Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Hồ sơ chiến tranh thế giới

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 14-02-2013, 13:04
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default Bản dịch:Индокитай: Пепел четырех войн (1939-1979 гг.)

Để bạn đọc thuận tiện theo dõi đúng trình tự của quyển sách: "Đông Dương: Tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)" tôi lập thêm chủ đề mới này bắt đầu từ "Lời nói đầu" (đã được hiệu đính)

Đề nghị các bác sau khi dịch xong các chương của mình thì kết nối vào đây để mọi người đọc theo đúng thứ tự. Bác Thao VN chuyển nội dung các chương 3 và 4 do bác đảm trách vào đây sau các chương 1 và 2 thì chắc thuận tiện cho các bạn đọc hơn.

MT
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 6 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), Мужик (15-02-2013), Nhikogda (22-02-2013), Thao vietnam (14-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #2  
Cũ 14-02-2013, 13:13
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Индокитай: Пепел четырех войн (1939-1979 гг.)
Đông Dương: Tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)

Tác giả: Mikhail Ilyinsky (nhà báo Nga)




Lời nói đầu của một đồng nghiệp: “Tôi đã bước qua đống tro tàn của 4 cuộc chiến Đông Dương. Vì thế tôi thấu hiểu giá trị hoà bình…”



Một cuộc điều tra báo chí có lần được tổ chức tại Hà Nội với chủ đề "Ai trong số các nhà báo nước ngoài trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử các cuộc chiến từ những năm 40 - 70 của thế kỷ XX đã viết đầy đủ, nhiều và khách quan hơn về các sự kiện ở Đông Dương”. Kết quả là những người viết nổi trội, sung mãn nhất, có những bài báo nổi tiếng nhất được công nhận là nữ phóng viên Pháp Madelene Riffo, nhà báo Úc Wilfred Burchett, nhà văn Nga Ivan Shedrov và Mikhail Ilyinsky. Họ đã viết những phóng sự, bài báo, tiểu luận, những cuốn sách về tất cả các cuộc chiến ở Đông Dương, ở những giai đoạn và năm tháng khác nhau, và theo thời gian đã có một vấn đề nổi lên là: do hoàn cảnh khách quan, họ đã không viết được một cuốn sách đầy đủ xuyên suốt cả lịch sử quân sự, phát triển các sự kiện chính trị ở Đông Dương sau chiến tranh thế giới thứ hai, cuốn sách kể về các cơ quan tình báo và ngoại giao bí mật của các quốc gia khác nhau tham gia vào những cuộc xung đột dữ dội nhất trong khu vực. Hiện giờ trong nhóm phóng viên báo chí quốc tế nổi bật khi đó chỉ còn lại một nhà báo, viện sỹ của hai viện hàn lâm quốc tế khác, Chủ tịch viện Hòa bình Ý (Roma) Mikhail Ilyinsky. Và ông đã nhận trách nhiệm viết một cuốn sách như vậy về Đông Dương, trong đó sẽ tiết lộ những trang chính về các cuộc chiến ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, những đặc điểm của phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Đông Nam Á, chỉ ra nguyên nhân và mục đích xâm lược của các thế lực bên ngoài như Nhật Bản, Pháp, Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Ngay trong tên gọi của cuốn sách "Đông Dương. Đống tro tàn của bốn cuộc chiến" đã mang ý nghĩa kép. Trước hết nó nói về bốn cuộc chiến ở Đông Dương: đó là - cuộc đấu tranh chống quân phiệt, chống phát-xít, chống lại sự chiếm đóng Đông Dương của Nhật Bản trong các tháng đầu tiên của chiến tranh Thế giới thứ hai (1939 - 1945); đó là - cuộc kháng chiến chống thực dân (1946 - 1954) chống lại thực dân Pháp; cuộc kháng chiến chống đế quốc (1964-1975) chống lại những kẻ xâm lược và đồng bọn can thiệp Mỹ; và cuối cùng, cuộc chiến thứ tư - lần đầu tiên trong lịch sử của các nước xã hội chủ nghĩa - cuộc chiến biên giới quy mô 30 ngày giữa Trung Quốc và quốc gia xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Điều này đã chưa hề xảy ra trong lịch sử của thế giới, nếu như không tính các xung đột biên giới giữa Liên Xô và Trung Quốc vào năm 1969.

Nếu như về các cuộc chiến đầu tiên (chống quân phiệt và chống thực dân), tác giả kể dưới hình thức những cuộc phỏng vấn các nhà sử học Việt Nam và nước ngoài, các nhà hoạt động chính trị và quân sự, cũng như từ các cuộc trò chuyện với đồng nghiệp và bạn bè của mình là Madelene Riffo và Wilfred Burchett (cả hai người đã qua đời vào những năm 1980-1990), thì về cuộc chiến tranh chống Mỹ xâm lược và sự can thiệp của Trung Quốc, với trọng trách là phóng viên quân sự, quan sát viên chính trị và bình luận viên quốc tế, đã được tặng nhiều giải thưởng khác nhau về báo chí, Mikhail Ilyinsky, với kinh nghiệm báo chí của mình, đã đưa ra những phân tích riêng của một nhà sử học, chuyên gia phương đông học về sự phát triển các sự kiện trên các mặt quân sự, chính trị và ngoại giao. Ông đưa ra giải thích riêng về các khái niệm "bí mật quân sự và chính trị" ở Đông Dương: những gì được coi là bí mật tại giai đoạn lịch sử này hay giai đoạn lịch sử kia, giờ đã trở thành công khai sau một thời gian nhất định, khi thay đổi bộ máy cầm quyền, thậm chí cả hệ thống quyền lực và "bối cảnh" quốc tế khác nhau, với sự sụp đổ của các bức tường và sự “xé rào”. Việc khám phá và “công bố” nhanh hơn và sắc sảo hơn các bí mật quốc tế, được giấu kín và bảo vệ bởi hệ thống đặc vụ và các cơ quan chính quyền khác nhau – chính là công trạng của các nhà báo, những người cùng hành quân với các đơn vị quân đội, cùng sống trong hầm hào trú ẩn và những túp lều thời chiến với những người dân để lánh đạn bom, phải chạy vào khe núi và hang động, nấp thật sâu trong lòng đất. Nhưng họ đã chiến đấu và chiến thắng.

Ý nghĩa thứ hai - Quân sự, địa chính trị

Chiến tranh xảy ra vào những thời gian khác nhau trên bốn mặt trận khác nhau. Mặt trận trung tâm là Việt Nam (bao gồm chiến sự ở miền Bắc Việt Nam và Nam Việt Nam), hai mặt trận bên sườn là Lào và Campuchia, các "mặt trận phụ" của mặt trận trung tâm. Vắt qua và kết nối tất cả các mặt trận tại đây là "đường mòn Hồ Chí Minh." Cuối cùng là mặt trận biên giới Việt-Trung. Trong những năm 40-50, nơi đây đã từng được coi là "cánh cửa" tới phe xã hội chủ nghĩa. Vào cuối những năm 70, "cánh cửa" này bị đóng sập lại, sau đó bị bao trùm bởi lửa đạn, đặc biệt khốc liệt trong cuộc xung đột vũ trang đầu xuân năm 1979.

Bây giờ bàn về “tâm lý và triết học” của các xung đột Đông Dương, về sự phát triển của các cuộc chiến "đặc biệt", “chuyên biệt”.

Trong nhiều thập kỷ đã hình thành và được khẳng định quan điểm rằng trong các giai đoạn đấu tranh chống quân phiệt, chống thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc, cũng như chống lại chủ nghĩa bá quyền đã diễn ra hai quá trình song song nhưng ngược chiều nhau. Một bên là hơn trăm nhóm dân tộc của Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, sống ở Đông Dương, trong phong trào giải phóng dân tộc chung đã đoàn kết, gắn bó, phối hợp tích cực và thành công trong hoạt động quân sự và chính trị của mình. Kết quả là họ đã chiến thắng.

Một bên là quân phiệt Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cũng như các nhà tư tưởng chính trị quân sự Trung Quốc, trong những năm 1940-1970 đã chơi quân bài "đạo quân thứ năm". Vì lợi ích của mình, họ đã dùng ngón "bật lò xo" các mâu thuẫn sắc tộc đã và đang tồn tại giữa các dân tộc Đông Dương và các nhóm dân tộc thiểu số khác, cùng những toan tính với con bài "Hoa kiều", “gốc Hoa” - những người Trung Quốc sinh sống tại Đông Dương.

Và những đặc thù dân tộc cũng như văn hoá và tôn giáo này được tác giả cuốn sách trải nghiệm và phản ánh, sau khi đã nghiên cứu và sống ở Đông Dương trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Tác giả không đơn giản hoá kết quả trong những thắng lợi quân sự và các thất bại đơn lẻ của những người yêu nước Đông Dương, mà nhìn nhận chuỗi phát triển lôgic các sự kiện chính trị - quân sự tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia trong suốt thế kỷ XX. Cuốn sách này là sự tổng hợp công sức của một nhà báo và nhà sử học, nhà nghiên cứu, quan sát viên và nhà biên niên sử. Tính thời sự của cuốn sách này được tiếp tục trong thế kỷ XXI, khi mà, than ôi, chiến tranh du kích vẫn chưa được loại trừ ra khỏi các mối quan hệ quốc tế và nội bộ quốc gia.

***

Các chiến lược gia, các chuyên gia tâm lý và mật vụ phương Tây đã đặt cược ở Đông Dương, tính toán tới việc chia rẽ xã hội ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia, củng cố cho lối "sống và tư duy theo kiểu phương Tây", họ đã bỏ ra những khoản tài chính khủng khiếp cho bộ máy chính quyền địa phương, quân đội, cảnh sát, lực lượng hiến binh và các phương tiện thông tin đại chúng. Nhưng phương Đông, như chúng ta đã biết, mãi mãi vẫn là phương Đông. Và tác giả tiết lộ một số bí ẩn đã trở thành những điều "bí ẩn-bí mật của cuộc chiến tranh Đông Dương".

Bây giờ nói về những “đống tro tàn" cụ thể của bốn cuộc chiến Đông Dương. Phần “bi kịch” hay của cuốn sách ở chỗ này.

“Đống tro tàn thứ nhất". Tháng hai - tháng ba năm 1939. Quân đội Nhật chiếm đảo Hải Nam nằm cách cửa sông Cấm cạnh cảng Hải Phòng gần 300 km. Từ Trung Quốc lục địa quân Nhật tiến dần đến gần biên giới Việt Nam, tới phần bắc của Việt Nam - (Việt Nam được chia thành 3 phần: Тонкин (Tonkin), Аннам (Annam) và Кохинхина (Cochinchine), Nói theo kiểu người Việt là Bắc Bộ (Bắc kỳ) Trung Bộ (Trung kỳ) và Nam Bộ (Nam kỳ).

Từ những ngày đầu tiên của Chiến tranh Thế giới thứ hai, Pháp đã tìm cách sử dụng các nguồn vật lực và nhân lực của Đông Dương cho mục đích tăng thêm tiềm lực quân sự của chính quốc. Tới tháng 12 năm 1939, 70.000 binh lính và công nhân Đông Dương đã được gửi đến Pháp. (Tổng số dự kiến có 1,5 triệu người được gửi đến Pháp chỉ riêng từ Việt Nam). Paris đã buộc các nước thuộc địa ở Đông Dương phải cung cấp cho chính quốc 3,5 triệu tấn lương thực, 800.000 tấn chè, đường, cà phê, 600.000 tấn cao su, 30.000 tấn sản phẩm đay. Tất cả thuộc địa phải làm việc phục vụ chiến tranh.

Thất bại của Pháp, sụp đổ của Paris kéo theo những hậu quả nghiêm trọng cho khu vực Đông Dương. Nhà chức trách Pháp từng bước đầu hàng quân phiệt Nhật. Tháng 7 năm 1940, Nhật Bản đã ra tối hậu thư yêu cầu phía Pháp phải đóng cửa biên giới phía bắc Đông Dương và nắm quyền kiểm soát tất cả các ngả đường tới Trung Quốc.

Sau năm 1940 hai tầng xiềng xích của giặc ngoại xâm đã đè nặng trên vai của Việt Nam. Quân chiếm đóng Nhật Bản liên kết với chính quyền Vichy Pháp để cướp bóc tài nguyên của cải Đông Dương và duy trì chế độ thực dân.

Đô đốc Decoux - toàn quyền Đông Dương, một mặt, nói về "lòng yêu nước Pháp", mặt khác, dễ dàng chia sẻ quyền lực với người Nhật, nhường cho Nhật tất cả các vị trí trọng yếu, đặc biệt là trong các vấn đề quân sự chính trị và kinh tế. Từ 1941 đến 1945, người Pháp đã chi trả cho bộ chỉ huy quân sự Nhật 723 triệu piaso, số tiền gấp bảy lần ngân sách của Đông Dương vào năm 1939.

Lực lượng chiếm đóng và đặc vụ Nhật Bản ở Đông Dương đã tuyên truyền ý tưởng thành lập khu vực "Đại Đông Á" dưới sự bảo hộ của đất nước Mặt trời mọc, củng cố sự đoàn kết của các chủng tộc da vàng, thúc đẩy hoạt động các giáo phái tôn giáo mới trong thế kỷ XX như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên (có gần 1,6 triệu tín đồ). Các giáo phái này tạm thời bị cuốn hút về phía người Nhật, tách khỏi người Pháp và chủ yếu là rời bỏ Mặt trận yêu nước Việt Minh (Tổ chức liên hiệp đấu tranh cho nền độc lập của Việt Nam, thành lập ngày 11 tháng 5 năm 1941). Mục đích của những kẻ xâm lược là thống nhất lại tất cả các hiệp hội, phong trào có những chiều hướng khác nhau, các tổ chức, các quan lại, giới tư sản mại bản, địa chủ xung quanh tên tuổi của một người Việt Nam - hoàng thân Cường Để, người sống lưu vong ở Nhật Bản. Phía Nhật Bản cũng cũng không bỏ qua các hoạt động của triều đình vua Bảo Đại (1926-1945), là người, mặc dù được biết đến như là "sống theo kiểu Tây của một kẻ thân Pháp", nhưng đã đồng ý chấp nhận độc lập giả hiệu từ tay người Nhật và cam kết hợp tác với Nhật Bản trong việc thành lập "Đại Đông Á".

Trong tháng 8 năm 1945, quân đội Liên Xô phát động cuộc tấn công tiêu diệt các đạo quân Quan Đông của Nhật Bản ở Mãn Châu. Trong bối cảnh này, ngày 11 tháng 8 năm 1945 một cuộc nổi dậy vũ trang đã nổ ra tại tỉnh Hà Tĩnh, và sau đó ủy ban khởi nghĩa được thành lập do Võ Nguyên Giáp đứng đầu. Ông đã ra lệnh tổng khởi nghĩa vào đêm 13 rạng ngày 14 tháng 8 năm 1945. Ngày 28 tháng tám Ủy ban giải phóng dân tộc đã được tổ chức lại thành Chính phủ Cách mạng lâm thời, Hồ Chí Minh là Chủ tịch kiêm Bộ trưởng bộ ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là Chu Văn Tấn (sau này là thượng tướng), Bộ trưởng Bộ Nội vụ (sau này là đại tướng quân đội, người hùng Điện Biên Phủ) Võ Nguyên Giáp. Năm chức danh bộ trưởng đã được trao cho một số người, không tham gia mặt trận Việt Minh. Cách mạng Tháng 8 thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945 tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (VNDCCH).

Đến tháng 12 năm 1945, tất cả các lực lượng vũ trang của Nhật Bản tại Việt Nam đã bị tước vũ khí và tập trung vào một số trại đặc biệt tại Cape Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Cũng từ đây binh lính và sĩ quan "Đại Nhật" được tổ chức cho hồi hương. Ngày 28 tháng 2 năm 1946, tại Trùng Khánh, đại diện của Pháp đã ký với những người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc một thỏa thuận rút những đạo quân Tưởng Giới Thạch ra khỏi Việt Nam và thay thế chúng bằng quân đội Pháp, đồng thời cung cấp một số đặc quyền cho Quốc dân đảng ở miền bắc Đông Dương. (Người Trung Quốc còn nhớ điều này cho đến tận bây giờ).

Ngày 06 tháng 3 năm 1946 hiệp định sơ bộ Pháp-Việt và các biên bản kèm theo đã được ký kết. Đây là các tài liệu lịch sử, theo đó Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, quân đội, quốc hội, tài chính riêng, và các thuộc tính độc lập khác.

