|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
Vào trung tuần tháng Sáu cách đây hai năm, báo cand.com đã đưa tin Nhà văn Chingiz Aitmatov qua đời, nội dung của bài báo do tác giả Mạnh Hiền viết như sau:
http://vnca.cand.com.vn/News/PrintView.aspx?ID=52873 Vĩnh biệt tác giả "Một ngày dài hơn thế kỷ" Nhà văn Kyrgyzia nổi tiếng Chingiz Aitmatov, tác giả của những tác phẩm làm rung động hàng triệu con tim trên thế giới đã qua đời tại Bệnh viện Nuremberg ở CHLB Đức vào hồi 15 giờ 31 phút ngày 10/6. Hãng DPA của CHLB Đức đưa tin nhà văn Kyrgyzia qua đời vì bệnh phổi. Chingiz Aitmatov đã lâm bệnh từ mấy tháng trước tại Kazan, nơi ông tham gia quay phim "Một ngày dài hơn thế kỷ". Ông được đưa vào điều trị tại bệnh viện tốt nhất ở Tatarstan (Nga). Ngày 16/5, Aitmatov được đưa sang Đức chữa trị và ông đã vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 80. Aitmatov sinh năm 1928 tại làng Sheker, vùng Talass của Kyrgyzia. Tuổi thơ ông rong ruổi trên những cánh đồng và thảo nguyên vùng Trung Á thơ mộng. Lớn lên, Aitmatov đến sinh sống cùng gia đình tại Moskva. Nước Nga với những cánh rừng bạch dương hùng vĩ và những con người nhân hậu đã nuôi dưỡng tâm hồn Aitmatov, hun đúc nên những tác phẩm bất hủ của ông. Chính vì thế, những tác phẩm của Aitmatov đều thể hiện bằng hai thứ tiếng Kyrgyzia và Nga. Từ năm 1952, những tác phẩm đầu tiên của Chingiz Aitmatov lần lượt ra đời. Đến nay, những tác phẩm của nhà văn đã được tái bản tới 650 lần trên thế giới và được dịch sang 170 ngôn ngữ khác nhau với số lượng lên đến 60 triệu bản. Tiểu thuyết cuối cùng của nhà văn "Khi nào núi đổ (nàng dâu vĩnh viễn)" vừa được xuất bản tại Moskva năm 2006. Năm nay ở Kirgizia là "Năm Chingiz Aitmatov". Mới đây, tại Thổ Nhĩ Kỳ, một ủy ban vận động đề cử Aitmatov làm ứng cử viên giải thưởng Nobel Văn học được thành lập. Sáng kiến đề cử Aitmatov do Hội nghị Bộ trưởng các nước Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Kyrgyzstan, Turkmenistan, Altai, Tatarstan, Tuva... đưa ra. Hội nghị khẳng định Aitmatov là nhà hoạt động văn học xuất sắc của cộng đồng Turkic. "Chingiz Aitmatov được coi như biểu tượng tinh thần và nhân phẩm của tất cả nhân dân Turkic trên toàn thế giới, còn toàn bộ cuộc đời nghệ thuật của ông có ý nghĩa quốc tế sâu rộng"- Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Abdull Gul tuyên bố. Chingiz Aitmatov đã từng giữ các chức vụ như Tổng biên tập tạp chí "Văn học nước ngoài", Thư ký Hội Nhà văn Liên Xô. Ông được phong danh hiệu nhà văn nhân dân của Kyrgystan, Anh hùng Lao động XHCN, được nhận giải thưởng Lênin, 3 lần đoạt giải thưởng Quốc gia Liên Xô, Đại biểu Xôviết tối cao Liên Xô, Ủy viên BCH T.Ư Đảng Cộng sản Kyrgyzia. 16 năm cuối đời, Aitmatov làm đại sứ của Kyrgyzia ở châu Âu. Nước Nga đau đớn nhận tin Aitmatov qua đời. Tổng thống D.Medvedev gửi lời chia buồn sâu sắc đến gia quyến của nhà văn. Chủ tịch Hội các nhà xuất bản Nga Mikhail Seslavinsky nêu rõ: "Trong những ngày cuối đời, Aitmatov luôn trăn trở rằng phải làm tất cả để giữ mối quan hệ nhân văn bền chặt giữa các nước cộng hòa trong không gian hậu Xôviết. Ông tham gia các cuộc hội thảo và luôn là người bạn thân thiết, gần gũi của đất nước chúng ta. Sự nghiệp sáng tác của ông là một phần không thể thiếu trong không gian văn học của đất nước chúng ta". Ngoại trưởng Pháp Bernar Kushner vô cùng thương tiếc nhà văn Kyrgyzia, ông cho rằng Aitmatov luôn sống mãi trong lòng những người hâm mộ như một nhà văn vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Nhà hoạt động văn hóa xã hội Mikhail Veller khẳng định sự ra đi của Aitmatov đã để lại khoảng trống, mất đi một mắt xích quan trọng trong không gian văn hóa hậu Xôviết. Bạn đọc Việt Nam mến yêu Chingiz Aitmatov qua những tác phẩm: "Người thầy đầu tiên", "Núi đồi và thảo nguyên", "Giamilia", "Cây phong non trùm khăn đỏ", "Vĩnh biệt Gunxarư", "Một ngày dài hơn thế kỷ", "Đoạn đầu đài"... Đó là những thiên truyện đã thực sự làm ngây ngất những con tim luôn khát khao với cuộc sống mến yêu, với thiên nhiên thấm đẫm tình người. Chingiz Aitmatov thực sự là cây đại thụ trong nền văn học Xôviết, một nhà văn chói ngời với những tư tưởng nhân văn. "Vĩnh biệt Gunxarư"! Vĩnh biệt Chingiz Aitmatov! Nhà văn của nhân dân Chingiz Aitmatov Để tưởng nhớ nhà văn, tôi xin được chép lại cuốn Vĩnh biệt Gunxarư do dịch giả Phạm Mạnh Hùng dịch, sách do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 1986, như một nén nhang gửi tới vong linh nhà văn yêu mến trong ngày giỗ lần thứ hai của ông.
__________________
Ласковый Май |
| Có 12 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Hoa May (24-06-2010), htienkenzo (13-06-2010), hungmgmi (13-06-2010), kingfisher (24-09-2012), nqbinhdi (13-06-2010), nthach (13-06-2010), nxtlucky (12-06-2011), sonkinh (14-06-2010), thaond_vmc (17-06-2010), USY (16-06-2010), Vania (13-06-2010), Xamova (01-07-2010) | ||
|
#2
|
|||
|
|||
|
Siren ơi !!!
Chắc rằng mọi người sẽ mong được đọc, và ủng hộ tác phẩm do bạn đăng lên diễn đàn rồi. |
|
#3
|
||||
|
||||
|
Một người già nua trên chiếc xe ngựa già nua. Con ngựa Gunxarư màu vàng nhạt cũng đã già, già lắm rồi...
