Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Văn học (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=33)
-   -   VĨNH BIỆT GUNXARƯ-Chingiz Aitmatov (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=3013)

Siren 13-06-2010 09:45

VĨNH BIỆT GUNXARƯ-Chingiz Aitmatov
 
Vào trung tuần tháng Sáu cách đây hai năm, báo cand.com đã đưa tin Nhà văn Chingiz Aitmatov qua đời, nội dung của bài báo do tác giả Mạnh Hiền viết như sau:

http://vnca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=52873

Vĩnh biệt tác giả "Một ngày dài hơn thế kỷ"

Nhà văn Kyrgyzia nổi tiếng Chingiz Aitmatov, tác giả của những tác phẩm làm rung động hàng triệu con tim trên thế giới đã qua đời tại Bệnh viện Nuremberg ở CHLB Đức vào hồi 15 giờ 31 phút ngày 10/6. Hãng DPA của CHLB Đức đưa tin nhà văn Kyrgyzia qua đời vì bệnh phổi.


Chingiz Aitmatov đã lâm bệnh từ mấy tháng trước tại Kazan, nơi ông tham gia quay phim "Một ngày dài hơn thế kỷ". Ông được đưa vào điều trị tại bệnh viện tốt nhất ở Tatarstan (Nga). Ngày 16/5, Aitmatov được đưa sang Đức chữa trị và ông đã vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 80.

Aitmatov sinh năm 1928 tại làng Sheker, vùng Talass của Kyrgyzia. Tuổi thơ ông rong ruổi trên những cánh đồng và thảo nguyên vùng Trung Á thơ mộng. Lớn lên, Aitmatov đến sinh sống cùng gia đình tại Moskva. Nước Nga với những cánh rừng bạch dương hùng vĩ và những con người nhân hậu đã nuôi dưỡng tâm hồn Aitmatov, hun đúc nên những tác phẩm bất hủ của ông. Chính vì thế, những tác phẩm của Aitmatov đều thể hiện bằng hai thứ tiếng Kyrgyzia và Nga. Từ năm 1952, những tác phẩm đầu tiên của Chingiz Aitmatov lần lượt ra đời.

Đến nay, những tác phẩm của nhà văn đã được tái bản tới 650 lần trên thế giới và được dịch sang 170 ngôn ngữ khác nhau với số lượng lên đến 60 triệu bản. Tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn "Khi nào núi đổ (nàng dâu vĩnh viễn)" vừa được xuất bản tại Moskva năm 2006. Năm nay ở Kirgizia là "Năm Chingiz Aitmatov".

Mới đây, tại Thổ Nhĩ Kỳ, một ủy ban vận động đề cử Aitmatov làm ứng cử viên giải thưởng Nobel Văn học được thành lập. Sáng kiến đề cử Aitmatov do Hội nghị Bộ trưởng các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Altai, Tatarstan, Tuva... đưa ra.

Hội nghị khẳng định Aitmatov là nhà hoạt động văn học xuất sắc của cộng đồng Turkic. "Chingiz Aitmatov được coi như biểu tượng tinh thần và nhân phẩm của tất cả nhân dân Turkic trên toàn thế giới, còn toàn bộ cuộc đời nghệ thuật của ông có ý nghĩa quốc tế sâu rộng"- Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Abdull Gul tuyên bố.

Chingiz Aitmatov đã từng giữ các chức vụ như Tổng biên tập tạp chí "Văn học nước ngoài", Thư ký Hội Nhà văn Liên Xô. Ông được phong danh hiệu nhà văn nhân dân của Kyrgystan, Anh hùng Lao động XHCN, được nhận giải thưởng Lênin, 3 lần đoạt giải thưởng Quốc gia Liên Xô, Đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô, Ủy viên BCH T.Ư Đảng Cộng sản Kyrgyzia.

16 năm cuối đời, Aitmatov làm đại sứ của Kyrgyzia ở châu Âu.

Nước Nga đau đớn nhận tin Aitmatov qua đời. Tổng thống D.Medvedev gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia quyến của nhà văn. Chủ tịch Hội các nhà xuất bản Nga Mikhail Seslavinsky nêu rõ: "Trong những ngày cuối đời, Aitmatov luôn trăn trở rằng phải làm tất cả để giữ mối quan hệ nhân văn bền chặt giữa các nước cộng hòa trong không gian hậu Xôviết. Ông tham gia các cuộc hội thảo và luôn là người bạn thân thiết, gần gũi của đất nước chúng ta. Sự nghiệp sáng tác của ông là một phần không thể thiếu trong không gian văn học của đất nước chúng ta".

Ngoại trưởng Pháp Bernar Kushner vô cùng thương tiếc nhà văn Kyrgyzia, ông cho rằng Aitmatov luôn sống mãi trong lòng những người hâm mộ như một nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Nhà hoạt động văn hóa xã hội Mikhail Veller khẳng định sự ra đi của Aitmatov đã để lại khoảng trống, mất đi một mắt xích quan trọng trong không gian văn hóa hậu Xôviết.

Bạn đọc Việt Nam mến yêu Chingiz Aitmatov qua những tác phẩm: "Người thầy đầu tiên", "Núi đồi và thảo nguyên", "Giamilia", "Cây phong non trùm khăn đỏ", "Vĩnh biệt Gunxarư", "Một ngày dài hơn thế kỷ", "Đoạn đầu đài"... Đó là những thiên truyện đã thực sự làm ngây ngất những con tim luôn khát khao với cuộc sống mến yêu, với thiên nhiên thấm đẫm tình người.

Chingiz Aitmatov thực sự là cây đại thụ trong nền văn học Xôviết, một nhà văn chói ngời với những tư tưởng nhân văn.

"Vĩnh biệt Gunxarư"! Vĩnh biệt Chingiz Aitmatov!

Nhà văn của nhân dân Chingiz Aitmatov


Để tưởng nhớ nhà văn, tôi xin được chép lại cuốn Vĩnh biệt Gunxarư do dịch giả Phạm Mạnh Hùng dịch, sách do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1986, như một nén nhang gửi tới vong linh nhà văn yêu mến trong ngày giỗ lần thứ hai của ông.

nthach 13-06-2010 11:42

Siren ơi !!!

Chắc rằng mọi người sẽ mong được đọc, và ủng hộ tác phẩm do bạn đăng lên diễn đàn rồi. :emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands:emoticon-0150-hands

Siren 13-06-2010 12:03

VĨNH BIỆT GUNXARƯ
 
Một người già nua trên chiếc xe ngựa già nua. Con ngựa Gunxarư màu vàng nhạt cũng đã già, già lắm rồi...

Đường ngược lên cao nguyên, leo dốc lên đến phát ớn lên được. Mùa đông gió tuyết luôn luôn quay cuồng giữa những ngọn đồi xám xịt hoang vắng, mùa hè thì nóng như hoả ngục.

Đối với Tanabai, đoạn dốc này bao giờ cũng là một cực hình thực sự. Ông không ưa cho xe đi chậm, đi chậm quả tình là ông không sao chịu đựng nổi. Thời trai trẻ, ông thường có việc lên huyện, trên đường về lần nào ông cũng thúc ngựa phi nước đại lên dốc. Ông quất roi không chút xót thương. Còn nếu đi xe tải hạng cùng với những người khác, nhất lại là xe do bò kéo thì đến chân dốc, xe đang chạy ông cũng nhảy xuống, lẳng lặng vơ lấy áo mũ và cuốc bộ. Ông rảo bước hung hăng như đang xông lên trong mộtt trận tấn công, cứ như thế cho đến khi lên đến cao nguyên ông mới dừng lại. Miệng há ra hớp không khí, ông chờ chiếc xe đang bò lên ở mãi dưới kia. Chạy bộ nhanh, tim ông đập như điên như dại, nhoi nhói trong lồng ngực. Nhưng thà vậy còn hơn ngồi trên chiếc xe bò kéo chậm rề rề.

Tsôrô, nay đã qua đời, thường thích chế nhạo thói kỳ quặc của bạn. Ông nói:

-Tinabai này, anh có biết tại sao anh cứ long đong lận đận mãi không? Là vì anh có tính nôn nóng. Nói tình thực đấy. Bất cứ việc gì anh cũng cứ muốn thật mau lên, thật gấp vào. Cách mạng thế giới ư? Làm ngay đi! Mà nói gì đến cách mạng, ngay một chặng đường bình thường, đoạn lên dốc từ Alexanđrốpka, anh cũng chẳng đủ kiên gan chịu đựng nữa là. Người ta thì điềm nhiên ngồi trên xe, riêng anh lại nhả xuống, hăm hở chạy lên dốc như bị chó sói đuổi sau lưng. Nhưng có lợi gì hơn không nào?Chẳng được cái tích sự gì. Vẫn cứ phải ngồi trên đỉnh dốc chờ người khác đến. Làm cách mạng thế giới cũng thế, không thể một mình nhảy lên vượt lên trước được, hiểu chưa?. Như vậy thì sẽ lại phải chờ cho mọi người lên theo kịp.

Nhưng chuyện ấy đã lâu rồi, lâu lắm rồi.

Lần này Tanabai vượt qua dốc Alexanđrốpka lúc nào không biết. Thì ra về già , ông đã quen đi. Ông cho xe đi không nhanh, không chậm, theo đà bình thường. Bây giờ, bao giờ ông cũng ra đi một mình. Những người trước đây đã cùng ông họp đoàn đông vui đi lại trên con đường ồn ào này, nay không tìm đâu ra nữa. Người thì đã bỏ mình nơi chiến địa, người thì đã qua đời, người thì ngồi nhà sống nốt những ngày cuối cùng. Còn thanh niên bây giờ chúng nó đi xe có động cơ kia chứ. Chẳng ai hơi đâu cùng ông kéo lê trên đường với một con nghẽo thảm hại.

Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Và nó sẽ còn phải lăn lọc cọc một thời gian lâu nữa. Phía trước là thảo nguyên, rồi tiếp đó, sang bên kia con kênh, còn phải vượt qua một vùng gần núi.

Đã từ lâu, ông nhận thấy con ngựa hình như đang xuống sức, cứ đuối dần. Nhưng bận rộn với những ý nghĩ buồn phiền, ông chẳng lo ngại gì cho lắm. Con ngựa mệt mỏi chút ít ở dọc đường thì có gì ghe gớm kia chứ. Đôi khi còn gặp những rủi ro tai ác hơn nhiều. Nhất định nó sẽ kéo được xe về nhà.

Vả chăng, làm sao ông biết được rằng con ngựa già của ông, tên là Gunxarư ( vì nó có bộ lông màu vàng nhạt- tiếng Kirghizya- Gunxarư nghĩa là bông hoa màu vàng, cái nụ hoa vàng) đang vượt dốc Alexanđrốpka lần cuối cùng trong đời nó và giờ đây đang đưa ông đi những dặm đường cuối cùng của nó. Làm sao ông biết được rằng đầu óc con vật đang choáng váng mê mụ, bà trong con mắt đã mờ đục của nó, mặt đất bồng bềnh hoa lên những vòng tròn nhiều màu sắc, nghiêng ngả chòng chành, quyệt hết rìa bên nọ đến rìa bên kia vào bầu trời, đường cái trước mặt con vật đôi lúc dứt quãng đột ngột, biến thành một khoảng trống đen ngòm và con vật tưởng chừng như ở phía trước, nơi nó đang đi tới, lại bồng bềnh trong đám sương mù hay đám khối màu đỏ nhạt, tuy lẽ ra ở đấy nhất định phỉa có núi. Một cơn đau âm ỉ kéo dài nhói lên trong trái tim đã suy kiệt của nó, nó thở ra mỗi lúc một khó khăn hơn trong vòng cổ. Cái đai mông trẹo sang bên cứa vào da thịt, còn ở mé bên trái, dưới vòng cổ có cái gì nhọn luôn luôn đâm đau nhói. Có lẽ đó là cái gai hay đầu đinh đâm qua lớp dạ lót vòng cổ. Vết thương vừa mới há miệng trên cái u chai cũ ở vai, đau rát và ngứa không chịu nổi. Vó mỗi lúc một nặng chịch, tưởng như bước trên cánh đồng ướt mới cày...

Siren 16-06-2010 23:20

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)
 
Nhưng con ngựa già vẫn gắng gượng tiến bước, còn ông già Tanabai thỉnh thoảng lại giật cương thúc giục và mải miết theo đuổi ý nghĩ của mình. Ông có nhiều điều đáng nghĩ ngợi.

Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Gunxarư vẫn chạy bằng cái nước đi dị dạng quen thuộc ấy ( một kiểu đi khác thường của ngựa, hai chân một bên cùng cất lên một lần, tạm dịch là dị dạng vì không có từ thích ứng - ND), vẫn cái nhịp nước kiệu đặc biệt ấy mà chưa bao giờ nó đi sai lạc, kể từ ngày đầu tiên trong đời nó đứng lên được và chập chững chạy trên đồng cỏ theo sau mẹ. Mẹ nó là là một con ngựa cái cao lớn, có mái bờm dày rậm.

