫn diễn tiến theo đà của nó, khi thì khơi lên niềm hi vọng cho những người chăn cừu, khi thì làm cho họ lo lắng. Trong đàn của Tanabai đã có hai cừu nái chết vì kiệt lực: chúng yếu quá. Đàn của hai người chăn cừu trẻ tuổi do ông đỡ đầu cũng đã chết mất mấy con. Chuyện đó không thể tránh được. Mất chừng một chục cừu mẹ trong một mùa đông là chuyện bình thường. Quan trọng nhất là thời kì sắp tới, khoảng đầu mùa xuân.
Bỗng nhiên trời bắt đầu ấm. Bầu vú cừu bắt đầu căng mọng lên. Lạ thật, con nào con nấy đã gầy rộc đi, khó nhọc lắm mới mang nổi bụng, vậy mà đầu cú hồng mọng lên không phải là từng ngày, mà từng giờ. Vì sao thế nhỉ? Sinh lực ấy ở đâu ra? Nghe đồn ở đàn cừu của một người nào không rõ, đã có mấy cừu nái đẻ con. Như vậy là người chăn cừu đã không để mắt đến nơi đến chốn trong thời kì giao phối. Đấy là tín hiệu đầu tiên. Một vài tuần nữa, cừu con sẽ thi nhau ra đời, rơi rụng như những trái lê. Hãy cố mà đỡ cho kịp. Đấy là thời kì gay go nhất của người chăn cừu! Người chăn cừu sẽ lo sợ cho từng con cừu con và sẽ nguyền rủa cái ngày mình nhận đi chăn một đàn cừu, nhưng sẽ vui sướng vô hạn nếu gìn giữ được những con vật non, nếu chúng duỗi chân đứng vững được và ngoe nguẩy đuôi trêu tức mùa đông.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (12-07-2010)
  #49  
Cũ 11-07-2010, 23:46
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Mong sao được như vậy, được như vậy thì còn gì bằng! Có thế thì sau này mới còn dám dàn mặt thiên hạ…
Để giúp đỡ những người chăn cừu trong thời gian cừu đẻ, nông trang điều đến cho họ mấy xăcmansitsa: những phụ nữ phần nhiều là cao tuổi và không có con mà người ta có thể khiến họ rời bản. Tanabai được hai xăcmansitsa đến giúp. Họ mang theo chăn đệm, lều bạt và đồ dùng vặt vãnh. Không khí trở nên vui vẻ hơn. Đáng ra cần ít nhất bẩy xăcmansitsa. Ibraim cam kết rằng sẽ có đủ số người dó khi các đàn cừu chuyển đến thung lũng Năm cây là địa điểm cho cừu đẻ, còn lúc này thì ngần ấy người là đủ.

Các đàn cừu bắt đầu rục rịch chuyển dần xuống vùng núi để tới các khu vực dành cho cừu đẻ. Tanabai bảo Esim Bôlôibêkôp giúp những người phụ nữ đi đến địa điểm và thu xếp nơi ăn chốn ở cho chu tất, còn ông sẽ lùa đàn cừu đi. Họ ra đi từ sáng sớm, cả một đoàn đông đảo, còn Tanabai dồn cừu lại và cho đi thong thả, từ tốn để cho những cừu mẹ sắp đẻ đỡ vất vả. Sau này, ông sẽ phải qua lại vẫn con đường này – con đường xuống thung lũng Năm cây – hai lần nữa để giúp đỡ những người được ông đỡ đầu.
Cừu di chuyển chậm rề rề, nhưng ông không thúc giục. Thậm chí con chó giúp việc của ông cũng phát chán, cứ chạy sục sạo hết chỗ này đến chỗ kia.
Mặt trời đã xế bóng, nhưng vẫn còn tỏa ấm. Đàn cừu càng xuống gần vùng giáp núi thì không khí càng ấm hơn. Ở những chỗ nắng chiếu tới nhiều, cỏ đã đâm lên.
Dọc đường đã xảy ra một vướng mắc nhỏ: con cừu cái đầu tiên đẻ con. Đấy là điều không đáng có, Tanabai buồn phiền, ông hà hơi vào tai và mũi con vật mới ra đời. Đáng phải một tuần nữa mới đến kì cừu đẻ, không sớm hơn. Vậy mà bỗng dưng lại sinh chuyện thế này mới bực cho ông chứ!
Chưa biết chừng sẽ còn những con nữa đẻ giữa đường chăng? Ông nhìn kỹ những con khác – không, không có vẻ gì là như thế cả. Ông yên tâm, thậm chí trở nên vui vẻ. Còn hai đứa con gái nhỏ của ông vui sướng lạ thường về con cừu đầu tiên vừa lọt lòng mẹ. Đứa con đầu lòng bao giờ cũng đáng yêu. Vả chăng, con cừu mới sinh này cũng kháu lắm. Lông trắng tuyền, lông mi đen, móng đen. Trong đàn có mấy cừu nái thuộc loại lông hơi thô, con vừa đẻ chính là một trong những con nái ấy. Con do loại cừu mẹ này đẻ ra thường cứng cáp, có lông, khác với con của loại cừu mẹ lông mềm, khi ra đời bao giờ cũng gần như trần trụi.
- Này, nếu mày nóng vội ra đời như thế thì hãy ngắm nhìn thế gian đi – Tanabai nói – Hãy đem lại hạnh phúc cho chúng tao! Hãy làm cho chúng tao có được những con cừu non giống như mày, sao cho chúng ra đời đông hằng hà sa số, đến nối không còn có chỗ mà đặt chân, tiếng kêu của chúng làm chúng tao váng tai, và tất cả đều sống hết! – Ông nhấc bổng con cừu non trên đầu – Nhìn đi, vị thần hộ mệnh cho đàn cừu. Nó đây, đứa con đầu lòng của đàn, hãy giúp đỡ chúng tôi!
Xung quanh toàn núi non, và vẫn lặng thinh.
Tanabai ủ con cừu mới sinh trong tấm áo lông và lại lùa đàn cừu đi. Con mẹ chạy theo sau, lo lắng kêu be be.
- Đi đi, đi đi – Tanabai bảo nó – Con mày ở đây, chẳng mất đâu mà sợ.
Con cừu con được ủ ấm, lông đã khô.
Gần chiều Tanabai mới đưa đàn cừu về tới địa điểm.
Tất cả đều có mặt tại chỗ, khói bốc lên từ nhà lều. Mấy bà xăcmansitsa bận rộn bên chiếc lều bạt. Như vậy, là họ đã giải quyết trót lọt cuộc di cư. Không thấy Esim đâu. Phải rồi, hắn đã đem con lạc đà đi, để ngày mai gã cũng di chuyển. Mọi việc đều đâu vào đấy.
Nhưng những gì Tanabai thấy sau đó đã khiến ông bàng hoàng như sét đánh giữa trời quang. Ông không trông mong điều gì tốt đẹp, nhưng chuồng cho cừu đẻ mà mái lợp cói mục nát, xiêu đổ, tường thủng lung tung, không có cửa sổ, không có cửa ra vào, gió lùa thông thế thì quả là điều ông không sao ngờ tới được. Xung quanh hầu như không có tuyết, vậy mà trong chuồng ngồn ngộn hàng đống tuyết.
Bãi chăn rào trước đây quây bằng đá, bây giờ cũng là một đống đổ nát. Tanabai bối rối đến nỗi không để ý gì đến hai đứa con gái mừng rỡ đón nhận con cừu con. Ông giúi con vật vào tay chúng, rồi đi xem xét xung quanh. Ngó vào đâu cũng thấy một tình trạng bỏ bê trần đời có một như vậy. Chắc hẳn, mọi cái ở đây đã bị bỏ mặc ngay từ thời kì chiến tranh, người ta thu xếp nhuế nhóa cho xong đợt cừu đẻ, rồi cuốn gói, vứt bỏ tất cả cho mưa gió tàn phá. Trên mái nhà kho trơ trọi một đụn cỏ khô nhỏ nhoi, xiêu vẹo, mục nái, mấy đống rơm rải rác – đấy là tất cả thức ăn cho gia súc, đồng thời cũng là cái để trải ổ cho cừu con và cừu mẹ trong cả đàn, ngoài ra có thể kể thêm hai túi bột đại mạch không còn được đầy và một thúng muối vứt lăn lóc trong góc nhà. Cũng trong cái xô ấy còn thấy chỏng trơ mấy cây đèn vỡ kính, một cái bi dông gỉ đựng dầu hỏa, hai cây xẻng và một cái chàng nạng gẫy. Tự dưng ông muốn tưới dầu hỏa đốt ráo cả đi cho rảnh nợ, rồi cuốn xéo khỏi đây, phóng bước muốn tới đâu thì tới…
Tanabai vừa đi vừa vấp chân vào những đống phân năm ngoái giá cứng lại và những đống tuyết. Ông không còn biết nói năng chi. Không tìm được lời để nói. Ông chỉ lẩm bẩm như người điên: “Sao lại có thể như thế được?... Sao lại có thể như thế được? Sao lại có thể như thế được?...”.
Rồi ông nhảy vọt ra khỏi chuồng cừu, đâm bổ đi thắng yên ngựa. Hai tay ông run lên trong lúc thắng yên. Ngay bây giờ, ông sẽ phóng về đấy, sẽ dựng mọi người dậy giữa đêm hôm, và có trời biết ông sẽ làm những gì. Ông sẽ nắm lấy cổ áo gã Ibraim ấy, nắm cổ áo tay chỉ tịch ấy, cả Tsôrô nữa: họ đừng hòng ông dung thứ! Họ đã đối đãi với ông như thế, vậy thì họ đừng hòng ông tử tế với họ! Hết rồi, hết hẳn rồi!...
- Này, dừng lại – Jaiđar đã kịp thời chộp lấy giây cương – Ông đi đâu? Đừng có làm dại. Xuống ngựa đi, hãy nghe tôi.
Nhưng đời nào! Cứ thử ngăn chặn Tanabai xem.
- Buông ra! Buông ra! Tanabai gầm lên, vừa giằng dây cương vừa quất ngựa chồm về phía vợ - Ta sẽ giết chết chúng nó. Ta sẽ giết!
- Tôi không buông! Mình cần giết ai nào? Giết ngay tôi đây này.
Mấy bà xăcmansitsa chạy tới giúp, cả hai con gái cũng chạy tới, la gào ầm ĩ.
- Bố ơi, bố! Không nên thế!
Tanabai đã nguôi nguôi, nhưng vẫn còn muốn phóng ngựa đi.
- Đừng giữ tôi, mình không nhìn thấy những gì đang bầy ra ở đây à? Mình không nhìn thấy những con cừu mẹ và cừu con kia à? Ngày mai ta nhét chúng vào đâu? Mái đâu? Thức ăn chăn nuôi đâu? Cừu sẽ chết hết mất thôi. Ai sẽ phải chịu trách nhiệm? Buông ra!
- Khoan đã, dừng lại đã. Ừ được, mình sẽ đến đấy, quát tháo, làm um lên. Nhưng rồi có ích lợi gì không? Nếu cho đến nay họ vẫn không làm gì cả thì tức là họ không có khả năng làm được. Nếu có cái gì để làm, chẳng lẽ nông trang lại không xây lấy một chuồng cừu mới hay sao?
- Nhưng lợp lại mái thì hẳn là phải làm được chứ? Thế cửa ra vào đâu? Cửa sở đâu? Bốn bề đổ nát, trong chuồng thì ngập những tuyết, phân thì có dễ đến chục năm nay không dọn! Thử nhìn xem, cái đám cỏ khô mục nát kia đủ dùng bao lâu? Cừu con ăn được thứ cỏ khô ấy chăng? Ta sẽ lấy đâu ra cái lót ổ? Để mặc cho cừu con chết trong bùn lầy ư, phải thế chăng? Mình cho như thế là phải ư? Ra chỗ khác đi.
- Đủ rồi, Tanabai, hãy bình tĩnh lại. Mình là cái gì, mình hơn hẳn người khác ư? Mọi người thế nào thì chúng ta cũng như thế. Vậy mà người ta vẫn coi Tanabai là đáng mặt đàn ông kia đấy! – Bà vợ sỉ nhục ông – Tốt hơn hết là hãy nhìn xem có thể làm được gì kẻo quá muộn. Mình đừng đếm xỉa gì đến bọn họ. Chúng ta chịu trách nhiệm thì chúng ta phải làm. Trên đường đến lũng, tôi có để ý thấy đám kim anh rậm rạp, kể thì nó gai góc, đúng thế, nhưng chúng ta sẽ gióc hết gai đi, dùng nó dặm lại mái, trải lên trên lớp phân. Còn lót ổ thì nên cắt cỏ lông lợn. Ta xoay xở rồi cũng xong thôi, và nếu thời tiết không chơi ác…
Các xăcmansitsa cũng góp lời cho Tanabai bớt nóng. Ông xuống ngựa, bỏ mặc bọn đàn bà và đi vào lều. Ông ngồi rũ đầu xuống, thiểu não như sau cơn ốm nặng.
Trong nhà ắng lặng. Không ai dám nói nạng. Jaiđar lấy cái ấm pha trà trên đống than kigiắc, pha một ấm trà đặc, đem đến một vò nước, đổ cho chồng rửa tay. Bà trải bàn bằng một tấm khăn sạch, lấy ra cả kẹo (không hiểu moi được ở đâu), bầy vào đĩa những khoanh bơ vàng ruộm. Bà mời các xăcmansitsa và mọi người cùng ngồi uống trà. Ôi chao, cánh đàn bà ấy! Họ ung dung uống trà trong bát, chuyện trò linh tinh, cứ như thể họ là khách đến chơi nhà. Tanabai chẳng nói chẳng rằng, sau bữa trà ông ra ngoài, bắt đầu xếp lại đống đá của bức tường rào đã sụt lở. Việc nhiều không sao làm xuể. Nhưng cũng phải làm một cái gì để đêm có thể cho cừu vào. Những người đàn bà cũng ra chất lại đá. Cả hai đứa nhỏ cũng ra sức khuân vác.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (12-07-2010)
  #50  
Cũ 11-07-2010, 23:47
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

- Về nhà đi – Ông bố bảo các con.
