Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Thi ca

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 30-11-2007, 15:15
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Trích:
Geobic viết
Trích:
tykva viết


Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Đôi mắt trong veo thế
Nếu đã lỗi lầm, người không giữ nổi đâu!

1921?
Bài dịch của Bí rất được, riêng câu cuối nếu thay như sau liệu có đúng hơn không?

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Đôi mắt trong veo đến vậy
Chẳng thể nào có ở kẻ lỗi lầm đâu!

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!
Dạ vâng, em xin bác hai câu cuối, và sửa như sau:

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Mắt trong veo đến vậy
Kẻ lỗi lầm chẳng có nổi đâu!
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #22  
Cũ 30-11-2007, 15:16
Geobic's Avatar
Geobic Geobic is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 1,285
Cảm ơn: 2,238
Được cảm ơn 4,930 lần trong 1,126 bài đăng
Default

Geo xin gửi bài dịch sau đây, chắc chắn được sáng tác sau khi Nabokôv đã rời Tổ quốc, để hiểu về tình cảm của ông với quê hương mà bác For đã rất dày công phân tích về bài Đàn Sếu. Rất mong mọi người hưởng ứng dịch tiếp các bài khác. Những Nina, Usy dạo này đi đâu mất tăm ấy nhỉ?

Gửi nước Nga

Ta chẳng ngợp trong giận hờn vô nghĩa,
Rủa nguyền, van vỉ cũng không;
Ta vẫn yêu Tổ quốc mình sau trước,
Như yêu ai đã đổi dạ, thay lòng.

Nhưng, ơi nước Nga, ta cô độc quá chừng!
Người với ta giờ ngàn trùng cách trở!
Vậy mà từng có những ngày quá khứ:
Người cùng ta chia sẻ, bao dung!

Ta cảm nhận nỗi đau êm dịu
Niềm đam mê rất đỗi trẻ trung
Khi từ cánh rừng xanh tươi vọng lại
Tiếng Người cười tựa nhạc ngân rung.

Ta từng hôn đoá hoa đồng thảo tháng năm, -
Những con mắt Nga ngây thơ, trong trắng, -
Và những cánh hoa, chừng hiểu lòng ta,
Những giọt lệ-sương yêu lấp lánh…

Và vậy đó, ơi nước Nga của ta,
Ta đâu dám giận hờn, sầu tủi…
Ta biết rằng ánh mắt sáng trong kia
Chẳng thể có ở người lầm lỗi.

1921?

России

Не предаюсь пустому гневу,
не проклинаю, не молю;
как изменившую мне деву,
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок, Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей,
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая,--
глаза невинные твои,--
и лепестки, все понимая,
чуть искрились росой любви...

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!

1921?
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #23  
Cũ 30-11-2007, 15:20
NguyenAnh's Avatar
NguyenAnh NguyenAnh is offline
Sủi cảo Nga - Пельмени
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 115
Cảm ơn: 70
Được cảm ơn 299 lần trong 84 bài đăng
Default

@ bạn For:
BBT NNN từng có ý định đưa bài viết này của bạn lên trang chủ, nhưng thú thực là có phần e ngại vì bạn đã có lần phật ý và bày tỏ ý kiến không muốn để cho ai sửa chữa, biên tập làm mất văn phong của mình. Nay thấy bạn có ý nhắc nhở, chúng tôi xin đề xuất biên tập một chút như sau. Nếu bạn không phản đối thì chúng tôi sẽ cho lên như là một bài viết cảm nhận về văn học.

Chúc bạn tiếp tục chộp được nhiều cảm xúc và nhiều chuồn chuồn

Trích:
Forytchia viết
Những cảm xúc sâu lắng cùng “Đàn sếu”


“Đàn sếu” là một trong số các tác phẩm thơ của Vladimir Nabokov. Ông viết bài thơ này vào một ngày tháng mười mùa đông năm 1918. Đã gần một thế kỷ trôi qua mà những gì tác muốn giả gửi gắm ở “Đàn sếu” vẫn không hề xưa cũ, ngay cả đối với thế hệ độc giả yêu thơ hôm nay:

ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

Các phương án dịch:

ĐÀN SẾU
1.
Xào xạc cánh rừng vàng
Biển xa vang tiếng dội,
Đàn sếu nức nở bay
Tới miền cư trú mới.

Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần,
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em còn nhớ anh.
(Tạ Phương)

2.
Cánh rừng vàng xào xạc
Biển cũng hát rì rào
Đàn sếu bay mê mải
Tha thiết gọi bạn yêu

Bầu trời như thể mất
Đàn sếu và bài ca
Hai con cuối kể lại
Em vẫn thường nhớ anh !
(Minh Nguyệt)

3.
Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.

Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.
(Quỳnh Hương)

4.
Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng,
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang,
Văng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.

Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt, dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.
(Thu Hương)

5.
Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...
(Phan Chí Thắng)

6.
Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời

Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ
(Lưu Hải Hà)

7.
Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.
(Nguyên Hùng)

Mỗi bản dịch trên đây, với giọng văn và cảm xúc riêng của người dịch, đã cho ta thấy nhiều góc nhìn về bài thơ, nhưng đều toát lên được tình cảm nhớ nhung quê hương của tác giả thông qua hình tượng đàn sếu di trú.

Để hiểu sâu sắc một bài văn, bài thơ nào đến tận cùng cội rễ ta đều nên tìm hiểu hoàn cảnh xuất xứ ra đời của nó. Ở bài thơ “Đàn sếu” cũng không là một ngoại lệ. Tác giả bài thơ sáng tác vào thời điểm tháng mười – khi ấy mùa đông lạnh lẽo đang tràn về; những đàn chim di trú mắt nhắm nghiền từng đàn theo quy luật của tự nhiên bay từ miền bắc về phương nam ấm áp hơn, bắt đầu rủ nhau đi tránh rét. Tác giả mượn hình ảnh đàn chim này chính là nói lên nỗi lòng mình khi biết rằng rồi mình cũng như đàn chim kia: bay đi nhưng sẽ trở về dù có thể chỉ là trong tâm khảm, tuy phải tạm xa mảnh đất quê hương nhưng quê hương vẫn nhớ khắc sâu trong tim.

Đàn chim sếu hay chính là bản thân tác giả trước khi ra đi chuẩn bị thật sự rời xa tổ quốc như tự nhủ với chính lòng mình “Ra đi nhưng lòng vẫn mãi nhớ về quê hương”. Một nhà văn Nga (sống lưu vong ở Italia) cũng đã từng thốt lên những lời yêu thương dành cho tổ quốc của mình, đại ý: “Dưới đế giày của tôi luôn luôn có những hạt đất của nước Nga”- dù có ở đâu hay đi bất cứ nơi nào thì tổ quốc vẫn sẽ ở mãi trong tâm trí.

Ở khổ thơ đầu, hình ảnh “cánh rừng thưa xào xạc lá vàng” và” tiếng biển ngân vang “ hòa với nhau thành bài ca ca ngợi mảnh đất quê hương ở Nga rất đặc trưng. Thời tiết vào mùa đông thường hay ảm đạm nhưng với tác giả thì hai hình ảnh ấy vẫn ngời ngời trong tâm tưởng vì chẳng đâu đẹp hơn quê mình, tổ quốc mình. Hình ảnh siêu thần ấy chỉ ở nơi quê hương là đẹp đẽ nhất bởi hai chữ Quê Hương viết hoa luôn ngự trị trong trái tim một người con khi sắp phải rời ra nơi đó. Tác giả nhân cách hoá “đàn sếu” cũng biết “ thẫn thờ” lưu luyến đầy vơi như tình cảm con người khi biết mình sắp phải tạm biệt những điều yêu thương gần gũi từ thuở nào. Trạng thái này xảy ra khi đàn chim đang chuyển động dần xa, tác giả dùng hai từ này quả là quá tuyệt. Bạn ơi, hãy cho tôi mượn chiếc khăn màu thời gian để thấm những giọt tâm hồn như đang ngây ngất khi nghe cách thể hiện tình cảm của V. Nabokov với quê hương mình.

