![]() |
Thơ Bôrix Petrôvitr Kornhilôv (Борис Петрович Корнилов)
Đây là 1 bài thơ của BK gửi OB trong đường link Nina vừa gửi. Bútgai có bản dịch góp vui với cả nhà
|
@ Bác butgai: bài thơ bác dịch rất hay, nhất là 3 khổ thơ đầu tiên. Tuy nhien xin bác xem lại mấy câu (in nghiêng) em hơi có chút băn khoăn:
1. Весенняя река có lẽ dịch là "đẹp dịu dàng" sợ không chuẩn lắm, vì sông mùa xuân "hung dữ" lắm bác ơi - băng trên sông tan ra nên dòng chảy lớn lắm, mà tác giả cũng chỉ nói là "cô gái vui tươi" và có phần vô tư như dòng sông mùa xuân: Укачает, унесет, впадать в океан, đâu có "dịu dàng", (đấy là chưa kể còn "dữ" nữa, hì hì):emoticon-0100-smile 2. Từ ярость không phải là "chói lóa" mà là "thịnh nộ, giận dữ", chắc muốn nói sông chẳng giận dữ gì, chẳng ác độc gì, nhưng là sức sông mùa xuân nên cứ ào ào đổ ra biển, cuốn theo tất cả thôi. 3. Câu sau cùng trong khổ thơ có chữ "khi" làm câu thơ trở nên khó hiểu, em nghĩ câu này chắc tác giả định nói: khi sông đổ ra biển thì cứ việc nó nó đi, cũng chẳng cố tình (hy vọng) cuốn cả đời tôi theo nó. Em có mấy dòng trao đổi thế bác xem lại giúp, nếu có gì chưa đúng cho em biết với nhé! Tất thảy đã đi vào xanh thẳm luân hồi Người đời sau kể chuyện chàng trai trẻ Từng yêu một cô nàng vui vẻ thế Đẹp dịu dàng như sông lúc xuân thì Trong quay cuồng dòng nước sẽ cuốn đi Chẳng chói lòa mà cũng không ác độc Không hy vọng khi đổ ra biển rộng Khi đời anh đã bị sóng cuốn đi |
Em xin trình làng phương án dịch bài thơ này:
|
Thơ Bôrix Pet’rôvitr Kornhilôv (Борис Петрович Корнилов)
|
Em cũng xin góp vui một chút với bài "Que diêm" :)
http://upload.wikimedia.org/wikipedi...treichholz.jpg
|
Thơ Bôrix Pet’rôvitr Kornhilôv (Борис Петрович Корнилов)
BÔRIX PÊT’RÔVITR KORNHIÔV
Vài nét tiểu sử: (Theo http://er3ed.qrz.ru/index.htm?kornilov-b.htm) Bôrix Pet’rôvitr Kornhilôv (Борис Петрович Корнилов) - người chồng đầu tiên, nguồn cảm hứng dạt dào trong những bài thơ tình xúc động của nhà thơ Olga Phiôđorôvna Berggôltx (Ольга Федоровна Берггольц ). Ông sinh ngày 16 tháng 7 năm 1907 ở làng Pôkrôvxkôe, gần thành phố Xêmiônôv, vùng Thành phố hạ lưu sông Volga. Năm 1922 gia đình chuyển đến thành phố Xêmiônôv và ông bắt đầu làm thơ. Cuối năm 1925 ông đến Lênhingrađ ( nay là Xanh Pêtecbua), tham gia nhóm văn học “Thế hệ mới” (Смена). Năm 1927 – 28 học ở trường Đai học lịch sử nghệ thuật Lênhingrađ. Một năm sau ông được coi là nhà thơ tài năng nhất của nhóm này. Từ những năm1930 ông xuất bản rất nhiều tác phẩm. Tài năng của ông phát triển theo nhiều hướng: thơ trữ tình, truyện thơ, truyện thần thoại, thi ca và ngợi ca. Năm 1934 trong đaị hội các nhà văn, ông được coi là niềm hy vọng của thơ trữ tình Xô-viết. Nhưng, những tác phẩm xuất hiện sau này đã đề cập đến tình trạng khủng hoảng (ở Nga - ND). Điều đó tác động đến ông, ông đã nghiện rượu, trở nên khùng và bị khinh bỉ. Năm 1936 bị khai trừ khỏi Hội nhà văn. Sau khi Kirôv bị ám sát, đã diễn ra một cuộc thanh trừng khốc liệt những phần tử “thù địch”. Năm1937 ông bị bắt, bị giết hại ngày 21 tháng 11 năm 1938 (tháng 2 – theo http://vi.wikipedia.org) . Sau này ông đã được truy hồi danh dự. Năm 1968 tại thành phố Xêmiônôv đã dựng tượng đài và khai trương viện bảo tàng vinh danh Bôrix Pêt’rôvitr Kornhilôv. Để tưởng nhớ 74 năm ngày mất của B. Kornhilôv, với lòng quý trọng nhà thơ trẻ bạc mệnh, chưa kịp cống hiến hết tài năng to lớn cho đời, tôi xin giới thiệu một số bài thơ của B. Kornhilôv, trước hết là “Bài ca gặp gỡ”, được coi là bài thơ hay nhất (thời đó – ND), đã được nhạc sĩ Đ. Sôxtakôvitr phổ nhạc cho phim ”Gặp gỡ”. Suốt nhiều năm sau bài hát vẫn được ưa chuộng rộng rãi.