Đường ngược lên cao nguyên, leo dốc lên đến phát ớn lên được. Mùa đông gió tuyết luôn luôn quay cuồng giữa những ngọn đồi xám xịt hoang vắng, mùa hè thì nóng như hoả ngục. Đối với Tanabai, đoạn dốc này bao giờ cũng là một cực hình thực sự. Ông không ưa cho xe đi chậm, đi chậm quả tình là ông không sao chịu đựng nổi. Thời trai trẻ, ông thường có việc lên huyện, trên đường về lần nào ông cũng thúc ngựa phi nước đại lên dốc. Ông quất roi không chút xót thương. Còn nếu đi xe tải hạng cùng với những người khác, nhất lại là xe do bò kéo thì đến chân dốc, xe đang chạy ông cũng nhảy xuống, lẳng lặng vơ lấy áo mũ và cuốc bộ. Ông rảo bước hung hăng như đang xông lên trong mộtt trận tấn công, cứ như thế cho đến khi lên đến cao nguyên ông mới dừng lại. Miệng há ra hớp không khí, ông chờ chiếc xe đang bò lên ở mãi dưới kia. Chạy bộ nhanh, tim ông đập như điên như dại, nhoi nhói trong lồng ngực. Nhưng thà vậy còn hơn ngồi trên chiếc xe bò kéo chậm rề rề. Tsôrô, nay đã qua đời, thường thích chế nhạo thói kỳ quặc của bạn. Ông nói: -Tinabai này, anh có biết tại sao anh cứ long đong lận đận mãi không? Là vì anh có tính nôn nóng. Nói tình thực đấy. Bất cứ việc gì anh cũng cứ muốn thật mau lên, thật gấp vào. Cách mạng thế giới ư? Làm ngay đi! Mà nói gì đến cách mạng, ngay một chặng đường bình thường, đoạn lên dốc từ Alexanđrốpka, anh cũng chẳng đủ kiên gan chịu đựng nữa là. Người ta thì điềm nhiên ngồi trên xe, riêng anh lại nhả xuống, hăm hở chạy lên dốc như bị chó sói đuổi sau lưng. Nhưng có lợi gì hơn không nào?Chẳng được cái tích sự gì. Vẫn cứ phải ngồi trên đỉnh dốc chờ người khác đến. Làm cách mạng thế giới cũng thế, không thể một mình nhảy lên vượt lên trước được, hiểu chưa?. Như vậy thì sẽ lại phải chờ cho mọi người lên theo kịp. Nhưng chuyện ấy đã lâu rồi, lâu lắm rồi. Lần này Tanabai vượt qua dốc Alexanđrốpka lúc nào không biết. Thì ra về già , ông đã quen đi. Ông cho xe đi không nhanh, không chậm, theo đà bình thường. Bây giờ, bao giờ ông cũng ra đi một mình. Những người trước đây đã cùng ông họp đoàn đông vui đi lại trên con đường ồn ào này, nay không tìm đâu ra nữa. Người thì đã bỏ mình nơi chiến địa, người thì đã qua đời, người thì ngồi nhà sống nốt những ngày cuối cùng. Còn thanh niên bây giờ chúng nó đi xe có động cơ kia chứ. Chẳng ai hơi đâu cùng ông kéo lê trên đường với một con nghẽo thảm hại. Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Và nó sẽ còn phải lăn lọc cọc một thời gian lâu nữa. Phía trước là thảo nguyên, rồi tiếp đó, sang bên kia con kênh, còn phải vượt qua một vùng gần núi. Đã từ lâu, ông nhận thấy con ngựa hình như đang xuống sức, cứ đuối dần. Nhưng bận rộn với những ý nghĩ buồn phiền, ông chẳng lo ngại gì cho lắm. Con ngựa mệt mỏi chút ít ở dọc đường thì có gì ghe gớm kia chứ. Đôi khi còn gặp những rủi ro tai ác hơn nhiều. Nhất định nó sẽ kéo được xe về nhà. Vả chăng, làm sao ông biết được rằng con ngựa già của ông, tên là Gunxarư ( vì nó có bộ lông màu vàng nhạt- tiếng Kirghizya- Gunxarư nghĩa là bông hoa màu vàng, cái nụ hoa vàng) đang vượt dốc Alexanđrốpka lần cuối cùng trong đời nó và giờ đây đang đưa ông đi những dặm đường cuối cùng của nó. Làm sao ông biết được rằng đầu óc con vật đang choáng váng mê mụ, bà trong con mắt đã mờ đục của nó, mặt đất bồng bềnh hoa lên những vòng tròn nhiều màu sắc, nghiêng ngả chòng chành, quyệt hết rìa bên nọ đến rìa bên kia vào bầu trời, đường cái trước mặt con vật đôi lúc dứt quãng đột ngột, biến thành một khoảng trống đen ngòm và con vật tưởng chừng như ở phía trước, nơi nó đang đi tới, lại bồng bềnh trong đám sương mù hay đám khối màu đỏ nhạt, tuy lẽ ra ở đấy nhất định phỉa có núi. Một cơn đau âm ỉ kéo dài nhói lên trong trái tim đã suy kiệt của nó, nó thở ra mỗi lúc một khó khăn hơn trong vòng cổ. Cái đai mông trẹo sang bên cứa vào da thịt, còn ở mé bên trái, dưới vòng cổ có cái gì nhọn luôn luôn đâm đau nhói. Có lẽ đó là cái gai hay đầu đinh đâm qua lớp dạ lót vòng cổ. Vết thương vừa mới há miệng trên cái u chai cũ ở vai, đau rát và ngứa không chịu nổi. Vó mỗi lúc một nặng chịch, tưởng như bước trên cánh đồng ướt mới cày...
__________________
Ласковый Май |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Bien (02-07-2011), huong duong (20-08-2010), kingfisher (24-09-2012), nqbinhdi (17-06-2010), nthach (17-06-2010), nxtlucky (12-06-2011), sonkinh (14-06-2010), Vania (13-06-2010) | ||
|
#4
|
||||
|
||||
|
Nhưng con ngựa già vẫn gắng gượng tiến bước, còn ông già Tanabai thỉnh thoảng lại giật cương thúc giục và mải miết theo đuổi ý nghĩ của mình. Ông có nhiều điều đáng nghĩ ngợi.
Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Gunxarư vẫn chạy bằng cái nước đi dị dạng quen thuộc ấy ( một kiểu đi khác thường của ngựa, hai chân một bên cùng cất lên một lần, tạm dịch là dị dạng vì không có từ thích ứng - ND), vẫn cái nhịp nước kiệu đặc biệt ấy mà chưa bao giờ nó đi sai lạc, kể từ ngày đầu tiên trong đời nó đứng lên được và chập chững chạy trên đồng cỏ theo sau mẹ. Mẹ nó là là một con ngựa cái cao lớn, có mái bờm dày rậm. Gunxarư có nước đi dị dạng từ lúc lọt lòng mẹ. Vì cái nước đi trứ danh ấy, trong đời nó đã có nhiều ngày vui sướng và nhiều ngày đắng cay. Trước đây không ai tính đến chuyện dùng nó kéo xe, đâu có chuyện sỉ nhục như thế. Nhưng như người ta thường nói, khi con ngựa gặp vận khốn, nó sẽ đeo cả cương và hàm thiếc đi uống nước, khi một chàng trai anh tài gặp vận khốn, anh ta sẽ để cả ủng lội qua chỗ sông cạn. Đấy toàn là chuyện trước kia, nay đã lùi về dĩ vãng xa xôi. Giờ đây con vật dốc hết chút sức tàn đi tới cái vạch chót của mình. Chưa bao giờ nó đi tới cái vạch chót chậm đến thế và chưa bao giờ nó tới gần cái vạch ấy nhanh đến thế. Cái vạch chót vẫn luôn luôn cách nó một bước. Bánh xe lọc cọc trên con đường cũ kỹ. Cảm giác mặt đất bập bềnh dưới chân khơi dậy trong ký ức đã tàn lụi của nó bóng dáng những ngày hè xa xăm ấy, một cánh đồng cỏ ướt đẫm nằm lọt giữa núi đồi và rung rinh tròng trành, cái thế giới kỳ diệu và khó tưởng tượng nổi ấy, ở đó vầng mặt trời hý vang và nhảy nhớt trên những ngọn núi, còn nó, con ngựa non khờ khạo, nó đuổi theo mặt trời, băng qua đồng cỏ, qua con sông nhỏ, qua những bụi cây, cho đến khi con ngựa đực đầu đàn, hai tai áp sát vào đầu đầy vẻ tức giận, đuổi kịp nó và bắt nó quay trở lại. Vào cái thuở xa xưa ấy, những đang ngựa dường như đi ngược vó lên trời, như hình bóng in dưới đáy hồ, còn mẹ nó, một con ngựa cái cao lớn có mái bờm dày rậm, biến thành đám mây sữa ấm áp. Nó thích những lúc mẹ nó bỗng chốc biến thành đám mây thở phì phì đầy tình thương âu yếm. Vú mẹ trở nên rắn căng và ngọt ngào, sữa sủi bọt trên môi nó và tuôn ra nhiều quá và ngọt quá làm nó sặc sụa. Nó thích đứng như thế, rúc đầu vào bụng ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm. Cái thứ sữa mới mê ly, ngây ngất làm sao! Cả thế giới - mặt trời, đất, mẹ - chứa gọn trong một ngụm sữa, rồi một ngụm nữa...
__________________
Ласковый Май |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
htienkenzo (17-06-2010), hungmgmi (16-06-2010), kingfisher (24-09-2012), nqbinhdi (17-06-2010), nthach (17-06-2010), nxtlucky (12-06-2011), Vania (23-06-2010) | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Tiếc thay, hạnh phúc chẳng được bao lâu, ngắn ngủi quá. Chẳng bao lâu tất cả đổi khác. Mặt trời không còn hí vang và nhảy nhót trên núi, mà nghiêm nghị nhô lên ở đằng đông và không ngừng di chuyển về hướng tây, các đàn ngựa không còn đi ngược vó lên trời, đồng cỏ bị vó ngựa giẫm nát lép nhép và sẫm đen lại, đá trên bãi cát bồi lộp độp vỡ vụn ra. Ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm trở thành bà mẹ nghiêm khắc, cắn rất đau vào bắp vai nó khi nó quấy rầy nhiều quá. Sữa không còn đủ bú nữa. Phải ăn cỏ. Từ đó bắt đầu một cuộc sống kéo dài nhiều năm ròng và giờ đây sắp kết liễu.