Ông cảm thấy hổ thẹn. Ông khuân đá không ngước mắt lên. Tsôrô nói đúng: không có Jaiđar, Tanabai không thể giữ nổi cái đầu liều lĩnh của mình…
Hôm sau, Tanabai đi giúp những người do mình đỡ đầu chuyển chỗ, rồi suốt tuần ông làm việc không ngơi tay. Thậm chí ông không nhớ được là đã bao giờ ông làm việc vất vả như thế chưa, có lẽ chỉ trừ thời gian ở mặt trận, khi phải xây phòng tuyết suốt ngày đêm. Nhưng ở đây là làm cùng với cả trung đoàn, với sư đoàn, với quân đoàn. Còn ở đây là làm một mình, với vợ và một trong các xăcmansitsa. Người thứ hai chăn cừu ở gần đây.
Vất vả nhất là dọn phân trong chuồng và chặt kim anh. Những bụi cây dầy rậm, tua tủa gai nhọn. Ủng của Tanabai bị cào rách hết, chiếc áo khoác lính của ông cũng trở thành mớ giẻ rách tơi tả trên người ông. Kim anh đã chặt được, họ bỏ lại bằng giây thừng rồi kéo đi, vì không thể chở bằng ngựa, cũng không thể vác trên lưng: gai nhiều quá. Tanabai chửi rủa: thung lũng tên là Năm cây mà không còn tim đâu ra vết tích dù chỉ năm gốc cây cụt. Cúi gập mình sát đất, mồ hôi đầm đìa, họ lôi những bụi kim anh đáng nguyền rủa đó đi, cào nát đoạn đường về chuồng cừu. Tanabai thương mấy người đàn bà, nhưng chẳng biết làm thế nào. Họ phải nhìn lên trời xem tình hình thế nào? Tuyết xuống thì bao nhiêu công sức đổ đi hết. Ông luôn luôn bắt đứa con gái lớn chạy tới chỗ đàn cừu xem cừu đã bắt đầu đẻ chưa.
Việc dọn phân càng gay hơn. Ở đây phân cừu tích lại nhiều đến nỗi có dọn đến nửa năm cũng không hết. Khi chuồng có mái che tốt và bên dưới là phân cừu khô dịn chặt thì dọn phân thậm chí còn thú vị hơn. Lớp phân bị xén thành những tảng dầy đặc, chắc nịch. Người ta xếp thành từng chuồng lớn để cho khô đi. Hơi nóng của kigiắc cừu thực dễ chịu và sạch như vàng, nó sưởi ấm cho người chăn cừu trong những ngày hay ngập dưới tuyết như ở đây thì không có gì vất vả hơn việc dọn phân chuồng. Một công việc khổ sai. Mà thời gian không chờ đợi. Ban đêm, soi sáng bằng những ngọn đèn lò, khói mù, họ tiếp tục dùng cáng chuyển thứ bùn dính nhớp, nặng như chì đó ra ngoài. Tình trạng ấy diễn ra đã hai ngày đêm.
Ở sân say đã ngộn lên một đống phân cực to, mà trong chuồng vẫn còn một vùng lớn chưa động đến. Họ vội vã dọn sạch ít ra là một góc chuồng cho những cừu con sắp chào đời. Nhưng một góc có nghĩa lí gì khi cả cái chuồng lớn này không đủ chứa hết số cừu mẹ và cừu con mới sinh: mỗi ngày sẽ có hai mươi đến ba mươi cừu con ra đời kia mà. “Rồi sẽ ra sao?” – Tanabai chỉ nghĩ đến chuyện ấy, ông vẫn chất phân lên cáng, khiêng ra ngoài, rồi lại trở vào, cứ thế bất tận, cho đến nửa đêm, đến rạng sáng. Ông đã cảm thấy buồn nôn. Hai tay tê dại. Đã thế, chốc chốc những cây đèn lại bị gió thổi tắt. Được cái các xăcmansitsa không hề phàn nàn, họ làm việc cũng như Tanabai và Jaiđar.
Hết một ngày đêm, rồi lại một ngày đêm, thêm một ngày đêm nữa. Vậy mà họ vẫn khiêng phân ra ngoài, bít các lỗ hổng trong tường và trên mái. Thế rồi một đêm kia, lúc khiêng cái cáng ra khỏi chuồng, Tanabai nghe tiếng cừu con oe óe trong bãi rào và tiếng cừu mẹ vừa dậm chân vừa be be đáp lại. “Bắt đầu rồi!” – tim ông giật thót.
- Mình nghe thấy không? – Ông hỏi vợ.
Cả hai cùng vứt cái cáng xuống, vơ lấy cây đèn soi và chạy vào bãi rào.
Họ soi đèn tìm kiếm, ánh đèn lắt lay, chập chờn lướt trên đàn cừu. Nó đâu? Kia rồi, trong góc kia. Cừu mẹ đã liếm láp tấm thân nhỏ xíu run rẩy của đứa con mới sinh. Jaiđar bọc con cừu mới sinh trong vạt váy. May là họ đến kịp, không thì nó sẽ chết cóng trong bãi. Thì ra cạnh đấy còn một cừu mẹ nữa vừa đẻ. Nó đẻ sinh đôi. Hai con này Tanabai bọc trong vạt áo mưa. Còn khoảng năm con nữa đang chuyển dạ và kêu rên nghẹn ngào. Thế là đã bắt đầu rồi. Đến sáng cả mấy con này cũng sẽ đẻ. Họ gọi các xăcmansitsa. Họ bắt đầu đưa những con đẻ ra khỏi bãi, chuyển chúng vào cái góc chuồng đã dọn dẹp tạm ổn.
Tanabai trải rơm dưới chân tường, đặt xuống đấy mấy con cừu con vừa được nếm sữa non của mẹ lần đầu tiên, đắp lên chúng chiếc bao tải. Trời lạnh. Ông đã cho cả mấy con mẹ vào đây. Ông cắn môi suy nghĩ. Nhưng nghĩ ngợi có giải quyết được gì đâu? Chỉ còn hy vọng rằng có lẽ rồi mọi việc sẽ được thu xếp ổn thỏa. Trăm công ngàn việc, lo âu chồng chất… Giá như có đủ rơm thì còn đỡ. Nhưng ngay cả về khoản này, Ibraim cũng tìm được lí do xác đáng. Y sẽ nói: cứ thử chở rơm lên núi trong tình trạng đường sá khủng khiếp như thế này xem.
Thôi thì muốn ra sao thì ra. Tanabai đi lấy hộp mực pha loãng. Ông viết số 2 lên lưng con cừu thứ nhất, còn hai con sinh đôi thì mỗi con một số 3. Ông cũng đánh dấu những con mẹ như thế. Không thì sau này chẳng có cách gì nhận ra được mẹ nào với con nào, khi cừu mẹ cừu con đã nhung nhúc ở đây hàng trăm con. Chẳng còn xa xôi gì nữa, thời kỳ gay go nhất của người chăn cừu đã đến rồi.
Nó đến một cách đột ngột, dữ dội như trong chiến tranh, khi xe tăng địch tấn công mà ta không có gì chống cự. Ta cứ đứng trong công sự, không tháo lui, vì chẳng còn đường nào tháo lui. Chỉ có một trong hai cách: hoặc là sẽ đương đầu được trong cuộc giao tranh nhờ một phép lạ, hoặc là chết!
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 6 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
Hoa May (12-07-2010), hungmgmi (11-07-2010), huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (12-07-2010)
  #51  
Cũ 12-07-2010, 21:26
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Sáng sớm, trước khi lùa cừu đi chăn, Tanabai đứng trên cái gò cao và lẳng lặng nhìn xung quanh, như thể đánh giá vị trí của mình. Vị trí phòng thủ của ông thật là tồi tệ, vô tích sự. Nhưng ông phải cố thủ tại đó. Không rút đi đâu được. Một thung lũng nhỏ ngoằn ngoèo với con sông con đã cạn gần hết nước bị kẹp giữa những sườn dốc đứng, tiếp đó là những đồi trọc cao hơn một chút, rồi đến những đồi trọc cao hơn nữa, tuyết phủ trắng xóa. Những vách đá trần trụi tạo thành những vệt đen trên các sườn dốc trắng, còn ở đằng kia là nơi mùa đông ngự trị: những dãy núi bị cùm dưới lớp băng dày đặc. Từ đấy đến đây chỉ trong gang tấc. Mùa đông chỉ cần khẽ hẩy tay, hất xuống mấy đám mây đen là thung lũng sẽ chìm trong sương mù, mất tăm tích.
Bầu trời xám xịt bị che phủ sau màn sương lạnh cũng một màu xám. Gió lùa sát đất. Bốn bề hoang vắng. Toàn núi là núi. Tâm hồn giá lạnh trong nỗi lo âu khắc khoải. Còn trong chuồng cừu đổ nát, cừu con đã “me-me” rộn lên. Họ vừa tách khỏi đàn chừng mươi cừu cái sắp đẻ, đưa vào chuồng.
Đàn cừu thong thả đi kiếm những ngọn cỏ cằn cỗi. Ngay ở bãi chăn cũng phải luôn luôn để mắt đến chúng. Đôi khi con cừu cái không hề có gì cho thấy là nó sắp đẻ. Thế rồi đùng một cái, nó nằm xuống sau bụi cây và vỡ bầu. Không để ý cẩn thận thì cừu con sẽ bị nhiễm lạnh trên đất ẩm, thế là nó khó lòng sống sót.
Nhưng Tanabai vẫn đứng trên cái gò cao. Ông khoát tay chán nản, rồi đi về phía chuồng cừu. Ở đấy còn hàng đống việc, dầu sao cũng cần tranh thủ làm cho xong một việc gì.
Rồi Ibraim tới, đem theo một số bột, cặp mắt y thật là trơ tráo… Y nói: tôi lấy đâu ra những cung điện cho các người? Chường cừu của nông trang trước thế nào thì giờ vẫn thế. Không có loại chuồng nào khác. Chúng ta vẫn chưa đến chủ nghĩa cộng sản kia mà.
Tanabai phải khó khăn lắm mới nén được để khỏi xông tới tống cho y mấy quả.
- Anh đùa cợt như thế có đúng lúc không? Tôi nói về công việc, tôi nghĩ về công việc. Tôi phải chịu trách nhiệm.
- Thế bác cho rằng tôi không nghĩ chắc? Bác chịu trách nhiệm về một đàn cừu nào đó, còn tôi chịu trách nhiệm về mọi chuyện, về tất cả những người chăn cừu và mọi cái khác, về toàn ngành chăn nuôi. Bác tưởng tôi thảnh thơi chắc! – Bỗng nhiên, Tanabai ngạc nhiên thấy cái gã ranh ma ấy òa khóc, úp mặt vào hai bàn tay, nói lí nhí qua hàng nước mắt – Tôi đến bị đưa ra tòa mất thôi! Ra tòa! Không thể nào moi đâu ra bất cứ thứ gì. Người ta không chịu đi làm, dù là giúp việc tạm thời trong thời gian cừu đẻ. Cứ giết tôi đi, xé xác tôi đi, tôi không thể làm gì được nữa đâu. Đừng trông mong gì ở tôi. Tôi lầm, tôi gánh lấy cái việc này thật là dại…
Nói rồi y bỏ đi, mặc cho ông Tanabai chất phác ngớ ra, hết sức bối rối. Từ đấy không ai còn gặp Ibraim đâu nữa.
Cho đến lúc này, đợt đầu mới có một trăm cừu nái đẻ con. Trong đàn cừu của Esim và Bêctai ở chỗ cao hơn trên thung lũng, cừu vẫn chưa bắt đầu đẻ. Nhưng Tanabai đã cảm thấy tai họa đang đến gần. Tất cả những người có mặt ở đây – bà người lớn, không kể một xăcmansitsa già và đứa con gái lớn sáu tuổi – phải chật vật lắm mới kịp đỡ những cừu con, lau chùi cho chúng, đặt lại chúng bên cạnh mẹ, ủ ấm cho chúng bằng bất cứ cái gì vớ được, dọn phân, đem cành khô vào lót sân. Đã nghe thấy tiếng kêu đói của cừu con – chúng thiếu sữa, cừu mẹ suy kiệt, không có sữa cho con bú. Cơ sự này rồi sẽ ra sao?
Ngày và đêm của người chăn cừu nối tiếp nhau quay vòng đến chóng mặt, cừu đẻ dồn dập, không có lúc nào mà thở, không có lúc nào thẳng lưng lên được.
Hôm qua, thời tiết khiến họ phát hoảng. Trời đột nhiên rét dữ, mây đen u ám kéo đến, tuyết hạt rắn đanh trút xuống tới tấp. Tất cả chìm trong bóng tối, đất trời mờ mịt…
Nhưng chẳng bao lâu, mây đen tản đi và tiết trời lại ấm. Không khí nhiễm hơi ấm phảng phất hương vị của mùa xuân. “Ơn trời, có lẽ mùa xuân đến rồi. Chỉ mong sao nó ở lại hẳn, chứ nó cứ lang bang lúc chỗ này lúc chỗ kia thì không có gì tệ hại hơn nữa” – Tanabai nghĩ, tay cầm cái chĩa còn dính rơm đem cái nhau thai nhầy nhụa ra ngoài.
