|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
||||
|
||||
|
Trên trang MekongNews mới đăng bài phỏng vấn khá thú vị sau, mời các bác cùng đọc:
Những gì người Nga muốn ![]() V.Putin và ông S.Karaganov (Cuộc nói chuyện giữa Grégory Rayko, Phó Tổng biên tập tạp chí “Chính trị quốc tế” và Serguei Karaganov, Phó giám đốc Viện nghiên cứu châu Âu thuộc Viện hàn lâm khoa học Nga, chủ tịch Hội đồng chính sách đối ngoại và quốc phòng, Trưởng khoa chính sách đối ngoại và kinh tế quốc tế thuộc Học viện kinh tế cấp cao Mátxcơva, trên tạp chí “Chính trị quốc tế” số 122 năm 2009) Hiếm khi các nhân sĩ Nga có ảnh hưởng như Serguei Karaganov đồng ý một cuộc nói chuyện kéo dài với báo chí nước ngoài. Là cố vấn của nhiều chính quyền cao cấp nhất ở Nga từ 15 năm qua, vị giáo sư đại học xuất sắc này là một trong những người định hình chính sách đối ngoại của Mátxcơva. Theo quan niệm phổ biến nhất ở phương Tây, hệ thống của Nga được tổ chức tương đối đơn giản. Theo quan niệm này, giới lãnh đạo chính trị-kinh tế kiểm soát tất cả. Xoay quanh“cỗ máy”khổng lồ thống nhất chung một khối là một số lực lượng đối lập bị phân tán - cộng sản, dân tộc chủ nghĩa cực đoan, dân chủ - hầu như không có ảnh hưởng. Họ là những lực lượng duy nhất dám phản đối quyết định của các nhà lãnh đạo, song họ ít có tiếng nói, trên thực tế các phương tiện truyền thông không cho họ có tiếng nói. Các quyết định chính trị và kinh tế được đưa ra trong sự khuất tất, không có các cuộc thảo luận công khai tối thiểu cần thiết. Vậy nên, một khi việc đưa ra các vấn đề như vậy đa phần đã được xác nhận, nó lại không hoàn toàn chính xác. Trên thực tế, người ta có thể nhầm khi nghĩ rằng các thành viên của giới lãnh đạo có thể sẽ đồng ý về mọi định hướng lớn. Sự thật, đang hiện hữu trong lòng chế độ, là một cuộc tranh luận sôi nổi liên quan đến một số lựa chọn chủ yếu trong chính sách của Nga. Và rằng cuộc tranh luận này thường dựa vào vai trò của công chúng thông qua trung gian của giới truyền thông: qua truyền hình và trên những tờ báo lớn, đại diện của các phái khác nhau thân Cremli đã phát biểu không úp mở. Dĩ nhiên, trên một số vấn đề, mọi thành viên của giới lãnh đạo chia sẻ cùng quan điểm: phản đối mở rộng NATO, cần thiết phải kiểm soát nguồn tài nguyên dầu khí, hay cứng rắn chống lại các phần tử ly khai Chesnia. Song các chủ đề khác đã gây nên những cuộc tranh cãi kịch liệt. Nga liệu có phải chống lại phương Tây trên tất cả các mặt hay ngược lại, tìm cách khỏa lấp những tranh chấp với Mỹ và châu Âu? Liệu Nga có lợi gì khi khai thác tối đa các nguồn tài nguyên dưới lòng đất của họ, hay họ sẽ phải tìm cách đa dạng hóa nền kinh tế có lợi cho lĩnh vực dịch vụ và những ngành công nghệ mũi nhọn? Phải có thái độ như thế nào trước sự gia tăng sức mạnh của châu Á? Dựa trên cơ sở nào để xây dựng“bản sắc dân tộc” Nga? Về các điểm này và về những vấn đề khác, tiếng nói của các nhân vật thân Cremli thường