Suốt cuộc đời dài lâu của mình. Gunxarư chưa bao giờ trở lại mùa hè ấy, cái mùa hè đã qua đi mãi mãi. Nó mang yên cương, sải vó trên các nẻo đường, nhiều người đã từng cưỡi trên lưng nó, vậy mà đường đi vẫn chưa hết. Mãi đến bây giờ, khi mặt trời lại nhảy nhót, còn mặt đất chòng chành dưới chân, mắt hoa lên và mờ đi, nó mới lại mường tượng thấy cái mùa hè đã lâu lắm chưa hề trở lại. Dẫy núi ấy, cánh dồng cỏ ướt sương ấy, những bầy ngựa ấy, ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm dang ở trước mắt nó trong ánh hào quan lung linh kì lạ. Và nó căng hết cơ bắp, vươn dài người, đạp hai chân một cách tuyệt vọng, cố thoát ra khỏi càng xe, vùng ra khỏi cổ và càng xe để đi vào thế giới dĩ vãng ấy, cái thế giới đột nhiên hiện về với nó. Nhưng cái ảo ảnh lừa dối cứ luôn luôn lùi ra xa, thật khổ tâm xiết bao. Ngựa mẹ hí khe khẽ gọi nó, như thuở nó còn thơ dại, những bầy ngựa rầm rập chạy qua, sườn và đuôi quyệt vào nó như hồi nó còn thơ dại, nhưng nó không đủ sức vượt qua làn sương mù lấp lánh của cơn bão tuyết đang nổi lên mỗi lúc một dữ tợn ở xung quanh. Bão quất vào nó những chiếc đuôi cứng, nhồi tuyết vào mắt và mũi nó, toàn thân nó đẫm mồ hôi nóng, nó lạnh run lên, và cái thế giới không thể nào tới được ấy chìm nghỉm êm nhẹ như không, biến mất trong những cơn lốc của trận bão tuyết. Thế rồi núi non, đồng cỏ, con sông cũng biến mất, những bầy ngựa chạy biến đi, và ở phía trước, bóng dáng ngựa mẹ cao lớn có cỗ bờm dày rậm chỉ còn là một vệt mờ. Ngựa mẹ không muốn bỏ rơi nó. Mẹ gọi nó. Nó rán sức hí lên, nức nở, nhưng nó không nghe thấy tiếng mình. Tất cả đã biến mất, kể cả cơn bão tuyết. Bánh xe không còn lọc cọc nữa. Vết thương nhỏ dưới vòng cổ không còn nhức nhối nữa. Gunxarư dừng lại, lảo đảo. Mắt nhìn buốt nhói. Trong đầu có tiếng u u kì lạ, liên tục bất tận. Tanabai ném dây cương xuống tấm chắn phía trước xe, lóng ngóng trèo xuống, cử động đôi chân tê dại và cau có đến gần con ngựa. -Hừ, quỉ tha ma bắt mày đi! – Ông nhìn con ngựa, khẽ mắng. Con vật vẫn đứng, cái đầu đồ sộ với cái cổ dài gầy ngẵng thõng xuống dưới vòng cổ. Xương sườn con vật giương lên xẹp xuống một cách khó nhọc, và hai bên hông gầy guộc, nhẽo nhợt nhô lên những xương cùng xẩu. Lông nó trước kia vàng tươi, óng ánh sắc vàng mười, bây giờ ngả sang màu nâu xỉn, bết mồ hôi và bùn. Những vệt mồ hôi xanh nhạt, nom như vệt xà phòng, chạy dài từ đầu xương cùng xuống bụng, chân và móng. - Nào có phải tao thúc ép mày chạy quá sức đâu – Tanabai lẩm bẩm và quính lên, nới lỏng đai bụng hàm thiếc hết nước bọt dính nhớp, nóng hổi. Ông dùng tay áo lau mõm và cổ cho con ngựa. Rồi ông chạy vội về chỗ chiếc xe để vun vét nốt chỗ cỏ khô còn lại, ông vét được nửa ôm cỏ và đem đến vứt dưới chân con vật. Nhưng con ngựa không động đến cái ăn, một cơn run nhè nhẹ lan khắp toàn thân nó. Tanabai đưa một nắm cỏ khô đến gần mõm ngựa. - Ngoạm lấy, ăn đi, cái con này lạ thật! Môi con vật mấp máy, nhưng không thể ngoạm được nắm cỏ. Tanabai nhìn vào mắt con vật và cảm thấy buồn phiền. Ông chẳng nhìn thấy gì hết trong đôi mắt hõm sâu nửa khép nửa mở dưới lớp mi răn reo đã trụi hết lông của nó. Đôi mắt ấy mờ đục và trống rỗng như cửa sổ của ngôi nhà bỏ hoang. Tanabai bối rối nhìn khắp xung quanh: đằng xa kia là những dãy núi, quanh đây là thảo nguyên trơ trụi, trên đường cái không một bóng người. Vào mùa này rất hiếm người qua lại nơi đây. Chỉ có một con ngựa già và một ông già trên con đường vắng ngắt.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#6
|
||||
|
||||
|
Bấy giờ là cuối tháng hai.
Tuyết đã tan trên đồng bằng, chỉ riêng trong các khe và những mương xói mọc đầy cói là vẫn còn những đống tuyết cuối cùng nom giống như những tấm lưng chó sói trong hang ổ kín đáo của mùa đông. Gió thoang thoảng mùi tuyết đọng, đất vẫn còn đóng giá, xám ngắt, chưa hồi sinh. Thảo nguyên lổn ngổn đá vào cuối đông sao mà quạnh hiu và ảm đạm. Chỉ riêng quang cảnh thảo nguyên cũng đủ khiến Tanabai lạnh giá trong lòng. Hếch cao chòm râu bạc bù xù, che mắt dưới ống tay cứng queo của tấm áo lông, ông nhìn một lúc lâu về phía tây. Mặt trời lư lửng giữa những đám mây ở tận cuối trái đất. Hoàng hôn nhợt nhạt, mờ hơi sương đã loang ra ở chân trời. Không có điều gì báo trước thời tiết xấu, nhưng vẫn lành lạnh và hơi đáng sợ. “Biết thế này thì chẳng đi là hơn. – Tanabai buồn bực – Bây giờ đi không được, trở lại không xong, đành đứng trơ ra giữa đồng không mông quạnh. Lại làm cho con ngựa chết uổng nữa chứ”. Phải, có lẽ ông nên để sáng mai hãy ra đi. Ban ngày ban mặt, nếu có xảy ra chuyện gì ở dọc đường thì vẫn có thể gặp một người qua đường. Nhưng lúc ông ra đi thì đã quá trưa. Mùa này ai lại đi như thế kia chứ? Tanabai lên một gò cao nhìn xem ở đằng xa có chiếc xe nào từ phía sau hay phía trước đi tới không. Nhưng nhìn ngược nhìn xuôi chẳng thấy gì và cũng chẳng nghe thấy tiếng động nào. Ông uể oải trở lại chỗ xe ngựa. “Ta ra đi thực là dại” – Tanabai lại tự nhủ, lần này không biết là lần thứ bao nhiêu ông trách mình suốt đời hấp tấp. Ông cáu kỉnh, vừa giận mình vừa bực tức về tất cả những gì đã thôi thúc ông vội vã rời khỏi nhà con trai ông. Đúng là nên ở lại đêm nay để cho con ngựa nghỉ ngơi lấy lại sức. Vậy mà ông đã làm gì? Tanabai phảy tay một cách tức giận. “Không, dù thế nào ta cũng sẽ không ở lại. Dù phải cuốc bộ ta cũng ra về! – Ông tự biện bạch với mình. – Cái thói đâu ăn nói với bố chồng như thế kia chứ? Chẳng gì ta cũng là bố chúng nó kia mà. Nó lại dám mở miệng ra nói ông vào đảng làm gì để mà suốt đời chăn cừu với chăn ngựa, rồi về già lại bị đuổi ra khỏi đảng… Mà thằng con ta cũng chẳng ra gì. Cứ câm như thóc, không dám ngước mắt lên. Con vợ mà xui nó từ bỏ bố thì nó cũng từ phắt cho mà xem. Cái đồ ươn hèn, thế mà cũng tấp tểnh leo lên làm lãnh đạo kia đấy. Hừ, còn phải nói gì nữa! Bọn chúng nó bây giờ có ra cái quái gì đâu, hỏng lắm rồi. Tanabai cảm thấy bức bối,ông cởi khuy cổ áo sơ mi và thở hổn hển, bắt đầu đi lại xung quanh chiếc xe, quên bẵng cả con ngựa, cả con đường, cả đêm tối đang xuống. Ông vẫn không thể nào bình tâm được. Lúc ở nhà con trai, ông dằn lòng nhẫn nhịn, vì cho rằng cãi cọ với con dâu thật không ra thể thống gì. Nhưng bây giờ ông bỗng giận sôi lên, cứ như lúc này thì ông sẵn sàng nói thẳng vào mặt ả tất cả những ý nghĩ cay đắng ông đã nghiền ngẫm ở dọc đường. “Không phải cái thứ mày kết nạp tao vào đảng, cũng không phải cái thứ mày đã khai trừ tao ra khỏi đảng. Con ạ, làm sao mày biết được những gì đã xảy ra hồi ấy? Bây giờ ngồi phán xét mọi chuyện thì dễ thôi. Bây giờ người nào cũng được học hành, được tôn trọng, kính nể. Nhưng hồi ấy, mọi trách nhiệm đều đổ lên đầu chúng ta, mà trách nhiệm mới khắc nghiệt làm sao! Phải chịu trách nhiệm về bố, về mẹ, về bạn và thù, về bản thân, về con chó hàng xóm, về đủ mọi thứ trên đời ! Còn về việc ta bị khai trừ thì mày chớ có đả động đến! Đấy là nỗi đau buồn của ta, con ạ. Chuyện ấy mày không được động đến!”