|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
30/4-1975 – Kharcov
Buổi chiều, lên giảng đường nghe lekxi như thường lệ. Thày vừa vào lớp đã nói: - Tất cả SV Việt nam đứng dậy. cả bọn chưa kíp hiểu ngô khoai - Chúc mừng các em, Sài gòn vừa được giải phóng. Các em hãy ra về - ăn mừng. ( Chúng tôi hơi bất ngờ vì tin tức trong nước được cập nhật tối hôm trước qua Đài TNVN chưa thấy giải phóng thêm tỉnh nào, các nhà phân tích – bình luận “vườn” đều khẳng định: Nhanh nhất là 19/5 ) Và giờ phút đó thật tuyệt vời làm sao. Nhào đến chúc mừng là các bạn Cu ba, Châu phi…rồi các bạn LX và các nước khác. Cả giảng đường ồn ào cho tới khi chúng tôi rời khỏi.. Trên đường đi bộ về ob. ( từ Sumskaya tới Artioma ) chúng tôi còn được bắt tay bao người đi đường nữa và bỗng nhớ về quê hương…Nhớ về những làng quê nghèo không có đàn ông, những mái trường bằng tranh tre xung quanh là hào công sự….Nhớ về con đường 1 đổ nát, phương tiện, máy móc bị bom hất vung vãi, mặt đường đầy dầu nhớt và máu người…Nhớ về những người bạn học ra trận đã lâu không còn nghe tin tức…các bạn ơi, mọi người ơi, chúng tôi thay mặt mọi người đón nhận những lời chúc mừng của bạn bè đây. Rồi lại nghĩ đến những người nhiều năm không dám nhận mình là người Việt nam, luôn sợ người ta chê là nghèo, hèn.. 35 năm đã qua, thế hệ chúng tôi đã biết các từ: sơ tán, bom đạn, chiến tranh..rồi tem phiếu, giá - lương - tiền, bao cấp …rồi mở cửa, xuất khẩu, đổi mới…Hôm nay, kể chuyện xưa cho lứa 8x, 9x chúng chê: “lại chuyện ngày xưa..” Nhưng các bạn ơi: “Để có ngày hôm nay, cả dân tộc đã phải trả một giá rất đắt”. |
| Có 14 thành viên gửi lời cảm ơn micha53 cho bài viết trên: | ||
anka (30-04-2010), degiocuondi (02-05-2010), doibo (30-06-2010), duc68 (04-07-2010), hongducanh (30-04-2010), hungmgmi (02-05-2010), hzan_91 (30-04-2010), linh1988 (29-06-2010), LyMisaD88 (30-04-2010), MIG21bis (28-06-2010), ngocbaoruss (30-04-2010), сирень (02-05-2010), sad angel (08-09-2010), Siren (30-06-2010) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
cảm ơn bác Micha53, cháu thuộc thế hệ 9x đây ạ! Nhưng nếu được nghe bác kể về những câu chuyện lúc trước thì cháu không chê "lại chuyện ngày xưa " đâu, ngược lại còn rất thích thú. Dân tộc ta đã trải qua những năm tháng đấu tranh gian khổ để có được hòa bình độc lập như hôm nay. Thế hệ chúng cháu không dám quên và cũng không bao giờ quên công lao của các bậc cha anh đi trước đâu ạ!
__________________
L'amour |
|
#3
|
||||
|
||||
|
Ngày này năm ngoái mình đang ở Saint, ký ức còn chưa xa, như mới của ngày hôm qua, những ngày đó vì chỉ có vài ngày nghỉ để đi chơi nên suốt cả tuần lễ cứ mải miết đi hết những con đường ở Saint, đi như từng được đi, đi như sợ ai cướp mất phần, đi như sợ không ngắm hết những cảnh đẹp nơi đây... Sông Nheva thật đẹp, một đêm trăng trong rừng, những rung động nhỏ nhỏ, hoàng hôn đỏ rực trên sông....tất cả như một giấc mơ, một năm trôi qua..vẫn nhớ da diết mười ngày ngắn ngủi đó...
|
|
#4
|
||||
|
||||
|
Tháng 7-1974 – Coi Giải vô địch bóng đá thế giới.