bất đồng… Serguei Karaganov là một trong những gương mặt được tôn trọng nhất trong cuộc tranh luận này “của những người thuộc điện Cremli”. Ở tuổi 56, nhà chính trị học kỳ cựu này, tác giả của khoảng 20 tác phẩm chuyên về chính trị quốc tế, bình luận viên của tờ Rossiiskaia Gazeta (Tờ báo chính thức của chính phủ Nga), nhà sáng lập và là ông chủ của một viện nghiên cứu tư vấn chiến lược thường được các nhà lãnh đạo Mátxcơva lắng nghe (Hội đồng chính sách đối ngoại và quốc phòng), thường lui tới hậu trường của chính quyền từ nhiều năm nay. Lý tưởng mà ông bảo vệ cho đất nước mình, đã thường đẩy ông vào thế chống lại những lựa chọn đã được các chính quyền Nga quyết định. Và có thể không phải là một sự tình cờ khi chính vào thời điểm các đề xuất của ông được áp dụng, Nga đã trải qua các giai đoạn thành công lớn… Trong những năm đầu dưới “triều đại” Boris Eltsine, khi Nga có vẻ như muốn xích lại gần phương Tây và tự do hóa nền kinh tế một cách mạnh mẽ - không chấp nhận sự thâu tóm quyền lực của các doanh nhân thiếu thận trọng và các doanh nghiệp lớn phương Tây -, Karaganov đã là người kêu gọi các nhà lãnh đạo quan tâm hơn đến lợi ích quốc gia, song không nên chuyển sang nền kinh tế thị trường. Quan điểm trung tâm mà ông bảo vệ (giữ khoảng cách cân bằng giữa chủ nghĩa tự do nổi loạn chiếm ưu thế từ năm 1992 đến năm 1997 và chủ nghĩa nhà nước hoàn thiện với mong muốn những người cộng sản và đại điện cánh hữu cứng rắn trở lại) được áp dụng vào năm 1998, với việc bổ nhiệm ông Evgueni Primakov làm thủ tướng, người mà Karaganov rất thân cận. Nhằm phục hồi sức mạnh bị đánh mất và tăng cường vai trò của Nhà nước, nên Nga mong muốn trở thành một đối tác tin cậy của phương Tây. Được bầu làm Tổng thống vào năm 2000, nhân vật theo chủ nghĩa kinh tế nhà nước Vladimir Putin đã bổ nhiệm người đứng đầu chính phủ, chính khách theo đường lối tự do Mikhail Kassianov. Trước tiên, bộ đôi này duy trì định hướng đã được Primakov xác định. Bước ngoặt bắt đầu vào năm 2003-2004, thời điểm bước ngoặt giữa hai nhiệm kỳ của ông Putin: việc bắt giữ nhà tài phiệt Mikhail Khodorkovski, phản ứng có phần tự ái của Cremli đối với các cuộc cách mạng dân chủ ở Grudia và nhất là ở Ucraina, việc thay Kassianov bằng nhân vật mờ nhạt Mikhail Fradkov, đừng quên sự gia tăng sức mạnh, ở mọi cấp trong xã hội, của giới quân đội và các cựu nhân viên cơ quan mật vụ, cũng là những chỉ dấu cho thấy sự cứng rắn của các nhà lãnh đạo Mátxcơva. Serguei Karaganov, không ngừng lắng nghe chính quyền, nên nằm trong số những người lo lắng về tiến trình dân tộc chủ nghĩa này. Nếu ông tự nguyện ủng hộ nhiều hành động cực đoan của Cremli (bắt đầu bằng cuộc chiến ở Grudia mùa hè năm 2008) và có cách nhìn rất khắt khe đối với nước Mỹ của George W.Bush, thì chuyên gia này, nổi tiếng về nói thẳng, không ngần ngại nêu vấn đề xem xét lại các khuynh hướng tụt hậu của một bộ phận lãnh đạo Nga, kịch liệt chống