. - Chuyện ấy mày không được động đến! – Ông vẫn nói thành tiếng và vẫn quanh quẩn bên chiếc xe ngựa – Chuyện ấy mày không được động đến! – ông nhắc đi nhắc lại vẫn một câu. Và đáng bực nhất, bẽ bàng nhất là ngoài câu “mày không được động đến”, hình như không còn gì để nói nữa. Ông cứ đi đi lại lại quanh chiếc xe mãi, cho đến khi nhớ ra rằng cần phải làm một việc gì: không thể ở lại đây suốt đêm được. Gunxarư trong bộ đồ thắng xe vẫn đứng yên không nhúch nhích, dửng dưng với mọi sự đời, lưng gù lên, chân chụm vào nhau, nom như đã hoá đá, như đã chết. - Mày sao thế? – Tanabai nhảy bổ đến cạnh nó và nghe thấy một tiếng rên khe khẽ, kéo dài của con vật. – Mày ngủ ư? Mày khó ở ư, anh bạn già? Ốm ư? Ông hối hả sờ nắn đôi tai lạnh của con vật, luồn một tay dưới bờm nó. Ở đấy cũng lạnh và ẩm. Nhưng điều làm ông hoảng nhất là ông không cảm thấy sức nặng quen thuộc của cỗ bờm: “Nó già thực sự rồi, bờm đã thưa đi nhiều, nhẹ bổng như lông tơ. Tất cả chúng ta đều già đi, rồi cũng đến ngày tận số”. – Ông nghĩ một cách chua xót. Ông đứng lên, lưỡng lự không biết làm gì. Nếu bỏ mặc con ngựa với chiếc xe ở đây mà đi bộ thì đến nửa đêm có thể về đến nhà, đến cái trạm gác của ông trong hẽm núi. Ông và vợ sống ở trạm, gần chỗ ở của người trông coi công việc thủy lợi, cứ theo con sông nhỏ ngược lên phía trên chừng một kilômét rưỡi là đến. Mùa hè Tanabai trông nom việc cắt cỏ, mùa đông ông trông coi những đống cỏ khô, không để cho những người chăn cừu lấy trộm hoặc dùng hết cỏ quá sớm. Mùa thu năm ngoái, khi ông đến ban quản trị có việc, anh đội trưởng, một kĩ sư nông nghiệp trẻ tuổi mới đến, nói với ông: - Acsakan ạ, bác xuống chuồng ngựa mà xem, chúng con đã chọn cho bác con ngựa khác rồi đấy. Của đáng tội nó hơi già, nhưng với công việc của bác thì được thôi. - Con nào đấy nhỉ? – Tanabai có ý lo ngại – Lại một con nghẽo cà khổ nào phải không? - Bác cứ đến xem đi rồi sẽ biết. Một con ngựa sắc vàng. Bác hẳn phải biết con ngựa này, nghe nói trước kia bác vẫn cưỡi nó. Tanabai đến chuồng ngựa, và khi nhìn thấy con ngựa ở sân, lòng ông quặn đau. “Thì ra ta lại gặp nhau”. – ông thầm nói với con ngựa gì rút cuộc cũng đã suy kiệt. Ông không đang tâm khước từ nó. Ông đem con ngựa về. Về đến nhà, vợ ông phải khó khăn lắm mới nhận ra con ngựa có nước đi dị dạng. - Tanabai, có phải con Gunxarư đấy không? – Bà ngạc nhiên. - Phải, chính nó đấy, có gì là lạ kia chứ… - Tanabai lầu bầu, cố không nhìn vào mắt vợ. Cả hai vợ chồng đều không muốn khơi lại những kỷ niệm gắn bó với con ngựa Gunxarư. Thời trai trẻ, Tanabai đã có phen lầm lỗi, phải, ông đã từng lầm lỗi. Để câu chuyện khỏi xoay sang chiều hướng không hay, ông hơi sẵng giọng bảo vợ: - Sao lại cứ đứng ngây ra thế, đi hâm lại thức ăn đi. Tôi đói cào cả ruột rồi đây này. - Nhìn nó tôi nảy ra ý nghĩ: tuổi già là thế đấy – Vợ ông đáp – Nếu ông không bảo tôi đây chính là Gunxarư ấy thì hẳn là tôi không nhận ra. - Có gì là lạ nhỉ? Bà tưởng tôi với bà nom khá hơn chắc! Cái gì cũng có thời của nó. - Thì tôi cũng nghĩ vậy chứ sao? – Bà vợ trầm ngâm lắc đầu, rồi cất tiếng cười hiền hậu và nói. – Có lẽ đêm đêm ông sẽ lại nhóng con Gunxarư của ông đi chơi nhởn đấy nhỉ? Tôi cho phép đấy. - Vớ vẩn! – Ông lúng túng nói lảng và xoay lưng về phía vợ. Vợ nói đùa thì lẽ ra nên đáp lại bằng một câu đùa, nhưng vì bối rối, ông leo lên gần mái nhà kho lấy cỏ khô. Ông loay hoay ở đấy một lúc lâu. Ông tưởng vợ ông đã quên chuyện ấy, vậy mà không. Khói cuồn cuộn tuôn ra qua ống khói, vợ ông hâm lại bữa ăn trưa đã nguội, vậy mà ông vẫn loay hoay với đám cỏ khô, mãi cho đến lúc vợ ông đứng ở cửa lớn tiếng gọi: - Xuống đi, kẻo không thức ăn lại nguội mất. Bà không đả động đến chuyện xưa nữa, khơi lại đống tro tàn làm gì? Suốt mùa thu và mùa đông, Tanabai chăm vỗ con ngựa, cho ăn cám nóng, củ cải băm nhỏ. Răng Gunxarư đã mòn vẹt cả, chỉ còn trơ lại chân răng. Ông cho rằng ông đã vực lại được con ngựa, đương nhiên là phải như vậy thôi. Bây giờ xử trí với nó thế nào đây? Không, ông không đang tâm vứt bỏ con vật ở giữa đường.
__________________
Ласковый Май |
|
#7
|
||||
|
||||
|
Những ngày đen tối của người chăn cừu đã tới. Người chăn cừu nguyền rủa số phận của mình. Chửi tuốt mọi thứ trên đời. Người chăn cừu không ăn không ngủ, dốc hết sức tàn chạy ngược chạy xuôi giữa đám cừu cái ướt từ đầu đến chân, giữa đám cừu con đang cóng lạnh. Thần chết đã tàn sát chúng trong cái chuồng ẩm thấp này. Mụ vào đây một cách dễ dàng, vào bất cứ chỗ nào mụ muốn. Qua cái mái mục nát, qua những cửa số không kính, qua những khung cửa lớn toang hoác. Mụ đến tàn sát cừu con và những cừu mẹ đã suy yếu. Người chăn cừu mang những cái xác nhỏ bé tím ngắt ra ngoài, mỗi lần mang mấy xác liền và vứt chồng đống phía sau chuồng cừu.
Còn ở bên ngoài, trong bãi rào, những cừu nái bụng chửa to tướng đứng dưới mưa, tuyết. Chỉ nay mai là chúng xổ bụng. Dưới cơn mưa xối xả, quai hàm chúng run lập cập, co cứng lại. Lông ướt đẫm rũ xuống từng mảng rã rời… Cừu không còn muốn ra bãi chăn nữa. Rét và ẩm ướt thế này thì chăn thả cái quái gì? Bà xăcmansitsa già đầu trùm cái bao tải lùa chúng đi, nhưng chúng chạy trở lại, như thể ở đây đã có sẵn một thiên đường dành cho chúng. Bà già khóc, dồn chúng lại, lùa đi lần nữa, song chúng vẫn chạy trở về. Tanabai nổi khùng, chạy ra. Đáng phải dùng gậy nện cho những con cừu đần độn này một trận, nhưng chúng đang có chửa. Ông gọi mấy người nữa và ngần ấy người cùng nhau hợp lực, chật vật mới lùa được đàn cừu ra bãi chăn. Từ khi tai biến xảy ra, Tanabai không còn biết giờ giấc là gì nữa, cũng không còn tính được số cừu con chết trước mắt ông là bao nhiêu. Số cừu đẻ sinh đôi, thậm chí sinh ba càng nhiều hơn. Thế mà số của cải phong phú ấy tiêu ma hết. Bao nhiêu công sức tan ra mây khói. Cừu con ra đời và chết ngoéo ngay ngày hôm ấy trong bùn lầy và nước phân. Những con còn sót lại thì ho, khàn tiếng, đi tháo dạ và làm bẩn lẫn nhau. Những con mẹ mất con kêu gào, chạy lung tung, chen đẩy, xéo lên những con đang trở dạ nằm dưới sàn. Tất cả những cái đó có cái gì trái tự nhiên, quái gở. Chao ôi, Tanabai chỉ ước gì đợt cừu đẻ chậm lại một chút! Ông muốn thét lên với những con cừu đần độn này: “Khoan đã! Đừng đẻ vội! Khoan đã”. Nhưng những con cừu nái ấy dường như đã hẹn ước với nhau, cứ theo nhau đẻ liên tiếp!... Trong lòng ông dậy lên nỗi tức giận đen tối, khủng khiếp. Nó như một mảng bóng tối dày đặc che mờ mắt ông, khiến ông căm ghét tất cả những gì đang diễn ra ở đây, trong cái chuồng cừu khốn nạn này, căm ghét những con cừu cái, căm ghét chính bản thân mình, cuộc sống của mình, căm ghét tất cả những gì mà vì nó ông hoài công chịu khó chịu khổ ở đây. Tự dưng ông như mê mụ đi. Ông váng vất vì những ý nghĩ của mình, ông xua đuổi chúng, nhưng chúng không chịu lùi xa, chúng cứ len vào tâm trí ông: “Tốn công nhọc lòng như thế để làm gì? Ai cần cái đó? Chúng ta nuôi cừu để làm gì, nếu như không thể chu toàn được cho chúng? Ai có lỗi trong việc này? Ai? Trả lời đi, ai? Mi và những kẻ ba hoa như mi. Nào là: chúng tôi sẽ gây dựng lại hết, sẽ đuổi kịp và vượt mức tiên tiến, chúng tôi cam kết như vậy. Nói thì hay ho lắm. Nào, bây giờ hãy nâng những cừu con đã chết ấy lên, đem ra ngoài đi. Hãy lôi con cừu mẹ đã chết trong