Chúng tôi qua LX cuối thu 1970 khi mà giải BĐTG đã khép lại, chỉ còn dư âm và lời bàn tán của lứa đàn anh, vì vậy mà thật háo hức đón chờ giải lần thứ 10 tổ chức tại Tây Đức. Khi đó giải chỉ có 16 đội và còn thể thức thi đấu cũ ( 8 đội qua vòng 1 sẽ được chia tiếp thành 2 bảng ở vòng 2, nhất nhì đấu chéo tranh vô địch.). Ngày xưa, tại KTX, TV chỉ đặt ở “Góc đỏ “, SV cũng như người dân Liên xô cũng không quá cuồng nhiệt với WC khi mà đội Khúc côn cầu của họ “làm mưa làm gió” trên thế giới. Vì vậy mấy chiến sĩ Việt góp tiền thuê luôn cái TV màu 55cm về phòng coi. SV Việt nam cũng như phần lớn SV các nước ủng hộ các đội XHCN: Đông Đức, Balan và cả Nam tư nữa. Cho đến bây giờ nhiều kí ức vẫn không thể quên được: 1 – Bình luận viên Николай Озеров, sôi nổi, sâu sắc, dễ hiểu… và có một thời BLV Trần tiến Đức cũng được gọi là "Ozepov Việt nam". 2 - Sự suất sắc của đội Balan với các cái tên như: DEYNA; LATO…và trong trận đối đầu với Đội Tây Đức ở vòng 2, nếu không có trận mưa lịch sử thì không biết Đức có thắng được không? Năm đó BL hạ Brazil giành Huy chương Đồng. 3- Đội Đông Đức cũng không đến nỗi tệ khi thắng Tây Đức ở vòng 1 ( tuy rằng nhiều người nói rằng Tây Đức cố tình né Bảng A ở vòng 2 ) 4- Đội Hà lan lần đầu tiên trình diện “летающие голландцы” với sự dẫn dắt của Johan CRUYFF. Khi coi đội này đá, ta có cảm giác như sân cỏ màu da cam. 5 - Đội Tây Đức vô địch với đầy đủ Thiên thời ( mưa đúng lúc ); Địa lợi ( sân nhà ) và Nhân hòa ( với các tên tuổi như BECKENBAUER, MUELLER ..) Thật thú vị là 36 năm sau, đội tuyển Đức cũng có cầu thủ tên là MUELLER khoác áo số 13 |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn micha53 cho bài viết trên: | ||
|
#5
|
|||
|
|||
|
Bác kể chuyện xem bóng đá thế giới làm em cũng muốn góp một câu chuyện về bóng đá nhưng vào năm 1986. Năm đó tổ chức tại Mexico và đội Đức Á quân với trận thua Argentina.
Gào khỏe nhất khi cổ động bóng đá là mấy chú Ả rập và mấy chú châu Phi. Trong khách sạn bọn em ở lại phân chia ra làm hai ban bay, một ban ca sáng một ban ca chiều. Mùa bóng đá tháng 6 lại đúng là mùa bay đang vào thời kỳ cao điểm. Nhà trường cấm phi công xem đá bóng trong ngày làm việc vì sợ ban này xem ban kia ngủ gào thét làm mất giấc ngủ của nhau. Các đoàn trưởng cùng kiến nghị với trường cho phép xem và đều hứa hẹn là không gào to ảnh hưởng tới nhau. Vậy mà đâu có được duyệt. Tóm lại là vẫn cấm xem. Một đêm em đang ngủ có tiếng gõ cửa. Bọn em ở chung khách sạn với mấy chục nước XHCN anh em mà ! hihihi ! Một chú Ả bạn thân em thò cổ vào thì thào" Mày ra ngoài này với tao " Mắt nhắm mắt mở em ra với nó xem nó nhờ cái gì. Hóa ra là nó vần cái Tivi to tướng nặng trịch chuyên đặt ở " Góc đỏ " ở tầng em ra tận ngoài ban công. Nó nhờ em nâng hộ qua thành ban công ném xuống đất ( Đoàn VN và đoàn Ả ở tầng 5 ). Sẵn ghét vụ cấm xem tivi và cũng đang mắt nhắm mắt mở em cùng nó hò dô thả luôn quả tivi Liên xô to cụ xuống. Chả biết nó nổ hay là chỉ va cham vói sàn bê tông thôi mà nó kêu rầm một tiếng nghe như bom. Cũng là tưởng tượng thế thôi chứ đi bém bom có nghe được bom nó nổ thế nào đâu. Hai thằng chạy biến về phòng nó ngồi cài cửa vào thì thào với nhau. Tự nhiên em thấy nó đeo cái găng tay bay bằng da. Em hỏi nó, nó bảo tao sợ để lại vân tay. Em nhìn xuống tay mình trống trơn chả đeo gì . Tự nhiên sợ ! Trong đầu cứ nghĩ đến cảnh quân pháp Nga xuống điều tra lấy vân tay trên tivi thì mình chết. Vậy mà chả sao cả vì ngoài em với chú Ả kia không ai biết. Vụ việc sau đó chìm xuồng. Giờ nghĩ lại thấy đúng là một lũ trẻ ranh mặc quân phục nên làm bậy. Nước Nga cho ăn, cho mặc, cho học vậy mà còn bầy trò phá phách họ đúng là chả ra làm sao. May mà vụ đó không bị túm. Nếu bị chắc là giờ em chả còn hứng thu với cái tên nick Mig21bis nữa ! |
|
#6
|
||||
|
||||
|
Trích:
![]() Nó đây đúng không bác? Tình cờ bác có biết bác Tuấn "phi công", giờ làm trên Sóc Sơn không?
