|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
|||
|
|||
|
Các bác cho em hỏi về sự kiện thảm sát người Do thái ở Babi Yar năm 1941, có liên quan gì đến NKVD? Dư luân Liên Xô về vụ việc này như thế nào? Evtushenko có viết một bài thơ về sự kiện này, lên án những người bài Do thái. Nhưng cụ thể không hiểu là dư luận lúc đó có thái độ như thế nào?
|
|
#2
|
||||
|
||||
|
29-30/9/1941 Đức Quốc xã thảm sát 33 771 người Do Thái ở Babi Yar. Babi Yar là một vực thẳm phía tây - bắc Kiev. Quân Đức đem từng nhóm nhỏ đến vực này, bắt tất cả đứng quay mặt về phía vực rồi xả súng vào lưng. Tất cả nạn nhân rơi xuống vực Babi Yar tạo thành một đống xác người dưới chân vực.
Bài thơ của Evtushenko về vấn đề này chỉ đề cập đến người Do Thái bị giết. Nhà nước Liên Xô yêu cầu nhà thơ phải thêm vào các nạn nhân chủng tộc khác như Nga, Ucraina… Điều đó xét ra có lẽ hợp lý hơn, vì khi đã chiếm đóng các vùng của nhà nước Xô Viết, về đối tượng vụ thảm sát chắc cũng không ưu tiên đặc biệt gì đối với người Nga, Ucraina… Do đó tổng số nạn nhân cũng phải lên tới trăm ngàn người. Bản giao hưởng số 13 “Babi Yar” của Shostakovich viết về sự kiện này và có đưa vào đó khổ thơ của Evgeny Evtushenko Xem thêm ở đây: http://judicial-inc.biz/Babi_Yar.htm Có hình ảnh về "Thung lũng tử thần" Babi Yar, bản đồ, cảnh bắn giết, và nhiều chi tiết khác... |
|
#3
|
||||
|
||||
|
Bài thơ của Евгений Евтушенко
Бабий Яр Над Бабьим Яром ПАМЯТНИКОВ нет. Крутой обрыв, как грубое надгробье. Мне страшно. Мне сегодня столько лет, как самому еврейскому народу. Мне кажется сейчас - я иудей. Вот я бреду по древнему Египту. А вот я, на кресте распятый,гибну, и до сих пор на мне - следы гвоздей. Мне кажется, что Дрейфус - это я. Мещанство - мои доносчик и судья. Я за решеткой. Я попал в кольцо. Затравленный, оплеванный, оболганный. И дамочки с брюссельскими оборками, визжа, зонтами тычут мне в лицо. Мне кажется - я мальчик в Белостоке. Кровь льется, растекаясь по полам. Бесчинствуют вожди трактирной стопки и пахнут водкой с луком пополам. Я, сапогом отброшенный, бессилен. Напрасно я погромщиков молю. Под гогот: <Бей жидов, спасай Россию!> Лабазник избивает мать мою. О, русский мой народ ! Я знаю - ты по сущности интернационален. Но часто те, чьи руки нечисты, твоим чистейшим именем бряцали. Я знаю доброту моей земли. Как подло, что, и жилочкой не дрогнув, антисемиты пышно нарекли себя <Союзом русского народа!> Мне кажется - я - это Анна Франк, прозрачная, как веточка и апреле. Но я люблю. И мне не надо фраз. Мне надо, чтоб друг в друга мы смотрели. Как мало можно видеть обонять! Нельзя нам листьев и нельзя нам неба. Но можно очень много - это нежно Друг друга в темной комнате обнять. Сюда идут? Не бойся - это гулы самой весны, она сюда идет. Иди ко мне. Дай мне скорее губы. Ломают дверь ? Нет - это ледоход... Над Бабьим Яром шелест диких трав. Деревья смотрят грозно, по-судейски. Все молча здесь кричит, и, шапку сняв, я чувствую, как медленно седею. И сам я, как сплошной беззвучный крик, над тысячами тысяч погребенных. Я - каждый здесь расстрелянный старик. Я - каждый здесь расстрелянный ребенок. Ничто во мне про это не забудет! "Интернационал" пусть прогремит когда навеки похоронен будет последний на земле антисемит. Еврейской крови нет в крови моей. Но ненавистен злобой заскорузлой я всем антисемитам, как еврей. И потому - я настоящий русский! 1961 Евтушенко Евгений ------ 2 khổ thơ có gạch chân sau này phải sửa lại như sau: Я тут стою, как будто у криницы, дающей веру в наше братство мне. Здесь русские лежат и украинцы, с евреями лежат в одной земле và Я думаю о подвиге России, фашизму преградившей путь собой, до самой наикрохотной росинки мне близкой всею сутью и судьбой. --- Nhắn tin: Nina ơi, bạn dịch nhé! Cảm ơn trước. |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Bác TLV ạ,
Bác nhờ như thế làm em áy náy quá, vì mãi không dịch được. Phải nói là bài thơ này quá xương đối với em - làm hơi bị mất mặt trường phái dịch thơ 5 phút. Mãi hôm nay mới tạm gọi là xong - em thì thấy là hơi lủng củng, nhưng thôi, cứ để mọi người bình phẩm nhé Đây là phiên bản chưa sửa chữa ![]() Babi Yar Evgeny Evtushenko Babi Yar Không có Đài Tưởng Niệm Chỉ có bờ vực dốc Như tấm bia trên mộ sơ sài. Tôi sợ Tôi thấy tôi già cả như dân tộc Do thái khổ đau. Bây giờ tôi cảm thấy tôi là người Do thái Tôi lang thang ở Ai cập cổ xưa Và tôi hấp hối trên cây thập tự Đến giờ dấu đóng đinh vẫn còn lại trên người Và tôi ngỡ tôi là Dreifus Kẻ mật thám và quan tòa của tôi là một: Giới tiểu thị dân Tôi bị giam, tôi đã sa vào bẫy Bị dồn vào đường cùng, bị phỉ nhổ, dối lừa. Những mệnh phụ mặc váy viền đăng ten rít lên, và lấy ô trỏ thẳng tôi vào mặt Tôi cảm thấy tôi là cậu bé ở Belostok Máu chảy ra, chảy khắp trên sàn Những lãnh tụ của quán rượu đang say sưa thác loạn đầy mùi vốt ca ngang với hành tây Tôi bị đá văng ra, bất lực Tôi van lạy những kẻ côn đồ Dưới những tiếng hô: “Đánh bọn chó Do thái, cứu lấy nước Nga!” Ôi vô ích! Mẹ tôi đang bị đánh! Ô, dân tộc Nga của tôi ơi! Tôi biết, Người là dân tộc quốc tế Nhưng có những kẻ bàn tay bẩn thỉu lấy tên Người thanh sạch làm tấm bình phong. Tôi biết mảnh đất này rất nhân hậu, khoan dung. Nên nhục nhã thay những kẻ bài Do thái không chút ngượng nghịu tự gọi mình thật hoành tráng “Liên minh nhân dân Nga!” Tôi cảm thấy – tôi là Anna Frank trong suốt như cành cây khi xuân đến Nhưng tôi yêu Và tôi không cần lời nói Tôi chỉ cần chúng ta nhìn được thấy nhau Nhưng cớ sao ta được nhìn và ngửi được ít thế! Ta không được nhìn lá cây ta không được thấy bầu trời. Nhưng lại có thể được làm rất nhiều – Đó là dịu dàng Ôm nhau trong căn phòng tăm tối Người ta đến đây ư? Đừng sợ hãi Đó là tiếng vang của chính mùa xuân. Xuân đang đến đây. Hãy đến bên em Và đôi môi, đừng để em phải đợi Họ phá cửa ư? Không – đó là băng trên sông đang trôi nổi … Khắp Babi Yar Tiếng cỏ dại rì rào. Cây cối trông đáng sợ như những quan tòa Mọi thứ ở đây đều thét lên trong im lặng. Tôi ngả mũ và cảm thấy mình đang chầm chậm bạc đầu. Và bản thân tôi, như tiếng thét dằng dặc không âm thanh trên hàng triệu người ở đây nằm mãi Tôi – là mỗi cụ già bị bắn ở đây Tôi – là mỗi em thơ bị bắn nơi này Không gì trong tôi sẽ quên điều đó “Quốc tế ca” hãy rền vang lên nữa khi trên đời này người bài Do thái cuối cùng sẽ mãi mãi nằm yên trong mộ Trong huyết quản tôi không có giọt máu người Do thái Nhưng tôi căm thù những kẻ bài Do thái Một sự giận dữ sạn chai Bởi vì tôi – Là một người Nga chân chính! |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Còn bản mà Evtushenko đã sửa
