![]() |
NHỮNG NGÔI SAO BAN NGÀY-Olga Bergon
Olga Bergon
TRỞ VỀ THĂM THÀNH PHỐ CỦA TUỔI THƠ Giấc mơ Mỗi chúng ta hẳn đều có giấc mơ của mình, giấc mơ yêu chuộng nhất, giấc mơ tốt đẹp nhất trong những giấc mơ, mà ta mơ đi mộng lại suốt đời. Không phải van nài, giấc mơ ấy khắc đến với ta lúc nào nó thích. Nó có thể biến mất trong nhiều năm nhưng đằng nào rồi cũng sẽ trở về để ban cho ta vẫn một niềm vui ban đầu ấy. Cũng như mọi người, tôi có giấc mơ của tôi. Giấc mơ ấy diễn ra trong thành phố nhỏ của tuổi thơ tôi, ở U-gơ-lich.Mẹ tôi đưa em gái và tôi từ Pe-tro-grad đến đây năm 1918. và trong thời gian cha tôi đi chiến đấu chống bọn Bạch vệ ở nơi rất xa xôi, đâu như miền Nam, gia đình tôi đã sống ở đáy gần hai năm rưỡi, chuyển từ phố này sang phố khác, từ nhà này sang nhà nọ để cuối cùng có được một nơi cư ngụ có thể lâu dài hơn cả trong một nhà tu nữ, tu viện Ê-pi-pha-ni. Chính quyền thành phố trưng dụng một căn buồng con ở đó cho chúng tôi. Cái chái nhà nơi gia đình tôi sống nằm ở tận cùng, áp vào tường tu viện, cạnh một khu vườn cây cối rậm rịt, trông ra một mảnh ao sâu nấp dưới những cây bồ đề xum xuê tán lá. Để đến trường học, nhiều khi chúng tôi không đi qua đường phố mà đi men theo một hành lang tối om xây bằng đá phía trong bờ luỹ. Đi trong ấy chúng tôi rất sợ. Được cái là vào mùa tuyết tan thì đi đường này không phải lo dầm ướt những đôi giày bằng nỉ. Nhà trường nằm trong khu tu viện, nhưng ở phía đằng kia. Đó là một ngôi nhà xây bằng gạch đỏ, có tên là “Những buồng xem hát’’, đối diện với ngôi nhà thờ lớn có năm nóc tròn sơn màu xanh da trời và có điểm những ngôi sao vàng lớn. Chúng tôi đã sống trong căn buồng hẹp ấy suốt mùa hè, mùa thu và mùa đông. Nhất là mùa đông năm 1920. Ôi, những đêm dài lạnh buốt, nặmg mùi khét bốc lên từ những ngọn đèn dầu tù mù, trôi qua trong tiếng chuông nhà thờ dóng diết và nỗi nhớ nhung diết da thành phố Petrograd thân yêu của chúng tôi. Cho dù mẹ tôi có nói đi nói lại mãi rằng mẹ cho chúng tôi đi theo đến đây là để chúng tôi khỏi phải chết đói, nhưng chúng tôi nhớ rõ rằng hồi ở Petrograd gia đình chúng tôi ăn uống khá hơn nhiều- ở đó có thịt trong mỗi bữa ăn, trên bàn ăn treo một ngọn đèn có chao. Ngọn đèn treo ấy, chung stôi nghĩ đến nó như nghĩ đến một vật sống, một người thân trong gia đình...Bay giờ, ở nơi ấy, có lẽ người ta vẫn bật sáng, mặc dù mẹ tôi đã giảng giải cho chúng tôi nghe rằng đã từ lâu lắm, ông bà nội tôi và Ơ-đô-xi- u già của chúng tôi, cung xchỉ còn mỗi ngọn đèn con và ăn uống còn kham khổ hơn cả chúng tôi ở đây; bởi vì chúng tôi ít ra còn có món hạt gai dầu, thỉnh thoảng có cá dày khô và khá nhiều tấm kiều mạch để nấu món cháo đông, chứ ở Petro-grad thì...Nói đến đây, mẹ tôi lặng im. Tuy vậy, chúng tôi vẫn không làm sao tin được rằng, ở tất cả các thành phố khác, nhất là ở thành phố Petrograd thân yêu của chúng