Gunxarư có nước đi dị dạng từ lúc lọt lòng mẹ. Vì cái nước đi trứ danh ấy, trong đời nó đã có nhiều ngày vui sướng và nhiều ngày đắng cay. Trước đây không ai tính đến chuyện dùng nó kéo xe, đâu có chuyện sỉ nhục như thế. Nhưng như người ta thường nói, khi con ngựa gặp vận khốn, nó sẽ đeo cả cương và hàm thiếc đi uống nước, khi một chàng trai anh tài gặp vận khốn, anh ta sẽ để cả ủng lội qua chỗ sông cạn.
Đấy toàn là chuyện trước kia, nay đã lùi về dĩ vãng xa xôi. Giờ đây con vật dốc hết chút sức tàn đi tới cái vạch chót của mình. Chưa bao giờ nó đi tới cái vạch chót chậm đến thế và chưa bao giờ nó tới gần cái vạch ấy nhanh đến thế. Cái vạch chót vẫn luôn luôn cách nó một bước.

Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ.

Cảm giác mặt đất bập bềnh dưới chân khơi dậy trong ký ức đã tàn lụi của nó bóng dáng những ngày hè xa xăm ấy, một cánh đồng cỏ ướt đẫm nằm lọt giữa núi đồi và rung rinh tròng trành, cái thế giới kỳ diệu và khó tưởng tượng nổi ấy, ở đó vầng mặt trời hý vang và nhảy nhớt trên những ngọn núi, còn nó, con ngựa non khờ khạo, nó đuổi theo mặt trời, băng qua đồng cỏ, qua con sông nhỏ, qua những bụi cây, cho đến khi con ngựa đực đầu đàn, hai tai áp sát vào đầu đầy vẻ tức giận, đuổi kịp nó và bắt nó quay trở lại.
Vào cái thuở xa xưa ấy, những đang ngựa dường như đi ngược vó lên trời, như hình bóng in dưới đáy hồ, còn mẹ nó, một con ngựa cái cao lớn có mái bờm dày rậm, biến thành đám mây sữa ấm áp. Nó thích những lúc mẹ nó bỗng chốc biến thành đám mây thở phì phì đầy tình thương âu yếm. Vú mẹ trở nên rắn căng và ngọt ngào, sữa sủi bọt trên môi nó và tuôn ra nhiều quá và ngọt quá làm nó sặc sụa. Nó thích đứng như thế, rúc đầu vào bụng ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm. Cái thứ sữa mới mê ly, ngây ngất làm sao! Cả thế giới - mặt trời, đất, mẹ - chứa gọn trong một ngụm sữa, rồi một ngụm nữa...

Siren 23-06-2010 22:25

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tiếc thay, hạnh phúc chẳng được bao lâu, ngắn ngủi quá. Chẳng bao lâu tất cả đổi khác. Mặt trời không còn hí vang và nhảy nhót trên núi, mà nghiêm nghị nhô lên ở đằng đông và không ngừng di chuyển về hướng tây, các đàn ngựa không còn đi ngược vó lên trời, đồng cỏ bị vó ngựa giẫm nát lép nhép và sẫm đen lại, đá trên bãi cát bồi lộp độp vỡ vụn ra. Ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm trở thành bà mẹ nghiêm khắc, cắn rất đau vào bắp vai nó khi nó quấy rầy nhiều quá. Sữa không còn đủ bú nữa. Phải ăn cỏ. Từ đó bắt đầu một cuộc sống kéo dài nhiều năm ròng và giờ đây sắp kết liễu.

Suốt cuộc đời dài lâu của mình. Gunxarư chưa bao giờ trở lại mùa hè ấy, cái mùa hè đã qua đi mãi mãi. Nó mang yên cương, sải vó trên các nẻo đường, nhiều người đã từng cưỡi trên lưng nó, vậy mà đường đi vẫn chưa hết. Mãi đến bây giờ, khi mặt trời lại nhảy nhót, còn mặt đất chòng chành dưới chân, mắt hoa lên và mờ đi, nó mới lại mường tượng thấy cái mùa hè đã lâu lắm chưa hề trở lại. Dẫy núi ấy, cánh dồng cỏ ướt sương ấy, những bầy ngựa ấy, ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm dang ở trước mắt nó trong ánh hào quan lung linh kì lạ. Và nó căng hết cơ bắp, vươn dài người, đạp hai chân một cách tuyệt vọng, cố thoát ra khỏi càng xe, vùng ra khỏi cổ và càng xe để đi vào thế giới dĩ vãng ấy, cái thế giới đột nhiên hiện về với nó. Nhưng cái ảo ảnh lừa dối cứ luôn luôn lùi ra xa, thật khổ tâm xiết bao. Ngựa mẹ hí khe khẽ gọi nó, như thuở nó còn thơ dại, những bầy ngựa rầm rập chạy qua, sườn và đuôi quyệt vào nó như hồi nó còn thơ dại, nhưng nó không đủ sức vượt qua làn sương mù lấp lánh của cơn bão tuyết đang nổi lên mỗi lúc một dữ tợn ở xung quanh. Bão quất vào nó những chiếc đuôi cứng, nhồi tuyết vào mắt và mũi nó, toàn thân nó đẫm mồ hôi nóng, nó lạnh run lên, và cái thế giới không thể nào tới được ấy chìm nghỉm êm nhẹ như không, biến mất trong những cơn lốc của trận bão tuyết. Thế rồi núi non, đồng cỏ, con sông cũng biến mất, những bầy ngựa chạy biến đi, và ở phía trước, bóng dáng ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm chỉ còn là một vệt mờ. Ngựa mẹ không muốn bỏ rơi nó. Mẹ gọi nó. Nó rán sức hí lên, nức nở, nhưng nó không nghe thấy tiếng mình. Tất cả đã biến mất, kể cả cơn bão tuyết. Bánh xe không còn lọc cọc nữa. Vết thương nhỏ dưới vòng cổ không còn nhức nhối nữa.
Gunxarư dừng lại, lảo đảo. Mắt nhìn buốt nhói. Trong đầu có tiếng u u kì lạ, liên tục bất tận.
Tanabai ném dây cương xuống tấm chắn phía trước xe, lóng ngóng trèo xuống, cử động đôi chân tê dại và cau có đến gần con ngựa.

-Hừ, quỉ tha ma bắt mày đi! – Ông nhìn con ngựa, khẽ mắng.

Con vật vẫn đứng, cái đầu đồ sộ với cái cổ dài gầy ngẵng thõng xuống dưới vòng cổ. Xương sườn con vật giương lên xẹp xuống một cách khó nhọc, và hai bên hông gầy guộc, nhẽo nhợt nhô lên những xương cùng xẩu. Lông nó trước kia vàng tươi, óng ánh sắc vàng mười, bây giờ ngả sang màu nâu xỉn, bết mồ hôi và bùn. Những vệt mồ hôi xanh nhạt, nom như vệt xà phòng, chạy dài từ đầu xương cùng xuống bụng, chân và móng.
- Nào có phải tao thúc ép mày chạy quá sức đâu – Tanabai lẩm bẩm và quính lên, nới lỏng đai bụng hàm thiếc hết nước bọt dính nhớp, nóng hổi. Ông dùng tay áo lau mõm và cổ cho con ngựa. Rồi ông chạy vội về chỗ chiếc xe để vun vét nốt chỗ cỏ khô còn lại, ông vét được nửa ôm cỏ và đem đến vứt dưới chân con vật. Nhưng con ngựa không động đến cái ăn, một cơn run nhè nhẹ lan khắp toàn thân nó.
Tanabai đưa một nắm cỏ khô đến gần mõm ngựa.

- Ngoạm lấy, ăn đi, cái con này lạ thật!

Môi con vật mấp máy, nhưng không thể ngoạm được nắm cỏ. Tanabai nhìn vào mắt con vật và cảm thấy buồn phiền. Ông chẳng nhìn thấy gì hết trong đôi mắt hõm sâu nửa khép nửa mở dưới lớp mi răn reo đã trụi hết lông của nó. Đôi mắt ấy mờ đục và trống rỗng như cửa sổ của ngôi nhà bỏ hoang.
Tanabai bối rối nhìn khắp xung quanh: đằng xa kia là những dãy núi, quanh đây là thảo nguyên trơ trụi, trên đường cái không một bóng người. Vào mùa này rất hiếm người qua lại nơi đây.

Chỉ có một con ngựa già và một ông già trên con đường vắng ngắt.

