|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#121
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
__________________
|
|
#122
|
||||
|
||||
|
(Nguồn: http://www.warandpeace.ru/ru/news/view/66967/ )
Việt Nam hôm nay - đó là một trong những quốc gia đang phát triển nhanh nhất ở châu Á. Theo chỉ số Bloomberg, nền kinh tế của đất nước này về triển vọng đứng thứ 3 trong khu vực, sau Trung Quốc và Ấn Độ, còn về tính năng động thì thuộc 10 nước đứng đầu thế giới. Người ta, bao gồm cả Nga, có xu hướng chuyển đầu tư từ Liên minh châu Âu đang khủng hoảng về đây. Việt Nam đã trở thành một trong những khách hàng lớn nhất của kỹ thuật hải quân Nga vào năm 2011, còn các công ty dầu mỏ của Nga có kế hoạch lớn cho dầu khí Việt Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam sáng sủa trong tương lai có thể bị tác động. Tất cả những ai quan tâm đến địa chính trị, có lẽ đã đọc cuốn sách nổi tiếng "Xung đột của các nền văn minh" của nhà khoa học Mỹ Samuel Huntington xuất bản vào năm 1996. Trong sách này có kịch bản sự khởi đầu có thể có của chiến tranh thế giới mới. Xin trích dẫn: "Chiến trang giữa Mỹ và Trung Quốc có thể phát triển ra sao nếu tính đến các lợi ích của Mỹ? Giả sử rằng bây giờ đang là năm 2010. Quân đội Mỹ rút ra khỏi Triều Tiên thống nhất và sự hiện diện tại Nhật Bản đã giảm đáng kể. Đài Loan và Trung Quốc đại lục đạt được một sự hòa giải, theo đó Đài Loan tiếp tục duy trì trên thực tế nhiều tính độc lập, nhưng công khai thừa nhận chủ quyền của Bắc Kinh, và với sự hỗ trợ của Trung Quốc, nó được nhận vào Liên Hiệp Quốc, theo cách mà Ukraine và Belarus đã vào năm 1946. Các tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ khẩn trương khai thác dầu ở Biển Đông, chủ yếu là dưới sự bảo trợ của Trung Quốc, nhưng một số khu vực dưới sự kiểm soát của Việt Nam. Với những tiềm lực mới của quân sự, Trung Quốc đã tự tin tuyên bố rằng họ dự định thiết lập sự kiểm soát vùng biển Nam Trung Hoa - Trung Quốc vốn luôn đòi chủ quyền này. Việt Nam chống lại, xảy ra đụng độ vũ trang giữa các tàu hải quân Trung Quốc và Việt Nam. Người Trung Quốc, vốn mong muốn rửa hận năm 1979, đổ quân vào xâm lược Việt Nam". Tiếp theo, sách mô tả cách mà cả thế giới bị lôi cuốn vào cuộc xung đột quân sự này. Các giả định của nhà khoa học không phải là quá xa thực tế. Các công ty Mỹ thực sự đang tham gia vào tìm kiếm dầu mỏ trên thềm lục địa Việt Nam, và khá thành công. Cùng tham gia còn có "Gazprom" của Nga đã phát hiện hai mỏ khí đốt. Các nhà địa chất Nga cho kể rằng thường xuyên có những rắc rối với tàu chiến Trung Quốc cản trở công tác thăm dò. Cần nói rõ rằng đây là một thềm lục địa phía bắc, nằm ở gần Trung Quốc. Trên thềm lục địa phía nam của Việt Nam thì các công ty đã làm việc từ lâu, cả của Nga (Zarubezhneft) và của phương Tây. Nói thêm, vào năm ngoái, để nộp phạt cho sự cố tràn dầu ở vùng Vịnh, BP bán tài sản ở Việt Nam là phần hùn trong TNK-BP. Lãnh đạo Việt Nam đã nhiều lần tuyên bố chính thức về sự chèn ép thường xuyên các tàu đánh cá từ phía Hải quân Trung Quốc và cáo buộc Bắc Kinh cản phá việc xây dựng các giếng dầu. Vào mùa xuân năm ngoái, giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có một số sự cố liên quan đến tàu dân sự và quân sự, ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh xuất hiện các cuộc biểu tình. Sự căng thẳng giữa Trung Quốc và Việt Nam đã có từ lâu. Năm 1998 có cuộc chiến nước giữa hai nước để giành một trong những hòn đảo ở Biển Đông, kết thúc bằng cái chết của 50 thủy thủ Việt Nam. Trung Quốc tranh giành toàn bộ vùng Biển Đông và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nằm trên các tuyến đường biển chính để vận chuyển hàng hóa giữa Đông Nam Á và châu Âu cũng như Trung Đông. Việt Nam, Malaysia, Brunei và Philippines chỉ tranh giành từng phần của khu vực. Mỹ lo ngại về sự hạn chế tự do hàng hải trong khu vực. Vào cuối năm ngoái, Washington đã tuyên bố triển khai một căn cứ quân sự ở Darwin (miền bắc nước Úc), gây ra một phản ứng từ Bắc Kinh. Trong vài năm gần đây, Việt Nam đẩy mạnh việc mua vũ khí từ Nga. Chúng ta đã cung cấp cho Việt Nam máy bay tiêm kích Su-30MK2, tàu tên lửa, tàu khu trục Gepard, tàu ngầm, hệ thống di động bờ biển "Bastion" với các tên lửa hành trình "Yakhont", vv... Kết quả là, Việt Nam đã ở vị trí thứ hai trong số khách hàng mua vũ khí của Nga, sau Ấn Độ. Trước đây, vị trí này do Trung Quốc giữ khá lâu. Nếu dự trữ dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam là đáng kể, thì Trung Quốc có thể sẽ tìm cách chiếm lấy. Điều này đặc biệt đáng lo trong những trường hợp Mỹ tăng áp lực lên Iran, nước được coi là một trong những nhà cung cấp dầu chính cho Trung Quốc. Kịch bản này có vẻ khó xảy ra. Tuy nhiên, nên nhớ rằng lần cuối cùng Trung Quốc tấn công Việt Nam tương đối gần đây - vào năm 1979 và đã thất bại. Ở Trung Quốc, nó vẫn được coi là một nỗi quốc nhục. Nhưng nếu người Trung Quốc cố gắng trả thù, họ sẽ phải gặp phải sự chống trả từ các nước có các công ty đang hoạt động trên thềm lục địa Việt Nam. Sergei Pravosudov,
Giám đốc Viện Năng lượng Quốc gia
__________________
|
|
#123
|
||||
|
||||
|
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 14-03-2012 thời gian gửi bài 11:27 |
| Có 10 thành viên gửi lời cảm ơn Kóc Khơ Me cho bài viết trên: | ||
htienkenzo (14-03-2012), LyMisaD88 (14-03-2012), ninh (14-03-2012), NISH532006 (04-05-2012), nqbinhdi (14-03-2012), Old Tiger (13-03-2012), quangnam (14-03-2012), sad angel (04-05-2012), Tanhia75 (21-01-2013), Thien Nga (11-04-2012) | ||
|
#124
|
|||
|
|||
|
Chuyện của người lính mang số 49