tôi mà cũng lạnh , cũng tối và cũng đói như trong căn buồng bé tẹo này. Không! Chắc chắn ở Petrgrad người ta vẫn thắp sáng nó, ngọn đèn treo của chúng tôi.. Tối tối mẹ tôi đi làm bên trường ngay gần trường chúng tôi học. Mẹ tôi dạy lớp xoá mù chữ cho những bà già đến đấy tập đọc như những cô gái bé tý. Mẹ khoá cửa ngoài, để chúng tôi ở nhà trong cái vòm cao lạnh của căn buồng chật chội. Chuông nhà thờ gào thét đến phát sợ. Các cửa sổ, bên trên xây cuốn như tổ tò vò, trở nên tối om. Cách đấy không xa là một nghĩa địa với những nấm mồ của các thầy tu, các bà phước trông nom lớp học nhiều lần giảng giải cho chúng tôi nghe rằng các cụ đạo ấy thỉnh thoảng vẫn đi ra khỏi mồ; và nếu chúng tôi không có con Tu-jích, con chó đói lông hung hung thường quấn quýt bên chị em chúng tôi suốt mùa đông năm ấy, hẳn chúng tôi đã chết vì khiếp đảm. May thay chúng tôi đã nài nỉ mẹ cho mang con chó đói ấy vào nhà. Chúng tôi lén lút chia sẻ với nó những bữa ăn thanh đạm của mình. Và đền đáp lại bằng một sự quyến luyến mặn mà nó bo bo canh giữ chúng tôi. Trong khi hai chị em học bài, người cuốn chặt trong chăn, ngọn đèn hôi hám kề sát vào sách, không dám thở mạnh chỉ sợ tắt mất đèn (để phòng ngừa, mẹ đã để lại cho chúng tôi một que diêm, mỗi một que thôi lấy trong số diêm để dành), thì con Tu-jích ngồi trước cửa, ra dáng con nhà binh, đôi tai hình tam giác màu nâu nhạt vểnh lên, sẵn sàng chồm dậy cắn cổ những lão cụ đạo nào dám rời khỏi quan tài mò đến đây xâm nhập nhà của chúng tôi. Thế nhưng, một tối, không may hơi thở dài của Mu-xi-a làm tắt phụt ngọn đèn. Que diêm độc nhất để phòng ngừa gãy đôi trong bàn tay tôi. Dĩ nhiên là không thể nào tìm được đầu diêm có thuốc, và thế là bóng tối cùng với nỗi khiếp sợ úp chụp xuống đầu chúng tôi. - Chúng mình chết đến nơi rồi- Mu-xi-a nói, giọng thều thào như từ dưới mồ vẳng lên. - Bậy nào!- tôi lắp bắp- Mẹ sắp về rồi, chị vừa nghe tiếng chuông nguyện, lớp học chắc đã tan rồi, em cũng biết đấy, phải tan học để cho các cụ bà còn đi nhà thờ cầu kinh chứ... Thật ra tôi còn khiếp đảm hơn cả em gái tôi. (Còn tiếp) |
NHỮNG NGÔI SAO BAN NGÀY- Giấc mơ (tiếp theo)
http://i793.photobucket.com/albums/y...Picture008.jpg
Vừa lúc ấy con Tu-jích đến, nó đặt đôi chân lên đầu gối tôi và thong thả liếm mặt chúng tôi .Lưỡi nó ram ráp nóng hổi,làm yên lòng người.Rõ ràng trong ba chúng tôi nó là người chị cả . Tôi nói tiếp những lời khích lệ : - Mùa xuân chẳng còn lâu nữa đâu em .Chị em mình sẽ đi vào rừng ... Tham gia những ngày thứ bảy cộng sản ... Chúng mình sẽ đi hái hoa linh lan cho xí nghiệp dược phẩm và nhặt quả thông cho nhà máy điện ... Em cùng đi với chị chứ, Mu-xi-a ? - Em chỉ muốn trở về Pê-trô-grat thôi! – Em gái tôi trả lời ,giọng bi ai thống thiết. Tôi nói rõ thêm : - Tất cả mọi chuyện này đều tại thằng Kôn-sắc mà ra cả * (*: Cựu đô đóc của Nga Hoàng- Tổng tư