View Single Post
  #10  
Cũ 22-04-2008, 13:09
nthach nthach is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 2,631
Cảm ơn: 1,404
Được cảm ơn 4,719 lần trong 1,656 bài đăng
Default

Tập san Brandeis
2004, Volume 2
http://www.brandeis.edu/gradjournal
All Rights Reserved
Người dịch: Nthach NNN.




Thảm kịch Babi Yar của những người Do Thái ở Kiev

Victoria Khiterer
Ban nghiên cứu vùng Cận Đông và người Do Thái, khoa nghiên cứu sinh Khoa học và Kỹ thuật
Trường đại học Brandeis

Cuộc tàn sát hàng loạt những người Do Thái ở châu Âu do Đức quốc xã thực hiện vào tháng chín năm 1941 tại hẻm núi Babi Yar ở Kiev thủ đô nước Ukraine, khi đó Liên Xô vừa mới bị quân Đức tấn công và chiếm đóng. Ở đây bọn Quốc xã lần đầu tiên đã nhử hàng chục ngàn người Do Thái vào một cạm bẫy, nơi mà họ không bao giờ có thể trốn thoát và hầu như trong số họ đều bị chết. Trong có một vài ngày, bọn Quốc xã đã giết chết hơn 100 ngàn người Do Thái, con số này gần như là toàn bộ dân cư người Do Thái của Kiev trong thời kỳ đó.

Một điều tra kỹ lưỡng những sự kiện xung quanh cuộc thảm sát Babi Yar, nó đã đưa ra một cái nhìn thấu đáo về những trò bịp bợm mà bọn Đức đã sử dụng trong nạn tàn sát người Do Thái, cho đến những trò dụ dỗ người Do Thái rời bỏ chính những ngôi nhà của mình để đi đến những điểm tập trung, những nơi mà đã dẫn họ đến với án tử hình.
Một vài tác phẩm về những sự kiện kinh hoàng tại Babi Yar bao gồm cả cuốn sách của George St. George (ông là tác giả của một vài cuốn về lịch sử Xô Viết và du hành trên đất nước Liên Xô) – Cuốn “ Con đường đến Babyi Yar” của ông chủ yếu dựa trên cuốn tài liệu của Anatoly Kuznetsov “Babi Yar.” Cuốn truyện này của Kuznetsov cũng được viết theo trí nhớ của ông và những hồi ức của một vài người khác còn sống sót trong vụ thảm sát [1]. Cuốn sách Bìa Đen, được xuất bản ở Nga được dành trọn 10 trang để nói về sự kiện Babi[2] . Cuốn sách Bìa Đen được xuất tại Anh thì chỉ được trình bày có năm trang nói về cuộc thảm sát kinh hoàng này [3]. Một vài bản dịch tài liệu của Đức Quốc xã nói về cuộc thảm sát Babi đã được Lucy Dawidowicz xuất bản trong cuốn “Một tuyển tập nạn tàn sát người Do Thái” [4]. Tuy nhiên những tài liệu này vẫn chưa giải thích được hoàn toàn những lý do thay đổi chính sách của Quốc xã đối với những người Do Thái: Tại sao Đức Quốc xã ở Kiev lại thay đổi chính sách tập chung những người Do Thái từ những khu vực sinh sống của họ đến vụ giết người hàng loạt với số lượng hàng chục ngàn dân Do Thái như vậy? Một vài cuốn sách xuất bản ở nước Nga về sự kiện Babi Yar cũng chưa lý giải được câu hỏi chủ yếu này. Những cuốn sách của Nga hấu như được viết bởi những người không chuyên và và còn chứa đựng những hồi ký nhiều hơn là đi chuyên sâu vào nghiên cứu lịch sử sự kiện.
Cho nên tấn thảm kịch của những người Do Thái trong sự kiện nổi tiếng ở Babi Yar mà chưa được biết đến tại thời điểm đó. Tiếng tăm của sự kiện này được đánh giá như là một trong những tội ác tày trời nhất của Đức Quốc xã. Khi đó trong sử sách phương Tây cũng không có một cuộc phân tích toàn diện về tấn thảm kịch này. Phương Tây cũng như các nhà nghiên cứu của Ukraina thời kỳ này cũng không đưa ra được những phân tích của cốt lõi vấn đề về sự kiện Babi yar. Họ không giải thích được tại sao sự hủy diệt đầu tiên của toàn bộ dân cư Do Thái của một thành phố trọng đại ở Kiev trong thời kỳ thế chiến thứ hai.

