Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Hồ sơ chiến tranh thế giới

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #41  
Cũ 29-06-2009, 13:26
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Philippines 8 tháng 12, 1941 - 8 tháng 5

Philippines 8 tháng 12, 1941 - 8 tháng 5, 1942


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Quân Nhật đổ bộ xuống Philippines

Kiên trì chịu đựng dai dẳng hơn mọi đơn vị đồn trú khác của quân Đồng minh bị tấn công vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Philippines vốn là mục tiêu quan trọng của bộ chỉ huy tối cao Nhật Hoàng. Các đơn vị hải quân, và các loại máy bay ném bom của Nhật từ Formosa đã tổ chức tấn công vào sáng ngày hôm đó, và đã giành được một số thắng lợi, cũng giống như đồng đội của chúng đang làm mưa làm gió trên vùng trời Trân Châu cảng.
Cuộc chiến này đã được cảnh báo từ ngày 6 tháng 12, và nó đã đẩy tướng Douglas MacArthur của quân đội Mỹ buộc phải lao vào tham chiến. Trong khi đó, Trân Châu cảng vẫn còn đang bị oanh tạc dữ dội, toàn bộ các loại máy bay của ông ta hiện đã được tung lên không trung, hàng phòng thủ bờ biển cũng đã được triển khai, và ông ta cho rằng, cuộc chiến sẽ diễn ra theo đúng như ông ta đã xắp đặt, như kế hoạch chiến đấu vẫn mong đợi sẵn. Thật tiếc thay cho tướng MacArthur và bộ chiến tranh của Mỹ, quân Nhật đã tự thảo ra kế hoạch tác chiến là, chúng lại triệu tập cuộc tấn công Philippines vào lúc buổi gần trưa. Quân đội Mỹ và quân đội Philippines đã hoàn toàn bị choáng váng, khi cuộc tấn công của Nhật xảy ra, thì các máy bay chiến đấu của Mỹ vẫn còn ở dưới mặt đất và đang được tiếp thêm nhiên liệu. Hầu hết các quân đoàn không quân Mỹ, hầu như đều bị phá hủy hết ngay ở dưới mặt đất. Máy bay ném bom của Nhật đánh phá rất khốc liệt vào xưởng đóng tàu chiến Cavite, và hạm đội US Asiatic của Mỹ cũng bắt đầu bị chìm trong biển lửa.

Tướng MacArthur đã từng có 12 năm phục vụ tại Philippines, và gần đây mới quay lại với quân đội Mỹ, sau khi chỉ huy quân đội Philippines. Ông ta chẳng những đã bị thất bại, vì không thể cung cấp được những sự cần thiết trong huấn luyện quân đội, mà lại còn bị cản trở bởi một chính quyền Philippines tham nhũng, và sự trợ giúp từ phía chính quyền Mỹ thì lại quá ít ỏi.

Quân đội của ông ta vào tháng 12 năm 1941, được lắp ghép bởi rất nhiều các đơn vị khác nhau, do vậy không những không thể kết hợp được với nhau, mà còn không được cùng huấn luyện ở bất kỳ một cơ sở thực tế nào. Trong lúc này, tướng MacArthur có trong tay một lực lượng khổng lồ, khoảng 130.000 binh sĩ, nhưng phần lớn lại là các đơn vị quân đội Philippines, trong toàn bộ só đó chỉ có một đơn vị, là được xem là có thể sẵn sàng chiến đấu. MacArthur đã lập kế hoạch, để đón sẵn cuộc tấn công của Nhật là, sử dụng học thuyết quân sự phòng thủ của Philippines: Rút quân về chuẩn bị củng cố các công sự phòng thủ, trên bán đảo Bataan và ở Corrigedor, để chờ đón một cuộc đổ bộ của địch tại vịnh Manila.
Nhưng cuộc tấn công của Nhật có tốc độ quá nhanh chóng, đã phá hỏng phương sách phòng thủ của MacArthur. Tướng Masaharu Homma của Nhật Hoàng, đã đổ bộ xuống phía bắc Luzon vào ngày 9 tháng 12, và nhanh chóng vượt qua được một sự kháng cự yếu ớt của quân Đồng minh. Về cơ bản, thì Homma đã đổ bộ xuống phía sau lưng quân Đồng Minh. Ngày 20 tháng 12, Homma lại đổ bọ xuống Mindanao và tiến thẳng đến Manila. Chính phủ Philippine đành phải tuyên bố Manila là một thành phố bỏ ngỏ, nhưng quân Nhật vẫn tiến hành đánh bom dữ dội vào khắp mọi nơi trên thành phố. Tướng MacArthur lại phải cho rút quân đến Corrigedor và Bataan, mà không thông báo cho phía đối tác hải quân của ông ta ở vịnh Manila. Do vậy có nhiều quân sĩ đã gọi ông ta theo một cách chế nhạo là “Dugout Doug” – (Douglas trốn dưới hầm).
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
hungmgmi (29-06-2009), Jan (30-06-2009), TLV (29-06-2009), Vania (27-07-2009)
  #42  
Cũ 07-07-2009, 11:46
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Philippines 8 tháng 12, 1941 - 8 tháng 5

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Bãi chiến trường Clark , Luzon, Philippines -- 8 tháng 12, 1941

Homma lại chuyển sang đánh chiếm Manila, sự chuyển hướng này đã để cho quân Đồng minh có thời gian, để thiết lập lại một số tuyến phòng ngự. Lúc này, Roosevelt đã nhận ra rằng, không thể giữ được Philippines nữa, bởi không còn quân tăng cường. MacArthur liền ra lệnh cho binh sĩ di tản sang Úc vào tháng ba năm đó, ông ta đã di chuyển trên một con tàu PT "Patrol Torpedo".

Homma đã bao vây tướng Mỹ Jonathan Wainwright cùng với 100.000 lính Mỹ và lính Philippines trên Bataan và Corrigedor. Họ đã trụ vững đến tận ngày 7 tháng 5, 1942, đến khi đó Wainwright đã cố trao quyền chỉ huy của mình cho thuộc cấp ở phía nam, tướng King, để có thế tiếp túc tổ chức kháng cự. Bởi, Homma nhất quyết yêu cầu buộc Mỹ phải đầu hàng toàn bộ, và Wainwright thì không còn sự lựa chọn nào khác. Thông qua đài phát thanh, Wainwright đã ra lệnh cho tất cả quân đội Đồng minh, phải đầu hàng vào ngày 8 tháng 5. Có một số đơn vị của Mỹ và Philippines rút lui vào các ngọn núi, để tiếp tục kháng chiến.

Tướng King đồng ý tuân theo mệnh lệnh đầu hàng, nhưng ông ta vẫn luôn tổ chức những trận đánh nhỏ. Ông ta đã đầu hàng, nhưng vẫn tiếp tục kháng cự, với kết quả là đã làm cho hàng ngàn binh lính phải thiệt mạng. Các lực lượng của tướng King và tướng Wainwright đã phải hành quân đi vài dặm trong bốn đội hình đến trại O’Donnell, nơi đây quân Nhật sử dụng làm trại giam tù binh chiến tranh. 3000 binh sĩ Mỹ và 10.000 binh sĩ Philippines đã bị tử trận, và hàng ngàn người khác bị chết trong khi bị giam giữ.