Trung đoàn 83 thuộc bộ Tư lệnh Hải quân gửi giấy báo tử về cho gia đình xác nhận anh Trần Thiên Phụng, cấp bậc binh nhất, trú quán tại phường 2, Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, mất tích vào ngày 14.3.1988 tại đảo Gạc Ma, được hưởng quyền lợi gia đình liệt sĩ. Nhưng diễm phúc đã đến với gia đình người lính mang số 49 ấy: anh Trần Thiên Phụng không hy sinh, chỉ bị thương nặng. Anh là một trong chín chiến sĩ của trung đoàn 83 may mắn còn sống sót trong trận tử chiến ngày 14.3.1988 trên đảo Gạc Ma và Cô Lin. Chúng tôi đã tìm đến nhà anh Trần Thiên Phụng, người cựu binh Trường Sa trở về từ “cõi chết”. Không chịu đầu hàng Thật khó diễn tả được ánh mắt của người thương binh ấy khi tôi đề cập đến trận tử chiến 14.3.1988. Cầm giấy báo tử mang tên mình trên tay, anh vẫn còn xúc động đến không nói được thành lời, hai môi cứ mấp máy. Trên ánh mắt của anh thoáng xót xa khi những ký ức đau thương một thời hiện về. ... Tối 12.3.1988, các chiến sĩ của trung đoàn 83 thuộc bộ Tư lệnh Hải quân lên ba chiếc tàu đi làm nhiệm vụ thực hiện chiến dịch chủ quyền 1988 ở Trường Sa. Sau hai ngày, đến sáng 14.3 thì trận tử chiến xảy ra. Anh Phụng cầm khẩu súng AK47 đứng ngay trước mũi tàu đọ súng với quân lính Trung Quốc. Không tương quan lực lượng nên nhiều đồng đội của anh liên tiếp ngã xuống. Anh đã chiến đấu dũng cảm cho đến giây phút chiếc tàu vận tải HQ-604 của Hải quân Việt Nam bị trúng hoả lực mạnh của Trung Quốc, chìm xuống biển ở phía nam đảo Gạc Ma (trận tử chiến này Việt Nam bị chìm hai tàu HQ-604 và HQ-605, tàu HQ-505 bị hư hại nặng). Anh Phụng lúc đó chỉ kịp vớ lấy một thanh ván vỡ ra từ con tàu rồi ôm chặt lấy, tay trái bơi giữa biển, còn tay phải bị trúng đạn bê bết máu. Do bị thương nặng, máu ra quá nhiều, hơn nữa lại dầm mình suốt ngày giữa biển nên sức lực cạn kiệt, anh chưa kịp tiếp cận trở lại đảo thì bị bắt vào cuối ngày 14.3. “Khi tôi đang bị trôi trên biển, tàu quân sự Trung Quốc phát hiện, họ chĩa súng trước đầu ra lệnh đầu hàng nhưng tôi cương quyết không chịu. Khi được vớt lên tàu, lính Trung Quốc hỏi vì sao không đầu hàng, tôi nói với họ đất nước chúng tôi không bao giờ dạy cho người lính biết đầu hàng trước mũi súng quân thù”. Sau đó, anh được đưa về đảo Hải Nam cấp cứu rồi đưa tiếp về nhà tù ở Trạm Giang, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Anh Phụng cho biết : “Hôm ấy có chín người lính Việt Nam bị Trung Quốc bắt làm tù binh. Thời gian đầu cuộc sống giam cầm trong nhà tù vô cùng khó khăn, tủi nhục, nhờ hội Chữ thập đỏ quốc tế đến thăm thường xuyên nên dần dần được cải thiện hơn”... Cuộc trùng phùng trong nước mắt hạnh phúc Ở quê nhà, giọt máu của anh gửi lại cho người vợ đang lớn dần. Họ cưới nhau không được bao lâu thì anh xung phong đi bộ đội, được phiên chế vào lực lượng Hải quân ra đảo Trường Sa giữ gìn tấc đất thiêng liêng của tổ quốc. Những ngày tháng ấy, người vợ trẻ của anh, chị Lê Thị Thiên đau đớn tột cùng. Chị bảo rằng mình cũng nghe bà con nói có nhiều chiến sĩ Việt Nam hy sinh tại Trường Sa vào ngày 14.3.1988, song không biết làm sao liên lạc được với đơn vị của chồng. Rồi chính tai chị nghe rõ mồn một trong danh sách báo, đài đăng về 74 chiến sĩ hy sinh và mất tích tại Trường Sa, có tên người chồng yêu quý của mình. Chị đau đớn muốn được chết theo anh. Nhưng nghĩ tới mầm sống anh để lại, chị biết mình phải sống vì đứa con yêu thương và thay anh phụng dưỡng cha mẹ già. Không lâu sau, trung đoàn 83 thuộc bộ Tư lệnh Hải quân gửi giấy báo tử thông báo anh Trần Thiên Phụng đã hy sinh – mất tích. Đến lúc đó thì chị tin rằng con trai mình thực sự đã mồ côi cha. Còn bố chồng chị ngày đêm chỉ biết bắc đàn cầu an cho linh hồn người con trai xấu số được siêu thoát. Cũng không biết vì sao những lá thư của anh Phụng gửi về từ nhà lao Trung Quốc lại không đến được tay chị và gia đình. Không nhận được thư hồi âm của gia đình, anh Phụng lại càng đau đớn hơn vì anh hiểu hơn ai hết sự tuyệt vọng của vợ con, cha mẹ ở quê nhà. Những dòng nhật ký anh viết dành tặng vợ, con đọc lại không ai khỏi nặng lòng: “Con của ba, con có ngoan không, có khoẻ không? Ba mong rằng ba sẽ được trở về sớm với con và gia đình ta một ngày sớm nhất. Ba sẽ kể cho con nghe về trận chiến đấu anh dũng của ba và đồng đội cho con và gia đình ta nghe nhé. Lúc ấy con sẽ cảm thấy đầy tự hào về người cha thân yêu của con...” Rồi những dòng chữ yêu thương anh dành tặng vợ: “Thiên em thật yêu, thật nhớ của anh. Giờ này em đang làm gì ở nhà với con. Sao em không trả lời thư cho anh. Ở bên này anh đợi tin em và gia đình đến cháy lòng. Anh chỉ bị thương và giờ đang là tù binh ở Trung Quốc. Anh mong sớm được trở về với em và gia đình ta... Thương em ở nhà một mình vất vả sớm hôm...” Hơn một năm sau kể từ khi anh bị bắt làm tù binh và ở trại giam Trạm Giang, Trung Quốc, chị Thiên mới nhận được tin chồng mình vẫn còn sống. Chị không tin được vào mắt mình khi đọc dòng tin nhắn của anh qua bức thư do hội Chữ thập đỏ quốc tế gửi đến.“Tôi chạy ào tìm đứa con trai ôm chặt vào lòng và hét vào mặt con: ba của con còn sống, ba sẽ sớm được trở về với mẹ con mình...”, chị nhớ lại. Trải qua bao sóng gió dâu bể, cuộc trùng phùng của vợ chồng anh chị cũng đến. Sau hơn ba năm bị bắt làm tù binh (hơn bốn năm kể từ ngày đi bộ đội), anh cùng tám đồng đội được Trung Quốc trao trả về Việt Nam vào ngày 2.9.1991, qua đường cửa khẩu Hữu Nghị Quan ở Lạng Sơn. Các anh được về an dưỡng tại Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. Chị đã ra tận Móng Cái đón chồng. Cuộc trùng phùng trong hạnh phúc của vợ chồng anh Phụng cùng tám đồng đội khác là một kỷ niệm mà họ không bao giờ quên. Những giọt nước mắt lăn dài trên gò má của anh và chị. Những nụ hôn anh chị trao cho nhau ngày gặp lại cháy bỏng tình yêu sau bao năm đợi chờ vô vọng. Cả không gian chìm ngập trong hoa và nước mắt hạnh phúc. Ít hôm sau, các anh chia tay nhau, mỗi người mỗi hướng trở về quê hương. Sau cuộc trùng phùng đặc biệt ấy, vợ chồng anh Phụng lại có thêm hai người con nữa. Cả ba người con của anh chị nay đã khôn lớn. Riêng anh ốm đau liên miên, không còn sức khoẻ sau những ngày tháng bị giam tù nên chẳng làm được gì nhiều để đỡ đần giúp chị cuộc sống hàng ngày. Cả gia đình trông chờ vào nồi bún bán vào buổi sáng của chị. Đồng lương thương binh của anh mỗi tháng gần 600.000 đồng không đủ tiền mua thuốc chữa bệnh... Lâm Quang Huy |
| Có 10 thành viên gửi lời cảm ơn baodung cho bài viết trên: | ||
hongducanh (14-03-2012), htienkenzo (14-03-2012), Kóc Khơ Me (14-03-2012), LyMisaD88 (14-03-2012), ninh (14-03-2012), NISH532006 (04-05-2012), Old Tiger (14-03-2012), quangnam (14-03-2012), sad angel (11-07-2012), Tanhia75 (21-01-2013) | ||
|
#125
|
|||
|
|||
|
Các anh- Những người anh hùng đã ngã xuống vì chủ quyền của tổ quốc vẫn sống mãi trong lòng không chỉ những người lính mà cả chúng ta. Và đã thành thông lệ, những chuyến tàu đầy ắp tình cảm của đất liền ra với đảo đều trân trọng dành cho các anh sự thành kính, thương yêu. Đây không chỉ là sự nhắc nhở cho thế hệ những người lính hôm nay mà hơn cả là để linh hồn các anh mãi ấm, mãi bất tử cùng với chủ quyền của tổ quốc!