![]() Babi Yar Evgeny Evtushenko Babi Yar Không có Đài Tưởng Niệm Chỉ có bờ vực dốc Như tấm bia trên mộ sơ sài. Tôi đứng đây Như đứng bên thành giếng Giếng cho tôi niềm tin Vào sự bác ái của chúng ta Nằm ở đây là những người Nga Và người Ukraina, người Do thái. Tất cả đều nằm chung trong một mảnh đất Và tôi ngỡ tôi là Dreifus Kẻ mật thám và quan tòa của tôi là một: Giới tiểu thị dân Tôi bị giam, tôi đã sa vào bẫy Bị dồn vào đường cùng, bị phỉ nhổ, dối lừa. Những mệnh phụ mặc váy viền đăng ten rít lên, và lấy ô trỏ thẳng tôi vào mặt Tôi cảm thấy tôi là cậu bé ở Belostok Máu chảy ra, chảy khắp trên sàn Những lãnh tụ của quán rượu đang say sưa thác loạn đầy mùi vốt ca ngang với hành tây Tôi bị đá văng ra, bất lực Tôi van lạy những kẻ côn đồ Dưới những tiếng hô: “Đánh bọn chó Do thái, cứu lấy nước Nga!” Ôi vô ích! Mẹ tôi đang bị đánh! Ô, dân tộc Nga của tôi ơi! Tôi biết, Người là dân tộc quốc tế Nhưng có những kẻ bàn tay bẩn thỉu lấy tên Người thanh sạch làm tấm bình phong. Tôi biết mảnh đất này rất nhân hậu, khoan dung. Nên nhục nhã thay những kẻ bài Do thái không chút ngượng nghịu tự gọi mình thật hoành tráng “Liên minh nhân dân Nga!” Tôi cảm thấy – tôi là Anna Frank trong suốt như cành cây khi xuân đến Nhưng tôi yêu Và tôi không cần lời nói Tôi chỉ cần chúng ta nhìn được thấy nhau Nhưng cớ sao ta được nhìn và ngửi được ít thế! Ta không được nhìn lá cây ta không được thấy bầu trời. Nhưng lại có thể được làm rất nhiều – Đó là dịu dàng Ôm nhau trong căn phòng tăm tối Người ta đến đây ư? Đừng sợ hãi Đó là tiếng vang của chính mùa xuân. Xuân đang đến đây. Hãy đến bên em Và đôi môi, đừng để em phải đợi Họ phá cửa ư? Không – đó là băng trên sông đang trôi nổi … Khắp Babi Yar Tiếng cỏ dại rì rào. Cây cối trông đáng sợ như những quan tòa Mọi thứ ở đây đều thét lên trong im lặng. Tôi ngả mũ và cảm thấy mình đang chầm chậm bạc đầu. Tôi nghĩ về chiến công của nước Nga lấy thân mình cản đường chủ nghĩa phát xít đến tận mỗi hạt sương nhỏ nhất gần gũi với tôi bằng cả bản chất và số phận. Không gì trong tôi sẽ quên lãng điều này! “Quốc tế ca” hãy cứ rền vang khi trên đời này người bài Do thái cuối cùng sẽ mãi mãi nằm yên trong mộ Trong huyết quản tôi không có giọt máu người Do thái Nhưng tôi căm thù những kẻ bài Do thái Một sự giận dữ sạn chai Bởi vì tôi – Là một người Nga chân chính! |
|
#6
|
||||
|
||||
|
Trích:
Quả thực bài thơ thật là xương, chỉ đọc không đã thấy khó. Tuy nhiên, việc gì nhờ Nina bao giờ cũng có kết quả mỹ mãn. Cảm ơn nhiều nhé! Đúng như bác FORYTCHIA từng thốt lên: Nina đáng yêu quá! |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Cảm ơn bác TLV và chị Nina rất nhiều, thông tin và bài dịch hay quá
, giúp em hiểu được nhiều điều, nhiều thứ rõ rang hơn. Khi tìm hiểu về giao hưởng số 13 Babi jar của Shostakovich, em có đọc qua để biết nội dung phần lời thơ của Evtusenko đã được dịch sang tiếng Anh. Nhưng ko dám chắc hiểu đuợc phần nào vì bài thơ ko chỉ đề cập đến thảm hoạ do Phát xít gây ra mà còn đến tư tưỏng bài Do thái nói chung của cả người Nga trong lịch sử. Thái độ lên án và cảm thông của nhà thơ không giới hạn với một đối tượng cụ thể đơn nhất cũng như vị trí mà nhà thơ tự đặt vào để cảm thông được nỗi đau. Chính vì thế mà khi đọc các tài liệu tiếng Anh, thường hay bị sa đà vào các chi tiết nặng tính suy diễn, chủ yếu về mâu thuẫn của bản thân người Nga… do đó phải nhờ các bác ở đây cho một cái nhìn chính xác. ![]() Trong các bài thơ đưa vào giao hưởng số 13, hầu hết các bài đều khá “khó” thì phải, chỉ trừ In the store (em chỉ biết tên tiếng Anh) là đơn giản hơn về nội dung.(?) Humour, Fear và Career đều thú vị bởi những ý tưởng của nó, nhưng vì thì thế mà chẳng dễ hiểu cho lắm. Em hy vọng (và cũng phỏng đoán - vì ko dịch được chính xác) có thể thấy ở đó một tinh thần phê phán bằng cái nhìn sâu sắc và tinh tế của người nghệ sĩ, nhưng cũng không thiếu tinh thần trách nhiệm công dân. Một cái gì đó gần giống như thái độ của Maikovsky trong những bài thơ phê phán thói quan liêu. Ko biết đó có phải là một suy nghĩ ngây thơ lắm không? Do đó mà theo em hiểu, Giao hưởng của Shostakovich với các bài thơ của Evtusenko, hướng tới những đối tượng chịu nhiều thiệt thòi lặng lẽ, trước hết là trong chiến tranh, trong xây dựng đất nước, và những không khí nặng nề không đáng có do "những điều vĩ đại" gây ra, cần phải ghi nhớ trong quá khứ cũng như hiện tại. Trong hệ thống giao hưởng của Shostakovich, sau những số 11, 12 khẳng định vị trí và thắng lợii của Cách mạnh năm 1917. Số 13 về những điều nhỏ bé và dường như vô hình trong cuộc sống (nhưng cũng đang gặm nhấm và đè nặng lên cuộc sống hàng ngày), cho một cái nhìn đầy đủ và sâu sắc, giúp có cái nhìn trọn vẹn về lịch sử, cách nhìn của người nghệ sĩ nghiêm túc, không chỉ đơn thuần thấy những vinh quang, chiến thắng, những điều lớn lao. Nhưng cũng ko như một số trường hợp ngày nay quá trừu tượng, cường điệu những nỗi đau cá nhân ko lành mạnh mà không đặt nó trong bối cảnh chung để tự điều chỉnh mình.Liên tưởng đến cái ý của Maiakovsky trong trường ca 150.000.000 trong chiến thắng của hiện tai nhắc đến quá khứ đau thương, một đoạn rất giống “In the store” của Evtusenko : …Dâng các người những phụ nữ sinh ra Để mặc nhung mặc nhiễu bọc lụa là Mà các người che thân manh áo rách Mòn mỏi đứng xếp hàng và ngã gục Giữa hàng người vô tận trực bánh mỳ… (theo Hoàng Ngọc Hiến dịch) Đoạn chị Nina dịch: “…bị dồn vào đường cùng, bị phỉ nhổ dối lừa…rít lên, và lấy ô trỏ thẳng tôi vào mặt” làm em nhớ đến 1 cảnh trong phim Tháng mười của Esenstein được mô tả y như vậy :!: , đoạn người thanh niên phát truyền đơn bên bờ sông Neva bị đánh đập cho tới chết.! Em ko biết gì về tiếng Nga nên ko biết góp ý chi cả! Chỉ biết cảm ơn chị Nina và bác TLV.