Các vùng đất của Philippines bị chiếm đóng cho đến mãi khi chiến tranh kết thúc, nhưng họ cũng đã được bắt đầu giải phóng dần, bắt đầu từ tháng 10 năm 1944. Trong thời gian đó, Nhật Bản hy vọng sát nhập Philippines vào Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, nhưng dẫn đến sự phản kháng quyết liệt của du kích Philippines.

Một số binh sĩ Mỹ bị quân Nhật bắt giữ, bị chuyển đến làm việc ở các trại tập trung trên những con tàu không số, với biệt danh "Tàu địa ngục". Họ sống chật ních và thiếu ăn trầm trọng, và những con tàu không số này lại bị chính các tàu ngầm Mỹ bắn phá bằng ngư lôi.


http://worldwar2database.com
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
TLV (13-07-2009)
  #43  
Cũ 13-07-2009, 12:39
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Cuộc chiến trên Biển San Hô từ 7 – 8 tháng 5 năm 1942



Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Hàng không mẫu hạm Shoho của Nhật bị ngư lôi đánh trúng, trong cuộc tấn công của Mỹ vào đàu giờ trưa ngày 7 tháng 5 năm 1942.

Ngày 7 tháng 5 năm 1942, chuẩn đô đốc Raymond Spruance đứng trên cầu tầu của chiếc vận chuyển của mình, và xem bức điện báo về thông tin trận đánh mà trung tâm vừa mới gửi cho ông ta. Wainwright vừa đã phải đầu hàng, Philippines thì cũng đã bị quân Nhật chiếm đóng.
Spruance đã từng nghĩ đến những ngày ác nghiệt này. Lực lượng đặc nhiệm của ông ta chỉ có hai chiếc tàu vận chuyển, chiếc USS Lexington và chiếc USS Yorktown. Ông ta có thể đương đầu với nhiều vấn đề hơn, dĩ nhiên là với một số lượng lớn những chiếc tàu hộ tống. Thế lực mạnh hơn của không lực hải quân Nhật, đã trở thành vấn đề có nhiều người biết đến. Và ông ta cũng biết rằng, những chiến binh liều lĩnh của ông ta cũng không thể giằng xé được với loại Mitsubishi của địch thủ.

Nhưng cơ quan tình báo đã phát hiện ra được một sự di chuyển về hướng cảng Moresby, trên bờ biển phía nam New Guinea. Tại đây, quân đội Úc của MacArthur đang dai dẳng chiến đấu chống lại những cuộc tấn công dữ dội của địch từ phía Kokombona. Nếu như New Guinea, và quân đội Úc đang tự giữ vững được, thì cảng Moresby cũng sẽ giữ được.

Để tiến đánh lại các lực lượng ở đây, quân Nhật có ba chiếc tàu chuyên chở, nhiều tàu chiến, tàu tuàn dương, và tàu khu trục. Những chiếc IJN Shokaku, IJN Zuikaku, và IJN Shoho của hải quân Nhật, đã được tách ra khỏi hạm đội 1 không lực, để phục vụ cho chiến dịch này.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
Jan (13-07-2009), TLV (13-07-2009), Vania (27-07-2009)
  #44  
Cũ 06-08-2009, 15:53
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
USS Lexington (CV-2) Trong trận chiến, nhìn từ phía tàu USS Yorktown (CV-5), 8 tháng 5, 1942.



Tàu do thám đã phát hiện ra hai hạm đội đã thoát ra khỏi tầm đạn của những chiếc hộ tống. Vào thời kỳ đầu trong lịch sử hải quân, các tàu chiến thường không nằm trong tầm ngắm của các tàu chính. Mà cuộc giao tranh sẽ được giải quyết bằng những trận không kích.

Cả hai bên đều rất hiểu nhau, và bắt đầu mở các tấn công. Các tàu chiến của cả hai bên đã vượt qua đài quan sát trên không, và cả hai phe cũng chưa làm thiệt hại nặng lẫn nhau. Bên Mỹ đánh chìm chiếc Shoho, và phá hỏng chiếc Shokaku của Nhật. Trong khi đó, Zuikaku cũng đã mất nhiều phi công nên cũng khó có thể tiếp tục tiến hành các trận không kích khác. Hai chiếc USS Lexington và USS Yorktown của Mỹ trong lúc này cũng đã bị bom đánh trúng.

Bên phía quân Mỹ, đầu tiến họ nghĩ rằng họ chỉ bị thiệt hại hai chiếc tàu vận chuyển. Chiếc Lexington đột nhiên bị đánh toạc sườn, cũng bắt đầu khai hỏa phản lại. Trong tương lai, hải quân Mỹ trở thành một lực lượng hải quân mạnh nhất trên thế giới trong các trận giao tranh hải chiến, nhưng trong lúc này thì hỏa lực của họ không thể nào bảo vệ được những chiếc vận tải của mình.
Cuối cùng, sàn bay của chiếc Yorktown bị hư hỏng nặng nề. Nó phải tăng hết tốc độ để chạy về Chân Trâu cảng.



Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Hàng không mẫu hạm Shokaku của Nhật đang bị những chiếc máy bay của USS Yorktown (CV-5) oanh tạc trong sáng ngày 8 tháng 5 năm 1942. Ngọnn lửa nhìn thấy là từ một quả bom đánh trúng bụng dưới của nó

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Chiếc USS Lexington (CV-2) đang bị quân Nhật oanh tạc, trưa ngày 8 tháng 5 1942, trong trận hải chiến biển San Hô

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Một khung cảnh trên sàn bay của chiếc USS Lexington (CV-2), vào lúc 15 giờ ngày 8 tháng 5 năm 1942, trong trận chiến biển San Hô.

.
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những chiếc khu trục chạy dọc theo chiếc USS Lexington (CV-2) để trợ giúp nó phóng máy bay lên,
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
tieuboingoan (04-03-2011), TLV (06-08-2009)
  #45  
Cũ 26-08-2009, 14:33
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Trận chiến Midway 3 – 6 tháng 6 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những bể dầu đang bị bốc cháy trên đảo Cát, Midway, do trận tấn công của quân Nhật đánh trúng vào sáng ngày 4 tháng 6 năm 1942.


Đảo san hô Midway nằm cách Hawaii 600 dặm. Đảo này gần như là nhận lệnh chỉ huy trực tiếp từ bộ chỉ huy, tổng tư lệnh hạm đội Pacific (CINCPAC) Chester W. Nimitz đã hỏi viên chỉ huy đảo rằng, ông ta cần những gì để bảo vệ hòn đảo trước những cuộc tấn công từ bên ngoài. Vị chỉ huy trả lời "Mọi thứ đều cần cả". Nimitz đã đáp lại cho ông ta bằng tăng thêm số lượng về binh lính, máy bay, dây kẽm gai và súng ống. Nếu Midway bị thất thủ như Wake và Guam vào tháng 12 năm ngoái, thì chính Hawaii sẽ bị một đợt không kích dữ dội của địch đe dọa, thậm chí là bị đánh chiếm hoàn toàn. Do vậy Midway cần phải đứng vững bằng bất kỳ mọi giá.