Trước khi chiếm đóng Kiev, bọn Quốc xã thường tập hợp tất cả dân cư Do Thái của một thành phố chúng xâm chiếm vào những khu tập trung. Ở đó, chúng ngược đãi và hành hình những người Do Thái trong những khu tập trung trước cả khi sự kiện Babi Yar xảy ra, nhưng chúng vẫn chưa từng thực hiện một vụ hủy diệt toàn bộ dân cư Do Thái nào. Ở trong “Thủ phủ của người Do Thái” của Berdichev, thì cuộc tàn sát hàng loạt người Do Thái bị bọn Đức bắt đầu tiến hành vào đầu tháng chín năm 1941, tuy nhiên toàn bộ những người Do Thái không phải là bị hành quyết hết vào thời gian đó. Bọn Quốc xã đã lựa chọn và giết chết hầu hết những người thợ thủ công trước và số còn lại vẫn còn sống sót. Khu tập trung người Do Thái ở Berdichev vẫn còn tồn tại cho đến tận cuối tháng tư năm 1942. Vậy, cuộc tàn sát người Do Thái ở Kiev là vụ đầu tiên trong toàn bộ các vụ thảm sát dân cư Do Thái của một thành phố và đó cũng là một vụ giết người hàng loạt của Đức trong phạm vi này, khi đó, chỉ trong vòng có vài ngày, hơn 100 ngàn người dân Do Thái bị giết chết.
Các nhà sử học vẫn tiếp tục tranh luận để ước đoán số lượng người Do Thái đã bị giết chết tại Babi. Theo tài liệu, thì số lượng người Do Thái bị giết chết tất cả trong sự kiện này khoảng từ 33.771 đến 150.000 người. Không thể nào biết chính xác là có bao nhiêu người Do Thái đã ở Kiev, trong thời điểm bọn Đức chiếm đóng vào ngày 20 tháng chín, bao nhiêu người đã đi tản cư, bao nhiêu người đã gia nhập vào hàng ngũ của quân đội Xô Viết và bao nhiêu người đã lánh được nạn trong thành phố. Trong thời gian quân đội Xô Viết rút quân hỗn loạn, tất nhiên chẳng có ai sẽ nghĩ rằng cần phải thống kê số lượng người Do Thái cả. Theo thống kê của Đức về số lượng dân Do Thái bị thảm sát ở Babi Yar cũng không thể đáng tin cậy, để suy luận tôi xin được giải thích như sau:
Nguồn tin chủ yếu về tấn thảm kịch Babi Yar trong ký ức của những người chính mắt đã được nhìn thấy sự kiện gồm; những người Ukraina không phải là dân Do Thái, khoảng vài trăm người Do Thái còn sống sót và một số thủ phạm Do Thái. Để tìm hiểu vụ giết người Do Thái hàng loạt ở Kiev như thế nào và tại sao lại xảy ra tại Babi Yar, tôi đã dựng lại những dữ kiện của sự việc vào cuối mùa hè năm 1941 ở Kiev để bắt đầu sắp xếp nó theo một trình tự
Theo Bách khoa toàn thư Do Thái, vào năm 1939 những người Do Thái có khoảng 20% dân số ở Kiev hoặc khoảng 175.000 người [5].
Quân đội Đức đến chiếm đóng Kiev vào ngày 20/9/1941. Vài ngày sau, vào ngày 29 tháng 9, một nhóm bán quân sự của Đức Quốc xã đã có báo cáo:

Ở tại đây hiện có 150.000 người Do Thái đang sinh sống tại Kiev. Để kiểm tra lại thông tin này cũng khó có thể thực hiện được[6].