(*)- Nguyên nghĩa: BÀI CA GẶP GỠ. Nhưng trong bài thơ sự GẶP GỠ không nhiều, điều chính yếu lại là rất nhiều sự kiện diễn ra mỗi ngày mới, nên có thể dịch là NGỢI CA NGÀY MỚI - Xem bản dịch của dịch giả Nguyễn Viết Thắng tại http://vi.wikipedia.org/wiki/Boris_Petrovich_Kornilov - Nguyên tác tại 2 trang Web đã dẫn. |
Thơ Bôrix Pet’rôvitr Kornhilôv (Борис Петрович Корнилов)
(*)- Xem bản dịch của dịch giả Thụy Anh tai: http://vn.360plus.yahoo.com/leducsao/article?mid=37 (1)- Nguyên bản tiếng Nga tại trang Web đã dẫn |
Bác Bùi Huy Bằng chỉ nên post các bản dịch thơ Kornilov vào topic này thôi nhé, không nên mở thêm topic khác nếu cùng tác giả.
|
Trích:
Cảm ơn bác BHB đã giới thiệu! :emoticon-0150-hands |
Trao đổi vài điều
K/g các bạn: hungmgmi và Sao mai
Trước hết phải xin lỗi ban QT bởi năng lực “vi tính” của tôi hạn hẹp, không biết sử dụng công cụ của trang mạng, ngay cả những từ tiếng Anh thông thường cũng chật vật đánh vần, cứ như bị gài bẫy, mong Ban QT chỉ dẫn. Sau khi nhấn chuột mới biết lỡ đà, không biết khắc phục, chứ không phải cố tình. Nhân dịp bạn Sao Mai có đưa ra so sánh, tôi thấy cũng cần nêu ra cách tiếp cận một cách hệ thống. Tôi làm kỹ thuật (nghiên cứu , thiết kế cơ khí) chỉ quen với nét vẽ cùng những công thức, không biết làm thơ và chẳng có thú yêu thơ, kể cả thơ Nga. Nhân đọc: Я ВАС ЛЮБИЛ – TÔI YÊU EM, BÀI THƠ KHÔNG HÌNH ẢNH Ngô Tự Lập (Viet-Studies 17-11-10) tôi mới biết thơ Puskin. Tôi còn biết thơ Olga Berggoltx là qua phản hồi cùng dịch giả Thụy Anh với bài “Hãy hiện về với mẹ con ơi…” ở http://lopa0khoa9.wordpress.com/2011...%C6%A1-puskin/. Vì “tức cảnh” mà “diệt thơ” nên “múa rìu” qua mặt những nhà VĂN KHOA được đào tạo bài bản. Nay muốn giới thiệu thơ Borix Kornhilov vì trong chuyên mục không thấy có. Còn nhận xét: “SM đã đọc bản dịch của Thụy Anh, thấy cô ấy dịch thoát, hay, giàu chất thơ. Đúng là nhà thơ dịch thơ, mà lại là phụ nữ dịch thơ phụ nữ, có khác” thì rất đúng, bởi là người dịch chuyên nghiệp. Tuy nhiên tôi thấy cần dẫn ra tư liệu sau đây:
Bỏ qua những tiểu tiết, tôi thấy trong bài dịch của dịch giả Thuỵ Anh có 3 khổ thơ và vài câu (tôi gạch dưới) xa nội dung và ngữ pháp so với bản gốc. Với tôi, yêu cầu chính xác được đặt hàng đầu (điều kiện cần), đó là tiêu chuẩn trung thành với nguyên tác và cũng là để không rơi vào tình huống mà nhiều người cứ đùa rằng, dịch là “diệt”. Nếu bạn Sao Mai thấy đồng điệu với suy nghĩ này thì chúng ta cùng tiếp tục trao đổi, bằng không thì xin dừng tại đây. |
Trích:
Ai cũng biết bản dịch nghĩa (nếu đúng) bao giờ cũng chính xác hơn bản dịch thơ. Tuy nhiên dịch thơ thì mỗi người một phong cách. Hiếm có bài thơ dịch nào vừa sát nghĩa vừa hay. Do vậy mới có câu "dịch là diệt", mà câu này chủ yếu nói về việc dịch thơ. Cũng phải nói thêm, kiểu dịch thơ sát nghĩa từng chữ (vẫn được gọi là dịch слово в слово, word by word), đọc thấy chẳng sai ý nào, nhưng nếu không ra thơ Việt thuần thục, thì cũng là một kiểu "diệt thơ" thành công. Có trường phái dịch thơ thật sát nghĩa (nhưng không phải dịch слово в слово), như Thúy Toàn dịch Puskin, trong NNN thì có Nina...