Bên kia Thái Bình Dương, đối tác của Nimitz, là tướng Isoroku Yamamoto, ông ta đã thảo ra kế hoạch cho chiến dịch tác chiến hùng hậu nhất ngay từ khi thế chiến được mở màn, thậm chí trận này còn mạnh mẽ hơn cả trận Trân Châu Cảng. Toàn bộ bốn chiếc hàng không mẫu hạm của ông ta đã được đưa vào sẵn sàng hoạt động, cùng với một chiếc tàu vận tải hạng nhẹ, một chiến hạm mới , và chiếc IJN Yamato một chiếc tàu đại bác hùng mạnh, toàn bộ sẽ được tiến đánh vào thành hai hướng. Yamamoto lên kế hoạch tiến đánh Midway sau khi một trận oanh tạc dữ dội lên đảo chấm dứt, và sẽ đánh nghi binh ở phía bắc Thái Bình Dương. Trong khi hạm đội US sẽ phải chặn đánh những cuộc đổ bộ lên Attu và Kiska ở Aleutians gần Alaska, thì đạo quân chủ lực của Y sẽ đổ bộ xuống Midway. Đánh phá quân Mỹ trên khắp Thái Bình Dương, với số lượng hải quân Hoang gia Nhật vượt trội, chúng có dự định sẽ đánh chìm hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ trong một đòn quyết định. Yamamoto vốn thực sự không ảo tưởng. Trận đánh này quả là một đòn quyết định số phận của cuộc chiến – vì sản lượng công nghiệp của Mỹ chẳng bao lâu sẽ bắt đầu vượt trội hơn hẳn Nhật cả vể lượng cũng như về công nghệ.

Nhưng Yamamoto lại không biết rằng, quân Đồng minh đã giải mã và đọc được những chỉ thị chiến dịch của ông ta. Hải quân Hoàng gia Nhật, đã sử dụng loại mật mã mang tên JN-25b. Ngày đó, đây là một loại mật mã ngoại giao, và phía Mỹ đã đọc được loại mã này từ năm 1937, các mật mã viên đã bắt đầu đọc được toàn bộ sóng vô tuyến mà hải quân Nhật chuyền đi, ngay từ khhi họ xây dựng lại Trân Châu Cảng sau khi họ bị Nhật tấn công. Trong khi đó, nhóm tình báo hải quân do thiếu tá hải quân Rochefort chỉ huy, thì lại không hề hay biết gì về mục tiêu bị tấn công – mật danh AF – ông ta chỉ nắm được mọi chi tiết đằng sau kế hoạch mà thôi.
Tổng tư lệnh Nimitz, trong một chuyến thị sát mới của mình đến đảo san hô Midway, ông ta đã phát biểu trên sóng phát thanh của đảo rằng, hiện nay mực nước của họ đang quá thấp. Những điểm nghe ngóng thông tin của Nhật ở Kwajalein, bắt được thông tin này và đã báo về sở chỉ huy hải quân ở Kure là, AF hiện nay không đủ nước. Lúc này Rochefor mới biết rằng AF là Midway.

Do vậy, khi Nagumo và bốn chiếc tàu vận tải của mình là Akagi, Kaga, Soryu, và Hiryu, cùng với những tàu hộ tống tiến đến Midway, nhưng chúng không biết rằng, chỉ có ba chiếc vận tải của Mỹ đang đợi sẵn. Sau những cuộc tấn công ban đầu thắng lợi dễ dàng, Nagumo cho rằng Y không thể liều lĩnh tấn công vào Midway. Một trận tấn công dữ dội khác do hơn 400 máy bay Nhật thực hiện, cũng vẫn chưa thể hạ gục được Midway. Viên sĩ quan chỉ huy bay, đại úy Tomonaga, đã đánh điện cho Nagumo, cần phải tiến hành một cuộc tấn cống tiếp theo. Trong khi trận tấn công kế tiếp đang được chuẩn bị, thì một chiếc máy bay trinh sát của Nhật đã báo về, có một chiếc tàu vận tải Mỹ đang ở cách xa 200 dặm. Một chuyến bay khác của chúng lập tức cất cánh sau khi nhận được tin. Chúng đã phát hiện ra chiếc USS Yorktown, và hàng loạt bom dồn dập thả xuống, làm phá hủy toàn bộ nguồn điện của chiếc tàu vận tải Mỹ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
tieuboingoan (04-03-2011)
  #46  
Cũ 23-06-2010, 15:42
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Trận chiến Midway 3 – 6 tháng 6 năm 1942


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Chiến hạm USS Yorktown. đang bị thủy thủ đoàn bỏ lại, sau khi bị trúng hai quả ngư lôi của Nhật, 4 tháng 6 năm 1942



Không bao lâu sau, những chiếc máy bay phóng ngư lôi của Mỹ đã được phép cất cánh từ những chiến hạm USS Yorktown, USS Hornet, và USS Enterprise, chúng liên tục bắn phá những hạm đội của Nhật. Những chiếc máy bay cánh đơn TBD Devastator vừa cũ vừa chậm và trang bị vũ khí không đầy đủ của Mỹ, trong cuộc chiến này tỏ ra không có hiệu quả. Một nhóm thuộc phi đội bay ném ngư lôi số 8 của USS Hornet, thì chỉ có một người sống sót trong tổng số 16 máy bay và 48 đội bay. Hành động dũng cảm chỉ huy phi đội bay, thiếu tá hải quân John Waldron đã trở thành huyền thoại, khi phi đội bay ném ngư lôi số 8 đã xung trận, toàn bộ phi đội lập tức tách ra từng nhóm nhỏ. Khi đó những chiếc máy bay ném ngư lôi đã có thể rút lui khỏi sự bao vây của máy bay chiến đấu Nhật. Quân Nhật đã chứng kiển thấy cảnh tượng đó, chúng liền nhận ra rằng, phi đôi Hoa Kỳ đã sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.

Khi chiếm lại được khu vực Midway, bọn Nhật lại bắt đầu tiến hành trang bị lại vũ khí, để bắt đầu tiến hành một trận tấn công mới dưới mặt đất, theo tin từ một thông báo do một chiếc vận tải thứ hai mang đến. Thông báo đó đã ném Nagumo và các sĩ quan của Y vào một sự hỗn loạn chao đảo.
Ông ta sẽ tiến hành một cuộc tấn công kế tiếp vào Midway, hay vũ trang lại để tấn công bằng tàu chiến?
Nagumo đã ra lệnh cho các loại máy bay của mình trang bị lại vũ khí bằng ngư lôi, và bom xuyên vỏ thép. Một báo cáo tiếp theo được đưa đến, nó lại mâu thuẫn với báo cáo của máy bay trinh sát, do đó Nagumo lại ra lệnh cho các máy bay trang bị lại vũ khí để tấn công trên bộ. Cuối cùng, một báo cáo tiếp theo do tàu trinh sát xác nhận chính thức là, các tàu vận tải của Mỹ thực sự đang hiển diện. Đang cấp bách, nhưng có rất nhiều vũ khí cần sử lý, bom và ngư lôi tất cả đều nằm trên sàn máy bay. Còn máy bay chiến đấu thì đang đi truy lùng những chiếc máy bay ném thủy lôi của Mỹ khi nhóm thứ hai của họ tiến đến. Khi phi đội đánh Midway còn đang được trang bị lại vũ khí, thì có hai nhóm máy bay ném bom SBD Dauntless bay đến trên đầu hạm đội Nhật. Trong vòng năm phút, ba chiếc Soryu, Akagi, và Kaga đã bị bốc cháy. Chiếc vận tải Hiryu còn lại thì vẫn còn nguyên vẹn. Lúc này, chỉ còn 18 chiếc máy bay của Nhật là còn có khả năng chiến đấu. Chúng lập tức khởi hành khi báo cáo cuối cùng đưa về, báo cáo này chỉ điểm chính vị trí của quân Mỹ. Trung úy Tomonaga lại cất cánh, chỉ với một lượng nhiên liệu đủ để bay tới được mục tiêu.