Khi hiểu xuất xứ bài thơ, đứng trên góc độ cách cảm nhận đồng điệu ấy, những người dịch thơ và các bạn đọc thơ sẽ thấy được những điều ẩn chứa trong hình ảnh đàn sếu, và nhất là ở hình ảnh hai con rốt đàn, vô cùng cảm động! Hình ảnh cực kỳ đắt là khi hai chú chim (trước khi bay khuất vào làn mây) ngoái lại đầy quyến luyến để gửi gắm lời nhắn nhủ lần cuối “Em sẽ mãi hằng nhớ anh, nhớ mãi mảnh đất này”. Tác giả sử dụng phương pháp nhân cách hóa quá tuyệt vời ở hai câu kết, lời của chim sếu băng qua muôn trùng mây, muôn ngàn gió vọng đến vẫn ấm nồng gửi lại mảnh đất thân quen ấy một lời khắc khoải.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #24  
Cũ 30-11-2007, 15:22
tykva tykva is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 822
Cảm ơn: 309
Được cảm ơn 998 lần trong 443 bài đăng
Default

Ta khuân vác bài này lưu tư liệu

Trích:
Việt Hùng viết
V.Nabokov lần đầu được dựng tượng tại nước Nga

theo Newsru

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Hôm qua, thứ Sáu 26/5/2007, tượng đài đầu tiên của V.Nabokov tại nước Nga đã được khánh thành tại Saint Petersburg. Tác giả bức tượng-ông Vasily Azemsha đã đặt tên cho tác phẩm của mình là "Ông vua cô đơn"-ngụ ý muốn nhắc đến thân phận cô độc của nhà văn khi phải sớm rời Tổ quốc tha hương.
Bức phù điêu nhà văn Nabokov bằng đồng mô tả nhà văn đang ngồi suy tư bên bàn cờ vua được đặt trong sân Khoa ngôn ngữ, Trường Đại học tổng hợp quốc gia Saint Petersburg.
Ngày 2/7/2007 sẽ tròn 30 năm ngày mất của V.Nabokov. Ông thọ 78 tuổi và được mai táng tại Thụy sĩ.
__________________
Đã rời NNN...
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #25  
Cũ 16-08-2009, 17:42
hungmgmi's Avatar
hungmgmi hungmgmi is offline
Kvas Nga - Квас
 
Tham gia: Nov 2007
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 6,374
Cảm ơn: 7,948
Được cảm ơn 12,324 lần trong 3,882 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới hungmgmi
Default

Xin khuân về một bài viết mới công phu của bạn Thụy Anh về Nabokov và cuốn tiểu thuyết cuối cùng sắp được ra mắt bạn đọc Nga:
“Gã ta là quái vật! … Nhưng là nhà văn tuyệt vời!”
Cập nhật lúc 16:01, Chủ Nhật, 16/08/2009 (GMT+7)
- Những ngày này ở Nga, người ta đã hoàn tất những thủ tục cần thiết về bản dịch tiếng Nga cho tác phẩm cuối cùng của nhà văn hải ngoại người Nga Vladimir Nabokov (1899-1977). Cuốn tiểu thuyết chưa có phần kết được chấp bút vào năm 1975, mang tên: “Laura và nguyên mẫu của nàng”.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Nabokov thời niên thiếu
Số phận của cuốn tiểu thuyết này thật đặc biệt. Trước khi qua đời, V. Nabokov đề nghị vợ hủy bản thảo bởi ông viết chưa xong và không thể chịu được ý nghĩ “người ta sẽ đọc cuốn sách mới có trong đầu ông mà chưa được viết ra giấy”. Bản thảo chưa hoàn tất cũng không kém phần kỳ lạ: được viết tay trên 138 tấm bìa nhỏ.