(kiểu 1); có trường phái dịch thoáng, bay, nhưng vẫn giữ cái thần của bản gốc, như Bằng Việt (kiểu 2 này cũng đòi hỏi nhiều tài năng - chính vì thế Bằng Việt vẫn được coi là người dịch Olga xuất sắc nhất), trong NNN có bạn Wehrmacht dịch Exenin, nhưng bạn này thành công chưa nhiều...; Còn kiểu 3 là trung gian giữa 2 kiểu trên, đó là trường hợp Tố Hữu dịch "Em ơi đợi anh về", còn trong NNN có Thụy Anh... Mỗi kiểu dịch thơ trên, nếu thành công đều hay, còn không thành công đều dở. Hàm lượng Tín - Đạt - Nhã của mỗi kiểu mỗi khác. Nếu bản dịch hoàn hảo thì theo kiểu 1 sẽ có mức T-Đ-N cao nhất, và chắc là khó nhất. Còn xét tổng thể thì dịch thành công ở kiểu nào cũng khó, và kiểu nào cũng có nhiều người hâm mộ. SM thì hâm mộ cả 3 kiểu, miến là dịch hay. Đó là cảm nhận của người chỉ biết thưởng thức, bác ạ. :emoticon-0150-hands Dẫu sao SM cũng thử lấy ra 1 khổ thơ mà trong bài của TA bị gạch cả 4 câu: И тогда, протягивая руку, Думая о бедном, о своем, Полюбил я горькую разлуку, Без которой мы не проживем. Đưa tay ra còn níu được gì không Anh nghĩ ngợi về bao điều bất hạnh Về cuộc chia ly đã trở thành sự sống Của riêng anh. Anh chợt yêu nó vô cùng (TA) Và khi đó, lúc giơ [vẫy] tay [tiễn biệt], Là lúc nghĩ về nỗi đau, về bản thân, Ta mới cảm nhận cách chia ly cay đắng, Không có cách này chúng ta sẽ không sống nổi. (BHB) Ở đây SM thấy, khó phân biệt được bản dịch nghĩa của bác hay bản dịch thơ của Thụy Anh bản nào gần nguyên tác hơn. SM hiểu nghĩa nguyên tác là: Và khi giơ tay (chào biệt), là lúc anh nghĩ về điều bất hạnh, về bản thân. Anh đã yêu cuộc chia ly cay đắng này, (vì) thiếu nó chúng mình không sống nổi. Trong bản dịch của TA, nếu thay chữ "riêng anh" bằng "chúng ta" thì gần nguyên tác hơn. Nhưng tất nhiên TA có lý của mình khi dịch thế, đó chính là cái duyên của cô ấy. Nếu là tác giả, cô ấy sẽ viết thế, và bản thân SM cũng thấy thế hay hơn, ít ra là với cảm nhận của người Việt, nhất là phái nữ. Còn "Ta mới cảm nhận cách chia ly cay đắng..." của bác, có lẽ thay bằng "Anh đã yêu cuộc chia ly cay đắng..." thì đúng với bản gốc hơn chăng? (Trong bản dịch nghĩa mà bác bỏ hẳn chữ Полюбил?). Trong bản dịch thơ thì bác lại có chứ "yêu" đó: "Ta yêu thích cách chia ly cay đắng/ Không có cách này liệu sống tiếp được chăng". Nhưng dịch thế cũng không đạt, vì tác giả viết yêu cuộc chia ly cay đắng cụ thể đó, chứ không phải yêu cái cách chia ly cay đắng chung chung. Ngoài ra tác giả khẳng định không thể sống tiếp được, chứ không đắn đo: "liệu sống tiếp được chăng". Thành viên NNN Tykva từng dịch khổ này như sau (SM nghĩ đó là đoạn dịch đạt được T-Đ-N một cách tương đối): Đó là khi, tay đưa tuyệt vọng, Ta nghĩ về bất hạnh của chính ta, Chợt yêu cuộc chia tay đau đớn, Thiếu vị đắng này ta như khó sống qua. Xin thêm 1 ý nhỏ nữa: theo SM biết thì TA không phải người dịch chuyên nghiệp, cô ấy là TS khoa học giáo dục, vẫn đang làm chuyên môn ấy, đã có nhiều đầu sách về lĩnh vực này. Làm thơ và dịch thơ là việc "tay trái", nhưng thành công của cô ấy. Và hình như tất cả các bác tham gia diễn đàn này cũng không có ai chuyên nghiệp về văn học hay dịch thuật cả. :emoticon-0150-hands |
Bác Saomai đề cao em quá, em dịch cũng chém gió rất nhiều mà, đâu sát ý lắm đâu. Nhân tiện em xin chuyển mấy bài dịch thơ của Kornilov từ chủ đề Olga Berggoltz sang bên này cho phải đạo...
|
Lại nhân tiện gửi mấy đường link có thơ của Boris Kornilov, tuy nhiên, toàn bài dài nên em ngại dịch :)
http://bukvitsa.com/20081/bkl_121618..._kornilov.html http://www.imwerden.info/belousenko/..._KornilovB.htm |
Kính chào bác Bùi Huy Bằng!