Quân Nhật lại phát hiện ra chiếc Yorktown một lần nữa, nhưng chiếc chiến hạm này hiện không còn lành lặn và hầu như mất khả năng chiến đấu. Lại một lần nữa, hàng loạt bom của Nhật đánh xuống, làm nồi hơi của chiếc Yorktown bị tê liệt. Lệnh từ bỏ con tàu được ban hành, tàu hộ tống đã phải đến để giải thoát toàn bộ thủy thủ đoàn trên tàu. Thuyền trưởng tàu Yorktown, vẫn cố gắng cho tàu chạy cùng với một nhóm cứu hộ thêm được vài giờ nữa.

Chiếc tàu ngầm I-68 của Nhật, bám đuổi theo Yorktown. Trong khi đó, nhóm cứu hộ vẫn đang cố gắng cho tàu chạy, chiếc tàu ngầm Nhật đuổi theo bắn hàng loạt ngư lôi rồi lặn mất. Một quả ngư lôi đã bắn trúng chiếc USS Hammann, hất tung chiếc tàu chiến này bay ngược về phía sau, rồi chìm xuống cùng với hầu hết các thủy thủ trên tàu. Một quả ngư lôi khác bắn trúng chiếc Yorktown, à cũng làm cho chiếc chiến hạm này trung một số phận. Một số người trong nhóm cứu hộ, cũng bị chìm theo con tàu chiến của Mỹ, số người còn lại thì trú tại một khoang ngập nước bị tiện lìa khỏi thân tàu. Còn chiếc Hiryu của Nhật cũng không chạy thoát, vào lúc 4 giờ chiều, chiếc Hiryu bị máy bay từ ba chiếc vận tải của Mỹ phát hiện thấy.


Ngày hôm sau, máy bay vận tải của Mỹ lại phát hiện ra hạm đội của Nhật đang rút chạy. Hai chiếc tuần dương hạm, Mikuma và Mogami, bị đánh phá tan tành. Chiếc Mikuma chìm ngay lập tức, còn chiếc Mogami thì cố lết về đến cảng.

Trận chiến Midway, là một trận chiến mà quân Nhật bị thất bại nặng nề. Yamamoto đã phải đích thân tạ lỗi với Nhật hoàng, và có ý định xin từ chức, nhưng đề nghị này không được chấp nhận. Đế quốc Nhật sau đó đã cho củng cố lại tất cả các vị trí, và dừng không giao chiến với Mỹ nữa. Những binh sĩ bị thương của chúng, được bí mật mang về vịnh Hiroshima và lén lút đưa vào các bệnh viện quân đội, dưới sự giám sát chặt chẽ của an ninh. Sau đó, không hề có một lời nào đề cập đến thảm họa này được rò rỉ ra ngoài công chúng Nhật, thậm trí ngay cả trong những đơn vị quân đội khác.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
tieuboingoan (04-03-2011)
  #47  
Cũ 15-09-2010, 12:07
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Trận Dieppe ngày 19 tháng 8 năm 1942

Trận Dieppe ngày 19 tháng 8 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những chiếc tàu đổ bộ của Anh nằm trên bãi biển – tháng 8 năm 1942

Quân Đồng minh phải trải qua thất bại liểng xiểng từ năm 1939, đã bắt đầu làm cho nhuệ khí của họ bị lung lay. Cho dù trận đánh Britain đã ngăn chặn được quân Đức giành thắng lợi, đó chỉ là một thắng lợi nhỏ nhoi mà hạ đạt được từ khi đó.

Quân đội Đức quốc xã đã chiếm hầu hết lãnh thổ châu Âu ít nhất là trong vòng hai năm. Trong khi đó, quân Đồng minh, nhưng nước đã thất bại trong chiến tranh lại không hề tạo ra được một mối đe dọa trực tiếp nào, bộ tư lệnh quân Đồng minh, đặc biệt là Anh quốc, thì rất mong muốn có chiến thắng trong một trận đánh, để tăng nhuệ khí trong và ngoài nước.

Trong trận đánh Britain, vương quốc Anh đã huy động lực lượng cho quân đội, và đưa họ đến Anh để dự kiến đẩy lui cuộc xâm lược. Trong khi hầu hết các đơn vị đã quá muộn để trở thành một nhân tố, để ngăn chặn các cuộc tấn công của quân Đức, thì quân đội vẫn còn hữu dụng nếu họ cần thiết. Một trong những đơn vị đó, là sư đoàn Canada số 2. Họ đổ bọ vào Anh năm 1940, và được huấn luyện trong hai năm, nhưng vẫn chưa hề được tận mắt chứng kiến một trận chiến đấu nào. Quân lính thì bồn chồn, bệnh tật vì huấn luyện liên miên, và khẩu phần lương thực thì thiếu thốn.

Trong lúc này, có một sĩ quan trẻ nắm cương vị chỉ huy một lực lượng mới được gọi là Các Cuộc Hành quân Phối hợp. Đó là một người anh hùng trong trận đánh Crete tên là, Lord Louis Mountbatten, anh ta được giao phó triển khai các sứ mệnh, và thử nghiệm học thuyết đổ bộ mới. Liên hệ trực tiếp với các lực lượng lục quân, hải quân và không quân, nhưng ban tham mưu của Mountbatten thì lại không hề biết phải làm gì đối với các lực lượng này. Họ sẽ phải đổ bộ vào Pháp và chiếm giữ một hải cảng để quan sát xem có một cuộc xâm lược nào sẽ xảy ra ở đây? Họ sẽ tiến hành các nhiệm vụ khảo sát lực lượng để thử nghiệm hàng phòng thủ của Đức? Vấn đề thiếu một nhiệm vụ rõ ràng đã gây cản trở đến việc lập kế hoạch, làm cho lực lượng Các Cuộc Hành quân Phối hợp thiếu tin đến nhiệm vụ của chính mình. Mountbatten, vốn là một người rất sáng chói, nổi danh trước thời kỳ chiến tranh với tư cách là cháu trai của Nữ Hoàng Victoria, đã không hề muốn nhiệm vụ của mình bị thất bại.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #48  
Cũ 15-09-2010, 12:08
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Trận Dieppe ngày 19 tháng 8 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Lính Đức đang chờ đón quân Đồng minh


Có ba cuộc xung đột đã xảy ra tại hải cảng Dieppe bé nhỏ của Pháp. Với những trang thiết bị ở cảng có hạn, Dieppe là bến cảng nắm sát bờ biển nước Anh ở vùng Pas-de-Calais. Một điểm quan trọng là, khoảng cách của Dieppe từ các sân bay Anh. Những chiếc máy bay tiêm kích Anh có thể yểm trợ chiến dịch, mà không bị hết nhiên liệu sớm.