Hiểu được lo lắng của nhà văn quá cố, các NXB quyết định, bản thảo sẽ được in ra trọn vẹn, đúng theo những gì Nabokov để lại, không hiệu đính, không viết thêm để kết thúc câu chuyện. Người ta còn có ý định, khi in cuốn sách sẽ sao chụp toàn bộ 138 tấm bìa này, in đằng sau mỗi trang giấy, như là minh họa, đồng thời tạo điều kiện cho những độc giả hâm mộ Nabokov thấy được bút tích của nhà văn.

Theo lời kể của Dmitry Nabokov, con trai ông, trước đó, nhiều lần Dmitry Nabokov định thực hiện ý nguyện của cha là đốt bản thảo, nhưng rồi đầu năm nay lại quyết định chuyển nhượng bản quyền cho một số NXB để tác phẩm cuối cùng của người cha được ra đời. Nhân vật chính của cuốn sách là nhà khoa học Phillip Wild, người luôn bị chìm trong những ý tưởng điên rồ về cái chết của chính mình.

Một trong những nguyên nhân của việc ấy là thái độ hư hỏng không chung thủy của người vợ trẻ… mà ông ta không yêu. Ông lấy nàng chỉ vì nàng rất giống với “nguyên mẫu”, một người con gái ông say mê thời trẻ! Trong tiểu thuyết này, lại một lần nữa V. Nabokov chứng tỏ tài năng trong việc mổ xẻ tâm lý con người, những bấn loạn và tưởng tượng vô hạn của con người, cũng như trong “Lolita”!

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Nhân vật Lolita trong bộ phim cùng tên.
Chính “Lolita” cũng từng bị Nabokov muốn hủy bỏ nhưng cuối cùng vẫn được in ra do sự can thiệp của vợ nhà văn, bà Vera Slonim. Rất có thể, cuốn tiểu thuyết hơn hai mươi năm nằm day dứt trong bóng tối sẽ có chung kết cục tốt đẹp như của “Lolita”.

Người của thế giới, nhưng trái tim đập nhịp nước Nga

Trong dòng văn học hải ngoại của Nga, tên tuổi của Vladimir Nabokov chiếm giữ một vị trí quan trọng.

Nabokov không hoàn toàn là nhà văn Nga mặc dù thứ tiếng Nga ông dùng khi chuyển ngữ các tác phẩm của mình từ tiếng Anh là thứ tiếng Nga văn học hoàn hảo, ngang bằng với vốn tiếng Anh, tiếng Pháp mà ông có được từ thời thơ ấu. Ông là nhà văn “của thế giới”.

Ông thường nói: “Tôi là nhà văn Mỹ gốc Nga, được đào tạo ở Anh, nghiên cứu văn học Pháp và mười lăm năm sống ở Đức”. Xuất thân từ một gia đình quý tộc Nga hoàng, sống như một “ông hoàng nhỏ” muốn gì được nấy, việc phải cùng gia đình rời bỏ nước Nga vào năm 1919 là một bi kịch lớn của ông.

Theo lời con trai của ông, Dmitry Nabokov, sinh thời, nhà văn thường nhắc đến ba bi kịch của đời mình: tuổi thơ bị tước đoạt, cái chết đau đớn của thân phụ ở Berlin bởi bàn tay của những người theo chủ nghĩa quân chủ Nga tại hải ngoại (1922), và việc không được sáng tác bằng thứ tiếng Nga thân thương và giàu có của mình khi bắt đầu di cư sang Mỹ.

Một vài năm sau khi cha mất, Nabokov sống khá cực nhọc, kiếm tiền bằng việc soạn các thế cờ cho các tờ báo, nhận dạy quần vợt, đấm bốc, bơi, dạy tiếng Anh, tiếng Đức và đôi khi còn tham gia đóng phim nữa. Tiểu thuyết đầu tay của Nabokov là cuốn “Mashenka” với bút danh Vladimir Sirin.

Từ đấy nhà văn dần trở thành một tác gia quan trọng trong nền văn học Nga hải ngoại. Trong thời gian này, ông viết và xuất bản tám cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Nga. Ngoài ra, ông còn sáng tác kịch và làm thơ.