Như đã đề cập, chả biết được bao nhiêu người Do Thái đã có thể rời phỏi Kiev trước khi quân Đức đến chiếm đóng. Người Do Thái đã không đi di tản thành từng đoàn một và không có ai có thể tính được có bao nhiêu người trốn thoát. Những người từng làm làm việc trong trong những nhà máy quân sự và những thành viên trong gia quyến của họ, cũng đã rời khỏi thành phố cùng với trang thiết bị của các nhà máy mà nơi họ đang làm việc. Vấn đề này đã nói lên rằng tại sao, chính mẹ và bà của tôi còn sống sót ở thời điểm đó. Ông tôi, đã từng làm việc trước thế chiến thứ hai và là một nha sĩ tại một nhà máy quân sự“Arsenal” ở Kiev (Những nhà máy và xí nghiệp lớn ở Liên Xô thường có những phòng khám và bệnh viện đa khoa riêng). Là một bác sĩ y khoa, ông tôi được động viên vào quân ngũ ngay từ ngày đầu chiến tranh. Gia đình của ông tôi (gồm có, vợ của ông, hai người con gái cùng cha mẹ, em gái và mẹ vợ) đã rời khỏi Kiev cùng với các công chức của nhà máy “Arsenal”.
Tôi còn nhớ rõ bà tôi – Gittel Brovarnik, đã kể lại về cuộc chạy thoát của họ. Bà có hai người con và người con út đó là mẹ tôi, lúc bấy giờ chỉ mới hai tuổi và rất ốm yếu. Ông tôi đã lo lắng rằng, bà tôi lên đường di tản cùng với một đứa con ốm yếu lại đang mang bệnh truyền nhiễm, thì mọi người rất có thể sẽ không cho bà và lũ nhỏ lên tàu. Ngoài ra, bà lại chẳng có tin tức tức gì từ người chồng đang trong quân đội. Bà tôi cũng lo lắng, nếu như bà rời khỏi Kiev thì cũng sẽ chẳng bao giờ nhận được thư từ của chồng nữa. Xong, bà đã quyết định ở lại Kiev. Do đó, khi cuộc di tản của những người công nhân và gia đình của họ được tổ chức ở nhà máy “Arsenal” bà đã không đi mà cho em gái của chồng và người con gái lớn của mình đi trước. Trong dòng người di tản cuồn cuộn, chẳng có ai quan tâm đến việc kiểm tra tên tuổi hành khách và do đó Fira Brovarnik đã lên tàu thay cho bà tôi – Gittel.
Cuối tháng tám năm 1941, khi cuộc chiến giữa Hồng quân Liên Xô và Đức quốc xã đã đến Kiev, điều đó cũng có nghĩa là quân Đức rất có thể sẽ chiếm đóng thành phố. Bà tôi mới chạy đến nhà máy “Arsenal” để tìm ban giám đốc của nhà máy và hỏi về tin tức của chồng. Bà gặp được ông giám đốc, một người Nga tên là Chebotarev. Bà tự giới thiệu mình là vợ nha sĩ Ilia Brovarnik của nhà máy “Arsenal”. Ông giám đốc rất sửng sốt khi nhìn thấy bà vẫn còn ở lại Kiev. Ông nói:
Tai sao cô vẫn còn ở lại Kiev? Cô phải rời khỏi thành phố ngay lập tức. Cô là một người Do Thái và không thể nào ở lại đây được với bọn Đức.