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Thực ra tớ chả nhận ra là tớ đã phá hoại loại nào đâu. Nhưng chắc chắn là na ná cái tivi bác đưa ra làm tang chứng vật chứng thế này. Cùng chủng loại này thôi vì hồi đó chưa có loại .....màn hình tinh thể lỏng. He he he
Trên Sóc sơn phi công nhiều lắm ! Thế hệ tớ hiện còn bay là Trung " bột " Sư trưởng 371 vào cùng Mai lĩnh với tớ. Bác Tú Sư phó là đàn anh. Còn Thảo lên thay Vinh trung đoàn trưởng vừa hy sinh khi bay tập hồi tháng 11 năm ngoái ( 12/11/1009) cùng đoàn bay với tớ ở Liên xô. Phi công Mig học Nga về cũng không nhiều lắm, nên nếu không biết mặt cũng nghe tên nhau. Thế bác Tuấn đó có tham gia diễn đàn này không bác ! Nếu có thì bác giới thiệu hộ nick bác nhé ! Cám ơn bác ! |
|
#8
|
||||
|
||||
|
Bác Tuấn em quen trước học Gagarin, nguyên sư trưởng 371, giờ đã rút về quân chủng rồi bác ah.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Trích:
Trong học viện có Viện bảo tàng không quân lớn lắm và có nhiều loại máy bay chưa hề đưa ra ngoài vì đang ở giai đoạn thử nghiệm. Hồi đó nhìn mê lắm còn giờ xem ảnh trên mạng mấy chiếc đó chả ăn thua gì . Mấy hôm nay lúc lọi trong 3N nhiều chủ đề thú vị nên bỏ bê hết công việc ! Chắc là sẽ tìm được nhiều người quen cũ ở nước Nga thông qua 3N. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Siren (29-06-2010) | ||
|
#10
|
||||
|
||||
|
Bác MIG21bis học ở Krasnodar hay ở đâu thế ạ?
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
|
#11
|
|||
|
|||
|
Em học Krasnodar bác ạ ! Nhưng thực ra em bay lung tung mỗi vùng một năm chứ không được bay chuyên ở Kras như bọn học Su 22. Dù sao thì chỗ Aviagorodoc có cái máy bay to tướng ở cổng vẫn là trường chính của chúng em.
Vậy ra bác cũng biết ạ ! Cũng là học phản lực nhưng học Mig 21bis và Su 22 thì học ở đó còn các loại cánh quạt và Mig 21 kém hiện đại hơn thì học ở trường Phờ run gie tận vùng trung Á cơ bác ạ. Dù chúng em cùng là đi từ trường dự bị bay Mai lĩnh cả. Em lính mới vào 3 N có gì bác chỉ giáo nhé ! |
|
#12
|
||||
|
||||
|
Năm 87 tớ có nghe 1 em gốc Krasnodar kể chuyện về học viên VN tại trường bay đã hy sinh khi luyện tập để cứu 1 trường học. Dân làng có dựng Đài kỉ niệm chiến sĩ VN này.
Không biết thực hư thế nào? |
|
#13
|
|||
|
|||
|
Trích:
Nghe các đời trước kể lại là anh đó cho máy bay đâm tránh khu nhà ( nghe bảo là vườn trẻ) nên không kịp nhảy dù. Dân địa phương khi đó thương lắm và em bay ở đó môt thời gian cũng được thơm lây. Khi bọn em sang thì hài cốt cũng được quân đội đưa về rồi bác ạ. |
|
#14
|
||||
|
||||
|
Báo Nga viết về việc đào tạo phi công VN lái MIG ở Krasnodar như sau các bác:
Высокие достижения товарищей мадьяр вполне обоснованы, почти все курсанты уже прошли летную подготовку на родине в авиационно-спортивных клубах, в то время большинство вьетнамцев впервые в жизни увидели самолет и совершенно не понимали зачем стальной птице крылья, которые не машут в полете. Не удивительно, что советские наставники общению с азиатами предпочитали обучение венгров. На уровне подготовки вьетнамцев отразились и сроки - их пришлось сжимать, так как в 60-е годы боевые действия во Вьетнаме принимала все большие масштабы. После изучения основ русского языка осенью 1960 г. курсанты приступили к изучению теоретических дисциплин, всего порядка 20 предметов: устройство самолета, устройство двигателя, прочность, теория полета, основы радиоэлектроники, авиационная метеорология, тактика боевого применения истребительной авиации, воздушная навигация и т.д. Осень и зиму отвели под теорию и наземную подготовку, весна и лето идеально подходили для обучения технике пилотирования. В апреле 1961 г. вьетнамцы приступили к полетам с инструктором на самолете Як-18 на полевом аэродроме Батайск, а в сентябре они летали на МиГ-15УТИ и МиГ-17 с аэродрома Кущевская. До конца года курсанты налетали на Як-18А в среднем по 150 ч, на реактивной технике - по 100 ч. Взлет с аэродрома Кущевская производился с бетонной полосы, посадка - на грунт, для увеличения срока службы пневматиков реактивных самолетов. Полеты, как правило, начинались в 6 ч утра и завершались к полудню, когда обычно завершалось формирование мощной кучевой облачности. Курсанты летали только в дневные часы