Nhà en xin góp với bác bản dịch riêng nói lên cách hiểu cá nhân về bài thơ "Que diêm..." nêu trên.Hình ảnh liên tưởng trong bài này còn mang nghĩa triết lý mà không phải ai cũng có thể hiểu ngay nếu chỉ coi nó như một bài thơ tình: cánh tay giơ không phải vẫy tiễn mà do châm diêm chưa kịp hạ, diêm tắt do lỗi xui xẻo vì các hộp diêm cũ ở Nga xưa thi thoảng gặp những que diêm lỗi cháy không đủ lâu, tai hại nếu nó lại là cuối cùng trong hộp, trong hoàn cảnh tuyết giá hay đói thuốc... Mời bác đọc thử, bác cũng đừng để ý chuyện một số bác khác sẽ đả phá bài thơ em dịch và em sẽ không tranh luận với ai ngoài bác đâu ạ, tất nhiên nếu có thời gian suy ngẫm trả lời :D
|
Trao đổi với minminixi
Chào bạn Minminixi!
- Những lời giáo đầu làm cho tôi phải "chạnh nghĩ", bởi có lý, vì cái "lý" nó có "chân". - Nội dung bản dịch đã chứa "điều kiện cần", suy tư của chúng ta đã gần như "tiệm cận". - Theo tôi vấn đề vần điệu... thuộc "điều kiện đủ" (tuy nó vô cùng), nhưng phải suy nghĩ thêm. Nếu có điều kiện tôi mong được cùng bạn "gọt" tiếp theo phương án bạn đã dịch. OK |
Trích:
Nhà em nói thật nếu cần và có time thì có thể phân tích mất ít nhất vài trang về cách và lý do cảm nhận bài thơ này, nhưng ngàn lời đẫn không bằng một phương án thể hiện, nên em tự chỉnh lại cho sát với mong muốn bác cần là sát cả ý và vần, dĩ nhiên chưa thể hoàn hảo nhưng nhà em không có đủ đam mê và thời gian làm hơn. Bác có thể dựa trên phương án trao đổi này để gọt sửa thành bản hoàn hảo theo ý bác, không cần quan tấm nó giống hay khác phương án của em:
|
Tôi từng có người vợ chưa cưới - Thơ Borix Kornhilov
(*)- Xem bản dịch TÔI TỪNG CÓ NGƯỜI THƯƠNG của dịch giả Thuỵ Anh tại http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=13016 (1)- Xem bài: TÌM NGỮ NGHĨA TÍNH TỪ “БЕЛОКРЫЛАЯ” trong bài TÔI TỪNG CÓ NGƯỜI VỢ CHƯA CƯỚI – Thơ Borix Kornhilov (2)- Đu-nai (Đa-nuýp) – Sông lớn nhất chảy qua Trung và Đông-Nam Châu Âu rồi đổ vào lưu vực Biển Đen (3)- Ô-ka – Sông chảy qua phần Châu Âu của Nga, dòng hữu ngạn lớn nhất của sông Von-ga (4)- Bu-kha-ra – thành phố của nước Cộng hoà Uzbekixtan (**)- Nguyên tác tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/Boris_Petrovich_Kornilov |
Tìm ngữ nghĩa tính từ “Белокрылая” - Thơ Borix Kornhilov
TÌM NGỮ NGHĨA TÍNH TỪ “БЕЛОКРЫЛАЯ” trong bài TÔI TỪNG CÓ NGƯỜI VỢ CHƯA CƯỚI – Thơ Borix Kornhilov
Tôi là người dịch thơ Nga nghiệp dư, trong số bài đã dịch thì thấy quá khó khi tìm ngữ nghĩa tính từ “Белокрылая” ở bài У МЕНЯ БЫЛА НЕВЕСТА - Борис Корнилов (TÔI TỪNG CÓ NGƯỜI VỢ CHƯA CƯỚI - Borix Kornhilov). Trong bài đó, dịch giả Thuỵ Anh đã dịch “Белокрылая жена” là “Người vợ mang đôi cánh trắng“ (http://www.thivien.net/viewpoem.php?ID=13016). Tôi đoán, dịch giả đã ghép Бело với крылая (cho là tính từ có nghĩa cánh) thành tính từ có nghĩa cánh trắng. Tuy nhiên khi tra cứu Từ điển tiếng Nga - 1973 (sách) của X. I. O-gie-gov; Từ điển Nga - Việt (điện tử) MultiDictionary v8.o – 2007; Từ điển Nga - Việt (điện tử) SpbDic thì không thấy từ điển nào đề cập đến ngữ nghĩa của tính từ Белокрылая hoặc крылая. Danh từ крыло, крылья (s.n.) – có nghĩa cánh, ..., nhưng không có tính từ cấu thành крылая, mà chỉ có крылатый, ая, ое – có cánh,..., ở mục riêng biệt trong các từ điển. Như vậy dịch “Белокрылая жена” - “Người vợ mang đôi cánh trắng “ là không có cơ sở và dù có ghép với câu: "Nhưng tiếc thay, đường bay phiêu lãng” thì cũng không hợp lý, bởi từ скитается chỉ có nghĩa phiêu bạt (phiêu lãng, tha phương,...). Khi tra cứu trên Google có đựơc một số kết quả mà tôi quan tâm sau đây: БЕЛОКРЫЛАЯ: Đặt tên sinh vật hoặc sự vật (Có hình ảnh kèm theo, nhưng chưa biết hiện lên Blog): - elenavinok — «Летит белокрылая чайка» на Яндекс.