Siren 23-06-2010 22:26

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Bấy giờ là cuối tháng hai.
Tuyết đã tan trên đồng bằng, chỉ riêng trong các khe và những mương xói mọc đầy cói là vẫn còn những đống tuyết cuối cùng nom giống như những tấm lưng chó sói trong hang ổ kín đáo của mùa đông. Gió thoang thoảng mùi tuyết đọng, đất vẫn còn đóng giá, xám ngắt, chưa hồi sinh. Thảo nguyên lổn ngổn đá vào cuối đông sao mà quạnh hiu và ảm đạm. Chỉ riêng quang cảnh thảo nguyên cũng đủ khiến Tanabai lạnh giá trong lòng.
Hếch cao chòm râu bạc bù xù, che mắt dưới ống tay cứng queo của tấm áo lông, ông nhìn một lúc lâu về phía tây. Mặt trời lư lửng giữa những đám mây ở tận cuối trái đất. Hoàng hôn nhợt nhạt, mờ hơi sương đã loang ra ở chân trời. Không có điều gì báo trước thời tiết xấu, nhưng vẫn lành lạnh và hơi đáng sợ.
“Biết thế này thì chẳng đi là hơn. – Tanabai buồn bực – Bây giờ đi không được, trở lại không xong, đành đứng trơ ra giữa đồng không mông quạnh. Lại làm cho con ngựa chết uổng nữa chứ”.
Phải, có lẽ ông nên để sáng mai hãy ra đi. Ban ngày ban mặt, nếu có xảy ra chuyện gì ở dọc đường thì vẫn có thể gặp một người qua đường. Nhưng lúc ông ra đi thì đã quá trưa. Mùa này ai lại đi như thế kia chứ?
Tanabai lên một gò cao nhìn xem ở đằng xa có chiếc xe nào từ phía sau hay phía trước đi tới không. Nhưng nhìn ngược nhìn xuôi chẳng thấy gì và cũng chẳng nghe thấy tiếng động nào. Ông uể oải trở lại chỗ xe ngựa.
“Ta ra đi thực là dại” – Tanabai lại tự nhủ, lần này không biết là lần thứ bao nhiêu ông trách mình suốt đời hấp tấp. Ông cáu kỉnh, vừa giận mình vừa bực tức về tất cả những gì đã thôi thúc ông vội vã rời khỏi nhà con trai ông. Đúng là nên ở lại đêm nay để cho con ngựa nghỉ ngơi lấy lại sức. Vậy mà ông đã làm gì?
Tanabai phảy tay một cách tức giận. “Không, dù thế nào ta cũng sẽ không ở lại. Dù phải cuốc bộ ta cũng ra về! – Ông tự biện bạch với mình. – Cái thói đâu ăn nói với bố chồng như thế kia chứ? Chẳng gì ta cũng là bố chúng nó kia mà. Nó lại dám mở miệng ra nói ông vào đảng làm gì để mà suốt đời chăn cừu với chăn ngựa, rồi về già lại bị đuổi ra khỏi đảng… Mà thằng con ta cũng chẳng ra gì. Cứ câm như thóc, không dám ngước mắt lên. Con vợ mà xui nó từ bỏ bố thì nó cũng từ phắt cho mà xem. Cái đồ ươn hèn, thế mà cũng tấp tểnh leo lên làm lãnh đạo kia đấy. Hừ, còn phải nói gì nữa! Bọn chúng nó bây giờ có ra cái quái gì đâu, hỏng lắm rồi.
Tanabai cảm thấy bức bối,ông cởi khuy cổ áo sơ mi và thở hổn hển, bắt đầu đi lại xung quanh chiếc xe, quên bẵng cả con ngựa, cả con đường, cả đêm tối đang xuống. Ông vẫn không thể nào bình tâm được. Lúc ở nhà con trai, ông dằn lòng nhẫn nhịn, vì cho rằng cãi cọ với con dâu thật không ra thể thống gì. Nhưng bây giờ ông bỗng giận sôi lên, cứ như lúc này thì ông sẵn sàng nói thẳng vào mặt ả tất cả những ý nghĩ cay đắng ông đã nghiền ngẫm ở dọc đường. “Không phải cái thứ mày kết nạp tao vào đảng, cũng không phải cái thứ mày đã khai trừ tao ra khỏi đảng. Con ạ, làm sao mày biết được những gì đã xảy ra hồi ấy? Bây giờ ngồi phán xét mọi chuyện thì dễ thôi. Bây giờ người nào cũng được học hành, được tôn trọng, kính nể. Nhưng hồi ấy, mọi trách nhiệm đều đổ lên đầu chúng ta, mà trách nhiệm mới khắc nghiệt làm sao! Phải chịu trách nhiệm về bố, về mẹ, về bạn và thù, về bản thân, về con chó hàng xóm, về đủ mọi thứ trên đời ! Còn về việc ta bị khai trừ thì mày chớ có đả động đến! Đấy là nỗi đau buồn của ta, con ạ. Chuyện ấy mày không được động đến!”.
- Chuyện ấy mày không được động đến! – Ông vẫn nói thành tiếng và vẫn quanh quẩn bên chiếc xe ngựa – Chuyện ấy mày không được động đến! – ông nhắc đi nhắc lại vẫn một câu. Và đáng bực nhất, bẽ bàng nhất là ngoài câu “mày không được động đến”, hình như không còn gì để nói nữa.
Ông cứ đi đi lại lại quanh chiếc xe mãi, cho đến khi nhớ ra rằng cần phải làm một việc gì: không thể ở lại đây suốt đêm được.
Gunxarư trong bộ đồ thắng xe vẫn đứng yên không nhúch nhích, dửng dưng với mọi sự đời, lưng gù lên, chân chụm vào nhau, nom như đã hoá đá, như đã chết.
- Mày sao thế? – Tanabai nhảy bổ đến cạnh nó và nghe thấy một tiếng rên khe khẽ, kéo dài của con vật. – Mày ngủ ư? Mày khó ở ư, anh bạn già? Ốm ư? Ông hối hả sờ nắn đôi tai lạnh của con vật, luồn một tay dưới bờm nó. Ở đấy cũng lạnh và ẩm. Nhưng điều làm ông hoảng nhất là ông không cảm thấy sức nặng quen thuộc của cỗ bờm: “Nó già thực sự rồi, bờm đã thưa đi nhiều, nhẹ bổng như lông tơ. Tất cả chúng ta đều già đi, rồi cũng đến ngày tận số”. – Ông nghĩ một cách chua xót. Ông đứng lên, lưỡng lự không biết làm gì. Nếu bỏ mặc con ngựa với chiếc xe ở đây mà đi bộ thì đến nửa đêm có thể về đến nhà, đến cái trạm gác của ông trong hẽm núi. Ông và vợ sống ở trạm, gần chỗ ở của người trông coi công việc thủy lợi, cứ theo con sông nhỏ ngược lên phía trên chừng một kilômét rưỡi là đến. Mùa hè Tanabai trông nom việc cắt cỏ, mùa đông ông trông coi những đống cỏ khô, không để cho những người chăn cừu lấy trộm hoặc dùng hết cỏ quá sớm.
Mùa thu năm ngoái, khi ông đến ban quản trị có việc, anh đội trưởng, một kĩ sư nông nghiệp trẻ tuổi mới đến, nói với ông:
- Acsakan ạ, bác xuống chuồng ngựa mà xem, chúng con đã chọn cho bác con ngựa khác rồi đấy. Của đáng tội nó hơi già, nhưng với công việc của bác thì được thôi.
- Con nào đấy nhỉ? – Tanabai có ý lo ngại – Lại một con nghẽo cà khổ nào phải không?
- Bác cứ đến xem đi rồi sẽ biết. Một con ngựa sắc vàng. Bác hẳn phải biết con ngựa này, nghe nói trước kia bác vẫn cưỡi nó.
Tanabai đến chuồng ngựa, và khi nhìn thấy con ngựa ở sân, lòng ông quặn đau. “Thì ra ta lại gặp nhau”. – ông thầm nói với con ngựa gì rút cuộc cũng đã suy kiệt. Ông không đang tâm khước từ nó. Ông đem con ngựa về.
Về đến nhà, vợ ông phải khó khăn lắm mới nhận ra con ngựa có nước đi dị dạng.
- Tanabai, có phải con Gunxarư đấy không? – Bà ngạc nhiên.
- Phải, chính nó đấy, có gì là lạ kia chứ… - Tanabai lầu bầu, cố không nhìn vào mắt vợ.
Cả hai vợ chồng đều không muốn khơi lại những kỷ niệm gắn bó với con ngựa Gunxarư. Thời trai trẻ, Tanabai đã có phen lầm lỗi, phải, ông đã từng lầm lỗi. Để câu chuyện khỏi xoay sang chiều hướng không hay, ông hơi sẵng giọng bảo vợ:
- Sao lại cứ đứng ngây ra thế, đi hâm lại thức ăn đi. Tôi đói cào cả ruột rồi đây này.
- Nhìn nó tôi nảy ra ý nghĩ: tuổi già là thế đấy – Vợ ông đáp – Nếu ông không bảo tôi đây chính là Gunxarư ấy thì hẳn là tôi không nhận ra.
- Có gì là lạ nhỉ? Bà tưởng tôi với bà nom khá hơn chắc! Cái gì cũng có thời của nó.
- Thì tôi cũng nghĩ vậy chứ sao? – Bà vợ trầm ngâm lắc đầu, rồi cất tiếng cười hiền hậu và nói. – Có lẽ đêm đêm ông sẽ lại nhóng con Gunxarư của ông đi chơi nhởn đấy nhỉ? Tôi cho phép đấy.
- Vớ vẩn! – Ông lúng túng nói lảng và xoay lưng về phía vợ. Vợ nói đùa thì lẽ ra nên đáp lại bằng một câu đùa, nhưng vì bối rối, ông leo lên gần mái nhà kho lấy cỏ khô. Ông loay hoay ở đấy một lúc lâu. Ông tưởng vợ ông đã quên chuyện ấy, vậy mà không.
Khói cuồn cuộn tuôn ra qua ống khói, vợ ông hâm lại bữa ăn trưa đã nguội, vậy mà ông vẫn loay hoay với đám cỏ khô, mãi cho đến lúc vợ ông đứng ở cửa lớn tiếng gọi:
- Xuống đi, kẻo không thức ăn lại nguội mất.
Bà không đả động đến chuyện xưa nữa, khơi lại đống tro tàn làm gì?
Suốt mùa thu và mùa đông, Tanabai chăm vỗ con ngựa, cho ăn cám nóng, củ cải băm nhỏ. Răng Gunxarư đã mòn vẹt cả, chỉ còn trơ lại chân răng. Ông cho rằng ông đã vực lại được con ngựa, đương nhiên là phải như vậy thôi. Bây giờ xử trí với nó thế nào đây?
Không, ông không đang tâm vứt bỏ con vật ở giữa đường.

Siren 23-06-2010 22:31

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
- Thế nào, Gunxarư, ta cứ đứng đây mãi thế này à? – Tanabai dùng một tay đẩy con ngựa, con vật loạng choạng, đổi chân nọ sang chân kia. – Thôi được, cứ đứng đấy, tao trở lại ngay.
Ông dùng cán roi khều ở sàn xe lên cái bao tải không mà ông đã đựng khoai đem đến cho con dâu, lấy trong bao tải ra một bọc nhỏ. Vợ ông đã nướng cho ông một chiếc bánh mì ăn đường, vậy mà ông quên khuấy đi, không còn bụng dạ đâu nghĩ đến chuyện ăn uống. Ông bẻ lấy nửa chiếc bánh mì dẹt, bóp vụn ra trong vạt chiếc áo besmet (Kiểu áo của người Thổ Nhĩ Kì và người Mông Cổ, bó sát ngang thân và dài đến gần đầu gối -N.D) và đem đến cho con ngựa. Gunxarư hít ồn ào, ngửi hơi bánh mì, nhưng không thể ăn được. Thế là Tanabai bón cho nó ăn bằng lòng bàn tay. Ông ấn vào mõm nó mấy mẩu vụn, và con ngựa bắt đầu nhai.
- Ăn đi, ăn đi, rồi ta sẽ về được đến nhà chứ, hả? – Tanabai trở nên vui vẻ - Cứ đi thong thả, từ từ, có lẽ ta sẽ về được đến nhà chứ, hả? Về được đến nhà thì chẳng sợ gì nữa, tao với bà lão sẽ chăm sóc cho mày – ông lẩm bẩm. Nước miếng từ môi ngựa chảy xuống hai bàn tay run run của ông, còn ông vui mừng vì nước bọt của con vật đã ấm hơn.
Rồi ông nắm lấy dây cương.
- Nào, cất bước! Đứng mãi đây làm gì. Đi đi! – ông ra lệnh bằng giọng kiên quyết.
Con ngựa nhích khỏi chỗ, xe cót két, bánh xe lọc cọc trên đường một cách chậm chạp. Người và ngựa tiến lên một cách chậm chạp, một ông già và một con ngựa già.
“Nó yếu lắm rồi.- Tanabai nghĩ về con ngựa, ông bước đi bên lề đường. – Mày bao nhiêu tuổi rồi, Gunxarư? Hai mươi, hay hơn thế nữa. Có lẽ còn nhiều tuổi hơn…”.
2.
Hai bên gặp nhau lần đầu tiên sau chiến tranh. Binh nhì Tanabai Bakaxốp đã từng ở mặt trận phía tây và cả mặt trận phía đông, rồi được phục viên sau khi đạo quân Quan đông đầu hàng. Tổng cộng ngót sáu năm trời ông đã bước đi trên những nẻo đường của người lính. Nhờ trời, ông không hề hấn gì, một lần ông bị chấn thương trong đoàn xe tải, lần khác ông bị một mảnh đạn vào ngực nằm quân y viện hai tháng rồi lại theo kịp đơn vị.
Khi ông trở về nhà, những người đàn bà bán hàng ở ga gọi ông là “bố già”. Nhưng đấy là họ bông đùa thì đúng hơn. Tanabai chẳng bực bội gì lắm về chuyện ấy. Đã đành là ông không còn trẻ trung gì, nhưng cũng chưa già. Nom bề ngoài ông có vẻ già, chiến tranh đã làm nước da ông sạm hẳn đi, ria đã điểm bạc, nhưng thể lực và tinh thần còn tráng kiện lắm. Năm sau, vợ ông sinh con gái, rồi lại sinh một gái nữa. Cả hai con gái ông đã lấy chồng, đã có con. Mùa hè, hai cô vẫn về thăm bố mẹ. Chồng cô cả làm lái xe. Anh đưa cả gia đình lên xe, đánh xe lên vùng núi thăm ông bà già. Không, hai con gái và các chàng rể không có gì đáng trách, nhưng còn thằng con trai thì chẳng ra gì. Nhưng đấy là chuyện khác…

Hồi ấy, trên đường về sau chiến thắng, ông tưởng chừng cuộc sống thực sự chỉ mới bắt đầu. Trong lòng vui vẻ biết bao. Tại các ga lớn, các đội kèn đưa đón đoàn tàu. Vợ ông chờ đợi ông ở nhà, đứa con trai đã hơn bảy tuổi, sắp đến trường. Ngồi trên xe ông có cảm giác như ông ra đời lần thứ hai, dường như tất cả những gì đã có trước đây đều không đáng kể. Ông muốn quên hết, chỉ nghĩ về tương lai. Ông hình dung tương lai sáng sủa và đơn giản; cần phải sống, nuôi dạy con cái, thu xếp việc làm ăn, dựng nhà, tóm lại là phải sống. Và không còn gì ngăn cản người ta sống được nữa, bởi vì toàn bộ quá khứ dường như đã được đem ra làm vật đảm bảo để bây giờ rút cuộc, cuộc sống thực sự sẽ đến với mọi người, cái cuộc sống mà người ta hằng khao khát, vì nó mà người ta đã chiến thắng và đã chết trong chiến tranh.

Có điều, sau này mới vỡ lẽ ra rằng Tanabai hay nóng vội, nóng vội quá: tương lai đòi hỏi phải dành cho nó nhiều năm nữa...