Và mùa xuân đã đến, nhưng không phải như Tanabai mong đợi, nó đến đột ngột vào ban đêm, đem theo mưa, sương mù và tuyết. Cả một khối ẩm và lạnh đè ập lên chuồng cừu, lên nhà lều, lên bãi chăn rào, lên mọi vật xung quanh. Mùa xuân biến thành những con suối và những vũng nước đầy ắp trên mặt đất giá cứng, lầy lội. Nó rỉ qua mái nhà dột nát, xói lở tường và bắt đàu tràn ngập chuồng cừu, làm cho người và vật run lên vì thấm lạnh đến tận tủy xương. Tất cả đều náo động. Cừu con cụm lại với nhau trong nước, cừu mẹ kêu gào, đẻ đứng. Mùa xuân ráo riết làm lễ rửa tội cho những con vật sơ sinh bằng nước lạnh.
Người mặc áo mưa, xách đèn gió chạy ngược chạy xuôi, Tanabai đâm bổ tới. Như hai con thú bị dồn đuổi, đôi ủng của ông lồng lộn trong bóng tối, trên những vũng nước, trong đám nước phân. Hai tà áo mưa quẫy phành phạch như đôi cánh của con chim bị hạ. Ông khàn cả tiếng, quát thét mình và những người khác.
- Đưa cái xà-beng đây, mau lên. Cái xẻng! Đổ dồn phân vào đây! Ngăn nước lại!
Ít nhất cũng phải bắt những luồng nước đã ùa vào chuồng phải đổi hướng. Ông thúc xà-beng xuống đất lạnh cứng, đào rãnh.
- Soi đèn! Soi đèn đến đây! Sao lại cứ ngây ra thế!
Đêm tàn dần, biến thành sương mù. Tuyết trút xuống như mưa. Không làm cách gì ngăn chặn được.
Tanabai chạy vào nhà lều. Ông thắp đèn lên. Ở đây nước cũng nhỏ giọt khắp nơi. Nhưng không đến nỗi như trong chuồng cừu. Bọn trẻ ngủ, chăn của chúng ướt hết. Tanabai dồn hai đứa sát vào nhau, kéo nệm giường chuyển chúng vào một góc lều, giải phóng được một khoảng nữa trong lều. Ông chùm lên chúng tấm thảm dạ, để chăn khỏi bị ướt vì nước từ trên giọt xuống. Rồi ông chạy ra ngoài, hướng về phía chuồng cừu, gào to bảo mấy người đàn bà:
- Đem cừu con vào nhà lều? – và chính ông cũng chạy đến chuồng cừu.
Nhưng có thể đưa bao nhiêu con vào nhà lều? Mấy chục con là cùng. Còn những con khác thì nhét vào đâu? Thôi, dù sao cũng phải cứu lấy những gì có thể cứu được.
Buổi sáng đến rồi. Nhưng vực thẳm bầu trời bao la vô cùng tận. Đôi khi mưa gió ngớt đi chút ít, rồi lại lúc thì mưa, lúc thì tuyết, lúc thì mưa, lúc thì tuyết…
Nhà lều đầy lên cừu con. Chúng kêu gào không ngớt. Hôi hám, khai thối. Đồ dùng bị dồn đống vào một chỗ, che bằng tấm vải bạt, còn cả gia đình Tanabai thì sang ở chiếc lều bạt với các xăcmansitsa. Hai đứa trẻ rét cóng, khóc lóc.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (13-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #52  
Cũ 12-07-2010, 21:27
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Những ngày đen tối của người chăn cừu đã tới. Người chăn cừu nguyền rủa số phận của mình. Chửi tuốt mọi thứ trên đời. Người chăn cừu không ăn không ngủ, dốc hết sức tàn chạy ngược chạy xuôi giữa đám cừu cái ướt từ đầu đến chân, giữa đám cừu con đang cóng lạnh. Thần chết đã tàn sát chúng trong cái chuồng ẩm thấp này. Mụ vào đây một cách dễ dàng, vào bất cứ chỗ nào mụ muốn. Qua cái mái mục nát, qua những cửa số không kính, qua những khung cửa lớn toang hoác. Mụ đến tàn sát cừu con và những cừu mẹ đã suy yếu. Người chăn cừu mang những cái xác nhỏ bé tím ngắt ra ngoài, mỗi lần mang mấy xác liền và vứt chồng đống phía sau chuồng cừu.
Còn ở bên ngoài, trong bãi rào, những cừu nái bụng chửa to tướng đứng dưới mưa, tuyết. Chỉ nay mai là chúng xổ bụng. Dưới cơn mưa xối xả, quai hàm chúng run lập cập, co cứng lại. Lông ướt đẫm rũ xuống từng mảng rã rời…
Cừu không còn muốn ra bãi chăn nữa. Rét và ẩm ướt thế này thì chăn thả cái quái gì? Bà xăcmansitsa già đầu trùm cái bao tải lùa chúng đi, nhưng chúng chạy trở lại, như thể ở đây đã có sẵn một thiên đường dành cho chúng. Bà già khóc, dồn chúng lại, lùa đi lần nữa, song chúng vẫn chạy trở về. Tanabai nổi khùng, chạy ra. Đáng phải dùng gậy nện cho những con cừu đần độn này một trận, nhưng chúng đang có chửa. Ông gọi mấy người nữa và ngần ấy người cùng nhau hợp lực, chật vật mới lùa được đàn cừu ra bãi chăn.
Từ khi tai biến xảy ra, Tanabai không còn biết giờ giấc là gì nữa, cũng không còn tính được số cừu con chết trước mắt ông là bao nhiêu. Số cừu đẻ sinh đôi, thậm chí sinh ba càng nhiều hơn. Thế mà số của cải phong phú ấy tiêu ma hết. Bao nhiêu công sức tan ra mây khói. Cừu con ra đời và chết ngoéo ngay ngày hôm ấy trong bùn lầy và nước phân. Những con còn sót lại thì ho, khàn tiếng, đi tháo dạ và làm bẩn lẫn nhau. Những con mẹ mất con kêu gào, chạy lung tung, chen đẩy, xéo lên những con đang trở dạ nằm dưới sàn. Tất cả những cái đó có cái gì trái tự nhiên, quái gở. Chao ôi, Tanabai chỉ ước gì đợt cừu đẻ chậm lại một chút! Ông muốn thét lên với những con cừu đần độn này: “Khoan đã! Đừng đẻ vội! Khoan đã”.
Nhưng những con cừu nái ấy dường như đã hẹn ước với nhau, cứ theo nhau đẻ liên tiếp!...
Trong lòng ông dậy lên nỗi tức giận đen tối, khủng khiếp. Nó như một mảng bóng tối dày đặc che mờ mắt ông, khiến ông căm ghét tất cả những gì đang diễn ra ở đây, trong cái chuồng cừu khốn nạn này, căm ghét những con cừu cái, căm ghét chính bản thân mình, cuộc sống của mình, căm ghét tất cả những gì mà vì nó ông hoài công chịu khó chịu khổ ở đây.
Tự dưng ông như mê mụ đi. Ông váng vất vì những ý nghĩ của mình, ông xua đuổi chúng, nhưng chúng không chịu lùi xa, chúng cứ len vào tâm trí ông: “Tốn công nhọc lòng như thế để làm gì? Ai cần cái đó? Chúng ta nuôi cừu để làm gì, nếu như không thể chu toàn được cho chúng? Ai có lỗi trong việc này? Ai? Trả lời đi, ai? Mi và những kẻ ba hoa như mi. Nào là: chúng tôi sẽ gây dựng lại hết, sẽ đuổi kịp và vượt mức tiên tiến, chúng tôi cam kết như vậy. Nói thì hay ho lắm. Nào, bây giờ hãy nâng những cừu con đã chết ấy lên, đem ra ngoài đi. Hãy lôi con cừu mẹ đã chết trong vũng nước kia ra. Hãy cho thấy mi là người thế nào…”.
Đặc biệt là ban đêm, lội bì bọp trong bùn và nước đái cừu ngập đến gói, Tanabai ngộp thở vì những ý nghĩ buồn bực và cay đắng. Ôi, những đêm không ngủ ấy trong mùa cừu đẻ! Chân thụt trong cái đầm lầy phân nhão nhoét, bên trên thì nước tuôn xuống đầu. Gió lồng lộng trong chuồng cừu như giữa cánh đồng, thổi tất những cây đèn. Tanabai quờ quạng bước đi, vấp ngã, bò bốn chân để khỏi đè chết những con mới sinh. Ông tìm thấy cay đèn, thắp lên và dưới ánh đèn, ông nhìn thấy đôi tay mình đen sạm, sưng vù, bê bết phân và máu.
Đã lâu ông không soi gương. Ông không biết tóc mình đã bạc đi và mình đã già thêm nhiều. Từ nay ông đáng được gọi là ông già. Ông không bận tâm đến chuyện đó, ông không bụng dạ đâu quan tâm đến bản thân mình. Đến ăn và tắm rửa còn không có thời giờ nữa là. Ông không để cho ai yên lấy một phút, cả bản thân ông cũng như người khác. Thấy cơ sự đang đi đến thảm họa không phương cứu chữa, ông bảo một xăcmasitsa trẻ lên ngựa:
- Phóng đi tìm Tsôrô. Bảo ông ấy đến đây ngay. Nếu ông ấy không đến thì bảo Tanabai nhờ nhắc hộ như thế này: đừng có bao giờ dàn mặt Tanabai nữa.
Buổi chiều chị ta trở về, đồ vật từ trên yên ngựa xuống, mặt mày tím ngắt, ướt như chuột lột.
- Ông ấy ốm, bác Tanakê ạ. Ông ấy nằm trên giường và nói rằng một vài ngày nữa sống chết gì ông ấy cũng đến bằng được.
- Bệnh tật cứ làm hắn tắt thở đi cho bõ ghét! – Tanabai rủa. Jaiđar muốn can ngăn chồng, nhưng không dám, can gì được kia chứ.
Sang ngày thứ ba, trời bắt đầu sáng sủa hơn. Mây đen miễn cưỡng trườn đi nơi khác, sương mù rút lên núi. Gió lặng bớt. Nhưng muộn rồi. Trong những ngày ấy cừu chửa đã gầy đi đến nỗi nhìn chúng mà phát khiếp. Một con vật gày nhom, bụng to tướng đứng bằng bốn cái chân khẳng khiu. Thảm hại như thế thì nuôi con sao được! Cả những con đã đẻ, cả cừu con còn sống sót, liệu bao nhiêu mống có thể cầm hơi đến mùa hè để lấy lại sức bằng cỏ xanh? Sớm muộn rồi chúng cũng ốm chết cả thôi. Mà không thể đi nữa thì cũng không hòng lấy được len hay thịt…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (13-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #53  
Cũ 12-07-2010, 21:35
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Thời tiết vừa khá hơn thì tiếp diễn đến tai họa khác: một lớp băng mỏng đóng cứng trên mặt đất. Đến kì đóng băng rồi. Nhưng đến trưa tình hình có chiều khả quan hơn. Tanabai mừng rỡ: May ra còn kịp cứu vãn được một cái gì. Xẻng, chàng nạng, càng lại được đem ra dùng. Ít nhất cũng phải mở lấy mấy lối vào chuồng cừu, không thì không thể đặt chân bước đi được. Nhưng họ chỉ làm việc đó có một lúc. Còn phải cho những con mồ côi ăn, cho chúng bú những con mẹ không có con. Những cừu mẹ ấy không chịu, không nhận cừu con lạ. Cừu con cứ rúc vào đòi sữa. Những cái mồm nhỏ xíu lạnh giá của chúng đớp lấy ngón tay người và mút. Đuổi chúng đi thì chúng mút những tà áo mưa bẩn thỉu. Chúng đói. Chúng kéo đàn kéo lũ chạy theo người, khóc lóc.
Có thể phát khóc lên được, vì có thể xả thân làm nhiều mảnh ông cũng sẵn lòng! Còn có thể đòi hỏi gì nữa ở những người đàn bà này và đứa con gái nhỏ của mình? Họ phải gắng gượng lắm mới đi đứng được. Đã mấy ngày nay áo mưa của họ không lúc nào khô. Tanabai chẳng nói gì với họ. Chỉ có một lần ông không chịu đựng nổi. Một bà già lùa đàn cừu vào bãi rào, muốn giúp đỡ Tanabai. Ông ra xem tình hình thế nào. Cảnh tượng nhìn thấy làm ông phát sốt lên: cừu đứng ăn lông của nhau. Như vậy là đàn cừu có nguy cơ chết đói. Ông chạy tới quát mắng bà ta:
- Bà làm sao thế, bà già! Không thấy gì ư? Sao không mở miệng ra? Xéo khỏi đây ngay! Lùa đàn cừu đi. Không được cho chúng dừng lại. Không cho chúng gặm lông của nhau. Bắt chúng phải đi. Không cho chúng đứng một phút nào cả. Không làm được như thế thì tôi giết đấy!
Liền đó lại một tai ương nữa: một con mẹ đẻ sinh đôi bỏ con. Nó húc con, không cho đến gà, dùng chân đá con. Nhưng hai con kia cứ sấn vào, ngã, gào khóc. Đây là quy luật tự tồn khắc nghiệt phát huy tác dụng: theo bản năng, cừu mẹ không chịu cho con bú để bảo tồn sự sống của chính mình, bởi vì cơ thể nó không còn có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho con khác nữa. Hiện tượng đó dễ lây lan như một thứ bệnh. Chỉ một con làm như vậy là các con khác theo gương. Tanabai kinh hoàng. Nhờ con gái giúp sức, ông lùa con cừu cái đói quá hóa khùng cùng với con nó ra sân, tới gần bãi rào, và ở đây hai bố con bắt đầu ép nó cho con bú. Thoạt đầu Tanabai đích thân giữ cừu mẹ, còn con gái ông đặt cừu con vào với mẹ. Nhưng con mẹ cứ xoay quanh, không chịu. Con bé không làm sao được.
- Bố ơi, nó không bú được.
- Bú được chứ, chẳng qua là con vụng về thì có.
- Không phải đâu, bố em, nó ngã đây này. – Con bé gần như phát khóc.
- Thế thì giữ lấy đấy, tao làm cho mà xem.