Фотках fotki.yandex.ru Летит белокрылая чайка - Голубиные ассоциации на берегу Иордана: о белокрылых птицах cursorinfo.co.il/.../golubinye-associacii-na-beregu-ior.. - Мариуполь заполонили белокрылые дятлы - Общество | KP.UA dn.kp.ua/daily/070511/279407/ - Белокрылая морская свинья,Dall's Porpoise,Phocoenoides dalli www.cetacea.ru - Владимир Набоков. Пьесы в стихах ... lib.ru/NABOKOW/ver_drams.txt?format=_Ascii.txt Жена Ведь он нам не родня: мы дедушкой его прозвали сами. Джульетта Он ..... Домой, пора домой - к очарованьям жизни белокрылой! Ты скрыл лицо ... Trong các trang web này có thể dịch như sau: . белокрылая чайка: chim hải âu trắng. . о белокрылых птицах: về các chú chim trắng (về đôi bồ câu trắng). . белокрылые дятлы: những chim gõ kiến cánh đốm trắng. . Белокрылая морская свинья: [cá] lợn biển bụng trắng. . - к очарованьям жизни белокрылой!: tạm dịch là: tiếp cận những sự quyến rũ của đời sống trong sáng. Như vậy tuỳ theo sinh vật hoặc sự vật mà có lời dịch thích hợp. БЕЛОКРЫЛАЯ: Đặt tên trang Web - Белокрылая: сайт Надежды Туровской - Автостоп: Дороги - Матерщинник http://www.belokrylaya.narod.ru/avto...tostop1-8.html - "Белокрылая чайка Харькова" презентовала очередной сборник ... www.interesno.name - Если жена ставит условия и хочет что бы все было по ее.что ... mujchin.net › ... › Белокрылая Лошадка Trong trường hợp này có thể tạm dịch tên các trang Web là: . Trinh trắng: website của Nađiêgiơđa Turôvxkaia. . “Hải âu trắng của thành phố Kharcôp”. . Ngựa Bạch. БЕЛОКРЫЛАЯ: Mô tả hình thái con người - Плэйкаст «Белокрылая Чайка - Лариса...» www.playcast.ru/.../6bb7f9083179d1bf84b67dc70fd5... Плэйкаст «Белокрылая Чайка - Лариса...», автор Katava. - Читать "Жена Темного Властелина или семейка, тронутая на ... www.litmir.net/br/?b=129538&p=15 – Nga - Белокрылые и чернокрылые составляют некую отдельную ячейку... Trong trường hợp này có thể lý giải như sau: . Ở trang Web đầu: Đây là Video – Đĩa nhạc: Hình ảnh thiếu nữ khoác trên hai cánh tay đôi cánh giả kèm bài thơ ví thiếu nữ Larixa là chim Hải âu trắng . Ở trang Web sau: Đây là truyện ngắn. Trong truyện ngắn này với 25 trang báo điện tử đã dành trang 15 đề cập đến các tính từ: Серокрылый, Чернокрылый, Белокрылый (-ая) chỉ người (nhân vật) có liên quan đến lĩnh vực khoa hoc chính trị (политология) mà không thể dịch là Cánh nâu, Cánh đen, Cánh trắng; vì chúng có những nghĩa bóng mang ẩn ý rất sâu và rộng. Bạn đọc nào muốn hiểu rõ, xin tham khảo trang Web đã dẫn . Vì vậy khi dịch tính từ “Белокрылая” tôi đã căn cứ vào trang Web sau đây: http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A1%...B8%D0%BC%D1%8B Словарь русских синонимов с морфологией - Từ điển những từ đồng nghĩa trong tiếng Nga liên quan đến ngữ thái học (hoặc hình thái học). Морфология «белокрылая» - Ngữ thái học «белокрылая»: Прилагательное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное, неодушевленное, качественное прилагательное – Tính từ giống cái, số ít, cách một, có nghĩa linh hoạt (hoạt bát, năng động, có sinh khí, ...), hoặc ngược lại, đó là tính từ chỉ phẩm chất. Như vậy Белокрылая жена có thể dịch là : Người vợ linh lợi. Nếu bạn đọc có thông tin khác, xin chỉ dẫn, tôi rất cảm ơn. Bùi Huy Bằng 01/2012 1. Cảm nhận từ: vantinhcl [Blogger] 11.02.12@06:32 