и только в простых метеоусловиях. Вьетнамцы имели преимущества перед курсантами других национальностей - им требовалось в среднем в два раза больше вывозных перед первым самостоятельным вылетом. Большой проблемой стал переход с поршневого Як-18 на реактивный МиГ-15УТИ. В ходе обучения часто случались ошибки, особенно - на посадке, для вьетнамцев чересчур часто полоса оказывалась слишком «короткой» из-за позднего касания колесами земли. Если подобную ошибку совершал кубинец или венгр, то его на несколько дней отстраняли от полетов, у вьетнамцев перерыва в полетах не было, им требовалось как можно скорее вернуться на родину, чтобы принять участие в боях. Летная подготовка включала выполнение простых фигур пилотажа, полеты по маршруту, упрощенные воздушные бои, имитацию атак воздушных и наземных целей - все днем и в простых метеоусловиях. Практические стрельбы выполнялись один-два раза в год на самолетах МиГ-15УТИ или МиГ-17, для стрельб на каждого курсанта выделялось по 30 снарядов на ствол. Помимо полетов курсанты дважды в год прыгали с парашютом с самолета Ан-2 и один раз «выстреливались» из катапульты ослабленным пороховым зарядом на имитаторе, кроме того инструктор по парашютно-десантной подготовке наглядно демонстрировал над аэродромом реальное катапультирование из специально модернизированного самолета МиГ-15. Ежедневно в Краснодаре все курсанты, назначенные в этот день в полеты, проходили медицинское освидетельствование. Для вьетнамцев медики не представляли особой угрозы. Верные «хошиминцы» вели здоровый образ жизни: ни сигарет, пива, водки с салом и уж тем более - никаких казачек в свободной от учебы время! Некоторую конфронтацию с русскими вызвала установка вьетнамских политработников, надзиравших за своими подопечными, на всемерное и всестороннее изучение трудов Мао, с Китаем Союз в те времена находился в больших «контрах». Вьетнамцы всегда питали к Китаю больший пиетет, чем к Советскому Союзу, так подготовка высшего командного состава вооруженных сил ДРВ в большинстве своем велась не в Москве, а в китайских военных академиях. Курсанты набора 1962 г. изучали теорию в Батайске, а осваивали Як-18 в Приморско-Ахтарске, затем учились летать на реактивных МиГ-15УТИ и МиГ-17 в Кущевской. Об этом периоде по сей день ходит много историй, связанных с вьетнамскими курсантами. Вот одна из них. Русский инструктор ушел в полет вместе с вьетнамцем. Предварительно все детали полета обсудили на земле и отработали на моделях методом «пеший по летному». Сразу после взлета МиГ-15УТИ курсант набрал высоту 1500 м, хотя полетное задание предусматривало эшелон в 500 м. Инструктор приказал проверить высоту. «Есть, товарищ капитан!»- бодро прозвучал ответ. Самолет продолжал лететь на высоте 1500 м. «Товарищ капитан» взял управление на себя и сбросил лишний километр высоты, после чего приказал вьетнамцу считать показания прибора: «Как и было - 500 метров, товарищ капитан». Альтиметр на МиГ-15УТИ имел две шкалы, большую, отградуированную в диапазоне от нуля до тысячи метров и малую, которая отсчитывало только километры. Вьетнамец смотрел только на большую шкалу, на которой стрелка действительно будет показывать 500 метров хоть на 500 м, хоть на 10 500 м. Можно, конечно, посмеяться над тупым азиатом, однако неслабые претензии в данном случае можно предъявить продвинутому выпускнику кафедры авиационного приборостроения МАИ, которые спроектировал сей прибор, совершенно не думая об особенностях психологии летчика. Удачные, смешные и печальные примеры из практики вьетнамских курсантов советские инструкторы широко использовались при обучении новичков всех национальностей. В первые шесть месяцев 1962 г. в Краснодар прибыло несколько вьетнамцев для обучения полетов на самом современном тогда советском истребителе МиГ-21. Сверхзвуковой МиГ-21 предъявлял к летчику куда более жесткие требования, чем дозвуковой МиГ-17. Идеальным пилотом считался физически крепкий летчик в возрасте 18-20 лет, скорее высокого, чем среднего роста. Средний вьетнамец представлял собой полную противоположность - низкорослый по европейским меркам, с малым весом и недостаточно накаченный. Нередко вес кандидата в пилоты был меньше минимальной массы летчика, необходимой