Индокитай: Пепел четырех войн (1939-1979 гг.)
Đông Dương: Tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)
Tác giả: Mikhail Ilyinsky (nhà báo Nga)
Lời nói đầu của một đồng nghiệp:
“Tôi đã bước qua đống tro tàn của 4 cuộc chiến Đông Dương. Vì thế tôi thấu hiểu giá trị hoà bình…”
Một cuộc điều tra báo chí có lần được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề "Ai trong số các nhà báo nước ngoài trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử các cuộc chiến từ những năm 40 - 70 của thế kỷ XX đã viết đầy đủ, nhiều và khách quan hơn về các sự kiện ở Đông Dương”. Kết quả là những người viết nổi trội, sung mãn nhất, có những bài báo nổi tiếng nhất được công nhận là nữ phóng viên Pháp Madelene Riffo, nhà báo Úc Wilfred Burchett, nhà văn Nga Ivan Shedrov và Mikhail Ilyinsky. Họ đã viết những phóng sự, bài báo, tiểu luận, những cuốn sách về tất cả các cuộc chiến ở Đông Dương, ở những giai đoạn và năm tháng khác nhau, và theo thời gian đã có một vấn đề nổi lên là: do hoàn cảnh khách quan, họ đã không viết được một cuốn sách đầy đủ xuyên suốt cả lịch sử quân sự, phát triển các sự kiện chính trị ở Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuốn sách kể về các cơ quan tình báo và ngoại giao bí mật của các quốc gia khác nhau tham gia vào những cuộc xung đột dữ dội nhất trong khu vực. Hiện giờ trong nhóm phóng viên báo chí quốc tế nổi bật khi đó chỉ còn lại một nhà báo, viện sỹ của hai viện hàn lâm quốc tế khác, Chủ tịch viện Hòa bình Ý (Roma) Mikhail Ilyinsky. Và ông đã nhận trách nhiệm viết một cuốn sách như vậy về Đông Dương, trong đó sẽ tiết lộ những trang chính về các cuộc chiến ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, những đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Nam Á, chỉ ra nguyên nhân và mục đích xâm lược của các thế lực bên ngoài như Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Ngay trong tên gọi của cuốn sách "Đông Dương. Đống tro tàn của bốn cuộc chiến" đã mang ý nghĩa kép. Trước hết nó nói về bốn cuộc chiến ở Đông Dương: đó là - cuộc đấu tranh chống quân phiệt, chống phát-xít, chống lại sự chiếm đóng Đông Dương của Nhật Bản trong các tháng đầu tiên của chiến tranh Thế giới thứ hai (1939 - 1945); đó là - cuộc kháng chiến chống thực dân (1946 - 1954) chống lại thực dân Pháp; cuộc kháng chiến chống đế quốc (1964-1975) chống lại những kẻ xâm lược và đồng bọn can thiệp Mỹ; và cuối cùng, cuộc chiến thứ tư - lần đầu tiên trong lịch sử của các nước xã hội chủ nghĩa - cuộc chiến biên giới quy mô 30 ngày giữa Trung Quốc và quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này đã chưa hề xảy ra trong lịch sử của thế giới, nếu như không tính các xung đột biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc vào năm 1969.
