Trở về   Nước Nga trong tôi > Nước Nga ngày nay > Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #81  
Cũ 20-07-2008, 15:40
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

(tiếp theo và hết chương 3)
Cha cháu đặc biệt chú ý đến các bài thơ sư phạm của Makarenko. Ông tìm thấy ở đây nhiều điểm tương đồng trong công việc và những khó khăn trở ngại khi xây dựng một sự nghiệp mới. Ông trích dẫn chỗ nói rằng có thể đối xử với học trò thế nào cũng được nhưng họ sẽ không tôn trọng nếu như anh không phải là chuyên gia trong nghề của mình. Đây không phải là đoạn trích dẫn ngẫu nhiên. Chiếm vị trí đầu tiên trong con người cha là khoa học, quản lý hành chính (chính trị ) là thứ nhì. Khi nghiên cứu chế tạo máy tính ông sẵn sàng làm việc không cần thù lao. Với trí thông minh của cha cháu, là người phụ trách thành công gần như là đương nhiên. Cháu chẳng hiểu gì những vấn đề khoa học của ông mà chỉ thấy mọi việc với ông không hề đơn giản. Cháu khẳng định rằng bàn bè càng yêu quý ông bao nhiêu thì đối thủ càng ghét ông bấy nhiêu. Có lẽ nên phán xét con người theo cách đỗi xứng như vậy. Nhưng ai sẽ phán xét? Cháu giả sử là công việc giảng dạy của ông là chuẩn bị vị trí dự bị, nếu như không có Viện nghiên cứu mang tên ông. Nhưng thật may là Viện đó đã được thành lập.
Một trong những bộ phim mà cha cháu yêu thích là phim sử thi “Chế ngự lửa”. Cha cháu không phải là người lãng mạn hão, cháu đã từng nói là lãng mạn có tri thức. Chắc có lẽ ông thấy trong phim có nhiều điểm gần gũi. Sau này ông yêu thích cuốn sách của Victor Nhekrasov có tên là “Trong chiến hào Stalingrad”, mặc dù ông ít đọc sách về chiến tranh vì cho rằng trong đó không giống với những gì chính ông đã thấy. Ông chẳng lo lắng gì cho sức khoẻ của mình. Có lẽ nếu đưa ông đi nghỉ ở khu điều dưỡng, đi bơi và dạo chơi thì ông có thể sẽ sống lâu hơn. Nhưng như vậy thì ông sẽ không còn là ông nữa. Nhưng ông muốn sống và chết mà không từ bỏ thái độ của mình với cuộc sống, ông muốn là vị giám đốc chân chính của cái Viện do chính ông tạo lập ra và là thủ lĩnh của một trường phái riêng trong kỹ thuật máy tính”.
Ông yêu quý tất cả những người làm việc cùng ông không chỉ như là một thủ lĩnh có uy tín và là người lao động vĩ đại mà còn là một con người tốt bụng quan tâm đến mọi người, một con người rất trung thực và rất khiêm tốn. Nếu như ông có nhược điểm thì chỉ có một – đó là ông rất cả tin và coi mọi người xung quanh ai cũng tuyệt vời, trung thực, tốt bụng và công bằng như chính ông vậy".
M.A. Karsev vẫn là một nhân vật lớn nhất trong ngành khoa học và kỹ thuật máy tính thế giới. Tên ông được viết bằng chữ vàng trong lịch sử xây dựng và phát triển ngành máy tính.
Trong cuốn “Những vấn đề vô tuyến điện tử” (xuất bản năm 1993) nhân dịp kỷ niệm 70 năm ngày sinh Karsev, tiến sỹ KHKT L.V. Yvanov đã viết rất đúng: “Ông thuộc về số ít người tạo ra bản sắc dân tộc và dân tộc không thể tồn tại nếu thiếu họ”.
hết chương ba

Bá cáo các bác, tôi đã làm xong chương 3 (với vô số lỗi).Vậy là đã được thở phào. Ban đầu tôi không lường được những khó khăn khi dịch chương này nên mạo muội xin thử nhưng rồi nghĩ mình bỏ thì ai làm đây nên cố gắng đến cùng. Nay nhìn lại sản phẩm thấy bao nhiêu là sạn, có cả những đoạn đọc mà không hiểu được, cái món tiếng Nga bỏ đã lâu, nhiều thuật ngữ, nhiều chữ viết tắt, trình độ có hạn, với tính chất của diễn đàn không tránh khỏi có lúc làm ẩu – Mong các bác lượng thứ cho.

Thay đổi nội dung bởi: Thao vietnam, 20-07-2008 thời gian gửi bài 15:47
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
BelayaZima (21-07-2008), Cartograph (11-03-2009), hungmgmi (07-08-2008), Tanhia (05-03-2009)
  #82  
Cũ 07-08-2008, 15:59
huyphuc1981_nb huyphuc1981_nb is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Feb 2008
Bài viết: 101
Cảm ơn: 80
Được cảm ơn 143 lần trong 61 bài đăng
Default

Ôi trời, lâu quá, nữa đi bác, còn không bác.

Có vài đoạn vấp chút nhưng tôi tự hiểu được. Đến đoạn này mới là đoạn hay nhất của Máy tính Liên Xô, nó đi ra thị trường thế giới.
Ngày hôm nay, ngồi bên chiếc PC, ít người biết được nó là cấu trúc Liên Xô. Các hãng sản xuất quảng cáo nhiều quá mà quá ít người biết được cấu trúc nó như thế nào.

Máy tính theo định nghĩa nguyên thủy phướng Tây hồi nững năm 198x là một bus, trên đó có RAM, CPU và IO được nối vào đó. Máy tính thực hiện từng lệnh trong chương trình, thành một chuỗi lệnh liên tiếp. Đây là cấu trúc máy tính định hướng, vector.

Vào những năm cuối cùng của Liên Xô, ở đây đã phổ biến cấu trúc scarlar, cấu trúc vô hướng, và kỹ thuật hình tháp dùng cache. Cấu trúc máy tính này gồm có nhiều bus xếp theo hình tháp, trên cũng là những bus nhanh nhất nhưng dung lượng nhỏ, dưới là những bus chậm nhưng dung lượng lớn. Người ta đoán những dữ liệu sắp được sử lý đem lên tầng trên, đẩy kết quả xuống tầng dưới, nhờ đó máy tính có dung lượng lớn đồng thời có tốc độ cao, đây là cơ chế cache. Vô hướng, scalar là người ta đoán trước các lệnh liên hệ với nhau làm việc theo chuỗi, và tiến hành song song nhiều chuỗi như vậy (kỹ thuật làm việc dây chuyền kiểu đường ống, pipeline).

Cấu trúc máy tính này dĩ nhiên là hướng đi đúng đánh nhất. Các nhà khoa học Liên Xô lang thang đi kiếm ăn đã đem kỹ thuật này đi nhiều nơi. Vào những năm 1993, Intel mua lại kỹ thuật pipeline từ một hãng nhỏ với giá vài triệu USD. Một thời gian sau khi Liên Xô mất, những CPU 386 (dùng cache) và 486 (pipeline) xuất hiện. Cấu trúc 486 tồn tại rất lâu, chỉ mới gần đây nó mới được thay thế.

Máy PC ngày nay, và phần lớn các loại máy tính khác, mang cấu trúc Liên Xô, nhưng rất ít người biết điều đó. Linh kiện ngày nay đã khác xa ngày xưa, nhưng những khung cơ bản của cấu trúc Liên Xô, cache và scalar, vẫn là những khung cơ bản của máy tính ngày nay.

Thay đổi nội dung bởi: huyphuc1981_nb, 07-08-2008 thời gian gửi bài 16:14
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #83  
Cũ 25-11-2008, 13:17
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Chương Bốn

Bí mật của những năm sau chiến tranh




Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Rất nhiều nhân viên của Bruk đã chạy sang làm việc với các dự án máy tính quân sự. Alexander Zalkind đã trình bày với một số hiểu biết riêng của ông về các dự án tối mật trước đây, tại viện ngiên cứa khoa học thiết bị tự động. Tiếp theo đó, là một phần trích đoạn trong bản báo cáo của Zalkind:

Vào năm 1957, chúng tôi – O.V. Rosnitsky, A.I. Shurov, tôi và người lãnh đạo chung cả nhóm là Nikolai Matyuhin – quyết định chuyển sang viện nghiên cứu khoa học bộ công nghệ Radio để phát triển một hệ thống SAGE của Liên Xô (SAGE được viết tắt của cụm từ - Semi-Automatic Ground Environment – một hệ thống phòng không được vi tính hóa và được thiết kế tại viện công nghệ Massachusetts - Mỹ) . Viện ngiên cứu khoa học thiết bị tự động được thành lập vào năm 1956. Tiến sĩ G.L. Shorin, vào thời gian này là giám đốc kiêm kỹ sư trưởng dự án thiết kế hệ thống phòng không. Vào năm 1958, nhóm chúng tôi bắt đầu thiết kế một hệ thống "Mặt đất"

Hệ thống Mặt đất này được bắt đầu thiết kế với các thiết bị điện báo thông thường. Chuyên cung cấp các thông tin về sự chuyển động của các vật thể, các thông tin này được truyền qua một mạng lưới điện báo. Những người trực tổng đài điện báo, sẽ định dạng các thư tín này và chuyển giao cho những người điều hành bảng điều kiển kỹ thuật số, họ sẽ mã hóa các thông tin này thành những cơ sở dữ liệu riêng biệt; các dữ liệu này từ các bo mạch điện tử sẽ được đi qua các thiết bị tính toán dữ liệu, để phân tích được các tọa độ và đường chuyển động của các vật thể. Các dữ liệu khi truy xuất sẽ được lưu giữ trong một trống từ có chức năng như là một bộ nhớ trung gian. Sau đó, các dữ liệu được truyền đi trống từ đến một chiếc máy tính sử lý thứ cấp, chiếc máy tính này được lắp một đèn hình tia cực âm đặc biệt. Tất cả các ký tự, con số dự toán và biểu tượng logic sẽ được hiện thị trên màn ảnh của bóng hình bằng một tấm chắn chiếu tia điện tử.

Tất cả các thiết bị được chế tạo rất nhanh chóng, để kịp với tiến độ. Vào quí hai năm 1960, ủy ban nhà nước đã xem xét lại các thiết bị của chúng tôi và kết luận rằng; hệ thống này không đáng tin cậy, do không đủ tính năng đa chiều của các bộ phận sử dụng đèn chân không điện tử. Ủy ban quyết định, ngăn cấm sử dụng các loại bóng đèn điện tử trong mọi dự án trong tương lai.

Một trong những lý do mà chúng tôi muốn đề cập đến hệ thống Mặt đất ở đây, là có liên quan đến một số viễn cảnh mà nhóm của chúng tôi giành được thành công sau này. Trong vòng 15 năm, viện chúng tôi đã tạo dựng được cả một mạng lưới toàn cầu, bao gồm hơn 20 trung tâm tổng đài địa phương. Mạng lưới này, thông tin được trao đổi hoạt động suốt ngày đêm với hệ thống phòng không. Trong thời kỳ này, hệ thống hầu như không bị hỏng hóc gì. Tetiva, đây là một chiếc máy tính bán dẫn đầu tiên của Liên Xô, nó được hình thành vào năm 1960 cho mục đích cụ thể này. Tetiva – trong tiếng Nga có nghĩa là – dây cung.
Chiếc máy tính Tetiva đầu tiên của Liên Xô, được sử dụng một chương trình cực tiểu lưu giữ trong ma trận của bộ nhớ lưu giữ nhị phân. Sau này, hệ thống kiểm soát chương trình cực tiểu này cũng sử dụng trong những chiếc máy tính như chiếc Armenian Nairi được thiết kế vào năm 1964, chiếc Mir, và ES-1020. Phần số học của chiếc Tetiva chỉ sử dụng các mã hóa toán hạng trực tiếp. Loại máy tính này đắt tiền hơn tất cả các loại đã được phát triển trước đây, nhưng nó có tốc độ khá cao và có một bộ xử lý tự điều khiển tốt nhất.