для нормального срабатывания катапульты. Недостаток физической силы затруднял управление самолетом. В ходе освоения МиГ-21 перед вьетнамцами встал ряд объективно трудноразрешимых проблем, которые в отдельных случаях стали фатальными. Голова летчика оказывалась намного ниже линии прицеливания, а ноги не доставали до педалей. При перегрузках в 5-7G курсанты полностью теряли способность управлять истребителем, их ошибки приходилось исправлять сидящему во второй кабине спарки МиГ-21 инструктору. МиГ-21 проектировался как чистый перехватчик, однако в ходе подготовки вьетнамцев упор сделали на поражение наземных целей. Большое внимание уделялось практическим пускам 57-мм неуправляемых ракет по наземным мишеням из подвешенных на пилонах блоков НАРУБ-16-57. В 1966 г. в программе обучения произошли существенные изменения: на смену поршневым Як-18 пришли реактивные самолеты L-29 «Дельфин» чешского производства. Курсантам требовалось налетать на них 80 ч, прежде чем начать освоение МиГ-15УТИ и МИГ-17. Программа предусматривала 40-часовой налет на МиГах-15/17. Завершался курс обучения на аэродроме Краснодар, где курсанты налетывали еще 40 часов на спарке МиГ-21УС и боевом МиГ-21 ПФМ. Первая вьетнамская группа курсантов завершила такой курс в 1968 г., эта же группа первой практиковала полеты ночью - 10 часов на L-29, Ю-12 на МиГ-15/17 и 8-10 на МиГ-21. Некоторые вьетнамцы из числа тех, что прибыли научиться летать на МиГ-21, уже освоили в Китае МиГ-17. Им не требовалось изучать «Дельфины» или МиГи-15/17. Этих летчиков сразу сажали в кабину МиГ-21. Из прибывших 40 курсантов к концу обучения осталось 20. Всего через шесть месяцев восемь человек из этих 20 сложат головы в небе своей родины. Программа первоначального обучения на «Дельфинах» была более сложной и насыщенной, по сравнению с программой обучения на Як-18 и включала элементы высшего пилотажа, пролеты на минимальной эволютивной скорости и штопор. Неудивительно, что с эти самолетом связано несколько инцидентов. Случались посадки с неработающим двигателем, пожары двигателя в полете, посадки с горящим двигателем. Один вьетнамский курсант в первом самостоятельном вылете на L-29 не справился с управлением и врезался в жилой дом Приморско-Ахтарска. Курсант погиб. Когда в 1972 г. резко возросла интенсивность воздушной войны в небе Вьетнама всех курсантов-вьетнамцев отозвали на Родину еще до завершения полного курса обучения на L-29/МиГ-15УТИ/МиГ-21УС/ Миг-21ПФМ. Следующая группа из Ханоя прибыла в Краснодар уже после заключения в 1974 г. Парижских соглашений по Индокитаю. http://wunderwaffe.narod.ru/Magazine/AirWar/16/05.htm
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#15
|
||||
|
||||
|
Còn đây ảnh chụp vụ tai nạn máy bay đó:
![]() В начале 70-х годов вьетнамский курсант не справился с управлением "Дельфина" и протаранил при заходе на посадку жилой дом в городе Приморско-Ахтарск, летчик погиб в своем первом и последнем самостоятельном полете http://www.nhat-nam.ru/phpBB2/viewtopic.php?t=1077
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#16
|
|||
|
|||
|
Tôi vừa đọc xong đoạn Bác Hùng vừa gửi và cũng ngắm nghía cái ảnh.
Nhìn cái ảnh đó thấy bâc đàn anh hy sinh không được đẹp như những gì chúng tôi thấy trong phòng truyền thống của không quân. Có lẽ nó thật hơn và đây là ảnh kiểu thời sự , không dùng để truyền. Đúng là thời đó những ảnh này nhà trường không cho chúng tôi xem cũng là đúng thôi. Có thể tất cả lú́c đó cần một hình ảnh đẹp của Không quân nhân dân Việt nam đánh đế quốc Mỹ. Cám ơn bác Hùng đã mở ra những điều được giấu kín mà chúng tôi có lẽ sẽ không bao giờ biết nếu không có Nét. Có những việc thế hệ sau được " mặc định " là thế và không tìm hiểu thêm nữa ngoài những gì những bậc cha anh nói cho mình. Đoàn trưởng của tôi lúc đầu là chú Đoàn Thanh Cần thuộc phi đội bay đêm cùng Phạm Tuân. Tới năm cuối bay Mig đoàn trưởng là chú Vũ ĐÌnh Rạng , phi đội trưởng đánh đêm của Pham Tuân và chú cũng là phi công đầu tiên bắn trúng B52. Chiếc này bị thưong hạ cánh ở Utapao Thái lan. Chuyện về không quân thì cũng nhiều giai thoại vui vui bác Hùng ạ ! Chả biết có nên viết vài việc lạ lạ lên cho bà con xem chơi không bác. |
|
#17
|
|||
|
|||
|
@ Gửi bác Hùng !