Chào anh Huy Bằng! Tôi cũng học ở Nga lâu năm, nhưng không phải chuyên ngành tiếng Nga - Văn học. Đọc bài viết của anh thật thú vị, thú vị về những trăn trở, băn khoăn khi dịch một tính từ trong ngữ cảnh đó. Tôi cũng không đồng tình với dịch của Thụy Anh vì không hợp nghĩa, khó chấp nhận (Thụy Anh tôi biết khi học Đại học ở Trường Đại học sư phạm quốc gia Moskva, tôi làm Nghiên cứu sinh). Tôi đồng tình hơn về cách dịch của anh, sát nghĩa hơn: "Người vợ linh lợi". Theo tôi, trong ngữ cảnh này cũng có thể dịch là Người vợ tháo vát", "Người vợ nhanh nhẹn" (anh tham khảo nhé). Chúc anh thành công! |
Những cánh rừng ở Xê-miô-nôv - Thơ Bôrix Kornhiôv
(1)- Vùng nằm ở hạ lưu, nơi giao nhau của sông Von-ga và sông nhánh Ô-ka , có thành phố Xê-miô-nôv và trung tâm hành chính là thành phố Nhi-znhi Nôv-gô-rơđ. (2)- Thuở trước nông dân Nga làm thìa, môi bằng gỗ. (*)- Nguyên tác tại: http://vi.wikipedia.org/wiki/Boris_Petrovich_Kornilov |
Trích:
Trong từ điển giải nghĩa tiếng Nga có từ белокрылый đấy ạ, bác có thể kiểm tra qua trang http://gramota.ru/ Большой толковый словарь БЕЛОКРЫЛЫЙ, -ая, -ое; -крыл, -а, -о. Имеющий белые крылья. Б-ые чайки, мотыльки. / Трад.-поэт. О метели, мечтах, видениях и т.п. |
Trích:
Hiểu theo ý bài thơ thì từ "Белокрылая жена" đơn giản là "người vợ mơ ước" hay người vợ không thành sự thật. Nhà em góp với bác bản dịch theo phương án này:
|
Em không phải nhà ngôn ngữ, tuy nhiên, nếu xét tổng thể bài thơ, thì em nghĩ rằng chữ жена ở đây không có nghĩa là người vợ, mà chỉ có nghĩa là một người phụ nữ mà thôi. Cách dùng chữ жена thay cho женщина có thể gặp tương đối trong các tác phẩm văn thơ cổ, chắc em không cần phải dẫn ra ở đây nữa.
|
Em nghĩ có thể dịch Белокрылая жена là "Người vợ trong mơ" hay "người vợ trong mộng ước" ạ.
|
Trích:
Морфология «белокрылая» • Прилагательное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное, неодушевленное, качественное прилагательное Синонимы к слову «белокрылая» • Не найдено Tạm dịch: Từ pháp «белокрылая» • Tính từ giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ động vật, chỉ bất động vật (= sự vật); tính từ chỉ phẩm chất Đồng nghĩa với từ «белокрылая»: • Không tìm thấy Ví dụ vài tính từ chỉ động vật: Белокрылая лошадка (Ngựa bạch) http://i917.photobucket.com/albums/a.../707666059.jpg http://i917.photobucket.com/albums/a...9/b1734044.jpg Белокрылая лебёдушка (Thiên nga trắng) http://i917.photobucket.com/albums/a...mai09/3411.jpg Белокрылый жаворонок (Sơn ca bụng trắng) http://i917.photobucket.com/albums/a...9/a2cfefa7.jpg Белокрылая морская свинья (Cá heo khoang bụng trắng) http://i917.photobucket.com/albums/a...eobngtrang.jpg (Con bên dưới là cá heo thường) Ví dụ vài tính từ chỉ bất động vật: Белокрылая метель (Bão tuyết) http://i917.photobucket.com/albums/a...9/Baotuyet.jpg http://i917.photobucket.com/albums/a...09/10619-1.gif (Tuyết rơi) Белокрылые облака (Mây bông) http://i917.photobucket.com/albums/a...9/images-2.jpg Белокрылая Волжанка (Xe Volga màu trắng) http://i917.photobucket.com/albums/a...73e15-main.jpg Ví dụ về người: Белокрылая Одетта (Thiếu nữ bận đồ trắng) http://i917.photobucket.com/albums/a...uan_Zeju_5.jpg Круг за кругом незаметно Подрастет душа, Белокрылая Одетта Выйдет хороша. Белокрылая девушка http://i917.photobucket.com/albums/a...omai09/003.jpg http://i917.photobucket.com/albums/a...omai09/004.jpg http://i917.photobucket.com/albums/a...omai09/002.gif http://i917.photobucket.com/albums/a...omai09/001.gif (Những