vũng nước kia ra. Hãy cho thấy mi là người thế nào…”. Đặc biệt là ban đêm, lội bì bọp trong bùn và nước đái cừu ngập đến gói, Tanabai ngộp thở vì những ý nghĩ buồn bực và cay đắng. Ôi, những đêm không ngủ ấy trong mùa cừu đẻ! Chân thụt trong cái đầm lầy phân nhão nhoét, bên trên thì nước tuôn xuống đầu. Gió lồng lộng trong chuồng cừu như giữa cánh đồng, thổi tất những cây đèn. Tanabai quờ quạng bước đi, vấp ngã, bò bốn chân để khỏi đè chết những con mới sinh. Ông tìm thấy cay đèn, thắp lên và dưới ánh đèn, ông nhìn thấy đôi tay mình đen sạm, sưng vù, bê bết phân và máu. Đã lâu ông không soi gương. Ông không biết tóc mình đã bạc đi và mình đã già thêm nhiều. Từ nay ông đáng được gọi là ông già. Ông không bận tâm đến chuyện đó, ông không bụng dạ đâu quan tâm đến bản thân mình. Đến ăn và tắm rửa còn không có thời giờ nữa là. Ông không để cho ai yên lấy một phút, cả bản thân ông cũng như người khác. Thấy cơ sự đang đi đến thảm họa không phương cứu chữa, ông bảo một xăcmasitsa trẻ lên ngựa: - Phóng đi tìm Tsôrô. Bảo ông ấy đến đây ngay. Nếu ông ấy không đến thì bảo Tanabai nhờ nhắc hộ như thế này: đừng có bao giờ dàn mặt Tanabai nữa. Buổi chiều chị ta trở về, đồ vật từ trên yên ngựa xuống, mặt mày tím ngắt, ướt như chuột lột. - Ông ấy ốm, bác Tanakê ạ. Ông ấy nằm trên giường và nói rằng một vài ngày nữa sống chết gì ông ấy cũng đến bằng được. - Bệnh tật cứ làm hắn tắt thở đi cho bõ ghét! – Tanabai rủa. Jaiđar muốn can ngăn chồng, nhưng không dám, can gì được kia chứ. Sang ngày thứ ba, trời bắt đầu sáng sủa hơn. Mây đen miễn cưỡng trườn đi nơi khác, sương mù rút lên núi. Gió lặng bớt. Nhưng muộn rồi. Trong những ngày ấy cừu chửa đã gầy đi đến nỗi nhìn chúng mà phát khiếp. Một con vật gày nhom, bụng to tướng đứng bằng bốn cái chân khẳng khiu. Thảm hại như thế thì nuôi con sao được! Cả những con đã đẻ, cả cừu con còn sống sót, liệu bao nhiêu mống có thể cầm hơi đến mùa hè để lấy lại sức bằng cỏ xanh? Sớm muộn rồi chúng cũng ốm chết cả thôi. Mà không thể đi nữa thì cũng không hòng lấy được len hay thịt…
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
huong duong (20-08-2010), nthach (13-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (16-07-2010) | ||
|
#8
|
||||
|
||||
|
Thời tiết vừa khá hơn thì tiếp diễn đến tai họa khác: một lớp băng mỏng đóng cứng trên mặt đất. Đến kì đóng băng rồi. Nhưng đến trưa tình hình có chiều khả quan hơn. Tanabai mừng rỡ: May ra còn kịp cứu vãn được một cái gì. Xẻng, chàng nạng, càng lại được đem ra dùng. Ít nhất cũng phải mở lấy mấy lối vào chuồng cừu, không thì không thể đặt chân bước đi được. Nhưng họ chỉ làm việc đó có một lúc. Còn phải cho những con mồ côi ăn, cho chúng bú những con mẹ không có con. Những cừu mẹ ấy không chịu, không nhận cừu con lạ. Cừu con cứ rúc vào đòi sữa. Những cái mồm nhỏ xíu lạnh giá của chúng đớp lấy ngón tay người và mút. Đuổi chúng đi thì chúng mút những tà áo mưa bẩn thỉu. Chúng đói. Chúng kéo đàn kéo lũ chạy theo người, khóc lóc.
Có thể phát khóc lên được, vì có thể xả thân làm nhiều mảnh ông cũng sẵn lòng! Còn có thể đòi hỏi gì nữa ở những người đàn bà này và đứa con gái nhỏ của mình? Họ phải gắng gượng lắm mới đi đứng được. Đã mấy ngày nay áo mưa của họ không lúc nào khô. Tanabai chẳng nói gì với họ. Chỉ có một lần ông không chịu đựng nổi. Một bà già lùa đàn cừu vào bãi rào, muốn giúp đỡ Tanabai. Ông ra xem tình hình thế nào. Cảnh tượng nhìn thấy làm ông phát sốt lên: cừu đứng ăn lông của nhau. Như vậy là đàn cừu có nguy cơ chết đói. Ông chạy tới quát mắng bà ta: - Bà làm sao thế, bà già! Không thấy gì ư? Sao không mở miệng ra? Xéo khỏi đây ngay! Lùa đàn cừu đi. Không được cho chúng dừng lại. Không cho chúng gặm lông của nhau. Bắt chúng phải đi. Không cho chúng đứng một phút nào cả. Không làm được như thế thì tôi giết đấy! Liền đó lại một tai ương nữa: một con mẹ đẻ sinh đôi bỏ con. Nó húc con, không cho đến gà, dùng chân đá con. Nhưng hai con kia cứ sấn vào, ngã, gào khóc. Đây là quy luật tự tồn khắc nghiệt phát huy tác dụng: theo bản năng, cừu mẹ không chịu cho con bú để bảo tồn sự sống của chính mình, bởi vì cơ thể nó không còn có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho con khác nữa. Hiện tượng đó dễ lây lan như một thứ bệnh. Chỉ một con làm như vậy là các con khác theo gương. Tanabai kinh hoàng. Nhờ con gái giúp sức, ông lùa con cừu cái đói quá hóa khùng cùng với con nó ra sân, tới gần bãi rào, và ở đây hai bố con bắt đầu ép nó cho con bú. Thoạt đầu Tanabai đích thân giữ cừu mẹ, còn con gái ông đặt cừu con vào với mẹ. Nhưng con mẹ cứ xoay quanh, không chịu. Con bé không làm sao được. - Bố ơi, nó không bú được. - Bú được chứ, chẳng qua là con vụng về thì có. - Không phải đâu, bố em, nó ngã đây này. – Con bé gần như phát khóc. - Thế thì giữ lấy đấy, tao làm cho mà xem. Nhưng sức vóc con bé được mấy nả. Tanabai vừa giúi hai con cừu con vào vú mẹ chúng vừa bắt đầu bú thì cừu mẹ lồng lên khiến con bé ngã nhào và cừu mẹ bỏ chạy. Tanabai mất kiên nhẫn. Ông tát con một cái. Suốt đời ông chưa từng đánh con, nhưng lần này ông quá nóng. Con bé thút thít. Còn ông bỏ đi. Ông bất cần gì nữa. Đi được một quãng, ông quay lại, không biết làm cách nào xin lỗi con, nhưng con bé tự chạy đến: - Bố ơi, nó cho con bú rồi. Con với mẹ cứ cố đặt con nó vào, thế mà được đấy. Nó không đuổi con nó nữa đâu. - Thế thì tốt quá, con gái bố giỏi lắm. Trong lòng ông như trút được gánh nặng. Xem ra không đến nỗi hỏng cả. May ra có thể cứu được những gì còn lại. Thì đấy, thời tiết đang có chiều ổn định. Biết đâu mùa xuân thực sự đã đến và những ngày đen tối của người chăn cừu đã qua rồi? Ông lại bắt tay vào việc. Làm việc, làm việc và làm việc, không có con đường nào khác, chỉ có như thế mới cứu vãn được tình thế… Một gã trai cưỡi ngựa tới, gã là nhân viên thống kê. Có thế chứ, rút cuộc người ta đã phải ngó ngàng đến đây. Gã hỏi cái này cái nọ. Tanabai muốn tống cổ hắn đi. Nhưng có thể đòi hỏi gì ở hắn kia chứ… - Lâu nay cậu ở đâu? - Ở đâu là thế nào? Đi xem xét các đàn cừu. Tôi đi không xuể, chỉ có mỗi mình tôi đi làm việc này. - Tình hình ở các nơi khác ra sao? - Chẳng hơn gì. Ba ngày nay, cừu chết nhiều lắm. - Những người chăn cừu nói thế nào? - Còn nói quái gì nữa. Họ chửi um lên. Có người còn không thèm nói chuyện với tôi. Béctai nó đuổi tôi đi. Hắn hung lắm, không sao tới gần hắn được. - Ờ - ờ… Chính tôi cũng không có lúc nào mà thở nữa, muốn đến gặp hắn mà đành chịu. Nhưng rồi có lẽ tôi sẽ thu xếp dành chút thời giờ đến thăm hắn. Này, còn cậu thì thế nào? - Tôi ấy à? Tôi làm công việc kiểm kê. - Liệu sắp tới, người ta có giúp đỡ cánh chăn cừu chúng ta cái gì không? - Sẽ có. Nghe nói Tsôrô đã trở dậy được rồi. Ông ấy đã gửi đi một đoàn xe chở cỏ khô, rơm. Người ta đã vét nhẵn mọi thứ trong chuồng ngựa, ông ấy bảo thà để ngựa chết còn hơn. Hình như đoàn xe đang mắc kẹt ở đâu đó, đường sá thế này kia mà. - Đường sá! Thế trước đây họ lo nghĩ những chuyện gì? Chúng ta làm ăn suốt đời như thế. Nhưng bây giờ đoàn xe ấy đem lại ích lợi gì? Được, rồi tôi sẽ cho họ biết tay! – Tanabai hăm dọa – Đừng có