|
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn nghiahoa cho bài viết trên: | ||
baodung (14-03-2012), htienkenzo (14-03-2012), Kóc Khơ Me (14-03-2012), LyMisaD88 (14-03-2012), NISH532006 (04-05-2012), Old Tiger (14-03-2012), quangnam (14-03-2012), sad angel (11-07-2012), Tanhia75 (21-01-2013) | ||
|
#126
|
|||
|
|||
|
Xin kính cẩn nghiêng mình thắp nén nhang tưởng nhớ hương hồn các liệt sĩ đã hy sinh vì chủ quyền của Nước Việt. Lịch Sử, Tổ Quốc và Nhân Dân sẽ không bao giờ quên Các Anh!
|
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn vidinhdhkt cho bài viết trên: | ||
baodung (14-03-2012), hongducanh (14-03-2012), Kóc Khơ Me (14-03-2012), LyMisaD88 (14-03-2012), NISH532006 (04-05-2012), Old Tiger (14-03-2012), quangnam (14-03-2012), sad angel (11-07-2012), Tanhia75 (21-01-2013) | ||
|
#127
|
|||
|
|||
|
"ĐÀNH CHỈ ĐƯỢC CHẾT VÌ ĐẢO. ĐÀNH CHO LÃNG QUÊN MẤY MƯƠI NĂM..."
Mai Thanh Hải "... Anh yêu biển mà đứng trên bờ Anh yêu nước mà không biết bơi Làm sao anh hiểu? Có những người lính đảo Trần lưng trước mưa đạn quân thù “Chỉ được xáp lá cà bằng lê” Nhưng với khoảng cách này là không thể Đành chỉ được chết vì đảo Đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm..." - Những câu thơ thật đến tận cùng trần trụi và đau đến tột cùng tuyệt vòng, viết về những người lính Trường Sa, ngã xuống trong ngày 14/3/1988, trong khi giữ đảo, của Nhà thơ Thanh Thảo. Mình đọc xong, cứ rưng rưng: 24 năm đã trôi qua. Ngày mai, 64 bát hương trong 64 gia đình lại cháy đỏ ngày giỗ các anh. Liệu dưới đường ồn ào xe cộ, tấp nập người đi kia, có bao người biết đến vùng biển ấy, ngày tháng ấy, sự kiện ấy và nhớ đến 64 người chết trẻ, linh thiêng, hầu hết vẫn đang vùi xác trong lòng biển Gạc Ma - Cô Lin, ngoài vùng biển Trường Sa?.. Trân trọng giới thiệu trích đoạn "Chân sóng", trong "Trường ca Chân đất" của Nhà thơ Thanh Thảo, vừa gửi từ Quảng Ngãi cho MTH. Xin cảm ơn Nhà thơ Thanh Thảo đã lưu lại sự kiện, con người Hoàng Sa - Trường Sa và nỗi niềm về ngày này, trong những vần thơ dành cho hậu thế. ------------------------------------------------- CHÂN SÓNG (trích "Trường ca chân đất") ….. Con nào biết mẹ bạc đầu vì biển mỗi làn sóng như một dải khăn tang con nào biết mẹ đau vì biển đau vì thiếu biển đau vì thừa biển đau vì biển thiếu con mình đau vì biển thừa hy sinh. Những mộ gió những hình nhân phơ phất những hải trình dài suốt mấy trăm năm những Bãi Cát Vàng san hô mê hoặc những phận người bó chiếu giữa mông mênh. Chỉ thế thôi nhưng mẹ ơi còn biển là còn những chuyến đi không hẹn ngày về nhưng mẹ ơi còn con trai trong bụng là mẹ đẻ hết ra cho chúng giong khơi. Người quê tôi không quen lời bay bướm giọng nói nặng dây buồm con trai biết bơi từ trong bụng mẹ biết lắc thúng từ khi chưa biết chu vi hình tròn biết tính cá bằng khoang ăn sóng và nói gió lặn sâu mấy chục sải ngậm vật vờ ống thở bơi bên cạnh hải sâm như một chiếc tàu ngầm tỉ tê cùng đáy biển như một người bạn thân. Lặn biển Hoàng Sa liệt nửa người giờ ngồi xe chó kéo người bé trên đảo Bé mỗi khi nhìn thấy biển mắt rực cháy “biển ơi biển ơi biển ơi” thế thôi Lặng im như đá mồ côi họ dạy anh tình yêu không lời anh yêu biển mà đứng trên bờ anh yêu nước mà không biết bơi Mai Phụng Lưu mỗi bận xuống thuyền lại trực chỉ Hoàng Sa như có ai dẫn nỗi nhớ là hải bàn mãi quay về một hướng mỗi lần bị bắt mỗi lần bị đánh lại tay trắng trở về dành dụm ra khơi không thể sống thiếu Hoàng Sa không thể sống thiếu biển Anh yêu biển mà đứng trên bờ anh yêu nước mà không biết bơi làm sao anh hiểu?.. có những người lính đảo trần lưng trước mưa đạn quân thù “chỉ được xáp lá cà bằng lê” nhưng với khoảng cách này là không thể đành chỉ được chết vì đảo đành cho lãng quên vùi mấy mươi năm. Gạc Ma!. Gạc Ma!.. hãy kể cho con cháu anh điều này: Có những người lính đảo đã chết theo vòng tròn tay họ giăng ra và siết chặt tay nhau như một tràng hoa biển. Không quỉ ma nào xé nổi tràng hoa biển ấy. Hãy kể cho con cháu anh rằng từ Hoàng Sa từ Gạc Ma những tràng hoa biển ấy dạt trôi về ôm chặt Mẹ. Chân sóng bắt đầu từ đó... 2011 |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn nghiahoa cho bài viết trên: | ||
|
#128
|
|||
|
|||
|
Những ngày ấy phòng ngự ở Trường Sa thật là vô cùng gian khổ. Ngày nay thì lính đã đỡ khổ hơn rất nhiều rồi - dù vẫn còn rất gian khó và vất vả.