lệnh quân phản cách mạng). Ở trường cô giáo đã giảng cho chị nghe như vậy. Chính tại vì nó mà chúng ta phải ăn đói! Mọi sự đều tại nó tất ... Căm thù thấm thía trào lên chẹn lấy cổ họng tôi. Câu chuyện giữa chị em tôi chấm dứt ở đây. Căn buồng chật chội không còn quá tối như lúc đầu, khi ngọn đèn vừa tắt ngấm và que diêm gãy đôi; bây giờ có thể đoán thấy mờ mờ hình dáng cái lò sưởi, những chiếc gối trên giường và cái thùng chứa nước. Các khung cửa sổ sáng lên một cách kỳ diệu và toả vào buồng một ánh sáng mờ ảo tựa ánh trăng, đó là ánh hồi quang phơn phớt xanh của tuyết cữ giữa đông . Có con Tu-jích là bạn, chúng tôi sống như vậy suốt mùa đông để chờ đợi mùa xuân êm dịu miền sông Vôn-ga, chờ hết chiến tranh, chờ ngày trông thấy lại thành phố Pê-trô-grát, ba chúng tôi trở về, gia đình đoàn tụ, ăn bánh mì và nhìn thấy ánh sáng tràn trề toả ra từ ngọn đèn treo trên bàn ăn . ... Mười năm sau, khi đã là một thiếu nữ, tôi mơ đến cái chỗ ở ảm đạm hồi ấu thơ, vào thời kỳ nội chiến, đến căn buồng chật chội, góc sân của tu viện nơi có những cây bồ đề cổ thụ và nhất là đến ngôi nhà lớn màu trắng với năm cái nóc tròn như năm cái đầu trước trường học.Tôi mơ đến tất cả những thư đó, dường như đây là nơi trong sáng và hội hè, nơi đầy hạnh phúc tuyệt diệu . Trong mơ, tôi thâý mình đang ở U-gơ-lích, ở đó có một con đường rất dài, rất rộng, mọc đầy một loại cỏ xanh li ti. Lúc ấy bình minh vừa hửng ,vào lúc rạng đông sắp chuyển thành ban mai, hay có lẽ là vào buổi chiều, khi trời còn sáng nhưng đêm đang ập đến .Dù là rạng đông hay sẩm tối thì cả bầu trời, không khí, nhà cửa, cây cối đều tắm trong một luồng ánh sáng lung linh màu sữa, hơi ngả sang bạc với một nét chấm phá màu xanh ở trên cao.Và tận cuối con đường màu xanh lá cây ấy ,chính giữa vùng sáng lấp lánh ấy ,ngời lên ngôi nhà thờ trắng đồ sộ .Tôi phải đi cho tới đươc nơi ấy: Ở đó, về phía sau có trường học của chúng tôi,có khoảnh vườn với những cây bồ đề lớn đang vỗ cánh làm xào xạc tất cả những ngọn lá tròn, phát thành tiếng, như những chiếc đĩa bằng sắt tây.Và tôi biết rằng bao giờ tới được ngôi nhà thờ, tới được các cây bồ đề là tôi sẽ được hưởng thụ sự diệu kỳ của một niềm hạnh phúc trọn vẹn .Tôi đang đi lang thang trên những con đường chi chít dưới ánh sáng hoàng hôn kỳ lạ .Ngôi nhà thờ gần lại mãi .Và nó càng gần nó càng sáng ngời hơn .Tôi nghe dậy lên trong tâm hồn hương vị báo trước hạnh phúc. Một cái gì tuyệt diệu run rẩy va rung động trong tôi .Một luồng ánh sáng chói chang gần như nhức ngối khi ngôi nhà thờ mỗi lúc mỗi xích lại gần .Thế rồi đột nhiên, tất cả đều chấm dứt: tôi vừa tỉnh giấc! Và cứ như vậy đấy, đã nhiều năm rồi ,ngay cả trong mơ, tôi không bao giờ tới được “ngôi nhà thờ của tôi”. Đến nay chúng tôi xa U-gơ-lich đã ba mươi năm trời .... Năm ngoái, chúng tôi quyết định đi dến nơi ấy, nhưng là đi thực kia : đi