Nhưng sức vóc con bé được mấy nả. Tanabai vừa giúi hai con cừu con vào vú mẹ chúng vừa bắt đầu bú thì cừu mẹ lồng lên khiến con bé ngã nhào và cừu mẹ bỏ chạy. Tanabai mất kiên nhẫn. Ông tát con một cái. Suốt đời ông chưa từng đánh con, nhưng lần này ông quá nóng. Con bé thút thít. Còn ông bỏ đi. Ông bất cần gì nữa.
Đi được một quãng, ông quay lại, không biết làm cách nào xin lỗi con, nhưng con bé tự chạy đến:
- Bố ơi, nó cho con bú rồi. Con với mẹ cứ cố đặt con nó vào, thế mà được đấy. Nó không đuổi con nó nữa đâu.
- Thế thì tốt quá, con gái bố giỏi lắm.
Trong lòng ông như trút được gánh nặng. Xem ra không đến nỗi hỏng cả. May ra có thể cứu được những gì còn lại. Thì đấy, thời tiết đang có chiều ổn định. Biết đâu mùa xuân thực sự đã đến và những ngày đen tối của người chăn cừu đã qua rồi? Ông lại bắt tay vào việc. Làm việc, làm việc và làm việc, không có con đường nào khác, chỉ có như thế mới cứu vãn được tình thế…
Một gã trai cưỡi ngựa tới, gã là nhân viên thống kê. Có thế chứ, rút cuộc người ta đã phải ngó ngàng đến đây. Gã hỏi cái này cái nọ. Tanabai muốn tống cổ hắn đi. Nhưng có thể đòi hỏi gì ở hắn kia chứ…
- Lâu nay cậu ở đâu?
- Ở đâu là thế nào? Đi xem xét các đàn cừu. Tôi đi không xuể, chỉ có mỗi mình tôi đi làm việc này.
- Tình hình ở các nơi khác ra sao?
- Chẳng hơn gì. Ba ngày nay, cừu chết nhiều lắm.
- Những người chăn cừu nói thế nào?
- Còn nói quái gì nữa. Họ chửi um lên. Có người còn không thèm nói chuyện với tôi. Béctai nó đuổi tôi đi. Hắn hung lắm, không sao tới gần hắn được.
- Ờ - ờ… Chính tôi cũng không có lúc nào mà thở nữa, muốn đến gặp hắn mà đành chịu. Nhưng rồi có lẽ tôi sẽ thu xếp dành chút thời giờ đến thăm hắn. Này, còn cậu thì thế nào?
- Tôi ấy à? Tôi làm công việc kiểm kê.
- Liệu sắp tới, người ta có giúp đỡ cánh chăn cừu chúng ta cái gì không?
- Sẽ có. Nghe nói Tsôrô đã trở dậy được rồi. Ông ấy đã gửi đi một đoàn xe chở cỏ khô, rơm. Người ta đã vét nhẵn mọi thứ trong chuồng ngựa, ông ấy bảo thà để ngựa chết còn hơn. Hình như đoàn xe đang mắc kẹt ở đâu đó, đường sá thế này kia mà.
- Đường sá! Thế trước đây họ lo nghĩ những chuyện gì? Chúng ta làm ăn suốt đời như thế. Nhưng bây giờ đoàn xe ấy đem lại ích lợi gì? Được, rồi tôi sẽ cho họ biết tay! – Tanabai hăm dọa – Đừng có hỏi làm gì. Đi mà xem tận mắt, đếm và ghi chép vào. Bây giờ tôi chẳng biết gì nữa! – Đoạn, ông cắt đứt câu chuyện, vào chuồng trông nom cừu đẻ. Hôm nay có thêm chừng mười lăm cừu nái đã đẻ.
Tanabai đi lượm những con cừu mới sinh, chợt gã nhân viên kiểm kê đến gúi vào tay ông một tờ giấy.
- Bác kí biên bản về gia súc chết đi này.
Ông kí không buồn nhìn. Ông ấn mạnh tay đến nỗi gãy cả bút chì.
- Chào bác, bác Tanakê. Bác có điều gì bảo tôi nói lại với các ông ấy không? Bác cứ nói đi.
- Chẳng có gì đáng nói cả. – Nhưng rồi ông vẫn giữ gã trai lại – Tạt qua chỗ Bêctai. Nhắn hộ rằng ngày mai, vào khoảng bữa ăn trưa, tôi sẽ cố tìm cách đến gặp hắn.
Tanabai lo lắng vô ích. Bêctai đã đi trước ông. Gã tự đến, mà đến một cách tai ác làm sao…
Đêm hôm ấy lại có gió nhẹ, tuyết lại xuống, không dày đặc lắm, nhưng sáng ra đã phủ kín mặt đất như một lớp bột trắng xóa. Tuyết rắc bột trắng cả lên những con cừu cái đã đứng suốt đêm trong bãi rào. Bây giờ chúng không chịu nằm xuống. Chúng cụm lại với nhau, đứng không nhúc nhích, dửng dưng với mọi sự đời! Tình trạng thiếu ăn kéo dài quá lâu rồi, mùa xuân đấu tranh với mùa đông lâu quá.
Trong chuồng lạnh lẽo. Nhưng bông tuyết lọt qua cái mái bị mưa xói tơi tả, quay lượn trong ánh đèn mờ nhạt, từ từ rơi xuống bám vào những cừu mẹ và cừu con đang cóng rét. Còn Tanabai vẫn đi quanh quẩn giữa đám cừu cái, làm nhiệm vụ của mình, như người lính của đội mai táng trên chiến trường sau trận đánh lớn. Ông đã quen với những ý nghĩ nặng nề của mình, sự phẫn nộ chuyển thành nỗi uất giận thầm lặng. Nó như cây cọc thẳng cứng trong tâm hồn, không để cho ông bị gẫy gập xuống. Ủng lội bì bõm trong nước phân chuồng, ông đi đi lại lại, làm công việc của mình và trong những giờ đêm hôm này, từng lúc từng lúc một, ông luôn luôn nhớ lại cuộc đời đã qua của mình…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nthach (13-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #54  
Cũ 13-07-2010, 22:34
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Hồi xưa ông đã từng là thằng bé chăn gia súc. Ông cùng với người anh là Kulubai chăn cừu cho một người họ hàng. Sau một năm mới vỡ lẽ ra rằng hai anh em chỉ được nuôi ăn mà thôi, không có công xá gì cả. Chủ đã đánh lừa họ, và cũng chẳng thèm nói với họ lấy một lời. Thế là hai anh em ra đi, đôi tsôkôi rách nát dưới chân, lưng đeo cái bị thảm hại, tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Lúc ra đi Tanabai hăm dọa ông chủ “Sau này lớn lên ta sẽ cho người biết tay”. Nhưng Kulubai không nói gì hết. Kulubai hơn Tanabai năm tuổi. Anh ta hiểu rằng dọa như thế không làm lão chủ sợ. Nhưng chính mình trở thành ông chủ, mua được gia súc, tậu được đất thì đó là chuyện khác. “Sau này khi trở thành ông chủ, ta sẽ không bao giờ để cho người làm phải oán giận” – lúc ấy Kulubai đã nói như vậy. Thế rồi hai anh em chia tay nhau ngay năm ấy. Kulubai đi chăn gia súc cho một bai khác, còn Tanabai đến Álêcxanđrốpka, làm công cho một người Nga ngụ cư tên là Êtrêmôp. Người nông dân này không lấy gì làm giàu có lắm: một cặp bò thiến, một đôi ngựa, một mảnh ruộng. Ông ta gieo lúa mì. Ông ta chở hạt ra thị trấn Aulie-Ata, thuê xay bằng máy xay cán. Chính ông cũng làm việc từ sáng tinh mơ cho đến đêm. Tanabai chăm lo đến bò và ngựa nhiều hơn. Ông ta nghiêm khắc, nhưng không thể nói là ông ta không công bằng. Ông ta trả công sòng phẳng. Người nghèo Kirghizya thời bấy giờ luôn luôn bị người đồng hương của mình bóc lột, vì vậy họ thích làm thuê cho người Nga hơn. Tanabai đã học nói thạo tiếng Nga, thường đi theo xe chở thóc ra Aulie-Ata, đã được biết thế giới bên ngoài ít nhiều. Rồi cách mạng đến. Tất cả đều đảo lộn. Thời vận của những người như Tanabai đã tới rồi.
Tanabai trở về bản. Bắt đầu cuộc đổi đời, nó lôi cuốn người ta đến chóng mặt. Mọi cái đến ngay một lúc: ruộng đất, tự do, quyền hành. Ông được bầu vào Ủy ban dân cày. Ông thân với Tsôrô trong những năm ấy. Tsôrô biết chữ, anh dạy thanh niên viết và tập đánh vần. Tanabai rất cần biết chữ, chẳng gì cũng là Ủy ban dân cày cơ mà. Tanabai vào đoàn Kômxômôn. Cả ở đây. Tanabai cũng cùng hoạt động với Tsôrô. Hai người được kết nạp vào đảng cùng một đợt. Mọi việc trôi chảy bình thường, dân nghèo đắc thế. Khi việc tập thể hóa bắt đầu, Tanabai đem hết nhiệt tình sôi nổi vào công việc đó. Không Tanabai thì còn ai là người đấu tranh cho cuộc sống mới của nông dân, đấu tranh để tất cả thành của chung: đất, gia súc, lao động, những ước mơ. Đả đảo bọn kulăc! Bắt đầu một thời kì sôi động, sóng gió, nghiệt ngã. Người ta lập danh sách kulăc. Các bai, các giáo sĩ đạo Hồi, những tên nhà giàu đủ loại bị vứt bỏ như cỏ dại ngoài đồng. Ruộng cần được rẫy sạch để mầm non đâm lên. Trong danh sách những kulăc bị tước đoạt tài sản có cả Kulubai. Thời gian Tanabai rông ngựa đây đó, hết mit-tinh lại hội họp, ông anh đã gây dựng được cơ đồ. Ông tay lấy một bà góa, làm ăn phát đạt. Ông ta có gia súc – cừu, một con bò cái, một cặp ngựa, một con ngựa cái lấy sữa với một chú ngựa con, cầy, bừa và mọi thứ khác. Mùa gặt ông ta thuê nhân công. Không thể nói ông ta đã trở thành một người giàu có, nhưng cũng không thể bảo là ông ta nghèo. Ông ta sống dư dật, làm lụng quần quật.
Tại cuộc họp ở Xô-viết xã, khi xét đến Kulubai, Tsôrô nói:
- Các đồng chí, cần cân nhắc xem có nên liệt tay này vào diện kulăc không. Những người như Kulubai cũng sẽ có ích cho nông trang. Chính ông ta vốn là bần nông. Ông ta chưa hề tuyên truyền chống đối cách mạng.
Ý kiến không nhất trí. Người “tán thành” người “phản đối”. Tiếng nói quyết định dành cho Tanabai. Ông ngồi, nom càu quạu như con quạ. Tuy là anh cùng cha khác mẹ, nhưng vẫn là anh. Cần phải chống lại anh. Trước nay họ vẫn sống hòa thuận, tuy hiếm khi gặp nhau. Mỗi người bận lo công việc của mình. Nếu nói đừng động đến anh ta thì phải xử trí với người khác ra sao: người nào cũng sẽ có một người bà con bênh cho cho mình. Bảo: “Tùy các đồng chí định đoạt” thì người ta sẽ cho là mình lẩn tránh.
Mọi người chờ Tanabai lên tiếng. Người ta chờ đợi, điều đó khiến Tanabai càng quyết liệt hơn.
- Tsôrô, anh thì bao giờ cũng thế! Tanabai đứng lên, nói – Báo chí vẫn viết về những con người sách vở, gọi là những phần tử kiến thức. Anh cũng là một phần tử kiến thức. Lúc nào anh cũng hồ nghi, sợ làm như thế không đúng. Nhưng hồ nghi cái nỗi gì kia chứ? Có tên trong danh sách thì đó là kulăc! Và không có nương nhẹ gì cả! Vì chính sách Xô viết, đến bố đẻ tôi, tôi cũng không thương. Xin các đồng chí đừng ngần ngại, dù anh ta là anh tôi. Các đồng chí không làm thì chính tôi sẽ làm cái việc tước đoạt tài sản của tên kulăc này.
Hôm sau, Kulubai đến gặp ông em. Tanabai tiếp anh một cách lạnh nhạt, không đưa tay ra bắt.
- Vì sao lại coi tôi là kulăc? Tôi với chú chẳng đã từng đi làm thuê đấy sao? Chẳng phải tôi với chú đã từng bị bọn bai đuổi cổ đó sao?
- Chuyện đó bây giờ không có nghĩa gì nữa. Chính anh đã trở thành một bai.
- Tôi là bai cái quái gì? Tất cả những gì tôi có, tôi kiếm ra bằng sức lao động của tôi. Mà tôi cũng chẳng tiếc những của ấy nữa kia. Cứ lấy hết đi. Có điều sao lại ghép tôi vào diện kulăc là thế nào? Phải biết sợ Chúa chứ, Tanabai.
- Tôi bất chấp. Anh là giai cấp thù địch. Chúng tôi phải tiêu diệt anh để xây dựng nông trang. Anh đứng chắn trên con đường của chúng tôi, chúng tôi phải hất anh đi…
Đấy là cuộc chuyện trò cuối cùng giữa hai người. Đã hai mươi năm nay họ không nói với nhau lấy một lời. Khi Kulubai bị đầy đi Xibia, thiên hạ bàn tán rất nhiều, biết bao nhiêu lời ong tiếng ve.