Cuối cùng lực lượng Các Cuộc Hành quân Phối hợp đã vạch ra một kế hoạch: Một lực lượng nhỏ, hầu hết là binh lính sư đoàn Canada số 2, cùng với thủy quân lục chiến Hoàng gia và 68 lính biệt kích Mỹ, tiến hành một trận Âu Mỹ đánh trên bộ, sẽ đánh chiếm Dieppe và giưc vững hải cảng này trong vòng 48 giờ. RAF sẽ giao chiến và tiêu diệt đối thủ Đức trên không trung, nhằm giảm bớt không quân Đức.


Ngay từ khi bắt đầu, lực lượng Các Cuộc Hành quân Phối hợp đã công bố kế hoạch tác chiến, và buộc các binh sĩ phải nghiêm chỉnh thi hành. Trong khi đó về mặt trinh sát của họ thì không đầy đủ, và không phát hiện ra được quy mô của những hàng phòng thủ Đức, bao gồm cả một bãi mìn dưới mặt nước, vô số súng bờ biển, các sân bay cùng với quân tiếp viện có thể tăng cường cho lính đồn trú trong thành phố. Luồng lạch chính của những chiếc E-boat, những chiếc tàu tuần tra của Đức được trang bị đại bác và thủy lôi, cũng không được lưu ý đến.


Khi hạm đội tấn công rời khỏi Anh, nó đã chụy thẳng vào một chiếc tàu tuần tra E-boat. Tàu Đức đã lập tức khai hỏa, bắn liên tiếp những luồng chéo cánh sẻ chí tử trúng vào rất nhiều con tàu của Đồng Minh. Thương vong xảy ra rất nhiều, ngay trước khi người lính đầu tiên đặt chân xuống được bờ biển Dieppe.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
tieuboingoan (04-03-2011)
  #49  
Cũ 15-09-2010, 12:09
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Trận Dieppe ngày 19 tháng 8 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Tù binh Canada bị lính Đức bắt dẫn đi dọc Dieppe

Sáng hôm đó, quân Đức đã tình cờ tổ chức được một trận đánh chống thâm nhập. Nhưng binh lính Canada, đã tiến vào khu đồn trú của Đức đã hoàn toàn tỉnh ngủ, và đã được vũ trang đầy đủ, và cuộc tàn sát bắt đầu. Vào hồi 9 giờ sáng, cuộc chiến thực sự kết thúc.
Thương vong của trận đánh xảy ra rất cao. Hơn 5000 binh sĩ Canada, 3,367 người bị thương, và hơn 1900 tù binh. Chín trăm binh sĩ tử vong. Tồi tệ hơn, lực lượng không quân hùng mạnh của Đồng Minh bị không quân Đức đánh cho tan tác. Hầu hết các trang thiết bị hạng nặng của Đồng minh phải phơi mình trên bãi biển.
Về sau, những người biện hộ cho Mountbatten đều mô tả Dieppe như là một trận đánh đắt giá, nhưng nó là một bài học quan trọng cho những cuộc đổ bộ Normandy. Vào thời gian này, những cuộc đổ bộ của Bắc Mỹ được tiến hành vào ngày 8 tháng 11 năm 1942, tàu đổ bộ chuyên dụng loại mới đã được trang bị cho các nhiệm vụ. Cuộc đột kích Dieppe đã cho những người lập kế hoạch của Chúa tể Đồng minh thấy kinh nghiệm rằng, muốn đổ bộ lên những bãi biển trống là cần phải cố gắng chiếm bằng được một bến cảng trước đó vài giờ.

Mountbatten đã nhận được khá nhiều lời chỉ trích, nhưng cuộc đột kích này xem ra như là một bài học cần thiết, để chuẩn bị cho những hành động thực tiễn hơn. Sau đó, anh ta chuyển sang chỉ huy các lực lượng Đồng minh ở Burma.
Trận Dieppe đã làm cho Đức nhận thấy rằng, quân Đồng minh sẽ chuẩn bị tấn công một bến cảng nào đó trong một trận đánh chiếm chủ yếu, và điều này có thể được rút kinh nghiệm trong các cuộc đổ bộ Normandy hai năm sau. Tại các cuộc đổ bộ đó, sư đoàn Canada số 2 đã được trả thù chính các đơn vị của Đức đã từng đánh họ thê thảm ở bãi biển Dieppe.

http://worldwar2database.com/
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
htienkenzo (15-09-2010), tieuboingoan (04-03-2011)
  #50  
Cũ 19-10-2010, 11:52
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Trận đánh El Alamein 2 tháng 7 - 4 tháng 11, 1942.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Trận đánh El Alamein 1942


Tướng Claude Auchinleck của quân đội Anh, đã gặp rất nhiều trở ngại bởi ông ta bị rút bớt binh lực và các phương tiện khí tài để hỗ trợ cho chiến dịch Hy Lạp, một chiến dịch bị chết yểu ngay từ đầu, và đã bị tổn thất toàn bộ những gì Anh quốc đạt được trong năm 1941 cho đến cuộc hành binh thần tốc của Rommel. Vào tháng 6 năm 1942, Auchinleck bị đánh bật về tuyến phòng thủ cuối cùng phía trước Alexandria: El Alamein là một thị trấn cách 65 dặm về phía tây, giáp với vùng trũng Qattara, một địa hình đối với xe tăng không thể vượt qua được. Ông ta bị cách chức và chuyển về hậu phương.