Như vậy những tưởng đống tro tàn đầu tiên của các cuộc chiến Đông Dương đã lắng xuống và những mầm xanh của cuộc sống mới bắt đầu nhú lên qua lớp tro này.

***

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 14-02-2013 thời gian gửi bài 15:30 Lý do: Thêm tên tác giả dưới tên sách
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #3  
Cũ 14-02-2013, 13:20
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Thất bại của quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã được định trước khá lâu, trước khi bị sụp đổ hoàn toàn vào tháng 3 năm 1954, tại trận chiến Điện Biên Phủ.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945 chính phủ Pháp gửi đến bờ biển của Việt Nam binh đoàn lính chiến “Maccie" và Sư đoàn 9 bộ binh thuộc địa dưới quyền tướng Leclerk. Vị tướng được bổ nhiệm làm chỉ huy các quân đoàn viễn chinh. Ông đã liên lạc với Đô đốc Thierry d'Arzhanle - Cao ủy Cộng hoà Pháp tại Đông Dương và cam kết sẽ khôi phục lại sự cai trị của Pháp tại Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Như bước đầu tiên tiến hành các hoạt động quân sự, ngày 23 tháng 8, toán lính dù Pháp đã được thả xuống một vùng của Nam Bộ (Nam Việt Nam). Quân Nhật đã cho phép toán lính dù này được vào Sài Gòn.

Trong những ngày đầu tiên của tháng 9 lực lượng quân đội Anh-Ấn Độ đã có mặt tại thủ đô của miền Nam Việt Nam, họ mở cửa các nhà tù, phân phát vũ khí cho các nhóm lưu manh. Một làn sóng cướp bóc và bạo lực đã lan ra khắp Sài Gòn.

Tại sao người Anh lại sốt sắng ủng hộ Pháp ở Đông Dương? Nỗi lo sợ cho tương lai các thuộc địa của mình đã buộc họ phải hành động mạnh dạn và dứt khoát, không để ví dụ xấu của Đông Dương lây lan tới các thuộc địa của Anh ở châu Á. Đó chính là động cơ các hành động của London ở Đông Dương.

Ngày 21 tháng 10 năm 1945 quân đội Anh-Pháp phát động một cuộc tấn công ở đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó các đơn vị của quân đoàn viễn chinh đã tiến lên cao nguyên Tây Nguyên. Chính phủ VNDCCH đã kêu gọi toàn quốc kháng chiến.

Từ năm 1946 đến năm 1952, quân đội Nhân dân Việt Nam (khi đó được gọi là Vệ quốc quân) đã thực hiện những trận đánh chiến thuật lớn, nhưng cũng ngay trong thời gian đó, hoạt động ngoại giao tích cực từ các chiến hữu của Hồ Chí Minh đã cho phép Vệ quốc quân có thời gian ngưng chiến, có thể bí mật và nhanh chóng sắp xếp lại lực lượng cùng khí tài quân sự.

Tới tháng 5 năm 1947, lực lượng vũ trang Pháp tại Việt Nam đã có hơn 115.000 người, nhưng, như các diễn biến chiến trường cho thấy, quân viễn chinh đã không có lợi thế quyết định mà phải chịu những tổn thất nặng nề, còn chiến thắng nhanh chóng như đã hứa thì chẳng thấy đâu giữa núi rừng xứ Annamit. Các hoạt động quân sự phối hợp của lính dù, các đơn vị trong binh đoàn lính lê dương và các đội tàu chiến trên sông (tháng 10 năm 1947) đã không cho kết quả tích cực. Trong vùng giải phóng khi đó đã xuất hiện khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả cho chiến thắng!" Đó không đơn giản chỉ là khẩu hiệu tuyên truyền. Việc sản xuất vũ khí, trang thiết bị quân sự và sửa chữa khí tài, mở đường mới được thực hiện trơn tru. Việc quyên gạo cho bộ đội và dân đã tăng đến 2 triệu tấn vào năm 1947. Phong trào tiết kiệm theo phương châm: "Hũ gạo nuôi quân" được thực hiện rộng khắp. Lực lượng Vệ quốc quân không ngừng được củng cố, những cuộc vận động tổ chức bồi dưỡng chỉnh huấn-chỉnh quân được tiến hành. Nghị định ngày 4 tháng 11 năm 1949 về nghĩa vụ quân sự bắt buộc được thực hiện và vẫn còn hiệu lực đến tận bây giờ .

Uy tín quốc tế của những người cách mạng được củng cố. Ngày 30 tháng 1 năm 1950 quan hệ ngoại giao giữa Liên Xô và VNDCCH được thiết lập, sự công nhận quốc tế và uy tín của nước cộng hòa trẻ tuổi đã được mở rộng.

***

Vào cuối năm 1950 một viên tướng mới đã đến Việt Nam, Tướng De Lattre de Tassigny. Ông mang theo những tài liệu về chiến lược quân sự mới và "học thuyết chiến tranh dồn ép" dựa vào việc nhận được nhiều hơn trang thiết bị quân sự của Mỹ. Xuất hiện cùng lúc tại Việt Nam là các cố vấn Mỹ từ Phái đoàn thường trực của quân đội Mỹ - MAAC. “Sale Guerre” ("chiến tranh bẩn thỉu") - người ta gọi cuộc chiến tranh của Tướng De Lattre tại Việt Nam như vậy.

Lực lượng lính viễn chinh đã phải chịu hết thất bại này đến thất bại khác. Trong tháng 5 năm 1953, tướng Henry Navarre được bổ nhiệm làm chỉ huy. Trước Việt Nam, ông đã đến Washington, nơi ông đã thống nhất kế hoạch "chiến tranh cơ động" ở vùng núi và thung lũng dựa theo các đặc điểm tự nhiên của Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ. Để tiến hành các hoạt động quân sự, tướng Navarre được Mỹ cung cấp cho 785 triệu đô la, mà sau này cho thấy, tất cả đã bay theo gió ... Ngày 15 tháng 10 năm 1953 sau cuộc "diễu binh khải hoàn" tại Hà Nội, Tướng Henry Navarre bắt tay vào thực hiện một kế hoạch "Hải âu" hợp nhất các đơn vị chiến đấu của quân đội Pháp ở các khu vực miền Bắc và miền Trung Việt Nam. Kế hoạch này đã thất bại, và ngày 07 tháng 5 năm 1954 sau 55 ngày đêm kể từ khi bị vây hãm, tập đoàn cứ điểm thực dân - Điện Biên Phủ đã thất thủ.

Ở Việt Nam và Paris người ta đã tổng kết cuộc Kháng chiến thứ nhất. Lần đầu tiên trong lịch sử một nước thuộc địa nhỏ bé đã trở thành người chiến thắng trong cuộc đấu tay đôi với một cường quốc thực dân to lớn.
- Sau gần 9 năm chiến tranh, quân đội thực dân Pháp và chính quyền bù nhìn đã mất gần nửa triệu lính và sĩ quan.
- Pháp đã đầu tư 2.688 tỷ franc và 2,6 tỷ USD nhận được từ Hoa Kỳ cho chiến tranh.
- Trong quá trình chiến tranh, các lực lượng cách mạng nhân dân đã tiến hành chính sách kháng chiến toàn diện trường kỳ trên cơ sở tự lực, kết hợp đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc và chống các tầng lớp phong kiến, tiến hành các hoạt động quân sự cùng với việc thực hiện cải cách ruộng đất, triển khai đấu tranh vũ trang, chính trị, kinh tế và ngoại giao, dần dần chuyển chiến tranh du kích thành chiến tranh với các lực lượng vũ trang chính quy.

Đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân được thực hiện kiên định. Ví dụ như hơn 200.000 dân công đã dành hơn 3 triệu ngày lao động cho việc vận chuyển các loại hàng hóa khác nhau ở Điện Biên Phủ. Hàng chục ngàn nam nữ thanh niên đã mở đường, cùng với công binh vô hiệu hóa bom, mìn trên đường vận chuyển. Hàng chục ngàn xe đạp, xe cút kít, tàu thuyền đã được sử dụng để cung cấp cho mặt trận thực phẩm, đạn dược và vận chuyển bộ đội.

Trong cuộc chiến tranh nhân dân này có nhiều thứ, nếu ở phương Tây chỉ có ý nghĩa thực dụng, còn khi được sử dụng ở phương Đông thì lại rất khác và hoàn toàn không còn mang ý nghĩa dân sự nữa. Ví dụ như chiếc xe đạp, người Pháp đã luôn luôn gọi những người Việt Nam là "dân trên xe đạp", nhưng dường như họ đã không nhận thức được rằng xe đạp là phương tiện giao thông mạnh mẽ và thậm chí còn là “loại vũ khí quân đội". Bằng một chiếc xe đạp, những người dân công đã di chuyển một quãng đường dài với 300-350 kg hàng hóa quân sự. Trên chiếc xe đạp, chiến sỹ liên lạc và quân bưu đã thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu quan trọng. Chiến sỹ súng cối đã bắn đạn cối từ bộ khung xe đạp và bộ đèo hàng phía sau.

Còn tre, loại cây thường mọc ở quanh xóm làng hoặc thị trấn? Đây là thứ vũ khí sắc bén, một cái bẫy, và là một loại vật liệu xây dựng phòng thủ. Những "người Tây" thường gọi người Việt Nam là "dân tre", trong cái tên lóng này có ý nghĩa tiêu cực, nhưng đối với Việt Nam, tre luôn có ý nghĩa tích cực, là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu của nhân dân.

...Những búp măng mọc thẳng sau mùa mưa - chính là sự mạnh mẽ của thiên nhiên. Như những con ngựa chiến tung bờm. Cây tre - đó là người hiệp sĩ của mảnh đất Việt Nam. Đó là hiệp sĩ của tinh thần cao cả, vượt qua mọi sự lo toan thường nhật, là người hiệp sỹ mãi mãi sẵn sàng phục vụ nhân dân.

Với người phương Tây để hiểu biết Việt Nam không đơn giản. Đặc biệt là đối với những người đến với một thanh kiếm trong tay. Đối với những người vượt qua ngưỡng cửa của ngôi nhà Việt Nam với hòa bình và lòng tốt, Việt Nam sẽ trao tặng các bí ẩn và những đoá hoa của mình ...

Hoa cúc - biểu tượng của sức mạnh, sự cao thượng và là một dấu hiệu của mùa thu. Khi trời lạnh, hoa toả ra nhiều hương. Ý nghĩa của nó - gian nan mới biết ai là bạn.
Phù dung với những cánh hoa đỏ hồng lộng lẫy - như đời người ngắn ngủi nhưng rực rỡ. Hoa này chỉ nở trong mười hai giờ.
Hoa sen - biểu tượng của sự thanh cao, đẹp đẽ, là dấu hiệu của mùa hè.
Hoa anh túc và hoa phong lan được gọi là hoa mùa xuân. Phong lan nở vào đêm trước của năm mới theo âm lịch. Được sùng bái như là hoa của tình yêu, tuổi trẻ, sự thanh lịch.
Hoa mận - biểu tượng của sự kiên cường, lòng trung thành. Cành mận - dấu hiệu của mùa đông.
Các nhà khoa học, nhà ngoại giao, nhà sử học, quân nhân, nhà văn, trí thức phải biết các biểu tượng và truyền thống Việt Nam.

Chiếc quạt Việt Nam có một vai trò đặc biệt. Đối với người Việt, quạt có một khái niệm rộng. Vật dụng này được phú cho quyền hạn đặc biệt, và mỗi chuyển động của chiếc quạt đều có thể mang một ý nghĩa nhất định.
Chiếc quạt - đó vừa là nhà hát, vừa để biểu lộ tình yêu. Và đôi khi một cái phẩy tay cầm quạt là một dấu hiệu của một lời tuyên chiến. Vài thế kỷ trước một nhà văn Việt Nam đã từng viết: "Tâm hồn tôi được mở ra cùng với chiếc quạt...". Thế kỷ XV, nhà quân sự và nhà thơ Nguyễn Trãi đã khuyên nhủ các nhà ngoại giao không bao giờ được rời khỏi chiếc quạt. Trong khi nói chuyện, các vệ sĩ đứng đằng sau viên sứ giả chỉ nhờ duy nhất vào chuyển động của chiếc quạt đã có thể biết cuộc đàm phán được tiến hành như thế nào. Chiếc quạt đã chuyển tải tâm trạng nhà ngoại giao: quạt vẫy chậm có nghĩa là có sự hiểu biết, bình tĩnh và nồng ấm trong cuộc trò chuyện giữa hai bên. Khi viên sứ giả vẫy quạt nhanh nhưng đều đều có chừng mực thì đó là một dấu hiệu của sự hòa giải. Nhưng nếu nhà ngoại giao bất ngờ gấp quạt lại và nâng nó lên mặt mình, thì có nghĩa là - chiến tranh không thể nào tránh khỏi. Đã bao nhiêu lần chiếc quạt đã phải gấp lại trong 4000 năm lịch sử của Việt Nam!

***

Đống tro tàn của cuộc chiến thứ hai. Sự kết thúc cuộc phiêu lưu thực dân của nước Pháp trên sân khấu Đông Dương (1946 - 1954). Thất bại của quân đội Pháp đã được Mỹ lợi dụng để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Hạm đội 7 của Mỹ đã tiến gần đến bờ biển Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ Dulles đã đề xuất các lực lượng đế quốc ở Đông Dương phải "phối hợp hành động".

Phản đối các biện pháp này, vào tháng giêng năm 1954, theo sáng kiến của Moskva, một hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương đã đạt được thoả thuận triệu tập. Sau 72 ngày đấu tranh ngoại giao phức tạp và nhạy cảm, ngày 20-21 tháng 7 năm 1954 hội nghị Genève về Đông Dương đã tiến hành thông qua các quyết định về việc chấm dứt chiến sự, đã có kế hoạch vạch ra sự phát triển của ba nước Đông Dương theo hướng hòa bình, hợp tác và hiểu biết lẫn nhau. Nhưng điều đó không nằm trong các kế hoạch quân sự và chính trị của Hoa Kỳ ở Đông Dương và Đông Nam Á.

Hoa Kỳ từ chối tham gia tuyên bố cuối cùng của hội nghị, nhưng đối mặt với yêu cầu của dư luận quốc tế, đã buộc phải cam kết thực hiện theo "tinh thần và câu chữ" của hiệp định Genève năm 1954. Trên thực tế, đó là khởi đầu của việc can thiệp về chính trị, ngoại giao, kinh tế và quân sự quy mô lớn của Mỹ vào công việc của các dân tộc Đông Dương. Thậm chí khi đó đã bùng cháy ngọn lửa một cuộc xung đột quân sự khu vực mới, không chỉ một lần có xu hướng phát triển thành thảm họa quân sự toàn cầu. Đống tro tàn cuộc chiến Đông Dương thứ ba sẽ được phân tán chỉ sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào ngày 30 tháng 4 năm 1975. Và bây giờ, hơn hai mươi năm sau, theo trình tự thời gian, theo dõi từng bước diễn biến của chiến dịch quân sự "Hồ Chí Minh" (mùa xuân 1975), nhà sử học và nhà báo đã kể lại với nhiều chi tiết cụ thể về chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Bộ máy tuyên truyền phương Tây đã gọi những hoạt động của Việt Cộng là "hành động khủng bố". Nhưng đó là một cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân vì tự do và giải phóng dân tộc. Chính Hoa Kỳ đã đóng vai trò của một tên sen đầm quốc tế.

Thảm họa cuộc chiến thứ ba ở Đông Dương đã cướp đi một triệu rưỡi sinh mạng, kết thúc bằng những núi tro tàn ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia. Nhưng khi những vết thương chiến tranh thậm chí chưa kịp lên da non, thì một cuộc xung đột mới lại bắt đầu. Lần này là với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tham vọng lãnh đạo chính trị trong khu vực Đông Nam Á, nhưng không thể áp đặt "luật chơi " lên các dân tộc Đông Dương. Cuộc chiến tranh ba mươi ngày đã trải dọc theo toàn bộ chiều dài (1.400 km) biên giới Trung Quốc-Việt Nam trong tháng 2 - tháng 3 năm 1979. Cuộc chiến tranh này là đòn đáp trả của Bắc Kinh cho sự thất bại của chế độ Pol Pot ở Campuchia, một nỗ lực để "trừng phạt Việt Nam bướng bỉnh", biểu dương ”sức mạnh cơ bắp” và đồng thời để đưa ra một lần nữa tuyên bố lãnh thổ của họ trên một số các đảo (Hoàng Sa, Trường Sa, ...) ở khu vực biển Đông. Nhưng không được.