Báo Nga viết về việc đào tạo phi công VN lái MIG ở Krasnodar.... Xem đoạn trên bằng tiếng Nga tôi mới thấy khái quát quá trình đào tạo phi công Việt nam tại Liên xô. Vào những năm 80 chúng tôi sang học thì chắc một vài thay đổi. Vẫn là bay huấn luyện trên L 39 " Cá heo " đó nhưng học về thuật lái cao cấp nhiều hơn và kỹ hơn lớp đàn anh.Thậm trí là có cả bay bắn và ném bom U ở trường bắn của khối Vacsava. Có thể là do tình năng của L39 cho phép thực hiện nhiều động tác kỹ thuật tốt hơn L29 hoặc các loại máy bay huấn luyện khác. Sau đó chuyển loại lên Mig 21 bis học thuật lái ít hơn chủ yếu là thuật lái đơn giản và bay điều kiện thời tiết bình thường. Tốt nghiệp xong thành phi công không số. Để trở thành phi công thực thụ trực chiến được thì phải vào sân bay Phù cát bay năng cao ít nhất 1 năm mới về trung đoàn chiến đấu. Cũng lắm gian nan lắm bác Hùng ạ ! Đào tạo kiểu thời chiến gấp quá nên hy sinh nhiều lắm. Thế hệ sau này bay khá hơn và cũng ít tai nạn hơn. Trường không quân Nha trang cũng đào tạo ra phi công chất lượng không kém lứa đi học ở Nga dù số giờ bay thường là chỉ bằng 2/ 3 số giờ bay ở Nga. Phiếm bàn với bác Hùng chút cho vui gợi nhớ tới một thời trai trẻ " bay bò " ! |
| Được cảm ơn bởi: | ||
sad angel (08-09-2010) | ||
|
#18
|
||||
|
||||
|
Tớ cũng nghe nói chiến sĩ ta phần lớn quen dùng tiếng Nga nên gặp khí tài chỉ dẫn và cảnh báo bằng tiếng Anh ( mua lại của các nước nguyên XHCN ) thì vài chiến sĩ đã "hi sinh".
Thực hư thế nào? |
|
#19
|
|||
|
|||
|
Trích:
Em ví dụ nhé ! Khi em vào vòng ngắm của một ông đối phương nào đó và bị ông ta phóng tên lửa . Ngoài những tìn hiệu cảnh báo trên màn hình ra đa ghi rõ vị trí của tên lửa đang bắn tới mình thì còn có cả tín hiệu cảnh báo bằng âm thanh. Khi tên lửa đối phương đang ở xa tín hiệu báo vào tai mình sẽ là những tiếng tít tít tít nghe chậm , có thể còn ngắt quãng ( đấy là trên MIG21 bis các máy bay khác em không học nên không biết ). Đến lúc nghe tiếng tít tít tít đó đồn dập như ríu vào nhau thì có nghĩa là tên lửa đang đến gần. Kể thì thì dài dòng văn tự nhưng thực thế chiến đấu thì nhanh lắm. Tính bằng giây thôi và phải xử lý rồi. Trở lại cái vụ hy sinh vì không biết tiếng kia em nghĩ không phải bác ạ. Máy bay Mig 21 thì có tới cả vài chục loại na ná như nhau em cũng không thuộc hết tên. Nhưng bay chúng thì na ná nhau như bác cưỡi con Dim Thái , Dim lùn hoặc Dim Việt nam thôi bác ạ. Rứa cả mà, thậm chí bác có nhớ con Su 100 và con Atex đên xì ngày xưa không. Cũng dòng nhà DIm cả nên đi cũng thế thôi. Máy bay khác chút thì phải học thêm lý thuyết và thực hả̀nh rồi chuyển loại chứ không theo kiểu xe máy. Xe máy mượn được con DIm là cưỡi luôn phóng ngay được còn máy bay thì mất thêm chút thời gian làm quen khi tài mới rồi cũng ổn mà bác. Nhưng phàm đã là phi công MIG21 thì chuyển lại sang MIG21 thế hệ khác cũng nhanh thôi bác ạ. |
|
#20
|
|||
|
|||
|
Em gửi bác cái danh mục MIG21 để bác tham khảo chút chơi. Em sau này có Nét mới biết nó lắm thế này. Hồi đi học đâu như giới thiệu chưa tới chục loại. Các cụ khuân máy bay Xi cơn hen về thì đủ các nguồn ở các nước anh em cũ nên lính ta liệu cơm gắp mắm rồi cũng ổn như em trình bầy với bác ở phần trên.