phương Tây và hoài niệm về Liên Xô. Quan niệm của ông rõ ràng: thay vì đối đầu không khoan nhượng, Nga và châu Âu phải xích lại gần nhau để cùng đương đầu với những thách thức toàn cầu mới. Trong cuộc nói chuyện đặc biệt này, nhân vật xuất sắc trong giới trí thức Mátxcơva này trả lời thẳng thắn nhiều câu hỏi mà người ta đặt ra với nước Nga ở phương Tây, và đề cập đến những cuộc đấu tranh nội bộ, bên trong chế độ, chống lại những người theo chủ nghĩa hiện đại thường đòi các đối thủ của họ theo đường lối bảo thủ, để được cất nhắc thăng tiến. Grégory Rayko: Cuộc khủng hoảng Grudia hồi mùa hè 2008 đã gây ra nhiều cuộc tranh cãi ngoại giao kịch liệt giữa các chính quyền phương Tây và Cremli. Ngày càng có nhiều nhà quan sát cho rằng chúng ta đang ở trước thềm một cuộc Chiến tranh Lạnh mới. Ông có chia sẻ ý kiến này không? Serguei Karaganov: Nhân cuộc khủng hoảng này, tôi cho rằng Mỹ đã tìm cách kéo Nga vào cuộc Chiến tranh Lạnh thứ ba. Theo quan điểm của tôi, cuộc Chiến tranh Lạnh đầu tiên đã khiến Liên bang Xôviết non trẻ chống lại khối phương Tây giữa hai cuộc chiến tranh và kết thúc bằng Chiến tranh thế giới thứ Hai, trong giai đoạn đó hai bên đã có thời gian ngắn liên minh với nhau; cuộc Chiến tranh Lạnh thứ hai đã dẫn đến việc chấm dứt cuộc xung đột thứ hai trên thế giới và dẫn đến sự sụp đổ của phe cộng sản; tôi hy vọng rằng các mưu đồ nhằm phát động một cuộc Chiến tranh Lạnh thứ ba sẽ không thành công! G.R: Vì sao Mỹ tìm cách gây ra một cuộc Chiến tranh Lạnh mới với Nga? S.K: Vì một lý do rất đơn giản: họ đang thất thế. Đó là những gì đã xảy ra sau cuộc Cách mạng Nga năm 1917: ghi nhận sự bất lực trong việc chống lại thắng lợi của cuộc cách mạng này, phương Tây đã phát động cuộc Chiến tranh Lạnh lần thứ nhất chống Nga, đặc trưng bằng việc tẩy chay kinh tế. Hơn nữa, sau Chiến tranh thế giới thứ Hai, phương Tây đã bằng mọi giá ngăn cản chủ nghĩa cộng sản đang thắng thế tiếp tục mở rộng. Chính cuộc Chiến tranh Lạnh thứ Hai đã dựa trên nguyên tắc “ngăn chặn”. Hiện nay chúng ta nhận thấy một trường hợp tương tự. Những năm vừa qua đã cho thấy rõ rằng, với nhiều quan điểm, Mỹ bị nhiều nước ngoài phương Tây mới nổi theo kịp, bắt đầu là nước Nga. Những nước này đang ở trong giai đoạn phát triển không chịu theo ý muốn của phương Tây, những nước không ngừng khiến phương Tây bực tức. Liên quan đến Nga, cần bổ sung thêm tinh thần nổi loạn đã gây ra các vụ cướp bóc thực sự mà phương Tây đã tiến hành trong những năm 1990. Người ta không bao giờ nói đến, ở phương Tây, sự phân phối lại một cách khác lạ các nguồn tài nguyên đã diễn ra trong giai đoạn này, khi các nước tiêu thụ đến mua hàng không gặp chút trở ngại nào trong một nước Nga vô vị, hoàn toàn cô quạnh. Trong lịch sử nhân loại, ít xảy ra vụ cướp bóc có quy mô như vậy. Phải trở lại thời thực dân để thấy những thời điểm tương tự. G.R: Nếu tôi hiểu đúng những gì ông nói, Nga không có gì đáng trách