Rommel, theo sau quân Anh, cũng tiến đến tuyến El Alamein vào ngày 1 tháng 7 năm 1942. Quân đoàn Afrikakorps của Đức thì lại ở cách quá xa với đường tiếp tế của chúng, nên chúng không thể cố vượt qua được chiến tuyến này. Rommel đã thọc sâu thị trấn, và xây dựng một tuyến phòng thủ gồm mìn, súng chống tăng, xe tăng và bộ binh.
Khi viên tướng thay thế cho Auchinleck bị tử trận, Churchill đã bổ nhiệm trung tướng Bernard L. Montgomery lên nắm quyền chỉ huy đại đoàn Tám vào ngày 12 tháng 8 năm 1942. Trong tay ông ta là một đại đoàn hầu như đã hoàn toàn kiệt sức cùng với nhuệ khí chiến đấu không còn nữa. Ông ta khẳng định, El Alamein sẽ là một trận đánh quyết định nhất trong chiến tranh.
Với tính cách thận trọng, Montgomery đã tìm cách bồi đắp lại khí phách chiến đấu cho đại đoàn Tám của ông ta. Trong chờ đợi quân tiếp viện, nhất là lực lượng xe tăng của Mỹ, Montgomery đã cho huấn luyện lại quân sĩ của mình trong vòng hai tháng. Bộ tư lệnh tối cao của Anh và Churchill càng ngày càng mất kiên nhẫn, và họ đã khích lệ Montgomery tổ chức tấn công. Vào ngày 23 tháng 10 năm 1942, lần này Montgomery đã nắm bắt được cơ hội của mình cũng như hai năm sau đó ở Pháp, và bắt đầu tiến hành mở chiến dịch Lightfoot. Toàn bộ lực lượng quân đội của Liên HIệp Anh đồng loạt tấn công tuyến phòng thủ của Rommel, ngay sau bốn giờ đồng hồ oanh tạc liên tục bởi 1000 khẩu pháo cùng đồng loạt khạc đạn. Lính công binh đã bò trườn lên phía trước, tìm và gỡ mìn bằng tay để khai thông hai đường cửa mở cho xe tăng tiến qua bãi mìn.

Một trận đánh nhỏ được tiến hành để đánh lại quân đoàn Afrikakorps của Đức. Kế hoạch được chuyển sang hướng nam, khi quân đội Úc đã thâm nhập sâu vào trận địa Đức. Montgomery lập tức dàn đội hình của mình tại đây, và tổ chức tấn công địch vào ngày 2 tháng 11. Rommel cũng lập tức dùng xe tăng phản công, nhưng bịi thất bại nặng nề. Hitler liền gọi điện trực tiếp nói với Rommel rằng, ông ta cần phải trụ vững và chết tại El Alamein, nhưng ông ta bất tuân mệnh lệnh trên, và ra lệnh cho quân sĩ rút lui toàn bộ vào ngày 4 tháng 11. Bốn ngày sau, quân đội Mỹ bắt đầu đổ bộ bác Bắc Phi, và quân đoàn Afrikakorps cũng bắt đầu bị đẩy lui ra khỏi Bắc Phi. Những ngày tháng chiến đấu gian khổ đang đứng trước mặt cả hai bên chiến tuyến. El Alamein là một trận đánh cuối cùng về sự khắc nghiệt nhất trong chiến tranh đối với quân đội của Liên HIệp Anh. Sau đó, quân đội Mỹ đã bắt đầu góp phần lấy thế cân bằng quan trọng về sức người trang thiết khí tài cho cuộc chiến.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
LyMisaD88 (01-03-2011), tieuboingoan (04-03-2011)
  #51  
Cũ 01-03-2011, 13:49
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Malaya and Singapore 8 tháng 12 năm 1941 – 18 tháng 2 năm 1942

Malaya and Singapore 8 tháng 12 năm 1941 – 18 tháng 2 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Thủy thủ Anh rởi khỏi chiếc tàu chiến, 327 thủy thủ đã bị tử chiến trên chiến hạm Prince of Wales. Gần Kuantan, Pahang, Malaya. Ngày 10 tháng 12 năm 1941.


Để lập kế hoạch chiến tranh, Nhật Bản luôn thèm muốn các loại nguyên liệu của Malaya như mỏ thiếc và cao su. Trên quần đảo này rất giàu tài nguyên, và Java bên cạnh đó rất cần dầu mỏ. Mỹ đã ra lệnh cấm vận nên đã làm cho Nhật chỉ còn đủ dầu để sử dụng đến năm 1944, nếu giảm dùng loại nhiên liệu này.

Malaya vốn trở thành nạn nhân của các kình địch, lực lượng quân đội Anh được giao nhiệm vụ bảo vệ nguồn tài nguyên này. Họ có 88.000 quân sĩ cùng với súng 15-inch để bảo vệ "Gibraltar của phương Đông", nhưng họ lại thiếu thốn về tiếp tế, và chỉ có đạn chống tàu chiến và không thể chiến đấu trong các loại đường rừng nhiệt đới. 158 máy bay của RAF đang nằm trên các đường băng của quân đội Anh không có khả năng bảo vệ, và có rất nhiều trong số đó là loại máy bay hai tầng cánh đã lỗi thời. Bên hải quân thì hứa rằng, hạm đội hùng hậu của họ sẽ giải vây cho Singapore, nhưng họ lại ước tính rằng, cuộc chiến đó sẽ phải kéo dài trong sáu tháng. Khi đó, đạn dược chỉ đủ để bắn sáu ngày một lần nếu sự cứu viện quá muộn.

Lực lượng Anh bị tấn công ngay từ ngày đầu tiên của cuộc chiến, và cũng trong ngày đó có một cuộc đổ bộ được tiến hành. Tướng Arthur Percival của quân đội Anh vốn đã được thông báo là cần phải tổ chức ngay những tuyến phòng thủ, nhưng ông ta lại nghĩ rằng, vấn đề này sẽ trở nên tồi tệ cho nhuệ khí của quân sĩ. Một trong những sĩ quan tham mưu của ông ta trả lời rằng, "vấn đề lập các tuyến phòng thủ sẽ rất tồi tệ cho nhuệ khí của quân sĩ khi quân Nhật tràn lên đảo'. Do vậy, không có một hàng phòng thủ nào được thành lập phía hậu quân. Vào ngày 10 tháng 12 năm 1941, quân Nhật đã đánh chìm hai chiếc tàu chiến của Anh là Prince of Wales và Repulse. Hạm đội Anh liền được cử đến Singapore. Khi hạm đội này lên đường thì không hề có sự yểm trợ trên không, vậy là những chiếc oanh tạc cơ phóng ngư lôi và lực lượng trên mặt đất của Nhật đã đánh chìm nhiều chiến hạm, và làm cho 840 lính Anh bị tử thương. Sau đó Churchill đã phải viết lại rằng, đây là một cú sốc kinh khủng nhất mà ông ta đã gặp phải trong suốt cả cuộc chíến tranh.

Nhật có vốn quân số ít hơn ngay từ khi khởi động chiến dịch. Trung tướng Tomoyuki Yamashita của quân đội hoàng gia Nhật chỉ có 30.000 binh sĩ, nhưng ông ta có thuận lợi về máy bay và số lượng các trang thiết bị quân sự khác. Quân Nhật còn sử dụng chiến thuật quân sự giỏi hơn; họ tràn quân ra từ những khu rừng nhiệt đới thay vì đánh vào từ biển như các nhà hoạch định trước chiến tranh của Anh dự đoán.