Ye-2 (NATO: "Faceplate") Nguyên mẫu cánh xuôi. Ye-4 (I-500) Nguyên mẫu cánh tam giác đầu tiên của MiG-21. Ye-5 (NATO "Fishbed") Nguyên mẫu nghiên cứu cánh tam giác. Ye-6 Mẫu tiền sản xuất thứ ba. MiG-21 Máy bay tiêm kích thành phẩm đầu tiên. MiG-21F (NATO: "Fishbed-B") Máy bay tiêm kích ngày 1 chỗ. Đây là máy bay sản xuất đầu tiên, với 40 chiếc được chế tạo. MiG-21F mang được 2160 lít nhiên liệu trong 6 thùng nhiên liệu và trang bị 1 động cơ phản lực Tumansky R-11 với lực đẩy là 5740kgf, vũ khí gồm 2 khẩu pháo 30-mm NR-30 60 viên/khẩu, nó cũng có khả năng mang 2 quả bom từ 50 đến 500 kg mỗi quả. Nguyên mẫu Ye-6T được đổi tên thành MiG-21F. Ye-50 Nguyên mẫu nghiên cứu cánh xuôi. MiG-21M Ye-66 Phiên bản 1 chỗ, chế tạo để phá kỷ lục tốc độ thế giới. Ye-66A Chế tạo để phá kỷ lục bay cao thế giới. Ye-66B Phiên bản tăng tốc bằng rocket, chế tạo để thiết lập kỷ lục nữ phi công với thời gian bay và độ cao đạt được . Ye-76 Tên gọi sử dụng cho MiG-21PF để thiết lập kỷ lục tốc độ do phi công nữ thực hiện Ye-150 Nguyên mẫu tiêm kích đánh chặn, về cơ bản là MiG-21 mở rộng. Ye-152 (NATO "Flipper") Lớn hơn MiG-21, the Ye-152 'Flipper' là một máy bay có hiệu suất cao, nó đã thiết lập 3 kỷ lục thế giới. MiG-21F-13 (NATO "Fishbed-C") Máy bay tiêm kích ban ngày tầm ngắn 1 chỗ. MiG-21F-13 là kiểu sản xuất hàng loạt đầu tiên. Nó được trang bị 1 động cơ phản lực Tumansky R-11, trang bị 2 tên lửa không đối không Vympel K-13 (AA-2 'Atoll'), và 1 pháo 30-mm NR-30 30 viên đạn. Type 74 là tên gọi của Không quân Ấn Độ cho kiểu MiG-21 này. MiG-21F-13 cũng được chế tạo tại Trung Quốc với tên gọi Chengdu J-7 hay F-7 cho xuất khẩu. MiG-21 MiG-21FL Kiểu xuất khẩu của MiG-21PF. Chế tạo theo giấy phép tại Ấn Độ dưới tên gọi Type 77. MiG-21I (NATO "Analog") Mẫu thử nghiệm thiết kế cánh của máy bay vận tải siêu âm Tu-144 (NATO: 'Charger'). MiG-21SPS Phiên bản chế tạo cho Đông Đức. MiG-21P (NATO "Fishbed-D / Fishbed-E") Máy bay tiêm kích đánh chặn 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa. Chỉ trang bị hai tên lửa không đối không. MiG-21PF (NATO "Fishbed-D / Fishbed-E") Máy bay tiêm kích 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa, trang bị 1 radar RP21 Sapfir. MiG-21PF là kiểu sản xuất thứ hai. Nguyên mẫu Ye-7, Type 76 là tên gọi của Không quân Ấn Độ. MiG-21PF (SPS) (NATO "Fishbed-E") MiG-21PFM (NATO "Fishbed-F") Máy bay tiêm kích 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa, nâng cấp radar và một động cơ mạnh hơn. Phiên bản cải tiến của MiG-21PFS. MiG-21PFS (NATO "Fishbed-F") Máy bay tiêm kích 1 chỗ, bị giới hạn theo mùa, nâng cấp radar và một động cơ mạnh hơn. MiG-21 (NATO "Fishbed-G") Phiên bản thử nghiệm cất hạ cánh trên đường băng ngắn của MiG-21PFM. Có 2 động cơ nâng đặt trong thân được làm dài ra. MiG-21 bay đội hình MiG-21R (NATO "Fishbed-H") Phiên bản trinh sát chiến thuật 1 chỗ của MiG-21PFM. MiG-21RF (NATO "Fishbed-J") Phiên bản trinh sát chiến thuật 1 chỗ của MiG-21MF. MiG-21S (NATO "Fishbed-J") Phiên bản tiêm kích đánh chặn 1 chỗ, trang bị radar RP-22 và súng gắn ngoài. (Tên gọi không chính thức của NATO là MiG-21PFMA); E-8, Type 88 tên gọi của Ấn Độ. MiG-21SM Phiên bản tiêm kích đánh chặn 1 chỗ, trang bị 1 động cơ Tumansky R-13-300. MiG-21PFV Phiên bản bay trên độ cao lớn (perekhvatchik forsirovannij visotnij, tiêm kích đánh chặn bay trên độ cao lớn). MiG-21MF, Không quân Ba Lan, các ký hiệu của Phi đội chiến lược số 3. MiG-21M Phiên bản xuất khẩu với 1 động cơ Tumansky R-13. Tên gọi của Ấn Độ Type 96, nó cũng được chế tạo tại Ấn Độ. MiG-21MF Phiên bản xuất khẩu với 1 động cơ Tumansky R-13. MiG-21MF (NATO "Fishbed-J") Phiên bản tiêm kích đa chức năng 1 chỗ, trang bị radar RP-22, động cơ Tumansky