Người ta tuyên truyền đủ chuyện. Thậm chí còn kháo rằng Kulubai bị đưa ra khỏi bản, có hai công an cưỡi ngựa đi áp giải, thì ông ta cúi đầu lê bước, không nhìn ngang nhìn ngửa và chẳng từ biệt ai. Thế rồi khi đã ra con đường lớn chạy ngang qua cánh đồng, đâu như ông ta nhảy bổ xuống đám lúa mạch non (đấy là vụ lúa thu đầu tiên của nông trang), nhổ bật rễ cả cây lúa, dày xéo và vò nát lúa, chẳng khác nào con thú trong bẫy. Họ bảo những người áp giải chật vật lắm mới trị nổi ông ta và tiếp tục giải đi. Người ta kể rằng Kulubai vừa đi vừa khóc một cách cay đắng và nguyền rủa Tanabai.
Tanabai không tin chuyện đó lắm. “Kẻ thù phao tin nhảm, muốn chọc tức ta. Nhưng đừng hòng, ta có mà mắc mưu khối ra đấy!” – ông tự nhủ.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (13-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #55  
Cũ 13-07-2010, 22:35
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default

Nhưng một hôm, ngay trước vụ gặt, Tanabai cưỡi ngựa đi loanh quanh thăm thú đồng ruộng: lúa năm nay tốt tuyệt vời, bông nào cũng sai hạt. Rồi bỗng nhiên ông gặp đúng cái chỗ mà Kulubai đã lồng lộn trong cơn tuyệt vọng, xéo nát lúa và nhổ bật rễ những cây lúa non. Xung quanh lúa mì đầy rậm như bức tường, còn chỗ này chẳng khác nào như mấy con bò đực đã húc nhau ở đây: gẫy nát, tàn hại, khô héo hết cả, ran lê mọc tràn lan. Thấy cảnh tượng đó, Tanabai lập tức kìm ngựa lại.
- Hừ, đồ súc sinh! – Giận sôi máu, Tanabai lẩm bẩm – Mày phá hoại lúa của nông trang. Vậy thì mày đích là kulăc, chứ còn là thứ người gì nữa…
Tanabai ghìm ngựa đứng đấy hồi lâu, lầm lì ủ rũ, một ý nghĩ u ám đọng lại trong mắt, rồi ông rẽ cương giuc ngựa bỏ đi, không hề ngoái nhìn lại. Sau đó một thời gian dài, ông tránh cái chỗ không hay ấy, đi vòng đường khác, cho tới khi lúa đã gặt hết, gốc rạ trên đồng đã bẹt dí dưới móng gia súc.
Hồi ấy chẳng mấy ai bênh Tanabai. Phần đông chê trách “Cầu trời đừng bắt chúng ta phải có một đứa em như thế. Thà không có anh em gì còn hơn”. Có người nói đốp vào mặt Tanabai. Phải, nói cho thành thực, hồi ấy nhiều người xa lánh ông. Không hẳn là công khai, nhưng khi bỏ phiếu, họ không bầu cho ông. Thế là dần dần, ông không được coi là thành phần cốt cán nữa. Tuy nhiên ông vẫn tự cho mình là phải, bởi lẽ bọn kulăc đã đốt nông trang, dùng súng bắn người của ta, tình hình mỗi năm một khá hơn. Chúng ta đã bước vào một cuộc sống hoàn toàn khác. Không, tất cả những gì đã xảy ra hồi ấy không phải là uổng phí.
Tanabai nhớ lại tất cả những chuyện đã qua ấy, không bỏ sót cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Như thể cả cuộc đời ông đã lưu lại ở đó, cái thời kì tuyệt diệu khi các nông trang ngày càng vững mạnh hơn. Ông lại nhớ đến bài ca thuở ấy về “cô gái lao động tiền tiến choàng khăn đỏ”, nhớ tới chiếc cam nhông đầu tiên của nông trang, nhớ tới cái đêm ông đứng bên buồng lái, tay cầm lá cờ đỏ.
Suốt đêm Tanabai đi loanh quanh trong chuồng cừu, làm cái công việc đau lòng của mình và nghiền ngẫm những ý nghĩ đau lòng. Vì sao bây giờ mọi việc đều nát bét cả? Hay chúng ta lầm chăng, chúng ta đi chệch hướng, sai đường chăng? Không, không thể như thế được, không phải thế! Đường ta đi là con đường đúng đắn. Vậy thì tại sao? Lạc chăng? Lầm lẫn chăng? Điều đó xảy ra từ bao giờ và như thế nào? Như việc thi đua bây giờ chẳng hạn: người ta lập cam kết thi đua, rồi chẳng ai bận tâm đến chuyện anh làm ăn thế nào, có chuyện gì xảy đến với anh. Trước kia có những tấm bảng đen và bảng đó, ngày nào cũng bàn tán tranh cãi: ai lên bảng đen, ai lên bảng đỏ, đấy là điều quan trọng đối với mọi người. Bây giờ người ta bảo tất cả những cái đó cũ rồi, lỗi thời rồi. Nhưng có cái gì thay thế không? Bàn suông, hứa hão. Thực tế thì chẳng có cái quái gì. Tại sao vậy? Quy lỗi cho ai được?
Tanabai mệt lử vì những ý nghĩ bế tắc. Ông sa vào một trạng thái dửng dưng đờ đẫn. Chẳng thiết làm gì nữa. Đầu nhức nhối. Buồn ngủ. Ông thấy một cái xăcman-sitsa trẻ đứng dựa vào tường. Ông thấy đôi mắt hum húp của chị ta từ từ tuột xuống, rồi ngồi bệt xuống đất, gục đầu vào đùi và ngủ. Ông không đánh thức. Ông cũng tựa lưng vào tường, và cũng từ từ tuột xuống, không sao tự chủ được, không thể cưỡng lại cái sức nặng trên vai cứ dấn ông dúi xuống…
Một tiếng kêu nghẹn ngào và tiếng thịch mạnh của một cái gì va đập xuống đất khiến ông thức giấc. Những con cừu cái hoảng sợ chạy giạt đi giẫm lên chân ông. Ông bật dậy, không hiểu có chuyện gì. Trời đã rạng sáng.
- Tanabai, Tanabai, cứu tôi với – tiếng vợ gọi ông.
Mấy xăcmansitsa chạy tới chỗ vợ ông kêu và ông chạy theo họ. Một vì kèo dưới mái sụt xuống đè lên vợ ông. Một đầu kèo tuột khỏi bức tường bị nước mưa xói lở và sụp xuống dưới sức nặng của cái mái mục nát. Cơn ngái ngủ biến mất hẳn.
- Jaiđar! – Ông kêu lên, ghé vai nâng phắt cây đòn lên.
Jaiđar lết ra, rên rỉ. Mấy người phụ nữ than thở, sờ nắn người bị nạn. Tanabai gạt họ ra, và sợ hãi đến mê mụ cả tâm trí, hai tay run run ông sờ soạng dưới tấm áo săng đay của vợ:
- Mình có làm sao không? Chỗ nào?
- Ối, chỗ eo lưng! Eo lưng!
- Bị dập ư! Nào, giúp tôi một tay! – ông cởi phăng tấm áo mưa. Họ đặt Jaiđar lên tấm áo và khiêng ra khỏi chuồng cừu.
Trong túp lều bạt, họ xem xét kĩ cho Jaiđar. Bên ngoài dường như không hề hấn gì. Nhưng tổn thương thật nghiêm trọng. Người bị nạn không động cựa được.
Jaiđar òa khóc:
- Làm thế nào bây giờ? Giữa lúc như thế này mà tôi lại nằm bẹp một chỗ ư? Các người xoay sở ra sao bây giờ!
“Trời ơi! – Tanabai ngẫm nghĩ – Đáng phải vui sướng vì mình còn sống, vậy mà bà ấy băn khoăn cái nỗi gì vậy? Hê mẹ nó đi, cái việc thổ tả ấy! Miễn là mình vẫn lành lặn, người vợ tội nghiệp của tôi…”
Tanabai vuốt tóc vợ.
- Jaiđar, lo nghĩ làm gì, cứ yên tâm. Miễn là mình bình phục. Mọi chuyện khác đều vô nghĩa, sẽ đâu vào đấy cả…
Tất cả bọn họ, mãi đến bây giờ mới hoàn hồn, bắt đầu tranh nhau lời dỗ dành cho Jaiđar yên tâm. Nhờ vậy Jaiđar dường như cảm thấy dễ chịu hơn. Bà cười qua hàng nước mắt.
- Thôi được. Nhưng đừng giận tôi đã để xảy ra chuyện không hay như vậy. Tôi sẽ không nằm lì trên giường lâu đâu. Vài ngày nữa tôi sẽ trở dậy, đấy rồi xem.
Mấy người phụ nữ trải giường đệm cho Jaiđar, nhóm lửa, còn Tanabai trở lại chuồng cừu, vẫn chưa tin rằng tai nạn đã qua rồi.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (13-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #56  
Cũ 13-07-2010, 22:36
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Trời đã sáng, một buổi sáng trắng lóa trong bộ áo tuyết mềm mại mới tinh. Tanabai tìm thấy một con cừu mẹ bị cây đà đè chết. Lúc nãy họ không để ý đến. Con cừu so sinh rúc mõm vào vú cừu mẹ đã chết. Tanabai càng khiếp sợ hơn và mừng hơn vì vợ mình còn sống. Ông bế con cừu mồ côi lên, đi tìm cho nó con mẹ khác. Rồi ông chống phía dưới cây đà, dùng một cột gỗ to chống đỡ bức tường, đồng thời vẫn luôn luôn nghĩ rằng cần trở lại thăm vợ, xem tình trạng hiện giờ ra sao.
Vừa bước chân ra ngoài, ông thấy cách chỗ ông đứng không xa, một đàn cừu đang chậm chạp lê bước trên tuyết. Một người chăn cừu không phải ở vùng này lùa đàn cừu về phía ông. Đàn cừu nào thế nhỉ? Gã lùa nó đến đây để làm gì nhỉ? Lẫn cừu mất thôi, sao lại có thể làm như thế được? Tanabai đến gặp gã chăn cừu kì quặc, định bảo cho gã biết gã đã đưa cừu vào khu vực của người khác.
Tới gần ông mới nhận ra kẻ đó là Bêctai.
- Này, Bêctai, có phải cậu đấy không?
Gã chẳng trả lời gì hết. Gã lẳng lặng lùa đàn vật về phía ông, dùng gậy quất vào lưng cừu. “Hắn lại dám đánh dập cừu chửa như thế kia chứ!” – Tanabai phẫn nộ.
- Cậu ở đâu đến? Đi đâu? Chào cậu.
- Tôi đến từ cái nơi mà giờ đây không còn tôi ở đấy nữa. Còn đi đâu thì chính ông thấy đấy – Bêctai đến gần, một sợi thừng thít chặt ngang lưng, đôi bao tay ủ trước ngực dưới áo mưa.
Hắn dừng lại cách Tanabai mấy bước, cây gậy thủ sau lưng, chẳng chào hỏi gì cả. Hắn hằm hè nhổ một bãi bọt và hằn học dùng chân di bãi bọt xuống tuyết. Hắn ngẩng đầu lên. Mặt hắn đen nhẻm, bộ râu xồm xoàm như râu giả dính vào khuôn mặt trẻ đẹp của hắn. Cặp mắt linh miêu của hắn nhìn gườm gườm, đầy căm hờn và thách thức. Hắn nhổ bọt lần nữa, lật đật chuyền chiếc gậy từ tay nọ sang tay kia, vung gậy trên đám cừu.
- Ông nhận lấy. Muốn đếm hay không thì tùy. Ba trăm tám mươi năm đầu con.
- Thế rồi sao?
- Tôi phới.
- Phới là thế nào kia chứ? Đi đâu?
- Bất cứ đâu.
- Thì dính dáng gì đến ta nào?
- Dính chứ, ông là người đỡ đầu cho tôi mà.
- Thế là thế quái nào? Dừng lại, dừng lại, đi đâu? Cậu định đi đâu? – Mãi đến lúc này Tanabai mới hiểu gã chăn cừu do ông đỡ đầu định làm gì. Ông cảm thấy nghẹt thở, nóng ran lên vì máu dồn lên đầu – Sao lại thế? – Ông bối rối thốt lên.
- Thế đấy. Đủ lắm rồi. Chán ngấy đến tận cổ rồi.
- Thế cậu có hiểu cậu nói gì không? Đàn của cậu sắp đẻ nay mai rồi! Sao lại có thể làm như thế được?
- Được quá đi chứ. Người ta có thể đối xử với chúng tôi như thế thì chúng tôi cũng có thể làm như thế chứ sao. Vĩnh biệt! – Bêctai quay cái gậy trên đầu và ráng sức lẳng thật xa, rồi bỏ đi.
Tanabai đứng ngớ ra, câm lặng. Ông không tìm được lời. Gã kia bước đi không hề ngoảnh lại.
- Nghĩ lại đi, Bêctai – Ông chạy theo gã – Không thể thế được! Thử nghĩ xem, ai đời lại làm thế kia chứ! Có nghe thấy không?
- Này thôi đi! Bêctai quay ngoắt lại – Có ông hãy suy nghĩ đi thì có. Tôi muốn sống như mọi người khác. Tôi chẳng kém cạnh gì những kẻ khác. Tôi cũng có thể tìm được việc làm ở thành phố, có lương hẳn hoi. Can gì tôi phải chết rấp ở đây với những con cừu này? Không có thức ăn chăn nuôi, không có chuồng trại, không có nhà lều. Hãy để tôi yên! Đi mà lập công, đi mà dầm mình trong đám phân chuồng. Ông hãy tự ngắm mình xem bộ dạng ông nó ra thế nào rồi. Chẳng bao lâu nữa ông sẽ chết toi ở đây thôi. Vậy mà ông vẫn chưa thấy thế là đủ. Ông lại còn lên tiếng hô hào. Ông muốn lôi kéo cả những người khác theo. Dấm dở! Tôi thì tôi xin đủ - Rồi gã cất bước, dậm chân trên tuyết trắng tinh khôi, chưa hề bị đụng đến, và dậm mạnh đến nỗi vết giẫm sẫm đen ngay lại, tràn ngập nước…
- Bêctai, cháu hãy nghe bác! – Tanabai đuổi kịp hắn – Bác sẽ giải thích cho cháu đầy đủ.