Siren 23-06-2010 22:34

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Thoạt đầu, ông giữ chân quai búa trong xưởng rèn. Trước đây ông rất thạo việc đó, và khi được vào làm việc bên cái đe, ông thẳng tay quai quá tới tấp đến nỗi người thợ rèn phải vất vả lắm mới kịp lật giở thỏi sắt nóng đỏ dưới cái búa. Ngay đến giờ, đôi khi ông vẫn còn nghe thấy tiếng nện chan chát và tiếng vang lanh lảnh trong xưởng rèn, những âm thanh khiến ông quên hết mọi lo âu buồn phiền. Thuở ấy mọi người thiếu ăn, thiếu mặc, phụ nữ đi giầy cao su không bí tất, không có giầy ấm bên trong, trẻ em không biết mùi vị đường, nông trang nợ đìa ra, tài khoản ở ngân hàng bị giữ lại, còn Tanabai quai búa để quên đi tất cả những cái đó. Ông thẳng tay quai búa, cái đe ngân vang, những tia lửa xanh bắn tung toé. “U hù! U hù! – Ông vừa thở vừa vung búa lên, giáng búa xuống và nghĩ: - Mọi việc rồi sẽ ổn, cái chính là ta đã chiến thắng, cái chính là đã chiến thắng!”. Còn chiếc búa phụ hoạ: Đã thắng! Đã thắng, thă-ắng, thă-ắng!” – Không chỉ riêng Tanabai, trong những ngày ấy, mọi người đều sống bằng không khí chiến thắng, như sống bằng bánh mì.
Rồi sau đó, Tanabai đi chăn ngựa đàn, vào ở trong núi. Tsôrô đã thuyết phục được ông. Tsôrô giờ đây không còn nữa, nhưng hồi ấy ông là chủ tịch nông trang, ông giữ chức vụ đó suốt thời kỳ chiến tranh. Ông đau tim nên người ta không lấy vào quân đội. Dường như ở nhà, ông cũng chỉ ngồi một chỗ, vậy mà ông già đi nhiều. Tanabai nhận ra ngay điều đó.
Người khác ắt hẳn không thuyết phục nổi Tanabai đổi xưởng rèn lấy đàn ngựa. Nhưng Tsôrô với ông là bạn lâu năm. Trước đây, còn là đoàn viên Kômxômôn, họ đã cùng tham gia việc vận động thành lập nông trang, cùng đi tước đoạt tài sản của bọn kulắc. Hồi ấy Tanabai đặc biệt hăng hái. Ông không hề thương xót những kẻ có tên trong danh sách kulắc…
Một lần đến xưởng rèn, Tsôrô đã thuyết phục được Tanabai và rất hài lòng về việc đó.
- Thế mà tôi sợ rằng anh đã dính chặt vào chiếc búa, không cách gì dứt ra được. – Ông mìm cười nói.
Tsôrô ốm, gầy nhom, cổ ngẳng, má hõm răn reo. Thời tiết dạo ấy còn ấm, nhưng ngay cả mùa hè Tsôrô vẫn mặc chiếc săng đay tứ thời của mình.
Họ ngồi xổm bên con mương cách xưởng rèn không xa và nói chuyện. Tanabai nhớ tới Tsôrô thời trẻ. Hồi ấy, Tsôrô là một gã có học nhất làng và rất đẹp trai. Dân làng kính trọng anh vì tính anh điềm đạm, nhân hậu. Nhưng Tanabai không ưa cái tính tốt bụng của Tsôrô. Đôi khi trong các cuộc họp, Tanabai đứng lên chỉnh Tsôrô ra trò về thái độ mềm yếu không thể tha thứ được trong cuộc đấu tranh giai cấp với kẻ thù. Tanabai nói ra dáng lắm, cứ hệt như trên báo chí. Anh lặp lại lần đầu tất cả những gì đã nghe được trong những buổi đọc sách báo công cộng. Đôi khi chính anh cũng cảm thấy khiếp sợ về lời lẽ của chính mình. Nhưng nghe thì hùng hồn lắm.
- Anh ạ, đã ba ngày nay tôi ở trong núi. – Tsôrô kể. – Các cụ già hỏi những người đi lính về hết rồi phải không? Tôi đáp: phải, những người nào còn sống đều đã về hết rồi. “Thế bao giờ họ định bắt tay vào việc?” Tôi trả lời: họ làm vịêc rồi đấy chứ, người thì làm lụng trên đồng ruộng, người thì ở công trường, người thì ở nơi khác. “Cái đó chúng tôi biết rồi. Nhưng ai sẽ chăn dắt những đàn ngựa? Chờ đến khi nào chúng tôi chết hết chăng? Chúng tôi cũng chẳng còn sống được bao lâu nữa đâu”. Tôi cảm thấy xấu hổ. Anh có hiểu các cụ nói như vậy là thế nào không? Trong thời kỳ chiến tranh, chúng ta đã điều các cụ vào núi chăn ngựa. Các cụ vẫn ở đấy từ bấy đến giờ. Chẳng cần giải thích với anh rằng đấy không phải là việc của người già. Luôn luôn ở trên yên ngựa, ngày đêm không lúc nào được yên. Còn những đêm đông mới khủng khiếp chứ! Hẳn anh còn nhớ Đersibai, ông ấy chết cóng trên yên ngựa đấy. Các cụ còn phải tập luyện ngựa nữa chứ, quân đội ta cần ngựa mà. Khi đã ngoài sáu mươi, anh hãy thử cưỡi lên một con ngựa hung dữ như quỉ sa-tăng để nó tha anh đi khắp núi non, thung lũng xem nào. Có mà tan xương. Còn làm cảm ơn các cụ: các cụ đã trụ vững được. Bây giờ những người ra trận đã trở về và lên mặt khinh người, họ đã được thấy nhiều cái hay cái lạ ở nước ngoài và không muốn đi chăn ngựa. Vậy thì tội gì tôi cứ phải lang thang trong núi? Thế đấy. Thành thử, Tanabai ạ, anh hãy giúp tôi: Anh mà chịu đi thì chúng ta sẽ làm cho những người khác cũng phải đi.
- Thôi được, Tsôrô ạ, tôi sẽ thử nói chuyện với vợ tôi xem sao. – Tanabai trả lời, nhưng ông nghĩ bụng: “cuộc sống những năm qua đã gào thét như bão táp trên đầu, vậy mà anh vẫn vậy, Tsôrô ạ. Anh khổ sở vì lòng tốt của anh. Có lẽ như vậy cũng là hay. Trong chiến tranh, chúng ta đã thấy đủ mọi điều, hẳn là tất cả chúng ta đều muốn trở nên tốt bụng hơn. Có lẽ đấy chính là điều đúng đắn nhất trong cuộc sống chăng?”.

Đến đấy họ chia tay nhau...

Siren 24-06-2010 21:46

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tanabai trở lại xưởng rèn của mình, nhưng Tsôrô bỗng gọi ông:
- Khoan đã, Tanabai. – Tsôrô cho ngựa đến gần Tanabai, cúi xuống gần mỏm yên ngựa nhìn vào tận mặt bạn. – Anh không giận tôi chứ, hả? – Ông hỏi khẽ - Anh hiểu cho, tôi không sao dành được thời gian. Tôi vẫn muốn có lúc ngồi nói chuyện tâm tình với anh như ngày trước. Bao nhiêu năm nay chúng ta không gặp nhau. Mình cứ tưởng chiến tranh chấm dứt thì sẽ dễ sống hơn, thế mà những lo âu vẫn không giảm bớt. Đôi khi ban đêm không sao chợp mắt được, trong đầu ngổn ngang trăm ý nghĩ. Làm thế nào phát triển sản xuất, để cho dân được ăn no đủ và thực hiện được mọi kế hoạch. Người ta bây giờ cũng không còn như trước nữa, mọi người muốn sống khá hơn.
Nhưng rút cuộc hai người vẫn không chuyện trò tâm sự được, họ không tìm được dịp nào ngồi chơi hai người với nhau. Thời gian cứ tiếp tục trôi đi, rồi sau thì muộn rồi…
Chính hồi ấy, khi vào núi chăn ngựa đàn, lần đầu tiên Tanabai đã nhìn thấy trong đàn ngựa của ông già Torgôi con ngựa đực màu vàng nhạt khoảng một tuổi rưỡi.
- Cụ để lại cho tôi một gia tài như thế nào đây, thưa ăcsakan? Đàn ngựa không lấy gì làm tuyệt lắm, phải không – Tanabai châm chọc ông già chăn ngựa khi đã đếm đủ số và lùa ngựa ra khỏi bãi chăn rào.
Torgôi là một ông già gầy đét, mặt nhăn nheo, không có lấy một sợi râu, thân hình thấp bé như một chú thiếu niên. Chiếc mũ lông cừu to lớn, bù xù chụp trên đầu ông nom như cây nấm. Những ông già như thế thường lanh lẹn, gai ngạnh và hay to mồm.
Nhưng Torgôi không nổi nóng.
- Nó có thế thôi, như mọi đàn ngựa khác. – Ông trả lời một cách thản nhiên. – Chẳng có gì đáng khoe, cứ chăn dắt đi rồi sẽ thấy.
- Ấy là thuận miệng thì nói vậy thôi, bố ạ - Tanabai nói có ý dàn hoà.
- Có một con đặc sắc! – Torgôi đẩy nhích chiếc mũ đã sụp xuống mắt, nhướn mình trên bàn đạp, giơ cán roi trỏ về phía đàn ngựa. – Con ngựa đực màu vàng nhạt đang ăn ở rìa bên phải ấy. Con này rồi sẽ khá lắm đấy…
- Cái con tròn như quả bóng kia phải không? Nó hơi nhỏ người, eo lưng ngắn ngủn.
- Mẹ nó nhiều tuổi rồi mới đẻ nó. Được rèn cặp tử tế nó sẽ thành con ngựa hay.
- Nó có gì đặc sắc? Có cái gì hay?
- Nó có nước đi dị dạng bẩm sinh.
- Thế thì sao kia chứ?
- Những con như thế hiếm gặp lắm. Thời trước, con ngựa như thế thật là vô giá. Trong những cuộc loạn đả bằng ngựa, người ta không tiếc thân để đạt lấy con ngựa như thế.
- Ta đến xem thử coi! – Tanabai nói.
Hai người thúc ngựa, men theo đàn ngựa, lùa con ngựa màu vàng nhạt tách khỏi đàn và xua nó chạy ở phía trước. Con ngựa non này vốn thích chạy nhảy. Nó vui vẻ lắc túm bờm trước trán, phì một tiếng và cất bước phóng bằng cái nước đi dị dạng mau lẹ, dứt khoát, như thứ đồ chơi vặn dây cót, vạch thành nửa vòng tròn lớn, định trở lại với bầy. Say mê dáng đi của nó, Tanabai la to:
- Ô-ô-ô, xem nó chạy kìa! Xem kìa!
- Thế mà anh cứ hồ nghi. – Ông già chăn ngựa đáp lại bằng giọng hào hứng.
Hai người phi nước kiệu nhanh đuổi theo nó và hò hét như trẻ nhỏ trong ngày hội baiga(1). Tiếng hò của họ dường như thôi thúc con ngựa non, nó chạy mỗi lúc một nhanh, hầu như không phải gắng sức gì hết, không một lần nhảy lạc nhịp, phi nước kiệu nhịp nhàng như bay.
Hai người phải cho ngựa phi nước đại, còn con ngựa non vẫn giữ cái nước đi dị dạng nhịp nhàng ấy.
- Thấy chưa, Tanabai! – Vẫn cho ngựa phi nhanh, Torgôi vung mũ hét vang. – Nó hiểu tiếng người nhạy như con dao trong tay vậy, hãy xem nó đáp lại tiếng hò như thế đấy! Ai-tơ, ai-tơ, ai-tơ-ai!
Cuối cùng, khi con ngựa non màu vàng nhạt đã trở lại bầy, họ để cho nó yên. Họ dong hai con ngựa toàn thân nóng hừng hực, dạo bước thong thả cho chúng hồi tỉnh lại, nhưng bản thân họ còn náo nức mãi chưa thôi.
- Cám ơn Torgôi-akê, cụ đã gây dựng được một con ngựa hay. Tôi cảm thấy trong lòng vui vẻ hơn.
- Con này là ngựa hay đấy. – Ông già đồng ý. – Nhưng anh phải cẩn thận mới được. – Ông già bỗng trở nên nghiêm nghị, vừa gãy gáy vừa nói – Đừng làm hỏng nó. Và đừng có bép xép quá sớm. Con ngựa hay có nước đi dị dạng cũng như một cô gái đẹp, nhiều kẻ thèm muốn. Cái phận con gái là như thế này: lấy được người tử tế thì sẽ xinh tươi như bông hoa, người ngoài nhìn cũng thấy sướng mắt, chẳng may gặp phải kẻ xấu thì nhìn cô ta cũng thấy đau lòng thay. Mà chẳng có cách gì giúp đỡ được. Với con ngựa hay cũng thế. Làm hỏng nó thì dễ lắm. Nó sẽ gục ngã giữa lúc đang phi.
- Đừng lo, ăcxakan ạ, tôi cũng am hiểu việc này, tôi có phải đứa trẻ con đâu.
- Thế thì tốt. Tênnó là Gunxarư. Nhớ lấy.
- Gunxarư à?
- Ừ. Năm ngoái, cháu gái lão đến thăm lão. Nó đặt tên cho con ngựa như thế đấy. Nó thích con này lắm. Lúc ấy con ngựa mới được một tuổi.
Nhớ lấy nhé Gunxarư.