Nếu như về các cuộc chiến đầu tiên (chống quân phiệt và chống thực dân), tác giả kể dưới hình thức những cuộc phỏng vấn các nhà sử học Việt Nam và nước ngoài, các nhà hoạt động chính trị và quân sự, cũng như từ các cuộc trò chuyện với đồng nghiệp và bạn bè của mình là Madelene Riffo và Wilfred Burchett (cả hai người đã qua đời vào những năm 1980-1990), thì về cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược và sự can thiệp của Trung Quốc, với trọng trách là phóng viên quân sự, quan sát viên chính trị và bình luận viên quốc tế, đã được tặng nhiều giải thưởng khác nhau về báo chí, Mikhail Ilyinsky, với kinh nghiệm báo chí của mình, đã đưa ra những phân tích riêng của một nhà sử học, chuyên gia phương đông học về sự phát triển các sự kiện trên các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao. Ông đưa ra giải thích riêng về các khái niệm "bí mật quân sự và chính trị" ở Đông Dương: những gì được coi là bí mật tại giai đoạn lịch sử này hay giai đoạn lịch sử kia, giờ đã trở thành công khai sau một thời gian nhất định, khi thay đổi bộ máy cầm quyền, thậm chí cả hệ thống quyền lực và "bối cảnh" quốc tế khác nhau, với sự sụp đổ của các bức tường và sự “xé rào”. Việc khám phá và “công bố” nhanh hơn và sắc sảo hơn các bí mật quốc tế, được giấu kín và bảo vệ bởi hệ thống đặc vụ và các cơ quan chính quyền khác nhau – chính là công trạng của các nhà báo, những người cùng hành quân với các đơn vị quân đội, cùng sống trong hầm hào trú ẩn và những túp lều thời chiến với những người dân để lánh đạn bom, phải chạy vào khe núi và hang động, nấp thật sâu trong lòng đất. Nhưng họ đã chiến đấu và chiến thắng.
Ý nghĩa thứ hai - Quân sự, địa chính trị
Chiến tranh xảy ra vào những thời gian khác nhau trên bốn mặt trận khác nhau. Mặt trận trung tâm là Việt Nam (bao gồm chiến sự ở miền Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam), hai mặt trận bên sườn là Lào và Campuchia, các "mặt trận phụ" của mặt trận trung tâm. Vắt qua và kết nối tất cả các mặt trận tại đây là "đường mòn Hồ Chí Minh." Cuối cùng là mặt trận biên giới Việt-Trung. Trong những năm 40-50, nơi đây đã từng được coi là "cánh cửa" tới phe xã hội chủ nghĩa. Vào cuối những năm 70, "cánh cửa" này bị đóng sập lại, sau đó bị bao trùm bởi lửa đạn, đặc biệt khốc liệt trong cuộc xung đột vũ trang đầu xuân năm 1979.
Bây giờ bàn về “tâm lý và triết học” của các xung đột Đông Dương, về sự phát triển của các cuộc chiến "đặc biệt", “chuyên biệt”.
Trong nhiều thập kỷ đã hình thành và được khẳng định quan điểm rằng trong các giai đoạn đấu tranh chống quân phiệt, chống thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc, cũng như chống lại chủ nghĩa bá quyền đã diễn ra hai quá trình song song nhưng ngược chiều nhau. Một bên là hơn trăm nhóm dân tộc của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, sống ở Đông Dương, trong phong trào giải phóng dân tộc chung đã đoàn kết, gắn bó, phối hợp tích cực và thành công trong hoạt động quân sự và chính trị của mình. Kết quả là họ đã chiến thắng.
Một bên là quân phiệt Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như các nhà tư tưởng chính trị quân sự Trung Quốc, trong những năm 1940-1970 đã chơi quân bài "đạo quân thứ năm". Vì lợi ích của mình, họ đã dùng ngón "bật lò xo" các mâu thuẫn sắc tộc đã và đang tồn tại giữa các dân tộc Đông Dương và các nhóm dân tộc thiểu số khác, cùng những toan tính với con bài "Hoa kiều", “gốc Hoa” - những người Trung Quốc sinh sống tại Đông Dương.
Và những đặc thù dân tộc cũng như văn hoá và tôn giáo này được tác giả cuốn sách trải nghiệm và phản ánh, sau khi đã nghiên cứu và sống ở Đông Dương trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Tác giả không đơn giản hoá kết quả trong những thắng lợi quân sự và các thất bại đơn lẻ của những người yêu nước Đông Dương, mà nhìn nhận chuỗi phát triển lôgic các sự kiện chính trị - quân sự tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia trong suốt thế kỷ XX. Cuốn sách này là sự tổng hợp công sức của một nhà báo và nhà sử học, nhà nghiên cứu, quan sát viên và nhà biên niên sử. Tính thời sự của cuốn sách này được tiếp tục trong thế kỷ XXI, khi mà, than ôi, chiến tranh du kích vẫn chưa được loại trừ ra khỏi các mối quan hệ quốc tế và nội bộ quốc gia.