Những chương đặc biệt của cuốn sách được hướng tới các khu vực "sườn" Đông Dương - hai nước Lào và Cam-pu-chia, là nơi mà lãnh thổ của họ cũng đã bị bao phủ bởi ngọn lửa chiến tranh và được miêu tả trong một bối cảnh chung của cuộc đấu tranh chống quân phiệt, chống thực dân, chống chủ nghĩa đế quốc và chống chủ nghĩa bá quyền của các dân tộc Đông Dương vì độc lập, hòa bình, tự do và tiến bộ xã hội.

Các chương về cuộc xung đột vũ trang Việt Nam-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1979 có lẽ là tác phẩm báo chí đầu tiên của tác giả nước ngoài này, là người đã chứng kiến các sự kiện và có thể mô tả chúng một cách khách quan, đầy đủ. Vào thời điểm đó, trên biên giới bị bao phủ bởi lửa đạn đã có khoảng 70 nhà báo của gần 40 quốc gia từ các châu lục khác nhau. Tuy nhiên, cuốn sách này, hơn hai mươi năm sau, là tác phẩm đầu tiên của các sự kiện tại thời điểm đó, nhiều sự việc cho đến tận bây giờ vẫn còn được coi là các bí mật của cuộc chiến tranh Đông Dương trong thế kỷ XX.


Ngô Gia Sơn
Nhà báo Việt Nam
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Huonghongvang (26-02-2013), Nhật Minh (18-02-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #4  
Cũ 22-02-2013, 13:56
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Cuốn sách này con kính tặng cha, người đã hy sinh năm 1941, kính tặng mẹ, người đã hiến cả đời mình cho các con, cho Tổ quốc và làm rất nhiều cho nhân dân Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia.

Chương I
ĐÔNG DƯƠNG: LỬA ĐẠN VÀ HOA HỒNG

”VÀO LÚC 6 GIỜ CHIỀU SAU CHIẾN TRANH...” VÀ MỘT VÀI BÍ MẬT HÉ MỞ TRONG CUỘC XUNG ĐỘT ĐÔNG DƯƠNG

Chúng tôi hẹn gặp nhau ”vào lúc 6 giờ chiều sau chiến tranh...” Năm nào cũng vậy. Ngày mùng 5 tháng 8. Trên quảng trường Sverdlov ở Moskva. Bất kể thời tiết thế nào. ”Chúng tôi” - đó là những chiến binh quốc tế, như thời nay người ta gọi những ai từng làm việc trong chiến tranh Việt Nam. Còn ngày mùng 5 tháng 8 - bởi vì chính đêm hôm đó năm 1964 đã mở màn các đợt ném bom miền Bắc Việt Nam. Cuộc chiến xâm lược Việt Nam của Mỹ được bắt đầu rồi sau đó lan rộng khắp Đông Dương, tới cả Lào và Cam-pu-chia. ”Chúng tôi”- những chiến binh nay đầu đã bạc, những người chứng kiến và tham gia vào các sự kiện xa xưa ấy - đã ở đó...

Cũng vài năm rồi, từ khi địa điểm gặp gỡ, tưởng như ”không được thay đổi”, đã chuyển từ Quảng trường Sverdlov (nó không còn tồn tại nữa) đến toà nhà của Uỷ ban Cựu chiến binh hay loanh quanh tới mấy địa điểm khác của Thủ đô. Nhưng thời điểm và ý nghĩa cuộc gặp mặt của những người bạn chiến đấu vẫn như cũ. Năm tháng cứ trôi qua và chúng tôi còn lại ngày một ít hơn, các câu chuyện của chúng tôi (theo thời gian và theo việc gỡ dấu ”tuyệt mật” cũng như việc một số quy định đã bớt phần hà khắc) ngày một cởi mở và đầy đủ hơn. 35 năm qua, tất cả hay gần như tất cả mọi chuyện đều đã được vén màn bí mật: cả con người, cả vũ khí, thậm chí cả các mối quan hệ giữa con người, cả các cuộc đột kích vũ trang nguy hiểm khi đó là bí mật quốc gia. Nó được giữ kín tuyệt đối và được bảo vệ bởi các lực lượng đặc biệt. Giờ thì người ta đang chờ đợi sự cởi mở.

Liệu ở Hà Nội, Moskva, Bắc Kinh và các thủ đô khác người ta có biết Mỹ sẽ bắt đầu ném bom Việt Nam dân chủ trong tháng 8 năm 1964 không? Có. Có biết. Ví dụ, cựu tướng Ý Nino Pasti đã nói với tôi về việc này. Ông ta từng 2 năm làm Phó Tư lệnh quân đội NATO ở Tây Âu. Nhưng rất ít người khi đó lại có thể tin vào khả năng của cuộc phiêu lưu quân sự này. Thế nhưng đầu hè năm 1964, CIA và Lầu năm góc đã khuyến cáo Nhà trắng phê chuẩn việc ném bom. Uỷ ban Nghị viện Hoa Kỳ về các vấn đề đối ngoại đã buộc phải thú nhận: ”Sự cố Vịnh Bắc bộ, tín hiệu của cuộc xâm lược, do CIA dựng lên để Nhà trắng nhận được quyền lực không hạn chế trong việc mở rộng chiến tranh ở Đông Dương”. Nhưng những dòng này khi đó là bí mật quốc gia của Mỹ.

”Sự cố” vịnh Bắc bộ được chuẩn bị như thế nào? Ngày 23 tháng 7 năm 1964 tàu khu trục ”Maddox” rời cảng Iokosuka Nhật Bản với nhiệm vụ theo dõi các hoạt động của lực lượng hải quân Bắc Việt Nam trên vịnh Bắc bộ. Chiến dịch bí mật này mang mã hiệu tình báo ”34-A”.

Tại một cảng của Đài Loan tàu khu trục ”Maddox” tiếp nhận ”container đen” với thiết bị điện tử dùng để phát hiện các trạm ra-đa đặt tại các vùng ven biển và đất liền Bắc Việt Nam.

Sau đó ”Maddox” được tàu khu trục ”Terner Joy” đến hỗ trợ. Nhóm 2 tầu bắt đầu tuần tra vũ trang với cùng mã hiệu chung: ”71-2”. 19 giờ 40 phút ngày 4 tháng 8, ra-đa của ”Maddox’ phát hiện [21] dấu hiệu của 5 tầu ngư lôi cỡ nhỏ của Bắc Việt Nam và lập tức khai hoả với các loạt đạn có mục tiêu. Jonh Harry, chỉ huy đội tuần tra ngay lập tức điện báo sự việc về Hoholulu cho Bộ tham mưu hải quân Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

”Có đánh nhau thật không? Các anh có thể khẳng định là bị tấn công không? Có chứng minh được các tầu ngư lôi của Bắc Việt bị đánh chìm không?” - Từ Hoholulu Đô đốc Sharp căn vặn.

Không nhận được câu trả lời khẳng định từ hạm trưởng Harry, song cỗ máy chiến tranh của Mỹ vẫn được khởi động. Lệnh ”tấn công đáp trả Bắc Việt” được ban bố. 64 máy bay chiến đấu từ các tàu sân bay ”Ticonderog” và ”Constellation” trút bom dữ dội xuống 5 mục tiêu ở miền Bắc Việt Nam. Sự kiện vịnh Bắc Bộ đã được sắp đặt như vậy.

Mỹ bắt đầu chiến tranh trên không với Bắc Việt Nam như thế. Nó kéo dài hơn 8 năm, đến tận ngày 27 tháng giêng năm 1973. Tôi biết chính xác, vào cái đêm tối trời ngày 4 tháng 8, các tàu chiến nhỏ của Bắc Việt Nam đã tấn công 2 tàu khu trục Mỹ. Khi đó việc này không được tiết lộ. Sự việc xảy ra trên lãnh hải của Việt Nam dân chủ cộng hoà (VNDCCH), tức là người Mỹ đã xâm nhập và vì thế hạm trưởng Harry đã im lặng. VNDCCH cũng không thông báo vụ chạm súng. Khi đó còn chưa có sự ủng hộ mạnh mẽ của báo chí quốc tế, trong khi mỗi từ không khéo nào đó của các nhà ngoại giao, nhà báo hay nhà quân sự có thể làm người ta nghĩ sai các sự kiện đối với Bắc Việt Nam. Lúc ấy, vào tháng 8 năm 1964, Hà Nội chỉ thông báo việc có chạm súng nhưng không bình luận gì hết. Đất nước nhanh chóng khoác ngay trang phục thời chiến.

Ở Việt Nam mỗi người dân đều trở thành một chiến sĩ, đàn ông hay đàn bà, người già hay trẻ nhỏ, nông dân, công nhân, nhà văn, hoạ sỹ, nhà thơ, nhà ngoại giao... Hàng trăm ngàn cây số giao thông hào được đào trên khắp đất nước. Chúng có thể quấn hàng chục vòng Trái đất. Việt Nam hứng chịu nhiều ngàn cuộc dội bom, oanh tạc từ trên không, pháo kích từ ngoài khơi. Đôi lúc còi báo động rú lên tới 3 chục lần một ngày đêm. Chúng tôi, các nhà báo, các chuyên gia quân sự là nhân chứng của thực tế này.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:47
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #5  
Cũ 22-02-2013, 14:03
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Máy bay Mỹ đã trút 8 triệu tấn bom xuống đất Việt Nam. Washington chi hơn 352 tỷ đô la, sử dụng 32% lực lượng không quân chiến thuật và 50% lực lượng không quân chiến lược, đưa sang Việt Nam 68% lực lượng bộ binh, 60% lính thuỷ đánh bộ, tức là hàng triệu lính. Hơn 1,5 triệu người Việt Nam bị giết. Hàng triệu người bị tàn phế bởi mảnh bom, đạn, lửa na-pan, nhiễm các chất độc hoá học...

Hơn 4 ngàn máy bay Mỹ bị bắn hạ chỉ trên bầu trời Bắc Việt Nam, hàng trăm phi công bị bắt làm tù binh và được trao trả cho phía Mỹ (tất cả, ngoại trừ Alwares, phi công đầu tiên bị bắt ngày 5 tháng 8 năm 1964 được trao trả cuối cùng vào năm 1975, sau khi Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27 tháng Giêng năm 1973).

Trong chiến sự Đông Dương hơn 40 ngàn binh lính, sỹ quan Mỹ bị chết. Tên tuổi của họ được khắc trên bức tường của nghĩa trang Arlington ở Washington. Nhưng đến 01/01/2000vẫn chưa tìm được 1072 người Mỹ bị mất tích. Với họ và gia đình họ chiến tranh vẫn còn chưa kết thúc. Việc tìm kiếm hài cốt vẫn đang tiếp tục.

...Điện thoại tại văn phòng phóng viên thường trú của tôi ở Roma đổ chuông. Phía đầu dây bên kia là đại tá, cựu nhân viên CIA James Connell, giám đốc bộ phận hỗ trợ uỷ ban liên hợp Nga-Mỹ về các vấn đề tù binh và người mất tích.
- Cú điện thoại của tôi có lẽ làm anh ngạc nhiên. – James nói sau khi tự giới thiệu. – Tôi muốn gặp anh ở Roma, ở Moskva hay bất cứ ở đâu trên Trái đất đều được. Chúng tôi tìm kiếm hài cốt người Mỹ chết tại Việt Nam, tất cả những người bị mất tích. Nói chung, chúng tôi mơ ước khép lại thế kỷ XX một cách trọn vẹn trong lịch sử của từng gia đình Mỹ và các gia đình khác tại các quốc gia khác nhau trên thế giới,...

...Chúng tôi gặp nhau tại Roma, bên tường khách sạn ”Eden” sang trọng và James cho tôi biết rõ ngọn ngành:
- Hoa Kỳ đang tìm kiếm và làm rõ số phận của 78 ngàn quân nhân Mỹ bị mất tích trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, 8 ngàn binh lính và sỹ quan ở Triều Tiên; 2130 - ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia; 90 quân nhân trong đội bay của 39 máy bay Mỹ bị hạ trên bầu trời Liên Xô trong thời ”Chiến tranh lạnh” từ năm 1950 đến hết năm 1965. Thời gian từ giờ đến cuối thế kỷ và thiên niên kỷ thứ 2 chỉ còn đếm được từng ngày, thế mà nhiều người vẫn còn chưa được coi là đã chết, tên tuổi của họ chưa được đưa vào danh sách trên tường của nghĩa trang Arlington ở Washington. Nga cũng đang tìm kiếm những người mất tích ở Afganistan, ở Trechnia, chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Các bạn cũng hãy giúp chúng tôi!

Ủy ban liên hợp Nga-Mỹ (được thành lập vào tháng 3 năm 1992 dưới sự bảo trợ của 2 tổng thống Hoa Kỳ và Liên bang Nga) đặt cho mình các mục đích nhân đạo chưa không phải tình báo, thực hiện thu thập và xử lý các dữ liệu và tài liệu lưu trữ. Không ít thành tựu đã đạt được. Một trong những phát hiện những năm gần đây là tài liệu về các quân nhân Xô viết bị mất tích trong chiến dịnh Phần Lan 1939-1940 và trong Chiến tranh Thế giới thứ 2. Phía Mỹ chuyển cho Nga hơn 8 ngàn trang tài liệu lưu trữ về số phận 475 ngàn người lưu lạc trong Chiến tranh Thế giới thứ 2, tài liệu về các phi công và lính tàu ngầm hy sinh trong ”Chiến tranh lạnh” và cả những người mất tích và hy sinh ở Afganistan. Phía Nga đã chuyển cho Uỷ ban hơn 12 ngàn trang tài liệu từng có thời là tuyệt mật được Mỹ nghiên cứu rất kỹ lưỡng. Một kết luận quan trọng được khẳng định và tôi xin nhắc lại: không một công dân Mỹ nào bị giữ ở Nga trái với ý muốn của họ. Trong trao đổi thông tin, các bên hoàn toàn tin tưởng lẫn nhau, tuân thủ các nguyên tắc hiểu biết lẫn nhau và tạo thuận lợi cho nhau, dù thông tin đó có tính chất tế nhị thế nào đi nữa. ”Mẫu số” chung trong các mối quan hệ giữa các cơ quan pháp lý được xác định, nhưng khi thảo luận đến những giá trị nhân đạo thì các bên thường giữ quan điểm cũ của mình. Chúng tuy gần nhau nhưng vẫn cần có định nghĩa phù hợp, cái được coi như điểm xuất phát để bắt đầu bước vào thế kỷ XXI. Không đối đầu, với trách nhiệm chung vì số phận của thế giới, với việc khôi phục sự công bằng, xứng đáng cho những ai phụng sự Tổ quốc mình mà từng bị coi là ”kẻ thù” tại các quốc gia khác, trong phe của đối thủ về tư tưởng, chính trị, quân sự. Anh hùng của dân tộc này có thể là cừu thù của dân tộc khác. Đã xây dựng được các tiêu chí thống nhất cho các khái niệm ”người yêu nước”, ”nhà tư tưởng”, ”tướng lĩnh” v.v.... Mỗi quốc gia có những danh nhân riêng. Họ được thế giới công nhận. Nhưng đó là về các thê đội cấp cao. Có những anh hùng ở ”cấp nhân dân”. Trong từng ”quốc gia Đông Dương riêng biệt”. Hầu như chẳng ai biết gì về họ.