Siren 24-06-2010 21:48

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Hoá ra Torgôi là một ông già lắm lời. Suốt đêm ông dặn dò đủ điều. Tanabai kiên nhẫn lắng nghe.
Tanabai đưa tiễn vợ chồng Torgôi đi khỏi trại tới bảy dặm rồi mới trở lại. Chỉ còn lại túp nhà lều bỏ không mà rồi đây ông sẽ đưa gia đình đến ở. Một nhà lều khác sẽ là lều của người phụ việc cho ông. Nhưng vẫn chưa chọn được ai làm người phụ việc. Tạm thời ông chỉ có một mình.
Lúc chia tay, Torgôi lại nhắc:
- Đừng động gì đến con ngựa màu vàng ấy vội. Chờ giao nó cho ai. Đến mùa xuân, anh hãy tự mình tập luyện nó. Nhưng nhớ nhé, phải cẩn thận một chút. Khi đã đóng yên thì chớ quần nó nhiều quá. Anh mà cứ rẽ cương lung tung thì nó sẽ lạc mất nước đi dị dạng, như vậy anh sẽ làm hỏng con ngựa đấy. Phải chú ý, trong mấy ngày đầu đừng để cho nó uống nhiều nước quá, nó bốc nóng dễ uống nhiều nước lắm. Nước sẽ dồn xuống chân, sẽ sinh bệnh hắc lào. Khi nào đã luyện nó thành thục rồi, nếu tôi còn sống…
Torgôi cùng với bà lão nhà ra đi, mang theo con lạc đà chở hành lí, để lại cho Tanabai đàn ngựa, túp lều, núi non…
Giá như Gunxarư biết người ta đã bàn bạc về nó như thế nào, thiên hạ sẽ còn đồn đại về nó những gì và điều đó sẽ dẫn tới kết quả ra sao!..
Vẫn như trước, nó nhởn nhơ đi lại trong bầy. Xung quanh vẫn như thế, vẫn núi non, cây cỏ, sông suối ấy – Có điều, người lùa đàn ngựa đi bây giờ không phải là ông già mà là ông chủ khác, mặc áo khoác lính màu xám và đội mũ lính có tai che. Tiếng nói của ông chủ mới hơi khàn, nhưng vang vang và oai vệ. Chẳng bao lâu đàn ngựa đã quen với ông. Thôi thì mặc cho ông ấy phóng ngựa chạy xung quanh, nếu ông ấy thích như thế.
Rồi tuyết bắt đầu xuống. Tuyết xuống thường xuyên và đọng lâu. Ngựa dùng móng bới tuyết để gặm cỏ. Ông chủ mặt đen sạm đi, da tay phơi gió nom như màu da thuộc. Bây giờ ông chủ thường đi ủng da, mặc chiếc áo choàng lớn bằng da lông thú. Toàn thân Gunxarư đã mọc một lớ p lông dài, nhưng nó thấy lạnh, nhất là về ban đêm. Những đem giá rét, đàn ngựa đứng dồn sát vào nhau thành một cụm ở chỗ khuất gió, và cứ đứng như thế, toàn thân phủ đầy sương giá, cho đến lúc mặt trời mọc. Ông chủ cũng ở đấy, ngồi trên lưng ngựa, yên vị một chỗ, đập những bao tay vào nhau, xoa mặt. Đôi khi ông biến đi đâu mất, rồi lại xuất hiện. Tốt nhất là ông đừng vắng mặt. Khi ông kêu lên một tiếng hoặc xuýt xoa vì lạnh, đàn ngựa cất đầu lên, dỏng tai nghe, nhưng biết chắc là ông chủ ở bên cạnh, chúng lại thiu thiu ngủ trong tiếng rì rào và tiếng rít của gió đêm. Từ mùa đông ấy, Gunxarư ghi nhớ suốt đời tiếng nói của Tanabai.
Có một đêm, bão tuyết nổi lên trong núi. Tuyết xuống tơi tả, đâm buốt như có gai, chui vào trong bờm, bám nặng chịch ở đuôi, bết vào mắt. Bầy ngựa nhớn nhác. Chúng áp sát vào nhau, run rẩy. Những con ngựa cái già thờ phì phì một cách lo lắng, dồn đám ngựa con vào giữa bầy. Gunxarư bị dồn ra phía ngoài rìa, không sao len vào trong được. Nó bèn đá hậu, chen đẩy những con khác, rút cuộc nó tách hẳng khỏi đàn và bị con ngựa đực đầu đàn trị cho một vố nên thân. Con đầu đàn từ lâu vẫn chạy vòng quanh, cày tuyết lên bằng những cẳng chân rắn chắc, dồn cả bầy cụm vào với nhau. Đôi khi nó lao bổ về một phía, đầu cúi thấp, tai chụm lại đầy vẻ hăm doạ, nó biến mất trong bóng tối, chỉ nghe thấy tiếng nó phì phì, rồi nó lại chạy tới chỗ bầy ngựa, hung hăng dữ tợn. Thấy Gunxarư tách khỏi bầy, nó xông tới và xô ngực vào Gunxarư, rồi xoay mình phóng hai chân sau, đá một cú trời giáng vào sườn chú ngựa non. Cú đá đau đến nỗi Gunxarư gần như tắt thở. Trong nội tạng nó có cái gì ùng ục, nó rít lên, chịu đựng cú đá và phải gắng lắm mới đứng vững được. Nó không dám tuỳ tiện nữa. Nó đứng im thin thít ở rìa đàn ngựa, nép sát vào những con khác, mạng sườn đau ê ẩm và oán giận con ngựa đầu đàn hung dữ. Đàn ngựa đã bớt nhốn nháo, liền đó nó nghe thấy tiếng chó sói rú và cảm thấy mọi bộ phận trong cơ thể nó phút chốc đều ngừng hoạt động và lạnh cứng lại. Đàn ngựa giật mình, chăm chú lắng nghe, tập trung hết sức lực. Tất cả đều im ắng. Nhưng đấy là cái yên lặng ghê rợn. Tuyết vẫn rơi, loạt soạt dính vào cái mõm hếch cao của Gunxarư. Ông chủ đâu? Lúc này rất cần có ông, giá như được nghe tiếng nói của ông, ngửi mùi khói ám vào tấm áo da lông của ông. Vậy mà ông không có đây. Gunxarư liếc mắt nhìn sang phía bên và sợ đến ngây ra. Ở mé bên dường như thấp thoáng một bóng đen bò sát xuống tuyết trong bóng tối. Gunxarư đột ngột lùi lại, cả bầy lập tức xô giạt đi, ào ào bỏ chạy. Bầy ngựa phát điên phát rồ, la hí cuồng dại, xô chạy ào ào trong bóng tối mù mịt như khối tuyết lở. Không sức mạnh nào có thể ngăn được chúng nữa. Cả bầy ra sức lồng về phía trước, lôi cuốn lẫn nhau như đá núi lở từ trên dốc cao đổ xuống. Chẳng hiểu gì, Gunxarư hăm hở phóng như điên như cuồng. Bỗng nhiên một phát súng nổ vang, rồi phát nữa vang ầm. Đàn ngựa đang chạy nghe thấy tiết quát dữ tợn của ông chủ. Tiếng quát đâu như ở một chỗ nào phía bên, và vang lên không ngớt, tiến lên chặn đầu chúng, rồi luôn luôn ở phía trước. Bây giờ đàn ngựa đã gặp tiếngnói không ngừng lặng ấy, nó dẫn dắt chúng. Ông chủ đã ở đây với chúng. Ông phi ngựa ở phía trước, lúc nào cũng có nguy cơ sa xuống một cái khe hay cái vực. Ông gào không còn khoẻ như trước nữa, rồi giọng ông bắt đầu khàn, nhưng ông vẫn lên tiếng: “kai-ơ, kai-ơ, kai-tơ-a-ai-tơ!”. Đàn ngựa chạy theo ông để thoát khỏi sự khủng khiếp đang truy đuổi chúng.

Vania 24-06-2010 23:19

gửi cô Сирена ! {" _ " }
 







Vania 24-06-2010 23:21

gửi cô Сирена ! {" _ " }
 







Siren 25-06-2010 21:50

Cảm ơn Vania nhé, lâu không gặp cháu, hôm nào sinh nhật 3N lại ngồi cạnh cô Siren nhé, cô sẽ cuốn cái nem thật xinh cho cháu ăn cho dễ nhé? Dạo này cuốn nem có lên tay không hay vẫn như "cái chăn bông"?:emoticon-0136-giggl

Siren 25-06-2010 21:55

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Tảng sáng, Tanabai đã đưa được đàn ngựa về chỗ cũ. Mãi đến lúc ấy chúng mới dừng lại. Hơn ẩm bốc lên như sương mù dầy đặc phía trên đàn ngựa, chúng thở một cách khó nhọc, mạng sườn phập phồng, và vẫn còn run vì cơn sở vừa qua. Chúng hớp tuyết bằng những cặp môi nóng hổi. Tanabai cũng ăn tuyết. Ông ngồi xổm, tọng từng vốc tuyết trắng lạnh buốt vào miệng. Rồi đột nhiên, dường như ông lặng người đi, úp mặt vào hai bàn tay. Tuyết vẫn rơi như trút, tan ra trên những tấm lưng ngựa nóng hổi và chảy uống thành giọt màu vàng đục lờ…
Tuyết dày đã tan hết, đất lộ trần ra, bắt đầu xanh cỏ, Gunxarư nhanh chóng béo tốt trở lại. Đàn ngựa thay lớp lông mới mượt mà bóng nhẫy. Tưởng chừng như chưa từng có mùa đông và những ngày đói ăn. Ngựa không nhớ chuyện ấy, nhưng con người thì vẫn nhớ. Con người vẫn nhớ cái giá buốt, nhớ những đêm có chó sói, nhớ những lúc mình cóng đờ ra trên yên ngựa, lúc cắn chặt môi để khỏi bật khóc ngay khi sưởi đôi tay và đôi chân tê cứng bên đống lửa, nhớ lớp băng mỏng đầu mùa xuân đóng cứng trên mặt đất như một lớp chì, nhớ những con ngựa yếu trong bầy đã chết hồi ấy, nhớ lần mình xuống núi và đến văn phòng, mắt không ngước nhìn lên, ký biên bản về việc một số ngựa đã chết, rồi bỗng nổi nóng, gào lên và đấm tay xuống bàn ông chủ tịch:
- Anh đừng nhìn tôi như thế! Tôi không phải là tên phát xít! Làm gì có chuồng trại cho ngựa, lấy đâu ra thức ăn chăn nuôi, lấy đâu ra kiều mạch, lấy đâu ra muối? Chỉ có gió, sống bằng gió! Đời thuở đâu có cái lối làm ăn như thế kia chứ? Hãy xem chúng tôi mặc rách rưởi như thế nào? Hãy đến xem những nhà lều của chúng tôi, hãy xem chúng tôi sống như thế nào! Bánh mì ăn cũng không đủ no! Ngay ở mặt trận cũng còn hơn gấp trăm lần. Vậy mà anh còn nhìn tôi như thể tôi đã tự tay bóp chết những con ngựa đó!
Tanabai vẫn nhớ sự yên lặng đáng sợ của ông chủ tịch, gương mặt trở nên xám ngắt của ông ấy. Ông nhớ ông đã xấu hổ về lời lẽ của mình và liền xin lỗi.
- Thôi anh ạ, anh thứ lỗi cho tôi, tôi quá nóng nảy. – Tanabai ấp úng cố thốt lên.
- Chính anh phải tha thứ cho tôi thì có. – Tsôrô nói.
Tanabai càng hổ thẹn hơn khi ông chủ tịch gọi chị giữ kho hỏi và ra lệnh:
- Cấp cho ông ấy năm kilô bột.
- Thế còn các nhà trẻ thì sao?
- Nhà trẻ nào? Chị thì lúc nào cũng lầm lẫn lung tung cả lên! Cấp phát đi! – Tsôrô ra lệnh một cách gay gắt.
Tanabai toan từ chối phắt, bảo rằng sắp có sữa ngựa rồi, như vậy là sẽ có kumưx(1), nhưng nhìn ông chủ tịch và đoán ra sự nói dối chua xót của ông, Tanabai gén lòng lặng thinh. Sau đó, mỗi lần bị bỏng vì ăn mì làm bằng thứ bột đó, Tanabai quẳng thìa xuống.
- Thế là thế nào, bà định nấu chín tôi chắc?
- Thì để nguội bớt đi rồi hãy ăn, ông có phải là con nít đâu. – Bà vợ điềm nhiên trả lời.
Ông nhớ hết, nhớ hết…
Nhưng bấy giờ đã là tháng năm. Những con ngựa đực la hí inh ỏi, đánh nhau một cọi một để tranh cướp những con ngựa cái trẻ của các bầy khác. Những người căn ngựa chạy long tóc gáy, xua đuổi những con đang đánh nhau, quát mắng lẫn nhau, đôi khi còn choảng nhau, vung roi vụt bừa. Gunxarư không bận tâm gì đến tất cả những chuyện ấy. Mặt trời chiếu sáng giữa hai cơn mưa, cỏ đâm lên dưới móng. Những đồng cỏ xanh rờn, tuyết trắng ngời long lanh trên những đỉnh núi. Mùa xuân năm ấy, con ngựa sắc vàng có nước đi dị dạng bước vào thời thanh xuân tuyệt vời của mình. Nó không còn là chú ngựa con cộc đuôi, lông xù nữa, mà đã thành một chàng ngựa đực lực lưỡng, vóc dáng cân đối. Nó dài người ra, thân hình nó mất những đường nét mềm mại, và đã có dạng tam giác: ngực rộng, mông hẹp. Đầu nó bây giờ cũng là đầu của con ngựa có nước đi dị dạng thực sự: khô đét, sống mũi gồ, hai mắt cách xa nhau, môi chúm lại và mềm mại. Nhưng Gunxarư cũng chẳng bận tâm gì đến những cái đó. Hiện thời nó chỉ có một niềm ham mê duy nhất – ham chạy – điều này đem lại cho ông chủ khá nhiều chuyện rầy rà. Nó lôi cuốn các bạn cùng tuổi chạy theo, lao vút đi như một ngôi sao chổi màu vàng. Một sức mạnh nào không rõ, không bao giờ cạn, không hề biết mệt mỏi thôi thúc nó chạy lên núi, xuống núi, chạy dọc bờ sông lởm chởm đá, chạy trên các đường mòn dốc đứng, qua các cánh rừng và các lũng sâu. Ngay cả đêm khuya, khi đã thiếp ngủ dưới bầu trời sao, nó vẫn mơ thấy đất trược đi dưới chân, gió rít trong bờm và trong tai, nó vẫn tưởng như nghe thấy tiếng vó nện lộp cộp, vang dội.
Đối với ông chủ, nó cũng chỉ coi ông như tất cả những gì không liên can đến nó. Không thể nói là nó yêu ông chủ, nhưng nó cũng không thù ghét gì ông, bởi vì ông không hề o ép nó, vẫn để nó sống thoải mái. Chỉ trừ những lần mấy chú ngựa chạy đi quá xa ông đuổi theo và quát mắng. Đôi khi ông chủ dùng ukruc(Cây gậy dài ở đầu có thòng lọng dùng để bắt ngựa) quật được vào mông chú ngựa vàng một cái. Khi ấy toàn thân Gunxarư run lên, nhưng ấy là vì bất ngờ nhiều hơn là vị đánh, và nó càng phóng nhanh hơn. Nó càng chạy khoẻ trở lại với bầy thì ông chủ càng thích thú, ông vẫn phi ngựa theo sau nó, cây ukruc chĩa về phía trước. Gunxarư nghe thấy tiếng reo hò khích lệ của ông chủ ở phía sau, nghe thấy ông cất tiếng hát trên yên ngựa, những lúc ấy nó yêu mến ông chủ, nó thích chạy theo tiếng hát của ông. Rồi sau này nói hiểu rõ tiếng hát ấy có lúc vui, lúc buồn, lúc dài lúc ngắn khác nhau, có lời hoặc không lời. Nó còn thích những lúc chủ cho cả bầy ăn muối. Ông chủ đặt những cục muối cho ngựa liếm vào những máng gỗ dài kê trên các hàng cọc. Cả bầy đổ xô tới, quả là một lạc thú. Gunxarư bị tóm cổ chính trong một lần ăn muối.