***
Các chiến lược gia, các chuyên gia tâm lý và mật vụ phương Tây đã đặt cược ở Đông Dương, tính toán tới việc chia rẽ xã hội ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, củng cố cho lối "sống và tư duy theo kiểu phương Tây", họ đã bỏ ra những khoản tài chính khủng khiếp cho bộ máy chính quyền địa phương, quân đội, cảnh sát, lực lượng hiến binh và các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng phương Đông, như chúng ta đã biết, mãi mãi vẫn là phương Đông. Và tác giả tiết lộ một số bí ẩn đã trở thành những điều "bí ẩn-bí mật của cuộc chiến tranh Đông Dương".
Bây giờ nói về những “đống tro tàn" cụ thể của bốn cuộc chiến Đông Dương. Phần “bi kịch” hay của cuốn sách ở chỗ này.
“Đống tro tàn thứ nhất". Tháng hai - tháng ba năm 1939. Quân đội Nhật chiếm đảo Hải Nam nằm cách cửa sông Cấm cạnh cảng Hải Phòng gần 300 km. Từ Trung Quốc lục địa quân Nhật tiến dần đến gần biên giới Việt Nam, tới phần bắc của Việt Nam - (Việt Nam được chia thành 3 phần: Тонкин (Tonkin), Аннам (Annam) và Кохинхина (Cochinchine), Nói theo kiểu người Việt là Bắc Bộ (Bắc kỳ) Trung Bộ (Trung kỳ) và Nam Bộ (Nam kỳ).
Từ những ngày đầu tiên của Chiến tranh Thế giới thứ hai, Pháp đã tìm cách sử dụng các nguồn vật lực và nhân lực của Đông Dương cho mục đích tăng thêm tiềm lực quân sự của chính quốc. Tới tháng 12 năm 1939, 70.000 binh lính và công nhân Đông Dương đã được gửi đến Pháp. (Tổng số dự kiến có 1,5 triệu người được gửi đến Pháp chỉ riêng từ Việt Nam). Paris đã buộc các nước thuộc địa ở Đông Dương phải cung cấp cho chính quốc 3,5 triệu tấn lương thực, 800.000 tấn chè, đường, cà phê, 600.000 tấn cao su, 30.000 tấn sản phẩm đay. Tất cả thuộc địa phải làm việc phục vụ chiến tranh.
Thất bại của Pháp, sụp đổ của Paris kéo theo những hậu quả nghiêm trọng cho khu vực Đông Dương. Nhà chức trách Pháp từng bước đầu hàng quân phiệt Nhật. Tháng 7 năm 1940, Nhật Bản đã ra tối hậu thư yêu cầu phía Pháp phải đóng cửa biên giới phía bắc Đông Dương và nắm quyền kiểm soát tất cả các ngả đường tới Trung Quốc.
Sau năm 1940 hai tầng xiềng xích của giặc ngoại xâm đã đè nặng trên vai của Việt Nam. Quân chiếm đóng Nhật Bản liên kết với chính quyền Vichy Pháp để cướp bóc tài nguyên của cải Đông Dương và duy trì chế độ thực dân.
Đô đốc Decoux - toàn quyền Đông Dương, một mặt, nói về "lòng yêu nước Pháp", mặt khác, dễ dàng chia sẻ quyền lực với người Nhật, nhường cho Nhật tất cả các vị trí trọng yếu, đặc biệt là trong các vấn đề quân sự chính trị và kinh tế. Từ 1941 đến 1945, người Pháp đã chi trả cho bộ chỉ huy quân sự Nhật 723 triệu piaso, số tiền gấp bảy lần ngân sách của Đông Dương vào năm 1939.
