Trở về   Nước Nga trong tôi > Dành cho các bạn > Các chủ đề khác

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 06-07-2010, 18:06
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Sau ba tháng ngắn ngủi học, luyện tập một số điều cơ bản của một người lính; chú được phân công về một đơn vị làm công tác thông tin ở Trường Sơn. Đơn vị chú làm nhiệm vụ bảo vệ đường dây thông tin trên tuyến Đường 15, đoạn từ thị trấn Cổn đến nông trường cao su Lệ Ninh của huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Trên tuyến đường này, không ngày nào ngớt tiếng bom nổ. Hai bên Đường 15, chi chít những hố bom sâu hoắm. Nhân dân ở hai bên Đường 15 phải sơ tán vào sâu trong rừng Trường Sơn, hoặc bỏ đi nơi khác; chỉ còn lại bộ đội và thanh niên xung phong bám trụ ở đây. Họ đào hầm vào trong vách núi, làm các công sự kiên cố ven bìa rừng; hoặc tận dụng hang đá vôi ở gần đường để tránh những trận bom đánh phá của máy bay Mỹ; đồng thời cũng là nơi để ăn nghỉ, sinh hoạt hàng ngày. Không kể ngày hay đêm; máy bay Mỹ ngừng ném bom lúc nào là tất cả các đơn vị đều có mặt trên mặt đường. Thanh niên xung phong san lấp những hố bom để thông đường cho xe đi. Lính công binh tìm cách tháo gỡ nhưng quả bom hẹn giờ hoặc những quả bom, vì một lý do nào đó chưa nổ. Lính thông tin nối lại những đường dây điện thoại đã bị đứt.
Khi màn đêm xuống. Thay cho những tiếng bom nổ chát chúa, là tiếng ầm ì của đủ các loại động cơ. Từ các cánh rừng già ven đường, những ánh đèn gầm màu đỏ quạch của xe Zil, xe Giải Phóng chở bộ đội, vũ khí, lương thực, thực phẩm, xăng dầu, tên lửa; xe tăng, xe xích kéo pháo; lầm lũi nối đuôi nhau đổ ra đường. Chiếc vào Nam, chiếc ra Bắc; hối hả như đàn kiến tha mồi. Tiếng chào, tiếng hỏi thăm, tiếng cười, tiếng hát; giọng miền Bắc, miền Trung, miền Nam; hòa quyện với nhau. Những người bạn thân, những người cùng đơn vị vận tải, những người đồng hương quê ở các tỉnh ngoài Bắc; bất ngờ gặp nhau giữa tuyến lửa Quảng Bình; họ trao cho nhau những món quà hoặc những đồ vật rất đơn sơ như cái bút, quyển sổ, chiếc khăn, san sẻ cho nhau một chút thực phẩm đồ hộp hoặc lương khô. Một không khí chứa chan tình người, tình đồng đội chỉ có nơi đấy.
Chú Biên cũng như bao chiến sỹ của Đoàn thông tin Trường Sơn, có nhiệm vụ đảm bảo đường dây thông tin thông suốt. Sự khốc liệt của chiến tranh lúc bấy giờ, khó có lời nào, từ nào diễn tả hết được. Nhưng trong một ngày, thường có hai khoảnh khắc bình yên: lúc bình minh và lúc chiều tà. Đó cũng là những quãng thời gian quý giá đối với người lính thông tin, có thể làm một số việc cho cá nhân: giặt quần áo, tắm rửa, nấu ăn ...
Lúc bấy giờ, ở chiến trường, thực phẩm rất khan hiếm. Phần lớn là mắm ruốc*, đồ hộp và lương khô, nhưng rồi đồ hộp cũng hết, nhiều ngày sau mới có xe tiếp tế. Là người có kinh nghiệm nhận biết chỗ nào có tôm cá, nên chú nhận ra ngay: chính trong các hố bom sâu đầy nước ấy; tôm, cá, cua từ các đầm phá, sông ngòi vào sinh sống rất nhiều. Có những con quả xộp mà người dân Quảng Bình gọi là cá tràu, nặng tới hàng kilô.
Tìm đến những xác ô tô đã bị bom đốt cháy, hoặc bị lật nhào xuống vực; gỡ lấy lò xo trong pha đèn. Loại thép lò xo của xe Zil vừa cứng, vừa dẻo; dũa thành những chiếc lưỡi câu quả; dùng dây dù làm dây câu. Chú làm khoảng mười dây cần câu cắm, mỗi cần không quá một mét. Bắt nhái đất làm mồi, móc dưới lớp da lưng. Mắc như vậy con nhái vẫn sống, có thể bơi được suốt đêm trong nước. Cắm cần câu quanh các hố bom vào lúc nhậm nhoạng tối, sao cho con nhái bơi lập lờ trên mặt nước.
Kết quả không ngoài dự đoán. Có những buổi sáng: sáu bảy con quả dính câu; từ hai lạng đến nửa cân. Tiểu đội của chú thường xuyên có cá, không chỉ để cải thiện mà còn là thức ăn chính trong những bữa cơm đạm bạc ở chiến trường. Hôm nào bắt được con quả to, chú làm “quà tặng” cho chị em của đại đội thanh niên xung phong. Chị em coi như là món quà đặc biệt và tối hôm đó, nhất nhất: tiểu đội chú phải có một vài đại diện tham dự vào bữa cháo cá quả, do chính tay của những người chị, người em nấu.

-------
*Mắm ruốc: loại mắm làm từ con ruốc (tép biển).
__________________
Ласковый Май

Thay đổi nội dung bởi: Siren, 07-07-2010 thời gian gửi bài 07:11
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #2  
Cũ 07-07-2010, 17:21
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng

Sự thân thiết và gắn bó giữa thanh niên xung phong với bộ đội thông tin, phần nào có công đóng góp của chú. Quần áo của các chiến sỹ trong tiểu đội chú bị rách hay bị cháy do bom đạn, đều được chuyển đến cho chị em khâu vá. Những buổi giao lưu giữa một bên là bộ đội thông tin: đa phần là nam; một bên thanh niên xung phong: đa phần là nữ. Tất cả đều ở tuổi mười tám đôi mươi, chưa có gia đình; nên cuộc giao lưu nào cũng diễn ra sôi nổi, hào hứng. Ai cũng cảm thấy thời gian trôi nhanh vùn vụt.
Một hang đá vôi khá rộng rãi, trần cao tới năm sáu mét, nhấp nhô nhũ đá trong như ngà; được chọn làm nơi cho các buổi giao lưu, đủ chỗ cho cả vài trăm người. Vách đá lồi lõm làm khuyếch đại âm thanh, một tiếng động nhỏ cũng thành to. Tiếng hát càng vang, càng bay cao, bay xa, như hát trước micrô có dàn ampli và bộ phận tiếng vọng. Mặc cho bom rơi, đạn nổ; tiếng hát, tiếng cười vẫn vang lên giữa rừng cao su bạt ngàn của Trường Sơn; làm giảm bớt sự vất vả, sự nhớ nhà và cả sự đau thương, mất mát do chiến tranh gây ra. Thời đó, quả đúng là: “Tiếng hát át tiếng bom”.