Ông giám đốc đã đưa bà và cô con gái rời đi khỏi thành phố cùng với những trang thiết bị của nhà máy “Arsenal” trên một chuyến tàu hàng. Đoàn tàu hành trình từ Kiev đến thành phố Votkinsk ở Ural trong vòng hai tuần lễ, trong khi đó hầu như không có một chút tiếp tế lương thực nào, khi tàu dừng bánh tại một san ga, bà tôi đã mang hết đồ tư nhân ra để đổi lấy thực phẩm, cuối cùng họ cũng đến được nơi. Sau đó bà tìm lại được chồng mình (Ông tôi) làm một bác sĩ phẫu thuật răng ở một vài bệnh viện và ông làm việc cho đến hết chiến tranh. Bà tôi lặp đi lặp lại câu chuyện này không biết đến bao nhiêu lần trong cuộc đời của mình với một sự cảm kích vô cùng to lớn đối với ông giám đốc nhà máy “Arsenal”, người mà đã cứu cuộc đời bà và mẹ của tôi.
Một câu hỏi khá hay đối câu chuyện của bà tôi: Tại sao ông giám đốc người Nga Chebotarev của nhà máy “Arsenal” lại biết rằng những người dân Do Thái không thể nào ở lại được thành phố Kiev với chế độ của bọn Đức?. Dĩ nhiên những người Do Thái ở Kiev đã không có nhận thức tính nghiêm trọng của sự rủi ro của họ. Những người di tản gồm có những công nhân, và những lãnh đạo cùng với các nhà khoa học và gia đình của họ. Nhưng còn rất nhiều người kể cư dân Do Thái còn ở lại Kiev. Một số người không muốn rời khỏi thành phố với nhiều lý do vì đau yếu hoặc già cả không còn sống thêm được bao lâu nữa. Cũng có một số người bất mãn với chế độ Xô Viết, họ nghĩ rằng nếu sống ở dưới thời Đức Quốc xã thì cuộc sống của họ được tươi đẹp hơn [7]. Người chồng thứ hai với cụ bà của tôi cũng kiên quyết không rời khỏi Kiev, cụ bà tôi đến năn nỉ ông ông đi, nhưng ông nói:
- Tôi nhớ rằng quân Đức ở trong thế chiến thứ nhất, (khi đó chúng cũng chiếm đóng Kiev) họ cũng là một dân tộc văn minh. Khi nào họ đến Kiev, tôi và con trai tôi (con của người vợ trước) sẽ mở cửa hàng để buôn bán .[8]
Cụ bà của tôi đành phải rời đi và để lại chồng ở Kiev. Rồi sau đó vài tuần ông ấy bị giết chết cùng với con trai của mình ở Babi Yar.

Vào năm 1941, có rất nhiều người Do Thái ở Kiev đã nhớ lại sự chiếm đóng của quân Đức vào thời kỳ thế chiến thứ nhất. Trước khi quân Đức chiếm đóng Kiev lần này và cũng là thời điểm trước khi xảy ra vụ thảm sát người Do Thái của bọn Đức ở Ukraina. Họ nghĩ rằng tất cả nhân dân sẽ được che chở kể cả là người Do Thái. Xong, trí nhớ trong quá khứ của họ đã không tránh được khỏi thảm họa. Họ đã không có thông tin chính xác về chế độ Quốc xã. Rất nhiều trong số họ đã có xuy nghĩ rằng người Đức dù sao cũng là một “dân tộc châu Âu” và do đó người Đức chiếm đóng thành phố thì không thể nào tồi tệ hơn được so với chế độ Bolshevik .[9]
Một số sử gia cũng khẳng định rằng, các nhà lãnh đạo Xô Viết đã cảnh báo những người Do Thái rằng nếu như bọn Quốc xã chiếm đóng thành phố thì sẽ là điều rất nguy hiểm đối với họ.[13]
Sử gia Leni Yahil khẳng định “Một tỉ lệ lớn những người Do Thái ở Kiev đã trốn thoát được trước khi Đức quốc xã đến nơi” điều này không đáng tin .[14] Phần lớn những người Do Thái ở Kiev không thể dễ dàng rời khỏi thành phố bởi vì chỉ có một số người đã di tản. Họ đi di tản không có tổ chức do đó khá khó khăn: khi đó để kiếm được tấm vé là rất gian nan trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh, sau đó thì vé tàu không còn được bán cho thường dân nữa. Tất cả các chuyến tàu được dùng để vận chuyển di rời các nhà máy quân sự và cho các mực đích quân sự khác.[15] Phần lớn những người Do Thái ở Kiev và những người Do Thái tị nạn bị kẹt lại trong thành phố. Theo ước tính của tôi thì có khoảng 20.000 – 30.000 người Do Thái là có thể rời khỏi thành phố trước khi bọn Đức chiếm đóng và kiểm soát Kiev. (a)