hỏi làm gì. Đi mà xem tận mắt, đếm và ghi chép vào. Bây giờ tôi chẳng biết gì nữa! – Đoạn, ông cắt đứt câu chuyện, vào chuồng trông nom cừu đẻ. Hôm nay có thêm chừng mười lăm cừu nái đã đẻ. Tanabai đi lượm những con cừu mới sinh, chợt gã nhân viên kiểm kê đến gúi vào tay ông một tờ giấy. - Bác kí biên bản về gia súc chết đi này. Ông kí không buồn nhìn. Ông ấn mạnh tay đến nỗi gãy cả bút chì. - Chào bác, bác Tanakê. Bác có điều gì bảo tôi nói lại với các ông ấy không? Bác cứ nói đi. - Chẳng có gì đáng nói cả. – Nhưng rồi ông vẫn giữ gã trai lại – Tạt qua chỗ Bêctai. Nhắn hộ rằng ngày mai, vào khoảng bữa ăn trưa, tôi sẽ cố tìm cách đến gặp hắn. Tanabai lo lắng vô ích. Bêctai đã đi trước ông. Gã tự đến, mà đến một cách tai ác làm sao… Đêm hôm ấy lại có gió nhẹ, tuyết lại xuống, không dày đặc lắm, nhưng sáng ra đã phủ kín mặt đất như một lớp bột trắng xóa. Tuyết rắc bột trắng cả lên những con cừu cái đã đứng suốt đêm trong bãi rào. Bây giờ chúng không chịu nằm xuống. Chúng cụm lại với nhau, đứng không nhúc nhích, dửng dưng với mọi sự đời! Tình trạng thiếu ăn kéo dài quá lâu rồi, mùa xuân đấu tranh với mùa đông lâu quá. Trong chuồng lạnh lẽo. Nhưng bông tuyết lọt qua cái mái bị mưa xói tơi tả, quay lượn trong ánh đèn mờ nhạt, từ từ rơi xuống bám vào những cừu mẹ và cừu con đang cóng rét. Còn Tanabai vẫn đi quanh quẩn giữa đám cừu cái, làm nhiệm vụ của mình, như người lính của đội mai táng trên chiến trường sau trận đánh lớn. Ông đã quen với những ý nghĩ nặng nề của mình, sự phẫn nộ chuyển thành nỗi uất giận thầm lặng. Nó như cây cọc thẳng cứng trong tâm hồn, không để cho ông bị gẫy gập xuống. Ủng lội bì bõm trong nước phân chuồng, ông đi đi lại lại, làm công việc của mình và trong những giờ đêm hôm này, từng lúc từng lúc một, ông luôn luôn nhớ lại cuộc đời đã qua của mình…
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
huong duong (20-08-2010), nthach (13-07-2010), nxtlucky (13-06-2011), Vania (12-07-2010), Xamova (16-07-2010) | ||
|
#9
|
||||
|
||||
|
Hồi xưa ông đã từng là thằng bé chăn gia súc. Ông cùng với người anh là Kulubai chăn cừu cho một người họ hàng. Sau một năm mới vỡ lẽ ra rằng hai anh em chỉ được nuôi ăn mà thôi, không có công xá gì cả. Chủ đã đánh lừa họ, và cũng chẳng thèm nói với họ lấy một lời. Thế là hai anh em ra đi, đôi tsôkôi rách nát dưới chân, lưng đeo cái bị thảm hại, tay trắng vẫn hoàn trắng tay. Lúc ra đi Tanabai hăm dọa ông chủ “Sau này lớn lên ta sẽ cho người biết tay”. Nhưng Kulubai không nói gì hết. Kulubai hơn Tanabai năm tuổi. Anh ta hiểu rằng dọa như thế không làm lão chủ sợ. Nhưng chính mình trở thành ông chủ, mua được gia súc, tậu được đất thì đó là chuyện khác. “Sau này khi trở thành ông chủ, ta sẽ không bao giờ để cho người làm phải oán giận” – lúc ấy Kulubai đã nói như vậy. Thế rồi hai anh em chia tay nhau ngay năm ấy. Kulubai đi chăn gia súc cho một bai khác, còn Tanabai đến Álêcxanđrốpka, làm công cho một người Nga ngụ cư tên là Êtrêmôp. Người nông dân này không lấy gì làm giàu có lắm: một cặp bò thiến, một đôi ngựa, một mảnh ruộng. Ông ta gieo lúa mì. Ông ta chở hạt ra thị trấn Aulie-Ata, thuê xay bằng máy xay cán. Chính ông cũng làm việc từ sáng tinh mơ cho đến đêm. Tanabai chăm lo đến bò và ngựa nhiều hơn. Ông ta nghiêm khắc, nhưng không thể nói là ông ta không công bằng. Ông ta trả công sòng phẳng. Người nghèo Kirghizya thời bấy giờ luôn luôn bị người đồng hương của mình bóc lột, vì vậy họ thích làm thuê cho người Nga hơn. Tanabai đã học nói thạo tiếng Nga, thường đi theo xe chở thóc ra Aulie-Ata, đã được biết thế giới bên ngoài ít nhiều. Rồi cách mạng đến. Tất cả đều đảo lộn. Thời vận của những người như Tanabai đã tới rồi.
Tanabai trở về bản. Bắt đầu cuộc đổi đời, nó lôi cuốn người ta đến chóng mặt. Mọi cái đến ngay một lúc: ruộng đất, tự do, quyền hành. Ông được bầu vào Ủy ban dân cày. Ông thân với Tsôrô trong những năm ấy. Tsôrô biết chữ, anh dạy thanh niên viết và tập đánh vần. Tanabai rất cần biết chữ, chẳng gì cũng là Ủy ban dân cày cơ mà. Tanabai vào đoàn Kômxômôn. Cả ở đây. Tanabai cũng cùng hoạt động với Tsôrô. Hai người được kết nạp vào đảng cùng một đợt. Mọi việc trôi chảy bình thường, dân nghèo đắc thế. Khi việc tập thể hóa bắt đầu, Tanabai đem hết nhiệt tình sôi nổi vào công việc đó. Không Tanabai thì còn ai là người đấu tranh cho cuộc sống mới của nông dân, đấu tranh để tất cả thành của chung: đất, gia súc, lao động, những ước mơ. Đả đảo bọn kulăc! Bắt đầu một thời kì sôi động, sóng gió, nghiệt ngã. Người ta lập danh sách kulăc. Các bai, các giáo sĩ đạo Hồi, những tên nhà giàu đủ loại bị vứt bỏ như cỏ dại ngoài đồng. Ruộng cần được rẫy sạch để mầm non đâm lên. Trong danh sách những kulăc bị tước đoạt tài sản có cả Kulubai. Thời gian Tanabai rông ngựa đây đó, hết mit-tinh lại hội họp, ông anh đã gây dựng được cơ đồ. Ông tay lấy một bà góa, làm ăn phát đạt. Ông ta có gia súc – cừu, một con bò cái, một cặp ngựa, một con ngựa cái lấy sữa với một chú ngựa con, cầy, bừa và mọi thứ khác. Mùa gặt ông ta thuê nhân công. Không thể nói ông ta đã trở thành một người giàu có, nhưng cũng không thể bảo là ông ta nghèo. Ông ta sống dư dật, làm lụng quần quật. Tại cuộc họp ở Xô-viết xã, khi xét đến Kulubai, Tsôrô nói: - Các đồng chí, cần cân nhắc xem có nên liệt tay này vào diện kulăc không. Những người như Kulubai cũng sẽ có ích cho nông trang. Chính ông ta vốn là bần nông. Ông ta chưa hề tuyên truyền chống đối cách mạng. Ý kiến không nhất trí. Người “tán thành” người “phản đối”. Tiếng nói quyết định dành cho Tanabai. Ông ngồi, nom càu quạu như con quạ. Tuy là anh cùng cha khác mẹ, nhưng vẫn là anh. Cần phải chống lại anh. Trước nay họ vẫn sống hòa thuận, tuy hiếm khi gặp nhau. Mỗi người bận lo công việc của mình. Nếu nói đừng động đến anh ta thì phải xử trí với người khác ra sao: người nào cũng sẽ có một người bà con bênh cho cho mình. Bảo: “Tùy các đồng chí định đoạt” thì người ta sẽ cho là mình lẩn tránh. Mọi người chờ Tanabai lên tiếng. Người ta chờ đợi, điều đó khiến Tanabai càng quyết liệt hơn. - Tsôrô, anh thì bao giờ cũng thế! Tanabai đứng lên, nói – Báo chí vẫn viết về những con người sách vở, gọi là những phần tử kiến thức. Anh cũng là một phần tử kiến thức. Lúc nào anh cũng hồ nghi, sợ làm như thế không đúng. Nhưng hồ nghi cái nỗi gì kia chứ? Có tên trong danh sách thì đó là kulăc! Và không có nương nhẹ gì cả! Vì chính sách Xô viết, đến bố đẻ tôi, tôi cũng không thương. Xin các đồng chí đừng ngần ngại, dù anh ta là anh tôi. Các đồng chí không làm thì chính tôi sẽ làm cái việc tước đoạt tài sản của tên kulăc này. Hôm sau, Kulubai đến gặp ông em. Tanabai tiếp anh một cách lạnh nhạt, không đưa tay ra bắt. - Vì sao lại coi tôi là kulăc? Tôi với chú chẳng đã từng đi làm thuê đấy sao? Chẳng phải tôi với chú đã từng bị bọn bai đuổi cổ đó sao? - Chuyện đó bây giờ không có nghĩa gì nữa. Chính anh đã trở thành một bai. - Tôi là bai cái quái gì? Tất cả những gì tôi có, tôi kiếm ra bằng sức lao động của tôi. Mà tôi cũng chẳng tiếc những của ấy nữa kia. Cứ lấy hết đi. Có điều sao lại ghép tôi vào diện kulăc