|
|
#8
|
|||
|
|||
|
Trích:
Còn chủ nghĩa bài Do thái thì đương nhiên là một hiện tượng có thật trong xã hội, mà gốc rễ nó chắc phải tìm từ thời Trung cổ hay sớm hơn nữa. Phải công nhận người Do thái chịu nhiều đau khổ, nhưng cũng phải công nhận họ có lắm tài năng - bác nào học chung với sinh viên Do thái thì chắc là đồng ý với em. Tuy nhiên trong bài thơ trên của Evtushenko thì em cũng đồng ý với bác TLV - không chỉ có người Do thái là nạn nhân, nên sửa theo phương án sau thì đúng hơn. Thực sự lúc dịch thì em thấy xúc động nhất là đoạn nói về Anna Frank... |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Qua mỗi cuộc chiến tranh, đều có những bi thương ai oán, những đau khổ chất chồng, mọi lý do đó đều xuất phát từ tính hung tàn của những kẻ đi xâm lược. Mong rằng trên thế giới sẽ không còn những cảnh bi oan như quá khứ đã xảy ra trong các cuộc chiến đầy vô nghĩa nữa. Hiện nay ở một số nước trên thế giới đang nhen nhóm lên những tư tưởng phát xít, những tư tưởng bài ngoại và phân biệt chủng tộc, chúng ta hãy góp một phần nhỏ bé nào đó của mình để cùng ngăn chặn những vấn nạn này. Dưới đây là một tài liệu tham khảo, mong mọi người cùng cho ý kiến về vấn đề này. Xin cảm ơn.
...Cho dù có nói ở khía cạnh nào đi nữa, thì cũng cần phải biết ơn những người đã giải phóng mọi người ra khỏi ách xâm lược, những người đã mang lại cuộc sống cho mọi người thêm một lần nữa. Họ là - Những chiến sĩ Hồng Quân Liên Xô |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên: | ||
Cá Măng (22-04-2008), Serguei Kouzmic (23-04-2008) | ||
|
#10
|
|||
|
|||
|
Tập san Brandeis
2004, Volume 2 http://www.brandeis.edu/gradjournal All Rights Reserved Người dịch: Nthach NNN. Thảm kịch Babi Yar của những người Do Thái ở Kiev Victoria Khiterer Ban nghiên cứu vùng Cận Đông và người Do Thái, khoa nghiên cứu sinh Khoa học và Kỹ thuật Trường đại học Brandeis Cuộc tàn sát hàng loạt những người Do Thái ở châu Âu do Đức quốc xã thực hiện vào tháng chín năm 1941 tại hẻm núi Babi Yar ở Kiev thủ đô nước Ukraine, khi đó Liên Xô vừa mới bị quân Đức tấn công và chiếm đóng. Ở đây bọn Quốc xã lần đầu tiên đã nhử hàng chục ngàn người Do Thái vào một cạm bẫy, nơi mà họ không bao giờ có thể trốn thoát và hầu như trong số họ đều bị chết. Trong có một vài ngày, bọn Quốc xã đã giết chết hơn 100 ngàn người Do Thái, con số này gần như là toàn bộ dân cư người Do Thái của Kiev trong thời kỳ đó. Một điều tra kỹ lưỡng những sự kiện xung quanh cuộc thảm sát Babi Yar, nó đã đưa ra một cái nhìn thấu đáo về những trò bịp bợm mà bọn Đức đã sử dụng trong nạn tàn sát người Do Thái, cho đến những trò dụ dỗ người Do Thái rời bỏ chính những ngôi nhà của mình để đi đến những điểm tập trung, những nơi mà đã dẫn họ đến với án tử hình. Một vài tác phẩm về những sự kiện kinh hoàng tại Babi Yar bao gồm cả cuốn sách của George St. George (ông là tác giả của một vài cuốn về lịch sử Xô Viết và du hành trên đất nước Liên Xô) – Cuốn “ Con đường đến Babyi Yar” của ông chủ yếu dựa trên cuốn tài liệu của Anatoly Kuznetsov “Babi Yar.” Cuốn truyện này của Kuznetsov cũng được viết theo trí nhớ của ông và những hồi ức của một vài người khác còn sống sót trong vụ thảm sát [1]. Cuốn sách Bìa Đen, được xuất bản ở Nga được dành trọn 10 trang để nói về sự kiện Babi[2] . Cuốn sách Bìa Đen được xuất tại Anh thì chỉ được trình bày có năm trang nói về cuộc thảm sát kinh hoàng này [3]. Một vài bản dịch tài liệu của Đức Quốc xã nói về cuộc thảm sát Babi đã được Lucy Dawidowicz xuất bản trong cuốn “Một tuyển tập nạn tàn sát người Do Thái” [4]. Tuy nhiên những tài liệu này vẫn chưa giải thích được hoàn toàn những lý do thay đổi chính sách của Quốc xã đối với những người Do Thái: Tại sao Đức Quốc xã ở Kiev lại thay đổi chính sách tập chung những người Do Thái từ những khu vực sinh sống của họ đến vụ giết người hàng loạt với số lượng hàng chục ngàn dân Do Thái như vậy? Một vài cuốn sách xuất bản ở nước Nga về sự kiện Babi Yar cũng chưa lý giải được câu hỏi chủ yếu này. Những cuốn sách của Nga hấu như được viết bởi những người không chuyên và và còn chứa đựng những hồi ký nhiều hơn là đi chuyên sâu vào nghiên cứu lịch sử sự kiện. Cho nên tấn thảm kịch của những người Do Thái trong sự kiện nổi tiếng ở Babi Yar mà chưa được biết đến tại thời điểm đó. Tiếng tăm của sự kiện này được đánh giá như là một trong những tội ác tày trời nhất của Đức Quốc xã. Khi đó trong sử sách phương Tây cũng không có một cuộc phân tích toàn diện về tấn thảm kịch này. Phương Tây cũng như các nhà nghiên cứu của Ukraina thời kỳ này cũng không đưa ra được những phân tích của cốt lõi vấn đề về sự kiện Babi yar. Họ không giải thích được tại sao sự hủy diệt đầu tiên của toàn bộ dân cư Do Thái của một thành phố trọng đại ở Kiev trong thời kỳ thế chiến thứ hai. Trước khi chiếm đóng Kiev, bọn Quốc xã thường tập hợp tất cả dân cư Do Thái của một thành phố chúng xâm chiếm vào những khu tập trung. Ở đó, chúng ngược đãi và hành hình những người Do Thái trong những khu tập trung trước cả khi sự kiện Babi Yar xảy ra, nhưng chúng vẫn chưa từng thực hiện một vụ hủy diệt toàn bộ dân cư Do Thái nào. Ở trong “Thủ phủ của người Do Thái” của Berdichev, thì cuộc tàn sát hàng loạt người Do Thái bị bọn Đức bắt đầu tiến hành vào đầu tháng chín năm 1941, tuy nhiên toàn bộ những người Do Thái không phải là bị hành quyết hết vào thời gian đó. Bọn Quốc xã đã lựa chọn và giết chết hầu hết những người thợ thủ công trước và số còn lại vẫn còn sống sót. Khu tập trung người Do Thái ở Berdichev vẫn còn tồn tại cho đến tận cuối tháng tư năm 1942. Vậy, cuộc tàn sát người Do Thái ở Kiev là vụ đầu tiên trong toàn bộ các vụ thảm sát dân cư Do Thái của một thành phố và đó cũng là một vụ giết người hàng loạt của Đức trong phạm vi này, khi đó, chỉ trong vòng có vài ngày, hơn 100 ngàn người dân Do Thái bị giết chết. Các nhà sử học vẫn tiếp tục tranh luận để ước đoán số lượng người Do Thái đã bị giết chết tại Babi. Theo tài liệu, thì số lượng người Do Thái bị giết chết tất cả trong sự kiện này khoảng từ 33.771 đến 150.000 người. Không thể nào biết chính xác là có bao nhiêu người Do Thái đã ở Kiev, trong thời điểm bọn Đức chiếm đóng vào ngày 20 tháng chín, bao nhiêu người đã đi tản cư, bao nhiêu người đã gia nhập vào hàng ngũ của quân đội Xô Viết và bao nhiêu người đã lánh được nạn trong thành phố. Trong thời gian quân đội Xô Viết rút quân hỗn loạn, tất nhiên chẳng có ai sẽ nghĩ rằng cần phải thống kê số lượng người Do Thái cả. Theo thống kê của Đức về số lượng dân Do Thái bị thảm sát ở Babi Yar cũng không thể đáng tin cậy, để suy luận tôi xin được giải thích như sau: Nguồn tin chủ yếu về tấn thảm kịch Babi Yar trong ký ức của những người chính mắt đã được nhìn thấy sự kiện gồm; những người