Chắc bác baodung không quên, chính cái recorder-ông anh tôi là người đã ra tận Trường Sa, đi một loạt đảo nổi, đảo chìm để khảo sát và thiết kế ra cái nhà cao cẳng đầu tiên dựng trên đảo Thuyền Chài - tiền thân của các nhà giàn DK ngày hôm nay. Dạo 1988, vừa mới qua trận đảo Gạc-ma và mấy đảo đá khác được một thời gian, ông anh tôi thì vừa mới từ Trường Sa về, một lần đến nhà ông anh chơi, thấy ông anh đang mặt mày nhăn như bị, dí mắt trên cái thước tính, rút lấy rút để. Hỏi, thì ra đang tính toán thiết kế cái nhà cao cẳng đầu tiên cho Trường Sa. Lúc bấy giờ đã làm gì có PC, bên cạnh việc đưa các bài toán tính vào trong Thành để tính bằng máy tính Minsk-32 (vào dữ liệu bằng bìa đục lỗ, nhiêu khê không chịu được), ông anh tôi tranh thủ kéo thước tính tính trước. Lúc có kết quả máy tính thì ông anh tôi cũng tính bằng tay xong, kết quả khá khớp. Nhưng mà còn vấn đề triển khai dựng thật ngoài đảo khơi xa xôi thì sao? Anh tôi vừa từ Trường Sa về nên biết rõ việc vận chuyển vật liệu ra đó khó biết chừng nào. Còn chưa có cầu cảng. Ngoài Trường Sa lớn khi đó chỉ có mấy cái pông-tông neo vào rìa đảo san hô với đầy các lốp xe đeo đầy bên thành để giảm sock cho tàu cặp vào, song hải lưu từ phía bắc chảy xuống ven đảo thường kéo mấy cái pông-tông ấy đi mất tiêu. Tàu vận tải ra tới nơi, phải đỗ cách đảo cả trăm mét bởi nếu gần quá, gió-sóng đánh đập tàu vào đảo thì có khi đắm chứ không chơi. Lính trên đảo phải bơi ra tàu, mồm ngậm theo dây thừng để kéo một sợi cáp nối từ bờ ra tàu. Theo cái dây ấy, lính sẽ bám vào và kéo một cái ca-nô không chìm bằng nhôm (cái loại Mỹ để lại, có lật ca-nô cũng không chìm mà chỉ lập lờ mặt nước) từ đảo ra tàu, thả hàng từ tàu xuống và kéo theo dây cáp chở hàng vào đảo. Ba phần thì chìm xuống biển một bởi cứ vài ba chuyến lại có chuyến sóng đánh cho lật úp ca-nô, hàng tiếp tế rơi xuống biển cả. Vấn đề là cái nhà cao cẳng làm bằng thép đó sẽ phải đào lỗ móng trên nền san hô khá yếu, trộn bê-tông để đổ chân đế - bê-tông cũng phải là loại có thể đông nhanh và không hỏng khi chưa kịp đông mà nước triều đã lên ngập cả móng (đảo Thuyền Chài là một cái vành san hô, có lẽ là một cái miệng núi lửa ngày trước - bên trong sâu như cái hồ, nước triều lên là cả rặng san hô ấy ngập gần hết xuống biển, thủy triều rút lại nhô lên). Các thanh thép sau đó sẽ phải dựng lên và liên kết bằng các bu-lông chứ ngoài đó lấy đâu ra điện mà hàn. Xưởng của BTL Công binh thi công cái nhà ấy, nhưng nhỡ đem ra đó, dựng lên mà vênh, có chỗ không đút bu-lông vào được thì trời cứu, không lẽ lại tháo ra, chở về đất liền thi công lại? Không lẽ chế tạo xong nhà lại phải dựng thử lên, được mới tháo ra đóng gói gửi đi - thế thì làm sao kịp thời gian theo mệnh lệnh từ Bộ Tổng tham mưu? Ông anh tôi mới nảy ra ý vẽ phẳng cái nhà ấy lại như thể hạ cả cái nhà kềnh càng ấy ra trên mặt đất, vẽ sơ đồ các lỗ bu-lông trên cái hình phẳng ấy để đưa xuống xưởng, sau khi chế tạo xong thì trải phẳng cả cái nhà ấy ra mặt đất và kiểm tra vị trí các bu-lông theo cái hình kia trước khi đóng gói vận chuyển vào phía trong rồi đưa lên tàu thủy chở ra đảo. Làm cơ số gấp đôi để nhỡ có rơi xuống biển còn có cái dự phòng. Rất may, một lần dựng là xong, khít khìn khịt và không cần đến cái nhà dự trữ. Từ những ngày đầu vạn nan ấy, cả nước cũng như toàn quân đã không ngừng hỗ trợ cho bộ đội ngoài đảo. Không biết bao nhiêu lượt quân đã đi, dân đã tới, từ văn công, phóng viên, các lãnh đạo quân-dân-chính-đảng..., và cả dân ra lập nghiệp, dựng huyện đảo Trường Sa nữa. Bây giờ thì trên nhiều đảo đã có điện thắp sáng, có sóng di động của Viettel, có truyền hình qua hệ thống vệ tinh VSAT (Very Small Aperture Terminal)... Đã có cả một thế hệ con trẻ đầu tiên sinh ra trên các đảo tiền tiêu của Tổ Quốc, xa tít nghìn trùng sóng vỗ ấy. Tổ Quốc nơi đầu sóng là như thế, ngàn trùng thương nhớ, thấm đẫm mồ hôi và máu của bao nhiêu lớp thanh niên ưu tú của Tổ Quốc. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 14-03-2012 thời gian gửi bài 21:25 |
| Có 12 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
ADAM (04-05-2012), BelayaZima (15-03-2012), gacon0411 (12-04-2012), hungmgmi (12-04-2012), Kóc Khơ Me (10-07-2012), LyMisaD88 (12-04-2012), NISH532006 (04-05-2012), Old Tiger (14-03-2012), quangnam (04-05-2012), sad angel (04-05-2012), Tanhia75 (21-01-2013), thaond_vmc (08-07-2012) | ||
|
#129
|
||||
|
||||
|
Hôm nay Mì đọc được bài này:
"Những ngư dân không sợ giặc cướp ở Hoàng Sa" http://www.vietnamnet.vn/vn/chinh-tr...sa---ky-1.html Chỉ đích danh như vậy, không biết có bị gỡ? |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Tanhia75 (21-01-2013) | ||
|
#130
|
||||
|
||||
|
Đọc đâu đó, thấy nói là Sách giáo khoa Trung quốc (hay sách gì đó) viết về Chiến tranh biên giới khác hẳn với những gì chúng ta vẫn biết.
Năm 1986, hungmgmi có hỏi một tay nghiên cứu sinh Trung Quốc về cuộc chiến này, hắn ngớ ra không biết. Ở Đức, trong sách giáo khoa cho học sinh, người ta cũng tuyên truyền về cuộc chiến tranh 1941-1945 như cuộc đối đầu của "2 kẻ tội phạm hèn hạ của loài người" là Stalin và Hitler khi không tìm được tiếng nói chung khi phân chia thế giới. Và kẻ thắng là Stalin. Liên xô không chiến thắng trong Thế chiến thứ hai, và người cứu châu Âu khỏi Hồng quân Liên xô chính là người Mỹ... Và do vậy, ngừoi Đức hiện nay không hề cảm thấy có lỗi với những người Nga. Trong sách giáo khoa Đức họ dạy như thế đấy. Đó là chia sẻ của nhà phân tích chính trị người Đức gốc Nga Aleksandr RAR, giám đốc một trung tâm thuộc Ủy ban đối ngoại Đức trên tờ KP hôm nay. Ông cũng đưa ra nhiều ý kiến về quan hệ Nga-Đức hiện nay. Có thể đọc nguyên văn bài phỏng vấn tại đây: http://kp.ru/daily/25878/2841694/
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
|
#131
|
|||
|
|||
|
Gọi là nhà giàn phải không bác? Em được nghe Chuẩn đô đốc Đinh Công Thật nói chuyện về biển đảo và lính Trường Sa, rất cảm động. Thật tự hảo và khâm phục Hải quân nói riêng và các chiến sĩ QĐND Việt Nam.