- Đi mà giải thích cho những đứa khác. Đi mà tìm những thằng ngốc.
- Dừng lại, Bêctai. Ta sẽ nói chuyện với nhau. Gã kia cứ đi, không buồn nghe.
- Mày sẽ bị đưa ra tòa!
- Thà rằng ra tòa còn hơn thế này! – Bêctai quặc lại và không quay lại nữa.
- Mày là kẻ đào ngũ!
Gã vẫn đi.
- Những kẻ như thế ở mặt trận người ta bắn bỏ liền.
Gã vẫn đi miết.
- Dừng lại, ta bảo mà – Tanabai chộp lấy tay áo hắn.
Gã giằng ra và lại bỏ đi.
- Ta không thể để như thế được, mày không có quyền làm như vậy – Tanabai kéo giật vai gã, và đột nhiên những ngọn đồi trọc trắng xóa xung quanh quay lộn trước mặt và mờ dần trong tấm màn khói. Cú đấm móc hàm bất ngờ hất ông ngã lộn ngửa.
Khi ông ngóc đầu dậy, đầu óc vẫn còn quay cuồng. Bêctai đã khuất dạng sau quả đồi.
Gã chỉ còn để lại một chuỗi đơn độc những vết chân đen thẫm.
- Thằng này hỏng mất rồi, đời nó hỏng mất rồi – Tanabai rên rỉ, lồm cồm bò dậy. Ông đứng lên. Hai tay bê bết bùn và tuyết.
Ông thở lấy lại hơi, dồn đàn cừu của Bêctai lại và lùa về khu chăn thả của mình.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (13-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #57  
Cũ 15-07-2010, 22:22
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

17

HAI NGƯỜI CƯỠI NGỰA RỜI KHỎI BẢN ĐI VỀ vùng núi. Một người cưỡi con ngựa màu vàng nhạt, người kia cưỡi con ngựa hồng. Đuôi ngựa thát thành búi thật chặt: đây là một chuyến đi xa. Bùn lãn với tuyết lép nhép dưới vó ngựa, vọt lên từng tia và từng cụm.
Gunxarư phóng bước trong một nhịp đi hăng hái, dây cương bị gò căng. Thời gian ông chủ ốm nằm nhà, Gunxarư bị giam hãm đến chồn chân. Nhưng lần này ngồi trên lưng nó không phải là ông chủ, mà là một người lạ, mặc chiếc bành tô da, bên ngoài choàng tấm áo mưa. Áo quần ông ta tỏa ra mùi sơn và mùi cao su. Tsôrô cưỡi con ngựa kia đi ở bên cạnh. Ấy là vì ông nhường con ngựa có nước đi dị dạng cho đồng chí cán bộ ở huyện về. Còn Gunxarư thì thực tình nó dửng dưng, ai cưỡi nó cũng thế thôi. Từ khi nó bị tách khỏi đàn, không được ở với chủ cũ nữa, đã có bao nhiêu người cưỡi trên lưng nó. Đủ loại người: hiền có, ác có. Những người ngồi thư thái trên yên và những người ngồi không thư thái. Nó cũng đã lọt cả vào tay những kẻ bạt tử. Ôi chao, bọn này mới tai ác làm sao khi họ cưỡi trên lưng ngựa. Họ giục ngựa phóng thật lực rồi đột nhiên ghì chặt hàm khiến ngựa chồm ngược lên, sau đó lại thúc cho phóng thật lực và ghìm phắt lại. Bản thân họ cũng chẳng biết họ nghịch dại, họ chỉ cốt sao cho mọi người đều nhìn thấy họ được cưỡi con ngựa hay. Gunxarư đã quen chịu đựng hết thẩy. Miễn sao đừng bị giam hãm chết mòn chết mỏi trong chuồng là được. Niềm say mê trước kia vẫn còn sống trong lòng nó: chạy, chạy và chạy. Còn ai cưỡi trên lưng nó, nó bất cần. Chính người cưỡi lại coi trọng việc mình cưỡi con ngựa nào. Được cưỡi Gunxarư có nghĩa là được kính trọng, được người ta nể sợ. Gunxarư khỏe, đẹp. Cưỡi nó vừa êm vừa vững dạ.
Lần này ngồi trên lưng Gunxarư là kiểm sát trưởng của huyện được đặc phái về xem xét công việc của nông trang. Tháp tùng ông ta có bí thư tổ chức đảng của nông trang, đó cũng là dấu hiệu bầy tỏ lòng kính trọng. Bí thư đảng chẳng nói câu nào, có vẻ e sợ: tình hình sinh sản trong ngành chăn nuôi cừu thật tồi tệ. Quá tồi tệ. Thế thì tay bí thư này im lặng là phải. Sợ là phải. Chẳng cần gì phải chuyện vãn với ông ta, cấp dưới rụt rè trước cấp trên là lẽ đương nhiên. Không thì chẳng còn ra thể thống gì nữa. Có những người đối xử một cách tự nhiên với cấp dưới, rồi sau lại bị chính những kẻ cấp dưới ấy chơi cho những vố đau điếng, chẳng khác gì người ta rũ bộ quần áo cũ. Quyền lực là một việc lớn lao, trọng đại, không phải ai cũng đảm đương nổi.
Xêghizơbaep nghĩ như vậy, toàn thân lắc lư trên yên theo nhịp bước đi của con ngựa, và không thể nói là ông ta bực bội trong lòng, tuy ông ta đến kiểm tra công việc của những người chăn cừu và biết rằng ở đấy sẽ chẳng có gì đáng hài lòng. Mùa đông và mùa xuân vẫn đang tranh hơn thua, chẳng bên nào chịu nhường bên nào, và trong cuộc cạnh tranh này, bầy cừu bị thiệt hơn cả; cừu non chết, cừu mẹ gầy mòn cũng lăn ra chết, và không có cách gì cứu vãn. Năm nào cũng thế. Ai cũng biết chuyện ấy. Nhưng một khi ông ta được cử đi làm đặc phái viên thì ông ta sẽ phải cột trách nhiệm cho một kẻ nào đó. Và ở một chỗ nào đó trong bóng tối sâu thẳm của tâm hồn, ông ta còn biết rằng tỉ lệ chết cao của gia súc trong huyện thậm chí có lợi cho ông ta. Xét cho cùng, ông ta không phải chịu trách nhiệm về tình hình chăn nuôi, vì ông ta là kiểm sát trưởng huyện và chỉ là ủy viên thường vụ huyện ủy. Bí thư thứ nhất mới là người phải chịu trách nhiệm. Tay này mới về, công tác ở huyện chưa được bao lâu, mặc cho tay ấy è cổ ra hứng chịu hậu quả. Xêghizơbaep sẽ chờ xem sự thể ra sao. Mặc cho các ông ở trên xem xét các ông ấy có lầm chăng khi đưa người nơi khác về làm bí thư. Xêghizơbaep bực tức về chuyện đó, ông ta không thể cam chụy để mình bị bỏ rơi. Ông ta làm kiểm sát trưởng ở đây đã lâu, có thể nói là nhiều làn tỏ rõ ông ta có khả năng như thế nào. Nhưng không sao, ông ta có bạn bè, gặp dịp họ sẽ giúp đỡ ông ta. Đã đến lúc ông ta nên chuyển sang công tác đảng, ngồi mãi cái ghế kiểm sát trưởng rồi… Ờ mà con ngựa hay thật đấy, nước đi bồng bềnh như con tầu, bùn lầy nước vũng nó coi như không.
Con ngựa mà ông bí thư chi bộ cưỡi đã đẫm mồ hôi, mà Gunxarư mới chỉ hơi thấm ướt…
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (15-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #58  
Cũ 15-07-2010, 22:23
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

Còn Tsôrô vẫn mải mê theo đuổi ý nghĩ riêng tư. Nom ông ốm yếu lắm. Mặt tiều tụy, nước da vàng ệch, mắt sâu lõm. Đã bao nhiêu năm nay ông khổ sở vì bệnh tim, và bệnh tim ngày càng trầm trọng. Những ý nghĩ đến với ông thật là nặng nề. Ừ, Tanabai nói đúng. Tay chủ tịch mới quát tháo, làm rùm beng, nhưng chẳng có ích lợi gì. Phần lớn thời giờ ông ta tót lên huyện, bao giờ ông ta cũng có công việc gì ở đó. Lẽ ra cần nêu vấn đề ông ta ra trước cuộc họp đảng, nhưng huyện lại bảo khoan đã. Còn phải chờ gì kia chứ? Nghe đồn đâu như chính ông ta đang muốn thôi việc, có lẽ vì thế chăng? Nếu thế thì càng hay. Cả Tosôrô cũng đã đến lúc nên về đi là phải. Ông có ích gì cho công tác? Cứ ốm suốt. Xamanxur về nghỉ hè cũng khuyên ông nên xin nghỉ việc. Rút thì được thôi, nhưng còn lương tâm? Xamanxur là một gã trai sáng ý, bây giờ cái gì nó cũng hiểu rõ hơn bố. Nó luôn luôn bàn luận về việc nên làm nông nghiệp như thế nào. Người ta đang truyền thụ cho thanh niên những kiến thức tốt, có lẽ với thời gian, sự thể sẽ được khuôn xếp đúng như những điều các giáo sư dạy bảo họ. Nhưng từ giờ đến lúc ấy, ông bố chắc đã trút linh hồn. Mà ông không thể lẩn đi đâu trốn tránh nỗi đau xót của mình được. Không thể trốn tránh bản thân mình, không thể nấp vào đâu để tự trốn mình được. Vả chăng, mọi người sẽ nói thế nào? Ông đã hứa hẹn và gieo niềm hi vọng cho họ, đã đẩy nông trang vào tình trạng nợ ngập đầu ngập cổ, rồi bây giờ thôi việc về nghỉ cho nhân thân ư? Hiện nay cũng như sau này, ông không thể nào yên ổn được, thà đương đầu đến cùng còn hơn. Rồi nông trang sẽ được giúp đỡ, không thể cứ thế này mãi. Miễn là mau mau lên. Mà giúp đỡ thực sự kia, chứ không phải giúp đỡ như tay kiểm sát trưởng này. Ông ta nói: chúng tôi sẽ truy tố về tội làm hỏng việc! Ừ thì cứ truy tố đi. Nhưng không phải ra một bản án mà chỉnh đốn công việc được. Ngồi trên lưng ngựa, ông ta cau có như thể ở trong mình ông ta đấu tranh bảo vệ nông trang… Thật ra, ông ta chẳng thiết gì hết, ông ta chỉ làm ra vẻ thế thôi. Nhưng cứ thử nói thẳng với ông ta như vậy xem.


18

NHỮNG TRÁI NÚI LỚN CHÌM TRONG MÀN xương xám đục. Bị mặt trời quên lãng, chúng sẫm đen ở phía trên, càu quạu như những người khổng lồ bị chọc giận. Mùa xuân đau ốm. Bốn bề ẩm ướt, mờ đục.
Tanabai khốn đốn lao đao trong chuồng ngựa của mình. Rét buốt, ngột ngạt. Mấy cừu mẹ đẻ cùng một lúc, chẳng có chỗ nào đặt cừu con. Thật muốn gào lên cho bõ uất. Nhộn nhạo huyên náo, tiếng be be khắp nơi, chen đẩy lung tung. Con nào cũng đói, cũng khát, và lăn ra chết như ruồi. Đã thế, vợ lại bị dập co lưng, nằm liệt giường. Jaiđar muốn trở dậy, nhưng không thể duỗi lưng ra được. Thôi thì đành phó mặc, muốn ra sao thì ra. Không còn hơi sức đâu nữa.
Ý nghĩ về Bêctai cứ luẩn quẩn trong đầu, tức lộn ruột mà đành chịu, điều đó khiến Tanabai nghẹt thở. Ông uất không phải vì gã bỏ đi – con đường của gã không thể khác được, không phải vì gã vứt bỏ đàn cừu của gã như con tu hú đẻ con vào tổ con chim khác – cuối cùng rồi sẽ có một kẻ nào đó được phái đến nhận đàn cừu của gã, ông uất vì đã không có cách gì trả lời Bêctai sao cho gã hổ thẹn đến trốc tuột cả da trên thân thể. Sao cho gã không còn vui sướng nhìn thấy áng sáng ban ngày. Một thằng ranh con hỉ mũi chưa sạch! Còn ông Tanabai, một đảng viên kỳ cựu, đã cống hiến cả đời mình cho công cuộc xây dựng nông trang, ông lại không tìm được câu gì nói lại gã cho thích đáng. Gã quẳng cái gậy chăn cừu và bỏ đi, thằng nhãi ranh. Trước đấy có bao giờ ông nghĩ rằng sẽ có lúc xảy ra chuyện như thế chăng? Đã bao giờ ông nghĩ rằng sẽ có kẻ chế nhạo sự nghiệp có ý nghĩa sống còn đối với ông chăng?
“Thôi đủ rồi!” – ông tự nhủ, nhưng lát sau ông lại trở về vẫn với những ý nghĩ ấy.
Lại một cừu nái nữa đẻ, mà đẻ sinh đôi, hai cừu nhóc khá xinh. Nhưng để chúng vào đâu bây giờ? Vú cừu mẹ lép kẹp, vả lại ăn gì đâu mà có sữa kia chứ? Vậy là những con này sẽ chết! Ôi chao, tai họa, thật là tai họa! Kia là những con đã chết, cứng queo. Tanabai thu lượm những xác chết, bắt đầu chuyển ra ngoài. Đứa con gái chạy vào, thở hồng hộc.
- Bố ơi, có người đến, mấy ông cấp trên.
- Đến thì đến – Tanabai lầu bầu – Con đi chăm nom mẹ đi.