Công việc vất vả, nguy hiểm đến dồn dập làm chú và đồng đội quên cả ngày tháng. Hai năm tưởng như chỉ trong khoảnh khắc. Những địa danh: Đại Phong, Bến Tiến, sông Danh, Quảng Phú, Rào Nam, Cự Nẫm, Cảnh Dương, Xuân Bồ trong bài hát “Quảng Bình quê ta ơi” nổi tiếng của nhạc sỹ Hoàng Vân; bến phà Long Đại, Xuân Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng, Đường 20, đèo Ngang, đèo Đá Đẽo, đèo Lý Hòa, bãi Đá Nhảy, dòng Kiến Giang, Bảo Ninh, Quán Hàu, Ngư Thuỷ đã đi vào lịch sử trong cuộc chiến tranh chống Mỹ; những nơi ấy chú cũng đã đến. Những cái tên kiểu diễm: Lệ Thủy, Cẩm Ly, Nhật Lệ chỉ có ở Quảng Bình, mà nhiều nghệ sỹ thành danh lấy đặt cho mình. Tất cả đã trở nên quen thuộc đối với chú.
Rồi tiểu đội thông tin của chú được lệnh chuyển sâu vào trong rừng rậm Trường Sơn, chuẩn bị đường dây thông tin cho Bộ chỉ huy của một chiến dịch lớn: Đường 9 Nam Lào. Buổi chia tay với đại đội thanh niên xung phong ở khu vực nông trường cao su Lệ Ninh thật là cảm động. Mọi người giành nhiều thời gian dốc bầu tâm sự về quê hương, gia đình; về những kỷ niệm của những ngày đã qua và những lời hẹn hò gặp lại sau chiến tranh. Chỉ có những giọt nước mắt, tiếng khóc thút thít của chị em thay cho tiếng hát, tiếng cười như mọi khi.
Khúc eo nhất của miền Trung là đây. Từ Lệ Ninh rẽ về hướng tây chỉ khoảng bốn năm mươi cây số là đến khu vực đại ngàn Trường Sơn, giáp biên với nuớc bạn Lào. Đi miết, vượt qua những rừng cây cao su trồng thành hàng thẳng tắp; sau lọt vào một thung lũng rộng mênh mông, xung quang bao bọc bởi những khối núi đá vôi cao sừng sững. Dưới chân núi là những hang, những động caxtơ; vừa cao, vừa dài và vừa rộng; là nơi trú quân, cất dấu vũ khí rất an toàn.

Chú được phân công cùng hai chiến sỹ nữa đi khảo sát thực địa cho việc rải đường dây thông tin đến các vị trí đã được đánh dấu trên bản đồ. Rừng già nguyên sinh ở đây chưa bị bom đạn cũng như con người tàn phá, vẫn còn nguyên vẻ hoang sơ ban đầu của nó. Những cây gỗ mun, lát hoa, cẩm lai to vòng tay người lớn ôm không xuể. Một cây lim, đổ xuống bên bờ suối dài tới hai ba mươi mét; vỏ rác bên ngoài đã bị mục nát, còn trơ cái lõi đen sì, đường kính đến gần hai mét. Có lẽ bị đổ trong một cơn giông lớn cách đó nhiều năm. Hai chiến sỹ cứ xuýt xoa tiếc hoài về sự giàu có, có phần phung phí của thiên nhiên ở đây. Nhưng ở trong giữa đại ngàn Trường Sơn, vả lại đang thời buổi chiến tranh, gỗ lim chứ núi vàng ở đó cũng chịu.
Chưa hết những cảnh hoang sơ của một vùng còn ít người qua lại. Đang rẽ những đám cỏ tranh giữa thung lũng, tìm đường tiếp cận đến vị trí đã định trên vách núi; cả nhóm giật mình: Một đàn gà, chừng trên chục con, trông rất giống gà nhà, nhưng nhỏ hơn. Lũ gà trống mào đỏ chót, bộ lông đuôi dài uốn cong màu đỏ, đen, trắng pha trộn. Lũ gà mái lông vàng nhạt điểm những hoa văn màu đen ở vùng gần cổ, giống như gà mái hoa mơ ở vùng đồng bằng. Thấy có người, như một mệnh lệnh được ban ra; cả đàn đồng loạt cất cánh vụt lên không trung. Chúng bay là là, cách mặt đất năm sáu mét; rồi sà xuống, cách chỗ chú đứng hai ba trăm mét. Cả đàn lủi nhanh, biến mất tăm trong bãi cỏ tranh rậm rạp trước sự ngơ ngác của các chú.
Hai chiến sỹ trẻ tranh cãi nhau: Người thì bảo gà nuôi của người dân tộc, người thì cho là gà rừng. Mặc dù chưa một lần mục sở thị, nhưng lúc bé, có đôi lần một ai đó trong làng đã từng đến các vùng núi của các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, trông thấy loại gà này về kể lại. Do đó, chú chắc đây là đàn gà rừng, chứ không phải gà nhà.
Điều lệnh quân đội không cho phép dùng súng chiến đấu đi săn. Với lại đang lúc làm nhiệm vụ, hoạt động trong một vùng được coi là tuyệt mật, nên chú và hai chiến sỹ chỉ giữ lại một sự luyến tiếc về đàn gà rừng, lần đầu tiên trong đời trông thấy chúng.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #3  
Cũ 07-07-2010, 17:24
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng

Chảy men theo vách đá vôi là một con suối nước trong vắt, uốn khúc vòng vèo như một con trăn khổng lồ. Đoạn thì mất hút vào chân núi đá, đoạn thì phơi mình trên thung lũng, hai bên là bờ cát vàng phẳng lặng. Chỗ thì thắt lại, chiều rộng chỉ còn bốn năm mét; chỗ phìng ra tới cả chục mét. Và có cả một doi cát nhỏ ở giữa. Lội qua một đoạn, chỗ nước ngập đến đầu gối, chỗ nước ngập đầu người. Rồi chú cũng rút ra được quy luật của dòng chảy: Đoạn nước chảy xiết lại là đoạn nông nhất. Ở đấy, có thể nhìn thấy tận đáy những hòn đá cuội to, nhỏ, đen, trắng, vàng, nâu đủ mầu; xếp chen chúc nhau, như cố tình ngăn dòng nước lại. Những đoạn nước chảy lững lờ, thường rất sâu. Muốn lội qua phải dò từng bước; bước hụt, bị chìm nghỉm như chơi. Những đoạn suối ăn sâu vào trong vách núi thường tạo ra cả một vùng nước rộng, chỉ thấy một màu xanh thăm thẳm.