Xưởng máy tính Minsk đã sản xuất một loạt máy tính Tetiva, và vào năm 1962, có tám chiếc được lắp đặt ở các hệ thống phòng thủ trên các quốc gia khác trên thế giới. Các thông tin ban đầu được nạp vào máy tính Tetiva, được thực hiện bới sự trợ giúp của một khóa chuyển đôi cơ học đặc biệt, nó dẫn tọa độ của các vật thể từ một màn hiển thị của đèn chiếu tia cực âm. Chương trình máy tính bán tự động, cũng đã cung cấp các thông tin về vị trí của các tên lửa.

Để đảm bảo được các chức năng của hệ thống phòng không được hoạt động suốt ngày đêm, có hai chiếc máy tínhTetiva được hoạt động cùng một lúc để tạo ra được tình trạng "máy tính liên hoàn không sự cố", nếu có một sự cố xảy ra trên một chiếc máy tính nào, thì hệ thống sẽ tự động chuyển đổi chương trình sang một chiếc máy tính khác. Hệ thống máy tính liên hoàn này, chính xác là được sử dụngtrong hệ thống phòng không của Liên Xô trong suốt hơn 30 năm, và vào năm 1987, nó đã bắt được tín hiệu về chiếc máy của Mathias Rust đã bay vào vùng trời của Liên Xô (Mathias Rust người Tây Đức năm 1987, đã dùng một chiếc máy bay thể thao hạng nhẹ bay vào quảng trường Đỏ ở Moskva – ND). Sự phát triển của chiếc máy tính Tetiva dựa trên hệ thống này vẫn còn tiến triển tiếp tục, cho đến khi các công việ được bắt đầu trên các loạt máy tính biến tấu đầu tiên, 5E63 và 5E63.1. Vào năm 1967, sau khi thử nghiệm thành công những chiếc máy tính này được đưa vào sản xuất hàng loạt. Từ khi đó, hàng trăm chiếc đã được sản xuất.
Cũng vào năm 1967, chúng tôi bắt đầu làm việc trên chiếc máy tính tương thích – ES đầu tiên, sử dụng Môdun thi hành của loại 5E76. Chiếc 5E76 đầu tiên được sử dụng như là một phần của 6 chiếcmáy tính liên hợp.
Năm 1969, chúng tôi bắt đầu tiến hành thiết kế hệ thống kiểm soát phòng không "Quét toàn cầu", với dự định đáp ứng các thông tin chi tiết từ vùng biển Baltic đến Thái Bình Dương. Đặc điểm chính của hệ thống này là, bảo đảm kết nối thông suốt các trung tâm tổng đài ở các vùng rộng lớn lại với nhau trong 24 giờ liên tục trong ngày và ba trăm sáu lăm ngày trong năm, được ở chế độ hoạt động tự động liên tục, và có độ tin cậy cao.

Do không gian hạn chế và đòi hỏi phải có độ chính xác đáng tin cậy của những chiếc máy tính trung tâm tổng đài, chúng tôi đã phát triển một hệ thống máy tính kép, chúng được kết nối hai chiếc máy tính 5E76-B lại với nhau – những chiếc máy tính này là những chiếc 5E76 được hiện đại hóa. Hệ thống mới này được gọi là hệ thống 65s180, và giữa những năm 1972 và 1992, có ba mươi hai hệ thống như vậy được lắp đặt.
Tất cả những chiếc máy tính đó, được phát triển dưới sự điều khiển của Matyuhin, và do ông và đồng nghiệp thiết kế chỉ để dành cho hệ thống phòng không của Liên Xô. Đề tài này, hiện đang đợi những sự khảo sát tỉ mỉ tiếp của những học giả và các nhà nghiên cứu
.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Thao vietnam (25-11-2008)
  #84  
Cũ 25-11-2008, 13:19
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Sinh nhật lần thứ hai của chiếc M-3




M-3 là một trong những chiếc máy tính cỡ nhỏ đầu tiên được sản xuất hàng loạt. Để điều khiển nó thì rất đơn giản, một số tổ chức có thể tư lắp ráp, và sử dụng nó thông qua các tài liệu chỉ dẫn của viện cơ – mạ điện. Năm 1958, bản thiết kế của chiếc M – 3 đã được giao cho xưởng máy tính Minsk để tiến hành sản xuất thử một só lượng nhỏ, và mẫu đầu tiên đã được hoàn thành vào tháng 9 năm 1959. Bộ lưu giữ của chiếc máy tính được hoạt động trên một trống từ (2048 31-bit, độ dài từ), loại này chỉ có giới hạn xử lý 30 phép tính trên giây, mặc dù trên thực tế, phần số học được tính song song.

Loại máy tính này giành được danh tiếng khá tốt, và chính phủ quyết định cho hiện đại hóa thêm loại này. Lõi Ferit được lắp thêm vào thiết bị tồn giữ trên trống nhớ từ trường, những chiếc lõi này đã làm tăng công xuất của máy tính lên đến 1500 phép tính trên giây. Những chiếc M-3 sản xuất ban đầu, cũng được lắp bổ xung thêm lõi Ferit.

Một năm sau, SKB đã ra một chỉ thị yêu cầu thiết kế một loại máy vi tính mới, loại này phải có giá thánh rẻ, cài đặt và hoạt động đơn giản, và dễ dàng thích ứng với mọi yêu cầu của khách hàng. George Lopato là người quản lý dự án này, và sản xuất loại Minsk-1, một loại máy tính hai địa chỉ, với tốc độ thực thi là 3000 phép tính trên một giây. Cấu hình của loại máy tính này được lắp ghép bằng các Môdun chức năng tự hoàn thành. Khi các sơ đồ logic đơn giản và các Môdun đã được xây dựng, cùng với sự phối hợp rất nhiệt tình của các kỹ sư phát triển sản phẩm và các công nhân của xưởng, chiếc Minsk-1 đã được hoàn thành chỉ trong vòng có 14 tháng.
Chiếc Môdun được xây dựng trong chiếc máy tính, đã giảm đáng kể thời gian gỡ rối và rất đơn giản về tính cần thiết của cách xử lý an toàn cho những người sử dụng. Vào đầu năm 1961, những chiếc máy tính mang nhãn hiệu Minsk đã chạy qua suốt một quá trình phát triển nhanh chóng, với một loạt sự biến đổi dựa trên các yêu cầu, đòi hỏi, và cần thiết của người dùng cuối: Loại Minsk-11, dành để chuyên dùng cho các kênh truyền thông; Minsk-12, với một kho lưu giữ được mở rộng; Minsk-14 dành cho kênh truyền thông với bộ nhớ được tăng dung lượng lớn; và Minsk-16 dành cho xử lý các thông tin viễn trắc từ các vệ tinh nhân tạo thám không.

Các mẫu máy tính này, là thế hệ máy tính cỡ nhỏ đầu tiên được ưa chuộng nhất ở Liên Xô. Các loại này được sử dụng rộng rãi trong các học viện, trường đại học, trường cao đẳng, viện nghiên cứu, và các ban xây dựng. Một số thì được lắp đặt ở các công xưởng để xử lý các vẫn đề sự cố kỹ thuật.

Thế hệ thứ hai của loại máy tính Minsk được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất bao gồm loại máy tính Minsk-2 cơ bản và các mẫu phát sinh của nó là Minsk-22 và Minsk-22M. Nhóm thứ hai bao gồm loại Minsk-23 và Minsk-32. Có thêm hai biến tấu nữa là Minsk-26 và Minsk-27 được tạo thêm để mở rộng các ứng dụng năng lực của hệ thống máy tính Minsk. Loại máy tính Minsk-26 được sử dụng để xử lý các thông tin khí tượng thu nhận được từ các vệ tinh nhân tạo Meteor. Loại Minsk-27 thì được sử dụng để xử lý các thông tin viễn trắc, nhận được từ các bóng thám trắc độ cao ở trong bầu khí quyển. Cả hai loại này, là những máy tính đầu tiên ở Liên Xô đều được phối hợp các cơ cấu truyền tài bằng băng từ và xử lý dữ liệu viễn trắc.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
Edin (25-11-2008), Thao vietnam (25-11-2008), USY (25-11-2008)
  #85  
Cũ 25-11-2008, 13:21
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Nguồn gốc máy tính ở Belarus



Là một viện sĩ thông tấn viện hàn lâm khoa học Nga – George Pavlovich Lopato – đã có đóng góp rất to lớn trong lĩnh vực phát triển nền công nghệ máy tính ở Minsk. Lopato, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1924 tại làng Ozershina thuộc vùng Gomel ở Belarus. Cha ông, là con của một người tá điền, đã tốt nghiệp học viện nông nghiệp Goretska vào năm 1916, ông từng phục vụ trong cuộc nội chiến Nga, và nguyên là một người lính trong đội kỵ binh Hồng quân thứ nhất. Sau chiến tranh, ông làm nhân viên giám định địa chính. Năm 1924, ông được nhận vào tu nghiệp tại trường đại học bách khoa Leningrad, và tốt nghiệp vào năm 1929. Sau đó, ông là kỹ sư trưởng ở công xưởng Moskva và sau này, ông là giảng viên học viện điện khí hóa và cơ khí hóa nông nghiệp Moskva.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Георгий Павлович Лопато



Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Вадим Яковлевич Пыхтин


George Lopato bắt đầu đi học tiểu học vào năm 1931. Vào mùa hè năm 1941, sau khi tốt nghiệp trung học, ông đã tham gia hỗ trợ xây dựng các tuyến công sự phòng thủ ở gần Moskva để bảo vệ các cuộc tấn công quân Đức xâm lược. Vào tháng 10 cùng năm, ông được tăng cường vào Hồng quân và trở thành một người lính thuộc tiểu đoàn 314 quân khu phòng không Moskva. Năm 1946, ông phục viên, và theo học tại khoa mạ điện – vật lý thuộc học viện năng lượng Moskva. Đến năm 1952, ông tốt nghiệp bằng mạ điện – cơ học. Sau đó, Lopato bắt đầu công tác tại viện nghiên cứu khoa học mạ điện – cơ khí của Gosplan (Gosplan – Госплан – ủy ban kế hoạch nhà nước Liên Xô – ND) ở Moskva, tại đây ông chuyên thiết kế các thiết bị mạ điện – cơ học. Năm 1954, ông được cử đến công tác vài tháng tại phòng thí nghiệm máy và hệ thống điều khiển. Ở đây, dưới sự chỉ đạo của Matyuhin, Lopato đã bắt đầu tham gia vào các thiết kế phát triển dòng máy tính M-3
Lopato tham gia vào hiệu chỉnh dòng máy tính M-3 sau khi loại này đã được lắp ráp tại viện mạ điện – cơ học. Đến cuối năm 19557, chính phủ Liên Xô chuyển các chi tiết kỹ thuật của dòng máy tính M-3 sang các học viện khoa học của Hungary và Trung Quốc. Sau đó Trung Quốc đã sử dụng các chi tiết này, và lắp ráp ra một nguyên mẫu của dòng máy tính M – 3 tại xí nghiệp điện thoại ở Bắc Kinh. Trong thời gian này, Lopato cũng được cử sang Trung Quốc để đưa chiếc máy tính này vào hoạt động. Đây là một công việc rất khó khăn, nhưng Lopato đã cố gắng giải quyết và thu được thành công mỹ mãn. Sau khi quay trở về Liên Xô, ông được mời và trở thành kỹ sư cao cấp tại ban xây dựng đặc biệt thuộc xưởng máy tính Minsk và ông bắt đầu làm việc ở đây vào tháng 4 năm 1959. Năm năm sau, ông được bổ nhiệm làm trưởng ban xây dựng đặc biệt, đến năm 1969 ông là giám đốc chi nhánh máy tính Minsk của NISEVT. Năm 1972, khi chi nhánh Minsk được đổi mới và lấy tên là viện nghiên cứu khoa học máy tính, Lopato lên làm giám đốc viện.