Ra khỏi chuồng cừu, Tanabai thấy hai người cưỡi ngựa. “Ồ Gunxarư! Tanabai mừng rỡ. Sợi dây đàn cũ trong lồng ngực phát ra một âm thanh cao – Đã lâu lắm không gặp mày! Xem nó đi kìa, vẫn cái nước đi ấy!”. Một người là Tsôrô. Còn người kia mặc bành tô da, cưỡi Gunxarư, ông không nhận ra là ai. Chắc là một cán bộ ở huyện.
“Được, được, cứ đến đây. Có thế chứ!” – một ý nghĩ vui mừng độc địa lóe lên trong óc ông. Bây giờ ông có thể kêu ca, than thân trách phận, nhưng không, ông sẽ không khóc than, phải làm cho họ đỏ mặt lên. Đời thuở nhà ai có cái lối như thế kia chứ! Bỏ mặc người ta, sống chết mặc bay, rồi bây giờ ló mặt tới…
Tanabai không đứng chờ họ đến, ông đi ra phía sau chuồng, vứt xác cừu thành một đống. Rồi ông thong thả quay trở lại.
Những người kia đã vào trong sân. Ngựa thở hồng hộc. Tsôrô nom thật đáng thương, như một kẻ phạm lỗi. Ông biết ông sẽ phải chịu trách nhiệm với bạn. Còn cái người cưỡi Gunxarư thì coi bộ káu kỉnh; hằm hằm, thậm chí không thèm chào hỏi gì cả. Ông ta lập tức nổi xung lên:
- Tệ hại quá chừng! Chỗ nào cũng thế! Hãy xem những gì đang diễn ra ở đây! – Ông ta phẫn nộ nói với Tsôrô. Rồi quay về phía Tanabai: - Thật là quá thể đấy, đồng chí ạ, - ông ta hất dần về chỗ Tanabai đã đem những xác cừu mới sinh đến chất thành đống – đồng chí là đảng viên cộng sản, vậy mà cừu non chết như thế ư?
- Chắc chúng không biết tôi là đảng viên – Tanabai châm chọc, rồi đột nhiên trong người ông dường như có một cái lò xo bị gãy, tâm hồn ông chợt trở nên trống rỗng, dửng dưng và đau xót.
- Thế là thế nào? - Xêghizơbaep đỏ mặt tía tai, nhưng rồi im bặt – Đồng chí có giao ước thi đua xã hội chủ nghĩa chứ? – Cuối cùng ông ta tìm được câu hoạnh họe, đồng thời ghìm đâu Gunxarư xuống để ra oai.
- Có.
- Trong giao ước nói gì?
- Tôi không nhớ.
- Chính vì thế cừu của đồng chí mới chết! – Xêghizơbaep lại trở cán roi về phía ấy và đứng phắt dậy trên bàn đạp, hứng khởi vì có dịp cho gã chăn cừu xấc láo một bài học. Nhưng trước tiên ông ta cự Tsôrô:
- Đồng chí nhìn đi đâu thế? Họ không biết cả đến giao ước thi đua của họ nữa. Làm hỏng kế hoạch, làm chết gia súc! Các người làm cái trò gì ở đây? Đồng chí giáo dục các đảng viên trong tổ chức của mình như thế nào? Đảng viên cộng sản gì cái thứ người này? Tôi muốn hỏi đồng chí!
Tsôrô cúi đầu, lặng ngắt, hai tay vò dây cương.
- Vẫn cứ là đảng viên cộng sản đấy – Tanabai điềm nhiên trả lời thay cho Tsôrô.
- Hừ, đảng viên thế đấy. Anh là đồ phá hoại. Anh hủy hoại tài sản của nông trang. Anh là kẻ thù của nhân dân. Chỗ của anh là ở trong tù chứ không phải ở trong đảng. Anh dám chế nhạo công cuộc thi đua.
- Hà, chỗ của ta là ở trong tù, ở trong tù – Tanabai xác nhận, giọng cũng điềm tĩnh không kém. Môi ông run lên, ông cười trong cơn điên dại, tan lòng nát ruột vì uất hận và dau xót vì tất cả những gì làm tràn đầy cái chén kiên nhẫn của ông - Ừ được! – Ông nhìn chằm chằm vào Xêghizơbaep, cố dằn lòng giữ cho môi khỏi run lên bần bật – Ngươi còn nói gì nữa không?
- Sao anh lại ăn nói như thế, Tanabai? – Tsôrô xen vào, - Để làm gì kia chứ? Có gì cứ trình bày cặn kẽ đi.
- À ra thế đấy! Vậy là ngay cả với anh cũng cần phải giãi bày mới rõ ư? Anh đến đây để làm gì? Tôi hỏi anh đấy! Để nói rằng cừu con của tôi chết nhiều ư? Điều ấy tôi thừa biết. Để nói rằng tôi đang ngập đầu ngập cổ trong đám phân chuồng ư? Tôi biết hơn ai hết chứ? Để nói rằng suốt đời tôi là một thằng ngu, hết lòng hết dạ vì nông trang ư? Thì tôi cũng thừa biết đi rồi!
- Tanabai! Tanabai! Tanabai! – Bình tĩnh lại đi! – Mặt tái mét, Tsôrô nhảy trên yên xuống.
- Tránh ra! – Tanabai xô bạn ra – Tôi nhỏ toẹt vào những giao ước thi đua của tôi, tôi coi khinh nó suốt đời. Đi đi cho rồi! Chỗ của tôi là ở trong tù! Anh dẫn cái tên quan lại mới mặc áo bành tô da này đến đây làm gì? Để nó chế giễu tôi phải không? Để nó tống tôi vào tù phải không? Được, tên khốn kiếp, cứ bỏ tù tao đi! – Tanabai nhảy bổ đi tìm một cái gì làm khí giới, ông vơ lấy cái chảng nạng dựa ở tường và xông vào Xêghizơbaep – Cút, xéo khỏi đây, quân khốn nạn! Cuốn xéo! – Rồi chẳng nghĩ ngợi gì, ông vung cái chảng nạng lên.
Kinh hoảng, Xêghizơbaep kéo cương ngựa lung tung, cây chảng nạng giáng vào đầu con ngựa đang cuống cuồng, bật trở lại, dội tiếng lanh lảnh, rồi lại tới tấp giọt xuống. Trong cơn cuồng nộ, Tanabai không hiểu tại sao cái đầu Gunxarư cứ ngật bên nọ ngoẹo bên kia như lên cơn co giật, tại sao bộ hàm thiếc lại kéo rách cái mõm đỏ lòm nóng hổi của nó, tại sao cặp mắt của con vật trồi hẳn ra, thấp thoáng trước mặt ông nom lại có vẻ hoang mang khiếp sợ đến như vậy.

- Tránh ra, Gunxarư, đi đi! Để tao cho cái thằng hách dịch bọc da này một trận! – Tanabai gầm lên giáng hết đòn này đến đòn khác vào đầu con vật vô tội.
Một xăcmansitsa trẻ đã kịp chạy tới, dùng cả sức nặng toàn thân níu lấy tay ông, nhưng ông hất chị ta ngã vật xuống đất. Trong lúc đó Tsôrô đã kịp nhảy lên yên.
- Lui lại! Chạy đi! Anh ấy giết đấy! – Tsôrô nhảy bổ tới chỗ Vêghizơbaep, đứng chắn giữa ông ta và Tanabai.
Tanabai vung chàng nạng chực phang, hai người kia thúc ngựa phóng ra khỏi sân. Con chó vừa sủa vừa đuổi theo, vồ lấy bàn đạp vồ lấy đuôi ngựa.
Tanabai chạy theo, vấp giúi vấp giụi, vơ lấy những cục đất sét, ném và không ngớt gào lên:
- Chỗ của tao là ở trong tù ư? Ở trong tù. Cút! Cút xéo khỏi đây. Chỗ của tao ở trong tù! Ở trong tù!
Rồi ông quay trở lại, miệng vẫn lẩm bẩm thở không ra hơi: “Chỗ của tao là ở trong tù, ở trong tù!”. Con chó đi bên cạnh củ, coi bộ tự hào, có ý thức rằng mình đã làm tròn bổn phận. Nó chờ được chủ khen, nhưng ông chủ chẳng để ý gì đến nó. Jaiđar mặt tái nhợt, đầy vẻ sợ hãi, chống gậy khập khễnh ra gặp chồng.
- Mình làm cái trò dại dột gì thế? Sao lại làm liều thế?
- Tôi lầm.
- Lầm cái gì? Tất nhiên là lầm
- Tôi đã đánh nhầm phải Gunxarư.
- Mình không mất trí đấy chứ? Mình có biết mình đã làm một việc tầm bậy như thế nào không?
- Tôi biết. Tôi là kẻ phá hoại. Tôi là kẻ thù của nhân dân – Tanabai thốt lên, cố chống lại cơn khó thở, rồi ông im bặt, đưa hai tay lên bưng mặt, gập mình xuống, bật khóc nức nở.
- Bình tâm lại đi, bình tĩnh lại đi – Jaiđar van xin và cũng khóc với chồng, nhưng Tanabai vẫn khóc mãi không thôi, lắc lư hết phía này sang phía khác. Chưa bao giờ Jaiđar thấy Tanabai khóc.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (15-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #59  
Cũ 15-07-2010, 22:26
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

19

THƯỜNG VỤ HUYỆN ỦY HỌP ĐẾN HÔM NAY LÀ ngày thứ ba sau biến cố phi thường đó.
Tanabai Bakaxôp ngồi ở phòng tiếp đón, chờ được gọi vào phòng họp. Trong phòng họp người ta đang bàn về ông. Trong mấy ngày qua, ông đã nghĩ đi nghĩ lại nhiều, song vẫn chưa thấy rõ là mình có lỗi hay không. Ông hiểu rằng ông đã có một hành động nghiêm trọng, đã hành hung một đại diện chính quyền, nhưng nếu chỉ có thế thì mọi việc đều đơn giản. Ông sẵn lòng chịu bất cứ sự trừng phạt nào về hành vi sai trái đó của mình. Nhưng khốn nỗi trong cơn tức giận không sao kìm nén được, ông đã dùng những lời lẽ tầm bậy văng ra tất cả nỗi đau xót của mình về tình hình nông trang, khiến cho mọi lo âu và suy nghĩ của ông đều trở nên nhơ bẩn. Bây giờ ai sẽ tin ông? Ai có thể hiểu được ông? “Nhưng có thể các đồng chí sẽ hiểu được ta chăng? – Niềm hy vọng lóe lên trong óc ông – Ta sẽ nói hết: mùa đông năm nay, chuồng ngựa và nhà lều, gia súc không có gì ăn, những đêm mất ngủ của ta, viêc Bêctai… Để cho các đồng chí ấy hiểu rõ tình hình… Có thể nào làm ăn như thế được chăng? Và ông không còn lấy làm tiếc rằng sự việc đã xảy ra như thế. “Thì họ cứ trừng phạt ta đi – Ông nghĩ ngợi – Nhưng có lẽ những người khác sẽ dễ sống hơn. Có thể sau chuyện này, họ sẽ ngó ngàng đến những người chăn cừu, đến đời sống của chúng ta, đến những gian lao của chúng ta”. Nhưng lát sau, nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra với mình, ông lại sôi máu lên, và hai tay nắm chặt như hai hòn đá kẹp giữa đùi, ông tự nhủ một cách bướng bỉnh: “Không, ta không có lỗi gì hết, không!”. Rồi ông lại luẩn quẩn với những mối nghi ngờ…
Ở đây, trong phòng chờ, không hiểu sao lại có cả Ibraim “Thằng cha này đến đây làm gì nhỉ? Con chim ăn thịt thối ngửi thấy mùi xác chết, nó đã bay tới.” – Tanabai điên ruột, quay mặt đi, Ibraim cũng lặng thinh, thở dài, đưa mắt nhìn người chăn cừu đang ngồi rũ đầu xuống.
“Họ làm gì mà lề mề thế nhỉ? – Tanabai ngọ nguậy trên ghế, thầm nghĩ – Còn phải lôi thôi gì nữa, choảng thì cứ việc choảng đi cho rồi!” Ở trong ấy, người đến họp dường như đã có mặt đủ cả. Tsôrô đến sau cùng, vào phòng mấy phút trước. Tanabai nhận ra ông nhờ mấy sợi lông dính vào ống ủng. Đấy là những sợi lông màu vàng của con ngựa sắc vàng có nước đi dị dạng. “Hẳn là anh ta phóng vội lắm, Gunxarư đổ mồ hôi bọt kia mà” – ông nghĩ, không ngẩng đầu lên. Đôi ủng ướt đẫm mồ hôi ngựa, trên ống dính những sợi lông vàng ngần ngừ dừng lại cạnh Tanabai rồi biến vào sau cửa.
Thời gian kéo dài lê thê, rồi từ trong phòng họp, cô thư ký ló đầu ra:
- Vào đi, đồng chí Bakaxôp.
Tanabai giật mình, đứng lên, tai choàng ù tiếng tim đập, ông đi vào phòng họp mà trong tai vẫn không ngớt vẳng lên tràng tiếng đập thình thịch ấy. Mắt mờ nhòa đi. Ông hầu như không nhận rõ mặt những người ngồi ở đây.
- Mời ngồi - Bí thư thứ nhất huyện ủy Kaskataep chỉ cho Tanabai cái ghế ở cuối chiếc bài dài.