Và ở đây các định hướng luân lý đạo đức, các điểm xuất phát cũng rất quan trọng. Ví dụ, đã đến lúc xem lại nhiều thứ, trong đó thậm chí phải từ bỏ những gì ở Mỹ hàng chục năm được coi là ”định lý” và công bố để ai cũng biết rằng không có bất kỳ quân nhân hay công dân Xô viết nào, nhà báo hay cán bộ y tế, cán bộ quân đội hay dân sự tham gia vào việc lấy cung tù binh Mỹ. Lời tuyên bố này sổ toẹt nhiều thứ: hàng chục tác phẩm văn học, điện ảnh được phát hành ở Mỹ. Nhưng thay cho các ”Rambo” Mỹ hiện tại thực tế vẫn chưa có các ”phản Rambo” - là những kịch bản và tiểu thuyết gay cấn, nơi các đối thủ Xô-Mỹ chống lại nhau trong các cuộc chiến khác nhau: Triều Tiên, Việt Nam, Châu Phi, Châu Mỹ La tinh, Afganistan, ở nhiều vùng và quốc gia khác nhau trên thế giới. Nhưng những viễn tưởng văn học không được bóp méo bức tranh hiện thực hơn nữa, không được khơi lòng thù hận nhau. Chúng tôi ở hai bên chiến tuyến, nhưng không đụng độ trực tiếp với nhau. Cuộc chiến được gọi là ”không tiếp xúc” đã diễn ra. Không quân Mỹ ném bom Việt Nam nơi chúng tôi, những người Xô viết, có mặt ở đó. Nhưng không chỉ có chúng tôi, cùng với chúng tôi có cả đại diện của nhiều quốc gia và dân tộc khác. Ở Hà Nội có nhân viên các đại sứ quán và cơ quan đại diện của tất cả các nước phe xã hội chủ nghĩa, đại diện của Uỷ ban quốc tế về kiểm tra và giám sát việc thực hiện Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương năm 1954 (lúc đó có Canada, Ấn Độ, Ba Lan), đại sứ quán và phái đoàn Pháp, An-giê-ri, Thuỵ Điển, Phần Lan, Cộng hoà Ả rập thống nhất, muộn hơn có Anh, Ý, Iraq. Trong số người bị chết vì bom không chỉ có 30 công dân Liên Xô mà có cả viên trung sỹ Ấn Độ của Uỷ ban quốc tế về kiểm tra và giám sát, đại sứ Pháp, một nữ công dân Cộng hoà Ả rập thống nhất, một nhà báo Columbia và những người khác.

Các nhà văn Nga nhiều lần đề nghị các đồng nghiệp Mỹ hợp tác viết sách và dựng phim về chiến tranh của Mỹ từ các quan điểm mới. Không có áp lực tư tưởng và tuyên truyền. Hiện chưa có hồi âm. Đây cũng là một trong số những bí ẩn vì sao nhiều ”bí mật” đến giờ vẫn là bí mật.

***
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #6  
Cũ 22-02-2013, 14:38
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Vâng, người Mỹ đã thử thực hiện vai trò ”sen đầm quốc tế”, cứu Nam Việt Nam khỏi ”xâm lăng phương Bắc”, cản trở quá trình thống nhất Việt Nam. Đồng thời Washington cũng tiến hành kiểm tra tất cả các loại vũ khí hiện đại trong các điều kiện tác chiến, chỉ trừ mỗi vũ khí hạt nhân. Đây là một thao trường lớn.

Liên Xô thực hiện và đã thực hiện xong nghĩa vụ quốc tế giúp Việt Nam, đồng thời cũng thử nghiệm vũ khí của mình và nghiên cứu vũ khí của người khác.

Gần 60% sự giúp đỡ (thể hiện trong giá trị vật chất) là của nhân dân Liên Xô; 35% - của Trung Quốc và 5% của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) còn lại và của tất cả loài người tiến bộ. Sự giúp đỡ này không vụ lợi, nhưng Moskva cũng xem Việt Nam như một ”bãi” thử nghiệm đặc biệt. Trong thời gian chiến tranh có 22 ngàn chuyên gia làm việc tại Việt Nam. Vũ khí chiến đấu của Mỹ không thể không khiến các chuyên gia quân sự Liên Xô chú ý. Ví dụ, ở Việt Nam các bác sỹ quân y Xô viết lần đầu tiên được tiếp cận với bom bi, với các loại đạn gây sát thương rộng và các ”phát minh” khác của trí tuệ quân sự Hoa Kỳ. Đại tá quân y Karl Tabatagie, công dân Moskva, người đầu tiên trong điều kiện dã chiến, không có máy chụp X-quang, đã tiến hành phẫu thuật cứu người bị thương bởi bom bi.

Đại uý tên lửa Valery Kuplevakhsky, một trong những người đầu tiên tìm ra cách vừa tiêu diệt được muc tiêu là máy bay Mỹ, vừa bảo vệ được các trạm ra-đa của mình. Nhóm chuyên gia của tuỳ viên quân sự, Anh hùng Liên Xô, phi công chiến đấu, đại tá (sau được phong thiếu tướng) Aleksei Ivanovich Lebedev đã khẳng định được rằng ”Mig-19” và ”Mig-21” trong tay phi công Việt Nam hoàn toàn có khả năng đọ sức ”ngang ngửa” với bất kỳ loại máy bay nào của Mỹ. Còn ”B-52” bất khả chiến bại trong thập kỷ 50, hay máy bay tiêm kích cánh cụp cánh xoè ”F-111A”-sản phẩm mới của không quân Mỹ thập kỷ 60, bị ”tơi tả” bởi các đơn vị tên lửa. Bây giờ người Mỹ nhớ lại những chuyện đó để làm gì?! Màn ”quảng cáo” thất bại trên thị trường vũ khí, cũng là đòn giáng vào tinh thần yêu nước Hoa Kỳ.

Còn cán cân trong lĩnh vực thông tin đại chúng ra sao? Trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lược Mỹ có hơn 2,5 ngàn nhà báo Mỹ và phương Tây tác nghiệp tại Sài Gòn. Tại Hà Nội chỉ có 5 phóng viên đến từ Moskva đăng ký. Thật khó để viết về chiến tranh. Nhiều thứ bị giấu kín. Phải có giấy phép của cơ quan kiểm duyệt quân sự. Không có nó thì không một bức ảnh nào từ mặt trận được đăng tải. Danh tính của đại đa số người tử trận không được công bố. Không ai biết gì về họ. Những người như thế trong số công dân Liên Xô làm việc ở Việt Nam, xin nhắc lại, là 30 người.

Bây giờ người ta đặt ra cho chúng tôi - các nhà báo - những câu hỏi đã từng được cho là tế nhị. Ví dụ, chính quyền Việt Nam có cho phép nhà báo nước ngoài phỏng vấn phi công tù binh Mỹ không? Các cuộc gặp gỡ với tù binh được Bộ Ngoại giao VNDCCH tổ chức thường xuyên. Tất nhiên lúc đó không có và không thể có những cuộc phỏng vấn đúng nghĩa như thường thấy ngày nay. Trước hết, việc này không được các công ước quốc tế cho phép. Phi công trong tình trạng sốc nặng sau khi máy bay bị bắn hạ, phải nhảy dù. Được phép nhìn thấy mặt họ, chụp ảnh họ, nhưng đừng đề cập đến chuyện hỏi-đáp. Song bao giờ cũng công khai cái quan trọng nhất: số hiệu trên bộ áo liền quần đặc trưng của phi công. Các phóng sự của chúng tôi, trong đó có dẫn ra số hiệu riêng của ”các phi công mặc pijama”, một mặt như là bằng chứng rằng ”tên giặc lái” đã bị trừng phạt, mặt khác chứng minh là phi công Mỹ còn sống và sau này biết người để mà tìm, mà lập và tra soát thông tin, để họ được trở về Tổ quốc. Đây giống như ”sứ mệnh kép” của chúng tôi: vửa tố cáo các chứng cứ xâm lược và thông tin về dư luận xã hội của thế giới, vừa thông báo cho Lầu năm góc về số phận của các phi công Mỹ bị bắn rơi trên vùng trời Việt Nam. Bộ Ngoại giao VNDCCH có biết và chú ý đến điều này.

Một trong những phi công như vậy là đại uý Peterson, bị bắn rơi cách Hà Nội 60 km vào một đêm tháng 2 năm 1968. Ông ngồi trong trại giam của Việt Nam 6 năm rưỡi, sau đó về Mỹ phục vụ quân đội tiếp tới hàm đại tá, giải ngũ và trở thành nghị sỹ, còn sau đó thành… đại sứ Hoa Kỳ đầu tiên tại Việt Nam. Trường hợp hy hữu nhưng không phải nó không xảy ra! Bây giờ, sau cái chết của bà vợ Sharlotta, ông thậm chí còn cưới một phụ nữ Việt Nam, chỉ có điều bà mang quốc tịch Úc.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #7  
Cũ 22-02-2013, 14:41
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Nhưng thời đó không phải lúc nào và cái gì cũng có thể viết. Còn bây giờ? Khi các cánh cửa hé mở thì chúng tôi đã bạc đầu. Venia Nikolsky, trưởng phân xã Thông tấn ”Tin tức” tại Hà Nội, hy sinh trong thời chiến và dàn quân nhạc tại lễ truy điệu đã làm lộ ông còn thuộc biên chế của Cục tình báo Bộ Quốc phòng (GRU). Không còn nữa phóng viên báo ”Sự thật” Ivan Shedrov, Aleksandr Serikov-Alabin (Serbin), hiệu thính viên Nikolai Solntsev, phóng viên ”Tin tức” Boris Shumeev. Rất nặng nề để tiếp tục danh sách giờ đã trở nên dài này. Rồi còn bao nhiêu quân nhân nữa, trong đó có cả trung tướng Vladimir Abramov.

Tôi đang cạnh tranh một vị trí cao về độ giàu có thông tin. Với đầy đủ ý thức trách nhiệm tôi nhấn mạnh: từng thông tin của tôi đều được chắt qua trái tim, trí nhớ, tư tưởng và lọc qua nhận thức, thời gian. Và đây là ”những định hướng” chính:

- Không khi nào và không có bất kỳ ”nhóm đặc nhiệm”, đội ”đặc trách” nào được KGB và GRU thả xuống rừng rậm Nam Việt Nam để thực hiện các hoạt động tình báo và biệt kích.

- Mùa xuân năm 1975, khi chiến dịch ”Hồ Chí Minh” được bắt đầu tại miền Nam Việt Nam, các cơ quan tình báo Xô viết cũng như Ban Chấp hành trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, không được thông báo trước về nó và không một ai đoán trước được sự sụp đổ của Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975. Sau đó thì đương nhiên TẤT CẢ đều biết TẤT CẢ.

- Các cố vấn quân sự Liên Xô không đồng hành cùng các đoàn xe tăng tiến xuống Nam Việt Nam, ở Lào hay Cam-pu-chia.

- Tình báo chính trị và quân sự Liên Xô ở Đông Dương gặp cùng một lúc vài cản trở: đặc điểm thời chiến, chế độ di chuyển, khó khăn trong tiếp xúc với công dân Việt Nam. Chủ ý từ phía Việt Nam tránh cho người Nga và Trung Quốc chạm mặt nhau trên lãnh thổ Việt Nam, tại cảng Hải Phòng, sau đó là Sài Gòn và Đà Nẵng... Việt Nam tế nhị tính đến sự đối đầu Xô-Trung, hạn chế để xảy ra những ”tiếp xúc” không mong đợi.

- Tuỳ viên quân sự Aleksei Ivanovich Lebedev (thiên hạ đồn rằng vị này số ”hên”. Tháng 5 năm 1967, một quả đạn pháo rơi trúng tầng trệt ngôi nhà khi chủ nhân đang cạo râu ở tầng 2 mà ông thậm chí không hề bị vết xước nào) từng sẵn sàng cho bất kỳ ai ”tắm trong rượu” (tiền khi đó không thông dụng) nếu mang đến cho ông bất kỳ chi tiết điện tử nào từ máy bay Mỹ bị bắn rơi. Lebedev lúc đó có 3 trợ lý: trung tá Evgeni Legostaiev, Ivan Shport, và Ilya Rabinovich. Người thứ 3, như thiên hạ nói, là nhà báo ”hụt”, có thể lập báo cáo trên giấy tất cả những gì đồng nghiệp thu thập được mà không hề bước ra khỏi phòng làm việc. (Còn sống giờ chỉ có thiếu tướng về hưu người Moskva Ivan Petrovich Shport, sau này từng là tuỳ viên quân sự ở Washington và Praha).

- Tình báo Liên Xô ở Việt Nam (và điều này phải thú nhận với sự tiếc nuối lớn) đã không sẵn sàng ngay từ đầu chiến tranh. Nếu như bộ máy tư tưởng của Liên Xô, các nước XHCN, phong trào cộng sản và công nhân quôc tế, lực lượng giải phóng dân tộc, phát động các cuộc biểu tình chống chiến tranh với tốc độ rất nhanh và mạnh mẽ, thì các phương tiện tình báo đối ngoại rõ ràng không theo kịp. Các ”đòn bẩy” xã hội, đảng phái... hoá ra lại mạnh hơn nhiều.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:38
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #8  
Cũ 22-02-2013, 14:44
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Trong những năm 1964-1965 tại Hà Nội chỉ có 4 cán bộ tình báo (tính cả nhân viên mật mã) làm việc tại phòng đại diện Cục 1 KGB Liên Xô trong Đại sứ quán dưới mác ngoại giao. Và chỉ có mỗi một nhân viên tình báo (nhà ngoại giao), tốt nghiệp Đại học quan hệ quốc tế Moskva (MGIMO) năm 1962, lúc đó mang quân hàm trung uý Georgi Sergeevich Pesherikov, biết tiếng Việt (những người khác giống như ”thợ giày đi chân đất”). Ông được Aleksandr Petrov, nhà ngoại giao ”sạch”, nhà bác học tương lai, ”hỗ trợ” trong công việc. Ngay trong GRU, ở tất cả các vụ không có một nhân viên nào biết tiếng Việt. (trung uý phiên dịch đầu tiên xuất hiện vào năm 1967). Mà tiếng nói lại không phải là vũ khí cuối cùng trong kho vũ khí của người tình báo. Đến cuối chiến tranh GRU và KGB cử hàng chục chuyên gia Việt Nam học sang Hà Nội. Nhưng chiến tranh đã đến hồi kết. Còn lúc đầu cuộc chiến, những huân, huy chương chiến công đầu tiên trao cho Georgi Sergeevich Pesherikov (ông qua đời ngày 7 tháng 8 năm 1996) có giá đắt. Với một vài điệp viên ông gặp gỡ vài lần trong một tuần. Lần nào thần kinh cũng căng thẳng cao độ, lần nào cũng là những thử thách với sức chịu đựng và nghị lực.

Trong văn học lịch sử và ”trinh thám-phản gián” Xô viết hay Nga, trong phim truyện hay tài liệu, tôi thậm chí không thấy có bất kỳ cốt truyện nhỏ nào về Việt Nam, mà trong đó có hình tượng siêu nhân Xô viết, thậm chí chỉ là ”cái bóng” của Rambo. Tại sao? Phải chăng là sự khiêm nhường Xô viết quá mức? Đơn giản chỉ là ”chủ đề yêu nước Xô viết” không cần ở xứ Đông Dương, khi mà sức mạnh của chủ nghĩa chống Mỹ, chống đế quốc, tình đoàn kết quốc tế các dân tộc được phát động và hoạt động hiệu quả hơn. Sức mạnh này cùng với tinh thần dũng cảm Việt Nam đã trở thành một trong số những yếu tố chủ yếu làm nên chiến thắng xâm lược Hoa Kỳ. Có vấn đề với kiểm duyệt, với siêu bảo mật. Nhưng người kiểm duyệt to nhất nằm trong chính mỗi chúng tôi: các nhà báo, nhà văn, nhà sử học, thậm chí cả các nhà địa chất, địa vật lý. Không còn các nhà văn Mikhail Lukonin, Konstantin Simonov, Evgeni Dolmatovsky, Leonid Sobolev, Iulian Semenov, những người ”viết và chụp” khác... Không còn các nhà khoa học Zelentsov, Vorozhtsov, Eidlin, Kozhevnikov, Isaev... Tất cả họ còn trong ký ức của chúng tôi, tất cả họ đều là thành viên ”hàm thụ” mãi mãi của buổi gặp mặt các chiến binh quốc tế ngày 5 tháng 8 tại Moskva. Nhưng sự ”vắng mặt vĩnh viễn” của họ giờ đây không biện hộ cho những ”người Nga trầm lặng” và các nhân vật khác không xuất hiện dưới ngòi bút của chúng tôi trong các tác phẩm nghiêm túc với cốt truyện gay cấn.

Và bây giờ chúng tôi mới đưa ra kết luận, Việt Nam đã hoàn toàn nhất quán trong chính sách của mình. Họ đã chịu những tổn thất to lớn, nhưng hoàn thành các nhiệm vụ chiến lược đã đặt ra được đúc kết trong Di chúc của Hồ Chí Minh: đất nước đã giành chiến thắng, quốc gia thống nhất Bắc Nam, không rời khỏi con đường của mình vào những năm 90. Trung thành với lời thề trước mộ những người đã hy sinh là công việc vĩ đại mà chúng tôi đang cố gắng thực hiện.