Dưới sự quản lý trong vòng 28 năm của Lopato, viện nghiên cứu đã thiết kế được 15 mẫu thế hệ thứ nhất và thứ hai của dòng máy tính Minsk; 11 mẫu trong số này được sản xuất hàng loạt và bốn mẫu còn lại là làm theo đơn đặt hàng đặc biệt. Viện nghiên cứu của Lopato còn cho ra đời 5 mẫu máy tính Sêri ES, một vài mẫu máy tính cá nhân, 6 tổ liên hợp máy tính đặc biệt, hàng loạt hệ thống điều khiển và phần mềm, cùng với hơn 50 loại thiết bị ngoại vi.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
ЭВМ 5Э76Б (главный конструктор Н.Я. Матюхин)


Lopato nguyên là kỹ sư trưởng của dòng máy tính Minsk-1, hệ thống đa máy tính của các loại máy đồng nhất bao gồm Minsk-222, và hệ thống sử dụng kép Naroch, hệ thống này được kết hợp 12 chiếc máy tính ES và giao cho Schetmash để thiết các hệ thống phần mềm và phần cứng. Lopato cũng nguyên là phó tổng công trình sư cao cấp của hệ thống 70K1, và sau đó là tổng công trình sư của một số dòng máy tính vận chuyển cho quân sự.
Lopato nguyên là một trong những người sáng lập ra trường thiết kế máy tính Minsk. Đây là một vấn đề thực tiễn rất nổi bật, tác động quan trọng đến giảm giá thành sản phẩm, độ tin cậy cao, và khả năng tương thích của tài nguyên công nghệ máy tính. Các công việc tại trường Minsk đã được thời gian thử thách; những chiếc máy tính của họ đã được đưa vào sản xuất hàng loạt. Ví dụ như: Minsk-32 và ES-1020 nhái theo IBM đã được đưa vào dây chuyền lắp ráp chỉ sau hai tháng, những phác thảo của họ hoàn thành.
Trên bước đường sự nghiệp khoa học kỹ thuật của mình, Lopato là một người nổi bật ltrong các chương trình đào tạo, giáo dục cá nhân. Ông đã sáng lập ra ban hệ thống và vi tính tại học viện công nghệ - truyền thanh Minsk, và là người lãnh đạo ở đây trong suốt 10 năm. Ông bảo vệ luận án Ph.D. vào năm 1969 và trở thành tiến sĩ khoa học kỹ thuật vào năm 1975. Đến năm 1979, ông được bầu là viện sĩ thông tấn của viện hàn lâm khoa hộc Xô Viết. Ông đã cho xuất bản hơn một trăm hai mươi công trình khoa học, và nhận được 45 bằng sáng chế. George Lopato được trao tặng huân chương Cách mạng Tháng Mười vào năm 1972, huân chương lao động Cờ Đỏ vào năm 1976, phần thưởng quốc gia Liên Xô và huân chương Lenin vào năm 1983, Chữ ký Danh dự, và 9 huân huy chương khác, cùng với 4 tấm bằng danh dự của quốc hội Belarusia. Ông mất vào năm 2003.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
Ballad (29-11-2008), Edin (25-11-2008), Thao vietnam (25-11-2008)
  #86  
Cũ 05-12-2008, 14:48
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Mikhail Alexandrovich Kartsev

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Mikhail Kartsev thuộc vào hàng những nhà khoa học chuyên khám phá và luôn có những đóng góp nhiệt thành, với một vài lý do khó hiểu, chúng ta chỉ được biết đến toàn bộ về những công lao của họ, khi họ đã nhắm mắt xuôi tay. Viện hàn lâm chưa bao giờ trao tặng cho Kartsev một phần thưởng đặc biệt nào, hoặc công nhận những công trình của ông. Không đến 10 năm sau khi ông mất, viện nghiên cứu khoa học máy điện toán phức hợp Moskva, được mang tên ông, viện này chính ông tự thành lập. Khoa học và công nghệ máy tính từng là tiếng gọi của cuộc đời ông, nó đã đem lại cho ông cả những hạnh phúc và sự đau khổ. Ông đã từng tận tâm tận lực suốt mọi thời gian để dành cho nó – tại nơi làm việc, khi ở nhà và thậm trí trong cả những ngày nghỉ lễ. Con trai của ông là Vladimir nhớ lại:
Mỗi lần khi nghĩ đến cha, tôi thường nhớ rằng, ông luôn đang ngập chìm trong công việc của mình. Ông hoàn toàn không có sở thích riêng, và nếu như ông có một khoảng thời gian rảnh rỗi, ông thường thích đọc sách. Đôi khi, chúng tôi cũng đi xem phim. Ông không bao giờ chơi thể thao, và luôn kỵ với những chiếc xe hơi và những ngôi nhà ở nông thôn. Tuy nhiên, khi về già ông đã bắt đầu bị đau nhức chân, lúc này ông mới tậu một chiếc Volga và có vẻ yêu thích nó. Ông bắt đầu học lái xe khi ở cái tuổi đã khó khăn để làm công việc này, nhưng ông rất thông thuộc các đường phố ở Moskva như lòng bàn tay, nên ông chạy xe xung quanh thành phố một cách rất dễ dàng. Cha tôi không bao giờ phàn nàn hoặc bàn cãi về những vấn đề khó khăn của mình. Hầu như không thể dẫn đắt được ông nói chuyện về chiến tranh. Ông sống về tương lai chứ không hề ngoảnh lại quá khứ.


Mikhail Kartsev sinh ngày 10 tháng 5 năm 1923 ở Kiev. Sau khi cha ông mất vào cùng năm đó, gia đình ông phải di chuyển đôi ba lần. Mikhail Kartsev sống cùng với mẹ ở Odessa và Kharkov, cuối cùng gia đình ông cũng quay về Kiev vào năm 1941, khi đó ông vừa mới học xong trung học. Vào mùa hè năm 1941, ông được cử đến Donbas để làm công sự chiến đấu. Đến tháng 9, ông được động viên vào quân đội Xô Viết, ông đã phục vụ trong quân đội cho đến tháng 2 năm 1947. Trong thế chiến hai, người lính tăng Kartsev đã chiến đấu ở các khu vực phía nam, tây nam Liên Xô, ở mặt trận Bắc Caucasus và hai mặt trận Ukrainia. Ông tham gia giải phóng Romania, Hungary, Czechoslovakia, và Áo. Chính phủ Xô Viết đã trao tặng cho ông một huân chương về lòng gan dạ, huân chương Sao Đỏ, huân chương "Chinh phục Budapest," và"Chiến thắng phát xít". Tháng 11 năm 1944, trong khi còn đang ở trên mặt trận, ông được công nhận là cảm tình đảng , và đến tháng 5 năm 1945 ông chính thức được kết nạp đảng Cộng sản Liên Xô.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
ЭУМ М-4М

Sau khi phục viên, Kartsev theo học tại khoa Công nghệ - truyền thanh ở học viện năng lượng Moskva. Vào cuối năm thứ ba, ông đã vượt qua được tất cả các môn thi mà không cần đến bất kỳ một thuyết trình nào. Vào năm 1950, thời gian này là năm thứ năm đại học của ông, ông đã bắt đầu làm việc bán thời gian tại phòng thí nghiệm các hệ thống điện tử, thuộc học viện của viện nghiên cứu kỹ thuật năng lượng, tại đây ông cùng làm việc với Bruk để phát triển dòng máy tính M-1. Vào năm 1952, ông được bổ nhiệm vào một vị trí công tác cố định, và chịu trách nhiệm là trợ lý khoa học. Trong thời gian thiết kế loại máy tính M-2, ông đã chứng tỏ được mình là một tài năng xuất chúng – nhóm nghiên cứu nhỏ của ông đã hoàn thành công việc thiết kế chiếc máy tính chỉ trong vòng có một năm rưỡi (để so sánh, dòng máy tính BESM thì được thiết kế mất thời gấp hai lần, và nó được phát triển bởi một đội ngũ thiết kế đông đảo hơn nhiều và họ rất giàu kinh nghiệm). Tuy nhiên, dòng máy tính M-2 không mạnh mẽ được bằng loại BESM, Kartse đã gọi nó là một "chiếc máy tính rắn chắc"

Năm 1957, Giám đốc viện công nghệ truyền thanh, viện sĩ hàn lâm Alexander L'vovich Mints, đã yêu cầu Bruk thiết kế một loại máy tính điều khiển điện tử cho một hệ thống Rada quét thí nghiệm kiểu mới. Nói chính xác hơn là, Bruk tình cờ đã đề xướng qui trình này và tác động đến Mints trong một kỳ nghỉ tai khu nghỉ dưỡng Kislovodsk. Trong khi thảo luận các dự án mà ông đang thực hiện tại phòng thí nghiệm của mình, Bruk đã đề cập đến tính khả thi trong việc sử dụng máy tính kiểm soát cho hệ thống Rada theo dõi. Sau đó, họ đã cùng đưa ra một đề xuất, và năm 1957 đơn hàng kỹ thuật cho dòng máy tính M-4 được chấp thuận. Vào lúc này, Kartsev được đề cử là chủ nhiệm dự án, với bước tiến này đã đánh dấu một sự khởi đầu sự nghiệp của ông trong lĩnh vực thiết kế các biến đổi của những hệ thống máy tính, dành cho hệ thống cảnh báo sớm của tên lửa phòng thủ và hệ thống thám không. Vào thời gian này, có rất nhiều những vấn đề phức tạp cực kỳ hóc búa để giải quyết, do họ cần có một số lượng lớn dữ liệu để xử lý. Thêm nữa, họ cần phải có được một tốc độ tính toán cao nhất, một bộ nhớ khổng lồ, và thiết bị chính xác cao.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #87  
Cũ 05-12-2008, 14:49
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Năm 1957, những chiếc bóng bán dẫn đầu tiên của Liên Xô bắt đầu được đưa vào sản xuất hàng loạt. Do đó, Kartsev đã quyết định thiết kế dòng máy tính M-4 dựa theo chất bán dẫn.

Để dành cho dự án này, phòng thí nghiệm đặc biệt số 2 được thành lập do Kartsev quản lý, phòng thí nghiệm này được đặt tại học viện nghiên cứu khoa học máy tính điều khiển điện tử vừa mới được thành lập. Vào tháng 3 năm 1958, chính phủ đã phê duyệt bản thảo của dòng máy tính M-4, và đến tháng tư, nội các bộ trưởng Xô Viết đã đưa ra một đơn đặt hàng đặc biệt để chế tạo dòng máy tính này, và chỉ định cho phòng thí nghiệm của Kartsev, một công xưởng có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất máy tính. Trong tháng tư năm 1958, Kartsev trao cho công xưởng này những bản thiết kế máy tính đã hoàn thành, và họ bắt đầu chuẩn bị đưa ra sản xuất; những kỹ sư thiết kế của dòng M-4, luôn túc trực trong tất cả các giai đoạn sản xuất và hiệu chỉnh máy tính. Năm 1959, công xưởng sản xuất đã hoàn thành hai bộ máy tính M-4, và chuyển sang giai đoạn điều chỉnh vi cấp. Vào cuối năm 1960, tổ hợp đầu tiên được đưa vào hoạt động và được chuyển giao sang cho viện công nghệ truyền thanh.

Tháng 11 năm 1962, chính phủ đã ban hành chỉ thỉ cho tiến hành sản xuất hàng loạt loại máy tính M-4. Tuy nhiên, Kartsev được sự ủng hộ của cả nhóm, đã kiến nghị lên chính phủ cho sản xuất hàng loạt một loại máy tính khác. Ông có ý muốn loại bỏ được toàn bộ "những con rệp" – lỗi vẫn còn đang tồn tại trong dòng máy tính hiện thời, ông hy vọng xe cho ra đời loại máy tính khác có hiệu quả kỹ thuật hơn trong khi sản xuất cũng như trong hiệu chỉnh. Vào thời điểm này, nhóm của Kartsev vừa mới phát triển được một hệ thống có các yếu tố lôgíc kiểu mới, hệ thống này sử dụng các bóng bán dẫn cao tần, nó có thể điều khiển các bộ phận hoạt động với tốc độ tốt nhất. Với sự xuất hiện rầm rộ của các loại bóng bán dẫn ở Liên Xô, các loại đèn chân không sự cần thiết không còn tồn tại nữa

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
В редкую минуту отдыха (70-е гг.)