Sức mạnh kỳ diệu của thiên nhiên đã tạo ra những vách đá vôi, như có bàn tay của con người sắp đặt những viên đá thành tầng tầng, lớp lớp; dựng đứng cao tới vài ba trăm mét. Chơi với giữa vách đá vôi lộ ra những vòm hang sâu thẳm, đủ sức chứa cho cả trăm người; nhưng chỉ có các loài biết bay như chim, dơi hoặc lũ vượn, khỉ có tài leo trèo mới có thể tiếp cận được. Vươn lên bầu trời xanh thẳm, nhấp nhô những chỏm núi đá tai mèo với đủ mọi hình dạng: hình người mẹ bồng con, hình kim tự tháp v.v., thả sức cho trí tưởng tượng của con người.
Cái nắng, cái gió ở dải đất miền Trung, từ xứ Nghệ trở vào, nhất là những vùng giáp Lào thật nghiệt ngã. Mới chỉ tháng tư tháng năm; trời đã bắt đầu oi bức, nhiệt độ ngoài trời thường ba chín bốn mươi độ.
Câu hò “Chang chang cồn cát nắng trưa Quảng Bình” mới chỉ khắc họa một phần cảnh nắng nóng ở vùng cát trắng ven biển, chưa thấm gì với cái nắng, cái gió ở sườn đông của dãy Trường Sơn. Ngoài cái nắng như thiêu như đốt, rừng Trường Sơn nơi đây còn phải gánh chịu một thứ gió nữa: “Gió Lào”.
Mùa gió Lào bắt đầu từ tháng tư. Gió được hình thành từ vịnh Thái Lan, mang theo những đám mây đầy hơi nước, theo hướng đông bắc, bay vào lục địa. Bị chặn lại ở dãy Trường Sơn Tây, trút hết những hạt nước mát mẻ xuống nước bạn Lào. Tràn sang Trường Sơn Đông trên đất Việt Nam; chẳng còn gì mang theo, ngoài hơi nóng bốc lên từ đất và đá do bị ánh nắng Mặt Trời mùa hè thiêu đốt.
Gió nóng thổi từng cơn ào ào như giông bão, làm táp lá những bụi cỏ lau, cỏ tranh; làm kiệt quệ sức sống của mọi sinh vật. Mới tám chín giờ sáng mà nhiệt độ ở ngoài trời đã lên đến ba chín bốn mươi độ. Không khí vào giữa trưa càng trở nên ngột ngạt và nóng bỏng hơn.
Để tránh cái nắng hầm hập và gió nóng ở rừng Trường Sơn, các chú phải dậy đi khảo sát thực địa từ sớm tinh mơ. Buổi trưa, tìm một nơi mát mẻ để tránh nắng và tránh gió.
Từ xa, chú phát hiện ra một cây cổ thụ, cành lá xum xuê, xanh mướt ở bên bờ suối. Đến nơi, chú nhận ra: cây sung -loài cây quen thuộc thường được trồng ở bên bờ ao của vùng quê chú. Gốc cây xù xì, ba bốn người ôm không xuể. Cành ngả rạp xuống một vực nước sâu, tán rộng đến bốn năm chục mét vuông. Có lẽ vùng này có nhiều cây sung, nên trên bản đồ địa hình 1:50.000 có đánh dấu một bản, tên là xóm Cây Sung.
Mắc võng trên cành của cây sung cổ thụ, lấy lương khô ra ăn, ngắm cảnh thiên nhiên hoang dã ở một thung lũng kín gió, thật dễ chịu. Vòm lá sung rậm rạp và xanh mướt, chắn hết mọi tia nắng nóng bỏng của Mặt Trời. Những vách đá vôi cao sừng sững chắn những luồng gió khô và nóng từ đất Lào thổi sang. Dòng nước xanh mướt chảy từ trong hang đá vôi, tỏa hơi nước mát lạnh vào bầu không khí, chẳng khác nào một chiếc máy “điều hòa” khổng lồ đặt giữa rừng Trường Sơn. Rồi nữa, sự có mặt của bọn chú ở đây cũng không làm lũ chim sâu, lũ chim trào mào trên vòm cao của cây sung sợ hãi. Chúng vẫn mải miết cãi vã, tranh giành nhau những quả sung chín mọng, nghe thật vui tai. Thỉnh thoảng, một vài quả sung rơi bộp xuống mặt nước, làm kích động đến sự háu ăn của lũ cá chày. Chúng nhao lên mặt nước và cũng tranh giành nhau chẳng kém gì lũ trào mào và chim sâu.
Bứt một vài quả sung chín ăn thử: có vị ngọt nhạt, giống như những quả sung ở vùng quê chú. Quả xanh cũng có vị chan chát, thái mỏng làm đồ nhắm hoặc muối dưa, ăn giòn chẳng kém gì cà pháo.
Bắt chiếc lũ chim trào mào, các chú bứt những quả sung chín ném xuống nước. Từng đàn cá chày, to cỡ bắp tay nhao lên, ngoặm cả quả rồi biến mất trong làn nước suối trong vắt. Chú bảo với hai chiến sỹ:
- Suối này nhiều cá tôm đây. Phải tìm cách cải thiện cho anh em thôi!
Trở về hang đóng quân, báo cáo tình hình khảo sát thực địa với tiểu đội trưởng, chú bàn luôn phương án cải thiện bữa cơm cho anh em. Vì một lẽ, từ hôm chuyển quân vào đây, đơn vị chưa được tiếp tế thực phẩm. Mấy bữa liền, chỉ có rau rừng và măng tươi luộc chấm với mắm ruốc. Đã có hai chiến sỹ trong tiểu đội bị sốt rét, nằm liệt trên võng. Lẽ dĩ nhiên, chú tiểu đội trưởng ủng hộ và còn cử thêm hai chiến sỹ giúp chú nữa.
Chú vào rừng, chặt một cây nứa bánh tẻ, cỡ cổ chân, làm ba cái rọ bắt tôm. Buổi tối, chú cùng hai chiến sỹ mang theo đèn pin, rọ bắt tôm, dao phát rừng và cả cái xoong quân dụng to tướng ra bờ suối. Hai chiến sỹ đi cùng là người Hà Nội. Những việc như thế đối với họ là lạ lẫm, có phần vừa thích thú, vừa tò mò nữa. Cầm chiếc đèn pin ba cục rọi xuống suối, chú chỉ cho hai chiến sỹ những con tôm, con cua, cá bống hoa ẩn mình trong các khe đá, giữa những hòn đá cuội. Một chiến sỹ vừa trông thấy một con tôm, giơ tay chộp ngay, nhưng con tôm đã biến đi chỗ nào mất tăm.