|
|
#132
|
|||
|
|||
|
Trích:
Hồi tháng 2/2012 bbc.uk có nói nhiều đến chủ đề này mà. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Tanhia75 (21-01-2013) | ||
|
#133
|
|||
|
|||
|
Trích:
Hôm nay tình cờ soạn lại các giấy tờ cũ, tìm thấy mấy trang sổ ghi chép những ngày đi mặt trận biên giới tháng 2 năm 1979, chỉ là bìa đã xé bỏ đi đâu mất, chỉ còn lại mấy trang ruột có ghi chép là vẫn giữ được - chắc là dạo cắt quân số từ trường chuyển về HN để đi học ngoại ngữ rồi đi NCS, tư trang nặng nên đã xé vứt bỏ tất những gì nặng không cần thiết. Cái trò này, đến năm từ Hung về nước, tài liệu/giấy tờ nhiều quá tôi cũng xé bỏ các bìa sổ/sách cứng nặng vứt đi cho nhẹ bớt (chỉ mặc mỗi một bộ quần áo trên người, bao nhiêu quần áo vứt tất để dành trọng lượng cho sách vở mang về nước, mà vẫn phải trả quá cước 10 kg - cả thảy 4 lần về nước tôi đã tha về được gần 1 tạ sách/tạp chí KH, lúc ấy quý lắm vì Internet còn chưa phổ biến lắm, kiếm đâu ra bản mềm sách/tạp chí như bây giờ). Ghi tạm lại đây làm tư liệu, mong các bác thông cảm nhé (đã ghi thành file trong máy tính mà sợ nhỡ bị virus mất dữ liệu, đành gửi tạm 3N lưu hộ). ![]() Chiều 02.02.1979 Họp đoàn đi biên giới Quân khu 2, trung tá Mai Sơn (trưởng khoa Quân sự của ĐHKTQS lúc bấy giờ, trưởng đoàn công tác) chủ trì. Đoàn quản lý quân số (từ các đơn vị trong ĐHKTQS tham gia đoàn) trước khi lên đường vào các ngày 2, 9, và 10 tháng 2 năm 1979 (ngày 2-2: họp thành lập đoàn, phổ biến công tác, phân công chuẩn bị; ngày 9-2: chuẩn bị hậu cần, lĩnh quân tư trang bổ sung, lương thực và thực phẩm, đội xe nhận xăng và kiểm tra xe cộ; 10-2: họp đoàn trước lúc lên đường). Ngày 12 lên đường đi QK2. Ngày 10-2: Họp đoàn, thủ trưởng nhà trường gặp mặt và giao nhiệm vụ (trung tướng Hoàng Phương, hiệu trưởng). (Ghi thêm: lời dặn của trung tướng hiệu trưởng hôm 10-2: "Anh em tới các đơn vị cố gắng thâm nhập thực tế để nắm tình hình về nghiên cứu phục vụ đơn vị chiến đấu và phục vụ công tác giảng day. Tác phong phải sâu sát: cùng ăn, cùng làm với chiến sĩ, không được ngại khó, ngại khổ.") Nhiệm vụ: - Thâm nhập đơn vị để triển khai chiến đấu ở biên giới; - Thâm nhập đơn vị để học tập thực tế, rút ra các yêu cầu để giảng dạy và nghiên cứu. --- Phổ biến tình hình các đơn vị: Tình hình đơn vị: Trang bị thô sơ, ![]() mới thành lập (ghi chú: mới thành lập và chia quân từ quân khu Việt Bắc cũ thành QK1 và QK2), hiểu biết kỹ thuật còn yếu kém. Hành trình: Đi 4 trung đoàn (E) chủ lực, 3 tỉnh đội (Hà Tuyên, Lai Châu và Hoàng Liên Sơn, ghi chú: Hà Tuyến = Hà Giang + Tuyên Quang bây giờ; Hoàng Liên Sơn = Yên Bái + Lào Cai bây giờ) Từ Vĩnh Yên đi Yên Bái: - tới E cao xạ của quân khu; - tới E pháo mặt đất của quân khu (ghi chú: trung đoàn pháo binh, e168). Từ Yên Bái vượt qua Sông Hồng tới sư đoàn (F) 345 (ghi chú: trấn giữ bảo vệ khu mỏ a-pa-tít Cam Đường, chỉ huy F345 là Đại tá Mai Lan) và trung đoàn địa phương quân của Hoàng Liên Sơn (ghi chú: có lẽ là e196 cũ mới chia từ quân khu Việt Băc về), sau đó tới một trung đoàn F316 (ghi chú: F316 lúc đó quân số thiếu, chỉ gồm 2 trung đoàn, trấn giữ bảo vệ Sa-pa). Từ F316 đi sang Lai Châu, tới Phong Thổ, vòng về qua Hà Tuyến rồi về Vĩnh Phú (về trường tại Vĩnh Yên). Hành trình sẽ qua quân khu bộ đến trung đoàn thông tin (ghi chú: trung đoàn 604, mới chia quân ra lập trung đoàn từ trung đoàn thông tin 601 của quân khu Việt Bắc cũ), trung đoàn công binh. ![]() (Mấy trang rời đặt liền nhau) Ghi chép tóm tắt sau khi đã về tới trường: ![]() ![]() Đợt đi QK2 (từ 12/2 đến 8/3/1979) Sáng 12/2 (thứ hai) ba lô + súng + dao găm (ghi chú: lưỡi lê dẹt của khẩu AK của tôi, AK để lại trường vì phổ biến đi chỉ mang vũ khí ngắn gọn) + tăng võng lủng củng lên xe, 2 xe Zil130, mưa loang loáng. Nghỉ ăn sáng ở Việt Trì. 12:30 tới trạm 44 (trạm khách của QK2), ăn trưa. Chiều tối tới Thậm Thình, tách đoàn: Bình + Báu ở lại, cả đoàn đi tiếp. Chiều 12/2: Thỏa thuận với Phòng nhà trường của QK, Bình + Báu quay lại về trường (vì theo kế hoạch thì e604 sắp từ Yên Bái quay về Thậm Thình, lên sớm quá nên chưa đơn vị nào tiếp nhận cả). Sáng 13/2: Từ trường vẫy xe tải đi về HN. 15:30 lại vẫy xe tải về đến Hải Phòng (về tới nhà Ly). Chiều 15/2: Ly + bố tiễn ra ga. Lên đến HN: 21:00. Sáng 16/2: Lại lên QK2 (đi tàu 05:30), trưa 16/2 tới QK, nghỉ ở Phòng thông tin QK. Sáng 17/2: - TQ tấn công toàn tuyến biên giới; - Được điều động ngay xuống đại đội 2 thông tin (ghi chú: C2 là đại đội hữu tuyến) của e604 phục vụ liên lạc cho quân khu bộ (đại đội anh Vĩnh). (Ghi chú: anh Báu được điều về C1 là đại đội vô tuyến điện). Từ 17/2 đến 22/2: Nhận, sửa VBO3-2-T (ghi chú: máy do Hung sản xuất, đời mới, có thêm ngăn chứa máy tải báo - chữ T chắc là Telegraph - chưa được học trong trường song về cơ bản nguyên lý cũng giống như VBO3-2 đã được học, có cải tiến chút ít, máy mới tinh song cũng đã có trục trặc nhỏ), dựng trạm VBO3-2-T (ghi chú: liên lạc từ QK bộ ra trạm đường trục của Bộ tư lệnh Thông tin, khi đó đặt tại Phú Thọ duy trì liên lạc lên Yên Bái) và huấn luyện nhân viên trực máy trạm mới lắp (ghi chú: tôi chọn 4 cô nữ nhanh nhẹn nhất của đại đội có trình độ văn hóa từ lớp 9 trở lên - đã biết sin cộng sin bằng hai sin cos..., đủ để hiểu nguyên lý tải ba nhiều kênh FDM: Frequency Division Multiplexing, tiếng Nga là Многоканальная Связь - để huấn luyện cấp tốc làm nhiệm vụ trực máy, 3 người mỗi người 1 ca trực 8 tiếng/ngày, 1 dự trữ nếu có người ốm thì còn có người thay). (Ghi chú:chính trong những ngày này xảy ra va chạm với chuẩn úy chuyên nghiệp, tư vụ trưởng của đại đội, vì anh này - già hơn mình cả hơn chục tuổi mà quân hàm thấp hơn - tỏ ra tị nạnh và cố ý đánh pan máy nhằm thử trình độ của tôi, tôi phát hiện ra ngay và dọa đưa ra tòa án quân sự do hành động cố ý phá máy trong chiến đấu, anh này quỳ xuống lạy xin tôi tha - cũng dọa thế cho anh ta sợ thôi chứ 1 người bây giờ cũng quý, anh ta là người duy nhất trong đại đội có bằng trung cấp thông tin và có biết về máy VBO3-2 đời cũ, sau này