Những nhà văn Nga hải ngoại có thái độ không mấy thân thiện đối với Nabokov, bởi lẽ, nhà văn trẻ trong tiểu thuyết “Tặng vật” đã cho phép mình mô tả cuộc sống của người Nga lưu vong một cách châm biếm cay độc. Thậm chí nhiều người không thèm bắt tay với ông. Thế nhưng, tài năng của ông vẫn được nhìn nhận. I. Bunin đã từng thốt lên: “Gã ta là quái vật! … Nhưng là nhà văn tuyệt vời!”
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Nabokov và vợ.
Chế độ phát xít thâm nhập vào chính quyền Đức cuối thập kỷ 30 thế kỷ trước khiến những người Nga lưu vong như Nabokov đành phải tìm đường đi nơi khác. Năm 1937, V. Nabokov cùng người vợ Do Thái của mình chạy sang Paris. Năm 1940 một lần nữa họ lại phải ra đi, rời Pháp sang định cư tại Mỹ.

Trong 20 năm sống ở Mỹ, Nabokov gặp bi kịch thứ ba của đời mình, là không còn được sáng tác bằng tiếng Nga nữa vì không có độc giả đọc tiếng Nga. Tuy vậy, ông vẫn giữ mối liên hệ gần gũi với tiếng Nga thông qua việc nhận giảng dạy về văn học Nga tại một số trường đại học và … chuyển ngữ những tác phẩm của mình ra tiếng Nga.

Ngoài việc sáng tác, dạy học, ông còn được làm một công việc yêu thích của mình từ thuở ấu thơ – là nghiên cứu các loài bướm. 4 ngày trong tuần ông làm việc say mê ở phòng thí nghiệm côn trùng học của Viện bảo tàng tự nhiên New York, “đắm mình trong thế giới trong suốt kỳ diệu của ống kính hiển vi, nơi chỉ sự tĩnh lặng ngự trị hoàn toàn” và cũng hoàn toàn cảm thấy hạnh phúc.

Những tiểu thuyết đầu tiên của Nabokov không có được thành công lớn về mặt xuất bản tại Mỹ, nhưng từ cuốn “Lolita” (1955), ông trở nên cực kỳ nổi tiếng. Mà nổi tiếng vì... tác phẩm bị nhiều nhà xuất bản từ chối!

Tại thời điểm đó, Lolita là một câu chuyện khó hiểu và không thể chấp nhận được ngay cả ở Mỹ! Cuối cùng, Nabokov gửi bản thảo về Paris và một thời gian sau “Lolita” cũng được in ở Mỹ. Cuốn tiểu thuyết này được tái bản nhiều lần, được dựng thành phim, đem đến cho nhà văn danh tiếng và tiền bạc.

Những năm cuối đời, V. Nabokov sống ở Thụy Sĩ, viết những cuốn tiểu thuyết cuối cùng của đời mình và tiếp tục… bắt bướm. Khi nữ sĩ Nga Bella Akhmadulina đến thăm Nabokov tại Thụy Sĩ trước khi ông mất, nhà văn đã tâm sự:” Tôi tiếc là đã không ở lại nước Nga”.

Khi vợ ông phản đối sự nuối tiếc ấy, nhắc lại bối cảnh lịch sử rất phức tạp thời đó với xuất thân của ông, thì nhà văn “người Mỹ gốc Nga” đã nói: “Ai biết được, có lẽ nếu ở lại tôi sẽ trở thành một tác giả hoàn toàn khác, có thể còn hay hơn nhiều!”

Trong thời gian sống ở Thụy Sĩ, ông đã hoàn thành một món quà lớn dành cho quê hương: giới thiệu văn học Nga, văn hóa Nga ra thế giới. Đó là dịch thi phẩm “Evgheny Oneghin” của A.S.Pushkin ra tiếng Anh kèm với … bốn tập biên khảo, chú giải cho tác phẩm ấy mà ông đã dày công ghi chép trong vòng 15 năm. Ngoài ra, ông còn dịch rất nhiều tác phẩm thơ kinh điển khác.