Đến tháng giêng năm 1942, quân Nhật còn dùng cả xe đạp để tiến vào những con đường bùn đất nối liền giữa các khu rừng cao su. Xe tăng của quân Anh thì không thể chiến đấu được trong các khu rừng nhiệt đới, khi cuộc chiến mới nổ ra, họ chỉ xuất hiện được ở bên ngoài Singapore. Đến ngày 17 tháng hai năm 1942, tướng Percival buộc phải đầu hàng. ÔNg ta mang theo quốc kỳ Anh và cờ trắng để đầu hàng. Không giống như Wainwright, một người đang bị ghét bỏ bỗng trở thành một vị anh hùng, Percival thì không bao giờ được các đồng nghiệp của mình tha thứ, và ông ta phải sống với một vết nhơ vì đã làm mất Singapore trong suốt cả quãng đời còn lại của mình.

http://worldwar2database.com/
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
LyMisaD88 (01-03-2011), tieuboingoan (04-03-2011)
  #52  
Cũ 18-03-2011, 14:08
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Chiến dịch Torch 8, tháng 11 năm 1942

Chiến dịch Torch 8, tháng 11 năm 1942
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những chiếc tàu hộ tống của liên quân đang tiến về phía đông ranh giới với Casablanca.
Đại Tây Dương, tháng 11 năm 1942


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Chiếc USS Ranger trước chiến tranh. Đô đốc hải quân Ernedt J. King của Mỹ từng có mâu thuẫn với tướng chỉ huy chiến dịch Torch là Dwight D. Eisenhower. King cho rằng, trận chiến chủ yếu sẽ xảy ra tại Thái Bình Dương, và tỏ ra bực bội khi những chiếc tàu chiến được chuyển đến chiến trường châu Âu. Chiếc Ranger vận chuyển những chiếc máy bay yểm trợ cho cuộc đổ bộ
Nước Mỹ ngày 8 tháng 4 năm 1938

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Chiếc Wildcat F4F của hải quân Mỹ đang cất cánh từ chiếc hàng không mẫu hạm Ranger
Bắc Phi, ngày 8 tháng 11 năm 1942


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Quân đội Vichy của Pháp đã đánh trả lại vào ngày liên quân đổ bộ; trên một số bờ biển, nhưng cũng bị liên quân đánh trả dữ dội
Fedala Morocco ngày 8 tháng 11 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Dưới sự bảo hộ của lá cờ Mỹ, hy vọng quân đội Vichy của Pháp sẽ không bắn vào nó, lính Mỹ đang thận trọng đổ bộ vào bờ biển.
Algiers Ngày 8 tháng 11 năm1942
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #53  
Cũ 18-03-2011, 14:10
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Chiến dịch Torch 8, tháng 11 năm 1942




Hầu như cả năm, lực lượng quân đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được tăng cường thêm trang thiết bị và quân số từ các công xưởng và các trại huấn luyện. Mục đích của Roosevelt và Marshall – đã được tuyên bố tại hội nghị hiến chương Đại Tây Dương vào năm 1941 – là tiêu diệt những đội quân đầu tiên của Đức tiến vào. Nhưng quân đội Mỹ vẫn mới chỉ tồn tại trên giấy tờ như Churchill và Roosevelt đã ký kết vào tháng mười trên boong của chiếc USS Augusta. Không chỉ có người Mỹ cần thời gian để huấn luyện và trang bị quân đội của họ, mà trong trận Atlantic cần phải giành được thắng lợi để quân đội vượt được biển để giao chiến với quân địch.
Không phải tất cả các vấn đề đã được giải quyết khi Mỹ quyết định đưa quân đánh vào thuộc địa của Pháp ở bắc Phi vào năm 1942. Do Stalin không ngừng thúc ép cần phải mở một mặt trận thứ hai vào năm 1942, và với mong muốn tham gia chiến sự, Mỹ quyết định đổ bộ một lực lượng quân đội vào phía sau tuyến của quân đoàn Afrika Korps đã rút lui khi thất trận ở El Alamein.

Người Mỹ thì loan báo về sự nguy hiểm về những chiếc tàu ngầm U-boat của Đức sẽ tràn vào phá hoại đường biển của Anh, và chúng sẽ đưa những chiếc tàu hộ tống của mình vào tuyến ít phòng ngự nhất ở phía nam Đại Tây Dương. Trong một bước đi táo bạo, những chiếc tàu vận chuyển đã xếp quân và trang thiết bị lên tàu tại các hải cảng ở biền Đông được lệnh lên đường, rồi đưa quân và các trang thiết bị vào Morocco và Algeria.

Tướng Mark Clark của Mỹ có trách nhiệm đánh giá mức độ phản ứng của Pháp đối với sự xâm nhập của Mỹ. Đi vào bờ bằng tàu ngầm của Anh, một vài lần ông ta suýt bị của các đơn vị quân đội theo Vichy bắt giữ, nhưng ông ta cũng có được sự bảo đảm của đô đốc Jean Darlan trong chính phủ Vichy là Pháp sẽ không đánh trả. Nhưng Darlan thực sự không có quyền ra tuyên bố này, và bất luận thế nào, thì ông ta cũng đã bị ám sát ngay sau khi ký kết thỏa thuận ngừng bắn vào ngày 13 tháng 11.

Khi Mỹ và Anh đã đổ bộ quân lính vào một số nơi, bao gồm Casablanca, Oran, Tangiers và những nơi khác, phản ứng của chính quyền thực dân Pháp lại thay đổi. Tại Oran, chiếc tàu chiến USS Massachusett đã phải đọ pháo với chiếc tàu chiến Jean Bart của Pháp. Trong trận đấu pháo đó, chiếc Jean Bart đang neo đậu tại cảng, đã chiếc Massachusett đánh cho tê liệt, và nó không được sửa chữa lại cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Chiến dịch lớn đầu tiên của liên quân Anh - Mỹ trong chiến tranh này, là do Dwight D. Eisenhower chỉ huy từ căn cứ của ông ta tại Gibraltar. Khi chiến dịch thắng lợi, những ngày tháng chiến đấu gian khổ với quân Đức vẫn còn tiếp tục, và nó sẽ là một phép thử đối với liên quân Anh - Mỹ, và cả với quân đội Mỹ.

Cái giá mà Vichy đã kháng cự rất ngoan cố là, Mỹ có 556 người bị chết và 837 người bị thương. Hàng trăm lính Anh và 700 lính Pháp bị tử trận.



http://worldwar2database.com/html/torch.htm
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #54  
Cũ 30-03-2011, 11:41
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Trận Guadalcanal từ ngày 7 tháng 8 năm 1942 – Tháng 2 năm 1943

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 của Mỹ đổ bổ vào Lunga
Guadalcanal, quần đảo Solomon ngày 7 tháng 8 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những người lính thủy quân lục chiếc thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn thủy quân lục chiến số 8, sư đoàn thuỷ quân lục chiến số 1, đang đợi để tiến vào những vị trí mà quân đội Mỹ đã chiếm trên bờ đông sông Matanikau, để tấn công vào phía khác của quân Nhật.
Guadalcanal, quần đảo Solomon ngày 23 tháng 11 năm 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những người lính súng trường thuộc tiểu đoàn 3, trung đoàn 1, sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 đang hành quân đến các vị trí bên sông Matanikau, để đánh chặn đợt phản công của Nhật có thể xảy ra vào đêm hôm đó
Guadalcanal, quần đảo Solomon ngày 19 tháng 10 năm 1942


Tháng bảy năm 1942, các bên tham chiến tại Thái Bình Dương đã lâm vào thế bí tắc. Nhật thì tiến quân một cách chậm chạp tại Midway, nhưng chúng đã nắm giữ được một lợi thế và chiến thuật tạm thời. Nimitz biết rằng, ông ta không thể duy trì được thế tiến quân ít nhất là vào năm sau. Cũng tương tự như vậy, Yamamoto cũng không muốn tiến quân vào Úc hoặc Hawaii
Trong tháng này, hải quân Nhật Hoàng bắt đầu xây dựng một đường băng nhỏ trên quần đảo Solomon của Anh trước đây, lúc này Nhật đã chiếm giữ được quần đảo này. Guadalcanal vốn là một hòn đảo có chiều dài 90 dặm kéo về phía nam. Hòn đảo này nằm sát với Tulagi, một hòn đảo nhỏ hơn và có một căn cứ của thủy phi cơ.