Ukraina không phải là dân Do Thái, khoảng vài trăm người Do Thái còn sống sót và một số thủ phạm Do Thái. Để tìm hiểu vụ giết người Do Thái hàng loạt ở Kiev như thế nào và tại sao lại xảy ra tại Babi Yar, tôi đã dựng lại những dữ kiện của sự việc vào cuối mùa hè năm 1941 ở Kiev để bắt đầu sắp xếp nó theo một trình tự Theo Bách khoa toàn thư Do Thái, vào năm 1939 những người Do Thái có khoảng 20% dân số ở Kiev hoặc khoảng 175.000 người [5]. Quân đội Đức đến chiếm đóng Kiev vào ngày 20/9/1941. Vài ngày sau, vào ngày 29 tháng 9, một nhóm bán quân sự của Đức Quốc xã đã có báo cáo: Ở tại đây hiện có 150.000 người Do Thái đang sinh sống tại Kiev. Để kiểm tra lại thông tin này cũng khó có thể thực hiện được[6]. Như đã đề cập, chả biết được bao nhiêu người Do Thái đã có thể rời phỏi Kiev trước khi quân Đức đến chiếm đóng. Người Do Thái đã không đi di tản thành từng đoàn một và không có ai có thể tính được có bao nhiêu người trốn thoát. Những người từng làm làm việc trong trong những nhà máy quân sự và những thành viên trong gia quyến của họ, cũng đã rời khỏi thành phố cùng với trang thiết bị của các nhà máy mà nơi họ đang làm việc. Vấn đề này đã nói lên rằng tại sao, chính mẹ và bà của tôi còn sống sót ở thời điểm đó. Ông tôi, đã từng làm việc trước thế chiến thứ hai và là một nha sĩ tại một nhà máy quân sự“Arsenal” ở Kiev (Những nhà máy và xí nghiệp lớn ở Liên Xô thường có những phòng khám và bệnh viện đa khoa riêng). Là một bác sĩ y khoa, ông tôi được động viên vào quân ngũ ngay từ ngày đầu chiến tranh. Gia đình của ông tôi (gồm có, vợ của ông, hai người con gái cùng cha mẹ, em gái và mẹ vợ) đã rời khỏi Kiev cùng với các công chức của nhà máy “Arsenal”. Tôi còn nhớ rõ bà tôi – Gittel Brovarnik, đã kể lại về cuộc chạy thoát của họ. Bà có hai người con và người con út đó là mẹ tôi, lúc bấy giờ chỉ mới hai tuổi và rất ốm yếu. Ông tôi đã lo lắng rằng, bà tôi lên đường di tản cùng với một đứa con ốm yếu lại đang mang bệnh truyền nhiễm, thì mọi người rất có thể sẽ không cho bà và lũ nhỏ lên tàu. Ngoài ra, bà lại chẳng có tin tức tức gì từ người chồng đang trong quân đội. Bà tôi cũng lo lắng, nếu như bà rời khỏi Kiev thì cũng sẽ chẳng bao giờ nhận được thư từ của chồng nữa. Xong, bà đã quyết định ở lại Kiev. Do đó, khi cuộc di tản của những người công nhân và gia đình của họ được tổ chức ở nhà máy “Arsenal” bà đã không đi mà cho em gái của chồng và người con gái lớn của mình đi trước. Trong dòng người di tản cuồn cuộn, chẳng có ai quan tâm đến việc kiểm tra tên tuổi hành khách và do đó Fira Brovarnik đã lên tàu thay cho bà tôi – Gittel. Cuối tháng tám năm 1941, khi cuộc chiến giữa Hồng quân Liên Xô và Đức quốc xã đã đến Kiev, điều đó cũng có nghĩa là quân Đức rất có thể sẽ chiếm đóng thành phố. Bà tôi mới chạy đến nhà máy “Arsenal” để tìm ban giám đốc của nhà máy và hỏi về tin tức của chồng. Bà gặp được ông giám đốc, một người Nga tên là Chebotarev. Bà tự giới thiệu mình là vợ nha sĩ Ilia Brovarnik của nhà máy “Arsenal”. Ông giám đốc rất sửng sốt khi nhìn thấy bà vẫn còn ở lại Kiev. Ông nói: Tai sao cô vẫn còn ở lại Kiev? Cô phải rời khỏi thành phố ngay lập tức. Cô là một người Do Thái và không thể nào ở lại đây được với bọn Đức. Ông giám đốc đã đưa bà và cô con gái rời đi khỏi thành phố cùng với những trang thiết bị của nhà máy “Arsenal” trên một chuyến tàu hàng. Đoàn tàu hành trình từ Kiev đến thành phố Votkinsk ở Ural trong vòng hai tuần lễ, trong khi đó hầu như không có một chút tiếp tế lương thực nào, khi tàu dừng bánh tại một san ga, bà tôi đã mang hết đồ tư nhân ra để đổi lấy thực phẩm, cuối cùng họ cũng đến được nơi. Sau đó bà tìm lại được chồng mình (Ông tôi) làm một bác sĩ phẫu thuật răng ở một vài bệnh viện và ông làm việc cho đến hết chiến tranh. Bà tôi lặp đi lặp lại câu chuyện này không biết đến bao nhiêu lần trong cuộc đời của mình với một sự cảm kích vô cùng to lớn đối với ông giám đốc nhà máy “Arsenal”, người mà đã cứu cuộc đời bà và mẹ của tôi. Một câu hỏi khá hay đối câu chuyện của bà tôi: Tại sao ông giám đốc người Nga Chebotarev của nhà máy “Arsenal” lại biết rằng những người dân Do Thái không thể nào ở lại được thành phố Kiev với chế độ của bọn Đức?. Dĩ nhiên những người Do Thái ở Kiev đã không có nhận thức tính nghiêm trọng của sự rủi ro của họ. Những người di tản gồm có những công nhân, và những lãnh đạo cùng với các nhà khoa học và gia đình của họ. Nhưng còn rất nhiều người kể cư dân Do Thái còn ở lại Kiev. Một số người không muốn rời khỏi thành phố với nhiều lý do vì đau yếu hoặc già cả không còn sống thêm được bao lâu nữa. Cũng có một số người bất mãn với chế độ Xô Viết, họ nghĩ rằng nếu sống ở dưới thời Đức Quốc xã thì cuộc sống của họ được tươi đẹp hơn [7]. Người chồng thứ hai với cụ bà của tôi cũng kiên quyết không rời khỏi Kiev, cụ bà tôi đến năn nỉ ông ông đi, nhưng ông nói: - Tôi nhớ rằng quân Đức ở trong thế chiến thứ nhất, (khi đó chúng cũng chiếm đóng Kiev) họ cũng là một dân tộc văn minh. Khi nào họ đến Kiev, tôi và con trai tôi (con của người vợ trước) sẽ mở cửa hàng để buôn bán .[8] Cụ bà của tôi đành phải rời đi và để lại chồng ở Kiev. Rồi sau đó vài tuần ông ấy bị giết chết cùng với con trai của mình ở Babi Yar. Vào năm 1941, có rất nhiều người Do Thái ở Kiev đã nhớ lại sự chiếm đóng của quân Đức vào thời kỳ thế chiến thứ nhất. Trước khi quân Đức chiếm đóng Kiev lần này và cũng là thời điểm trước khi xảy ra vụ thảm sát người Do Thái của bọn Đức ở Ukraina. Họ nghĩ rằng tất cả nhân dân sẽ được che chở kể cả là người Do Thái. Xong, trí nhớ trong quá khứ của họ đã không tránh được khỏi thảm họa. Họ đã không có thông tin chính xác về chế độ Quốc xã. Rất nhiều trong số họ đã có xuy nghĩ rằng người Đức dù sao cũng là một “dân tộc châu Âu” và do đó người Đức chiếm đóng thành phố thì không thể nào tồi tệ hơn được so với chế độ Bolshevik .[9] Một số sử gia cũng khẳng định rằng, các nhà lãnh đạo Xô Viết đã cảnh báo những người Do Thái rằng nếu như bọn Quốc xã chiếm đóng thành phố thì sẽ là điều rất nguy hiểm đối với họ.[13] Sử gia Leni Yahil khẳng định “Một tỉ lệ lớn những người Do Thái ở Kiev đã trốn thoát được trước khi Đức quốc xã đến nơi” điều này không đáng tin .[14] Phần lớn những người Do Thái ở Kiev không thể dễ dàng rời khỏi thành phố bởi vì chỉ có một số người đã di tản. Họ đi di tản không có tổ chức do đó khá khó khăn: khi đó để kiếm được tấm vé là rất gian nan trong những tháng đầu của cuộc chiến tranh, sau đó thì vé tàu không còn được bán cho thường dân nữa. Tất cả các chuyến tàu được dùng để vận chuyển di rời các nhà máy quân sự và cho các mực đích quân sự khác.