Kartsev và các thành viên trong nhóm của ông, đã hoàn thành bản thiết kế chế tạo cho loại máy tính M-4M mới, trong một thời gian rất ngắn. Trong tháng 3 năm 1963, họ đã chuyển giao các sơ đồ thiết kế của phần số học máy tính cho nhà máy sản xuất, và đến tháng tám cùng năm, họ cũng lại hoàn thành nốt phần còn lại của toàn bộ thiết máy tính. Đúng một năm sau, nhà máy sản xuất cũng đã hoàn thành hai mẫu máy tính đầu tiên. Công đoạn hiệu chỉnh, và công đoạn so khớp các giao diện của dòng máy tính M-4M chỉ cần đến có hai tháng. Vào tháng 10 năm 1964, cả hai mẫu máy tính cũng đã trải qua được các đợt thử nghiệm kỹ thuật, và được các khách hàng của chúng hoàn toàn chấp nhận. Thay vì chỉ cần xử lý được một trăm ngàn phép tính trên giây so với như yêu cầu ban đầu, chiếc máy tính M-4M còn thực hiện được đến hai trăm hai mươi ngàn phép tinh trên giây. Chiếc M-4M là một chiếc máy tính kỹ thuật cao cấp và không cần hiệu chỉnh. Dòng máy tính M-4M được liên tục sản xuất cho đến tận năm 1985; với số lượng hàng trăm chiếc.

Những Sêri máy tính M-4M được sản xuất với ba mẫu chính thức là 5E71, 5E72, 5E73. Tất cả các loại đều khác nhau về dung lượng bộ nhớ. Để nâng cao khả năng của chúng, các hệ thống từ xa AS-1, AS-2, AS-3… và một máy tính bên ngoài 5E79, cùng được phát triển. Với các chức năng của dòng máy tính M-4M là căn bản, những tổ hợp đa máy tính cũng được chế tạo và kết nối với một mạng máy tính mạnh mẽ để hoạt động trong thời gian thực.
Kartsev nhớ lại thời kỳ này với sự sôi nổi và niềm kiêu hãnh:

25 năm trước, vào năm 1957, một trong những chiếc máy tính bán dẫn đầu tiên của Liên Xô làm việc trong thời gian thực – Chiếc máy tính M-4 – bắt đầu được phát triển

Vào tháng 11 năm 1962, chính phủ đã quyết định cho sản xuất hàng loạt dòng máy tính M-4. Tuy nhiên, chúng tôi hoàn toàn hiểu rẳng đây là một dòng máy tính sẽ không dễ dàng để sản xuất đại trà, bởi vì thiết kế của dòng máy này được lắp các bóng bán dẫn và nó cũng sẽ rất khó để hiệu chỉnh. Chúng tôi cũng có may mắn rằng, trong thời kỳ từ năm 1957 đến 1962, công nghệ bán dẫn đã đi được những bước tiến đại nhảy vọt, nó đã cho phép chúng tôi phát triển một chiếc máy tính sẽ tốt hơn nhiều dòng máy tính M-4, và mạnh mẽ hơn bất kỳ một dòng máy tính nào đã từng được chế tạo tại Liên Xô cho đến thời điểm đó. Vào mùa đông năm 1962 – 1963, chúng tôi đã liên tục tranh luận với Viện máy tính điều khiển điện tử, bởi vì họ kiên quyết phản đối về việc phát triển thêm một dòng máy tính mới. Họ quả quyết rằng, chúng tôi sẽ không bao giờ haòn thành được mẫu máy tính mới này trong một thời gian được chỉ định, đây là một sự mạo hiểm to lớn, và dự án chắc chắn sẽ bị thất bại.
Ủy ban Công nghiệp quân sự thuộc đoàn chủ tịch nội các bộ trưởng Xô Viết, đã giải quyết các luận cứ của chúng tôi vào tháng 3 năm 1963. Cũng trong tháng đó, chúng tôi chuyển giao các đồ án thiết kế đã được chuẩn bị về phần số học của máy tính cho xưởng sản xuất do V.A. Kurochkin quản lý. Vào tháng 8 năm 1963, chúng tôi đã hoàn thành toàn bộ các đồ án thiết kế còn lại, và một năm sau xưởng sản xuất cũng hoàn thành được hai mẫu máy tính đầu tiên, để sãn sàng đưa sang công đoạn hiệu chỉnh. Tháng 10 năm 1964, hai mẫu máy tính đầu tiên đã được chuyển giao cho các khách hàng, và đến tháng 12 1964, xưởng sản xuất đã làm được thêm 5 chiếc M-4M. Dòng máy tính này được sản xuất liên tục hơn 15 năm sau đó, và hiện vẫn còn đang hoạt động.


Kartsev đã hoàn thành luận văn tiến sĩ, dựa trên công trình dòng máy tính M-4M của mình, và đến năm 1967, ông được trao tặng phần thưởng nhà nước Liên Xô
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
BelayaZima (05-12-2008)
  #88  
Cũ 02-01-2009, 10:23
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Thời gian phía trước của ông .



Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Đây có vẻ xem như là một thời điểm thích hợp cho Kartsev đươc thanh thản, hoặc ít nhất cũng là một quãng nghỉ ngơi ngắn ngủi sau một thời gian làm việc quá căng thẳng, nhưng mọi việc lại không xảy ra như đúng dự định. Quay lại vào năm 1966, Kartsev đã đề xuất kế hoạch để xây dựng một tổ hợp đa máy tính, gồm có những chiếc máy tính được thiết kế để cùng kết hợp hoạt động. Những nghiên cứu sơ bộ đã thấy rằng, tổ hợp máy tính này có thể đạt được tốc độ sử lý một tỉ phép tính trên một giây. Tại thời điểm đó, không có chiếc máy tính nào trên thế giới có thể đạt được tốc độ đó. Với mục đích đó, đã luôn thôi thúc Kartsev và các thuộc cấp của ông, và đến năm 1967, họ đã hoàn thành được toàn bộ phác thảo cho thiết kế tổ hợp máy tính M-9. Bộ quốc phòng đã phê duyệt dự án này rất một cách rất mau lẹ

Tổ hợp máy tính M-9 gồm có một bộ sử lý điều khiển và bốn loại máy tính khác nhau: một chiếc điều hành chức năng, một chiếc máy tính số, một chiếc với chức năng kết hợp, và một máy tính ngoại vi. Tổ hợp M-9 được chỉ định hoạt động không chỉ với các số đơn, mà còn được hoạt động trên các nhóm số học gần như kết quả của các hàm số, hoặc như những phép tính Vector đã chiều. Về mặt khác, Kartsev đã thiết kế M-9 để có thể phân tích những mối tương quan giữa các dữ liệu sâu hơn so với các máy tính khác có thể làm được trong thời gian này.
Nét đặc biệt chính giữa cỗ máy này (Kartsev đặt tên cho nó là chiếc điều hành chức năng) với chiếc máy tinh đặc trưng là cấu trúc của giao diện các phần số học, cấu trúc này đã được định hạn bởi các mạch đồng thời. Tại điểm kết thúc của mỗi thao tác – mỗi chiếc máy tính được thực hiện theo lệnh trong một hoặc hai chu kỳ thời gian – và bắt đầu ở thao tác tiếp theo, sự trao đổi thông tin giữa dữ liệu đầu ra từ phần số học và các dữ liệu đầu vào của một bộ nhớ (được viết theo các lệnh ưu tiên), và giữa các dữ liệu đầu vào của phần số học và các dữ liệu đầu ra của một bộ nhớ (đọc bộ dữ liệu tiếp theo), được xảy ra mà không mất thời gian đáng kể.

Trong một phần của tổ hợp máy tính M-9, có chiếc máy tính số Vectơ, thực hiẹn các phép tính trên các hàm từng phần và các Vectơ đa chiều. Chiếc máy tính kết hợp có sự thực thi cao này, được thực hiện hầu hết các chương trình phân loại và thiết lập các ma trận thông tin. Chiếc máy tính số hoạt động với một chương trình độc lập, và cả các chương trình được đồng bộ hóa với những chiếc máy tính khác trong tổ hợp M-9. Nó được phối hợp làm việc với những chiếc đa máy tính khác, và cho phép tổ hợp máy tính được duy trì hiệu xuất cao trong khi sử lý các thông tin không đồng nhất, và tạo lập các giá trị trung bình số phổ dụng, để giải các bài toán mở rộng mà chúng đòi hỏi các loại máy tính có hiệu xuất rất cao.

Thật đáng tiếc, tổ hợp máy tính M-9 lại không được sản xuất hàng loạt, mặc dù thiết kế của nguyên mẫu máy tính ban đầu đã đạt được thành công quan trọng cho nhóm của Kartsev. Năm 1967, là một năm xuất xắc dành cho những nhà thiết kế M-9, bởi NIIVK đã được thành lập. Kartsev được bổ nhiệm làm giám đốc NIIVK, và bộ phận của ông trở thành một trụ cột chính; đó là một xác nhận chính thức trong trường phái khoa học của Kartsev.

Thay đổi nội dung bởi: nthach, 06-01-2009 thời gian gửi bài 14:10
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hungmgmi (09-01-2009)
  #89  
Cũ 06-01-2009, 14:15
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Рене Павлович Шидловский

Năm 1969, chính phủ Xô Viết đã đặt hàng chế tạo loại máy tính điện tử M-10, loại máy này chủ yếu được dựa theo thiết kế của M-9. Tiến sĩ khoa học kỹ thuật Leonid Vasilievich Ivanov nhớ lại, "Sự việc đã xảy ra buộc phải có một cuộc họp để cân nhắc hai dự án tiếp theo đã được lập: dự án Elbrus, do Lebedev làm chủ nhiệm, và dự án M-10 do Kartsev quản lý. Lebedev đã mạnh mẽ tranh luận phản đối bộ đa sử lý của máy tính Elbrus, ông nhấn mạnh, bộ sử lý đơn sẽ hoạt động được với năng xuất tối đa. Viện sĩ Glushkov thì ủng hộ cả hai hướng, và sau đó họ đã phê duyệt".

Vào đầu năm 1970, xưởng sản xuất bắt đầu thực hiện lắp ráp mô hình M-10 đầu tiên. Cùng năm sau đó, các bản thiết kế chế tạo được hoàn thành, và đến tháng 8 năm 1971, nguyên mẫu đầu tiên của dòng máy tính M-10 đã chế tạo song và được đưa vào hiệu chỉnh. Vào cùng thời điểm đó, các kế hoạch chế tạo mẫu máy tính công nghiệp đang được xem xét lại để chuẩn cho sản xuất hàng loạt.

Vào tháng 6 năm 1973, mỗi thành phần hệ thống của mẫu máy tính M-10 đầu tiên đã được lắp ráp và thử nghiệm theo các đặc tính kỹ thuật riêng, và cuối cùng chiếc máy tính cũng được hoàn thành toàn bộ. Đến tháng 9, mẫu máy công nghiệp M-10 đầu tiên cũng đã được thử nghiệm kỹ thuật thành công và được đưa vào hoạt động thử nghiệm cho tăng thêm phần mềm gỡ rối.
Vào tháng 12, xưởng chế tạo hoàn thành thử nghiệm mẫu máy thứ hai, và bắt đầu tiến hành sản xuất đại trà; dòng máy tính M-10, được sản xuất liên tục trong vòng 15 năm. Có rất nhiều máy tính dòng này được chế tạo, và cũng rất nhiều chiếc trong số đó được sử dụng cho đến ngày nay. Một vài tổ hợp máy tính mạnh được chế tạo, và sử dụng loaịi máy M-10 làm cơ sở. Năm 1976, một mẫu máy tính M-10 của một trong những tổ hợp máy tính đó, cùng với các phần mềm của nó đã thành công vượt qua đợt thử nghiệm trong trạng thái khắc nghiệt

Nhóm chuyên gia NIIVK và xí nghiệp sản xuất, đã cùng được trao tặng phần thưởng quốc gia của Liên Xô về công lao đóng góp xây dựng dòng máy tính M-10 vào năm 1977. Trong những người thuộc NIIVK được trao tặng phần thưởng gồm có, phó tổng công trình sư Leonid Ivanov, cùng Alexander Alexandrovich Krupsky, Leonid Yakovlevich Miller, Yuri Rogachev, Rene Shidlovsky, và chuên viên thiết kế phần mềm Alexander Karasik, cùng với kỹ sư Anatoly Shishilov và phó công trình sư của xí nghiệp. Với cương vị là chủ nhiệm dự án, Kartsev được trao tặng huân chương Lênin. Hơn một trăm chuyên gia của NIIVK và công nhân xí nghiệp cùng được trao tặng các loại huân, huy chương đặc biệt của Xô Viết.