trong việc phát động cuộc Chiến tranh Lạnh lần thứ ba này? S.K: Tôi đã không nói điều đó: Nga cũng có phần trách nhiệm của mình. Những năm vừa qua, trong khi lập trường của Nga không ngừng tiến triển gây bất lợi cho lập trường của phương Tây, Nga đã cư xử rất là cao đạo đối với phương Tây, bỗng dưng ở vào vị thế yếu. Tôi tin rằng thái độ này một phần xuất phát từ cảm giác tự ti trong những năm 1990: với sự trở lại của cường quốc Nga được ghi nhận bắt đầu vào những năm 2000, Nga đã quyết định bắt phương Tây chịu nhục, vốn từng bắt họ chịu điều tương tự. Như thế thật ngớ ngẩn và phản tác dụng. Một cách giải thích khác, sâu hơn, bằng việc phân tích những gì đã diễn ra trong những năm 1990 đầy sự kiện này, giới lãnh đạo Nga đã quyết định thông qua lập trường có phần lịch thiệp và mang tính xây dựng, không mang lại lợi ích gì cho đất nước. Trước đó, chúng tôi đã đưa ra thỏa thuận mở rộng NATO sang phía Đông, và đã ký một văn kiện mang tên “Văn kiện cơ bản liên quan đến mối quan hệ, hợp tác và an ninh lẫn nhau giữa Nga và NATO” - theo tôi, là sai lầm lớn nhất của nền ngoại giao Nga kể từ khi Hiệp ước hòa bình Brest-Litovsk được Trotski ký kết. Mỗi sự nhượng bộ của chúng tôi đều kéo theo những đòi hỏi mới từ phương Tây. Vì thế rốt cuộc Nga đã nói “chấm dứt”. Nga hiểu rằng họ cần gây bất đồng với NATO hơn là để Liên minh này tiếp tục mở rộng vô hạn. Chính nhận thức này đã dẫn đến sự cứng rắn trong lập trường của Nga. Điều đó chẳng vui vẻ gì: Hãy tin tôi, lợi ích của Nga không chỉ trong việc phát động một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, mà còn trong sự phát triển các mối quan hệ có tính xây dựng với phần còn lại của thế giới. G.R: Vì sao việc NATO mở rộng sang phía Đông gây trở ngại đến vậy đối với Nga? S.K: Tôi sẽ nói với ông điều đó. Trước hết, bất chấp việc mỗi bên đều biết rằng lý thuyết về cân bằng quyền lực đã có từ lâu, thì các nước lớn tiếp tục vin vào điều này. Bắt đầu là Mỹ. Khi người ta nói với chúng tôi rằng Nga có lối suy nghĩ như ở thế kỷ 19, chúng tôi chỉ có thể mỉm cười: trong trường hợp như vậy, lối tư duy của Mỹ quay trở lại thời thế kỷ thứ II trước Công nguyên, ở thời điểm đế chế Lamã thống trị thế giới! Với người châu Âu, rõ ràng họ đã thành công đáng kể khi vượt qua quá khứ nội chiến từng tồn tại ở Lục địa già; song, với bên ngoài, họ tiếp tục giữ vai trò cân bằng quyền lực, cho dù họ đã thực hiện một cách mềm mỏng hơn người Mỹ. Toàn thế giới giữ vai trò như vậy! Vì vậy, chúng tôi không thể, dù gì đi nữa, không phản ứng khi một trong những chủ thể lớn khác hành động nhằm làm lệch cán cân gây bất lợi cho chúng tôi. Vậy mà - là phần thứ hai trong lập luận của tôi - chúng tôi đã ghi nhận rằng các nước gia nhập NATO đã ngay lập tức biểu thị lập trường có phần tiêu cực hơn nhiều đối với Nga so với trước đây. Từ đó, vì lợi ích của mình, chúng tôi chống lại việc mở rộng mới liên minh này sang các nước láng giềng