Chú giảng giải cho hai chiến sỹ:
- Không dễ bắt như thế đâu. Muốn bắt được tôm phải nhanh tay, nhanh mắt, chộp nó từ phía đuôi. Cái giống tôm thường chạy trốn kẻ thù bằng cách co cái thân nhiều đốt, dùng tấm phiến đuôi như bánh lái thuyền, đẩy nước, bật mạnh, giật lùi về phía sau. Nhưng tốt nhất và hiệu quả nhất là một tay cầm rọ chắn ở phía đuôi, tay kia lật hòn đá hoặc đánh động ở phía đầu con tôm.
Nói xong, chú làm động tác mẫu cho hai chiến sỹ xem; chỉ một loáng, chú đã tóm gọn hai con tôm vào trong rọ.
Chú phân công hai chiến sỹ đi cùng nhau: người rọi đèn, người bắt. Chú không cần rọ, một tay soi đèn, một tay bắt. Chỉ trên đoạn suối khoảng hai mươi mét, chú tóm được cả chục con: nào tôm, nào cua và cả một con bống hoa cỡ đầu ngón tay.
Hai chiến sỹ kia loay hoay mãi mới tóm được một chú tôm càng chậm chạp. Nhưng công việc rồi cũng quen dần. Số tôm, cua, cá bắt được mỗi lúc một nhiều. Thấy việc bắt tôm của hai chiến sỹ kia tốt rồi, chú dặn họ cứ bắt ở đoạn suối này đợi chú.
Cầm đèn pin và con dao quắm, chú ngược lên phía thượng nguồn con suối để tìm cá ngủ. Chú đoán: suối này sâu, nhiều tôm, cua, cá; chắc có cá to?
Chỉ cách đoạn hai chiến sỹ đang bắt tôm hai trăm mét, chú đã phát hiện ra một con quả, cỡ bắp tay, đang ẩn mình trong một hốc đá; một con chép to hơn bàn tay người lớn, đang nép mình sát bụi cỏ.
Hồi ở quê, đêm nào chú cũng đi soi cá ngủ và bắt ếch nhái. Với cái đèn pin đội trên đầu, chiếc lao tự chế; một đêm chú cũng kiếm được vài ba kilô, lẫn lộn cá, ếch, chão chuộc. Hôm nào gặp may, tóm được cả rắn hổ mang, bán khối tiền.
Tục ngữ có câu: “Tôm nhập nhoạng, cá rạng đông”. Đúng là khi trời sắp tối, đa phần các loài cá nước ngọt đi tìm một chỗ nào kín đáo để ngủ cho ngon giấc; tảng sáng hôm sau mới dậy đi kiếm ăn. Còn loài giáp xác như tôm, cua; chập choạng tối mới mò đi kiếm ăn. Cho nên, đánh bắt tôm nên đi vào lúc nhập nhoạng tối, đánh bắt cá nên đi vào lúc sáng tinh mơ. Lũ ếch nhái thì ngược lại. Ban ngày núp trong hang sâu, hoặc ẩn mình trong các bụi cỏ rậm, đợi trời tối mới mò đi kiếm ăn, tìm kiếm côn trùng, sâu bọ và đi tìm bạn tình. Lũ sâu bọ cũng có tập tính: ẩn mình trong các lớp đất xốp dưới gốc rau, bụi cỏ; tránh sự săn lùng của lũ chim sâu; đêm đến mới bò lên, uống nước từ các giọt sương và tìm những búp rau non để thưởng thức sau một ngày dài phải nhịn đói.
Đó là quy luật tồn tại của muôn loài trong tự nhiên.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #4  
Cũ 07-07-2010, 17:27
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyễn Hữu Hùng

Chú có một cây lao chuyên để đâm cá và bắt rắn vào ban đêm. Tự tay chú chế tạo ra cây lao này. Cây lao làm bằng đoạn gốc của cây trúc rừng. Loại trúc chỉ có ở vùng núi đá của tỉnh Cao Bằng: vừa dài, vừa thẳng và rất cứng. Người ta buôn về để bán cho các xưởng thủ công làm bàn ghế và đồ mỹ nghệ.
Chú lấy một đoạn dài khoảng hai mét, đầu gốc gắn với một chạc đôi bằng sắt; cho mục đích bắt rắn; đầu ngọn gắn với chùm 5 chiếc đinh, đầu cắt ngạnh, chuyên dùng để đâm cá. Trước ngày nhập ngũ, chú buộc cẩn thận cây lao cùng với chiếc cần câu, rồi bỏ lên gác bếp. Chú hy vọng chiến tranh sớm kết thúc, trở về quê; chú sẽ tiếp tục kiếm sống bằng cái nghề mà chú yêu thích.
Đấy là chuyện đâm cá ở quê. Còn ở đây, trong tay chú chỉ có con dao quắm. Chú đành phải bỏ con quả, lừa chém con chép. Trở lại chỗ hai chiến sỹ đang bắt tôm, mang con chép nặng gần hai kilô; bị chú chém bể cả đầu, máu tươi chảy ròng ròng, làm hai chiến sỹ hết sức kinh ngạc. Họ xuýt xoa, không hết lời ca ngợi. Chú bảo:
- Đây là cái nghề kiếm cơm của tớ ở nhà mà, các cậu khen tớ thì khen cả đời. Nếu có cây lao, đêm nay còn kiếm được nhiều cá nữa.
Khoảng gần hai giờ đồng hồ, chú cùng hai chiến sỹ đã kiếm được trên một kilô tôm, năm con bống hoa, một con chép to và hai mười con cua đá, to cỡ ba ngón tay.
Tìm được nguồn thực phẩm tươi sống giữa núi rừng Trường Sơn vào thời điểm này là vô cùng quý giá. Chiến lợi phẩm đầu tiên ở nơi mới chuyển đến làm nức lòng các chiến sỹ. Do vậy, cả tiểu đội rôm rả bàn chuyện nấu một nồi súp cá-cua để thưởng thức ngay trong đêm. Không đợi được phân công, mỗi người một chân một tay: người bổ củi, người nhóm bếp, người lấy nước, người vo gạo, người làm cá ... Cá chép được luộc cùng với cua, bóc lấy thịt, xào lẫn nước mắm, thêm vào dăm quả ớt chỉ thiên rừng. Đầu cá, xương và càng cua được giã ra, lọc lấy nước. Chuẩn bị xong các thứ, hòa vào nồi cháo hoa. Nồi súp cháo cá-cua thơm lừng có vị ngọt tự nhiên của động vật hoang dã, làm mọi người chảy nước miếng. Hai chiến sỹ đang bị sốt cũng gượng dậy, ăn hết cháo đựng trong bát B.52 (loại bát ăn cơm của Trung Quốc làm bằng sắt tráng men). Ngồi xung quanh đống lửa bập bùng giữa đại ngàn Trường Sơn, cả tiểu đội xì xụp húp cháo, chuyện trò râm ran tới tận khuya.
Có thức ăn tươi, bữa cơm ngày hôm sau, ai ăn cũng cảm thấy ngon miệng, nồi cơm cứ vơi đi ào ào. Hai chiến sỹ đang bị sốt, được bồi bổ bát cháo cá tối hôm trước, sáng hôm sau đã khỏe hơn, dậy ăn được vài lưng cơm.