Việt Nam không thay đổi trước những gì xảy ra trên thế giới trong thập kỷ 90 của thế kỷ XX, một trong số không nhiều quốc gia không quên lòng biết ơn đối với nhân dân Liên Xô đã giúp đỡ và ủng hộ.

”Ngày 5 tháng 8” đối với những người quốc tế Đông Dương chúng tôi mang một ý nghĩa tượng trưng. Và đó không đơn giản chỉ là ngày kỷ niệm. Đó là ngày đau thương. Không chỉ đối với chúng tôi. Cho đến tận bây giờ ở Washington, New York, dọc theo phố Pensilvania và Đại lộ số 5, những chiếc xe jeep Mỹ méo mó với các khẩu súng cối trần trụi của các cựu chiến binh chiến tranh Việt Nam vẫn diễu hành ngang dọc. Họ yêu cầu không cho phép những cuộc chiến phiêu lưu mới tại bất kỳ điểm nào trên hành tinh, ở châu Âu, châu Á, châu Mỹ La tinh, châu Phi, họ giữ gìn ký ức về quá khứ.

***
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #9  
Cũ 22-02-2013, 15:37
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Hồi tưởng - đó là cái nhiều trong tất cả những cái ít ỏi còn lại trong chúng ta. Chúng tôi đã sống qua ”Tây Ban Nha những năm 30”, qua Vệ quốc vĩ đại, qua khủng hoảng Ca-ri-bê, qua Đông Dương - Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia, muộn hơn - Afganistan, giờ đây - Chesnia... của mình.

Câu chuyện của tôi thú vị bởi chính những cái mà tôi cho phép mình thấy nhiều và biết nhiều. Tháng 5 năm 1945, khi chiến tranh đã kết thúc, tôi còn kịp làm nổ phuy xăng trong sân nhà trên phố Tretya Meshanskaya. Hai anh em bác sỹ Filatov phẫu thuật cho tôi. Họ cứu được tôi, cả cái mặt lẫn đôi mắt... Khoảng 20 năm sau, sau khi tốt nghiệp MGIMO về chuyên ngành Phương Đông học với kiến thức tiếng Việt, tôi sang Đông Dương làm phóng viên thường trú cho báo ”Tin tức” ngay sau thời điểm Mỹ bắt đầu ném bom Việt Nam. 9 năm chiến tranh dài đằng đẵng trôi qua ở đó. Ở đó tôi trở thành nhân chứng cuộc xung đột quân sự Việt-Trung vào tháng 2-tháng 3 năm 1979. Nó làm tôi nhớ lại nhiều về những sự kiện năm 1969 trên biên giới Xô-Trung. Sau đó là Afganistan năm 1980. Hiện nay trên Trái đất này không có một phóng viên thường trú, phóng viên đặc biệt nào lại được trải nghiệm cả Việt Nam, cả Afganistan, cả biên giới Xô-Trung và Việt-Trung. Có Ivan Mikhailovich Shedrov (phóng viên báo ”Sự thật”) từng như tôi, nhưng ông đã mất ở Paris (năm 1987). Ông là một nhà báo đặc biệt.

Chúng tôi, những người quốc tế, bắt tay nhau tại nhiều châu lục khác nhau, nhưng không quên quá khứ. Giờ đây chúng tôi phải nhìn lại quá khứ với sự chính xác lịch sử, không định kiến chính trị hay hệ tư tưởng, không tiên nghiệm ”phải” và ”trái”. Vì tất cả mọi người hành động theo luật pháp, theo quyền và theo phong tục của mình. Bởi vậy bây giờ chúng ta, hãy lấy hết lòng dũng cảm và thẳng thắn dân sự, để công nhận tất cả những người đã bảo vệ bầu trời Hà Nội, tất cả những người vượt qua lưới lửa phòng không dày đặc tới châu thổ sông Hồng, mạo hiểm mạng sống để ném bom các mục tiêu trong cơn ác mộng chiến tranh - đều là những chiến binh kiên cường. (Hơn 4 ngàn máy bay bị bắn rơi chỉ tại miền Bắc Việt Nam.). Trong bản tổng hợp quân sự bí mật năm 1971 cho thấy, trên lãnh thổ VNDCCH có 735 tù binh Mỹ. Những người chết không tính. Trong một tài liệu khác năm 1972 đã đưa ra con số 1205 người gồm phi công và những người Mỹ khác. Con số này cao hơn nhiều số 591 người quay về Mỹ đầu năm 1973 trong chiến dịch hòa bình ”Hồi hương”. Đằng sau chiến dịch này là cuộc thương lượng ngoại giao, quân sự-chính trị lớn giữa Hoa Kỳ, Bắc, Nam Việt Nam với sự tham gia của các đồng minh và đối tác của họ.

Nhưng nếu như người sống, dù khó, song vẫn có thể tìm được, thì với những người đã chết, bị vùi trong rừng rậm, núi cao, bãi bồi ven biển, việc tìm kiếm gian nan gấp vạn lần. Đối với Washington các phi công là những anh hùng; đối với Hà Nội - họ là quân thù, bị gọi một cách khinh bỉ là ”giặc” hay ”bọn”. Các xử sự tương tự được dành cho tất cả những ai tham chiến bên phía Mỹ. Nhưng ngược lại, ở Hàn Quốc, Thái Lan, Phi-lip-pin, Niu Di-lân và Úc lại đối xử với những người sang lò lửa chiến tranh Việt Nam như những người hùng. Dù sao họ cũng là người ra trận, đi vào chỗ chết, nhiều khi không hề nghĩ là vì lợi ích của ai, vì cái gì. Họ chỉ biết một điều mạng sống, nỗi sợ của họ có giá bao nhiêu một năm, một tháng, một ngày... Với ”Liên Xô” thì ngược lại, người ta biết chiến đấu vì cái gì, nhưng không có tờ séc nào trong ngân hàng hết. ”Chúng tôi mang bên mình chiếc mũ cối và mảnh cánh của ”F-105”!.. ”- khi ấy, những chiến binh quốc tế hôm nay đã hát vang như thế.

Ngày nay chúng tôi biết đoạn đầu và đoạn kết của nhiều sự kiện. Lòng căm thù trong thời chiến đã tạo nên sức mạnh. Cô gái bé nhỏ áp giải người phi công Mỹ khổng lồ và không bắn vào hắn thậm chí ngay cả khi hắn có ý bỏ chạy. Đó là lệnh: phi công cần bắt sống để xử lý nhiều vấn đề hậu chiến.

Bà mẹ Việt Nam trong hầm trú ẩn ghì chặt đứa con nhỏ vào lòng và thầm thì: ”Khóc to lên, con trai! Khóc cho kẻ thù nghe thấy bất chấp tất cả chúng ta vẫn sống!” Và họ sống, chiến đấu và vươn lên. Giờ đây, gần 30 năm trôi qua, lòng căm thù giống như dòng nước lũ đã thấm qua bãi cát thời gian... Lòng căm thù - đó là cảm xúc, song đó cũng là ”nền” của lịch sử.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #10  
Cũ 22-02-2013, 15:41
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Chúng tôi qua mọi nẻo đường đất Việt,
Mây mù giăng trên rừng rậm đẫm sương.
Trái tim Nga mang vết thương sâu thẳm.
Việt Nam ơi, còn đó những đau thương.


Đó là lời bài ca của chúng tôi, do Valery Kuplevakhsky viết. Còn trung tướng Vladimir Nikitovich, nguyên Trưởng đoàn chuyên gia quân sự ở Việt Nam thập kỷ 60 kịp lập ”Bản thống kê cuộc đời và hoạt động” của tất cả những ”người Xô viết Việt Nam” trước khi vĩnh biệt chúng tôi năm 1998. Đại tướng Aleksei Ivanovich Lebedev, Anh hùng Liên Xô cũng đã qua đời. Các đồng nghiệp ghi nhớ mãi những chiến công của ông. Một trong số đó là trung tá (thời điểm tháng 2 năm 1967) Ivan Petrovich Shport. Bao nhiêu lần ông mạo hiểm tính mạng! Có lần ông vừa ra khỏi nhà thì mảnh pháo Mỹ rơi thẳng vào...giường ngủ... ”Nước Nga và Chúa che chở cho chúng tôi”. Và che chở cho cả Ivan cho chúng tôi... Ai cũng bảo: ”Shport sinh ra trên nhung lụa với mảnh đạn pháo trên giường”... (nguyên văn ”Shport sinh ra trong chiếc áo với mảnh đạn pháo trên giường” - thành ngữ ”sinh ra trong chiếc áo” chỉ người luôn gặp may mắn, số hên - người dịch).

Ba chục năm trôi qua... Nhưng tất cả bây giờ vẫn như ngay trước mắt. Tất cả bạn hữu trong những năm tháng ấy. Georgy Pesherikov, bạn đồng môn đại học và đồng nghiệp cùng nhóm MGIMO ở Đông Dương. Ông giải ngũ sớm, khó khăn lắm mới được nhận hưu và danh hiệu danh dự chiến binh quốc tế, mất ngày 7 tháng 8 năm 1996. Ông hoàn toàn có thể trở thành hình tượng một ”Rambo” Nga, ”Rambo” Liên Xô. Con người với sức mạnh, sự bền bỉ, lòng dũng cảm, trung thực và cởi mở phi thường. Ở Hà Nội mỗi ngày ông thực hiện 3-5 cuộc tiếp xúc theo kế hoạch và cũng ngần ấy cuộc ngoài kế hoạch. Không tính nổi số lượng rượu, bia cơ thể ông tiếp nhận hằng ngày. Khi có 3 phi công Mỹ đào ngũ được đưa đến khách sạn ”Metropol” (”Thống nhất”) dưới sự bảo vệ của bộ đội để chuẩn bị chuyển sang Thụy Điển, Georgy nghĩ ra cách dòng dây chuyển chai vodka lên tầng 3 cho họ để đổi lấy thông tin cần thiết. Georgy Sergeivich qua đời trong cô đơn tại bệnh viện của KGB, được hỏa táng và chôn tại nghĩa trang Peredelkino. Nghiêng mình trước nấm mộ nhỏ bé của ông chỉ có con gái Marina, người vợ cuối Tamara và... một nhúm bạn bè Đông Dương còn lại trên thế gian. Còn Anatoly Balashov, Efim Georgievich Ivanov, ”nạn nhân thời đại” Victor Dubograi... Vladimir Pospekhov, Aleksandr Petrov...
Cuộc đời của nhiều ”Rambo” Xô viết ở Đông Dương trôi qua không đơn giản trong và sau chiến tranh Việt Nam. Nhưng đây là những nhân cách lớn. Kolos Borisovich Tregubenko - đại tá, điệp viên, hoạt động tại Hà Nội khi quân đội yêu nước giải phóng miền Nam Việt Nam. Con người trong sạch, lạc quan, năng nổ, con rể đại tướng Epishev. Sau Việt Nam ông chuyển sang In-đô-nê-xi-a làm cố vấn. Ở đó nhân viên dưới quyền ông (đại tá Vladimir Piguzov) bị bắt và xử bắn do bị tình báo Mỹ chiêu nạp từ khi còn làm việc tại Lào. Kolos Borisovich giải ngũ và ít lâu sau qua đời trong một cơn đột quỵ.

***

...Tôi mở điểm thường trú đầu tiên của báo ”Tin tức” tại Đông Dương thời chiến, nhìn thấy chiến tranh bắt đầu và kết thúc như thế nào, là nhân chứng của tất cả các sự kiện chính, quen với nhiều nhân vật quân sự, chính trị cấp cao. Tôi hạnh phúc được gặp gỡ nhiều lần với Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tôn Đức Thắng, hàng chục lần phỏng vấn ông Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Nguyễn Hữu Thọ, ở Lào được sống trong các hang động của ”hoàng thân đỏ” Xu-va-nu-vong, Cay-xỏn Phôm-vi-hản, Nu-khắc, gặp gỡ với Xu-van-na Phu-ma; ở Cam-pu-chia - với Xi-ha-núc, Lon-lon, Khiêu Xam-phon và với nhiều nhà cách mạng và phản động khơ-me khác. Tôi biết nhiều về Pol Pot.

Tôi viết cuốn sách này về tất cả Đông Dương trong các giai đoạn từ năm 1939 đến 1979. Về những bí mật và động cơ của 4 cuộc chiến tranh.

Người Việt gọi đất nước mình là ”quốc gia bách chiến bách thắng”. Thế kỷ XX ghi nhận 4 chiến thắng lịch sử của nhân dân Đông Dương. Câu chuyện của tôi về họ là của một nhà báo, nhà sử học, người làm chứng và người tham gia các sự kiện bị hùng đó.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Huonghongvang (26-02-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #11  
Cũ 22-02-2013, 20:54
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Chương II
TỪ VIỆT MINH ĐẾN VIỆT CỘNG. CÁC CUỘC ĐỌ SỨC

SỰ ĐẠI BẠI VÀ RÚT LUI CỦA NHẬT

Nhà sử học Việt Nam Nguyễn Khắc Viện, người tôi đề nghị nhận xét cho bộ sách “Phong tục, tập quán Việt Nam”, kể lại:
- Từ những ngày đầu Chiến tranh Thế giới thứ 2, giới cai trị Pháp đã ra sức sử dụng tối đa các nguồn lực của thuộc địa Đông Dương để tăng cường tiềm năng quân sự cho chính quốc. “Tăng đóng góp của Đông Dương đến tột cùng cho sức mạnh quân sự Pháp” - Pa-ri đã giao nhiệm vụ như vậy cho chính quyền bản xứ.

Vào ngày Pháp tuyên chiến với Đức ở Đông Dương cũng ban bố lệnh tổng động viên. Chế độ làm việc ngày 10 tiếng (9 tiếng đối với phụ nữ) được thiết lập. Sưu thuế tăng cao, tiền công, tiền lương bị cắt giảm đối với hầu hết các tầng lớp trong xã hội. Chính quyền thực dân tuyên bố đưa Đảng Cộng sản ra ngoài vòng pháp luật và tiến hành tiêu diệt tất cả các tổ chức công khai hoặc bán công khai do những người cộng sản thành lập. Làn sóng đàn áp, bắt bớ lan khắp Việt Nam, hàng vạn người bị đày ra Côn Đảo, vào các nhà tù ở Lao Bảo, Nghĩa Lộ và ra cả nước ngoài. Viên toàn quyền công khai tuyên bố phải “bảo vệ an ninh và giữ Đông Dương trung thành với Pháp”.

Sau thất bại tháng 6 năm 1940 của Pháp ở Châu Âu vị thế của chính quốc ở Đông Dương bị suy yếu nghiêm trọng. Quân đội Nhật đã tiến sát biên giới Việt-Trung từ tháng 5 năm 1940.

Ở phía Nam Đông Dương, thực dân Pháp xung đột với tham vọng bành trướng của Thái Lan. Băng Cốc, với sự hỗ trợ của Nhật, tranh chấp chủ quyền vùng lãnh thổ ở tây bắc khu vực Biển Hồ và cả rẻo đất bờ phải dọc sông Mekong thuộc Lào. Các đội quân Việt Nam nhận lệnh đi đánh lại quân đội Thái Lan. Quân đồn trú ở Sài Gòn nổi loạn. Việc này phù hợp với kế hoạch của Xứ ủy Nam kỳ Đảng Cộng sản Đông Dương, từ tháng 6 năm 1940 đã tích cực chuẩn bị nhân dân khởi nghĩa, kết hợp nổi dậy trong binh lính với phong trào nổi dậy của nhân dân khắp các tỉnh thành Nam bộ.

Cuộc khởi nghĩa lẽ ra phải được bắt đầu vào đêm ngày 23 tháng 11 năm 1940, nhưng chính quyền thực dân đã phát hiện được kế hoạch của những người cách mạng và tước vũ khí của binh sỹ. Kết quả là lực lượng yêu nước chỉ nổi dậy được tại 8 trong số 20 tỉnh thành Nam bộ. Ở tỉnh Mỹ Tho có 54 trong số 100 làng đã khởi nghĩa. Tại đây lần đầu tiên xuất hiện lá cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh, sau này trở thành quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập. Cuộc khởi nghĩa bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu. Nhiều làng mạc bị đốt cháy, hơn 29 ngàn người bị bắt và xử bắn, trong đó có các nhà lãnh đạo phong trào cộng sản Nguyễn Văn Cừ (lúc đó là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương), Phan Đăng Lưu, Nguyễn Thị Minh Khai và những người khác.