--------------------------------------------------------------------------
Ghi chú:
(a) Không ai có thể tính được số lượng người dân Kiev đã thoát khỏi thành phố. Các sử gia Xô Viết đã trích dẫn một báo cáo và khẳng định, có khoảng 335 ngàn người dân thoát khỏi Kiev. [16] Nhưng theo tôi, con số này chưa được chính xác lắm. Tổng số dân chúng ở Kiev theo như thống kê vào năm 1939, là có 847.000 người . [17] Cuộc di tản ra khỏi Kiev chỉ có thể được tiến hành cùng với các nhà máy và công xưởng. Theo các nguồn tài liệu khác, chỉ có 197 trong số 1176 nhà máy là được di rời cùng với công nhân viên chức và gia đình của họ.[18] Tất nhiên, những nhà máy quân sự này là một bộ phận quan trọng để sản xuất trang thiết bị bảo vệ tổ quốc. Khi đó chỉ có khoảng 17% các nhà máy công nghiệp là được di rời ra khỏi thành phố cùng với cán bộ công nhân viên. Khi đó không có thống kê là có bao nhiêu người được di tản cùng với các nhà máy này. Chúng tôi chỉ có thể ước tính rằng, tổng số dân chúng Kiev được di tản cùng với các xí nghiệp là vào khoảng không cao hơn 10 -15 % tổng số dân chúng của thành phố. Do đó, chỉ có khoảng 100 – 150 ngàn người là được rời khỏi thành phố. Như vậy, tỉ lệ người Do Thái rời khỏi thành phố không thể lớn hơn phân số của toàn bộ dân số của thành phố. Do đó nếu chúng ta tính 10 – 15 % tổng số người Do Thái trong đó thì ta có thể ước đoán được khoảng chừng 20 -30 ngàn người Do Thái đã di tản cùng với các nhà máy của họ. Chúng ta sau đó cũng có thể tính được gần như chính xác số lượng người Do Thái còn lại ở Kiev. Trước chiến tranh, số lượng người Do Thái ở Kiev vào năm 1939 là 175.000 người, ta cộng thêm khoảng 10 – 15 ngàn người Do Thái đến tị nạn từ các vùng phía tây của Liên Xô và trừ đi số 20 – 30 ngàn người trong số họ đi di tản cùng với các nhà máy sau đó trừ đi khoảng 35 – 40 ngàn người nữa đã tham gia vào quân đội (về số lượng này đã vào quân đội ngay từ khi chiến tranh bắt đầu) [19]. Do đó, các phép tính của tôi sẽ có đáp án là:
Từ 115,000 đến 135,000 người Do Thái [ = 175, 000+ 10,000 (15,000) - 20,000 (30,000) – 35,000 (40,000)] = số lượng người Do Thái còn ở lại thành phố Kiev khi Đức quốc xã đến chiếm đóng thành phố.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên:
Serguei Kouzmic (23-04-2008), thaitamhien (22-04-2008), tuktuk (22-04-2008)