sẽ là người chịu trách nhiệm kỹ thuật chính tại đại đội sau khi chúng tôi rời đi, bỏ tù thì ai làm việc chứ. Đây là một bài học để tôi sau này dặn lại các học viên sĩ quan của mình về những tình huống trớ trêu họ có thể gặp phải sau khi ra trường về đơn vị). Sáng 23/2: Bình + Báu theo xe ca của QK lên tiền phương. Chiều tối thì tới xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, Hoàng Liên Sơn (nới đóng chỉ huy sở tiền phương của QK2), ngủ đêm 23/2/1979 ở Phòng Thông tin. Lo, hơi sợ. 24/2: Xuống e604. Đã bớt sợ vì đơn vị đông. Đêm 24/2 sợ, lo không ngủ được vì lo TQ tập kích lén (ghi chú: đây là lần đầu tiên nghe thấy Cachiusa bắn, chen lẫn cả pháo, cối ở rất gần, nghe thấy cả tiếng đại liên và lựu đạn nổ lục cục nữa, chắc là ở cách chỗ mình trú quân quãng 3-4 km, chuyện này đã kể trong thread về Cachiusa trên 3N). Bây giờ mới biết là lo hão. 25/2: Tham gia triển khai thông tin ở Xuân Quang (ghi chú: tổng đài П198 của Liên xô, đi nối dây ban đêm trong rừng lần đầu, hai người một súng ba viên đạn - chuyện này đã kể ở trên 3N; có chuyện chết cười về quân trung cấp mới tốt nghiệp từ trường Trung cấp thông tin ra), trưa đi chữa P401. Đã cảm thấy quen, không sợ nữa. Địch đến thì đánh, gì phải sợ. Tối 25/2: Rút về trên huyện lỵ Bảo Yên (Phố Ràng) 10 km, cách ngầm (nơi chỉ huy sở tiền phương QK2 lùi từ Xuân Quang về đóng quân) chừng 1-2 km. Từ 25/2 đến 1/3: chữa máy TCT (ghi chú: máy tải ba 2 kênh cấp chiến thuật của Hung sản xuất, bọn Hung thiết kế máy cực phò, tụ lọc đầu ra âm tần chỉ chịu điện áp 80V, mà máy điện thoại từ thạch khi quay mạnh điện áp có thể lên tới ~100V thì làm gì mà chả thủng cả loat, báo hại mình gần như ngày nào cũng bị gọi đi chữa máy, ngày nào cũng lội bộ ~20 km đi/về sửa các máy hỏng. Sau này sang Hung, năm 1995 vào Telefongyár - Nhà máy điện thoại, khi đó đã bán cho hãng Siemens - để gặp TS. Kovács János, người phản biện LA của tôi, mình có hỏi thăm và than phiền về thiết kế máy TCT thì cả hội cười lăn ra và bảo ở đấy bây giờ chẳng ai biết cái loại máy ấy là loại gì nữa vì được sản xuất từ những năm 1960s, những người chế tạo loại máy ấy giờ chết cả rồi còn đâu - họ bảo vậy), đi trạm Bảo Yên (ghi chú: tham gia dựng trạm VBO-3-2-T mới, liên lạc về Yên Bái - gặp Cao Tuấn Anh lớp cũ của mình ở đó). 1/3: Lên chóp tiếp sức (ghi chú: sửa máy P401, chuyện này đã kể trong thread Ngày này 38 năm trước trên 3N), đói, ngã, rét, khát, ngủ lại một đêm ở trên núi, rất thương bọn lính mình vì họ quá vất vả và dũng cảm. 2/3: Xuống núi sau khi khai thông liên lạc sau 2 ngày mất liên lạc với F345 (bên mỏ Cam Đường). 5/3: Tiếp tục rút xuống dưới Phố Ràng 12 km. 7/3: Sáng đi chữa TCT (ghi chú: hô hô, bị toạc chỉ đũng quần trước mặt mấy em lính cơ công xinh như mộng ở đây đây lúc định ngồi xuống tháo vỏ máy ra đo/sửa chữa, ngượng ê cả mặt, cơ mà được các em cho ăn 1 bữa khá ngon và no, đói và ăn măng vầu thay cơm trừ bữa đã 2 ngày vì trung đoàn bộ đã hết lương thực), trưa về Yên Bái (ghi chú: theo xe anh Mạo/Mão(?), trung đoàn phó e134 đường trục đi kiểm tra tuyến, xe mất phanh, chỉ còn phanh tay, đổ dốc vù vù, hết cả hồn vía vì mấy lần tý nữa lao xuống vực, một lần lái xe đã phải lái húc xe vào đường phòng tránh đâm vào ta-luy, vì tránh xe khác đang ngược lên), từ Yên Bái vẫy xe tải (chở dân tản cư về xuôi) về tới Thậm Thình (về C2), 8/3 tắm giặt (ghi chú: từ ngày lên tiền phương đến hôm đó mới tắm, hôm trước về tới C2 lúc đã gần 12 giờ đêm, anh Vĩnh C trưởng kêu toáng lên là mình hôi quá, không cho ngủ chung giường, nên phải lên bàn họp của đại đội ngủ). 9/3: Báo cáo công tác và nhận xác nhận/nhận xét công tác từ anh Hồng, thiếu tá trung đoàn phó, tham mưu trưởng e604 (ghi chú: nhận xét công tác đại để ghi: Các đồng chí Bình và Báu trong thời gian tăng cường cho e604 đã góp phần giải quyết nhiều công việc kỹ thuật cho trung đoàn, phục vụ chiến đấu tại mặt trận rất dũng cảm và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ - chắc là nhận xét này hiện nằm trong hồ sơ của anh Báu vì anh Báu khi đó là thượng úy, chỉ huy nhóm 2 người chúng tôi, sau khi về trường thì anh nộp báo cáo công tác và nhận xét của trung đoàn cho Ban cán bộ nhà trường). Về đến trường buổi sáng 10/3. (ghi chú: Khóa mình có anh Huy - lớp xe quân sự, em rể anh Trần Đình Son lớp trưởng lớp Xe quân sự khóa 7 - hy sinh tại mặt trận tiền phương QK2, tin về đến trường lại không rõ, chỉ nói là một sĩ quan khóa 7 mới ra trường đi mặt trận hy sinh làm mọi người lại tưởng là tôi đã bỏ mang vì đoàn công tác đi biên giới đận ấy chỉ có mỗi mình tôi là thiếu úy khóa 7, vừa mới ra trường chưa được 1 năm. Từ ga Vĩnh Yên về trường, gặp mấy anh em đang đi ra thị xã Vĩnh Yên, mọi người rú lên bảo: Ô, sao nghe tin mày chết rồi cơ mà!). ![]() Điện chuyển bằng máy 2W (máy P105Д của Liên xô) từng chặng từ chóp núi này qua chóp núi nọ, hôm 1/3/1979 - tôi bám theo dây điện thoại leo lên chóp vô tuyến tiếp sức P401 để sửa máy, lên gần tới đỉnh thì gặp tổ báo vụ 2W ở phía dưới, nghỉ chân lại đó vì đã mệt rã rời, nhân thể nhận điện từ Phòng Thông tin quân khu để cho báo vụ chuyển (tiện sổ thì ghi, may mà giờ vẫn còn bức điện này): 11:00 1/3/1979 Gửi E124, Gửi anh Tú, cho người sửa đường dây lên QK gấp và chuẩn bị cho người lên QK nhận khí tài. Ký điện: Thiện (44) Ghi chú: Trung tá Thiện là Trưởng Phòng thông tin QK2 (số máy lẻ của Phòng Thông tin ngày ấy là 44). Ông Thiện là một người khá lỗ mãng. Lúc tôi lên đến chóp vô tuyến tiếp sức trên đỉnh núi, còn đang sửa máy P401 chưa được, chắc là bị tư lệnh quân khu đì cho vì đã mất liên lạc 2 ngày liền sang cánh phải Sông Hồng nên ông ấy liên tục gọi điện thoại lên núi thúc giục lính. Tôi nghe điện thoại, phân trần rằng vẫn còn đang đo kiểm tìm hỏng để sửa, mong ông đừng thúc, lính đã cố lắm rồi - ướt và đói đã gần 2 ngày chưa được ăn - ông văng tục chửi ngay: "Đ. mẹ mày, mày là thằng nào đấy mà nói lung tung thế", tôi xưng tên và báo cáo là sĩ quan kỹ thuật của Bộ (anh em đơn vị quen gọi thế) tăng cường thì ông ấy cụp máy cái rụp. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 08-07-2012 thời gian gửi bài 16:39 |