Sau năm 1940 quân chiếm đóng Nhật cấu kết với chính quyền Vichy Pháp nhằm giữ chế độ thuộc địa. Để thỏa mãn các lợi ích của Pháp, đồng thời trang trải những chi phí chiến tranh ngày càng phình to của mình, Nhật đẩy mạnh bóc lột kinh tế Đông Dương. Các phong trào yêu nước bị đàn áp với sự tàn bạo khủng khiếp.

Chính quyền Pháp chấp thuận cho Nhật bố trí các lực lượng quân sự lớn ở Bắc kỳ, đồng thời cắt 70 ngàn km2 lãnh thổ Lào và Cam-pu-chia cho Thái Lan sử dụng. Cái được gọi là “Thỏa ước phòng thủ Nhật-Pháp” ký ngày 9 tháng 12 năm 1941, thực tế nó cho phép quân đội Nhật chiếm đóng toàn bộ Đông Dương. Tóm lại, ngay từ khởi đầu chiến tranh trên Thái Bình Dương, Đông Dương đã bị biến thành căn cứ quân sự và nơi vơ vét tài nguyên của phát xít Nhật - thành viên Hiệp ước Bec-lin - Roma - Tokyo.

Trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ 2 chính quyền thực dân Pháp phải cung cấp gạo cho Nhật: năm 1941 – 585, năm 1942 – 973, năm 1943 – 1023, năm 1944 – 900 ngàn tấn. Thời gian đầu Nhật trả bằng vàng hoặc các mặt hàng công nghiệp, nhưng nguồn dự trữ của Nhật cạn rất nhanh và từ tháng 12 năm 1942 Nhật thanh toán bằng “đồng yên đặc biệt” (thực chất là trái phiếu Nhật bị mất giá).

Vừa bóc lột nguồn tài nguyên và nhân lực của Việt Nam, vừa đàn áp tàn khốc bất kể hình thức hoạt động cách mạng nào, phát xít Nhật vừa đồng thời tuyên truyền ý tưởng thành lập “Khối Đại Đông Á thịnh vượng” dưới sự bảo trợ của Nhật. Trong khuôn khổ khối này, Việt Nam dường như có thể trở thành quốc gia tự chủ. Các khẩu hiệu của chủ nghĩa sùng Á “Châu Á là của người Á!”, “Đả đảo bọn da trắng dã man!” v.v... vang lên khắp chốn. Người Nhật tích cực chiêu nạp tay sai trong tầng lớp địa chủ và tư sản, thành lập vô số đảng phái dân tộc (gần như tất cả các tổ chức này đều tự xưng là “đảng Đại Việt”, sau năm 1944 thì tan rã hết.)
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 13:40
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #12  
Cũ 22-02-2013, 21:03
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Đầu năm 1941, sau nhiều năm bôn ba ở nước ngoài lãnh tụ Hồ Chí Minh trở về Tổ quốc. Tháng 5 năm 1941 tại Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), ông triệu tập Hội nghị VIII Ban Chấp hành trung ương (BCHTƯ) Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị nhấn mạnh cách mạng Việt Nam giai đoạn này là một bộ phận của phong trào chống phát xít thế giới, đứng đầu là Liên Xô. BCHTƯ quyết định bắt đầu tích cực chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang. Với mục đích này, việc thành lập và củng cố lực lượng du kích và tự vệ, cũng như các căn cứ kháng chiến, đã được tính đến.

“Cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc Tổng khởi nghĩa to lớn” - Hồ Chí Minh viết.

Việt Nam độc lập đồng minh hội, gọi tắt là mặt trận Việt Minh ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Lực lượng chủ yếu cấu thành mặt trận là các hội cứu quốc của công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ v.v... gồm cả tư sản dân tộc và địa chủ yêu nước. Cờ đỏ sao vàng được xác lập là biểu tượng của Việt Minh.

Đến cuối năm 1943 các đội vũ trang của Việt Minh đã hoạt động trên khắp vùng núi rừng Việt Bắc rộng lớn (nằm ở phía bắc đồng bằng sông Hồng). Năm 1944 Việt Bắc trở thành vùng giải phóng. Các căn cứ du kích cũng được thành lập ở vùng trung Trung bộ và Nam bộ. Tháng 12 năm 1944, theo chỉ đạo của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đội tuyên truyền vũ trang đầu tiên được thành lập - đứa con đầu lòng của Giải phóng quân Việt Nam (tên đặt như vậy để thể hiện tính chất chính trị trong hoạt động của quân đội). Chỉ huy đội quân là Võ Nguyên Giáp. Trang sử đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN), lực lượng chiến đấu trên chiến trường chính tại vùng Đông Nam Á trong và sau Chiến tranh Thế giới thứ 2, được bắt đầu như vậy.

Đến đầu năm 1945 viễn cảnh thất bại hoàn toàn của các nước thuộc trục phát xít không thể đảo ngược. Chế độ Vichy ở Pháp sụp đổ, Nhật chịu hết thất bại này đến thất bại khác ở Trung Quốc cũng như trên Thái Bình Dương. Ở Đông Dương những người ủng hộ tướng Charles de Gaulle, đặc biệt là cánh quân sự, tìm mọi cách để níu giữ sự đô hộ của Pháp. Phát biểu tại Brazzaville (Công-gô) ngày 8 tháng 2 năm 1945 de Gaulle chỉ hứa hẹn trao một phần tự trị cho Đông Dương. Chính phủ mới ở Pháp chuẩn bị đưa các lực lượng quân sự sang Viễn Đông để đảm bảo “sự hiện diện của Pháp” tại vùng đất này của thế giới.

Để cảnh cáo các hành động của Pháp, ngày 9 tháng 3 năm 1945 quân đội Nhật đồng loạt tấn công các trại lính Pháp trên khắp Đông Dương và chỉ sau vài giờ đã tiêu diệt hoặc giam giữ các lực lượng vũ trang chủ yếu của Pháp. Ngày 10 tháng 3 chính phủ Nhật tuyên bố phế bỏ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương. Cũng ngay hôm đó đại diện Nhật gặp gỡ với vua Bảo Đại và đề nghị ông hợp tác với Nhật. Lúc đầu vị vua này không đưa ra câu trả lời dứt khoát.

Các đảng phái thân Nhật, đặc biệt là tổ chức có tên gọi “Liên minh dân tộc Đại Việt”, phát động chiến dịch tuyên truyền nhằm thuyết phục quần chúng tin vào “lòng cao thượng và thiện chí” của người Nhật, vào sự ưu việt của “Đại Đông Á”. Bảo Đại ban chiếu hủy toàn bộ các thỏa thuận với Pháp và khôi phục nền “tự chủ” của Việt Nam trong khuôn khổ “Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á” do Nhật Bản đứng đầu.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #13  
Cũ 22-02-2013, 21:12
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Mặt trận Việt Minh tiên đoán được sự đảo chính tất yếu của Nhật. Vào đêm mùng 9 rạng mùng 10 tháng 3, khi các đội quân Nhật giải giáp quân Pháp, tại làng Đình Bảng, cách Hà Nội 16 km, BCHTƯ Đảng Cộng sản Đông Dương họp phiên mở rộng. Không ngoại trừ khả năng Pháp quay lại nắm chính quyền, Trung ương Đảng chỉ rõ trong năm 1945 kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật và chế độ quân phiệt. Chiến tranh thế giới bước vào giai đoạn quyết định. Quân đội Nhật rơi vào tình thế không lối thoát tại vùng Thái Bình Dương. Thời cơ cách mạng đã chín muồi. Trong hoàn cảnh đó Đảng và Mặt trận Việt Minh kêu gọi quần chúng nhân dân chuẩn bị nổi dậy giành chính quyền.

Sự quan tâm chính tập trung cho việc tăng cường các hoạt động du kích tại vùng núi và đồng bằng, kêu gọi nông dân chiếm các kho thóc, tuyên truyền chính trị tại các thành phố lớn. Đấu tranh chính trị bùng nổ tại Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế. Đến tháng 8 năm 1945 trên cả nước, kể cả vùng núi, vùng dân tộc thiểu số hoạt động cách mạng của quần chúng ngày một sôi sục. Các hoạt động này mang tính chất cả chính trị lẫn vũ trang. Sau thất bại của đội quân Quan Đông trước Hồng quân Liên Xô và sau khi Mỹ ném bom nguyên tử xuống Hirosima và Nagasaki, Nhật đầu hàng. Tại làng Tân Trào (tỉnh Tuyên Quang) đã khai mạc Hội nghị quốc dân của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết tổng khởi nghĩa được thông qua. Mục đích là: đánh đuổi xâm lược, giành độc lập dân tộc và thiết lập chính quyền nhân dân. Chiến thuật được xác định là kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Ban hành các chỉ thị về giành chính quyền, giao nhiệm vụ tập hợp các lực lượng cách mạng tại các trung tâm quan trọng của đất nước, làm kẻ thù hoang mang và buộc phải đầu hàng.

Ngày 16 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh triệu tập đại diện các tổ chức quần chúng yêu nước, các dân tộc và các liên minh tôn giáo họp Quốc dân đại hội. Đại hội nhất trí thông qua lời kêu gọi tổng khởi nghĩa, nhấn mạnh sự cần thiết phải “cướp chính quyền từ tay Nhật và chính phủ bù nhìn trước khi quân đồng minh tới Đông Dương để đón tiếp họ với tư cách là người chủ đất nước”. Vấn đề là phải đi trước quân đội “đồng minh” (quân Tưởng Giới Thạch, Anh, Pháp, Mỹ), những kẻ đã có kế hoạch chiếm và buộc Đông Dương phải chịu ách đô hộ của mình.

Đại hội thông qua chương trình gồm 10 điểm. Kế hoạch khởi nghĩa hoàn toàn bí mật:
1. Giành lấy chính quyền, xây dựng một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà trên nền tảng hoàn toàn độc lập.
2. Võ trang nhân dân. Phát triển quân Giải phóng Việt Nam.
3. Tịch thu tài sản của giặc nước và của Việt gian, tuỳ từng trường hợp sung công làm của quốc gia hay chia cho dân nghèo.
4. Bỏ các thứ thuế do Pháp, Nhật đặt ra; đặt một thứ thuế công bằng và nhẹ.
5. Ban bố những quyền của dân cho dân: Nhân quyền; Tài quyền (quyền sở hữu); Dân quyền: Quyền phổ thông đầu phiếu, quyền tự do dân chủ (tự do tín ngưỡng, tự do tư tưởng, ngôn luận, hội họp, đi lại), dân tộc bình quyền, nam nữ bình quyền.
6. Chia lại ruộng công cho công bằng, giảm địa tô, giảm lợi tức, hoãn nợ, cứu tế nạn dân.
7. Ban bố Luật lao động; ngày làm 8 giờ, định lương tối thiểu, đặt xã hội bảo hiểm.
8. Xây dựng nền kinh tế quốc dân, phát triển nông nghiệp. Mở Quốc gia ngân hàng.
9. Xây dựng nền quốc dân giáo dục; chống nạn mù chữ, phổ thông và cưỡng bách giáo dục đến bậc sơ cấp. Kiến thiết nền văn hoá mới.
10. Thân thiện và giao hảo với các nước Đồng minh và các nước nhược tiểu dân tộc để giành lấy sự đồng tình và sức ủng hộ của họ.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #14  
Cũ 22-02-2013, 21:21
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Trong cuộc trò chuyện với tôi, ông Nguyễn Khắc Viện nói:
- Chương trình này có ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn đó và giai đoạn tiếp theo của cách mạng Việt Nam. Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập thực hiện các chức năng của Chính phủ lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu. Ngay trong ngày thành lập Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra kêu gọi toàn dân tổng khởi nghĩa. Lời kêu gọi được kết thúc như sau:
“Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang ganh nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ”.

Khởi nghĩa tại 3 thành phố lớn - Hà Nội, Huế và Sài Gòn kết thúc thắng lợi. Ngày 19 tháng 8 hơn 100 ngàn người dân đổ ra các đường phố Hà Nội, chính quyền thuộc về tay nhân dân khởi nghĩa.

Để tránh đổ máu, đại diện Mặt trận Việt Minh thuyết phục vua Bảo Đại, lúc đó đang ở Huế - thủ đô phong kiến, thoái vị. Ngày 23 tháng 8 Bảo Đại, theo lời khuyên của thái hậu, đã vĩnh viễn từ bỏ ngai vàng. Ngày 25 tháng 8 phái đoàn của chính phủ nhân dân từ Hà Nội vào đã tiếp nhận ấn, kiếm - biểu trưng của chính quyền quân chủ, từ tay Bảo Đại.

Ngày 25 tháng 8 các đội vũ trang khởi nghĩa đã chiếm hết các vị trí then chốt và cơ quan hành chính tại Huế. Gần 1 triệu dân Sài Gòn và các vùng lân cận diễu hành thể hiện sự đoàn kết với cách mạng. Cuộc tổng khởi nghĩa năm 1945 ở Việt Nam đã kết thúc thắng lợi. Cách mạng tháng Tám đã chấm dứt 80 năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân, lật đổ chế độ phong kiến, đuổi quân phiệt Nhật, khôi phục nền độc lập cho Việt Nam. Như đoạn kết huy hoàng, ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi mà những tiếng súng cuối cùng của Chiến tranh Thế giới thứ 2 chấm dứt, tại Hà Nội, trên quảng trường Ba Đình cổ kính, trước hàng vạn quần chúng nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

- Sau khi cách mạng thành công, - ông Nguyễn Khắc Viện tiếp tục kể,- Mặt trận Việt Minh được mở rộng và củng cố. Mặt trận tập hợp được vào đội ngũ của mình những tổ chức xã hội mới: các hiệp hội yêu nước của giới công thương, tu hành, sinh viên, công chức v.v... Chính quyền cách mạng đặc biệt chú ý đến việc củng cố sự thống nhất giữa các dân tộc và tôn giáo. Ngày 8 tháng 12 năm 1945 đại biểu của 20 dân tộc đã tụ hội về Hà Nội từ mọi miền đất nước. Họ thiết lập các nguyên tắc thống nhất, bình đẳng và tương trợ lẫn nhau giữa tất cả các nhóm dân tộc. Đại diện các tôn giáo khác nhạu: Phật, Thiên chúa, nhánh Cao Đài, Hòa Hảo cũng tán thành các nguyên tắc chung này và bày tỏ ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập và xây dựng Việt Nam mới của giới tín ngưỡng.

Ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh về bầu cử Quốc hội. Ngày 6 tháng 1 năm 1946 tất cả công dân Việt Nam đi bầu cử. Ở Nam bộ, dù thực dân trấn áp song hơn 90% cử tri hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình. Đại đa số cử tri bỏ phiếu chọn các đại biểu của Mặt trận Việt Minh. Như vậy một lần nữa nhân dân Việt Nam lại thể hiện sự tín nhiệm của mình với Việt Minh và Chính phủ của Hồ Chí Minh (Chủ tịch nhận được 98% phiếu bầu của cử tri Hà Nội).

- Hơn 300 đại biểu được bầu vào Quốc hội khóa I đại diện cho các tầng lớp xã hội, dân tộc, tổ chức chính trị và giáo phái khác nhau, - ông Trần Duy Hưng, Thị trưởng Hà Nội đầu tiên, kể với tôi. - Tại kỳ họp Quốc hội đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận được sự tín nhiệm tuyệt đối.

Với mục đích mở rộng khối dân tộc thống nhất, tháng 5 năm 1946 Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là mặt trận Liên Việt) được thành lập. Thành phần là các đảng phái, tổ chức xã hội và cá nhân, do lý do nào đó trước đây không tham gia Mặt trận Việt Minh. Mặt trận thống nhất là chỗ dựa trực tiếp của chính quyền mới ở các địa phương.