Tanabai ngồi xuống, đặt đôi tay đã trở nên nặng chịch lên đùi, chờ cho màn sương mờ trên mắt tan đi. Rồi ông nhìn dọc theo dãy bàn. Ngồi bên tay phải bí thư thứ nhất là Xêghizơbaep, vẻ mặt kiêu kì. Nỗi căm ghét tên này khiến toàn thân Tanabai căng lên và màn sương mờ bao phủ lên mắt tan biến ngay tức khắc. Mặt tất cả những người ngồi bên bàn rõ hẳn lên, có đường nét rành rẽ. Đậm nhất là mặt Xêghizơbaep, đỏ thẫm, tái nhất là mặt Tsôrô, không có tí máu nào. Tsôrô ngồi ngay ở đầu bàn gần Tanabai nhất. Đôi tay gầy guộc của ông run rẩy một cách nóng nảy trên tấm dạ màu lá mạ trải mặt bàn. Chủ tịch nông trang Anđanôp ngồi đối diện với Tsôrô khịt mũi ầm ỹ, cau có nhìn tứ phía. Ông ta không che giấu thái độ của mình đối với việc sắp đưa ra xét. Những người khác rõ ràng còn nghe ngóng. Cuối cùng bí thư thứ nhất rời mắt khỏi đám giấy tờ trong cặp hồ sơ.
- Chúng ta sẽ xét vấn đề kỷ luật đảng viên Bakaxôp – ông ta dằn từng tiếng một cách nghiệt ngã.
- Vâng, xin cứ mạn phép gọi là đảng viên – Một người nào không rõ thốt lên bằng giọng cay độc kèm theo tiếng cười mỉa.
“Họ thật độc ác – Tanabai nghĩ bụng – Đừng hòng họ khoan hồng. Mà tại sao ta lại phải mong được khoan dung nhỉ? Ta là kẻ phạm tội ư?”
Ông không biết rằng trong việc giải quyết vụ rắc rối liên quan đến ông, có hai phe ngấm ngầm kình chống nhau, mỗi bên sẵn sàng lợi dụng câu chuyện đau xót này vào mục đích riêng của mình. Một bên mà đại diện là Xêghizơbaep và những người cùng cánh muốn, nắn gân bí thư thứ nhất, bước đầu thử xem có thể xỏ mũi ông ta được không. Phía bên kia, mà đại diện là chính Kaskataep, thì suy tính làm cách nào để vừa không mất mặt vừa không gây căng thẳng trong quan hệ với những con người nguy hiểm này (Kaskataep đã đoán được rằng Xêghizơbaep đang nhắm cái ghế của mình).
Bí thư huyện ủy đọc tờ trình của Xêghizơbaep, trong đó có kể rõ tỉ mỉ mọi tội lỗi – bằng lời nói và việc làm – mà Tanabai Bakaxôp, người chăn cừu của nông trang “Đá trắng” đã phạm phải. Trong bản tường trình không một điều gì Tanabai có thể chối cãi được, nhưng giọng điệu của nó, cách trình bày những lời buộc tội khiến ông cảm thấy tuyệt vọng. Ông toát mồ hôi vì thấy rõ mình hoàn toàn bất lực trước cái tờ giấy quái gở này. Tờ trình của Xêghizơbaep đáng sợ hơn chính bản thân ông ta nhiều. Chống lại nó không thể vác chàng nạng xông lên mà xong. Tất cả những điều Tanabai định nêu ra để bào chữa cho mình trong nháy mắt đã sụp đổ, chính ông tự thấy cái đó chẳng còn nghĩa lí gì nữa, lời lẽ của ông sẽ biến thành lời than phiền thảm hại của người chăn cừu về những rủi ro bình thường của mình. Ông có phải là kẻ ngu ngốc không? Lời biện bạch của ông có giá trị gì so với cái tờ giấy ghê gớm này?! Ông định đương đầu với ai vậy?
- Đồng chí Bakaxôp, đồng chí có thừa nhận những sự kiện nêu ra trong tờ trình của đồng chí Xêghizơbaep ủy viên thường vụ huyện ủy, là khách quan không? – Đọc xong tờ trình, Kaskataep hỏi.
- Đúng thế - Tanabai đáp bằng giọng khàn khàn.
Mọi người đều im lặng. Hình như ai nấy đều sợ cái giấy đó. Anđanôp đắc ý đưa mắt nhìn những người ngồi bên bàn, cái nhìn đầy vẻ thách thức: đấy, hãy xem chuyện gì đang xảy ra.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (15-07-2010), Xamova (16-07-2010)
  #60  
Cũ 15-07-2010, 22:28
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV

- Các đồng chí ủy viên thường vụ, nếu các đồng chí cho phép, tôi xin làm sáng rõ thực chất của việc này – Xêghizơbaep nói bằng giọng kiên quyết – Tôi muốn nói ngay để phòng ngừa điều này: một số đồng chí có thể có ý định coi hành động của đảng viên Bakaxôp chỉ như một hành động du côn. Nếu chỉ có thế thì xin hãy tin tôi, tôi sẽ không đưa vấn đề ra trước thường vụ đâu: với bọn du côn, chúng ta có những biện pháp đấu tranh khác. Và vấn đề cố nhiên không phải ở chỗ tình cảm của tôi bị xúc phạm. Tôi có sự ủng hộ của thường vụ huyện ủy, và trong trường hợp này, nói các đồng chí miến thứ, tôi có chỗ dựa là toàn đảng và tôi không để cho ai làm hại đến uy tín của đảng. Điều căn cốt ở đây là tất cả những cái đó nói lên sự lơi lỏng trong công tác giáo dục chính trị của chúng ta đối với đảng viên và người ngoài đảng, về những thiếu sót nghiêm trọng trong công tác tư tưởng của huyện ủy. Rồi đây tất cả chúng ta đều phải chịu trách nhiệm về nếp suy nghĩ của những đảng viên thường như Bakaxôp. Chúng ta sẽ phải tìm hiểu kĩ xem chỉ có một mình Tanabai như thế hay còn những kẻ khác cùng tư tưởng với ông ta. Ông ta tuyên bố: “tên quan lại mới mặc bành tô da”, như vậy nghĩa là làm sao? Hãy tạm gác chuyện chiếc áo bành tô sang một bên. Nhưng theo Bakaxôp thì một người xô viết, một ủy viên đặc phái của đảng như tôi lại là một quan chức, một tên quý tộc, kẻ đàn áp nhân dân! Thì ra là thế đấy! Các đồng chí có hiểu những lời lẽ như vậy chứa đựng ẩn ý gì không? Tôi cho rằng không cần bình luận… Bây giờ xin nói về khía cạnh khác của cong việc. Quá buồn bực về tình hình chăn nuôi tồi tệ ở nông trang “Đá trắng” lại phải nghe những lời bất mãn của Bakaxôp, thêm nữa, dường như ông ta đã quên cả giao ước thi đua của mình, tôi đã gọi ông ta là kẻ phá hoại, kẻ thù của nhân dân và nói rằng vị trí của ông ta không phải ở trong đảng, mà là ở trong tù. Tôi thừa nhận là tôi đã lăng mạ ông ta và sẵn lòng xin lỗi ông ta. Nhưng bây giờ tôi thấy rằng tôi nói chẳng sai chút nào. Tôi sẽ không rút lại những gì tôi đã nói và tôi khẳng định rằng Bakaxôp là một phần tử nguy hiểm, có đầu óc thù địch…
Tanabai đã trải qua mọi thử thách trong đời, đã tham gia chiến tranh từ đầu đến cuối, nhưng ông không ngờ trái tim có thể gào thét như nó đang gào thét lúc này. Đồng thời với tiếng thét ấy, tiếng thét vang lên trong tai như một tràng tiếng nổ không ngớt, tim ông rơi xuống, trỗi lên, leo lên, buột rơi xuống, rồi lại cố trỗi lên, như những viên đạn nã thẳng vào nó. “Trời ơi – trong đầu Tanabai có tiếng gõ đập – Đâu mất rồi tất cả những ý nghĩa của toàn bộ công tác ta làm? Đời ta lại đến nông nỗi này ư: ta trở thành kẻ thù của nhân dân. Vậy mà ta từng đau khổ về một cái chuồng cừu nào đó, về những con cừu con gầy ốm trụi lông ấy, về gã Bêctai ba bứa. Ai cần gì cái đó!...”.
- Tôi xin nhắc lại lần nữa những kết luận trong bản tường trình của tôi – Xêghizơbaep nói tiếp, sắp đặt các từ theo một trật tự sắt thép – Bakaxôp căm thù chế độ ta, căm thù nông trang, căm thù thi đua xã hội chủ nghĩa, phỉ nhổ tất cả những cái đó, căm ghét toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Ông ta đã nói trắng ra điều đó trước mặt bí thư chi bộ nông trang là đồng chí Xaiakôp. Trong hành vi của ông ta có cả yếu tố cấu thành tội hình sự: hành hung đại diện của chính quyền trong lúc người đó đang thi hành công vụ. Tôi mong các đồng chí hiểu đúng ý tôi, tôi đề nghị phê chuẩn việc truy tố Bakaxôp, để sau khi ra khỏi đây, ông ta bị bắt giữ ngay. Yếu tố cấu thành tội phạm hoàn toàn ứng với điều năm mươi tám. Còn về việc để cho Bakaxôp ở trong hàng ngũ của đảng thì theo tôi không thể có quyền như thế được!...
Xêghizơbaep biết rằng ông ta đòi hỏi quá đáng, nhưng ông ta dự tính rằng cho dù thường vụ thấy không cần thiết phải truy tố Tanabai Bạkaxôp thì việc khai trừ Tanabai ra khỏi đảng cũng sẽ là điều chắc chắn. Kaskataep không thể không ủng hộ đòi hỏi đó, và như vậy địa vị của Xêghizơbaep sẽ càng vững chắc hơn.
- Đồng chí Bakaxôp, đồng chí có muốn nói gì về hành động của đồng chí không? – Kaskataep hỏi, xem ra đã có chiều nổi nóng.
- Không. Mọi việc đã được nói rõ cả rồi – Tanabai trả lời – Vậy ra trước nay tôi vẫn luôn luôn là kẻ phá hoại, kẻ thù của nhân dân. Nếu vậy thì cần gì phải biết tôi nghĩ ra sao? Các đồng chí cứ xét xử đi, các đồng chí thấy rõ hơn…
- Vậy đồng chí vẫn cho mình là một đảng viên cộng sản chính trực à?
- Bây giờ điều đó không thể chứng minh được.
- Đồng chí nhận là đồng chí có lỗi chứ?
- Không.
- Thế là cái quái gì, đồng chí tự cho mình là thông minh hơn tất cả mọi người ư?
- Không, trái lại đần độn hơn ai hết là đằng khác.
- Cho phép tôi phát biểu ý kiến – Một gã trẻ tuổi đeo huy hiệu Kômxômôm trên ngực rời chỗ, đứng lên. Anh ta trẻ nhất ở đây, thân hình gầy gò, mặt choắt, nom như trẻ con.
Mãi đến lúc này Tanabai mới để ý anh ta. “Cứ đả đi, chú mày, đả kịch liệt vào – Ông thầm nghĩ – Hồi xưa ta cũng như thế, không hề biết xót thương…”
Và như làn chớp lóe sáng giữa những đám mây, ông nhìn thấy khoảng rộng trống trơn ven đường, chỗ Kulubai đã nhổ bật rễ và xẻo nát lúa non. Ông nhìn thấy mồn một, tất cả hiện lên tức khắc trước cái nhìn bằng trí tưởng tượng của ông, và ông giật mình, trong tâm hồn ông vang lên một tiếng thét thầm lặng.
Tiếng nói của Kaskataep đưa ông trở lại thực tế.
- Nói đi, Kêrimbêkôp…
- Tôi không tán thành hành động của đồng chí Bakaxôp. Tôi cho rằng đồng chí ấy phải chịu kỷ luật thích đáng của đảng. Nhưng tôi cũng không đồng ý với đồng chí Xêghizơbaep…
- Gớm chưa! – có tiếng ngắt lời chàng trai – Trong đoàn Kômxômôm của các đồng chí có cái thể thống gì như thế ư?
- Chỉ có một thể thống duy nhất chung cho tất cả chúng ta – Kêrimbêkôp đáp, vẫn còn xúc động và đỏ mặt lên. Anh ngắc ngứ, lựa lời, cố khắc phục sự ngượng nghịu của mình, và đột nhiên, dường như vì tuyệt vọng. anh bỗng nói một cách gay gắt và tức giận
- Đồng chí có quyền gì lăng nhục một nông trang viên chăn cừu, một đảng viên kì cựu? Đồng chí cứ thử gọi tôi là kẻ thù của nhân dân xem… Đồng chí viện cớ rằng đồng chí hết sức buồn phiền về tình trạng chăn nuôi ở nông trang, thế đồng chí không nghĩ rằng người chăn cừu cũng buồn phiền không kém gì đồng chí ư? Khi đến với người đó, đồng chí có quan tâm đến chuyện người đó sống ra sao, tình hình công việc như thế nào không? Tại sao cừu non lăn ra chết? Không, cứ theo tờ trình của đồng chí thì đồng chí xỉ vả người ta ngay. Chẳng ai còn lạ gì, vụ cừu đẻ ở các nông trang hiện đang lâm vào tình trạng nguy ngập. Tôi vẫn thường đến tận nơi xem xét, và tôi xấu hổ, ngượng mặt với các đoàn viên Kômxômôm chăn cừu vì chúng đòi hỏi nhiều ở họ, mà thực tế lại không giúp đỡ gì cho họ. Các đồng chí hãy xem chuồng cừu ở các nông trang như thế nào, thức ăn chăn nuôi ra sao? Bản thân tôi là con một người chăn cừu. Tôi biết khi cừu con bị chết thì điều đó nói lên cái gì. Ở các trường đại học chúng tôi học một đằng, còn ở các địa phương thì sự thể lại đi một nẻo: tất cả vẫn theo lối cũ. Nhìn thấy tình cảnh ấy mà đau lòng!...
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
Bien (02-07-2011), huong duong (20-08-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (15-07-2010), Xamova (16-07-2010)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Truyện núi đồi và thảo nguyên (Aitmatov) matrioska2009 Văn học 14 20-01-2013 13:00
Nhà văn Chingiz Aitmatov từ trần USY Văn học 12 21-06-2008 17:18


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:31.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.