Lực lượng chiếm đóng và đặc vụ Nhật Bản ở Đông Dương đã tuyên truyền ý tưởng thành lập khu vực "Đại Đông Á" dưới sự bảo hộ của đất nước Mặt trời mọc, củng cố sự đoàn kết của các chủng tộc da vàng, thúc đẩy hoạt động các giáo phái tôn giáo mới trong thế kỷ XX như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên (có gần 1,6 triệu tín đồ). Các giáo phái này tạm thời bị cuốn hút về phía người Nhật, tách khỏi người Pháp và chủ yếu là rời bỏ Mặt trận yêu nước Việt Minh (Tổ chức liên hiệp đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, thành lập ngày 11 tháng 5 năm 1941). Mục đích của những kẻ xâm lược là thống nhất lại tất cả các hiệp hội, phong trào có những chiều hướng khác nhau, các tổ chức, các quan lại, giới tư sản mại bản, địa chủ xung quanh tên tuổi của một người Việt Nam - hoàng thân Cường Để, người sống lưu vong ở Nhật Bản. Phía Nhật Bản cũng cũng không bỏ qua các hoạt động của triều đình vua Bảo Đại (1926-1945), là người, mặc dù được biết đến như là "sống theo kiểu Tây của một kẻ thân Pháp", nhưng đã đồng ý chấp nhận độc lập giả hiệu từ tay người Nhật và cam kết hợp tác với Nhật Bản trong việc thành lập "Đại Đông Á".
Trong tháng 8 năm 1945, quân đội Liên Xô phát động cuộc tấn công tiêu diệt các đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Mãn Châu. Trong bối cảnh này, ngày 11 tháng 8 năm 1945 một cuộc nổi dậy vũ trang đã nổ ra tại tỉnh Hà Tĩnh, và sau đó ủy ban khởi nghĩa được thành lập do Võ Nguyên Giáp đứng đầu. Ông đã ra lệnh tổng khởi nghĩa vào đêm 13 rạng ngày 14 tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng tám Ủy ban giải phóng dân tộc đã được tổ chức lại thành Chính phủ Cách mạng lâm thời, Hồ Chí Minh là Chủ tịch kiêm Bộ trưởng bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là Chu Văn Tấn (sau này là thượng tướng), Bộ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là đại tướng quân đội, người hùng Điện Biên Phủ) Võ Nguyên Giáp. Năm chức danh bộ trưởng đã được trao cho một số người, không tham gia mặt trận Việt Minh. Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH).
Đến tháng 12 năm 1945, tất cả các lực lượng vũ trang của Nhật Bản tại Việt Nam đã bị tước vũ khí và tập trung vào một số trại đặc biệt tại Cape Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Cũng từ đây binh lính và sĩ quan "Đại Nhật" được tổ chức cho hồi hương. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, tại Trùng Khánh, đại diện của Pháp đã ký với những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc một thỏa thuận rút những đạo quân Tưởng Giới Thạch ra khỏi Việt Nam và thay thế chúng bằng quân đội Pháp, đồng thời cung cấp một số đặc quyền cho Quốc dân đảng ở miền bắc Đông Dương. (Người Trung Quốc còn nhớ điều này cho đến tận bây giờ).
Ngày 06 tháng 3 năm 1946 hiệp định sơ bộ Pháp-Việt và các biên bản kèm theo đã được ký kết. Đây là các tài liệu lịch sử, theo đó Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, quân đội, quốc hội, tài chính riêng, và các thuộc tính độc lập khác.
Như vậy những tưởng đống tro tàn đầu tiên của các cuộc chiến Đông Dương đã lắng xuống và những mầm xanh của cuộc sống mới bắt đầu nhú lên qua lớp tro này.
***