[15] Phần lớn những người Do Thái ở Kiev và những người Do Thái tị nạn bị kẹt lại trong thành phố. Theo ước tính của tôi thì có khoảng 20.000 – 30.000 người Do Thái là có thể rời khỏi thành phố trước khi bọn Đức chiếm đóng và kiểm soát Kiev. (a) -------------------------------------------------------------------------- Ghi chú: (a) Không ai có thể tính được số lượng người dân Kiev đã thoát khỏi thành phố. Các sử gia Xô Viết đã trích dẫn một báo cáo và khẳng định, có khoảng 335 ngàn người dân thoát khỏi Kiev. [16] Nhưng theo tôi, con số này chưa được chính xác lắm. Tổng số dân chúng ở Kiev theo như thống kê vào năm 1939, là có 847.000 người . [17] Cuộc di tản ra khỏi Kiev chỉ có thể được tiến hành cùng với các nhà máy và công xưởng. Theo các nguồn tài liệu khác, chỉ có 197 trong số 1176 nhà máy là được di rời cùng với công nhân viên chức và gia đình của họ.[18] Tất nhiên, những nhà máy quân sự này là một bộ phận quan trọng để sản xuất trang thiết bị bảo vệ tổ quốc. Khi đó chỉ có khoảng 17% các nhà máy công nghiệp là được di rời ra khỏi thành phố cùng với cán bộ công nhân viên. Khi đó không có thống kê là có bao nhiêu người được di tản cùng với các nhà máy này. Chúng tôi chỉ có thể ước tính rằng, tổng số dân chúng Kiev được di tản cùng với các xí nghiệp là vào khoảng không cao hơn 10 -15 % tổng số dân chúng của thành phố. Do đó, chỉ có khoảng 100 – 150 ngàn người là được rời khỏi thành phố. Như vậy, tỉ lệ người Do Thái rời khỏi thành phố không thể lớn hơn phân số của toàn bộ dân số của thành phố. Do đó nếu chúng ta tính 10 – 15 % tổng số người Do Thái trong đó thì ta có thể ước đoán được khoảng chừng 20 -30 ngàn người Do Thái đã di tản cùng với các nhà máy của họ. Chúng ta sau đó cũng có thể tính được gần như chính xác số lượng người Do Thái còn lại ở Kiev. Trước chiến tranh, số lượng người Do Thái ở Kiev vào năm 1939 là 175.000 người, ta cộng thêm khoảng 10 – 15 ngàn người Do Thái đến tị nạn từ các vùng phía tây của Liên Xô và trừ đi số 20 – 30 ngàn người trong số họ đi di tản cùng với các nhà máy sau đó trừ đi khoảng 35 – 40 ngàn người nữa đã tham gia vào quân đội (về số lượng này đã vào quân đội ngay từ khi chiến tranh bắt đầu) [19]. Do đó, các phép tính của tôi sẽ có đáp án là: Từ 115,000 đến 135,000 người Do Thái [ = 175, 000+ 10,000 (15,000) - 20,000 (30,000) – 35,000 (40,000)] = số lượng người Do Thái còn ở lại thành phố Kiev khi Đức quốc xã đến chiếm đóng thành phố. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên: | ||
|
#11
|
|||
|
|||
|
Bọn Đức đã chiếm đóng Kiev liên tục trong 778 ngày. Ở Kiev, bọn quốc xã đã vấp phải các đợt chống trả của quân dân Xô Viết nhiều hơn so với những cuộc xâm chiếm của chúng đã từng trải qua trước đây ở các thủ phủ khác trên khắp châu Âu. Vào ngày 24 tháng 9, một số tòa nhà lớn trong khu kinh doanh của Kiev, nằm trên đường Kreshchatik và đường Proreznaia bị phá hủy tan tành, kể cả sở chỉ huy của quân Đức và khách sạn “Đại lục” nơi mà rất nhiều sĩ quan Đức đang dùng làm nơi đóng quân. Ngày 25 tháng 9 những ngọn lửa lại tiếp tục bùng lên dữ dội lan tỏa trong khu vực trung tâm thành phố. Những tiếng nổ dữ dội và những ngọn lửa đã tàn phá một khu vực khoảng một dặm vuông . [20]
Các sự kiện này đã được tướng Đức quốc xã Alfred Jodl (a) mô tả trong lời khai của Y tại Nuremberg:(b) … Khi chúng tôi vừa mới chiếm đóng thành phố, thì lập tức có một tiếng nổ dữ dội sau đó lại là một tiếng nổ khác xuất hiện. Khu vực chính trong thành phố bùng cháy khủng khiếp, lính Đức đã phải tăng cường lực lượng để chiến đấu với các đám cháy, sau đó chúng tôi phải trải qua những tổn thất rất lớn bởi vì các vụ nổ lại tiếp tục xảy ra dữ dội trong khi hỏa hoạn . [21] Jodl tiếp tục khai thêm: Lúc đầu, người chỉ huy của chúng tôi tại đây cho rằng, đây là những vụ phá hủy nhắm vào những khu vực dân cư, nhưng sau đó chúng tôi phát hiện được một sơ đồ được liệt kê ra khoảng 50 hoặc 60 mục tiêu ở Kiev, những mục tiêu mà được lên kế hoạch để sau này tiến hành phá hủy nhằm vào các khu quân sự, sơ đồ này đã được các chuyên viên của chúng tôi sau đó đã xác định được đó là nguồn tin khá chính xác. Hiện tôi đang giữ bản sơ đồ gốc này. [22] Hàng trăm lính Đức bị giết chết trong các vụ nổ và đám cháy. Có nhiều đội du kích của Nga đã được tổ chức hoạt động bí mật trong thành phố. Trong lúc này, thành phố Kiev trở thành một đấu trường trong toàn bộ cuộc chiến tranh.[23] Quốc xã lại qui cho những người Do Thái cũng có trách nhiệm về những vụ nổ này. Trong vụ cháy trên đường Khreshchatik, chúng bắt được và giết chết một người Do Thái đã cắt đứt đường ống cứu hỏa của chúng.[24] Chúng đã lấy trường hợp này để bào chữa cho vụ thảm sát của chúng tại Babi Yar với lý do trả thù các hành động mà có người Do Thái đã tham gia gây lên các vụ nổ trong thành phố. Bọn chỉ huy quân đội Đức quốc xã ở Kiev đã ra quyết định hưởng ứng và và ra lệnh trừ khử toàn bộ người Do Thái trong thành phố.[25] Tuy nhiên, những người dân thường Do Thái hoàn toàn không có dính líu gì đến các vụ nổ cả. Bọn Đức quốc xã đã chọn hẻm núi Babi Yar làm địa điểm thảm sát hàng loạt người dân Do Thái ở Kiev bởi vì đây là một địa điểm tương đối hẻo lánh. Babi Yar nằm cách xa trung tâm thành phố khoảng sáu dặm, vào thời điểm đó nơi đây vẫn còn là một địa điểm ngoại vi của Kiev. -------------------------------------------------------------------------- Ghi chú: a) Alfred Jodl, là tổng tham mưu trưởng Đức quốc xã trong suốt thế chiến thứ hai, Jodl là cố vấn tối cao về chiến lược quân sự của Hitler. Y đầu hàng quân đội Anh vào tháng 5 năm 1945 và bị đem ra xét sử tại Nuremberg. b) Các phiên tòa Nuremberg, xét sử về tội phạm chiến tranh quốc tế được tiến hành lần đầu tiên vào tháng 9 năm 1945 tại Nuremberg, nước Đức. Tòa án quân sự quốc tế (IMT) được thành lập bởi quân đồng minh gồm có – Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp, vào cuối thế chiến thứ hai. Bên nguyên từ bốn quốc gia trên đã cáo buộc tất cả 22 viên chức của Đức quốc xã với ba lời buộc tội cơ bản – âm mưu và tiến hành một “cuộc chiến tranh gây hấn”, phạm tội ác chiến tranh (sát hại dân thường và tù binh chiến tranh), phạm “tội ác chống lại loài người” (http://www.facts.com/icof/nurem.htm) Thay đổi nội dung bởi: nthach, 22-04-2008 thời gian gửi bài 13:41 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên: | ||
Serguei Kouzmic (23-04-2008), thaitamhien (22-04-2008) | ||
|
#12
|
|||
|
|||
|
Sáng ngày 29 tháng chín, trong ngày lễ sám hối – Ngày Chuộc Lỗi , một trong những ngày lễ tôn giáo linh thiếng nhất của người Do Thái, toàn bộ những người dân Do Thái bị tập hợp và bị dẫn đi đến một vùng lân cận tại hẻm núi. Ở một vị trí cách không xa rìa hẻm núi, toàn bộ những người Do Thái bị lột bỏ hết quần áo và đồ trang sức. Từng nhóm người bị dẫn đến rìa hẻm núi và bị bắn chết hàng loạt, sau đó họ bị quân Đức xô xuống hẻm núi Babi Yar.