Dòng máy tính M-10, trên thực tế là một hệ thống máy tính đa xử lý đồng bộ, và là một phần của thế hệ thứ ba dòng máy tính Xô Viết: các nguyên tố lôpic căn bản của nó gồm có 217 bộ vi sử lý Posol. Dòng máy tính này, được dự định để hỗ trợ các hệ thống kiểm soát tự động liên hợp trong thời gian thực và để sử lý độ đa dạng của các luận chứng khoa học. Được lắp các vi điện tử kém hơn trong cơ sở chế tạo công nghệ, cho nên loại máy tính này hoạt động không nhanh bằng loại CRAY-1 được chế tạo cùng thời điểm.

Giá trị của dòng máy tính M-10 trở nên hiển nhiên hơn, khi xét về nguồn gốc để chế tạo ra nó: Kartsev và các đồng nghiệp của ông đã thiết kế chiếc M-10 trong một điều kiện tuyệt đối bí mật, để dành cho hệ thống cảnh báo tên lửa tấn công của Xô Viết (SPRN), và giám sát ngoài không gian. Hệ thống được chuyển giao cho các nhà lãnh đạo quân sự Liên Xô, với các thông tin toàn diện về khả năng đe dọa của tên lửa tấn công và theo dõi vũ trụ liên tục. Trong không gian, thông qua vệ tinh nhân tạo, hệ thống SPRN sẽ phát hiện ra các vụ phóng tên lửa. Dưới mặt đất, hệ thống gồm có chín trạm Rada thám sát cực mạnh, được đặt dọc theo đường biên giới Liên Xô ở các vị trí Riga, Murmansk, Pechera, Irkutsk, Balkhash, Mingechaur, Sevastopol, và Mukachevo, toàn bộ các vị trí này được hỗ trợ bởi mạng lưới các tổ hợp máy tính M-10

Cho đến tận những năm 1980, M-10 vẫn còn thịnh hành như là một dòng máy tính có tính năng cao nhất ở Liên Xô về tốc độ sử lý (nó có thể sử lý khoảng 20-30 triệu phép tính trên một giây), dung lượng bộ nhớ bên trong, và truyền dữ liệu trong một hệ thống đa công. Lần đầu tiên trên thế giới, thiết kế của M-10 cho phép kết nối bảy chiếc máy tính lại thành mọt khối, và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau thông qua các chương trình riêng lẻ. Ngoài ra hệ thống còn có tính năng tự động cấu hình lại trong một phạm vi của các bộ xử lý, một bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên 4 megabyte thứ cấp (RAM) bên trong.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hungmgmi (09-01-2009)
  #90  
Cũ 09-01-2009, 13:54
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
С внуком

Các đặc tính kỹ thuật cải tiến đó, đã nhận được 18 bằng sáng chế và năm bằng chứng nhận kiểu mẫu công nghiệp. Đầu năm 1980, Kartsev và nhóm của ông đã đưa ra một hệ thống thiết bị tồn trữ mới và đặt lại tên là M-10M, các hệ thống phần mềm và phần cứng của hai dòng máy tính M-10 cùng với M-10M hoàn toàn tương thích với nhau. Trong bản giới thiệu của mình tại lễ kỷ niệm NIIVK lần thứ 15, Kartsev đã thảo luận về những năm tháng không thể nào quên mà ông đã từng trải qua:

Vào năm 1967, chúng tôi đã thực hiện một đề xuất táo bạo – chế tạo một tổ hợp máy tính M-9. Bởi vì công việc này là để chào mừng ngày kỷ niệm lần thứ 50 của Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, tôi đặt tên hiệu cho tổ hợp là "Tháng Mười". Bộ chế tạo máy, nơi chúng tôi thiết lập, trở nên quá nhỏ đối với chúng tôi, nhưng các quan chức nói với chúng rằng: "Các anh đã làm việc cho Kalmykov từ lâu rồi, nay các anh hãy đến gặp ông ấy"

Dự án M-9 đã không được thực hiện. Nhưng vào năm 1969, chúng tôi tiến hành làm dự án M-10, và đến năm 1973 dự án này được vận hành. Trong nhiều năm, chiếc máy tính đó vẫn là loại mạnh nhất ở Liên Xô. Tổ hợp máy tính này, còn có trách nhiệm giải quyết một số khám phá khoa học kỹ thuật khác thường, nhất là trong lĩnh vực vật lý. Ngày đó các nhà chức trách không tin tưởng về dự án của chúng tôi lắm, và nhiều ý kiến cho rằng dự án này sẽ không bao giờ thành công. Chỉ đến khi chúng tôi mang đến cho họ sự tin tưởng tuyệt đối, và trong tiềm thức của họ đã nhận thấy rằng, một chiếc máy tính mạnh cần phải có một số lượng trang thiết bị khổng lồ. Nhưng vào thời gian đó, không ai có thể hình dung được nó cả. Công việc của chúng tôi cực kỳ khó khăn; Cả mhóm đã phải làm việc trên rất nhiều địa điểm trong khắp thành phố Moskva: tại xí nghiệp Sokol-1 và trên đường Pochtovaya Vĩ Đại, cùng với ở trong các tầng ngầm thứ hai: trên hẻm Vasilevsky Vĩ Đại, trên đường Burdenko, đường Plyushchikha và trên đường Shchukina.

Sau khi Viện Máy tính Điều khiển Điện tử được thành lập, nhóm của chúng tôi cũng được tiếp nhận một cơ ngơi rộng 590 mét vuông, của một cửa hàng gỗ mỹ nghệ cũ tại quảng trường Sokol. Để được thuận lợi và thích hợp hơn cho toàn nhóm, chúng tôi còn thuê thêm các địa điểm khác – những căn tầng ngầm thứ hai – tất cả đều ở trong thành phố Moskva. Sau này viện đã xây dựng một cho chúng tôi một tòa nhà riêng biệt vào năm 1975.



Cũng chẳng khó hiểu lắm về những hoài nghi đã nảy sinh, nhất là khi tính đến một vài con số: Chiếc máy tính BESM-6 được hoạt động với 60 triệu chiếc bóng bán dẫn, 180 ngàn chiếc Điôt bán dẫn và 12 triệu vòng Ferit. Chiếc M-10, thì sử dụng 2 triệu vi mạch sử lý, 1.2 triệu bóng bán dẫn và 120 triệu vòng Ferit. Nó không phải là một "một đống kim loại" như Kartsev đã thường gọi, mà là một con số phi thường của các linh kiện điện tử. Khi tất cả các lỗi sai sót cuối cùng được giải quyết hoàn thiện, và chiếc máy tính đi vào hoạt động, tổng số hiệu suất của nó bị mất hàng năm chỉ có 10 phút.

Thay đổi nội dung bởi: nthach, 09-01-2009 thời gian gửi bài 14:43
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hungmgmi (09-01-2009)
  #91  
Cũ 09-01-2009, 19:01
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

Bác Thạch ơi, anh em mình dẫm lên vết chân nhau rồi. Đoạn bác vừa gửi lên đây em đã dịch trước đây. Có lẽ chương 3 bản tiếng Nga (em dịch) là chương 4 của bản tiếng Anh mà bác dịch ở đây.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Thao vietnam cho bài viết trên:
hungmgmi (09-01-2009), nthach (12-01-2009)
  #92  
Cũ 12-01-2009, 11:47
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Trích:
Thao vietnam viết Xem bài viết
Bác Thạch ơi, anh em mình dẫm lên vết chân nhau rồi. Đoạn bác vừa gửi lên đây em đã dịch trước đây. Có lẽ chương 3 bản tiếng Nga (em dịch) là chương 4 của bản tiếng Anh mà bác dịch ở đây.
U hu! nó lại không hết toàn bộ chương 4 mới khổ chứ
Cái này cũng là do tôi sơ suất quá, vì đợt trước bận đi công tác nên cứ copy cả chương về máy sách tay, lúc rảnh thì dịch nên không xem lại các bài bác đã dịch trước. Rồi cứ thế là "rình lúc vắng người" trong quán nét và up vội lên. Thôi tôi lại dịch tiếp vào vậy nhé.

Thay đổi nội dung bởi: nthach, 12-01-2009 thời gian gửi bài 11:56
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #93  
Cũ 19-01-2009, 11:16
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Phục hưng thời hậu chiến.


Chỉ một số ít người biết rằng, vào tháng 10 năm 1953, nửa năm sau khi Lebedev và nhóm của ông hoàn thành dự án BESM, chiếc máy tính nối tiếp đầu tiên, chiếc TsEM-1 (phiên ấm tiếng Nga: Tsifrovaya Elektronnaya Mashina-1], đã được nối mạng tại Viện năng lượng nguyên tử ở Moskva và được hoạt động cho đến mãi năm 1960. Quyết định phát triển chiếc máy tính này hầu như rất là tình cờ. Vào thời điểm đó, Sergey Sobolev nguyên là trợ lý giám đốc của Kurchatov tại Viện năng lượng nguyên tử, và vào năm 1950 ông tình cờ đọc được bài diễn tả của ENIAC (Electronic Numerical Integrator And Computer – Máy tính và máy tích phân số điện tử - ND) trong một tạp chí của Mỹ. Với vốn kiến thức sẵn có về các dự án Strela và BESM, Sobolev liền trao tờ tạp chí của Mỹ này cho người giám sát phòng thí nghiệm đo lường của Viện là N.A. Yavlinsky. Tờ tạp chí sau đó lại đến tay một chuyên gia trẻ tuổi, là Gennady Alexandrovich Mikhailov, người vừa mới tốt nghiệp tại Viện năng lượng Ivanovsk ba năm trước đó. Trong các ấn phẩm vừa mới xuất bản tại nước ngoài, ông mới chỉ có thể tìm được đôi bài báo trong các tập san của Anh, viết về loại máy tính EDSAC, loại máy này được xây dựng tại trường đại học Cambridge. Đáng tiếc, các tập san này chỉ giới thiệu về các biểu đồ tiến trình các các tính năng hoạt động của máy. Hệ thống nhị phân, cũng như về soạn thảo chương trình, vào thời gian này không được phổ biến rộng rãi, và khi đó hầu như cũng không có sách hướng dẫn để giải quyết các vấn đề hóc búa sử dụng bằng các phương pháp kỹ thuật số. Khi đó, vẫn còn có những khó khăn khác: nhóm thiết kế và lắp ráp chiếc TsEM-1 chỉ có 4 người – hai kỹ sư và hai kỹ thuật viên – kể cả Mikhailov.
Cũng giống MESM và BESM, thiết kế của chúng được cho là sản phẩm đặc trưng của Lebedev, còn sơ đồ của chiếc TsEM-1 thì lại hoàn toàn mang tính sở hữu của Mikhailov.