sát cạnh chúng tôi. G.R: Khi ông nói về thái độ tiêu cực của các thành viên mới của NATO đối với Mátxcơva, rõ ràng ông muốn nhằm vào các nước Bantích… SK: Đương nhiên. Chắc chắc rằng một khi đã ở ngoài NATO, các nước Bantích sẽ không bao giờ dám cư xử một cách quá đáng đối với chúng tôi. G.R: Ông đã liên hệ đến vụ việc đài tưởng niệm những người đã khuất ở Tallinn … S.K: Trong những sự kiện khác. Điều tôi muốn giải thích, là khi một nước gia nhập NATO, các thành phần chống Nga trong xã hội của chúng tôi như mạnh thêm. Và như vậy, trong 10 năm vừa qua, NATO đã mở rộng sang nhiều nước có truyền thống chống Nga - tôi muốn nói tới các nước Bantích, và cả Ba Lan -, kết quả là một sự thay đổi cân bằng sức mạnh bất lợi cho Nga. G.R: Chính vì lập luận này đã đẩy Cremli quyết liệt chống lại mong muốn gia nhập NATO của Ucraina và Grudia… S.K: Về phần mình, tôi tách riêng trường hợp của hai nước này. Nói thực, cho đến cuộc xung đột mùa hè năm ngoái, tôi tự nhủ: có quan trọng gì chuyện ai lèo lái Grudia! Cho dù là Iran , Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ… tốt hơn là Nga cần lưu tâm đến đất nước này! Grudia là một vấn đề đối với những ai muốn đặt ưu tiên kiểm soát họ, và hơn nữa, trên thực tế xuất phát từ quan điểm chiến lược Grudia không đại diện cho một lợi ích nào. Vấn đề Ucraina, lại rất khác. Việc gia nhập NATO của nước này có thể sẽ tạo ra giữa Nga và Ucraina một lằn ranh giới mà trước đây cũng như hiện nay không bao giờ tồn tại. G.R: Ông đã đề cập đến đường biên giới quốc gia chia cắt hai nước từ năm 1991! S.K: Đường biên giới này hoàn toàn rõ ràng. Bất cứ ai muốn đều có thể qua lại dễ dàng, mà không có trở ngại gì. Một bộ phận dân cư sống hai bên “đường biên giới” này, và nó không hoàn toàn chia rẽ họ. Vậy nên nếu Ucraina gia nhập NATO, đường biên giới mang tính biểu tượng này bỗng chốc trở nên rất hiện thực! Hiện tại, không ai quan ngại đến sơ đồ chính xác của nó. Có một đường kẻ trên bản đồ, song mọi người xem thường nó. Nếu ngày mai, đường ranh giới này bỗng nhiên chuyển thành một đường biên giới thực sự, với việc kiểm tra kỹ giấy tờ, lục soát xe cộ và vì thế sẽ xảy ra hàng chục thậm chí hàng trăm cuộc xung đột. Hiện nay, hàng triệu người qua lại đường biên giới này mỗi ngày (liệu có phải vì phần đông người dân Nga làm việc ở Ucraina, có họ hàng và bè bạn ở Ucraina, và ngược lại). Nếu ngăn cản họ qua lại, hay chí ít những sự di chuyển này rất phức tạp - điều sẽ rất dễ xảy ra nếu Ucraina gia nhập NATO -, và chúng tôi sẽ quay trở lại với điều mà người ta gọi là hội chứng về một quốc gia bị chia rẽ. Đến nay - và trên phương diện đó, cần bày tỏ sự kính nể đối với các chính phủ đã kế nhiệm ở Kiép và Mátxcơva - các nhà lãnh đạo hai nước đã luôn chú ý, cho dù còn những bất đồng giữa họ, để không tự gây chia rẽ một dân tộc thống nhất. Lịch sử đã cho thấy một dân tộc hiện sinh sống trong ba nhà nước (Nga, Ucraina, Bêlarút). Song