Được cả tiểu đội tin cậy và hy vọng vào tài xoay sở thực phẩm của chú; những ngày tiếp theo, sau giờ làm việc vất vả ngoài thực địa, chú tiếp tục tìm kiếm thức ăn tươi sống cho đơn vị. Với những kinh nghiệm tích lũy được trong suốt thời niên thiếu; chú lấy những chiếc kim băng, uốn thành lưỡi câu rô, câu trê đủ loại. Mồi là giun đất, châu chấu rừng, tép suối, sung chín là những thứ mà bọn cá rô, cá trình, cá thiểu, cá chày đều thích ăn. Tranh thủ những lúc sáng sớm, lúc chiều tà và cả buổi nghỉ trưa; các chiến sỹ đua nhau theo chú đi câu cá. Nhiều chiến sỹ câu được những con cá trình nặng tới nửa kilô. Cá câu được nhiều, thả vào xoong quân dụng ăn dần. Đơn vị chú ngày nào cũng có cá, tôm, cua cải thiện trong bữa ăn. Các chiến sỹ hứng khởi, làm việc quên cả mệt nhọc.
Có một chuyện mà chú chưa từng gặp trong đời làm nghề câu cá. Đấy là một lần, chú ngồi câu cá thiểu dưới gốc cây sung cổ thụ. Một con cá thiểu cắn câu. Chú chưa kịp giật thì một con quả xộp, đen chũi, lừng lững to như bắp đùi người lớn, lao ra, quật mạnh đuôi, đánh “ùm” một cái, ngoặn con thiểu đang mắc câu và lôi luôn cả dây câu, cần câu vào hang dưới gốc sung. Nước tung tóe lên tận mặt chú, chẳng khác nào có người vác hòn đá to ném xuống nước.
Đúng là cá ở nơi hoang dã, chưa có con người săn bắt, hơn nữa có thể nó là “Đại vương” ở đoạn suối này nên mới táo tợn như vậy. “Con quả này cũng phải đến ba kilô. Phải có cách bắt nó”. Chú thầm nghĩ.
Về hang, chú sửa một dây câu. Sẵn có dụng cụ và lò xo thép kiếm được từ những chiếc ôtô hồi ở tuyến ngoài, gần thị trấn Cổn; chú dũa một lưỡi câu đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ nó không chỉ to hơn lưỡi câu quả bình thường; chú còn tết thêm một lưỡi câu nhỏ vào cuống lưỡi câu to. Dây câu là ba sợi dây dù tết lại. Vất vả lắm chú mới kiếm được một con rô, cỡ bằng ngón chân cái. Móc lưỡi câu rô qua đỉnh lưng, còn lưỡi quả thì ôm lấy phía dưới bụng con mồi. Làm như vậy, con rô sống được lâu; nó có thể bơi và vùng vẫy suốt đêm. Con quả nào khôn ngoan mấy cũng bị mắc lừa.
Buổi tối, chú mang câu thả dưới gốc sung; cuốn hai vòng dây câu vào một cành lớn, cách mặt nước chừng nửa mét, rồi buộc lại kiểu thắt nút quần. Giống cá rô sống dai, nhiều con mổ bụng, rút ruột rồi, nhưng khi thả xuống nước vẫn có thể bơi được. Do vậy, con mồi này của chú sẽ tạo ra một vòng tròn trên mặt nước, đường kính gần nửa mét, khuấy nước suốt đêm, làm kinh động đến tận “thủy cung” dưới gốc sung. Bị khuấy động, không ngủ được; chắc chắn con quả phải mò ra xem kẻ nào dám hỗn xược, làm kinh động đến “long cung” của nó: Hóa ra chỉ là một thằng rô nhãi nhép -miếng mồi điểm tâm ngon lành cho cái dạ dày đang còn lép kẹp của nó.
Dặn hai chiến sỹ thường đi bắt tôm cá với chú trước khi đi ngủ. Sáng hôm sau, chú đánh thức họ dậy sớm hơn thường lệ để ra thăm câu. Thật là hồi hộp. Từ xa, chú đã thấy sóng nước dưới gốc sung; cành sung buộc đây câu cứ rung lên phần phật. Không ai bảo ai, cả ba đồng loạt lao nhanh về phía cây sung như cố để xem, ai là người tận mắt nhìn thấy con quả trước. Chú không thể tin vào mắt mình nữa: Con quả không phải ba kilô như chú dự đoán. Nó to hơn nhiều. Cái thân dài đần đẫn, cái đầu to bè bè. Khi thấy người, con quả quật đuôi rất dữ tợn, nước bắn tung tóe lên tận bờ cỏ. Được tận mắt nhìn thấy con quả to như vậy, hai chiến sỹ kia cũng không khỏi lúng túng:
- Làm thế nào hở anh?
- Cứ bình tĩnh, đừng làm nó kinh sợ. Để anh tính toán cái đã!
Loay hoay đến năm sáu phút, chú mới nghĩ ra được phương án đưa con quả lên bờ an toàn: Cởi chiếc quần dài đang mặc, buộc chặt hai ống. Chú bơi nhẹ nhàng đến chỗ con quả.
Thấy động, con quả quật đuôi càng mạnh. Sự tính toán kỹ càng của chú quả là không thừa. Con quả có khỏe đến mấy cũng không thể thoát ra được với cái lưỡi câu thép vừa to, vừa cứng và sợi dây dù tết ba có sức chịu tải tới chục kilô. Sau một hồi vật lộn, cuối cùng, chú cũng lừa đưa con quả nằm gọn trong ống quần. Con quả cố sức vùng vẫy để thoát ra. Nhưng trong cái khoảng không quá chật hẹp của cái ống quần như vậy, sức mạnh dưới nước của nó không còn phát huy được là mấy. Thít chặt đầu trên, chú hò hai chiến sỹ đến giúp sức. Một chiến sỹ leo ra cành sung tháo dây câu, một chiến sỹ bơi ra cùng chú đưa con quả vào bờ. Thành công ngoài sự mong đợi: Con quả dài đến gần một mét, mình to vừa bằng hai chẹt tay.
Tìm một cành cây dài làm đòn. Hai chiến sỹ khiêng con quả như thể khiêng một con lợn con.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
chaika (07-07-2010), Duc (10-07-2010), MIG21bis (08-07-2010)
  #5  
Cũ 10-07-2010, 00:10
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Khi chú và hai chiến sỹ khiêng con quả về; cái hang rộng mênh mông bỗng chốc trở nên huyên náo. Chẳng ai bảo ai, họ vùng cả dậy, không kịp gấp màn, đánh răng; xúm lại giúp hai chiến sỹ thả con quả vào cái nồi quân dụng. Cái nồi to cỡ trẻ lên năm ngồi vừa, nhưng giờ đây cũng trở nên quá chật chội đối với nó. Con quả nằm khoanh tròn, không thể dẫy dụa gì được. Cả tiểu đội quây quanh chiếc nồi quân dụng đựng con quả trầm trồ, bàn luận:
- Người thì bảo: trong đời chưa bao giờ thấy con quả to như vậy; có lẽ là con quả cụ, đến mươi mười lăm năm tuổi.