Chiếc TsEM-1 được lắp một bộ nhớ điều khiển của 128 số tự nhị phân 31-bit trên 32 mạch trễ thủy ngân; mỗi mạch có 16 số tự với một tỉ lệ phục hồi là 512 kilobyte trên giây. Dung lượng bộ nhớ về sau được mở rộng đến 496 hàng số - 4096 hàng số trên một trống từ. Các dữ liệu đầu vào và đầu ra được thực thi sử dụng như là một thiết bị điện báo ST-35. Các ký tự in ra trên băng điện báo, được sao chép lại vào một dải băng đục lỗ 5 rãnh, và các dữ liệu đầu vào từ dải băng đục lỗ tương tự được chuyển qua một đầu đọc ảnh với tốc độ cao. Các chế độ hoạt động của loại máy tính này, đáng chú ý nhất là bộ hiện sóng – đây là tiền thân của màn hình kỹ thuật số hiện đại của chúng ta ngày nay. Tốc độ cộng, trừ trung bình của TsEM-1 là 495 phép tính trên một giây, với nhân, chia là 232 phép tính trên một giây. TsEM-1 được lắp 1900 đèn chân không điện tử, tiêu thụ khoảng 14 KW điện trong một giờ. Chiếc máy tính được đặt trên 6 chiếc giá kim loại, kích thước mỗi giá là 80 x 180 x 40 Cm. Những hạn chế chính của TsEM-1 là ở trong các mạch trề thủy ngân: do chúng có chiều dài đến 1000mm, bộ Quartz Acoustic Radiator có đường kính là 18mm, nó cần phải thường xuyên kiểm tra cho các tia sóng siêu âm được hội tụ cao, và cho các mức phản xạ từ các điểm thu nhận của thanh thạch anh. Nhưng cũng may là, hàng tuần chiếc TsEM-1 vẫn được tiến hành bảo dưỡng định kỳ thường xuyên để đảm bảo độ tin cậy cho máy tính. Cũng giống như các loại MESM và BESM, dòng máy tính TsEM-1 vốn là một dự án nguyên bản, được xây dựng dựa trên các kinh nghiệm và trình độ cao của những người sáng tạo ra nó, và nó hoàn toàn khác hẳn với loại máy tính EDSAC. Ví dụ, phép tính nhân được thực hiện bằng cách làm tròn số, phép tính chia được hoàn thành mà không còn số dư, và một hệ thống lệnh hai địa chỉ, được thay thế cho hệ thống một địa chỉ trước đây. Lebedev đã đề nghị làm những cải tiến này, trong khi chiếc TsEM-1 còn đang trong thời gian dựng hình. Thêm nữa, hệ thống lệnh biến cải theo kiểu "kiểm soát các ký tự" trong cấu trúc của máy tính, là một hệ thống độc nhất vô nhị.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
BelayaZima (10-02-2009), hungmgmi (04-02-2009), Tanhia (05-03-2009)
  #94  
Cũ 04-02-2009, 13:04
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Còn trong viện Năng lượng Nguyên tử, chiếc TsEM-1 lại không được chấp nhận vào những năm đầu sử dụng. Người giám sát của một phân viện, nhà vật lý Lev Andreevich Artsimovich, vào lúc ban đầu thì khá hoài nghi về loại công nghệ này. Sau một thời gian, ông ta đã thay đổi ý kiến của mình, vì đã ông ta đã nhận thấy chiếc máy tính thực sự hữu dụng và mạnh mẽ: vào cuối năm 1954, Mikhailov đã lập trình và giải được được một phương trình trên chiếc TsEM-1, phương trình này mô tả về qui trình nén tia plasma trong cuộc thí nghiệm kiểm soát sự phản ứng tổng hợp hạt nhân. S.M. Osovtsev, là người đã thiết lập phương trình, ông cũng là một thành viên của nhóm thuyết vật lý do Mikhail Alexandrovich Leontovich dẫn đầu. Trước tiên, Artsimovich cho loại bỏ gia tốc nén của tia plasma với những dao động bao phủ xung quanh nó. Tuy nhiên, sau ba – bốn ngày phân tích lý thuyết, ông ta vẫn thu được những kết quả tương tự. Chiếc TsEM-1 đã được sử dụng để phân tích với một số lượng lớn về các hoạt động phản ứng hạt nhân và đo liều lượng; Lebedev, M.D. Millionshchikov và những người khác đã trở thành những người khá quen thuộc với chiếc máy tính này. Mikhailov cũng là người đã giúp làm tăng thêm một số phác họa mới cho chân dung của Lebedev:

Vào những năm 1950, là một kỹ sư tại Viện Năng lượng Nguuyên tử Kurchatov, tôi đã rất may mắn vì đã gặp gỡ được rất nhiều những nhà khoa học ưu tú của chúng ta. Một vài người trong số họ, tôi chỉ được nhìn thấy từ xa từ những buổi thuyết trình và những hội thảo, như những người Kurchatov, Kikoin, Tamm, Ioffe, Timofeev-Resovskii, và Sakharov. Còn những người khác như, Sobolev, Artsimovich và Leontovich, tôi được gặp trực tiếp hơn, và có quan hệ riêng tư hơn với họ.

Khi tôi bảo vệ luận án thạc sĩ, các quản trị viên đã sát hạch về công nghệ máy tính là các viện sĩ hàn lâm khoa học Artsimovich và Lebedev. Điều này vẫn còn giữ lại trong tôi những điều thú vị khi suy ngẫm về hai nhà khoa học lỗi lạc đó, cùng với những hồi ức về nhiều nhà khoa học tài ba khác của những năm 1950 và những năm 1960. Điểu lo lắng duy nhất của tôi đó là, nếu như Sergei Alexeevich xuất hiện chỉ có một mình, thi nhìn ông thấy có một phong cách quá bình thường so với các đồng nghiệp khác; ông không có một ngoại hình đặc biệt và cũng chẳng có một khuôn mặt quyết đoán. Nhưng sự khiêm tốn cùng với tài năng tột đỉnh của ông, đã làm cho Sergei Alexeevich trở nên một người nổi bật nhất trong tất cả.
Tôi đã nghe danh ông lần đầu từ các đồng nghiệp trong phòng thí nghiệm của tôi, họ nhắc đến ông như là một nhà khoa học có tài khác thường. Nhóm chúng tôi, do N.A. Yavlinsky lãnh đạo, được chuyển đến Viện Nguyên tử, nơi Lebedev đã làm việc. Yavlinsky và Lebedev vốn là bạn bè thân thiết với nhau, và hai gia đình của họ đều dành nhiều thời gian để quan tâm lẫn nhau cho đến tận năm 1962, khi Yavlinskii cùng với vợ và đứa con trai đều bị thiệt mạng trong một vụ tại nạn rơi máy bay.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hungmgmi (04-02-2009)
  #95  
Cũ 05-02-2009, 14:49
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Năm 1959, Mikhailov chuyển đến Kiev và trở thành một trưởng ban tại trung tâm kỹ thuật máy tính của Học viện Ukraina. Ông nói tiếp:

Vào mùa hè năm 1961, đây là lần cuối cùng Sergei Alexeevich đến thăm Kiev. Ông đến thăm trung tâm máy tính của chúng tôi, khi đó trung tâm đã di chuyển từ Feofania đến Lisogorsk. Chúng tôi có tổ chức một chuyến đi đến Feofania, để Sergei Alexeevich được thêm một lần nhìn lại địa điểm, nơi mà ông đã từng khởi đầu công việc của mình. Vào thời gian đó, hầu như ông đã đạt được tất cả mọi thành tựu; trở thành một viện sĩ hàn lâm, một phần thưởng Lênin, và là một anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa…đây cũng được xem như là một thời gian vinh danh của ông. Nhưng Sergei Alexeevich lại là người rất khiêm tốn, và chẳng bao giờ đến dự những buổi họp quan trọng, những buổi yến tiệc, hoặc những hoạt động kỷ niệm rùm beng được tổ chức để dành cho sự có mặt của ông. Khi đó, chẳng có những điều bí mật nào về ông cả, nhưng chỉ có rất ít người trong chúng tôi biết đến.

Một lần, tại một buổi lễ kỷ niệm của ông tại sảnh đường hội nghị Cơ khí Chính xác của Viện, vậy mà trông ông rất là ngượng nghịu và ăn mặc thì xuềnh xoàng trong một chiếc áo choàng Uzbek và chiếc tyubeteika trên đầu (một chiếc mũ chỏm thêu của Trung Á), trong khi đó thì sự náo nhiệt lại bao trùm trên khắp hội nghị. Tôi thì không hề nghe thấy một lời nói xấu nào về ông. Nhưng cũng trong lúc đó, thực sự cũng chẳng có lời hoàn hảo nào dành cho ông.
Đến thăm phòng thí nghiệm của chúng tôi và khi đã kiểm tra tỉ mỉ chiếc máy tính TsEM-1, Sergei Alexeevich đã đưa ra câu hỏi làm chúng tôi rất bất ngờ: "Các anh không lấy búa nện nó đấy chứ", hóa ra là trước đây từng có một chiếc vồ bằng cao su, là dụng cụ của phòng thí nghiệm để sử dụng cho chiếc BESM, và dùng nó để nện vào khung thép bán dẫn của chiếc máy, đây vốn là hành động đặc trưng của sự bảo trì chiếc máy tính BESM. Vì không ít lần chiếc máy tính này có một lệnh bỗng nhiên không thực hiện trên một phép tính lâu quá 15 phút, và phải nện cho nó vài nhát búa, nếu không thì nó lại tính toán lại từ đầu, hành động này cũng nhằm cắt bỏ thời gian lãng phí cho chiếc máy tính.


Các vấn đề đã đề cập trên đây là liên quan đến thế hệ đầu tiên của loại máy tính bóng chân không. Loại máy thế hệ thứ hai được phát triển không gắn đèn chân không, và là những chiếc máy tính bán dẫn BESM-3 và BESM-4 của Lebedev. Những chiếc máy tính này, đã nổi lên tựa như kết quả của sự trẻ trung đầy nhiệt huyết: Những sự phát triển đó đã đươc nảy sinh tại SKB và Viện Cơ khí Chính xác, nó nằm ngoài "kế hoạch" quốc gia – nó là sự sáng tạo của đội ngũ kỹ sư trẻ và kỹ thuật viên trẻ tuổi.

Một thành viên trong nhóm của Lebedev, là A.A. Gryzlov đã nhớ lại, khi đó chỉ là một nhóm tương đối nhỏ những đồng nghiệp trẻ - các kỹ sư, kỹ thuật viên và những nhà sáng chế tự học – có nhiệm vụ đứng ra làm chủ những linh kiện bán dẫn đầu tiên vào năm 1964, để chuẩn bị cho nhân viên SKB tiến tới dự án BESM-6. Đầu tiên, họ nhận nhiệm vụ phát triển những nguyên mẫu cho các chi tiết chính của máy tính, để thu được một số kinh nghiệm trong thiết kế. Cuối cùng, mẫu máy tính được lấy tên là BESM-3M. Với đà cảm hứng bởi sự thành công của mình, các đồng nghiệp trẻ đã đề xuất một ý tưởng táo bạo: tiếp tục phát triển một loại máy tính mới, dựa trên nguyên mẫu đã có sẵn, và lặp lại sơ đồ block-logic của dòng máy tính M-20, và chỉ sử dụng các linh kiện mới. Lãnh đạo của SKB vào thời gian này là O.P Vasiliev, ông ta đã đứng ra ủng hộ những ý tưởng của các đồng nghiệp trẻ, và Lebedev cũng không có phản đối nào với những chàng trai trẻ "chưa được thử thách" này, do vậy chiếc máy tính BESM-4 đã được ra đời trong sự sáng tạo và bầu không khí thân thiện tràn ngập trong Viện của Lebedev như vậy đó.