Chúng tôi hiện đang có bản báo cáo của Đức quốc xã nói về cuộc thảm sát hàng loạt người Do Thái ở Babi Yar. Bản – Báo cáo tình chiến dịch của Einsatzgruppe C – vào ngày 7/10/1941: Dư luận công chúng đang có chiều hướng chống lại dân Do Thái rất mạnh mẽ, một phần là do hoàn cảnh kinh tế của họ dưới thời Bônsêvich tốt hơn và họ là những mật thám và đặc vụ của NKVD, một phần nữa là do những vụ nổ và họa hoạn đã lấy đi nơi nương náu của khoảng 25.000 người. Cũng với một nhân tố nữa đã được chứng minh rằng, những người Do Thái đã tham gia và các vụ gây ra hỏa hoạn, dân chúng thành phố đang mong đợi các nhà chức trách của Đức có hành động trả thù một cách đích đáng. Do đó, được sự chấp thuận của chỉ huy thành phố, toàn bộ số phận những người Do Thái ở Kiev đã được thu xếp vào lúc 8 giờ sáng thứ hai ngày 29 tháng chín, tại một địa điểm đã được chỉ định. Các thông cáo này được dán trong khắp thành phố. Cùng thời điểm đó, các thông báo cũng được chuyển bằng miệng cũng được phát đi rằng, toàn bộ người dân Do Thái sẽ phải đi tái định dư ở một nơi khác. Cùng sự hợp tác của ban tham mưu Einsatzgruppe và 2 lính biệt kích thuộc trung đoàn cảnh sát phía nam, đội Sonderkommando 4a đã hành quyết 33,771 người Do Thái vào hai ngày 29 và 30 tháng 9. Toàn bộ tiền bạc, đồ trang sức, quần áo lót và y phục bị tịch thu và một phần trong số đó được giao cho Volksdeutsche (cư dân của Đức đang sống ở Kiev) sử dụng, một phần thì giao cho các nhà chức trách của thành phố sử dụng vào các mục đích cần thiết khác.[26] Đã có một số bịa đặt trong bản báo cáo này là để bào chữa cho tội của bọn quốc xã đối với người Do Thái ở Kiev, điều đầu tiên bịa đặt trong bản báo cáo này là những người Do Thái đã tham gia hoạt động trong NKVD là không sự thực, vấn đề này đã nhiều lần được nhắc đến trong tài liệu lịch sử.[27] Điều không đúng tiếp theo là những người dân Do Thái ở Kiev đã liên quan đến các vụ nổ và hỏa hoạn trong thành phố...Đội quân SS của Đức đã thực hiện hành hình những người Do Thái tại những địa điểm khác ở Kiev ngay từ ngày 21 – 25 tháng chín.[28] Do đó, vụ thảm sát hàng loạt người Do Thái ở Kiev đã được tiến hành từ trước khi có các vụ nổ xảy ra trong thành phố vào ngày 24 tháng 9. Rõ ràng là các viên chỉ huy quốc xã cần đạt được các mục đích quân sự, chứ toàn bộ những người dân Do Thái địa phương không thể tham gia vào những vụ việc phá hủy thành phố. Do đó, để thanh minh rằng vụ thảm sát tại Babi Yar với lý do trả thù về những vụ nổ trong thành phố là được thiết kế bởi các quan chức quốc xã để biện minh cho hành động giết người của chúng. Một bịa đặt khác, một điều mà đã khá nhiều người biết đến đó là, số lượng người Do Thái bị thảm sát ở Babi Yar mà Đức quốc xã đã tính với con số 33.771 người. Với trí nhớ của rất nhiều người còn sống sót sau thảm họa Babi Yar (trong đó có cả những người Nga và người Ukraina), chỉ có một người chính mắt chứng kiến bọn Đức quốc xã đã vào sổ danh sách những người Do Thái trước khi hành hình họ.[29] Còn lại những người khác thì mô tả rất chi tiết với những gì chứng kiến vụ thảm sát tại Babi Yar nhưng không hề biết gì về danh sách các nạn nhân. Chúng ta có thể thừa nhận rằng, những người Do Thái trước khi chết đã được ghi vào danh sách, và do đó tính được số lượng người bị thiệt mạng chỉ vào thời điểm đầu tiên của vụ thảm sát, nhưng sau đó bọn Đức đã dừng lại không ghi vào danh sách nữa. Tại sao? – câu trả lời cho câu hỏi này chúng ta có thể tìm thấy trong – Báo cáo tình hình chiến dịch số 128 của Einsatzgruppe C: …Từ lúc đầu chúng tôi ước đoán số lượng được chuyển đến (Babi Yar) chỉ khoảng 5 – 6 ngàn người Do Thái, nhưng trên thực tế đã đưa đến đây khoảng 30 ngàn người, số lượng này cho đến tận phút cuối của vụ thủ tiêu mới được chắc chắn, bởi vì những người Do Thái nghĩ rằng sẽ được đi tái định cư theo như đã được tuyên truyền (của quốc xã) . [30] Do đó, có thêm rất nhiều người được chuyển đến Babi Yar hơn so với bọn quốc xã đã từng dự tính vào lúc đầu. Chúng ta có thể thừa nhận rằng, quá trình ghi danh sách nạn nhân được tiến hành trong rất nhiều lần và cuộc thảm sát xảy ra một cách chậm chạp và bọn quốc xã đã dừng việc ghi chép danh sách các nạn nhân này lại. Theo như sử gia Felix Levitas đã viết: Những tên thực hiện vụ thảm sát không có đủ thời gian để hoàn thành công việc của chúng. Do đó, chúng bắt đầu đưa hai người vào cùng một vị trí để chỉ với một viên đạn là có thể hạ sát được cả hai cùng một lúc. Những người nếu bị thương thì bị giết chết bằng xẻng, trẻ em thì bị liệng xuống Babi Yar và bị chôn sống cùng với các nạn nhân khác.[31] Ông Sergey Ivanovich Lutsenko là người canh gác ở gần nghĩa địa Lukianovskoe đã chứng kiến trực tiếp tấn thảm kịch này. Ông nói rằng, những người Do Thái bị đưa đến dày đặc trên các đường phố Lukianovskuiu, Degtiarskuiu, Lagernuiu và Melnikova và trên ba nghĩa địa nằm ở gần Babi Yar. Bọn quốc xã đã ra lệnh cho họ tháo bỏ hết đồ dùng cá nhân, sau đó họ bị tách ra thành từng nhóm, mỗi nhóm khoảng 100 người và họ bị đem đến Babi Yar. Ông ấy đã chứng kiến sự việc qua căn phòng bảo vệ của ông, và đã nhìn thấy bọn Đức đã dùng súng tự động và súng máy bắn chết người như thế nào ở Babi Yar. Trước khi hành hình họ, bọn Đức đã ép buộc tất cả mọi người phải lột bỏ hết quần áo. Trẻ nhỏ thì bị liệng xuống hố khi vẫn còn sống. Lutsenko đã chứng nhận rằng: Chúng bắn người từ sáng cho đến tối. Vào buổi đêm bọn Đức đi ngủ, những người còn lại (những người mà chúng chưa giết hết) chúng khóa họ lại đầy trong những gara ôtô. Vụ thảm sát được tiến hành trong năm ngày liên tục. Bọn Đức quốc xã mang đến đây (đến Babi Yar) càng ngày càng nhiều người hơn nữa, và từ đây quay lại chỉ là những chuyến xe tải chở đầy quần áo .