Siren 25-06-2010 22:15

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Lần ấy, ông chủ gõ cái thùng rỗng, gọi đàn ngựa: “Pô, pô, pô!”. Đàn ngựa chạy tới, chúi vào những máng ăn. Gunxarư đứng giữa những con khác, liếm muối, không hề lo ngại gì khi ông chủ cùng với người phụ việc cầm những cây ukruc đi xung quanh đàn ngựa. Chuyện ấy không can gì đến nó. Người ta dùng ukruc bắt ngựa cưỡi, ngựa cái vắt sữa chứ không bắt nó. Nó được tự do. Bỗng nhiên cái thòng lọng bằng lông trượt trên đầu nó và tròng vào cổ. Gunxarư không hiểu có chuyện gì, cho đến giờ nó chưa hề sợ cái thòng lọng, nó vẫn tiếp tục liếm muối. Những con ngựa khác thường lồng chạy, chồm ngược lên khi người ta tròng ukruc vào chúng, nhưng Gunxarư vẫn không nhúc nhích. Thế rồi nó bỗng muốn chạy ra sông uống nước. Nó rời khỏi đàn. Cái thòng lọng trên cổ thít vào và giữ nó lại. Đấy là điều xưa nay chưa từng có. Gunxarư lùi lại, thở khò khè, trợn trừng hai mắt, chồm ngược lên. Trong nháy mắt đàn ngựa chạy tản đi hết, nó còn trơ lại một mình với những người giữ nó bằng dây thòng lọng. Ông chủ đứng ở phía trước, sau lưng ông là người chăn ngựa thứ hai, ngoài ra còn một lũ trẻ con trai cũng đứng ở đấy. Bọn trẻ này đến đây trước đó một lúc và đã làm Gunxarư chán ngấy vì chúng cứ chạy nhảy hoài xung quanh đàn ngựa.

Gunxarư khiếp sợ. Nó chồm ngược lên lần nữa, rồi lần nữa, lần nữa, mặt trời nhảy nhót trong mắt, lan ra thành những vòng tròn nóng rực; núi non, đất, người ngã lật ngửa ra; một khoảng trống rỗng đen ngòm đáng kinh hoàng che mờ mắt nó trong khoảnh khắc, nó dùng hai chân trước đạp liên hồi vào khoảng trống đó.

Nhưng nó càng lồng lộn, cái thòng lọng thít càng chặt hơn, và nghẹt thở. Gunxarư không chạy trốn người nữa, mà chồm về phía người. Người chạy dạt về một phía, cái thòng lọng lỏng ra một lát, và thuận đà nó lôi cả mấy người lê lết trên mặt đất. Đàn bà la hét, xua bọn trẻ về lều. Nhưng hai người chăn ngựa đã đứng được lên, cái thòng lọng lại thắt lấy cổ Gunxarư. Lần này thít chặt đến không thở được nữa. Gunxarư dừng lại, kiệt lực vì choáng váng và ngạt thở.

Hay tay thu cuốn dần sợi dây, ông chủ tiến lại gần nó từ phía bên. Gunxarư nhìn thấy ông bằng một mắt. Ông chủ quần áo rách bươm, mặt đầy vết xây sát. Nhưng mắt ông nhìn nó không có gì là dữ tợn. Ông thở hồng hộc, hập bập cặp môi dập, nói khẽ, gần như thì thầm:

- Bập, bập, đừng sợ, Gunxarư, dừng lại, dừng lại!

Người giúp việc theo sau ông, thận trọng đến gần, vẫn không nới bớt sợi thòng lọng. Cuối cùng ông chủ với tay chạm vào Gunxarư xoa đầu nó và nói gọn lỏn với người giúp việc, không quay lại:

- Dây cương.

Người kia đưa dây cương.

- Đứng yên, Gunxarư, đứng yên, ngoan nào – Ông chủ nói. Ông dùng bàn tay che kín hai mắt con vật, quàng dây cương vào đầu nó.

Bây giờ phải đóng hàm thiếc và thắng yên. Khi dây cương đã choàng lên đầu, Gunxarư bắt đầu thở khò khè, toan lồng lên chạy trốn. Nhưng ông chủ đã kịp thời ôm lấy môi trên của nó.

- Dây xoắn! – Ông lớn tiếng bảo người giúp việc, và người này chạy tới, nhanh chóng lồng vào môi con ngửa vòng dây da có xỏ cái que và quay cái que xoắn sợi dây thít chặt lấy môi nó.

Đau quá, Gunxarư khuỵu hai chân sau xuống và không cưỡng lại nữa. Cái hàm thiếc lạnh lẽo va vào răng lanh canh và tụt vào tận mép. Người ta quẳng cái gì lên lưng nó, xiết chặt lại, giằng mạnh mấy cái kéo những sợi dây da thít lấy ngực nó đến nỗi nó loạng choạng từ phía này sang phía kia. Nhưng điều đó chẳng đáng kể gì nữa. Chỉ còn cảm giác đau không thể tưởng tượng nổi ở môi, lấn át hết mọi cảm giác khác. Mắt trồi lên trán. Không động đậy được, cũng không thở được. Thậm chí nó không biết ông chủ đã ngồi lên lưng nó lúc nào, nó chỉ hoàn hồn khi người ta đã tháo sợ dây xoắn khỏi môi nó.
Nó đứng một vài phút, không hiểu gì, toàn thân co rúm lại và trở nên nặng chịch, rồi nó ghé mắt nhìn qua vai và bỗng thấy một người ngồi trên lưng nó. Sợ quá,nó lồng lên chạy trốn, nhưng cái hàm thiếc gò mồm nó đau như xé, hai chân người cưỡi kẹp chặt lấy sườn nó. Nó chồm ngược lên, cất tiếng hí điên cuồng phẫn uất, lồng lộn, đá hậu, ráng hết sức hất khỏi mình tất cả những gì đè ép nó, nhảy đại về một phía, nhưng vòng thòng lọng không buông tha nó; một người nữa, cũng cưỡi ngựa, giữ đầu kia của sợi dây luồn qua dưới chân bàn đạp. Thế là nó chạy vòng tròn, chạy để chờ cái vòng tròn vỡ tung ra, khi ấy nó sẽ cắm đầu chạy thục mạng, miễn là thoát khỏi nơi này. Nhưng cái vòng tròn không vỡ ra, và nó vẫn cứ chạy vòng quanh, chạy miết. Chính đó là điều người ta cần. Ông chủ dùng roi quất nó và thúc bằng gót ủng. Tuy thế, con ngựa cũng đã hai lần hất được ông ra khỏi mình. Nhưng ông ta lại đứng dậy và nhảy lên yên.

Cứ như thế hồi lâu, rất lâu. Đầu óc nó choáng váng, mặt đất quay cuồng xung quanh nó, những nhà lều quay cuồng, những con ngựa tản mát ở đằng xa cũng quay tít, núi non quay cuồng, mây trên trời quay cuồng. Rồi nó mệt và bắt đầu đi bước một. Nó khát quá.

Nhưng người ta không cho nó uống nước. Buổi tối, người ta để nó đứng ở chỗ cọc buộc ngựa, vẫn không tháo yên, chỉ nới lỏng đai bụng. Dây cương được quấn chặt vào mỏm yên, thành thử đầu lúc nào cũng cất thẳng và như vậy thì không thể nằm xuống đất được. Bàn đạp được vắt lên và cũng mắc vào mỏm yên. Nó đứng như thế suốt đêm. Nó đứng im thít, thất đảm vì tất cả những gì không thể tưởng tượng nổi mà nó đã trải qua. Cái hàm thiếc trong mịêng vẫn làm nó khổ sở, chỉ hơi động một chút cũng đau chết điếng đi được, vị sắt tanh tanh đến là khó chịu. Hai mép sưng phồng, đứt kẽ. Những chỗ bị dây da cọ xước dưới sườn đau rát lên. Lưng cồm cộm, đau nhừ dưới tấm dạ lót yên. Khát ghê gớm. Nó nghe thấy tiếng nước sông ồn ào, và cơn khát càng dày vò hơn. Ở bên kia sông, những đàn ngựa vẫn được chăn thả như thường lệ. Có tiếng lộp cộp của vô số móng ngựa, tiếng ngựa hí và tiếng hò hét của những người chăn ngựa ban đêm. Người ta ngồi bên những đống lửa gần lều, nghỉ ngơi. Bọn trẻ con trai sủa lên gâu gâu, chòng ghẹo chó. Còn Gunxarư vẫn đứng một chỗ, chẳng ai buồn để ý đến nó.

Siren 25-06-2010 22:16

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Rồi trăng lên. Núi nhẹ nhàng nhô ra từ trong bóng tối và nghiêng ngả nhịp nhàng dưới ánh trăng vàng rượi. Sao trời mỗi lúc một rực sáng hơn, mỗi lúc một xuống gần mặt đất hơn. Gunxarư vẫn đứng yên, bị cột chặt vào một chỗ. Có ai đang tìm nó. Nó nghe thấy tiếng hí của con ngựa cái nhỏ nhắn màu hồng. Nó với con ngựa cái này đã cùng nhau lớn lên và là đôi bạn không lúc nào rời nhau. Con ngựa cái có một đốm sao trắng trên trán. Nó thích chạy chơi cùng với Gunxarư. Những con ngựa đực đã bắt đầu săn đuổi nó, nhưng nó không chịu, cùng với Gunxarư chạy xa lũ ngựa kia. Nó còn non dại quá, và Gunxarư cũng chưa đến cái tuổi để làm cái việc mà những con ngựa đực khác toan làm với con ngựa cái non.

Đấy, con ngựa cái đã cất tiếng hú quanh quất đâu đây, gần lắm. Đúng, chính là con ngựa ấy, Gunxarư nhận ra đích là tiếng nó. Gunxarư muốn đáp lại, nhưng không dám há cái mõm đầy thương tích, sưng phồng. Há mõm ra đau kinh khủng. Cuối cùng con ngựa cái đã tìm ra Gunxarư. Nó nhẹ nhàng đi bước một lại gần, đốm sao trắng trên trán lấp lánh dưới ánh trăng. Đuôi và chân nó ướt đẫm. Nó đã vượt qua sông, đem theo mùi nước sông lành lạnh. Nó thúc mõm vào Gunxarư, bắt đầu ngửi hít, ve vuốt bạn bằng cặp môi ấm áp mềm mại. Nó phì phì mấy tiếng âu yếm, gọi bạn đi với mình. Nhưng Gunxarư không thể nhích khỏi chỗ. Rồi con ngựa cái đặt đầu lên cổ Gunxarư và dùng răng chải bờm cho bạn. Kể ra Gunxarư cũng phải đặt đầu lên cổ cô bạn gái và chải bờm cho bạn. Nhưng nó không thể đáp lại sự âu yếm của bạn. Nó không sao nhúc nhích được. Nó khát. Ước gì bạn có thể cho nó uống nước! Khi con ngựa cái chạy đi, Gunxarư nhìn theo cho đến lúc bóng bạn tan biến trong bóng tối chạng vạng ở bờ bên kia. Con ngựa cái ấy đã đến và đi rồi. Gunxarư ứa nước mắt. Nước mắt chảy từng giọt lớn trên mặt nó và rơi xuống cạnh chân, không một tiếng động. Lần đầu tiên trong đời, Gunxarư khóc.