Lãnh đạo Ủy ban quốc gia, ông Dorodnitsyn đã ghi nhớ những sáng kiến và thành tựu cao đặc dụng của loại máy tính bán dẫn đa năng đầu tiên của Xô Viết. Chiếc máy tính có những đặc điểm khá tối ưu như, độ tin cậy cao,kích thước nhỏ gọn, giá thành thấp; nó nhanh chóng trở thành một loại máy tính được ưu chuộng nhất của người sử dụng vào thời bấy giờ. Khi chiếc BESM-4 được lắp đặt ở Trung tâm Kỹ thuật Máy tính của Học viện Xô Viết, mọi người thường đổ về đây để tìm hiểu thêm về nó, và những câu trả lời thường được lặp lại: "Chiếc máy tính đã không phụ lòng những kỹ sư trẻ tuổi, họ không cần phải duy trì kiểm tra thường kỳ, bởi vì chiếc máy tính này không bao giờ bị hỏng hóc gì, nó có độ tin cậy rất cao". Vậy là chẳng có gì cần phải nói thêm về chiếc máy tính này nữa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
BelayaZima (10-02-2009)
  #96  
Cũ 06-02-2009, 13:19
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Thành tựu của nhà khoa học


Sau khi các công việc về đèn chân không, trên những chiếc máy tính BESM-2 và M-20 kết thúc, bản thiết kế của chiếc siêu máy tính BESM-6 thế hệ thứ hai – kiệt tác máy tính bán dẫn – bắt đầu được tiến hành xây dựng tại Viẹn Cơ khí Chính xác. Hai cựu sinh viên của Lebedev – Vladimir Andreevich Melnikov and Lev Korolev – đã cùng cộng sự với ông trong dự án này. Melnikov và Korolev cả hai đã trở thành những người chỉ đạo các hoạt động dự án, và cũng là các nhà khoa học trẻ trứ danh của Lebedev. Họ nghiên cứu và phân tích tất cả các vấn đề mà họ có được trong tay những xuất bản phẩm về các thiết kế những loại máy tính tốc độ cao. Lebedev lúc này là người chỉ đạo về sơ đồ toán học của chiếc máy. Theo như kết quả, họ đã phát triển được một chiếc máy tính với một hệ thống các lệnh gốc để lập trình dễ sử dụng, có một cấu trúc bên trong đơn giản, hệ thống các yếu tố đáng tin cậy, và một thiết kế đơn giản hóa dành cho bảo trì.

Chiếc BESM-6 trở thành chiếc máy tính đầu tiên của Xô Viết được ủy ban quốc gia chấp thuận với một khối phần mềm trọn vẹn, và rất nhiều chuyên gia kỹ thuật hàng đầu Xô Viết cũng đã tham gia sự phát triển của chiếc máy tính này. Tuy nhiên, Lebedev chính là người đầu tiên được các nhà toán học và các kỹ sư đánh giá có những nỗ lực lớn lao nhất trong thiết kế những hệ thống của chiếc máy. Sự phát triển công nghệ của chiếc máy tính, đã mở ra một con đường khai triển từ các kỹ thuật đơn thuần cho đến các phép toán học.

Cuối cùng còn thêm một vấn đề quan trọng nữa là, Lebedev đã lập thành công thức tất cả các biểu đồ của máy tính với đại số Boole, vấn đề này đã mở ra những chân trời rộng lớn cho sự tự động hóa thiết kế, và những sự chuẩn bị tài liệu cho lắp ráp và hoạt động máy tính. Về sau, những thiết kế được Gennady Grigorievich Ryabov sắp xếp hợp lý hơn, ông là người đã tạo ra hệ thống xung lượng, với hệ thống này ông đã được trao tặng phần thưởng của Nhà nước Xô Viết.

Những tính năng của chiếc máy tính BESM-6

1. Một hệ thống kiểm soát đường ống dẫn, hoặc như Lebedev vào năm 1964 đã gọi nó là, "hệ thống ống nước", các luồng lệnh và operan đã cùng được sử lý đồng thời theo hệ thống này.
2. Sử dụng bộ nhớ kết hợp trên những thanh ghi siêu tốc, đã làm giảm bớt số lượng các lệnh gọi phục hồi bộ nhớ ferit, do đó những thao tác tính toán của máy tính được tối ưu hóa.
3. Một tầng của bộ nhớ đang hoạt động được đưa vào trong Môđun tự điều khiển, do vậy có thể cùng một lúc, thực hiện các lệnh gọi đa hướng đến các bộ nhớ.
4. Một chế độ hoạt động đa chương trình để thực hiện thời gian thực trên một số vấn đề với những lệnh ưu tiên đã được chỉ định.
5. Một cơ cấu phần cứng dành cho phép biến đổi của những địa chỉ toán học đến các địa chỉ vật lý.
6. Một trang hệ thống nhớ lần lượt khai triển để bảo vệ cơ cấu cho các bộ đếm và các lệnh
7. Hệ thống cập nhật thông tin gián đoạn, để thuận làm thuận lợi cho tự động chuyển từ một thao tác tính toán sang một thao tác khác, các bộ truy suất bên ngoài và kiểm soát các hoạt động của chúng
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
BelayaZima (10-02-2009)
  #97  
Cũ 09-02-2009, 11:37
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Chiếc BESM-6 được lắp ráp 60,000 transistor và 180,000 diod bán dẫn. Cấu trúc căn bản của nó thuộc loại mới nhất vào thời gian này, và nó cũng trở thành cơ sở kỹ thuật vi mạch cho các dòng máy tính thế thứ ba và thứ bốn. Chiếc máy tính BESM-6 đạt được tốc độ lên đến một triệu phép tinh trên giây.

Chiếc BESM-6 nguyên mẫu được thử nghiệm vào năm 1965; vào năm 1967, chiếc máy tính chế tạo đầu tiên được chạy thử thành công. Các mẫu tiếp theo cũng được chế tạo vào cùng thời điểm này; do có sự cộng tác với nhà máy, khi đó hầu sự chuẩn bị như không có thời gian chậm trễ để đưa dòng máy tính vào sản xuất đại trà. Ủy ban Quốc gia, đứng đầu là Keldysh, lúc này ông vẫn còn đang kiêm cả chức vụ giám đốc Học viện Khoa học vào những năm 1960, ông cũng hiểu rõ được tầm quan trọng chiến lược của chiếc BESM-6. Với công nghệ máy tính này, Liên Xô đã cho thành lập một trung tâm máy tính để tạo điều kiện cho các hệ thống kiểm soát thời gian thực và phối hợp các hệ thống sử lý dữ liệu từ xa. Dòng máy BESM-6 còn được sử dụng để mô phỏng các quy trình phức hợp của khoa học tự nhiên và kiểm soát các quy trình đó, nó còn được dùng để phát triển thêm các phần mềm mới trong các hệ thống thiết kế bằng máy tính. Dòng máy BESM-6 đã được sản xuất trong hơn mười bảy năm ròng. Những người sử dụng loại máy này rất ưa chuộng nó, và vào những năm 1970, BESM-6 được đặt làm tiêu chuẩn cho những chiếc máy tính có tốc độ sử lý cao nhất ở Liên Xô.

Năm 1975, sứ mệnh chinh phục vũ trụ mang tên Apollo-Soyuz đã được kiểm soát từ một tổ hợp máy tính mới bao gồm cả loại BESM-6 và những dòng máy tính nội địa tốc độ cao do những sinh viên của Lebedev phát triển. Trước khi đó, những công việc sử lý dữ liệu từ xa cho các sứ mệng chinh phục không gian, thường phải sử lý trong khoảng ba mươi phút. Khi sử dụng tổ hợp máy tính mới, các công việc thực hiện chỉ trong vòng có một phút. Các nhà khoa học Xô Viết, đã hoàn thành mọi công việc sử lý dữ liệu trong sứ mệnh Apollo-Soyuz sớm hơn một tiếng rưỡi so với với các đồng nghiệp Mỹ. Điều này đã đánh dấu một thành tựu thực sự của Lebedev: Nhà trường và các sinh viên của ông đã phát triển được chiếc máy tính hàng đầu, nó có thể cạnh tranh được với những chiếc máy tính tốt nhất thế giới vào thời bấy giờ. Để tặng thưởng cho họ về những đóng góp trong sự phát triển dòng máy tính BESM-6, Lebedev và nhóm của ông đã được trao tặng phần thưởng quốc gia.
Trong khi đang viết tay bản thảo này, tôi có đọc qua tác phẩm của Frederick Nietzsche một triết gia người Đức. Một trong những quan điểm của ông đã viết làm tôi phải chú ý: "Tài năng là một con đường dẫn đến một thiên tài".
Lập tức tôi liên tưởng đến Lebedev.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
BelayaZima (10-02-2009), hungmgmi (09-02-2009)
  #98  
Cũ 11-02-2009, 12:42
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Tránh một cuộc chiến tranh.


Ngay từ đầu, nền công nghệ máy tính của Xô Viết được chuyên dùng cho mục đích quân sự. Vai trò của Lebedev là một tổng công trình sư máy tính, cho các hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Liên Xô, những công trình do ông thiết kế vốn được đặt vào hàng tối mật, và công việc của ông thường được tiến hành trong bí mật tuyệt đối. Đến năm 1990, mười sáu năm sau khi ông qua đời, sự tham gia của Lebedev trong các hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Liên Xô cuối cùng mới được Grigorii Vasilievich Kisunko tiết lộ tại một bài báo của ông nhan đề "Tiền bạc dành cho phòng thủ" trên trang Sovietskaya Rossia, phát hành ngày 5 tháng 8. Những dòng máy tính BESM-2, M-20, và BESM-6 đã làm tăng nhanh chóng sự phát triển của những giải pháp khoa học cho hầu hết những vấn đề phòng thủ chống tên lửa phức hợp vào những năm sau chiến tranh. Những chiếc máy tính đó đã trở thành nền tảng cho nhiều tổ hợp máy tính khổng lồ, và trợ giúp rất đắc lực cho các hệ thống phòng thủ chống tên lửa của Liên Xô. Các quốc gia khác cũng có thể giải quyết được các vấn đề tương tự, nhưng họ phải chậm sau rất nhiều năm so với Liên Xô. Những sự phát triển mạnh mẽ của quân sự, đó cũng là kết quả của Cuộc chiến tranh Lạnh, và Sergei Alexeevich đã không thể tự tách mình ra khỏi những nhu cầu cấp thiết vào thời gian đó: sự giúp đỡ của quân sự Xô Viết đã làm cải thiện vị trí kinh tế của Viện Cơ khí Chính xác và thúc đẩy nghiên cứu về những loại máy tính có tốc độ cao phổ biến, và cuối cùng sẽ hỗ trợ lại cho các trung tâm máy tính phòng thủ ở Liên Xô. Đó là nhiệm vụ chính của Viện Cơ khí Chính xác trong suốt Cuộc Chiến tranh Lạnh.
Lebedev đã thấy trước được mọi vấn đề, Trong khi vẫn còn đang ở Kiev, ông đã gửi một lá thư cho đoàn chủ tịch khoa học thuộc học viện Ukraina vào ngày 15 tháng giêng năm 1951:

Học viện Khoa học Ukraina đang phát triển một nguyên mẫu máy tính tốc độ cao. Chiếc máy tính này sẽ có khả năng giải quyết được các vấn đề với những tốc độ và độ chính xác không có loại nào sánh bằng. Ví dụ, nó có thể giải quyết được những vấn đề về các lĩnh vực như; các qui trình nội nguyên tử, công nghệ phản lực, định vị Rada, công nghiệp máy bay, kết cấu cơ khí và nhiều vấn đề khác nữa. Tốc độ và độ chính xác của dòng máy tính này sẽ đạt được rất cao, nó có thể cho phép chúng ta phát triển các thiết bị kiểm soát tên lửa để điều chỉnh chính xác các hệ thống dẫn hướng phóng tên lửa.

Đoàn chủ tịch của Học viện Ukraina không thể hỗ trợ đợc cho ý tưởng của Lebedev, bởi vì khi đó không có tài chính để thực hiện nó: nền kinh tế quốc gia của Ukraina bị suy giảm mạnh sau thế chiến thứ hai. Hơn nữa, các nhà lãnh đạo của Ukraina cũng chưa nắm rõ được tầm quan trọng của máy tính. Sau khi chuyển về Moskva và trở thành giám đốc Viện Cơ khí Chính xác, Lebedev đã thực hiện một kế hoạch dài hạn của mình để tích hợp tin học vào hệ thống phòng thủ quốc gia khi công việc trên chiếc BESM đã hoàn toàn kết thúc. Trong thời kỳ này, Sergei Alexeevich đã cố vấn tận tình cho Vsevolod Sergeevich Burtsev, một chuyên gia trẻ người đã biểu lộ được những phẩm chất đặc sắc về viẹchieeuj chỉnh chiếc BESM nguyên bản. Đã mất người cha trong cuộc chiến tranh thảm khốc, do vậy Burtsev đã trở nên rất gắn kết với Lebedev. Thời gian đầu, anh làm việc tại một trong những viện nghiên cứu khoa học ở Moskva, anh rất nhiệt tình và tận tâm trong công việc phát triển các hệ thống Rada, và áp dụng những hiểu biết đã trải qua đó vào những dự án của mình tại Viện Cơ khí Chính xác: vào giữa những năm 1952 và 1955, Viện này đã phát triển hai dòng máy vi tính Diana-1 và Diana-2, để tự động đọc các dữ liệu và thám sát các mục tiêu trên không. Sau những ngiên cứu, đã dẫn đến thiết kế và phát triển toàn bộ các thế hệ máy tính được sử dụng trong các hệ thống phòng thủ chống tên lửa.