là thế nào? Phải biết sợ Chúa chứ, Tanabai. - Tôi bất chấp. Anh là giai cấp thù địch. Chúng tôi phải tiêu diệt anh để xây dựng nông trang. Anh đứng chắn trên con đường của chúng tôi, chúng tôi phải hất anh đi… Đấy là cuộc chuyện trò cuối cùng giữa hai người. Đã hai mươi năm nay họ không nói với nhau lấy một lời. Khi Kulubai bị đầy đi Xibia, thiên hạ bàn tán rất nhiều, biết bao nhiêu lời ong tiếng ve. Người ta tuyên truyền đủ chuyện. Thậm chí còn kháo rằng Kulubai bị đưa ra khỏi bản, có hai công an cưỡi ngựa đi áp giải, thì ông ta cúi đầu lê bước, không nhìn ngang nhìn ngửa và chẳng từ biệt ai. Thế rồi khi đã ra con đường lớn chạy ngang qua cánh đồng, đâu như ông ta nhảy bổ xuống đám lúa mạch non (đấy là vụ lúa thu đầu tiên của nông trang), nhổ bật rễ cả cây lúa, dày xéo và vò nát lúa, chẳng khác nào con thú trong bẫy. Họ bảo những người áp giải chật vật lắm mới trị nổi ông ta và tiếp tục giải đi. Người ta kể rằng Kulubai vừa đi vừa khóc một cách cay đắng và nguyền rủa Tanabai. Tanabai không tin chuyện đó lắm. “Kẻ thù phao tin nhảm, muốn chọc tức ta. Nhưng đừng hòng, ta có mà mắc mưu khối ra đấy!” – ông tự nhủ.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#10
|
||||
|
||||
|
Nhưng một hôm, ngay trước vụ gặt, Tanabai cưỡi ngựa đi loanh quanh thăm thú đồng ruộng: lúa năm nay tốt tuyệt vời, bông nào cũng sai hạt. Rồi bỗng nhiên ông gặp đúng cái chỗ mà Kulubai đã lồng lộn trong cơn tuyệt vọng, xéo nát lúa và nhổ bật rễ những cây lúa non. Xung quanh lúa mì đầy rậm như bức tường, còn chỗ này chẳng khác nào như mấy con bò đực đã húc nhau ở đây: gẫy nát, tàn hại, khô héo hết cả, ran lê mọc tràn lan. Thấy cảnh tượng đó, Tanabai lập tức kìm ngựa lại.
- Hừ, đồ súc sinh! – Giận sôi máu, Tanabai lẩm bẩm – Mày phá hoại lúa của nông trang. Vậy thì mày đích là kulăc, chứ còn là thứ người gì nữa… Tanabai ghìm ngựa đứng đấy hồi lâu, lầm lì ủ rũ, một ý nghĩ u ám đọng lại trong mắt, rồi ông rẽ cương giuc ngựa bỏ đi, không hề ngoái nhìn lại. Sau đó một thời gian dài, ông tránh cái chỗ không hay ấy, đi vòng đường khác, cho tới khi lúa đã gặt hết, gốc rạ trên đồng đã bẹt dí dưới móng gia súc. Hồi ấy chẳng mấy ai bênh Tanabai. Phần đông chê trách “Cầu trời đừng bắt chúng ta phải có một đứa em như thế. Thà không có anh em gì còn hơn”. Có người nói đốp vào mặt Tanabai. Phải, nói cho thành thực, hồi ấy nhiều người xa lánh ông. Không hẳn là công khai, nhưng khi bỏ phiếu, họ không bầu cho ông. Thế là dần dần, ông không được coi là thành phần cốt cán nữa. Tuy nhiên ông vẫn tự cho mình là phải, bởi lẽ bọn kulăc đã đốt nông trang, dùng súng bắn người của ta, tình hình mỗi năm một khá hơn. Chúng ta đã bước vào một cuộc sống hoàn toàn khác. Không, tất cả những gì đã xảy ra hồi ấy không phải là uổng phí. Tanabai nhớ lại tất cả những chuyện đã qua ấy, không bỏ sót cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất. Như thể cả cuộc đời ông đã lưu lại ở đó, cái thời kì tuyệt diệu khi các nông trang ngày càng vững mạnh hơn. Ông lại nhớ đến bài ca thuở ấy về “cô gái lao động tiền tiến choàng khăn đỏ”, nhớ tới chiếc cam nhông đầu tiên của nông trang, nhớ tới cái đêm ông đứng bên buồng lái, tay cầm lá cờ đỏ. Suốt đêm Tanabai đi loanh quanh trong chuồng cừu, làm cái công việc đau lòng của mình và nghiền ngẫm những ý nghĩ đau lòng. Vì sao bây giờ mọi việc đều nát bét cả? Hay chúng ta lầm chăng, chúng ta đi chệch hướng, sai đường chăng? Không, không thể như thế được, không phải thế! Đường ta đi là con đường đúng đắn. Vậy thì tại sao? Lạc chăng? Lầm lẫn chăng? Điều đó xảy ra từ bao giờ và như thế nào? Như việc thi đua bây giờ chẳng hạn: người ta lập cam kết thi đua, rồi chẳng ai bận tâm đến chuyện anh làm ăn thế nào, có chuyện gì xảy đến với anh. Trước kia có những tấm bảng đen và bảng đó, ngày nào cũng bàn tán tranh cãi: ai lên bảng đen, ai lên bảng đỏ, đấy là điều quan trọng đối với mọi người. Bây giờ người ta bảo tất cả những cái đó cũ rồi, lỗi thời rồi. Nhưng có cái gì thay thế không? Bàn suông, hứa hão. Thực tế thì chẳng có cái quái gì. Tại sao vậy? Quy lỗi cho ai được? Tanabai mệt lử vì những ý nghĩ bế tắc. Ông sa vào một trạng thái dửng dưng đờ đẫn. Chẳng thiết làm gì nữa. Đầu nhức nhối. Buồn ngủ. Ông thấy một cái xăcman-sitsa trẻ đứng dựa vào tường. Ông thấy đôi mắt hum húp của chị ta từ từ tuột xuống, rồi ngồi bệt xuống đất, gục đầu vào đùi và ngủ. Ông không đánh thức. Ông cũng tựa lưng vào tường, và cũng từ từ tuột xuống, không sao tự chủ được, không thể cưỡng lại cái sức nặng trên vai cứ dấn ông dúi xuống… Một tiếng kêu nghẹn ngào và tiếng thịch mạnh của một cái gì va đập xuống đất khiến ông thức giấc. Những con cừu cái hoảng sợ chạy giạt đi giẫm lên chân ông. Ông bật dậy, không hiểu có chuyện gì. Trời đã rạng sáng. - Tanabai, Tanabai, cứu tôi với – tiếng vợ gọi ông. Mấy xăcmansitsa chạy tới chỗ vợ ông kêu và ông chạy theo họ. Một vì kèo dưới mái sụt xuống đè lên vợ ông. Một đầu kèo tuột khỏi bức tường bị nước mưa xói lở và sụp xuống dưới sức nặng của cái mái mục nát. Cơn ngái ngủ biến mất hẳn. - Jaiđar! – Ông kêu lên, ghé vai nâng phắt cây đòn lên. Jaiđar lết ra, rên rỉ. Mấy người phụ nữ than thở, sờ nắn người bị nạn. Tanabai gạt họ ra, và sợ hãi đến mê mụ cả tâm trí, hai tay run run ông sờ soạng dưới tấm áo săng đay của vợ: - Mình có làm sao không? Chỗ nào? - Ối, chỗ eo lưng! Eo lưng! - Bị dập ư! Nào, giúp tôi một tay! – ông cởi phăng tấm áo mưa. Họ đặt Jaiđar lên tấm áo và khiêng ra khỏi chuồng cừu. Trong túp lều bạt, họ xem xét kĩ cho Jaiđar. Bên ngoài dường như không hề hấn gì. Nhưng tổn thương thật nghiêm trọng. Người bị nạn không động cựa được. Jaiđar òa khóc: - Làm thế nào bây giờ? Giữa lúc như thế này mà tôi lại nằm bẹp một chỗ ư? Các người xoay sở ra sao bây giờ! “Trời ơi! – Tanabai ngẫm nghĩ – Đáng phải vui sướng vì mình còn sống, vậy mà bà ấy băn khoăn cái nỗi gì vậy? Hê mẹ nó đi, cái việc thổ tả ấy! Miễn là mình vẫn lành lặn, người vợ tội nghiệp của tôi…” Tanabai vuốt tóc vợ. - Jaiđar, lo nghĩ làm gì, cứ yên tâm. Miễn là mình bình phục. Mọi chuyện khác đều vô nghĩa, sẽ đâu vào đấy cả… Tất cả bọn họ, mãi đến bây giờ mới hoàn hồn, bắt đầu tranh nhau lời dỗ dành cho Jaiđar yên tâm. Nhờ vậy Jaiđar dường như cảm thấy dễ chịu hơn. Bà cười qua hàng nước mắt. - Thôi được. Nhưng đừng giận tôi đã để xảy ra chuyện không hay như vậy. Tôi sẽ không nằm lì trên giường lâu đâu. Vài ngày nữa tôi sẽ trở dậy, đấy rồi xem. Mấy người phụ nữ trải giường đệm cho Jaiđar, nhóm lửa, còn Tanabai trở lại chuồng cừu, vẫn chưa tin rằng tai nạn đã qua rồi.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#11
|
||||
|
||||
|
Trời đã sáng, một buổi sáng trắng lóa trong bộ áo tuyết mềm mại mới tinh. Tanabai tìm thấy một con cừu mẹ bị cây đà đè chết. Lúc nãy họ không để ý đến. Con cừu so sinh rúc mõm vào vú cừu mẹ đã chết. Tanabai càng khiếp sợ hơn và mừng hơn vì vợ mình còn sống. Ông bế con cừu mồ côi lên, đi tìm cho nó con mẹ khác. Rồi ông chống phía dưới cây đà, dùng một cột gỗ to chống đỡ bức tường, đồng thời vẫn luôn luôn nghĩ rằng cần trở lại thăm vợ, xem tình trạng hiện giờ ra sao.