Với khởi đầu của Cách mạng tháng Tám, tại hầu hết các tỉnh, huyện, làng bộ máy hành chính cũ – quan lại, chánh tổng, lý trưởng – trao lại chính quyền cho lực lượng cách mạng mà không có bất cứ sự chống đối nào. Theo sắc lệnh số 63 do chính phủ mới ban hành, tại tất cả các địa phương trong cả nước các hội đồng được thành lập, sau đó hội đồng bầu ra các ủy ban hành chính phù hợp. Như vậy, chỉ sau một thời gian ngắn hệ thống các cơ quan của chính quyền nhân dân được hình thành, đảm nhiệm tất cả các chức năng của nhà nước và với sự ủng hộ của nhân dân đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ đó.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #15  
Cũ 22-02-2013, 21:27
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Chính phủ mới nhanh chóng triển khai các trách nhiệm của mình, quan tâm đặc biệt đến việc thực hiện các cải cách dân chủ, củng cố các lực lượng vũ trang và tạo dựng nền tài chính quốc gia ổn định.

Ngày 31 tháng 1 năm 1946 Chính phủ công bố sắc lệnh về phát hành và lưu thông tiền tệ của nước VNDCCH (đồng), đầu tiên ở Trung bộ sau đó trên toàn quốc. Tiền đồng được lưu hành song song với đồng bạc Đông Dương. Bước đầu tiên trong công cuộc xây dựng nền kinh tế quốc dân độc lập đã được thực hiện. Nhưng ngay lập tức cũng xác định được những đe dọa từ bên ngoài. Trong thỏa thuận giữa Pháp, Mỹ và Anh có cho phép quân đồng minh chiếm đóng một phần lãnh thổ trên bán đảo Đông Dương. Phía bắc vĩ tuyến 16 là quân Tưởng Giới Thạch, phía nam là quân Anh - lực lượng, bằng các hoạt động của mình, tìm mọi cách chuẩn bị cho “sự quay lại của người Pháp”. Đứng nấp sau lưng 200 ngàn lính Tưởng của tướng Lữ Hán là các sỹ quan Mỹ. Tại trung tâm hành chính của các tỉnh Lào Cai, Lạng Sơn, và Quảng Yên giáp với biên giới Trung Quốc quân Tưởng và các nhóm dân tộc chủ nghĩa “Việt Cách”, “Việt Quốc” tiêu diệt chính quyền cách mạng, lập ra các cơ quan quản lý bù nhìn.

Hoảng sợ trước khí thế cách mạng tại Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch không dám công khai xâm lược Việt Nam. Nhưng 200 ngàn quân lính của Lữ Hán là mối đe dọa thường trực đối với nước cộng hòa non trẻ. Chính sách của chính phủ Hồ Chí Minh trong quan hệ với Tưởng là tránh các xung đột trực tiếp với quân đội của Lữ Hán, đồng thời không cho phép họ can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Chiến lược này hoàn toàn đúng đắn. Quân Tưởng dần dần rút khỏi Việt Nam.

Sau thất bại của Nhật, chính phủ Pháp thực hiện hàng loạt biện pháp khẩn cấp để thử khôi phục lại chính quyền của mình tại Đông Dương. Binh đoàn lính chiến, sư đoàn bộ binh lê dương được điều đến gần bờ biển Việt Nam. Tổng chỉ huy quân đội Anh ở Nam Á, tướng Mounbatten, đã làm tất cả những gì có thể để đẩy nhanh việc chuyển quân Pháp tới Đông Dương: đế quốc Anh lo lắng về tương lai các thuộc địa của mình ở Châu Á và cố giúp Pháp khôi phục càng sớm càng tốt bá quyền ở Đông Dương. Ngày 23 tháng 8 một đội lính dù Pháp nhảy xuống một vùng thuộc Nam bộ, trong số đó có phái viên của cao ủy Cedille. Quân Nhật cho Cedille vào Sài Gòn, lúc đó còn khoảng 30 ngàn người Pháp. Ngày 29 tháng 89 Cedille gặp gỡ với đại diện Ủy ban cách mạng Nam bộ và tuyên bố rằng Pháp không công nhận cả độc lập, cả thống nhất của Việt Nam, còn nhân dân Việt Nam không chấp nhận bất kỳ sự áp bức và bạo lực nào của chính quyền thực dân. Ngày 2 tháng 9 binh lính Pháp nấp trong nhà thờ đã bắn vào các đoàn biểu tình khiến 47 người thiệt mạng và bị thương.

Ỷ vào sự bảo trợ của quân Anh, binh lính Pháp được thả tổ chức nhiều cuộc khiêu khích. Ngày 13 tháng 9 quân đội Anh chiếm trụ sở của Ủy ban hành chính Nam bộ và cho người Pháp treo cờ tam tài. Ngày 19 tháng 9 Cedille tuyên bố rằng phải tái lập “trật tự” tại Việt Nam và lập “chính phủ” mới phù hợp với tuyên bố của de Gaulle ngày 23 tháng 3 năm 1945.

Ngày 20 tháng 9 tướng Anh Grasay ra lệnh đóng tất cả các tờ báo Việt Nam, ngày 21 tháng 9 áp lệnh thiết quân luật, đòi giải thể lực lượng an ninh Việt Nam và giao nộp vũ khí. Phía Việt Nam bất tuân lệnh này. Khi đó Grasay thả thêm 1400 tù binh Pháp và trang bị vũ khí cho họ. Những người này ngày 22 tháng 9 đã gây ra hàng loạt vụ lộn xộn và chiếm giữ một số đồn cảnh sát.

Làn sóng kháng chiến đầu tiên bắt đầu như vậy. Ủy ban hành chính Nam bộ kêu gọi nhân dân đứng lên chống xâm lược. Khắp nơi vang lên khẩu hiệu “Độc lập hay là chết!” Ngày 26 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu đồng bào Nam bộ. Các đơn vị Quân đội nhân dân bắt đầu Nam tiến. Người Pháp không thể mở rộng sự kiểm soát của mình ra ngoài địa giới Sài Gòn. Đêm đêm quân du kích không để họ được yên ổn.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #16  
Cũ 23-02-2013, 08:22
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Bị rơi vào tình cảnh khó khăn, những kẻ thực dân quyết định đàm phán. Cuộc gặp giữa hai bên tham chiến được tổ chức vào ngày 2 tháng 10. Ủy ban hành chính Nam bộ yêu cầu các đại diện Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam. Đại diện phái Pháp từ chối đề nghị của Ủy ban, sau một tuần ngưng chiến các hoạt động quân sự lại tiếp tục. Những đơn vị của quân đội viễn chinh đầu tiên đổ bộ xuống phía Nam. Tướng Gracay hứa hỗ trợ họ. Đáp lại, Ủy ban hành chính Nam bộ gửi công hàm nêu rõ:
“Chúng tôi đối xử tôn trọng với quân đội Anh-Ấn đang thực thi sứ mệnh của mình, nhưng nếu họ có ý định lập lại sự cai trị của Pháp thì toàn bộ nhân dân Việt Nam sẽ đứng lên bảo vệ nền độc lập của mình...”

Ngày 21 tháng 10 quân đội Anh-Pháp tấn công đồng bằng sông Mekong - vựa lúa đất nước và các vùng đồn điền cao su. Sau đó, vào tháng 11 và 12 năm 1945, họ tiến lên Tây Nguyên và đưa các đơn vị quân đội xuống Nam Trung bộ.

Đến cuối tháng 1 năm 1946 với sự hỗ trợ của lực lượng xe bọc thép và hải quân, thực dân Pháp kiểm soát được các thành phố chính và đầu mối giao thông ở Nam bộ, phần Nam Trung bộ và cao nguyên Trung phần. Tránh những trận chiến không cân sức, lực lượng vũ trang Việt Nam rút khỏi các thành phố và bắt đầu chuẩn bị cho kháng chiến tại các vùng nông thôn. Bao vây kinh tế và hoạt động phá hoại trở thành các phương pháp đấu tranh chủ yếu của Việt Minh tại các trung tâm thành thị. Các cơ sở kháng chiến lớn được lập trên vùng Bãi Sậy tỉnh Bến Tre và trong rừng U Minh phía Tây Nam bộ.

Tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố:
“Bọn thực dân Pháp phải biết rằng: dân Việt Nam không muốn đổ máu, dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến. Vì dân Việt Nam tin chắc rằng thế nào cuộc kháng chiến này cũng thành công”.

Ngày 25 tháng 11 năm 1945 các sắc lệnh về kháng chiến được thông qua. Đây là các nhiệm vụ (trước mặt tôi là các bản tài liệu của thời gian đó) của kháng chiến:
“...Cắt đứt giao thông giữa các thành phố bị chiếm đóng, tổ chức phong tỏa kinh tế, cách ly chính trị và không để địch được yên về quân sự... Tiến hành chiến tranh du kích ở mọi nơi, vận động người dân thành thị thực hiện chính sách không hợp tác với địch, còn người dân nông thôn tiến hành chiến thuật tiêu thổ. Giữ liên lạc giữa các quân khu khác nhau. Để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, cần phải chuẩn bị chi tiết cả kế hoạch tấn công, cả kế hoạch rút lui.”

“...Chuẩn bị trường kỳ kháng chiến và gửi lực lượng hỗ trợ miền Nam là nhiệm vụ trọng tâm của Chính phủ và toàn dân. Chúng ta phải hiến dâng tất cả sức lực và tính mạng của mình cho sự nghiệp kháng chiến, cho mặt trận miền Nam.”

Và kết quả không phải chờ lâu. Tướng Pháp Pelle đã viết:
“Kẻ thù ở khắp mọi nơi. Không có mặt trận nào như thế này, không có các tuyến phòng thủ cố định, nơi mà các phương tiện chiến tranh hiện đại của chúng ta có thể sử dụng hiệu quả. Từng bụi tre, từng túp lều đều có thể là nơi ẩn náu của đối phương. Binh sỹ chúng ta lúc nào cũng căng thẳng tột độ, bởi ở bất cứ đâu, vào bất cứ thời điểm nào họ đều có thể chạm mặt với kẻ thù không thể phát hiện”.

Còn đây là lời kể của một lính thủy Pháp, người trước khi sang Đông Dương tưởng rằng tới đó để chiến đấu chống phát xít Nhật:

“Ở Đông Dương quân đội Pháp hành xử cũng y như phát xít Đức tại Pháp. Họ làm tôi kinh tởm. Tại sao hằng ngày máy bay của chúng ta lại nã đạn vào những dân chài không vũ khí? Tại sao binh lính của chúng ta lại cướp của, đốt nhà, giết người? Không lẽ đây lại là cái văn minh mà chúng ta đang khai hóa? Trước chúng ta không phải là một đám nổi loạn, mà là cả một dân tộc tràn đầy quyết tâm bảo vệ quyền tự do của mình. Mỗi người dân ở đây đều là Việt Minh. Không thể nào tiêu diệt được cả một dân tộc”.

Người lính thủy đã viết những dòng này năm 1946 gửi về cho gia đình là Henry Martin.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Huonghongvang (26-02-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #17  
Cũ 23-02-2013, 08:26
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Những tháng đầu năm 1946 tình hình phức tạp nổ ra ở miền Nam. Người Pháp chiếm được các thành phố lớn, nhưng bất lực trước quân du kích. Ngoài ra, một khi chính quyền cách mạng vẫn tồn tại ở Hà Nội thì sự chiếm đóng miền Nam không thể bền vững. Tiếp tục các chiến dịch quân sự và nhận được tiếp viện từ chính quốc, thực dân Pháp bắt đầu chuẩn bị kế hoạch chia tách Nam bộ và lập ra “chính phủ tự trị” ở đây. Sự hiện diện của quân Tưởng tại miền Bắc là chỗ dựa cho các đảng phái phản động và là mối đe dọa thường xuyên đối với chính quyền nhân dân Hà Nội.

Thực dân Pháp tiến hành đàm phán với Tưởng Giới Thạch. Họ nhận được sự đồng ý từ phía Tưởng cho quân Pháp thế chỗ quân Tưởng ở Bắc Đông Dương. Đổi lại, Pháp trả lại tô giới và nhượng địa của Pháp trên đất Trung Quốc, “trao” cho Tưởng quyền được tự do vận chuyển hàng hóa trên tuyến đường sắt Hải Phòng-Vân Nam, “đặc khu” Hải Phòng và xác lập quy chế đặc biệt cho Hoa kiều ở Đông Dương. Hiệp ước này được ký kết ngày 28 tháng 2 năm 1946. 4000 lính Pháp trước đó đóng tại Trung Quốc tiến vào Việt Nam qua vùng Lai Châu. Cùng thời gian đó lực lượng tiếp viện từ Pháp cũng chuẩn bị cập cảng và đổ bộ vào Hải Phòng.

Để tránh xung đột cùng một lúc với cả quân Pháp và quân Tưởng, chính phủ Việt Nam quyết định nhượng bộ để tranh thủ thời gian. Ngày 6 tháng 3 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh và đại diện Chính phủ Pháp ký Hiệp ước sơ bộ gồm các điểm sau đây:

1. Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đối với Nam bộ, Pháp cam kết tuân theo quyết định của nhân dân khi thực hiện trưng cầu dân ý.

2. Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẵn sàng hữu hảo tiếp nhận quân đội Pháp khi họ vào thay thế quân Tưởng theo các hiệp ước quốc tế.

3. Ngay sau khi ký kết Hiệp ước các bên thực hiện mọi biện pháp cần thiết để chấm dứt các hoạt động vũ trang, giữ nguyên quân đội tại các vị trí đang đóng quân, tạo hoàn cảnh thuận lợi để sớm bắt đầu đàm phán hữu nghị và cởi mở. Tại các cuộc đàm phán này sẽ xem xét quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các nước khác, tương lai của Đông Dương và các lợi ích kinh tế của Pháp tại Việt Nam.

Sau ngày 6 tháng 3 năm 1946 15 ngàn quân Pháp tiến vào Hà Nội. Cùng lúc 200 ngàn quân Tưởng cùng các phần tử phản động của các nhóm “Việt Quốc”, “Việt Cách” rút khỏi Việt Nam.

Ở miền Nam người Pháp không dừng các chiến dịch càn quét, tiếp tục ném bom và đàn áp những người Việt Nam yêu nước. Vài tuần sau khi ký Hiệp ước Cao ủy Pháp Thierry d'Argenlieu dựng lên “chính phủ Nam Kỳ Quốc” với ý đồ tách vĩnh viễn Nam bộ khỏi phần lãnh thổ còn lại của Việt Nam. Đến thủ đô VNDCCH, tướng Leclerc tuyên bố rằng “Hà Nội là giai đoạn giải phóng cuối cùng”. Giới lãnh đạo phản động Pháp ở Pa-ri khẳng định họ sẽ dễ dàng chiếm toàn bộ Đông Dương, dân Việt Nam sẽ không có cả nguồn lực vật chất, cả phương tiện chiến tranh để chống lại sức mạnh quân sự của Pháp. Những lời khẳng định này không phải là không có cơ sở. Các đàm phán sơ bộ tại Đà Lạt kéo dài từ tháng 4 đến tháng 5 năm 1946 đã cho thấy lập trường khác nhau của các bên. Việt Nam kiên định tự chủ quốc gia trong chính sách đối nội cũng như đối ngoại và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. Pháp đưa ra dự thảo “Liên minh Đông Dương” đứng đầu là Thống sứ người Pháp và đòi làm đại diện của Việt Nam trong tất cả các mối quan hệ quốc tế. Pháp muốn đưa Việt Nam vào khu vực đồng phrăng. Tất cả những đòi hỏi này đều nhằm mục đích khôi phục lại hệ thống thuộc địa cũ nhưng dưới tên gọi mới. Mâu thuẫn chính nằm trong vấn đề vị thế pháp lý của Nam bộ, lãnh thổ mà Pháp muốn chia cắt khỏi phần còn lại của đất nước. Đoàn đại biểu Việt Nam giữ vững nguyên tắc một Việt Nam thống nhất.