Sáng tinh mơ, ông chủ tới. Ông đưa mắt nhìn những dẫy núi mà xuân xung quanh, rồi vươn vai, vừa mỉm cười rên lên vì ê ẩm trong xương.

- Ôi, Gunxarư, hôm qua mày quần tao mệt lử. Sao thế? Cóng rét à? Gớm, nom mày tọp hẳn đi.
Ông vỗ nhẹ vào cổ ngựa và nói với nó cầu gì hiền hậu, giễu cợt. Làm sao Gunxarư biết được con người nói gì? Tanabai nói thế này:

- Này, đừng giận, bạn nhé. Mày không thể cứ chơi nhông mãi. Rồi sẽ quen thôi, sẽ vào nền nếp cả thôi. Mày vừa bị một phen khổ sở, nhưng không thế không được. Chú em ạ, cuộc sống là thế, nó sẽ đóng móng cả bốn chân mày. Nhưng sau đó mày sẽ không phải van nài mỗi hòn đá gặp trên đường. Mày đói, hả? Khát nữa phải không? Tao biết…

Ông dắt con ngựa ra sông, tháo cương cho nó, thận trọng lấy hàm thiếc ra khỏi cái mõm bị thương. Gunxarư run rẩy vục đầu xuống nước, mắt nhức buốt vì nước lạnh. Chao ôi, nước ngon quá chừng và nó vô cùng hàm ơn con người đã cho nó uống nước!

Thế rồi chẳng bao lâu sau, nó đã quen với yên cương đến mức hầu như không cảm thấy vướng víu gì hết. Người cưỡi trên lưng nó vẫn thấy thoải mái, và còn cảm thấy vui sướng là khác. Người cưỡi bao giờ cũng ghìm nó lại, còn nó cứ băng về phía trước, dọi vó rành rọt trên các nẻo đường, làm nổi lên tiếng lộp cộp vang giòn của nước đi dị dạng. Nó đã học được cách mang yên trên mình mà phi vừa nhanh vừa đều đễn nỗi người ta phải kêu lên ngạc nhiên.

- Đặt lên lưng nó một thùng đầy nước cũng không sóng ra ngoài lấy một giọt!

Còn Torgôi, ông lão chăn ngựa trước kia, nói với Tanabai:

- Cảm ơn, anh luyện nó thành công lắm. Bây giờ anh sẽ thấy ngôi sao bản mệnh của con ngựa này mọc lên rực rỡ như thế nào!

Vania 26-06-2010 00:02

Trích:

Siren viết (Bài viết 60803)
Cảm ơn Vania nhé, lâu không gặp cháu, hôm nào sinh nhật 3N lại ngồi cạnh cô Siren nhé, cô sẽ cuốn cái nem thật xinh cho cháu ăn cho dễ nhé? Dạo này cuốn nem có lên tay không hay vẫn như "cái chăn bông"?:emoticon-0136-giggl

:emoticon-0102-bigsm Dạ, hồi í thì là "cái chăn bông", còn bi giờ cháu hem pít còn có thể cuốn được nem không nữa, các ngón tay của cháu chai mất rồi cô ạ !! Các tác phẩm của Aitmatov tuy lúc nào cũng phảng phất những nỗi buồn, theo cảm nhận của riêng cháu, đó là cái buồn vô hạn trong tâm hồn những con người sống giữa thảo nguyên rộng lớn, heo hút. Từ nỗi buồn đó đã sản sinh ra một cộng đồng văn hóa rất khác biệt :emoticon-0136-giggl...

Siren 27-06-2010 08:26

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
3.
CHIẾC XE NGỰA CŨ KỸ CHẬM CHẠP LĂN BÁNH cọt kẹt trên đường cái hoang vắng. Chốc chốc tiếng cọt kẹt ngừng bặt. Con ngựa kiệt sức dừng lại. Khi đó, trong bầu không khí trở nên im lìm, nó nghe thấy tiếng tim đập âm vang trong tai: thình-thịch, thình-thịch, thình-thịch…
Ông già Tanabai chờ cho con ngựa lấy lại hơi, rồi lại nắm lấy dây cương:
- Tiến lên, Gunxarư, tiến lên, tới rồi đấy.
Người và ngựa cứ lê đi như thế khoảng một tiếng rưỡi, cho đến khi con ngựa dừng hẳn lại. Nó không thể kéo xe đi tiếp được nữa. Tanabai lại quính lên, chạy xung quanh con ngựa:
- Ơ kìa, Gunxarư, sao thế hả? Chết nỗi, tối đêm đến nơi rồi đây này!
Nhưng con ngựa không hiểu ông. Nó đứng đấy trong bộ đồ thắng xe, lắc lư cái đầu đã trở nên quá nặng đối với nó và loạng choạng từ phía này sang phía kia. Trong tai vẫn vang lên tiếng tim đập chát chúa: thùm-thụp, thùm-thụp, thùm-thụp.
- Thôi, mày thứ lỗi cho tao nhé – Tanabai thốt lên – Đáng lẽ tao phải đoán ra ngay mới đúng. Quẳng mẹ nó cái xe này đi, vứt quách bộ đồ ngựa này đi, chỉ cốt sao đưa được mày về đến nhà là quí rồi.
Ông quẳng chiếc áo da lông xuống đất và hối hả tháo ngựa ra khỏi xe. Ông đưa con ngựa ra khỏi càng xe, tháo vòng cổ qua đầu nó và quẳng tất cả bộ đồ ngựa lên xe.
- Thế là xong. – Ông nói, mặc áo choàng và nhìn con ngựa đã được tháo ra khỏi xe. Không có vòng cổ, dây thắng, đầu to quá khổ, lúc này con ngựa đứng giữa thảo nguyên chiều hôm lạnh lẽo, nom như một bóng ma. – Trời ơi, mày biến thành cái gì thế này, Gunxarư – Tanabai thì thầm – Giá như Torgôi trông thấy mày vào lúc này, ông già ở trong mồ hẳn sẽ trở mình quay mặt đi…
Ông cầm dây cương dắt con ngựa đi, người và ngựa lại chậm chạp lê bước trên đường. Con ngựa già và một ông già. Đằng sau là chiếc xe ngựa bị bỏ lại, còn ở đàng trước, phía tây, bóng tối màu tím thẫm đã bao phủ mặt đường. Đêm tràn lan trên thảo nguyên không một tiếng động, chùm lấp núi non, xoá nhoà chân trời.
Tanabai vừa đi vừa nhớ lại tất cả những gì gắn liền với Gunxarư trong nhiều năm dài và mỉm cười chua xót nghĩ về con người “Tất cả chúng ta đều thế cả. Lúc gần chót đời, khi ốm nặng hay sắp chết, ta mới nhớ đến nhau. Lúc ấy đột nhiên ta mới hiểu rõ ý nghĩa của sự mất mát: con người ấy trước đây là người thế nào, có gì nổi tiếng, người ấy đã làm được những việc gì. Vậy thì còn nói gì đến con vật không biết nói? Gunxarư đã mang trên lưng nó bao nhiêu người! Còn ai chưa từng cưỡi nó! Vậy mà khi nó già, mọi người đều quên nó. Giờ đây nó chày chật mới lê đi được một bước. Vậy mà trước kia nó là một con ngựa lừng tiếng!...”.
Ông lại nhớ đến những kỷ niệm xưa và ngạc nhiên về việc đã lâu mình không hồi tưởng lại dĩ vãng. Mọi chuyện xưa sống lại trong trí ông. Thì ra chẳng có cái gì không để lại dấu vết. Trước kia, chẳng qua là ông ít nghĩ đến dĩ vãng, hay nói cho đúng hơn, ông không cho phép mình nghĩ đến, nhưng bây giờ, sau cuộc nói chuyện với con trai và con dâu, trong lúc lê bước trên đường cái giữa đêm hôm, cầm cương dắt con ngựa sắp thở hơi cuối cùng, ông đau đớn buồn rầu nhìn lại những năm đã sống, và tất cả những năm ấy hiện lên sống động trước mắt ông.
Ông cứ đi như thế, chìm đắm trong những ý nghĩ của mình, còn con ngựa vẫn lê bước theo sau, mỗi lúc một kéo căng sợi dây cương. Khi tay ông già đã tê dại, ông chuyển dây cương sang vai kia và lại kéo con ngựa đi theo. Rồi ông bắt đầu nhọc và ông để cho ngựa nghỉ. Ông nghĩ ngợi một lát và tháo cương khỏi đầu ngựa. Ông nói:
- Mày đi trước đi, tuỳ theo sức mày, tao sẽ đi theo sau, tao không bỏ rơi mày đâu. Nào, đi đi, đi thong thả thôi.
Bây giờ con ngựa đi trước, còn Tanabai đi sau, bộ dây cương vắt trên vai. Không bao giờ ông vứt bỏ bộ dây cương. Mỗi khi Gunxarư dừng lại, Tanabai chờ cho nó lấy lại sức, rồi người và ngựa lại lê bước trên đường. Con ngựa già và một ông già.
Tanabai mỉm cười buồn rầu, nhớ lại hồi xưa Gunxarư đã từng tung vó chính trên con đường này và bụi cuốn bốc theo nó như một cái đuôi. Những người chăn cừu nói rằng nhìn đám bụi ấy, cách xa nhiều dặm đường họ đã nhận ra nước phi của con ngựa. Bụi bốc lên dưới vó nó một vệt trắng di động trên thảo nguyên và lúc lặng gió, bụi lơ lửng trên đường như vệt khói của máy bay phản lực. Lúc đó, người chăn cừu đưa tay lên che mắt để nhìn cho rõ và tự nhủ: “Chính là nó rồi, đích là Gunxarư!”, và ghen tị nghĩ tới con người hạnh phúc đang cưỡi con ngựa đó phóng như bay, mặt rát lên trong gió nóng. Thật là vinh dự lớn lao cho người Kirghizơ nào được cưỡi con ngựa có nước đi dị dạng trứ danh ấy.
Gunxarư đã qua tay bao nhiêu ông chủ tịch nông trang. Trong số đó có cả những người thông minh và những kẻ độc đoán, những người lương thiện và những kẻ bất lương, nhưng tất cả bọn họ, không trừ một ai, đều dùng Gunxarư làm ngựa cưỡi từ ngày đầu cho đến ngày cuối cùng còn giữ quyền chủ tịch. “Bây giờ họ ở đâu? Có lúc nào họ nghĩ đến Gunxarư, con ngựa đã mang họ trên lưng từ sáng đến tối không?” – Tanabai nghĩ.