- Người thì dự đoán trên bốn cân, người thì trên năm cân.
- Người thì đề nghị nướng, người thì đề nghị kho ăn dần.
Năm người mười ý; ồn ào như cái chợ vỡ. Cuối cùng, chú tiểu đội trưởng phải đứng ra cầm trịch. Đúng là giọng của chỉ huy, chú ra lệnh:
- Đồng chí Mão, mang cân ra đây!
Chú Mão, được mệnh danh là “anh nuôi” chuyên lo việc bếp núc của tiểu đội; tất tưởi vác chiếc cân treo loại 50 kg, dùng hàng ngày cân gạo. Có hai chiến sỹ giúp sức, con quả cân móc hàm: “đúng năm cân rưỡi, có phần tươi”.
- Phần chế biến kiểu gì? ưu tiên giành cho người chủ của nó ra phán quyết. Đề nghị đồng chí Biên cho ý kiến phát biểu!
Với kinh nghiệm nhiều năm câu cá quả, chú giảng giải cho mọi người:
- Con quả này cũng đến bảy tám năm tuổi. Nhưng do ở đoạn suối này sẵn thức ăn, nhiều tôm, nhiều cá; lại không có đối thủ cạnh tranh, nên nó mới to như vậy. Những năm ở quê, đi câu cá quả ở khắp các vùng, kể cả ở những đầm, ao lưu cữu, không bao giờ tát cạn được; chú cũng chỉ câu được những con quả dưới ba kilô. Còn to như con quả này, thực sự là rất hiếm. Bây giờ đang là thời điểm nắng nóng nhất của mùa hè; vả lại, trong đơn vị còn một số chiến sỹ ốm; do vậy, nấu cháo là món thích hợp nhất. Ý kiến của chú tất nhiên là được mọi người ủng hộ.
Thực hiện nghị quyết của tiểu đội, con quả được dành nấu cháo thay cho bữa cơm chiều. Một bữa cháo cá quả ăn vào buổi chiều tà ngon miệng đối với tất cả mọi người. Nhiều chiến sỹ, tuy đã no bụng rồi nhưng vẫn còn muốn ăn nữa.
Kỷ niệm cuối cùng của chú ở rừng Trường Sơn, đó là việc chú cùng hai chiến sỹ bắn hạ một con voi rừng.
Cứ vài hôm, đường dây thông tin của các chú bị lũ voi rừng từ phía nước bạn Lào tràn sang làm đứt, hoặc cuốn đi. Đang ở vào thời điểm sắp đến ngày mở chiến dịch; việc đảm bảo đường dây thông tin thông suốt hai bốn trên hai bốn giờ trở nên hết sức nghiêm ngặt. Chú tiểu đội trưởng phân công cho chú cùng hai chiến sỹ: phải tìm cách ngăn cản đàn voi rừng này bằng bất cứ giá nào.
Nhận nhiệm vụ, nhưng làm thế nào để ngăn cản được lũ voi rừng, đó là điều không hề đơn giản. Hồi ở quê, chú chỉ được nghe các cụ nói:
- Voi rừng rất hung hãn, thường đi thành bày đàn. Hổ còn sợ người chứ voi rừng thì không; đôi khi chúng còn tràn vào phá nương rẫy, ủn đổ cả nhà cửa của dân bản. Trong trường hợp không may gặp voi rừng, chỉ tìm cách tránh cho nhanh, chạy ven theo sườn núi, chứ không chạy xuống phía chân núi. Người Tây Nguyên rất có kinh nghiệm săn voi rừng, nhưng người ta đi săn là để bắt sống về nuôi.
Bàn bạc với đồng đội, chú đưa ra phương án: chọn một hang đá ở lưng chừng vách núi, sát lối mòn mà đàn voi rừng thường qua lại làm chỗ mai phục.
Hai đêm đầu yên tĩnh, chỉ có tiếng đi lại của hươu, nai; tiếng đào bới đất của lũ lợn rừng; tiếng kêu “tắc kè” chốc chốc vọng từ vách đá; tiếng kêu khảm khắc của đôi chim “Bắt cô trói cột” đi tìm bạn tình.
Đêm thứ ba, vào khoảng hai ba giờ, đàn voi rừng xuất hiện; có lẽ đến sáu bẩy con tràn vào thung lũng. Chú nói nhỏ với hai chiến sỹ:
- Phải đợi đàn voi rừng đến gần, khi nào có hiệu lệnh của tớ mới đồng loạt bấm đè pin nhá!
Đàn voi rừng rẽ bụi lau đi rào rào, mỗi lúc một gần. Khi nghe tiếng cành cây khô bị voi dẫm lên kêu răng rắc ở phía dưới chân hang, chú lệnh cho hai chiến sỹ nhất loạt rọi đèn pin.
Con voi đầu đàn, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nó dừng lại, nghếch vòi lên nghe ngóng và chuẩn bị tư thế sẵn sàng nghênh chiến. Nhằm đúng điểm sáng màu đỏ tía phát ra từ mắt voi, bắt ánh đèn phản chiếu lại; chú nhả một băng Aka (loại súng trường cực mạnh do Nga chế tạo). Con voi đực đầu đàn ngã gục tại chỗ, những con khác hoảng loạn, tháo chạy về phía rừng bên Lào. Chú bảo:
-“Vạn bất đắc dĩ”, vì sự thông suốt của đường dây thông tin, buộc các chú phải giết một con; chứ nhìn con voi bị bắn hạ, các chú cũng thương nó lắm.
Chú cùng hai chiến sỹ cưa lấy đôi ngà về nộp lại chú tiểu đội trưởng; còn phần thịt, các chú để mặc cho người Vân Kiều đến lấy. Người nọ truyền tin cho người kia, họ mang dao sắc, gùi đến. Lấy hết phần thịt bên ngoài, họ khoét một cái lỗ to ở phía đuôi, chui vào lấy hết những gì còn lại bên trong. Đến gần trưa, chỉ còn trơ bộ xương to khủng khiếp của con voi đầu đàn. Từ đấy không thấy đàn voi rừng xuất hiện trở lại nữa.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Xamova (10-07-2010)
  #6  
Cũ 10-07-2010, 00:11
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ - Chú Biên - Nguyến Hữu Hùng

Chú bị thương vào đùi ở trong một trận chiến trên Đường 14, gần A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Chú được chuyển về điều trị ở tuyến sau; an dưỡng ở trại thương binh Hà Bắc. Sau một năm điều trị và an dưỡng, vết thương của chú lành hẳn. Lúc đó, cuộc chiến tranh đã kết thúc, miền Nam được giải phóng hoàn toàn. Đơn vị gửi chú vào học ở Trường công nhân kỹ thuật điện Sóc Sơn. Tốt nghiệp, chú được phân công về làm việc tại nhà máy phát điện điêzen này.