R-13-300. MiG-21MF-R Sau khi MiG-21R ngừng hoạt động trong Không quân Bulgaria vào năm 1995, một nhóm kỹ sư đã trang bị cho MiG-21MF với những thiết bị trinh sát từ MiG-21R. MiG-21SMT (NATO "Fishbed-K") Phiên bản tiêm kích đa chức năng 1 chỗ, trang bị 1 động cơ Tumansky R-13. Tăng thêm khả năng chứa nhiên liệu và khả năng ECM. (E-9, block 94 và 96) MiG-21bis (NATO "Fishbed-L") Máy bay tiêm kích đa chức năng 1 chỗ. Kiểu sản xuất cuối cùng được chế tạo đến năm 1977 tại Nga và năm 1987 tại Ấn Độ. Phiên bản này trang bị động cơ Tumansky R-25-300, và mang 2880 lít nhiên liệu. Động cơ có khả năng đốt nhiên liệu phụ trội tăng thêm 3 phút - tăng lực đẩy từ 7100 kgf lên 9900 kgf. Nó có thể tăng tốc từ 600 km/h lên 1100 km/h trong 18 giây (MiG-29 thực hiện điều này trong 11,6 giây). Tốc độ bay lên là 225 m/s. Khi so sánh với F-14 có tốc độ bay lên là 152 m/s, MiG-17F là 65 m/s, và F-16A là 215 m/s. MiG-21 bis (NATO "Fishbed-N") Máy bay tiêm kích đa chức năng và tấn công mặt đất 1 chỗ. MiG-21 bis-D Không quân Croatia MiG-21U (NATO "Mongol-A") Phiên bản huấn luyện 2 chỗ của MiG-21F-13. Type 66 là tên gọi của Ấn Độ. MiG-21US (NATO "Mongol-B") Phiên bản huấn luyện 2 chỗ . Type 68 là tên gọi của Ấn Độ. MiG-21UT Phiên bản huấn luyện 2 chỗ . MiG-21UM (NATO "Mongol-B") Phiên bản huấn luyện 2 chỗ của MiG-21MF. Type 69 là tên gọi của Ấn Độ. JJ-7 Phiên bản huấn luyện 2 chỗ của J-7. FT-7 Tên gọi xuất khẩu của JJ-7. MiG-21-93 Bison Phiên bản nâng cấp xuất khẩu và Ấn Độ là khách hàng đầu tiên. Vũ khí gồm radar cảnh báo Phazotron Kopyo (Spear), có thể theo dõi 8 mục tiêu và tấn công đồng thời 2 mục tiêu với tên lửa không đối không bán chủ động như Vympel R-27. Radar cũng có thể điều khiển được tên lửa không đối không chủ động như Vympel R-77 khi kênh bổ sung được hợp nhất. Người Nga khi quảng cáo đã tuyên bố rằng phiên bản này tương đương với F-16 đời đầu. MiG-21 2000 MiG-21-97 Nâng cấp MiG-21-93. MiG-21-93 sử dụng động cơ Klimov RD-33. Người Nga đã tuyên bố rằng những đánh giá tại Sân bay Ramenskoye đã chỉ ra rằng phiên bản này giành chiến thắng trước F-16 trong không chiến mô phỏng với tỷ lệ 4:1. MiG-21 Lancer Phiên bản nâng cấp cho Không quân Romania được thực hiện bởi Elbit của Israel và Aerostar của Romania. Phiên bản Lancer-A có thể thực hiện tấn công mặt đất và sử dụng những vú khi dẫn đường chính xác cao của Nga cũng như của phương Tây như tên lửa không đối không R-60, R-73 và Python III. Phiên bản Lancer-B là phiên bản huấn luyện và phiên bản Lancer-C là phiên bản chiếm ưu thế trên không với 2 màn hình LCD MFDs, mũ hiển thị cho phi công và radar không chiến Elta EL/M-2032.[3] MiG-21MFN Phiên bản nâng cấp cho Không quân Séc (hệ thống dẫn đường và thông tin tương thích với tiêu chuẩn của NATO). MiG-21MF MiG-21bisD/UMD Phiên bản nâng cấp vào năm 2003 cho Không quân Croatia với một số yếu tố của tiêu chuẩn Lancer. Phiên bản này được hiện đại hóa theo chu kỳ 10 năm, nhưng sẽ ngừng hoạt động vào năm 2011. Có thể sử dụng tên lửa chống tàu RBS-15F của Thụy Điển. MiG-21-2000 Phiên bản xuất khẩu 1 chỗ cho thế kỷ 21. Được thực hiện bởi hãng Israel Aerospace Industries. Thế hệ em học cái loại mà em đánh dấu đậm đó bác ạ ! Đó là trường Không quân Krasnoda còn trường không quân Phờ-run-gie tận Kirgizitan thì học Mig21MF ngay phía dưới chỗ in đậm dù cùng thời học với lứa bọn em. Nguồn từ WIKI _ Internet Thay đổi nội dung bởi: MIG21bis, 03-07-2010 thời gian gửi bài 20:20 Lý do: Lỗi chính tả |
| Có 6 thành viên gửi lời cảm ơn MIG21bis cho bài viết trên: | ||
Мужик (03-07-2010), hongducanh (04-07-2010), LyMisaD88 (04-07-2010), sonkinh (04-07-2010), TAY-USSR-MOSCOW (04-07-2010), USY (04-07-2010) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|