... Tháng 10 năm 1946 Quốc hội VNDCCH giao cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập nội các mới trên cơ sở đoàn kết rộng rãi các lực lượng dân tộc. Cũng tại kỳ họp này Quốc hội thông qua Hiến pháp, tuyên bố Việt Nam là một quốc gia thống nhất từ Bắc tới Nam. Và đó là nền tảng pháp lý của một quốc gia thống nhất.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #18  
Cũ 23-02-2013, 08:30
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Để đáp trả, lính Pháp đẩy mạnh khiêu khích quân sự, xâm phạm quyền tự chủ của Việt Nam. Những kẻ thực dân rắp tâm lập hải quan của mình tại Hải Phòng, cảng biển duy nhất kết nối Bắc Việt Nam với thế giới bên ngoài, còn phí hải quan là nguồn thu quan trọng của ngân sách. Ngày 20 tháng 11, quân đội Pháp nổ súng vào bộ đội Việt Nam ở Hải Phòng và Lạng Sơn. Cũng trong ngày hôm đó tàu chiến Pháp ở Hải Phòng trút đạn vào các khu dân cư. Hàng ngàn dân thường bị chết. Chiếm được Hải Phòng và Lạng Sơn - cửa ngõ vào Bắc Việt Nam - bộ chỉ huy Pháp cho rằng đã kiểm soát được Bắc bộ. Chính phủ VNDCCH kêu gọi toàn dân chuẩn bị kháng chiến, nhưng đồng thời cũng cố gắng cứu vãn hòa bình lần cuối: nhượng bộ và kí với đại diện dân sự Pháp những hiệp ước mới. Nhưng ngay cả các hiệp ước này cũng bị quân đội Pháp vi phạm.

Quân Pháp chuyển sang tổ chức các cuộc khiêu khích ngang nhiên ngay tại Hà Nội. Ngày 17 tháng 12 lính Pháp chiếm phố Hàng Bún gần khu vực buôn bán Hàng Đào, giết gần 100dân thường. Ngày 18 tháng 12 chúng chiếm Bộ Tài chính và Bộ Giao thông. Quần chúng nhân dân và các đội tự vệ dựng chiến lũy, đào hào giao thông từ nhà này sang nhà khác, chuẩn bị chống trả sự tấn công của kẻ thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi công hàm tới Léon Blum, Thủ tướng Pháp vừa được bổ nhiệm, yêu cầu tuân thủ các hiệp ước đã ký kết. Không có câu trả lời. Ngày 19 tháng 12 Bộ chỉ huy Pháp ra tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam yêu cầu gỡ bỏ chiến lũy, giải giáp vũ khí các đội tự vệ, giao cho quân đội Pháp quyền “giữ gìn trật tự” ở thủ đô Việt Nam.

Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời hiệu triệu nhân dân:
“Hỡi đồng bào toàn quốc!
Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
Hỡi đồng bào!
Chúng ta phải đứng lên!
Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước.
Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân!
Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.
Dù phải gian lao kháng chiến, nhưng với một lòng kiên quyết hy sinh, thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”
(Tài liệu này được lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Hà Nội)

Kháng chiến trước đó chưa từng ra khỏi ranh giới miền Nam đã giờ đã bùng nổ trên toàn quốc.
... Những đồng nghiệp cùng thời sinh viên của tôi như An (sau này là đại sứ ở An-giê-ri), Du, Ất, Nam và 10 bạn đồng khóa Việt Nam khác, những sinh viên Việt Nam đầu tiên của MGIMO, khi đó đã cầm súng ra trận. Tôi được nghe những câu chuyện của họ. Họ kể rằng trong kháng chiến chống Pháp nhân dân Việt Nam là đại diện của phong trào cách mạng thế giới, gắn bó chặt chẽ với cuộc đấu tranh của các lực lượng độc lập dân tộc và dân chủ trên Trái đất. Đến tận năm 1950 Việt Nam vẫn bị cách ly về địa lý với các nước phe XHCN. Sau thành công của cách mạng Trung Quốc và sự ra đời của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tháng 10 năm 1949, nhân dân Việt Nam đã chọc thủng vòng vây kẻ thù và có thể dựa vào được các nước phe XHCN trong công cuộc đấu tranh của mình. Sự hỗ trợ quốc tế đã nhân sức mạnh của đất nước đang chiến đấu lên đáng kể và giúp tạo ra bước ngoặt trong cuộc chiến từ cầm cự chuyển sang tổng phản công, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ. Cùng lúc đó, từ năm 1950 trong cuộc đấu tranh yêu nước của Việt Nam đã xuất hiện nhân tố phức tạp mới - sự can thiệp của đế quốc Mỹ. Chiến tranh Việt Nam vào giai đoạn cuối trở thành cuộc chiến Pháp-Mỹ chống lại những người yêu nước Việt Nam và phong trào giải phóng dân tộc tại khu vực này.

- Chúng tôi cho rằng, sự xâm lược của Hoa Kỳ đã bắt đầu từ khi đó, vào năm 1950, - ông Vũ Đăng Ất, thầy dạy tiếng Việt của tôi, nói. (Chúng tôi, những nhà Việt Nam học Xô viết đầu tiên chịu ơn anh Ất rất nhiều, không chỉ vì kiến thức tiếng Việt, phong tục, tập quán dân tộc Việt Nam. Chúng tôi yêu Việt Nam. Khi còn ở Hà Nội, năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 20 tháng 11- ngày Nhà giáo, chúng tôi lại tập trung ở nhà anh Ất. Một con người sâu sắc, một trí thức Việt Nam chân chính).
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Huonghongvang (26-02-2013), Nhật Minh (23-02-2013), rung_bach_duong (28-02-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #19  
Cũ 23-02-2013, 09:34
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

KHI CUỘC CHIẾN ĐẦU TIÊN...

Kháng chiến chống thực dân Pháp bắt đầu ngày 23 tháng 9 năm 1945 ở miền Nam Việt Nam và lan ra toàn quốc từ ngày 19 tháng 12 năm 1946. Đó là các mốc lịch sử.
Gây ra chiến tranh, những kẻ thực dân toan tính sử dụng ưu thế rõ rệt về vũ khí và số lượng lính chính quy, thử đánh nhanh và tiêu diệt những đơn vị vũ trang ít kinh nghiệm và được trang bị kém của Việt Nam, bắt những người lãnh đạo kháng chiến.

Lực lượng kháng chiến Việt Nam chống lại kế hoạch chiến tranh chớp nhoáng ở Đông Dương bằng chiến lược kháng chiến trường kỳ, toàn dân. Bản chất của chiến lược này là kêu gọi toàn dân chống giặc và trong quá trình kháng chiến thành lập 3 loại hình lực lượng vũ trang phù hợp với tính chất cuộc chiến và điều kiện thực tế: quân chủ lực, quân địa phương, du kích và dân quân. Các tổ chức vũ trang và bán vũ trang này phối hợp và hỗ trợ lẫn nhau chặt chẽ. Tùy thuộc vào tình hình cụ thể, kháng chiến có thể mang thế phòng thủ hoặc tấn công, nhưng từ góc độ tác chiến và chiến thuật chỉ có tấn công với mục tiêu trước hết là tiêu diệt lực lượng đối phương nhiều nhất có thể, chứ không phải cố giữ các vùng giải phóng.

Sự đúng đắn của chiến thuật và chiến lược này được khẳng định ngay từ những tháng đầu chiến tranh, trong cuộc chiến bảo vệ Hà Nội. Tại đây, trong hơn 2 tháng (cuối tháng 12 năm 1946 - đầu tháng 3 năm 1947) Trung đoàn Thủ đô của Vệ quốc quân đã đẩy lùi các cuộc tấn công của địch với 6500 binh lính và sỹ quan, có sự yểm trợ của lực lượng không quân và xe tăng, xe bọc thép. Địch mất 500 lính bị thiệt mạng và 1500 bị thương vong. Quân kháng chiến tận dụng được thời gian và củng cố lực lượng.

Nhân dân không “bám chặt” nơi sinh sống. Đây cũng là đặc điểm của giai đoạn đầu kháng chiến. Hàng loạt thành phố bị chính những người dân phá hủy hoàn toàn, không để kẻ thù có cơ hội đóng tại quê hương mình. Họ đánh sập cầu công, tháo dỡ đường sắt, phá đường bộ. Giao thông bị cắt đứt, không có các tiện nghi tối thiểu, những cuộc đột kích liên tục của du kích đã buộc Pháp phải rời khỏi hàng loạt thành phố phía Bắc: Phú Thọ, Việt Trì, Thái Nguyên. Tại Tam Đảo, cách Hà Nội 70 km, trong khu “Thác Bạc” du kích đánh sập hơn 50 biệt thự sang trọng của thực dân. Mục đích: thấy cảnh tàn phá, quân Pháp sẽ phải rút. Chúng chẳng có chỗ nào để quay lại và quay lại cũng chẳng để làm gì. Người Châu Âu khó hiểu logic này, nhưng đây là phương Đông. Mà đúng như thế thật. Người Pháp rời Tam Đảo vĩnh viễn. Họ còn chỗ nào để quay lại đâu... Trước mặt tôi người ta phá tháp chuông và nhà thờ ở Tam Đảo. “Để làm gì?” – tôi hỏi. “Thế chúng ở đây để làm gì?” - câu hỏi trả lời cho câu hỏi.

Trong khi chiến sự diễn ra ở các thành phố thì tại vùng núi hẻo lánh Việt Bắc, nơi Chính phủ VNDCCH sơ tán, các căn cứ được thành lập phục vụ cho cuộc đấu tranh lâu dài với ngoại xâm. Các “làng kháng chiến” xuất hiện trên khắp đất nước.

Ngày 7 tháng 10 năm 1946 Pháp huy động 5 tiểu đoàn bộ binh, 2 tiểu đoàn lính dù, 2 tiểu đoàn công binh, 40 máy bay, 800 xe bọc thép và hạm đội tàu chiến trên sông tấn công chiến khu Việt Bắc. Nhiệm vụ thứ nhất - tiêu diệt đầu não của Vệ quốc quân và phá tan trung tâm lãnh đạo kháng chiến. Việt Bắc phải bị kẹp trong gọng kìm được hình thành, từ một hướng là các cánh quân di chuyển ngược theo sông Hồng và sông Lô, hướng khác là các đơn vị bộ binh vòng tới Việt Bắc từ phía vùng biên giới Lạng Sơn. Theo dự tính, cả vùng này sẽ bị lính nhảy dù chà sát. Bộ chỉ huy Pháp hy vọng vào yếu tố bất ngờ. Lúc đầu quân Pháp có thu được những kết quả tích cực mang ý nghĩa cục bộ. Nhưng lực lượng kháng chiến kịp tổ chức lại và giáng đòn đáp trả. Quân xâm lược chịu thất bại nặng nề nhất trong trận chiến trên sông Lô (24 tháng 10 và 10 tháng 11 năm 1947). Đến cuối năm 1947 địch mất 4000 quân chết và bị thương. 13 máy bay, 38 tàu chiến và ca nô, 255 xe quân sự bị phá hủy và buộc phải rút quân về Hà Nội. Một bộ phận quân Pháp cố thủ ở các thị trấn Lào Cai, Cao Bằng, Thất Khê, Lạng Sơn. Chiến thắng Việt Bắc là chiến thắng chiến lược lớn đầu tiên trong kháng chiến. Chiến lược chiến tranh chớp nhoáng bị phá sản. Từ thời điểm này Pháp lún sâu vào cuộc chiến dai dẳng và tốn kém.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!

Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 23-02-2013 thời gian gửi bài 09:49
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
  #20  
Cũ 23-02-2013, 09:38
Мужик's Avatar
Мужик Мужик is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2009
Đến từ: Hà Nội
Bài viết: 4,008
Cảm ơn: 3,327
Được cảm ơn 9,511 lần trong 3,059 bài đăng
Default

Hết hy vọng thắng nhanh, từ năm 1948 quân Pháp tính đến việc đảm bảo cho mình các hậu phương vững chắc, thực hiện chiến thuật “bình định” các vùng chúng chiếm được. Ở Nam bộ và Trung bộ Pháp tiến hành hàng loạt chiến dịch tiễu phạt lớn. Dọc theo các tuyến đường giao thông trong vùng tạm chiếm các lô cốt bê tông được dựng lên. Nhưng chính chúng lại trở thành các cái bẫy đá dành cho quân Pháp.

Mở rộng chiến tranh du kích không ảnh hưởng tới việc thực hiện các chiến dịch quân sự lớn tại các địa phương thuộc Nam bộ: La Ngà (2 tháng 3), Tầm Vu (19 tháng 4), Sóc Xoài (ngày 3 tháng 8), Mộc Hoá (16 tháng 9), các trận đánh lớn tại các tỉnh miền Trung như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, tại Nghĩa Lộ và dọc quốc lộ 4 ở miền Bắc. Đối lại, Pháp thực hiện chính sách “dùng người Việt trị người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” (giống như chiến lược “Việt Nam hoá” chiến tranh của người Mỹ sau này). Thực dân Pháp tăng cường chiêu nạp quan lại bù nhìn địa phương, tuyển mộ thanh niên gia nhập vào quân đội viễn chinh và quân đội bù nhìn, tuyên bố thành lập “Nhà nước của người Thái” (tháng 3 năm 1948) và “Nhà nước của người Nùng” (tháng 5 năm 1948) và của các dân tộc thiểu số khác. Cùng lúc, Bộ chỉ huy Pháp đồng thời tiếp tục các chiến dịch tấn công tại các vùng khác nhau của Việt Nam. Ở Bắc bộ họ tập trung chiếm toàn bộ tam giác chiến lược Hà Nội-Sơn Tây-Hoà Bình. Ở Trung bộ họ tiến hành nhiều đợt tấn công vào các tỉnh vùng tự do phía Nam (được gọi là khu 4) Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên. Đến cuối năm 1948 số lượng lính của quân đội viễn chinh Pháp tăng lên tới 150 ngàn người, còn chi phí cho chiến tranh Đông Dương năm đó đạt ngưỡng 300 tỷ phrăng.

Đối với công cuộc kháng chiến của Việt Nam việc xây dựng kinh tế mang ý nghĩa quyết định. Tại sao vậy? Đối phương tiếp tục kiểm soát các trung tâm công nghiệp, phần châu thổ màu mỡ và đông dân, tất cả các cửa khẩu giao thương quốc tế. Nhiệm vụ đặt ra là phải cung cấp vũ khi và lương thực cho các lực lượng vũ trang, đảm bảo cho chính quyền nhân dân hoạt động hiệu quả, đáp ứng nhu cầu lương thực cho nhân dân. Cần phải giành thắng lợi không chỉ trên chiến trường mà còn trong cả chiến tranh kinh tế vừa mới xuất hiện. Quân Pháp thực hiện mọi biện pháp để cắt đứt đường tiếp tế cho các lực lượng kháng chiến. “Vành đai trắng” được thiết lập xung quanh các vùng nông thôn bị Pháp chiếm giữ nhằm ngăn việc chuyển người và lương thực sang vùng giải phóng. Việc vận chuyển thuốc men và nhu yếu phẩm sang vùng tự do bị thực dân kiểm soát gắt gao, nhưng lại không cản trở đưa tới đó hàng hoá xa xỉ phẩm để dụ dỗ dân chúng bằng sản phẩm của “văn minh phương Tây”. Để đối trọng, lãnh đạo kháng chiến đề ra các kế hoạch kinh tế của mình. Đó là “chiến tranh trí tuệ”, là cuộc chiến khôi phục kinh tế, là “chính sách kinh tế mới” của lực lượng kháng chiến.

* * *

Ông Nguyễn Khắc Viện kể lại:
- Người Pháp trong những năm đó nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ ngày một nhiều từ người Mỹ. Ngày 19 tháng 3 năm 1950 tàu chiến và không quân Mỹ thử trấn áp và dọa dẫm tinh thần nhân dân Sài Gòn. Đây là sự phô trương sức mạnh quân sự. Tháng 6 năm 1950, khi chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, phái đoàn quân sự Mỹ MAAG (Military Aid Advisory Group) tới Sài Gòn, được bố trí ở cạnh Sở chỉ huy Pháp. Mỹ giúp Pháp về tài chính và vật chất rất nhiều. Các máy bay vận chuyển quân sự bắt đầu bay ra miền Bắc, tạo điều kiện để Bộ chỉ huy Pháp thả các đơn vị mới của quân đội viễn chinh xuống vùng biên giới Việt-Trung, tạo “vành đai” cho các cứ điểm của mình, sau đó tấn công tổng hợp từ bắc xuống nam bao vây và tiêu diệt lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST!
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Мужик cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), toan.phamvan (01-03-2013)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Anton Makarenko (1888 - 1939) Nina Con người 8 06-08-2011 02:07
Hồ sơ thế chiến thứ hai - 1939 nthach Hồ sơ chiến tranh thế giới 3 02-07-2009 14:40
Nicolai Tikhonov (Николай Тихонов, 1896-1979) Bạch Tuyết Thi ca 3 18-03-2009 15:18


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 03:56.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.