Khi đi bộ đội, chú tròn 17 tuổi. Bảy năm trong quân ngũ, một năm ở trại thương binh, một năm đi học. Như vậy, không kể thời gian đi bộ đội, đi học; lúc vào làm công nhân của nhà máy, chú mới 26 tuổi. Chú nghĩ còn trẻ chán, đến năm 30 tuổi lấy vợ là vừa.
Tuy ở hai tỉnh khác nhau, hoàn cảnh bản thân và gia đình trước khi đi học có khác nhau: Chú Bảy Choắt đi thanh niên xung phong, còn chú đi bộ đội. Nhưng cả hai vào nhập học cùng ngày, ở cùng phòng tại ký túc xá; học cùng lớp, ngồi cùng bàn; lại sinh cùng năm, cùng tháng, cùng ngày; học xong về cùng một nhà máy. Đúng là lắm thứ cùng nên hai chú thân nhau lắm. Chuyện gia đình, chuyên riêng của hai người, các chú đều rõ như lòng bàn tay. Nhưng chú Bảy Choắt lấy vợ khá sớm: vợ hơn một tuổi, làm ruộng ở quê, có hai con gái. Đứa lớn bốn tuổi, đứa bé hai tuổi và chuẩn bị đứa thứ ba nữa. Chủ nhật nào, chú Bảy Choắt cũng tất tưởi đạp xe về nhà, ở tận Phố Nối, Hưng Yên thăm vợ con. Rút kinh nghiệm từ bản thân: vất vả với chuyện gia đình; chú Bảy Choắt khuyên chú không nên lấy vợ sớm; và nếu có lấy vợ, nên lấy vợ ở Hà Nội. Chú Bảy Choắt giải thích:
- Một chốn đôi nơi, đi lại vất vả; tiền lương không đủ đi tàu xe, nếu tuần nào cũng về thăm nhà; chưa nói đến chuyện mỗi khi về, phải có đồng quà tấm bánh biếu bố mẹ và cho vợ con nữa chứ!
Nhưng sự đời chẳng chiều theo ý ai. Năm 1978, chú về quê ăn tết. Vừa về đến nhà, bố mẹ chú đặt vấn đề hỏi và cưới vợ ngay cho chú trong dịp tết Nguyên Đán. Thương bố mẹ già, gia đình chỉ có một mình chú là con trai, được họ hàng hùn vào nên chú đồng ý. Đám cười ở thôn quê ngày ấy còn đơn giản: tư trang, quần áo của ai, người ấy sắm. Chú có bộ quân phục được phát trước khi đi học còn mới, lấy ra diện; chỉ có sắm thêm đôi dép nhựa Tiền Phong; ai cũng khen đẹp, hợp thời trang. Lễ sang nhà gái gồm: hai tếp trầu, ba chục cau, hai chục bánh cao lâu (bánh nướng), cân chè Thái, một tút thuốc lá Tam Đảo, một chai rượu cam. Gọi là lễ ăn hỏi, rồi dẫn dâu về luôn. Bố mẹ chú nuôi được con lợn trên năm mươi kilô, vật ra; làm vài ba chục mâm cơm, mời họ hàng và hàng xóm. Năm hết tết đến; mọi người đều tất bật đi sắm sửa; nên chú cũng chẳng kịp báo với cơ quan và bạn bè trên Hà Nội. Sau tết, chú mua ít bánh kẹo, mấy bao thuốc lá, gói chè hương Hoa Đào; tạ lỗi với mọi người trong nhà máy. Chú Bẩy Choắt có trách chú đôi điều, nhưng cũng thông cảm. Thế là cái việc “trăm năm” của chú đã xong.
Không biết có phải bố mẹ chú tinh đời, hay do duyên số mà chú có được người vợ: “Thắt đáy lưng ong”, da trắng như trứng gà bóc, hiền dịu, nết na; kính trọng, hiếu thảo với bố mẹ chú. Chỉ có một điều mà bố mẹ chú cũng như chú không được mãn nguyện lắm: vợ chú sinh con một bề.
Vợ chú sinh hạ liền ba cô con gái: Lục, Lụa, Lài. Chú giải thích:
- Lục: là để kỷ niệm quê hương Bình Lục của chú.
- Lụa: có ý chỉ sự mượt mà, mềm mại như tơ lụa của người con gái.
Còn cái tên Lài, không thấy chú giải thích, có thể chú đặt để cho có vần. Lúc vui vẻ, chú Bảy Choắt thường trêu chú:
- Đúng là vợ ông không biết đẻ. Đẻ rặt một lũ vịt trời!
Do vậy, chú Biên còn có một biệt danh khác nữa là “Biên Vua Lia”.
Chuyện “Vua Lia” thì tôi phần nào cũng hiểu, giống như nhân vật “Vua Lia” trong vở bi hài kịch của Shakespeare, nói về một vị vua nước Anh thời Trung cổ, giàu có, nhưng hoàng hậu chỉ sinh hạ cho vua được ba cô công chúa. Còn chuyện ba cô con gái của chú Biên, được chú gọi là vịt trời thì lần đầu, tôi nghe thấy câu ví von như vậy. Tôi hỏi lại chú Biên:
- Tại sao chú Bẩy bảo: ba cô con gái chú là lũ vịt trời?
Chú cười ngặt nghẽo rồi giải thích:
-“Vịt trời”, nghĩa là vợ chồng chú vừa mất công đẻ, công nuôi, công chăm sóc, công dạy dỗ. Đến khi khôn lớn thành người, làm được việc giúp đỡ gia đình; thì lại đi lấy chồng, trật khấc lại hai ông bà già ở với nhau. Ví như nuôi vịt trời con. Đến khi đủ lông, đủ cánh; nó lại bay vù theo bày đàn của nó. Chả mất công không là gì?
Nói thế chứ, xem ra chú chẳng buồn chút nào. Ngược lại, chú có vẻ thực sự quý những “lũ vịt trời” nhà chú lắm. Mỗi khi về quê lên, chú thường sang khoe với bố mẹ tôi:
- Con gái em nó tình cảm lắm. Bây giờ về nhà, các cháu biết lấy chậu, khăn mặt, xách nước cho bố rửa mặt, coi em như thượng khách. Nhiều khi em bảo các cháu cứ mặc kệ bố. Bố quen sống tự lập rồi. Nhưng các cháu không nghe, coi lấy nước cho bố rửa mặt, lấy tăm cho bố xỉa răng là một sự bộc lộ tình cảm thiêng liêng, quý trọng và thương yêu đối với bố. Khi đi, các cháu còn ra tận bến xe tiễn, nước mắt ngắn, nước mắt dài. Đứa nào cũng muốn theo bố ra Hà Nội, rồi nghẹn ngào dặn đi, dặn lại:
- Chủ nhật thế nào bố cũng về với chúng con đấy nhá!