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
baodung (08-07-2012), Мужик (08-07-2012), hongducanh (08-07-2012), hungmgmi (08-07-2012), Kóc Khơ Me (10-07-2012), LyMisaD88 (08-07-2012), Old Tiger (09-07-2012), sad angel (11-07-2012), Tanhia75 (21-01-2013) | ||
|
#134
|
||||
|
||||
|
Quyết liệt vì Hoàng Sa Ngày này cách đây đúng 39 năm, Trung Quốc dùng vũ lực cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Hành động phi pháp ấy đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của người Việt Nam và sự lên án mạnh mẽ của thế giới. Ngày 25.11.2011, trong phát biểu trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề cập tới hai thời điểm Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam: “Năm 1956, Trung Quốc đã đưa quân chiếm đóng các đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa. Đến năm 1974, Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa trong sự quản lý của chính quyền Sài Gòn, tức chính quyền Việt Nam Cộng hòa (VNCH). Chính quyền VNCH lúc đó đã phản đối, lên án việc làm này và đề nghị Liên Hiệp Quốc can thiệp. Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam Việt Nam lúc đó cũng ra tuyên bố phản đối hành vi chiếm đóng này”. Thủ tướng cũng cho biết Chính phủ Việt Nam sẽ kiên trì đòi lại Hoàng Sa bằng biện pháp hòa bình. Phát biểu của người đứng đầu Chính phủ của một đất nước Việt Nam thống nhất đã nhắc chúng ta nhớ tới một ngày bi tráng của 39 năm về trước, khi đất nước còn chia đôi. Đó là ngày 19.1.1974, Trung Quốc nổ súng cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa. Các chiến hạm cùng quân nhân VNCH đã chiến đấu quyết liệt, nhưng cuối cùng với một lực lượng mạnh hơn, Trung Quốc đã chiếm được cụm phía tây của quần đảo Hoàng Sa, sau khi đã chiếm cụm phía đông hồi thập niên 1950, qua đó chiếm đóng phi pháp toàn bộ quần đảo này từ đó đến nay. Xâm lăng Trận hải chiến Hoàng Sa diễn ra trong khoảng 30 phút vào ngày 19.1.1974, nhưng trước đó nhiều ngày, Trung Quốc đã bắt đầu những chuyển động cho hành trình xâm lược của mình. Ngày 10.1, tàu Trung Quốc bắt đầu xuất hiện trong khu vực cụm tây quần đảo Hoàng Sa. Sau đó một ngày, Bộ Ngoại giao nước này phát đi từ Bắc Kinh tuyên bố rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc và VNCH đang chiếm đóng phi pháp. Ngay lập tức, Tổng trưởng Ngoại giao Vương Văn Bắc của chính quyền Sài Gòn đã bác bỏ luận điệu ngang ngược này và lên án hành động xâm lăng gây hấn của Trung Quốc. Lúc bấy giờ, về mặt quân sự, phía Việt Nam chỉ có một trung đội địa phương quân thuộc Chi khu Hòa Vang trú đóng trên đảo Hoàng Sa. Để tăng cường sức mạnh bảo vệ biển đảo, Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải vào ngày 15.1 đã ra lệnh cho tuần dương hạm Lý Thường Kiệt (HQ-16), do trung tá Lê Văn Thự làm hạm trưởng, trực chỉ Hoàng Sa. Tiếp theo, khu trục hạm Trần Khánh Dư (HQ-4) do trung tá Vũ Hữu San chỉ huy đang tuần tra vùng biển ngoài khơi Quảng Ngãi cũng được lệnh tức tốc tới bảo vệ Hoàng Sa. Sau đó, do diễn biến phức tạp, tuần dương hạm Trần Bình Trọng (HQ-5) và hộ tống hạm Nhật Tảo (HQ-10) cũng đã được điều động. HQ-5 là soái hạm, với hạm trưởng là trung tá Phạm Trọng Quỳnh; còn HQ-10 do thiếu tá - Hạm trưởng Ngụy Văn Thà chỉ huy. Ban Chỉ huy công tác trên biển của chiến dịch bảo vệ Hoàng Sa được đặt trên tàu HQ-5, với đại tá Hà Văn Ngạc thừa lệnh Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên hải làm chỉ huy trưởng. Trong thời gian này, phía Trung Quốc đã cho tàu cá chở quân lính giả dạng ngư dân tiến chiếm một số đảo. Công điện 50.356 của Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên hải gửi HQ-4, HQ-5 và HQ-16 cho biết: “Trung Cộng đã bất thần tiến chiếm các đảo Robert (Cam Tuyền - NV), Duncan (Quang Hòa), Drummond (Duy Mộng) và Money (Vĩnh Lạc) thuộc quần đảo Hoàng Sa kể từ ngày 10.1.1974. Hiện có 2 tàu loại 100 tấn neo đậu tại đảo Robert... Trên đảo Duncan có 1 chòi quan sát... Tại đảo Money có 1 hầm còn mới...”. Công điện còn cho biết phi cơ của Sư đoàn 1 Không quân đang trực ở sân bay Đà Nẵng. Nhiệm vụ được giao cho lực lượng bảo vệ Hoàng Sa là trước hết sử dụng đường lối ôn hòa, yêu cầu kẻ địch rút khỏi lãnh thổ Việt Nam, trong trường hợp địch khai hỏa thì “tập trung khả năng để tiêu diệt địch”, lệnh từ văn phòng chỉ huy ở Đà Nẵng truyền ra cho HQ-5 nêu rõ. Lúc bấy giờ, lực lượng chiến đấu của phía Trung Quốc có 11 tàu, trong đó có 2 tàu chống ngầm Krondstadt, 2 tàu quét lôi, vài tiểu đoàn thủy quân lục chiến và một số tàu chở quân. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn có một đội quân dự phòng ở Hải Nam, trong đó có nhiều tàu tên lửa Komar và Osa. Nổ súng ![]() Sáng sớm 19.1, một toán Biệt hải từ HQ-4 và một đội Hải kích từ HQ-5 chia làm hai mũi dùng bè cao su đổ bộ lên tái chiếm đảo Quang Hòa. Một cuộc đọ súng xảy ra giữa quân VNCH và quân Trung Quốc đã chiếm đảo này từ trước cùng với số mới đổ bộ từ các chiến hạm gần đấy. Cuộc giao tranh này khiến 2 quân nhân VNCH tử thương và sau đó, do quân số ít hơn rất nhiều, hai toán đổ bộ của VNCH đã phải rời đảo, trở lại tàu. Lúc này, các tàu chiến trên biển đã di chuyển theo đội hình chiến thuật, bộ chỉ huy trên soái hạm HQ-5 chỉ định mục tiêu cho từng chiến hạm thành viên để tiêu diệt. Theo đó, HQ-5 đối đầu tàu Krondstadt 274; HQ-4 đối đầu Krondstadt 271; HQ-10 đối đầu trục lôi hạm 396; HQ-16 đối đầu trục lôi hạm 389. Lúc 10 giờ 22 sáng 19.1.1974, lệnh tác xạ đồng loạt vào các chiến hạm Trung Quốc được ban hành từ HQ-5. Thông tin công khai trước đây cho rằng tàu Trung Quốc đã nổ súng trước. Tuy nhiên, mới đây, nguyên Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San xác nhận rằng, lúc bấy giờ, tàu chiến của VNCH đã “chủ động khai hỏa”. Ngay trong những phút đầu, một chiếc Krondstadt đã bị trúng đạn bốc cháy. Sau đó, chiếc Krondstadt thứ hai cũng hư hại và phải ủi vào rạn san hô gần đó để khỏi chìm. Phía VNCH