VĨNH BIỆT GUNXARƯ (tiếp theo)-TS. AIMATOV
Ông trả lời bọn ấy bằng cái nhìn: cứ chờ đấy mà xem, bọn khốn kiếp, rồi thế nào mọi việc cũng sẽ như chúng tao dự tính! Thế nhưng, những kẻ đó đâu phải người dưng, chỗ bà con cả thôi. Kulubai là anh cùng bố khác mẹ với ông, giờ đây đã già rồi, trước chiến tranh đã bị đưa đi Xibia bảy năm. Các con trai Kulubai cũng về hùa với bố, căm thù Tanabai ghê gớm.Vả chăng, vì lẽ gì họ phải yêu mến Tanabai kia chứ? Có lẽ cả con cái họ cũng căm thù giòng giống Tanabai. Mà họ căm thù ông cũng có duyên cớ. Việc xảy ra đã lâu rồi, nhưng niềm oán hận vẫn nung nấu trong lòng họ. Có nên đối xử với Kulubai như thế không chứ? Chẳng phải Kulubai chỉ là một ông chủ phong lưu, một trung nông thôi sao? Còn tình máu mủ vứt đi đâu? Kulubai là con bà cả, Tanabai là con bà hai, nhưng đối với người Kirghizơ thì hai anh em như thế được coi như ruột thịt. Như vậy là Tanabai đã không đếm xỉa gì đến tình máu mủ, hồi ấy thiên hạ nói ra nói vào biết bao nhiêu! Bây giờ tất nhiên có thể nhận định khác. Nhưng còn hồi ấy? Ông làm như thế chẳng phải vì nông trang sao? Tuy nhiên, có nên xử sự như thế không? Trước đây, ông không hồ nghi gì hết, nhưng sau chiến tranh, đôi khi ông nghĩ khác. Phải chăng ông đã tạo thêm những kẻ thù không cần thiết cho bản thân mình và cho nông trang?
- Này, sao lại ngồi gây ra như thế, Tanabai, tĩnh trí lại đi. – Người ta đưa ông trở lại cuộc bàn bạc. Rồi lại vẫn những chuyện ấy: trong mùa đông, cần đưa hết phân bón ra đồng, phải đến từng nhà để thu nhặt. Không có bánh xe, vậy thì cần mua gỗ du, mua sắt làm vành bánh, nhưng tiền đâu, liệu người ta có cho vay không và lấy gì đầm đợ để vay? Ngân hàng không tin lời nói xuông. Những con mương cũ cần được khơi lại, phải đào thêm mương mới, đấy là việc lớn lao nặng nhọc. Mùa đông nông dân không chịu đi làm mương, đất lạnh cứng, đào không được. Đến mùa xuân thì không kịp nữa rồi: nào là gieo hạt, chăm cừu đẻ, nào là làm cỏ, cắt cỏ gia súc… Còn việc nuôi cừu? Lấy đâu ra nhà cho cừu đẻ? Tình hình ở trại sữa cũng không khá hơn. Mái nhà dột nát, không đủ thức ăn chăn nuôi, chị em vắt sữa không muốn làm việc. Họ túi bụi từ sáng đến tối, nhưng thu nhập được gì? Còn biết bao nhiêu lo âu và thiếu thốn khác nữa? Đôi khi cảm thấy ghê sợ.
Nhưng dẫu sao họ vẫn giữ vững tinh thần, lại thảo luận những vấn đề ấy tại cuộc họp đảng, tại ban quản trị nông trang? Chủ tịch nông trang là Tsôrô. Mãi sau này Tanabai mới biết quí trọng Tsôrô. Thì ra phê phán bao giờ cũng dễ hơn. Tanabai chịu trách nhiệm về một đàn ngựa. Tsôrô chịu trách nhiệm về mọi người và mọi việc trong nông trang. Đúng, Tsôrô là con người vững vàng. Khi mọi việc xem chừng có cơ sụp đổ cả. Khi ở huyện người ta đấm bàn quát tháo, và ở nông trang người ta túm lấy ngực ông. Tsôrô vẫn không mất tinh thần. Ở địa vị Tsôrô, Tanabai hẳn sẽ phát điên hay tự sát. Thế mà Tsôrô vẫn duy trì được nông trang, đứng vững đến cùng, cho đến khi tim ông suy kiệt hẳn, ấy thế mà sau đó ông còn làm bí thư chi bộ hai năm nữa. Tsôrô biết thuyết phục và nói chuyện với mọi người. Chính vì thế, mỗi lần nghe Tsôrô nói, Tanabai lại tìn rằng mọi việc sẽ ổn thoả cả, rằng cuối cùng sự thể sẽ đúng như họ mơ ước lúc ban đầu. Chỉ có một lần, lòng tin của ôg vào Tsôrô lung lay, nhưng lần ấy chính ông có lỗi nhiều hơn…
Con ngựa không biết những gì diễn ra trong tâm hồn Tanabai khi ông rời khỏi văn phòng ban quản trị với cặp mắt long lên dữ tợn, lông mày cau lại, khi ông gieo mình xuống yên một cách thô bạo và thẳng tay giật cương. Nhưng nó linh cảm thấy chủ nó hết sức bực bội. Mặc dù Tanabai chưa bao giờ đánh Gunxarư, những lúc ấy con ngựa sợ ông chủ. Nhưng khi gặp người đàn bà ấy trên đường, con ngựa đã biết rằng bây giờ ông chủ sẽ thanh thản hơn, trở nên hiền hậu, sẽ kìm nó lại và chuyện trò khe khẽ với người đàn bà ấy, hai bàn tay người đàn bà sẽ vọc vào bờm nó, vuốt ve cổ nó. Không một người nào có bàn tay âu yếm như thế. Đấy là đôi bàn tay tuyệt diệu, mềm mại và nhạy cảm như cặp môi con ngựa cái hồng nhỏ nhắn có đốm sao trên trán. Cũng không người nào trên đời có cặp mắt như mắt người đàn bà ấy. Ngồi trên yên, Tanabai cúi xuống nói chuyện với thiếu phụ, còn chị khi thì mỉm cười, khi thì chau mày lắc đầu, không đồng ý với ông điều gì, mắt chị lấp loáng ánh sáng và bóng tối, như những hòn đá dưới đáy con suối chảy xiết trong đêm trăng. Lúc ra về, chị ngoái nhìn lại và lắc đầu.
Sau đó, Tanabai trở nên đăm chiêu. Ông buông lỏng dây cương mặc cho con ngựa muốn đi đâu thì đi. Được tự do, nó phi nước kiệu đường trường. Tưởng chừng như không có ông chủ trên yên. Như thể cả người và ngựa đều không lệ thuộc gì vào nhau. Khi ấy, tiếng ca tự dưng xuất hiện. Tanabai hát khe khẽ, lời ca không rõ, theo nhịp vó ngựa đều đều, hát về nỗi đau khổ của những người đã khuất từ lâu. Còn con ngựa chọn nẻo đường mòn quen thuộc, đưa ông vào thảo nguyên; qua sông, đến với các bầy ngựa…
__________________
Ласковый Май
|