Thay đổi nội dung bởi: nthach, 16-02-2009 thời gian gửi bài 11:54
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
BelayaZima (09-03-2009)
  #99  
Cũ 13-02-2009, 11:40
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Lebedev đã bổ nhiệm Burtsev làm tổng trợ lý của ông, để chịu trách nhiệm kết hợp các máy tính với những khu vực phòng thủ. Sergei Alexeevich rất tin tưởng vào năng lực của Burtsev, một chuyên gia trẻ tuổi, anh đã có những đóng góp quan trọng vào công trình phát triển chiếc máy tính đèn chân không M-40. Dòng máy này được bắt đầu đưa vào hoạt động năm 1958 với tốc độ xử lý là 40.000 phép tính trên giây. Không bao lâu sau, Viện đã cho chế tạo dòng máy M-50, loại máy này có tính năng số học điểm phù động. Những chiếc máy tính dòng này được cung cấp với một kênh đa công, chúng có khả năng nhận dữ liệu dị bộ từ sáu chiều. Hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Liên Xô đã được kết hợp những chiếc máy tính đó. Chính phủ đã bổ nhiệm Grigorii Kisunko chỉ mới 35 tuổi, làm kỹ sư trưởng của hệ thống phòng thủ chống tên lửa đầu tiên của Xô Viết.
Mặc dù một số nhà chuyên môn còn tỏ ra nghi ngờ về ý tưởng của Kisunko, họ khẳng định, dùng tên lửa để bắn hạ một tên lửa đang bay trên không thì hoàn toàn là một sự tưởng tượng, Kisunko không hề tỏ ra nao núng trước sự chế nhạo của họ. Anh kiên quyết tin tưởng vào khả năng phối hợp của công nghệ Rada tiên tiến với công nghệ máy tính hiện đại – hai lĩnh vực khoa học đang được phát triển đó, có thể trở thành nền tảng của hệ thống phòng thủ hiện đại. Kisunko đã lãnh đạo một nhóm kỹ sư đầy nhiẹt tình và năng nổ, họ đã phát triển và chứng minh các nguyên lý cấu tạo của hệ thống phòng thủ chống tên lửa. Qua quá trình trong vòng một năm, cả nhóm đã giải quyết được một số vấn đề phức tạp: dò tìm và theo dõi có hiệu quả như thế nào, hoạt động nhanh nhạy của những tên lửa đạn đạo ra sao?. Thiết lập kết nối tự động giữa khoảng cách của những thiết bị phòng thủ chống tên lửa ra sao?. Nhanh chóng xử lý các dữ liệu để ra những quyết định thích đáng thế nào?. Làm sao để bắn hạ thành công mục tiêu?. Để giải quyết được các vấn đề đó, họ đã đặt ra ý tưởng là phát triển một hệ thống thí nghiệm – "Hệ thống A"

Phía tây hồ Balkhash ở nước cộng hòa Kazakhstan, đó là một vùng sa mạc không có người ở kéo dài đến hàng trăm Km. Nhiệt độ ở đây có lúc lên đến 40 độ C vào mùa hè, ở đây chỉ các loại sinh vật là tồn tại như các loài nhện độc, rắn và bò cạp. Năm 1956, những công nhân đầu tiên đã đến đây để bắt đầu xây dựng khu đa giác, một vị trí chống tên lửa thử nghiệm. Các nhà máy và các nhà nghiên cứu quân sự cùng tiến hành, ở đây có đến hàng ngàn người tham gia vào công việc. Sa mạc này trở thành "Một Moskva ảo", hệ thống phòng thủ chống tên lửa được bảo vệ xung quanh vị trí, để chuẩn bị đánh trả tên lửa tấn công được phóng từ Kapustin Yar và Plesetsk (đây là hai căn cứ tên lửa bí mật của Liên Xô). Những công nhân có nhiệm vụ bố trí các trang thiết bị thí nghiệm để dò tìm các tên lửa sẽ được phóng vào, sau đó bắn hạ chúng trên phạm vi thử nghiệm, phạm vi này được tạm gọi là Sari-Shagan. Mọi người đều làm việc giống như tình trạng thời chiến: Những người xây dựng đều được sống trong các hầm trú ẩn và khi đó mọi người đều bịi thiếu nước ngọt trầm trọng. Những cơn bão bụi thường xảy ra. Công trình xây dựng đường sắt, đường cao tốc và các đường điện cũng đồng thời được tiến hành. Một căn cứ quân sự cũng được xây dựng cùng với các khu nhà dân và một khu liên hợp nghiên cứu được theo dõi bởi một mạng thông tin.

Thay đổi nội dung bởi: nthach, 13-02-2009 thời gian gửi bài 15:03
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
BelayaZima (09-03-2009)
  #100  
Cũ 16-02-2009, 11:53
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Kisunko, Lebedev, và Burtsev đã biểu lộ được những kiên định và tính quyết đoán rất lớn lao, thậm chí có những lúc dường như nhiệm vụ của họ là bất khả thi, và những chiếc máy tính đèn chân không mà họ đã phụ thuộc, cũng chưa hẳn là luôn có tính ổn định. Khi Kisunko lần đầu tiên xem xét chiếc BESM, ông nghĩ rằng, chiếc máy "nhà làm lấy" sẽ có lẽ chẳng bao giờ được đưa vào sản xuất hàng loạt, vật là ông quyết định tập trung vào chiếc Strela, ông ký một hợp đồng với SKB-245 để chế tạo một loại máy tính đặc biệt cho khu đa giác, dựa trên nguyên lý của chiếc Strela, và cũng xem như là một chiếc dự phòng được lắp ráp đồng dạng với chiếc máy trong Viện của Lebedev. Công việc vẫn tiếp tục tại khu đa giác liên hợp, một đại sảnh lớn được xây dựng, và chia làm hai khu vực để lắp đặt cả hai chiếc máy tính. Nhà thầu chung của dự án này đã nhanh chóng thực hiện nốt một nửa còn lại của đại sảnh, nơi được lắp đặt chiếc SKB-245 hiện vẫn chưa hoàn thành, trong khi đó chiếc M-40 đang được gấp rút hoàn thiện ở phía bên kia của đại sảnh. Do đó, các nhà khoa học tại Viện Cơ khí Chính xác đã có thể chứng minh rằng, họ có thể soạn thảo các hồ sơ khoa học ngay tứ khắc cũng như giải quyết được các vấn đề phòng thủ chống tên lửa phức tạp bằng chiếc máy tính M-40 của họ, loại máy này được chế tạo dựa trên nguyên lý của chiếc máy tính BESM.

Trong một năm, hệ thống Rada dò tìm tên lửa thử nghiệm đầu tiên ở Liên Xô đã sẵn sàng hoạt động. Hai năm sau, cuộc thử nghiệm chống tên lửa được khởi đầu, sử dụng hoàn toàn trên máy tính làm cơ sở cho hệ thống A. Các thành phần của hệ thống là những loại hiện đại nhất vào thời bấy giờ: Hệ thống Rada chất lượng cao, một hệ thống điều khiển tự động căn cứ trên chiếc máy tính tốc độ cao M-40, các thiết bị chống tên lửa nhanh và dễ động với khả năng dẫn chính xác và mã hóa bằng số điện tử. Nhiều vấn đề tiến hành không được suôn sẻ vào lúc ban đầu, do một số nhà lãnh đạo Xô Viết luôn đứng ra giám sát dự án, bởi cũng do Kisunko vốn là con trai của một phú nông thời kỳ trước. Nhưng cuối cùng, ngày thử nghiệm đã đến, và tất cả mọi người, ai cũng đều nhớ đến thời khắc thiêng liêng nhất đó trong suốt quãng đời còn lại của mình…
… Ngay khi chiếc tên lửa mô hình được phóng đi, nó ngay lập tức xuất hiện trên các bộ định vị Rada. Sau đó mệnh lệnh phóng tên lửa chống tên lửa được ban hành, người điều khiển lập tức nhấn nút phóng. Ngay tức thì, dấu vết mục tiêu được hiển thị trên màn hình, thiết bị chống tên lửa được phóng lên. Vài phút sau, một bộ chỉ báo phát tín hiệu: "Mục tiêu đã bị triệt phá". Ngày hôm sau, cảnh quay ghi lại của sự kiện đã chứng minh, hệ thống phồng thủ chống tên lửa đã thực sự thắng lợi rực rỡ - đầu nổ của chiếc tên lửa đạn đạo đã hoàn toàn bị phá hủy.


Sự kiện này đã đánh dấu một điểm bứt phá trong sức mạnh quân sự, trong khoa học, và thậm chí trong cả lĩnh vực chính trị: Nikita Khrushchev đã tình cờ nhận sét về vấn đề này tại một cuộc họp báo, "Duy nhất có thể nhận định rằng, tên lửa của chúng ta có thể bắn trúng một vật thể bay trên không gian". Vào lúc đó, có rất nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới cũng không chắc chắn rằng, Khrushchev nói đó có phải là thật sự hay không. Các quốc gia khác không quan tâm đến những ý định phi hạt nhân để tiêu diệt tên lửa hành trình, và tiến trình phát triển của Xô Viết về các hệ thống phòng thủ chống tên lửa ngày càng nhanh chóng, nó buộc Mỹ phải ký hiệp ước hạn chế hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo vào năm 1972.

Vào một lần, người con gái của Sergei Alexeevich hỏi cha: "Tại sao cha lại phải chế tạo máy tính cho quân đội?" ông trả lời: "Đó là một việc làm để tránh một cuộc chiến tranh".

Đằng sau những thành tựu đã đạt được đó, còn có một khối lượng công việc khổng lồ do rất nhiều đội ngũ các nhà khoa học đã thực hiện, bao gồm cả sự quản lý đầy sáng tạo của Lebedev. Họ đã dành rất nhiều thời gian của mình cho khu thử nghiệm đa giác. Những người sáng tạo của hệ thống phòng thủ chống tên lửa đạn đạo đầu tiên, đã được trao tặng phần thưởng Lênin. Trong số họ có cả Kisunko, Lebedev, và Burtsev. Những chiếc máy tính đèn chân không của họ, đã được sử dụng tại khu thử nghiệm đa giác, cuối cùng được cải hoán lại thành những chiếc máy tính bán dẫn. Một trong số đó là chiếc máy tính có ba bộ xử lý, nó có thể xử lý được từ 1.5 đến 2 triệu phép tinh trên giây. Đây là chiếc máy tính Xô Viết đầu tiên dựa trên mạch tích hợp. Cuối cùng, các nhà khoa học và những kỹ sư Xô Viết đã trông nom về sự phát triển của một chiếc máy tính cỡ nhỏ đa năng có độ chính xác cao. Trải qua nhiều kinh nghiệm chế tạo dòng máy tính thế hệ thứ ba, họ đã có cơ sở để tiếp tục thiết kế một siêu máy tính mang tên Elbrus
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
BelayaZima (09-03-2009), Tanhia (05-03-2009)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Thế giới công nghệ thông tin BelayaZima Công nghệ thông tin 24 24-11-2012 12:55
Đề nghị tìm giúp bài hát phucanh Nhạc Nga - Xô viết 189 05-01-2012 00:51
Bí mật của công nghệ perets Vũ khí của Hồng Quân 3 11-09-2009 15:14
học công nghệ Môi Trường ở Nga omertachinno Trao đổi kinh nghiệm du học 11 13-04-2009 23:57
Nước Nga-nơi tôi học chữ-học nghề và học làm người phambakhoa Sinh sống tại Nga 5 16-11-2008 08:45


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 06:07.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.