cũng chịu tổn thất khi HQ-4 và HQ-5 đều trúng đạn nhưng vẫn còn chiến đấu được; HQ-16 bị hư hại nặng hơn và phải dần rút khỏi vòng chiến. Riêng HQ-10, là tàu nhỏ nhất, bị bắn chìm và Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận. Đến gần 11 giờ, có tín hiệu cho thấy Trung Quốc đang tăng viện với các tàu tên lửa Komar xuất hiện từ phía xa. Nhận thấy tình thế bất lợi, chỉ huy trưởng Hà Văn Ngạc đã ra lệnh cho toàn bộ lực lượng rời vùng giao tranh. Trong cuộc chiến này, theo con số thống kê chưa đầy đủ, 53 quân nhân VNCH đã bỏ mình vì nước; một số quân nhân và nhân viên khí tượng bị bắt làm tù binh và đã được trao trả sau đó. Phía Trung Quốc có 4 tàu bị bắn hỏng và 18 binh sĩ chết. Sau trận chiến ngắn ngủi nhưng ác liệt, Trung Quốc đã chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Dù thế, trận hải chiến 1974 một lần nữa khẳng định ý chí bất khuất của người Việt Nam trong sứ mệnh bảo vệ chủ quyền. Trước một kẻ thù mạnh hơn và trong một tình hình chính trị chung có nhiều diễn biến bất lợi, các quân nhân đã kiên cường nổ súng vào kẻ xâm lăng. Cuộc chiến đó cũng một lần nữa làm nổi rõ tính phi nghĩa của Trung Quốc tại Hoàng Sa và trên toàn biển Đông về sau, như tuyên cáo của Bộ Ngoại giao VNCH số 015/BNG sau trận hải chiến 1974 đã vạch rõ: “Các hành động quân sự của Trung Cộng là hành vi xâm phạm trắng trợn vào lãnh thổ VNCH”. Hành động dùng vũ lực để chiếm lãnh thổ của nước khác đi ngược lại với Hiến chương LHQ, và vì thế, dù cho đã chiếm đóng toàn bộ Hoàng Sa gần 40 năm qua, Trung Quốc mãi mãi vẫn không có được một tư cách hợp pháp đối với vùng lãnh thổ này. Đỗ Hùng (Theo TNO)
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России |
|
#135
|
||||
|
||||
|
Nếu như một lần nữa lại chiến tranh? "Chúng ta cần sẵn sàng tác nghiệp ở nơi có chiến sự. Gia đình phải di tản ra khỏi Việt Nam, những ai không kịp thì hãy đổ đầy xăng vào xe ô tô, để có thể chạy xa ít nhất là tới được Đà Nẵng, cách Hà Nội khoảng 700 km". (Con trai Vasily của tôi chỉ mới tám tuổi. Nó không chịu di tản. Mà thậm chí còn xin một khẩu súng. Tất nhiên! Người ta không cho.) Chuẩn bị quần áo, thực phẩm ...những đứa trẻ ... Chúng tôi nói về rất nhiều thứ. Nhưng tất cả đều đã sẵn sàng nếu phải di tản khẩn cấp ... Nếu "chiến tranh" là hôm nay, chứ không phải ngày mai. Biên giới Trung Quốc - Chỉ cách Hà Nội 140 km. Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố rằng ông có thể ăn bữa sáng tại Trung Quốc và ăn bữa trưa tại Hà Nội ... [419] ...................... - Xung đột biên giới đã hình thành như thế nào? - Câu hỏi đầu tiên. - Xin nói qua một chút về lịch sử - Vị Đại Tá bắt đầu - Trong những năm gần đây, đã có sự lợi dụng Hoa kiều (kiều dân Trung Quốc ở nước ngoài).Bắc Kinh đang cố gắng tích cực sử dụng họ vì lợi ích của chính sách bá quyền của mình. Ngày 29 tháng 9 năm 1977, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng CS TQ Đặng Tiểu Bình tuyên bố rằng "vấn đề việc làm của người Hoa ở nước ngoài phải được đưa vào chương trình nghị sự". Theo Tân Hoa Xã, vấn đề này đã được đưa ra lần đầu tại một cuộc họp đặc biệt về Hoa Kiều, đã có sự tham dự của 18 cơ quan "có liên quan" của trung ương và các tổ chức ở Trung Quốc, và sau đó tại phiên họp toàn thể của Quốc hội vào tháng 2 - tháng 3 năm 1978. Bên lề hội nghị và trong các buổi họp công khai đã nhắc lại những lời của Mao Trạch Đông, nói vào năm 1959 tại hội nghị Quân ủy TW: "Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta". Và vào tháng 8 năm 1965 tại cuộc họp của Bộ Chính trị TW Đảng CS Trung Quốc: "Chúng ta phải dành cho được Đông Nam châu Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia, và Singapore... Một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản ... xứng đáng với sự tốn kém để chiếm lấy ..." Trích Chương XII: Trung Quốc-Việt Nam: Phòng tuyến thứ tư. Sách “Đông Dương: Đống tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)” của nhà báo, nhà sử học Nga Ilyinsky M.M. p/s: đính kèm vài hình ảnh minh họa cho phần dịch. ![]() Bản đồ thể hiện quan điểm bành trướng được in năm 1954.
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 17-02-2013 thời gian gửi bài 15:38 Lý do: Làm thống nhất câu trích trong các tài liệu. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
hadym (17-02-2013) | ||
|
#136
|
|||
|
|||
|
Trích:
Chủ tâm của Mao Trạch Đông không phải thế. Quả tình có lần Mao Trạch Đông cao hứng có lần lấy bút chỉ đỏ tô trên bản đồ một số khu vực Đông Nam Á tức là phát động phong trào cộng sản ở nhưng nơi đó chứ không phải làm xâm chiếm. Mao đã từng đọc lịch sử Việt Nam nên đã dặn dò rất kỹ cán bộ Trung Quốc sang đấy phải giữ gìn tránh sự hiểu nhầm vì dù sao đất nước TQ cũng đã từng có lỗi với Việt Nam rồi. Mao có thể ác với dân TQ nhưng đối với nhân dân Việt Nam thì chí nghĩa chí tình. |
|
#137
|
|||
|
|||
|
Về ông Mao thi không thể nói là thánh nhân được nhưng có thể nói là vĩ nhân, là mặt trời hồng của phương Đông.
Ông có cuốn Mao tuyển là một cuốn sách được đọc nhiều nhất chỉ sau Kinh Thánh. Sự nghiệp của ông có nhiều tranh cãi nhưng công lao của ông không thể phủ nhận sạch trơn. Ông có công thống nhất Trung Hoa, giúp đỡ phong trào cách mạng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Hoài bão của ban đầu rất tốt nhưng do quá nôn nóng nên cái sảy nảy cái ung, âu cũng là guống xoáy chính trị. Người ta đã từng tâng bốc ông, cũng đã từng bêu xấu ông. Cần vài chục năm nữa mới có nhận xét công bằng về ông được. Mặc dầu vậy ông vẫn luôn luôn là mặt trời hồng trong rất nhiều người TQ và VN. |
|
#138
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
hadym (17-02-2013) | ||
|
#139
|
|||
|
|||
|
Trích:
Kính bác. Cái gì ta cũng phải công bằng miễn cái công bằng không tổn hại đến lợi ích quốc gia. Phỏng ạ. |
|
#140
|
|||
|
|||
|
Mình nghĩ rằng trong vòng 12 giờ, nếu bạn không đưa ra bằng chứng cho những tuyên bố của bạn, thì bạn rất xứng đáng được ban nick vì thái độ phá hoại tranh luận của bạn.
|
![]() |
| Bookmarks |
|
|