Thực tế, mỗi lần về quê nghỉ phép hay nghỉ bù những ngày lễ tết và chủ nhật phải làm ca; tôi thấy chú đi sắm sửa khối thứ: nào bánh kẹo, nào quần áo, nào giầy dép. Chắc chẳng phải chỉ dành riêng cho bố mẹ mà cả cho vợ và các con gái chú nữa!
Đó là toàn bộ lai lịch về chú Biên, mà tôi chắp nhặt được qua những câu chuyện chú kể, tâm sự với bố mẹ tôi, hoặc với chú Bảy Choắt và với cả bọn trẻ con chúng tôi nữa.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010), Saomai (11-07-2010), Xamova (10-07-2010)
  #7  
Cũ 11-07-2010, 23:53
Siren's Avatar
Siren Siren is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Aug 2008
Bài viết: 2,186
Cảm ơn: 8,134
Được cảm ơn 8,173 lần trong 1,903 bài đăng
Default TRUYỆN CÁ QUẢ -Tổ cá - Nguyến Hữu Hùng

TỔ CÁ

Từ hôm tôi chỉ điểm tổ cá quả, cũng như nghe những chuyện câu cá quả của chú kể, là tôi thấy mê. Tôi kết thân với chú từ đấy, và chú hứa sẽ truyền cái nghề câu cá quả cho tôi. Chú bảo:
- Chú không có con trai nên chẳng biết truyền cái nghề chú đã để tâm, tích lũy kinh nghiệm từ bé cho ai cả!
Hôm ấy là ngày 29 tháng 4; tôi còn nhớ như in: vì hôm sau là ngày 30 tháng 4, ngày giải phóng Sài Gòn, thống nhất đất nước; học sinh chúng trôi cũng được nghỉ học.
Đi học về, men theo bờ hồ sau Nhà máy xe đạp Thống Nhất; bỗng nghe thấy tiếng cá quẫy rõ to dưới bụi cúc tần. Tôi dừng lại nghó nghiêng. Một đám nước đục ngầu, đường kính đến hơn một mét. Hai con quả đang bơi quyện vào nhau. Lần đầu tiên tôi thấy một hiện tượng kỳ lạ như thế. Sau một phút do dự, tôi nghĩ:
- Phải về hỏi chú Biên xem sao?
Ba chân bốn cẳng, tôi chạy một mạch về nhà, cất cặp sách rồi sang nhà máy. Chú Biên đang điều chỉnh máy bơm dầu. Thấy tôi, chú ra hiệu là chú đang bận. Điều chỉnh dầu, cho máy chạy; xong việc, chú mới ra gặp tôi. Chú vui vẻ hỏi:
- Có việc gì tìm chú đấy cháu?
- Chú đi với cháu ra kia đi. Cháu mới phát hiện ra một chỗ có hai con quả chú ạ. Nhưng kỳ lạ lắm, chúng cắn đuôi nhau, rồi quẫy ùm ùm dưới bụi cúc tần ở bờ ao gần Nhà máy xe đạp Thống Nhất ấy.
Chú cười khà khà, xoa đầu tôi:
- Cháu được việc lắm. Tin tình báo có giá trị đấy! Nhưng chưa câu được cháu ạ. Chúng mới kết bạn với nhau, đang tìm chỗ làm tổ đấy.
Chú bá vai, kéo tôi ra phía sau nhà máy. Bầu trời trong xanh, lác đác có một vài đám mây trắng mỏng manh, lững lờ trôi về phía tây. Chú hướng mắt chăm chú nhìn về phía đông; ngẫm nghĩ một lúc, chú bảo:
- Gần sáng mai trời sẽ mưa, lúc đó cá mới đẻ. Không cần ra xem đâu cháu ạ. Đánh động, cá sẽ bỏ đi chỗ khác mất. Đợi cá đẻ xong, ra câu là chắc ăn nhất.
Giọng nói của chú đầy vẻ khẳng định, chắc như đinh đóng cột. Tạm biệt chú Biên, về nhà, tôi thì cứ băn khoăn: liệu có đúng không nhỉ? Trời đang trong xanh như thế thì làm sao mưa được? Nhưng chú Biên có nói sai bao giờ đâu!
Sáng hôm sau tỉnh dậy, nhìn qua cửa sổ, tôi thấy những vũng nước mưa còn đọng trên sân. Ngồi trên giường, tôi hỏi mẹ:
- Tối qua trời mưa à mẹ?
- Gần sáng trời mưa to lắm, sấm chớp đùng đùng, anh em con ngủ say, không biết đấy thôi.
Tôi thầm nghĩ:
- Chú Biên tài thật, dự báo thời tiết như thần, chính xác hơn cả Đài tiếng nói Việt Nam.
Nhảy ra khỏi giường, đánh răng, rửa mặt qua loa. Chẳng kịp dặn mẹ một câu, tôi chạy bổ ra bờ hồ.
Sau trận mưa tối qua, nước từ khắp nơi đổ về hồ đục ngầu, dâng cao tới gần mép đường. Tiếng chão chuộc, tiếng ếch nhái: chạc chạc, chuộc chuộc; ộp ộp, ẹc ẹc; kêu vang trong bụi cỏ, bụi tre, trong các bè rau muống ở xung quanh hồ. Một dàn đồng ca đến vui tai, như lọt vào giữa cánh đồng của vùng thôn quê.
Nếu như mấy hôm trước, người ta chỉ thấy một màu xanh cằn cỗi bao trùm lên tất cả các bè rau muống; thì sáng nay, chúng như vừa được thay một bộ áo mới: Một màu xanh non mơn mởn. Những ngọn rau muống non vừa mới nhú còn yếu ớt, run rẩy trước gió; như cố vươn cao, vươn xa để đón những tia nắng ban mai.
__________________
Ласковый Май
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên:
MIG21bis (12-07-2010)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Thơ của bạn Nguyễn Duy Anh ở trường PTCS Nguyễn Đình Chiểu Hà Nội Andre Plentinov Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn 53 02-08-2011 00:12
Ngàn năm Thăng Long Geobic Mỹ thuật - Nhiếp ảnh 104 02-08-2010 22:28
Kỉ niệm 1000 năm Thăng Long ,cuộc thi vẽ dành cho bé navydesign Mỹ thuật - Nhiếp ảnh 0 03-07-2010 15:37
Thăm vùng lãnh nguyên Yakutsk trên trực thăng notforsale Mỹ thuật - Nhiếp ảnh 1 14-10-2009 03:11
Nền công nghiệp Việt Nam thăng tiến andrey Các chủ đề khác 0 24-09-2008 09:13


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 20:26.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.