hình này gần giống với hình tượng “Như thiên thần sắc đẹp trắng trong” trong bản dịch của Thúy Toàn) Nhận xét: Dù chỉ sinh vật hay sự vật... thì tính từ "Белокрылая" cũng đều gắn với màu trắng hoặc sự thanh khiết, trong trắng. Vì vậy nên chăng tìm nghĩa của từ "Белокрылая жена" theo hướng đó (với nghĩa bóng)? --> Người phụ nữ/cô gái có tâm hồn trong sáng; NPN/CG trong trắng; thiếu nữ tiết trinh.... Trong trường hợp này dùng "Белокрылая" với vai trò "tính từ chỉ phẩm chất". Nina có lý khi hiểu жена trong ngữ cảnh này là người phụ nữ. SM chưa thấy nghĩa "trong mơ", "không thực"... Nếu chỉ dựa vào 4 hình cuối (và còn nhiều nữa), SM nghĩ là trong ngữ cảnh của bài thơ trên, dịch Белокрылая жена thành Thiên thần cánh trắng, thiên thần áo trắng hay "thiên thần sắc đẹp trắng trong" đều có thể được: "Tôi từng có một người vợ chưa cưới / Một thiên thần cánh trắng của tôi..." (dịch nghĩa) Thử tìm thêm một từ khác: Морфология «святая» • Существительное женского рода, единственного числа, именительного падежа, неодушевленное • Существительное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное • Прилагательное женского рода, единственного числа, именительного падежа, одушевленное, неодушевленное, качественное прилагательное Словоупотребление «святая» • Частота употребления слова «святая» составляет 9046 раз на ≈ 300 млн. слов. Tạm dịch: Từ pháp «святая» • Danh từ giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ bất động vật. • Danh từ giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ động vật. • Tính từ chỉ phẩm chất, giống cái, số ít, nguyên cách, chỉ động vật, chỉ bất động vật. Sử dụng từ «святая» • Tần suất sử dụng từ «святая»: 9046 lần trong khoảng 300 triệu từ. |
Em có ý kiến nhỏ:
Theo em, người vợ trong mộng tưởng hay như người Việt ta vẫn nói "người yêu trong mộng" chính là ý tác giả muốn viết. Đây là một nhân vật không xác định, không hề là một nhân vật đã từng có trong đời của tác giả. Không hề tồn tại, và nhà thơ không phải giờ loay hoay đi hỏi em cụ thể đó giờ ở nơi nao, hỏi chỉ để hỏi mà thôi. Vậy nên nếu dịch " tôi từng có một người yêu chưa cưới" hay "người vợ chưa cưới" là không trúng ý tác giả. Nhân vật đó chưa từng có thực, chưa hề tồn tại trong đời tác giả Kornilov, đó chỉ là một nhân vật mà nhà thơ "từng mơ" thôi. Đó là một nhân vật bất kỳ nào đó, có thể là nữ vận động viên leo núi, có thể là đoàn viên cộng sản ở chỗ này chỗ kia...Ở ngoài biển, ở Bukhara, ở mặt trận, trên cánh đồng, bên bờ sông Đa-nuýp hay sông Ô-ka....Nói tóm lại là bất kỳ đâu. Đây là một dạng nhân vật "trong mộng", và tác giả (mượn cớ) cũng như Pushkin (có đối tác cụ thể), muốn nói rằng nếu ta đã yêu ai đó, thì luôn cầu mong cho người yêu mình được sung sướng, được yêu thương, nâng niu chân thành. Mong được trao đổi thêm! |
Trích:
Cảm nhận của SM: Bài thơ này Kornilov viết về Olga Berggoltz, người từng là người yêu, và vợ của ông. (Hai nhà thơ này từng viết về nhau không ít). Còn cách gọi “невеста, Белокрылая жена” thì có thể còn là điều còn xa lạ với người Việt, vì chính người Việt cũng có những cách gọi xa lạ như thế đối với người nước ngoài. Tất nhiện khi ông làm bài này, họ đã chia tay. Ông bặt tin của bà, không biết bà ở đâu, làm gì, đã yêu ai… Lời bài thơ không hề có vẻ như nói về “người yêu trong mộng”, mà về 1 người phụ nữ cụ thể (У меня была невеста / Белокрылая жена), người đã từng gắn bó thân thiết với ông, và trong tâm khảm ông, đó là người đàn bà tuyệt diệu, đẹp đẽ, trong sáng như thiên thần vậy. Ông