Các bức ảnh trinh sát đã xác định được vị trí của công trình xây dựng này, vậy là một quyết định được đưa ra để chiếm lại bằng được căn cứ đó. Trong tay quân Nhật có một sân bay, đây là điểm mấu chốt để tiến hành đánh phá hơn là chiếm giữ căn cứ lâu dài. MacArthur lúc này đã trở thành trụ cột của New Guinea, và được cho là một cánh quân có lợi thế quân sự chính. Ông ta được nhận sự chia sẻ về quân số, khí tài, và đạn dược từ các cánh quân khác.

Chỉ với chiến hạm hộ tống USS Long Island có nhiệm yểm trợ trên không, sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 của Mỹ đã lên tàu ở Virginia và đổ quân vào Úc, sau đó sư đoàn này lại được vận chuyển và đổ bộ xuống Tulagi và Guadalcanal vào ngày 7 tháng 8 năm 1942. Đây vốn là một chiến dịch thủy quân lục chiến lớn trong lịch sử cho đến ngày nay. Một chiếc tiêm kích thuộc hải quân Nhât Bản đã bay trên đường băng và thông báo về cuộc đổ bộ này. Vào lúc sẩm tối, tất cả 12.000 quân sĩ đã đổ bộ được vào bờ biển, nhưng vẫn còn rất nhiều trang bị khí tài của họ còn lại trên boong tàu. Sáng sớm hôm sau, chuẩn đô đốc hải quân Nhật Hoàng là Gunichi Mikawa đã tràn quân khắp bờ nam đảo Savo và rải xuống tận phía tây Tulagi. Ông ta đã đánh đắm và làm hự hại bốn chiếc tuần dương hạm hạng nặng của Mỹ, đó là HAMS Canberra, USS Quincy, USS Astoria, và USS Chicago. Đây là trận đầu đánh nhau tại đảo Savo, và cũng là một dấu ấn để dẫn đến các cuộc giao tranh quyết liệt kéo dài trong ba tháng. Cuối cùng, các chiến sĩ tử nạn trên biển nhiều hơn cả trên Guadalcanal.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #55  
Cũ 30-03-2011, 11:43
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default Trận Guadalcanal từ ngày 7 tháng 8 năm 1942 – Tháng 2 năm 1943

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Trại lính xung quanh chiến trường Henderson có thể sẽ bị ngập nước sau trận mưa rào.
Guadalcanal, quần đảo Solomon 1942

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những người lính thuộc sư đoàn thủy quân lục chiến số 1 của Mỹ đang dùng bích kích pháo M1A1 75mm giáng trả quân Nhật
Guadalcanal, quần đảo Solomon tháng 8 năm 1942


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Những bin lích thuộc phân đội Ichiki của Nhật đã bị sũng máy bắn chết trong trận đánh bên sông Tenaru.
Guadalcanal, quần đảo Solomon Ngày 22 tháng 8 năm 1942


Nếu cả hai bên không có chiến lược lâu dài, thì Guadalcanal trở thành một cuộc thử nghiệm thực sự của thế chủ động. Mỗi bên giao tranh đều tổn thất 23 tàu chiến trong vòng bốn tháng. Nhật Bản không thể có khả năng thay thế lại để bù đắp cho sự tổn thất này, trong khi đó thì phía Mỹ lại có thể trang bị lại đầy đủ. Trong chiến dịch Guadalcanal này là kết quả của sự tuyên bố chiến tranh của Mỹ.


Trong hàng loạt các trận đánh dọc theo vành đai sân bay, đầu tiên là phân đội của đại tá Kyono Ickichi và sau đó là phân đội của Kawaguchi bị tiêu diệt hoàn toàn. Nhật Bản đã đánh giá thấp về số lượng các lực lực lượng liên quân trên đảo. Tuy nhiên, lực lượng thủy quân lục chiến không đủ để đánh trên khắp vành đai. Các đơn vị lục quân của Mỹ trong tháng mười 1942, đã phải điều thêm để củng cố cho lực lượng thủy quân lục chiến.

Đầu tháng 9, một lực lượng không quân khá lớn, được gọi là Lực Lượng Không Quân - Cây Xương Rồng. Lực lượng này hoạt động trên một đường băng mang tên thiếu tá thủy quân lục chiến Lofton C. Henderson, viên thiếu tá này đa bị tử trận trong trận chiến Midway. Các loại máy bay thuộc thủy quân và lục quân đều tham chiến cùng với những chiếc máy bay chiến đấu của thủy quân lục chiến. Hiệu quả của không lực đã tác động ngay lập tức đối với quân Nhật. Trong khi đó, có thêm nhiều nỗ lực để củng cố cho những người bảo vệ Guadalcanal đã được đưa ra, những chuyến vận tải hạng nặng vào ban ngày được chuyển sang bằng những cuộc đổ bộ ban đêm, bằng những chiếc tàu khu trục tốc độ cao và tàu ngầm
Nhưng không thể cung cấp 20.000 binh lính cho các nhiệm vụ chiến đấu bằng tàu khu trục và tàu ngậm được. Vào tháng 11 năm 1942, cả hai bên đều không có những chiếc vận tải hoạt động và thành lập các nhóm chiến đấu xung quanh chiến hạm. Thật không may cho phía Nhật Bản, các chiến hạm Mỹ đều là loại mới và hiện đại, còn của Nhật thì chỉ là những loại chiến hạm cũ từ thời thế chiến thứ nhất. Trong hàng loạt các cuộc giao tranh vào ban đêm, người Mỹ đã đánh chìm hai chiếc tàu chiến và làm hư hại nặng một số tàu khu trục của Nhật.

Quân đội Nhật Bản phải rỏi bỏ Guadalcanal vào tháng 12, và hòn đảo này được tuyên bố an toàn vào tháng 2 năm 1943. Trong chiến dịch này, có 1500 lính Mỹ và 25.000 lính Nhật bị tử vong trên đảo, và số lượng bị chết trên biển còn nhiều hơn rất nhiều. Chiến dịch Solomons vấn còn tiếp diễn cho đến tận cuối cuộc chiến tranh, những với trận Guadalcanal, thì người Mỹ đã có một căn cứ để dành lại sự kiểm soát trên toàn bộ quần đảo Solomon.

http://worldwar2database.com
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Blitzkrieg – Game chiến thuật hay nhất về Chiến tranh thế giới lần thứ 2 phuongnn Các chủ đề khác 98 18-02-2012 12:55


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:02.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.