Siren 27-06-2010 08:27

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
Cuối cùng, ông già và con ngựa đến được cái cầu qua khe và dừng lại ở đây.
Con ngựa khuỵu chân toan nằm xuống đất, nhưng Tanabai không thể để như thế được: rồi sau không sức mạnh nào lôi nó đứng lên được nữa.
- Đứng lên! Đứng lên! – Ông quát và dùng dây cương quất vào đầu con ngựa. Rồi tự giận mình đã đánh nó, ông tiếp tục quát tháo – Thế nào, mày không hiểu à? Mày định trút hơi thở cuối cùng chăng? Tao không để mày làm như vậy đâu! Tao không cho phép. Đứng lên, đứng lên, đứng lên! – Ông túm bờm nó kéo lên.
Gunxarư đứng thẳng chân lên một cách khó nhọc, rên lên một cách khổ sở. Mặc dù trời tối, Tanabai không dám nhìn vào mắt con ngựa. Ông vuốt ve, sờ nắn con vật, áp tai vào sườn trái nó. Trong lồng ngực con ngựa, tim đập lục cục, tắc nghẹn như cái bánh xe cối xay nước trong đám rong rêu. Ông cứ cúi gập mình đứng cạnh con ngựa như thế hồi lâu, cho đến khi vùng thắt lưng đau mỏi nhừ. Rồi ông duỗi thẳng người, lắc đầu, thở dài và quyết định có lẽ đành liều một phen: đến bên kia cầu thì rời khỏi đường cái, rẽ vào con đường mòn chạy dọc theo khe. Con đường mòn ấy chạy vào núi, đi đường này có thể về nhà nhanh hơn. Kể ra ban đêm cũng dễ lạc đường lắm, nhưng Tanabai tin ở mình, ông biết rõ vùng này, miễn là con ngựa chịu đựng được.
Trong lúc ông già suy nghĩ về việc đó, ở đằng xa rực lên ánh đèn pha của chiếc ô tô đi chùng chiều. Ánh đèn đột ngột nhô ra từ trong bóng tối như hai quả cầu sáng chói và nhanh chóng lại gàn, thăm dò con đường phía trước bằng hai tia dài đưa đi đưa lại. Tanabai cùng với con ngựa đứng cạnh cầu. Chiếc ôtô không thể giúp được gì cho ông cùng con vật, nhưng ông vẫn chờ đợi nó. Ông chờ đợi thế thôi, không có chủ định gì cả. “Rút cuộc cũng gặp được một chiếc xe”. – ông nghĩ, hài lòng vì có người xuất hiện trên đường. Đèn pha của chiếc cam nhông phóng vào mắt ông một bó ánh sáng cực mạnh, khiến ông phải đưa tay lên che mắt.
Hai người ngồi trong buồng lái ngạc nhiên nhìn ông già đứng gần cầu và bên cạnh ông già là con ngựa gầy nhom không yên cương, như thể đấy không phải là con ngựa, mà là một con chó bám theo người. Luồng ánh sáng dọi thẳng vào ông già và con ngựa, chói rực đến nỗi người và ngựa phút chốc bỗng biến thành hai cái bóng trắng không có hình thù rõ rệt.
- Lạ thật, đêm hôm khuya khoắt ông ta đứng đây làm gì nhỉ? – Gã trai cao kều đội mũ có dải che tai, ngồi cạnh lái xe, hỏi.
- Đấy là người có chiếc xe ngựa bỏ lại ở đằng kia đấy mà. – Người lái xe giải thích và cho xe dừng lại. – Cụ ơi, cụ làm sao thế? Người lái xe thò đầu ra khỏi buồng lái, lớn tiếng hỏi. – Có phải cụ bỏ lại chiếc xe trên đường đấy không?
- Phải, chính tôi. – Tanabai đáp.
- Tôi nói không sai. Chúng tôi thấy chiếc briska vứt chỏng chơ trên đường. Xung quanh chẳng có ai. Chúng tôi toan lượm bộ đồ thắng ngựa, nhưng nó nát quá rồi.
Tanabai im lặng.
Người lái xe ra khỏi xe, đi mấy bước, phả lên người ông già mùi vốtka nồng nặc, rồi đi tiểu xuống đường.
- Có chuyện gì xảy ra thế? – Anh ta quay lại, hỏi.
- Con ngựa không kéo nổi xe nữa, nó ốm, vả lại nó cũng già rồi.
- Hừm. Nhưng cụ về đâu bây giờ?
- Về nhà. Ở khe Xarưgôuxk.
- Chi-ú – Người lái xe huýt lên một tiếng – Vào núi à? Tôi không đi đường ấy. Nhưng thôi được, cụ cứ leo lên thùng xe đi, tôi sẽ đưa cụ đến nông trường quốc doanh, rồi sáng mai cụ sẽ đi bộ về nhà.
- Cám ơn. Tôi ở đây với con ngựa.
- Cái con ngựa thổ tả này ấy à? Vứt quách nó đi cho chó ăn, đẩy nó xuống khe kia là xong, quạ sẽ rỉa xác nó. Nếu cụ muốn, chúng tôi sẽ giúp một tay.
- Anh cứ đi đi.- Tanabai nói khẽ, giọng ảo não.
- Thôi tuỳ cụ. – Gã lái xe cười khẩy, đóng sập cửa xe lại và nói với người ngồi trong buồng lái. – Lão già đâm ra lẩn thẩn rồi!
Chiếc xe chuyển bánh, đem theo luồng ánh sáng đùng đục. Cây cầu rít lên một cách nặng nhọc trên cái khe nhuốm thứ ánh sáng đỏ đậm của những cây đèn báo hiệu.
- Sao lại chế nhạo người ta, nếu cậu lâm vào cảnh ngộ như vậy thì sao? – Gã trai đội mũ có dải che tai, ngồi cạnh người lái đáp lại khi xe đã sang qua cầu.
- Vớ vẩn… - Gã lái xe vừa ngáp vừa xoay tay lái – Tớ đã qua chán vạn cầu rồi. Tớ nói thế là đúng quá đi chứ. Gớm, làm quái gì con nghẽo thổ tả ấy! Tàn dư của quá khứ. Bây giờ kỹ thuật làm chủ, anh bạn ạ. Ở đâu cũng cần đến kỹ thuật. Cả trong chiến tranh. Những ông già và những con ngựa như thế đã hết thời rồi.
- Cậu thật là tàn bạo! – Gã trai nói.
- Tớ cóc cần gì hết. – Gã lái xe đáp.
Khi chiếc ô tô đã khuất hẳn, bóng đêm lại vây kín xung quanh, Tanabai giục con ngựa:
- Nào, đi đi, hùy…huỳ! Đi đi nào!
Sang qua cầu, ông lùa con ngựa rời khỏi đường cái, đi vào con đường mòn. Bây giờ ông già và con ngựa tiến bước chậm chạp trên con đường mòn rất khó nhận rõ trong bóng tối bên bờ khe. Trăng mới nhú lên sau núi. Ngàn sao đợi trăng lên, nhấp nháy ánh sáng lạnh lẽo trên bầu trời lạnh lẽo.

Siren 27-06-2010 21:59

VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
 
4.
VÀO CÁI NĂM GUNXARƯ ĐÃ ĐƯỢC TẬP LUYỆN MỘT CÁCH THUẦN THỤC,
các bầy ngựa rời khỏi bãi chăn thả mùa thu muộn hơn thường lệ. Mùa thu năm ấy dài khác thường, còn mùa đông lại dễ chịu, tuyết xuống thường xuyên, nhưng không đọng lâu, có đủ thức ăn chăn nuôi. Mùa xuân, các đàn ngựa lại xuống vùng giáp chân núi rồi khi thảo nguyên bắt đầu nở hoa thì xuống đồng bằng.
Sau chiến tranh, có lẽ đấy là quãng đời tốt đẹp nhất của Tanabai. Con ngựa xám của tuổi già đã chờ đợi ông, tuy vẫn còn ở bên kia đèo, nhưng cũng không xa lắm, còn hiện thời Tanabai vẫn cưỡi con ngựa sắc vàng nhạt có nước đi dị dạng. Nếu như mấy năm sau, con ngựa này mới vào tay ông thì chưa chắc ông đã cảm thấy phấn chấn hùng dũng như thế khi cưỡi trên lưng Gunxarư! Đúng thế, đôi khi Tanabai cũng thích vây vo trước mọi người. Có thể nào lại không vênh vang hãnh diện khi ngồi trên lưng con ngựa có nước đi dị dạng đang tung vó! Gunxarư biết rõ điều đó. Đặc biệt khi Tanabai cưỡi ngựa về bản, đi qua các cánh đồng, và trên đường ông gặp cánh chị em kéo nhau đi làm. Còn cách họ một quãng xa, ông đã dướn thẳng trên yên, toàn thân nhún nhẩy như cái lò xo, và sự kích động của ông truyền sang con ngựa. Gunxarư cất đuôi lên gần ngang lưng, bờm vi rút lớp lớp tung bay trước gió. Chốc chốc nó lại thở phì phí, chạy vòng vèo, mang ông chủ trên lưng một cách thoải mái. Chị em choàng khăn trắng và khăn đỏ giạt sang hai bên, đứng trong lúa xanh tươi ngập đến đầu gối. Đấy kìa, họ dừng cả lại như bị phù chú, nhất loạt quay lại, thấp thoáng những khuôn mặt, những cặp mắt ngời sáng, những nụ cười, những hàng răng trắng bóng.
- Ơ này, anh chăn ngựa! Dừng lạ-ại!
Tiếng cười và những lời cuối cùng bay đuổi theo:
- Coi chừng, sa vào tay chúng tôi thì biết đời, chúng tôi sẽ tóm được cho mà xem!
Đôi khi họ tóm được thật, họ chắn ngang đường, túm lấy tay. Lúc ấy thật là nhộn! Phụ nữ vốn thích đú đởn. Họ lôi Tanabai từ trên yên xuống, họ cười rộ, la ré, giằng lấy cây roi khỏi tay:
- Thú thật đi, bao giờ anh mang kumưx đến cho chúng tôi?
- Chúng tôi làm lụng trên đồng ruộng từ sáng đến tối, còn anh cưỡi ngựa rong chơi!
- Ai cầm giữ các chị nào? Hãy đi chăn ngựa đi. Nhưng nhớ bào chồng tìm lấy vợ khác. Các chị sẽ chết cóng trong núi như cột băng.
- A, ra thế kia đấy! – Và họ lại bắt đầu trêu chòng ông.
Chưa bao giờ Tanabai cho một người nào cưỡi lên lưng Gunxarư. Ngay cả người đàn bà mà khi gặp nàng tâm trạng ông lập tức thay đổi hẳn và ông bắt Gunxarư đi bước một, ngay cả người đó cũng chưa được cưỡi lên con ngựa của ông lần nào. Nhưng cũng có thể là người ấy không muốn điều đó.
Năm ấy, Tanabai được bầu vào ban kiểm tra. Ông thường cưỡi ngựa về bản và hầu như lần nào cũng gặp người đàn bà ấy. Rời khỏi ban quản trị, ông thường tức giận. Nhìn mắt ông, nghe giọng nói, cử động tay của ông, Gunxarư cảm thấy điều đó. Nhưng khi gặp người đàn bà ấy, Tanabai bao giờ cũng trở nên hiền hậu.
- Này, này, chầm chậm chứ, đi đâu mà vội thế! Ông thì thầm, như bảo con ngựa lúc nào cũng hăm hở và đi ngang qua chỗ người đàn bà, ông cho ngựa đi bước một.
Hai người khe khẽ nói chuyện gì với nhau, có khi chỉ im lặng. Gunxarư cảm thấy ông chủ trút bỏ được tất cả những gì đè nặng trong lòng ông, giọng nói của ông trở nên đầm ấm, tay ông trở nên dịu dàng hơn. Vì thế, nó thích ông chủ gặp người đàn bà đó trên đường.
Con ngựa làm sao biết được rằng đời sống trong nông trang rất gay go, ngày công hầu như chẳng có gì và uỷ viên ban kiểm tra Tanabai Bakaxốp đang tìm hiểu tỉ mỉ ở ban quản trị để giải đáp những câu hỏi: vì đâu nên nông nỗi này và đến bao giờ rút cuộc mới gây dựng được một cuộc sống mà nông trang vừa có cái đóng góp cho nhà nước, vừa không để mọi người phải làm lụng không công?
Năm ngoái thì mất mùa, không có thức ăn gia súc, năm nay thì giao nộp thóc và gia súc vượt kế hoạch bù đắp cho các nông trang khác, để huyện khỏi mất mặt, nhưng rồi đây sẽ ra sao, nông trang viên có thể trông cậy vào cái gì thì chưa biết. Thời gian qua đi, người ta đã bắt đầu quên chiến tranh, nhưng đời sống vẫn như trước, người ta vẫn sống bằng những gì bòn được ở vườn rau và thủ được ở đồng ruộng. Nông trang cũng không có tiền: tất cả đều giao nộp hết – thóc lúa, sữa, thịt; nông trang đàn chịu thiệt thòi. Mùa hè, chăn nuôi phát triển, rồi đến mùa đông thì tiêu tan hết, gia súc chết đói và chết rét. Cần khẩn cấp làm chuồng cừu, chuồng bò, kho chứa thức ăn gia súc, nhưng không đào đâu ra vật liệu xây dựng và chẳng ai hứa cung cấp cho. Còn nhà ở đã biến thành cái gì qua thời chiến tranh? Những người dựng nhà dựng cửa toàn là những người chạy chợ buôn gia súc và khoai tây. Những kẻ như thế lại có thế lực, họ xoay được vật liệu xây dựng ở ngoài.
- Không, không thể như thế được, các đồng chí ạ, có cái gì lệch lạc, có cái gì vướng mắc lớn trong đời sống của chúng ta. – Tanabai nói. – Tôi không tin rằng tình thế phải như vậy. Hoặc là chúng ta đã mất thói quen làm việc, hoặc các đồng chí lãnh đạo chúng tôi không đúng đắn.
- Lệch lạc cái gì nào? Cái gì là cái không đúng? – Nhân viên kế toán gí giấy tờ vào mũi ông – Anh xem các kế hoạch đây này… Đây là những gì chúng ta thu được, đây là những gì đã giao nộp, đây là sổ thu chi, đây là kinh phí, đây là số dư. Không có thu nhập, toàn thiếu hụt. Anh còn muốn gì nữa? Phải tìm hiểu cho kĩ đi đã rồi hãy nói. Chỉ mình anh là người cộng sản, còn chúng tôi là kẻ thù của nhân dân cả phải không?

Những người khác xen vào câu chuyện, thế là bắt đầu tranh cãi om sòm. Tanabai ngồi, hay tay ôm đầu, thất vọng nghĩ về tình hình đang diễn ra, không hiểu sao. Ông đau lòng về nông trang không phải chỉ vì ông làm việc trong nông trang, mà còn có những lí do đặc biệt khác. Có những kẻ từ lâu vẫn thù Tanabai. Ông biết; bây giờ họ thầm chế nhạo ông, và, khi gặp ông, họ nhìn vào mặt ông, tỏ thái độ khiêu khích: thế nào, tình hình ra sao? Hay lại bắt đầu đi tước đoạt tài sản lần nữa? Có điều, bây giờ chúng tớ chẳng còn gì cho mà lấy. Lên xe chỗ nào, xuống ngay chỗ ấy. Chao ôi, chỉ tiếc sao nhà ngươi không bỏ xác luôn ở mặt trận có phải rảnh nợ cho thiên hạ không!...


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 21:03.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.