[32] Cuộc thảm sát người Do Thái ở Kiev được thực hiện không chỉ vào các ngày 29 – 30 tháng 9 như đã được miêu tả trong – Báo cáo tình hình chiến dịch của Einsatzgruppe C – vào ngày 7/10/1941, mà còn được tiếp diễn liên tục cho đến tận ngày 3 tháng 10. Một số người chứng kiến, họ không phải là dân Do Thái đã xác nhận vào thời kỳ sau chiến tranh rằng, vụ thảm sát hàng loạt người Do Thái ở Babi Yar được tiếp diễn liên tục trong vòng 5 ngày. Bằng chứng đã cho thấy, hơn 100 ngàn người Do Thái đã bị giết chết ở đây, không phải chí có 33.771 người như đã tuyên bố trong báo cáo của bọn Đức quốc xã. [33] Bản báo cáo của Quốc xã về số lượng người Do Thái bị thảm sát có thể không chính xác, bởi vì không có bằng chứng nào khẳng định được số lượng nạn nhân bị giết chết ở đây đã được bọn quốc xã ghi chép đầy đủ. Thêm nữa, nếu chỉ có 33.771 nạn nhân Do Thái bị giết chết ở Babi Yar, thì lấy gì để giải thích sự biến mất của số lượng dân Do Thái còn lại là 115.000 – 135.000 người còn mắc kẹt ở trong Kiev vào thời điểm bọn Đức chiếm đóng thành phố. Số lượng nạn nhân gần chính xác ở Babi Yar đã được xác nhận bằng lời khai của các tù binh còn sống sót ở trong trại tập trung “Syrets”, những người này đã bị quan chức Đức quốc xã ép buộc phải hủy tất cả những bằng chứng về vụ hành hình Babi Yar vào hai năm sau đó. Chúng khai rằng, có 60 địa điểm rộng lớn ở Babi Yar đã được dựng lên để hỏa thiêu xác nạn nhân, ở mỗi địa điểm đó có khoảng 2.500 – 3.000 xác người bị hỏa thiêu. Theo đó, tổng số có khoảng 150.000 – 180.000 tử thi của nạn nhân ở Babi Yar đã bị đốt cháy thành than.[34] Tại phiên tòa Nuremberg, một bản tuyên bố đã được đưa ra xem xét bởi Ủy ban Tình trạng Đặc biệt chuyên điều tra về tội phạm hủy diệt và hành động tàn bạo của bọn Đức quốc xã ở thành phố Kiev (Tài liệu của Liên Xô – số 9) đã nói rõ; căn cứ vào các tài liệu chưa đầy đủ, hơn 195.000 công dân Xô Viết đã bị Đức quốc xã giết chết ở thành phố Kiev gồm có: 100 ngàn người bị thảm sát ở Babu Yar 68 ngàn tù binh chiến tranh và thường dân bị thủ tiêu ở trại tập trung Darnitsa 25 ngàn tù binh chiến tranh và thường dân bị thủ tiêu ở trại tập trung Syrets…[35] Tại sao Đức quốc xã lại làm báo cáo ngắn gọn về người Do Thái bị giết tại Babi Yar với số lượng rất chính xác là 33.771 người? Do bản báo cáo cần phải đưa ra một vài con số dứt khoát để chứng tỏ rằng chiến dịch của chúng được thực hiện một cách có hiệu quả và nhanh chóng. Bộ phận thực hiện hành hình Einsatzgruppe C không muốn viết sự thật để gửi về Berlin bởi vì chúng không có khả năng đếm hết được số lượng nạn nhân của chúng trong vụ thảm sát này. Vụ thảm sát người Do Thái khổng lồ đầu tiên trong thế chiến thứ hai đã xảy ra ở thành phố Kiev, do bọn Đức quốc xã nổi điên lên vì những nổ liên tiếp trong thành phố, những vụ nổ này đã kết liễu rất nhiều sĩ quan và binh lính Đức ở Kiev. Bọn lính chiếm đóng hầu như bị choáng váng và điên tiết với những đợt kháng cự bất ngờ của dân quân du kích mà chúng gặp phải trong thành phố Kiev. Các viên chức Đức quốc xã cần phải tìm và trừng trị bằng được bất cứ ai có trách nhiệm về các vụ nổ này. Chúng không thể tìm ra và trả thù được những đội đặc công Xô Viết, những người đã gài chất nổ trước khi quân đội Xô Viết rời khỏi Kiev. Do đó, những người Do Thái ở Kiev đã trở thành cái cớ thuận tiện để chứng minh cho các vụ việc gây lên thiệt hại cho bọn quốc xã ở trong thành phố.[36] Một số người theo chủ nghĩa xét lại về nạn tàn sát người Do Thái thời kỳ Hitler(a) đã có câu hỏi, tại sao người Do Thái không đứng ra kháng cự, tại sao họ lại đến Babi Yar như (bầy cừu đi giết thịt vậy?) – Khi đó, vào ngày 28 tháng 9, theo như thông báo được yết thị trên khắp Kiev, dân Do Thái đã không dám không tuân theo các chỉ dẫn đó do bọn Đức quốc xã đã hăm dọa rằng sẽ bắn chết bất kỳ một người nào không tuân theo mệnh lệnh của chúng: Tất cả những người Do Thái đang sống ở trong thành phố Kiev và các vùng kế cận, bắt buộc đúng 8 giờ sáng thứ hai ngày 29 tháng 9 năm 1941 phải tập trung tại góc các đường phố Melnikovsky và Dokhturov (gần nghĩa địa) Khi đi phải mang theo giấy tờ, tiền bạc, dồ vật có giá trị, cũng như quần áo ấm và quần áo lót… Bất kỳ một người Do Thái nào không thực hiện theo chỉ dẫn này nếu bị tìm thấy ở bất kỳ nơi đâu cũng sẽ bị bắn chết. Bất kỳ một người dân nào khác nếu đi vào các căn hộ của người Do Thái để lại và ăn trộm tài sản cũng sữ bị bắn chết. [37] Đa số những nạn nhân Do Thái lại cho rằng bọn Đức sẽ cho họ đi tái định cư ở nơi khác, như họ đã hiểu vấn đề này từ tin đồn đã được truyền đi bởi những cộng tác viên tuyên truyền của bọn quốc xã. Gần các vị trí tập hợp đó, là một nhà ga xe lửa và những người Do Thái vì thế đã tin rằng họ sẽ được lên tàu ở đây. Vào thời điểm mà những người Do Thái ở Kiev khi đã nhận ra rằng, bọn Đức quốc xã đang mang họ đi sát hại, thì cũng là thời điểm đã quá trễ để tổ chức bất kỳ một kháng cự nào hòng trốn chạy. Những con đường gần Babi Yar, đã bị ba hàng bảo vệ bao vây chặt, tất cả bọn chúng được với trang bị vũ khí bằng súng trường tự động và súng máy .[38] Những người dân thường phải làm gì chỉ với tay không trong cái cạm bẫy này? Babi Yar từ đó liên tiếp trở thành địa điểm hành hình của bọn Đức trong rất nhiều tháng nữa về sau. Những người Do Thái bị mang đến đây từ các vùng khác ở Ukraina để hành hình. Cho đến khi Kiev được Hồng quân Liên Xô giải phóng vào ngày 6 tháng 11 năm 1943, thì hầu như gần 200.000 người đã bị sát hại ở Babi Yar, trong số đó có khoảng 115.000 – 135.000 người Do Thái ở Kiev và các vùng phụ cận, cộng với những người dân Ukraina, tù binh chiến tranh của Liên Xô…[39] Cũng còn lại hàng trăm người Do Thái được sống sót ở Kiev vào thời gian bọn Đức quốc xã chiếm đóng thành phố. Những người dân và bè bạn đã che chở cho họ. Từ năm 1990, ủy ban người Do Thái ở Ukraina đã trao danh hiệu “Người đạo đức của Babi Yar” cho 431 người không phải là dân Do Thái, những người này đã không màng đến sự nguy hiểm cho tính mạng không chỉ riêng mình, mà liên quan đến cả các tính mạng của toàn bộ gia đình họ, họ đã đứng ra che giấu người Do Thái ở trong Kiev cũng như ở các vùng khác trong suốt thời gian quân Đức chiếm đóng thành phố.