Mặc dù thời gian sống trong lòng nước Nga chỉ vỏn vẹn 20 năm đầu của cuộc đời, sâu xa, Nabokov vẫn thương nhớ nước Nga, đúng như nhà văn từng nói: “đầu nói bằng tiếng Anh, tai nghe bằng tiếng Pháp nhưng trái tim nói bằng tiếng Nga!

Được đón nhận ở Tổ quốc

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Tượng Nabokov ở Thụy Sỹ.
Ở Nga, người ta bắt đầu đọc Nabokov từ năm 1986. Những năm 90 của thế kỷ trước, rộ lên “làn sóng” xuất bản các tác phẩm của V.Nabokov, đặc biệt là cuốn “Lolita”. Những năm ấy, nếu bước vào hiệu sách, bạn sẽ gặp “Lolita” đủ các kiểu dáng, kiểu bìa, đủ các loại giá tiền và cũng có thể gọi là best-seller dạo ấy. Bây giờ, các tác phẩm của Nabokov vẫn được các NXB liên tục tái bản.

Sắp tới, người ta còn cho dựng vở balet Nga theo kịch bản chuyển thể từ “Lolita”! Độc giả trẻ người Nga cho rằng, “Nabokov là nhà văn biết ca ngợi tình yêu thể xác một cách kỳ diệu”.

Có thể nói, đối với người Nga, Nabokov là một nhà văn “cổ điển” của thời hiện đại bởi lẽ, càng ngày ông càng được tìm đọc nhiều hơn. Sự lồng ghép giữa các mảng không gian: hiện thực và ác mộng và những chi tiết biến hóa kỳ ảo trong tâm lý con người, sự giải thoát về nhục thể và trí tưởng tượng vô biên đã tạo “đất” cho Nabokov khắc họa bản chất của tâm hồn con người theo cách riêng của ông. Đó cũng là một trong những mối quan tâm lớn của độc giả hiện đại.
Thụy Anh

http://vietnamnet.vn/vanhoa/2009/08/863697/
__________________
hungmgmi@nuocnga.net
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên:
Geobic (16-08-2009), rung_bach_duong (17-08-2009), USY (17-08-2009)
  #26  
Cũ 01-09-2009, 16:02
cun09 cun09 is offline
Bánh bliny nóng - Горячие блины
 
Tham gia: Aug 2009
Bài viết: 26
Cảm ơn: 23
Được cảm ơn 45 lần trong 16 bài đăng
Default

Trích:
hungmgmi viết Xem bài viết
Nhân vật Lolita trong bộ phim cùng tên.
Chính “Lolita” cũng từng bị Nabokov muốn hủy bỏ nhưng cuối cùng vẫn được in ra do sự can thiệp của vợ nhà văn, bà Vera Slonim. Rất có thể, cuốn tiểu thuyết hơn hai mươi năm nằm day dứt trong bóng tối sẽ có chung kết cục tốt đẹp như của “Lolita”.
Hiên nay chưa có bản dịch Lolita sang tiếng Việt. Có thể chưa dịch giả nào đủ bản lĩnh dịch tiểu thuyết này. Vì dịch văn Nabokov rất khỏ, đặc biệt văn trong Lolita. Không hiểu ông thấu suốt, sẽ cho ra những bản dịch vô hồn. (Nhiều bài dịch thơ Blok sang tiếng Việt hiện ở tình trạng đó).

Nhờ nhuận bút cuốn Lolita mà Nabokov đã hoàn toàn thóat khỏi khó khăn về kinh tế, ông đã rời Mỹ sang châu Âu sinh sống...
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Vladimir Putin của nước Nga hungmgmi Con người 804 14-03-2015 12:03
Vladimir Ilich Lenin hongducanh Con người 153 14-07-2012 19:42
Vladimir Mayakovsky Nina Thi ca 4 04-04-2012 22:15
Nhà khoa học người Nga Vladimir Pasechnik tieuboingoan Con người 0 02-10-2008 12:26
Thùy dương nguyên thủy - чазенiя - Tiểu thuyết của Vladimir Korotkevich fresco Văn học 24 22-04-2008 21:35


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:06.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.