Vừa bước chân ra ngoài, ông thấy cách chỗ ông đứng không xa, một đàn cừu đang chậm chạp lê bước trên tuyết. Một người chăn cừu không phải ở vùng này lùa đàn cừu về phía ông. Đàn cừu nào thế nhỉ? Gã lùa nó đến đây để làm gì nhỉ? Lẫn cừu mất thôi, sao lại có thể làm như thế được? Tanabai đến gặp gã chăn cừu kì quặc, định bảo cho gã biết gã đã đưa cừu vào khu vực của người khác. Tới gần ông mới nhận ra kẻ đó là Bêctai. - Này, Bêctai, có phải cậu đấy không? Gã chẳng trả lời gì hết. Gã lẳng lặng lùa đàn vật về phía ông, dùng gậy quất vào lưng cừu. “Hắn lại dám đánh dập cừu chửa như thế kia chứ!” – Tanabai phẫn nộ. - Cậu ở đâu đến? Đi đâu? Chào cậu. - Tôi đến từ cái nơi mà giờ đây không còn tôi ở đấy nữa. Còn đi đâu thì chính ông thấy đấy – Bêctai đến gần, một sợi thừng thít chặt ngang lưng, đôi bao tay ủ trước ngực dưới áo mưa. Hắn dừng lại cách Tanabai mấy bước, cây gậy thủ sau lưng, chẳng chào hỏi gì cả. Hắn hằm hè nhổ một bãi bọt và hằn học dùng chân di bãi bọt xuống tuyết. Hắn ngẩng đầu lên. Mặt hắn đen nhẻm, bộ râu xồm xoàm như râu giả dính vào khuôn mặt trẻ đẹp của hắn. Cặp mắt linh miêu của hắn nhìn gườm gườm, đầy căm hờn và thách thức. Hắn nhổ bọt lần nữa, lật đật chuyền chiếc gậy từ tay nọ sang tay kia, vung gậy trên đám cừu. - Ông nhận lấy. Muốn đếm hay không thì tùy. Ba trăm tám mươi năm đầu con. - Thế rồi sao? - Tôi phới. - Phới là thế nào kia chứ? Đi đâu? - Bất cứ đâu. - Thì dính dáng gì đến ta nào? - Dính chứ, ông là người đỡ đầu cho tôi mà. - Thế là thế quái nào? Dừng lại, dừng lại, đi đâu? Cậu định đi đâu? – Mãi đến lúc này Tanabai mới hiểu gã chăn cừu do ông đỡ đầu định làm gì. Ông cảm thấy nghẹt thở, nóng ran lên vì máu dồn lên đầu – Sao lại thế? – Ông bối rối thốt lên. - Thế đấy. Đủ lắm rồi. Chán ngấy đến tận cổ rồi. - Thế cậu có hiểu cậu nói gì không? Đàn của cậu sắp đẻ nay mai rồi! Sao lại có thể làm như thế được? - Được quá đi chứ. Người ta có thể đối xử với chúng tôi như thế thì chúng tôi cũng có thể làm như thế chứ sao. Vĩnh biệt! – Bêctai quay cái gậy trên đầu và ráng sức lẳng thật xa, rồi bỏ đi. Tanabai đứng ngớ ra, câm lặng. Ông không tìm được lời. Gã kia bước đi không hề ngoảnh lại. - Nghĩ lại đi, Bêctai – Ông chạy theo gã – Không thể thế được! Thử nghĩ xem, ai đời lại làm thế kia chứ! Có nghe thấy không? - Này thôi đi! Bêctai quay ngoắt lại – Có ông hãy suy nghĩ đi thì có. Tôi muốn sống như mọi người khác. Tôi chẳng kém cạnh gì những kẻ khác. Tôi cũng có thể tìm được việc làm ở thành phố, có lương hẳn hoi. Can gì tôi phải chết rấp ở đây với những con cừu này? Không có thức ăn chăn nuôi, không có chuồng trại, không có nhà lều. Hãy để tôi yên! Đi mà lập công, đi mà dầm mình trong đám phân chuồng. Ông hãy tự ngắm mình xem bộ dạng ông nó ra thế nào rồi. Chẳng bao lâu nữa ông sẽ chết toi ở đây thôi. Vậy mà ông vẫn chưa thấy thế là đủ. Ông lại còn lên tiếng hô hào. Ông muốn lôi kéo cả những người khác theo. Dấm dở! Tôi thì tôi xin đủ - Rồi gã cất bước, dậm chân trên tuyết trắng tinh khôi, chưa hề bị đụng đến, và dậm mạnh đến nỗi vết giẫm sẫm đen ngay lại, tràn ngập nước… - Bêctai, cháu hãy nghe bác! – Tanabai đuổi kịp hắn – Bác sẽ giải thích cho cháu đầy đủ. - Đi mà giải thích cho những đứa khác. Đi mà tìm những thằng ngốc. - Dừng lại, Bêctai. Ta sẽ nói chuyện với nhau. Gã kia cứ đi, không buồn nghe. - Mày sẽ bị đưa ra tòa! - Thà rằng ra tòa còn hơn thế này! – Bêctai quặc lại và không quay lại nữa. - Mày là kẻ đào ngũ! Gã vẫn đi. - Những kẻ như thế ở mặt trận người ta bắn bỏ liền. Gã vẫn đi miết. - Dừng lại, ta bảo mà – Tanabai chộp lấy tay áo hắn. Gã giằng ra và lại bỏ đi. - Ta không thể để như thế được, mày không có quyền làm như vậy – Tanabai kéo giật vai gã, và đột nhiên những ngọn đồi trọc trắng xóa xung quanh quay lộn trước mặt và mờ dần trong tấm màn khói. Cú đấm móc hàm bất ngờ hất ông ngã lộn ngửa. Khi ông ngóc đầu dậy, đầu óc vẫn còn quay cuồng. Bêctai đã khuất dạng sau quả đồi. Gã chỉ còn để lại một chuỗi đơn độc những vết chân đen thẫm. - Thằng này hỏng mất rồi, đời nó hỏng mất rồi – Tanabai rên rỉ, lồm cồm bò dậy. Ông đứng lên. Hai tay bê bết bùn và tuyết. Ông thở lấy lại hơi, dồn đàn cừu của Bêctai lại và lùa về khu chăn thả của mình.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Truyện núi đồi và thảo nguyên (Aitmatov) | matrioska2009 | Văn học | 14 | 20-01-2013 13:00 |
| Nhà văn Chingiz Aitmatov từ trần | USY | Văn học | 12 | 21-06-2008 17:18 |