sự thống nhất của họ ít ra cũng không phải bàn cãi. G.R: Liệu rằng “dân tộc này” có lại thống nhất trong cùng một nhà nước hay không? Nói cách khác, Nga, Ucraina và Bêlarút có thể đi đến việc hợp nhất, trong một thời gian dài nữa hay không? S.K: Còn quá sớm để nói điều đó. Ai biết những gì lịch sử dành cho chúng ta? Hiện tại, Ucraina không ngừng xây dựng nhà nước của họ; một sự ghi nhận cũng tương tự đối với Nga. G.R: Ở Ucraina, người dân bị chia rẽ về vấn đề gia nhập NATO. Tại Grudia, ngược lại, đa số người dân muốn gia nhập Liên minh… S.K: Hoàn toàn đúng! Chú ý: tôi nói rõ là sẽ chỉ bày tỏ quan điểm cá nhân, mà không phải lập trường chính thức của chính phủ Nga. Với tư cách cá nhân, đây là những gì tôi sẽ nói với NATO: “Các ông muốn Grudia? Xin cứ tự nhiên!” G.R: Tuy nhiên, nếu NATO đề nghị Grudia một kế hoạch hành động vì sự gia nhập, phản ứng của Nga sẽ như thế nào? S.K: Từ lâu chúng tôi đã cảnh báo Grudia rằng nếu họ gia nhập NATO, chắc chắn họ sẽ mất Nam Ôxêtia và Ápkhadia. Giờ đây, tiếp sau các quyết định mang tính tự sát của chính phủ Tbilisi, hai khu vực này rõ ràng đã thoát khỏi vòng kiểm soát của Grudia, và Grudia cứ gia nhập NATO nếu họ muốn như vậy! G.R: Cách nói này chứng tỏ phần nào sự bất lực: ông có tin không, bằng cách công nhận nền độc lập của Nam Ôxêtia và Ápkhadia, Nga đã mất đi lý do chính gây sức ép đối với Grudia? Với việc từ lâu Mátxcơva không công nhận hai khu vực ly khai này, thì mối đe dọa của việc công nhận này đè nặng lên Tbilisi như lưỡi gươm của Damoclès; song, hiện tại, Nga liệu còn có thể gây sức ép một cách có hiệu quả đối với Grudia? S.K: Tôi nhắc lại điều này: chúng tôi không cần có các phương tiện gây sức ép đối với Grudia. Hoàn toàn đơn giản bởi vì chúng tôi không cần Grudia. Tuy nhiên, Nga đã phạm sai lầm, sau sự sụp đổ của Liên Xô, khi xem Grudia như không còn tồn tại. Thái độ này đã làm tổn thương sâu sắc đến dân tộc Grudia, một dân tộc có truyền thống là bạn của Nga, và là dân tộc, đã quen, dưới thời Xôviết, sống tốt hơn những người hàng xóm của họ. Và bỗng dưng, ngay sau khi độc lập, Grudia bị rơi vào quên lãng… Tuy nhiên, tôi không nói họ đã bị coi thường: Người Nga luôn quý người Grudia và bất chấp sự kiện tháng 8 năm ngoái, tôi nghĩ rằng họ sẽ tiếp tục quý mến người Grudia. G.R: Không nói đến cuộc chiến mùa hè năm 2008, “việc truy bức người Grudia” ở Nga năm 2006 có bác bỏ khẳng định này không? S.K: Những sự kiện này rõ ràng gây bê bối. Song đừng quên rằng chiến dịch này đã không kéo dài và trên thực tế nó đã bị cả xã hội Nga lên án kịch liệt. Cremli không liên quan gì trong chuyện này. Trong màn kịch chẳng mấy vẻ vang này, chúng ta thấy rõ các chính quyền địa phương đã đóng vai trò quá mức cần thiết.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net Thay đổi nội dung bởi: hungmgmi, 01-06-2009 thời gian gửi bài 15:33 |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
| Bookmarks |
|
|