[40] -------------------------------------------------------------------------- Chú thích: a) Những người theo chủ nghĩa xét lại về nạn tàn sát người Do Thái thời kỳ Hitler đã bác bỏ một số hoặc toàn bộ tổng quát đã được lịch sử thừa nhận về nạn tàn sát người Do Thái, bởi theo họ, Đức quốc xã và các cộng sự của chúng phạm vào tội diệt chủng thảm sát hàng triệu người Do Thái trong thế chiến thứ hai, là theo mệnh lệnh của Adolf Hitler. Thay đổi nội dung bởi: nthach, 22-04-2008 thời gian gửi bài 13:39 |
| Có 6 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên: | ||
HUNG ASTRA (22-04-2008), hungmgmi (22-04-2008), Serguei Kouzmic (23-04-2008), thaitamhien (22-04-2008), Thanhxuan1974 (22-04-2008), tuktuk (22-04-2008) | ||
|
#13
|
|||
|
|||
|
|
|
#14
|
|||
|
|||
|
Chú thích:
1. Kuznetsov, Anatoly. Babi Yar. Tiểu thuyết tài liệu (The Dial Press, New York, 1967). 2. Chernaia Kniga. (Kiev, 1991): 22-32. 2. Chernaia Kniga. Do các biên tập viên Vasily Grossman và Ilia Erenburg biên soạn . (Kiev, 1991): 22-32. 3. Sách bìa đen.- Tội ác của Đức quốc xã chống lại người Do Thái. (Nexus Press, New York, 1981): 359-365. 4. Một độc giả nạn tàn sát người Do Thái. Do Lucy S. Dawidowicz biên tập và giới thiệu. (Behrman House, Inc. New York, 1975): 89 - 90. 5. Kratkaia Evreiskaia Entsiklopedia. (Jerusalem, 1988) IV: 257. 6. Katastrofa ta Opir Ukrains’kogo evreistva (1941- 1944). Narysy z istorii Holokostu i Oporu v Ukraini. Do biên tập viên S. Elisavetsky sưu tầm và biên soạn. (Kiev, 1999): 94. 7. Kuznetsov, Anatoly. Babi Yar. Roman-dokument, (Kiev, 1991): 46-48. 8. Bà nội truyền khẩu lịch sử cho tôi, Gittel Brovarnik. 9. Levitas, Ilia. Pravedniki Babiego Yara. (Kiev, 2001): 4-5. 10. Kuznetsov, Anatoly. Babi Yar. Roman-dokument, (Kiev, 1991): 77.11. Katastrofa ta Opir Ukrains’kogo evreistva (1941- 1944). Narysy z istorii Holokostu i Oporu v Ukraini. Editor-compiler S. Elisavetsky. (Kiev, 1999): 88. 11. Katastrofa ta Opir Ukrains’kogo evreistva (1941 – 1944). Narysy z istorii Holokostu i Oporu v Ukraini. Do biên tập viên S. Elisavetsky biên soạn. (Kiev, 1999): 88. 12. Ibid., 89-91. 13. Ibid., 88; . Pamiat’ Babiego Yara. Vospominania. Dokumenty. Tác giả Ilia Levitas biên soạn. (Kiev,2001): 9. 14. Leni Yahil. Nạn diệt chủng – định mệnh của người Do Thái, 1932-1945. ( Ban báo chí trường đại học Oxford ,1990): 257. 15. Istoria Kieva. Tổng biên tập A. Kasimenko. ((Kiev, 1964). Vol. II: 407, 478. 16. Kyiv. Entsiklopedychnyi dovidnyk. Ed. A.V. Kudrytskyi. Kyiv, 1981: 22. 17. Ibid. 18. Kyiv. Istoriia mist i sil Ukrains’koi RSR. Tổng biê tập P.T. Toron’ko. Kyiv, 1968: 424; Istoria Kieva. Tổng biên tập A. Kasimenko. (Kiev, 1964). Vol. II: 407. 19. Pamiat’ Babiego Yara. Vospominania. Dokumenty. Tác giả Ilia Levitas biên tập. (Kiev, 2001): 238. 20. Khreshchatyk. Kul’turologichnyi putivnyk. Biên tập viên V. Gruzin biên soạn. (Kyiv, 1997):20-21. 21. Tướng Jodl, Ngày 6 thángs 6, 1946, Toàn án tội phạm chiến tranh Đức tai Nuremberg, Đức. 306. (http://www.nizkor.org/hweb/imt/tgmwc/tgmwc-15/tgmwc- 15-146-03.shtml) 22. Ibid. 23. Khreshchatyk. Kul’turologichnyi putivnyk. Biên tập viên V. Gruzin biên soạn. (Kyiv, 1997):20-21. 24. Pamiat’ Babiego Yara. Vospominania. Dokumenty. Tác giả Ilia Levitas biên soạn. (Kiev, 2001): 11. 25. Một độc giả nạn diệt chủngr. Do Lucy S. Dawidowicz biên tập và giới thiệu. (Behrman House, Inc. New York, 1975): 89-90. 26. Ibid., 90. 27. B.D. Brutskus. Evreiskoe naselenie pod kommunisticheskoy vlastiu. Evrei i russkaia revolutsia. Materialy i isledovania. Biên tập viên O.V. Budnitskiy biên soạn. (Moscow-Jerusalem, 1999): 296- 319; L. Krichevsky. Evrei v Apparate VChKa- OGPU v 20-e gody. Ibid., 320-350; . Victoria Khiterer “Ob’ektivno sozdavshaiasia ekonomicheskaia katastrofa.” Evreiskie mestechki v 1920-h godah. Vestnik Evreiskogo Trường đại học ở Moskve. 1995. N 1(8), pp. 212-216; A. Naiman. Evreiskoe zemledelie v Ukraine v 1930-e gody. Ibid., 217-222. 28. Một độc giả nạn diệt chủngr. Do Lucy S. Dawidowicz biên tập và giới thiệu. (Behrman House, Inc. New York, 1975): 89. 29. Pamiat’ Babiego Yara. Vospominania. Dokumenty. Tác giả Ilia Levitas biên soạn. (Kiev, 2001): 184. 30. Katastrofa ta Opir Ukrains’kogo evreistva (1941- 1944). Narysy z istorii Holokostu i Oporu v Ukraini. Biên tập viên S. Elisavetsky biên soạn. (Kiev, 1999): 99. 31. Ibid., 98. 32. Ibid. 33. Một độc giả nạn diệt chủng người Do Thái. Do Lucy S. Dawidowicz biên tập và giới thiệu. (Behrman House, Inc. New York, 1975): 90. 34. Pamiat’ Babiego Yara. Vospominania. Dokumenty. Tác giả Ilia Levitas biên soạn. (Kiev, 2001): 20. 35. Ibid., 232-233. 36. Ibid., 9-11. 37. Ibid., 12. 38. Levitas, F. Shimansky, M. Babi Yar. Stranitsy tragedii. (Kiev, 1991): 20. 39. Pamiat’ Babiego Yara. Vospominania. Dokumenty. Tác giả Ilia Levitas biên soạn. (Kiev, 2001): 1-56, 232-233; Levitas, F. Shimansky, M. Babi Yar. Stranitsy tragedii. (Kiev, 1991): 101. 40. Levitas, Ilia. Pravedniki Babiego Yara. (Kiev, 2001): 6. HẾT Thay đổi nội dung bởi: nthach, 23-04-2008 thời gian gửi bài 11:18 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nthach cho bài viết trên: | ||
hungmgmi (23-04-2008), Serguei Kouzmic (23-04-2008) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|