còn tâm sự với nàng, với những băn khoăn rất giản dị, đời thường: Ты кого поцеловала У Дуная, у Оки, У причала , у обвала У обрыва , у реки? Он какого будет роста Сколько лет ему весной, Подойдёт ли прямо, просто Поздороваться со мной! (Em đã hôn ai / bên dòng Đunai, bên dòng Oka / bên bến đợi, bên vách sạt lở / bên bờ dốc đứng hay bên một dòng sông? / Anh ta có vóc dáng ra sao / xuân này bao tuổi? / Liệu anh ta có dám đàng hoàng đi đến bên anh / chỉ để nói 1 lời chào không). Còn trong khổ thơ cuối, có thẩy thấy hết sự chân thành, quý yêu mãi mãi của ông với người phụ nữ ông đã từng gắn bó. Sau khi viết bài này 3 năm thì ông bị tử hình. Trong thi đàn Xô Viết từng có 2 cặp thi nhân yêu nhau, cưới nhau, rồi chia tay. Nhưng họ vẫn gắn bó với nhau khăng khí sau khi xa. Và cả 2 người đàn ông đều bị bắn chết (tử hình) một cách oan uổng. Đó là trường hợp Olga Berggoltz - Kornilov và A. Akhmatova - Gumiliev. Do vậy, SM không cho việc dịch Белокрылая жена thành “người yêu trong mộng” hay “người vợ mơ ước”… là hợp với văn cảnh bài thơ này. |
Em muốn hỏi các bác, 3 dòng cuối của bài thơ, tại sao Kornilov lại viết:
Trích:
|
Trích:
Я скажу чистосердечно, Чтобы он тебя берёг , Чтобы ты не знала горя, Альпинистка - на горе, Комсомолка - где-то в море Или, может, в Бухаре. (Anh sẽ nói với anh ta một cách chân thành, để anh ta bảo vệ em, để em không biết đến đau khổ, dù em ở đâu, làm gì - đi leo núi thám hiểm, làm nhiệm vụ Đoàn viên bên bờ biển nào đó, hoặc có thể, ở tận Bukhara...) Những cái đó đều trong thì tương lai, so với thời điểm viết bài thơ - 1935. Vâng, khi đó cô đoàn viên Kômxômôn Olga tròn 25 tuổi. Năm 1935, trí tưởng tượng của ông chưa cho phép nói đến người chiến sỹ kiên cường Olga trụ lại trong thành Lênigrat bị phát xít Đức bao vây những năm 40... Nếu ông viết "hoặc có thể, ở Lêningrat" thì thật tuyệt! Như Thụy Anh có viết, sau này nhiều nơi Kornilov viết đến trong bài này Olga đều đã đi qua, và nhắc đến trong thơ mình (những "bến đợi, dốc đứng, bờ đổ nát, dòng sông"...) với sự hồi tưởng về Kornilov. Khi bà đi đến một "bến đợi", bà dường như thấy ông chờ sẵn ở đó: "Chỉ một phút nữa thôi tôi sẽ nghe thấy người ta: Em đây rồi! Anh đến với em, em có biết? Phút đầu tiên tôi không thốt nên lời gì hết Chỉ chìa tay đón số phận của mình" (TA dịch) SM tin vào sự tìm hiểu khá cặn kẽ của Thụy Anh. |
Hai câu đầu mà anh hungmgmi hỏi thì em cũng thấy không có vấn đề gì, cảm nhận của em cũng tương tự chị Saomai. Riêng cái thành phố Bukhara thì em chưa hiểu lắm. Tìm hiểu sơ sơ thì chỉ thấy có một trận chiến ác liệt của Hồng quân năm 1920 chiếm thành phố này trong 3 ngày thời nội chiến, không rõ có liên quan gì không (hy vọng câu này không khiến các bác bàn luận về sự thật, dối trá lề trái lề phải gì).
Mà thực sự thì em cũng chưa thấy cảm lắm bài thơ này, cho nên ... chưa dịch :) |
Bác Sao Mai mến, Kornilov viết bài này năm 1935, sau khi bỏ Ônga Bécgon 5 năm, đã sống với vợ hai là Lyudmila từ năm 1931. Ông chỉ sống vỏn vẹn 3 năm với Olga.
Em thấy khó hiểu khi một người đã bỏ vợ 5 năm, đang sống với vợ hai và chuẩn bị có con (1936 sinh con) lại có bài thơ như vậy cho bà vợ trước. |
Trích:
Theo SM trường hợp Boris Kornilov viết bài thơ trên về Olga, dù ở thời điểm nào trong đời ông, cũng không có gì khó hiểu. Họ chưa hề bao giờ thôi yêu nhau và nghĩ những điều rất tốt đẹp về nhau. Họ chia tay nhau vì PHẬN. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 10:04. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.