Trích:
minminixi viết
Vậy thì về bản chất, người Việt xuống đến đồng bằng bắc bộ và bắc trung bộ đều là từ hướng bắc qua các vùng Vân Nam và Quảng Tây, dọc theo các dòng chảy sông lớn như sông Hồng, sông Đà..., ngăn cách với Trung Nguyên bởi thế núi non hiểm trở chỉ có vài lối độc đạo. Những truyền thuyết xa xưa hẳn là theo sắc dân Bách Việt từ châu thổ Hoàng Hà mà xuống, thay gần hết các địa danh Tàu bằng các địa danh Đại Việt. Việc lấy tích Tàu chuyển thành truyện Việt hay tâm tư người Việt là điều dễ thấy trong văn học, điển hìình là Truyện Kiều sau này.
|
Dẫu không có sử thành văn do ngày xưa cha ông ta chưa có chữ viết, song vẫn có những cơ sở hoàn toàn khoa học để nói rằng người Việt ta không hẳn chỉ là dân tộc Việt di cư xuống phía Nam. Có chăng chỉ là pha trộn giữa người bản địa và người TQ phương Bắc trong thời kỳ 1000 năm Bắc thuộc thôi.
Bản thân tên gọi của sử sách TQ xưa cũng gọi phần đất của nước ta ngày nay là vùng Nam Việt, tức là phía Nam nước Việt xưa của TQ. Mãi sau TQ mới tràn sang từ thời An Dương Vương và đặt châu, quận và chia quan cai trị. Giai đoạn ấy chỉ kéo dài chừng 1000 năm theo sử thành văn của TQ ghi lại. Trước đó thì tổ tiên của người mà ngày nay ta vẫn tự gọi là người Việt đã sinh sống ở vùng đất này rồi, và không có dính gì tới tộc Hán hay các tộc khác của TQ cả. Cái này có thể thấy được bảo tồn về mặt di truyền: người Việt có ngón cái chẽ ra - ngón chân Giao Chỉ - và mắt hai mí chứ không một mí xếch ngược lên một cách giảo hoạt như dân Tàu.
Ngoài những cái đó, còn một bằng chứng nữa thuộc về cái mà các nhà khoa học gọi là
Khảo cổ học ngôn ngữ (có thể xem thêm cuốn
Bí mật ba đại dương của Alexandr Kondratov - cũng là tác giả của cuốn
Con số và tư duy khá nổi tiếng ngày trước - để biết rõ thêm về
Khảo cổ học ngôn ngữ). Theo đó, tiếng Việt thuộc họ tiếng Môn-Khme chứ không thuộc họ tiếng Trung quốc ở phương Bắc. Một nguồn tiếng nói gốc của người Việt ngày nay là tiếng Mường và tiếng Thái. Đến tận bây giờ vẫn còn lưu dấu. Chẳng hạn, người Việt có xu hướng nói ghép các từ để phân biệt nghĩa của các từ đồng âm, trong đó ta có thể có vô số thí dụ, như cặp từ
tiền nong chẳng hạn là ghép của từ Hán-Việt
tiền với từ
nong, tiếng Việt cổ - mà chính xác là tiếng Mường - cũng có nghĩa là
tiền, để tránh nhầm với
tiền nghĩa là
phía trước... Việc Hán hóa tiếng Việt chỉ xảy ra trong thời kỳ Bắc thuộc 1000 năm kia mà thôi (và do vậy, cái quá trình pha tiếng như thế giống đúc cái quá trình pha giữa tiếng Noóc-măng-đi và tiếng Xắc-xông làm nên tiếng Anh - cái này, đến lượt nó cho chúng ta thấy hầu hết, đến hơn 90%, các động từ bất quy tắc trong tiếng Anh khi sang tiếng Việt sẽ là các động từ thuần Việt).
Một điểm nữa, các sắc dân từ phương Bắc di cư xuống theo dọc theo sông Hồng lại không phải là người Việt (Kinh) mà là các dân tộc thiểu số thôi, như H'Mông, Mán... chẳng hạn. Tôi ngày còn ở biên giới, đã rất ngạc nhiên khi thấy người Mán đếm
nhất,
nhì,
sám,
sây... hoặc trong câu hỏi thì thấy từ
ma (chẳng hạn:
nình ây-đao ma? =
Đi chơi không?) y như trong tiếng TQ hoặc tiếng các dân tộc thuộc TQ ngày nay vậy. Họ ngôn ngữ của các dân tộc TQ vùng Vân Nam, Quảng Tây hoàn toàn khác họ ngôn ngữ Môn-Khme của ta, và do vậy người Việt ngày nay chả có lý do gì lại là hậu duệ của những người di cư từ các dân tộc đó cả.
Có lẽ còn nhiều điều cần bàn thêm về những ý mà bác BT đã đưa ra nữa, khi nào có thì giờ sẽ viết tiếp.