cho đến tận ngôi nhà thờ, tận trường học, tận niềm hạnh phúc đau nhói mà tôi mơ ước đã bao nhiêu lâu .Cần thiết như vậy, nhưng xin cho tôi kể lại trước chuyến trở về Pê-trô-grat của chúng tôi hôm đó đã. Bởi vì chuyến đi ấy, không phải trí nhớ của tôi đã cảm thụ một cách máy móc, bằng cách ghi lại đơn thuần sự việc và địa danh, mà là một ký ức sống động đã lưu giữ mọi cảm giác và cảm tưởng lúc bấy giờ, một ký ức gói buộc tất cả kỷ niệm lại thành một lượm, không cho tàn úa mất một kỷ niệm nào, để cho tất cả đều trở nên vĩnh viễn chân chất và vĩnh viễn hiện tại; loại ký ức ấy thiên hạ khi thì gọi là hình phạt cho con người, khi thì gọi là diễm phúc, có lẽ cả cái này lẫn cái kia; nhưng giá có ai bảo tôi đánh đổi ký ức ấy lấy tất cả vàng bạc ở trên đời này, tôi cũng sẽ không buông ra, không đánh đổi, cho dù đó chỉ là cực hình mà thôi. ( Lược dịch từ cuốn " Những ngôi sao ban ngày- NXB Thuận Hóa 1986) http://i793.photobucket.com/albums/y...cture010-1.jpg http://i793.photobucket.com/albums/y...cture011-1.jpg |
Nhờ có bác Xamova nên Siren em được sở hữu một số cuốn sách văn học Nga mà đã lâu không xuất bản lại. Sách rất cũ và ố vàng, in trên giấy đen thời bao cấp nhưng đó là những tác phẩm hay và quý giá. Nhà em sẽ dành thời gian đánh máy lại, chỉnh sửa và đưa lên diễn đàn. Hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc giữ gìn các tác phẩm văn học Nga cũng như văn học Xô Viết.
Cuốn đầu tiên là "Những ngôi sao ban ngày" của Olga Bergols (1910-1975). LỜI GIỚI THIỆU của nhà xuất bản Thuận Hóa Ol-ga Phi-ô-đô-rốp-na Bec-gôn là nhà thơ Xô Viết nổi tiếng. Bà được độc giả yêu thích ngay từ các tác phẩm đầu tay: Thơ ( 1924) và Sách hát ( 1936) viết về những kế hoạch 5 năm đầu tiên ở Liên Xô. Trong cuộc chiến tranh giữ nước Vĩ đại, khi thành phố Lê-nin-grad bị phát xít Đức bao vây, bà ở lại thành phố làm phóng viên Đài Phát thanh và cộng tác với nhiều tờ báo. Thời gian này, bà viết những tác phẩm hay nhất ca ngợi chủ nghĩa anh hùng của nhân dân và quân đội Xô Viết: Trường ca Le-nin-grad ( 1942), Con đường của anh (1945). Đề tài Lê-nin-grad còn thể hiện trong các vở kịch: Họ đã sống ở Lê-nin-grad (1944), Trên đất chúng tôi ( 1947) và kịch bản film Bản Giao hưởng Lê-nin-grad viết chung với Ma-cô-gô-nhen-kô. Trường ca Pec-vô-rô-xi-xki ( 1950) ca ngợi tinh thần lao động quên mình của công nhân Lê-nin-grad xây dựng thành phố ở Al-tai trong những điều kiện vô cùng gian khổ, được Giải thưởng Quốc gia Liên Xô năm 1950. Năm 1952, bà viết một loạt thơ về Sta-lin-grad. Cuộc chiến đấu anh dũng bảo vệ Xê-va-xto-pol năm 1941-1942 được tái hiện trong vở bi kịch thơ Trung thành (1954) của bà. Tác phẩm văn xuôi nổi tiếng Những ngôi sao ban ngày (1959) là một tập ký viết về những con người và cuộc chiến đấu ở Lê-nin-grad xen kẽ những hồi ức về thời niên thiếu và cuộc đời riêng của tác giả, " cuộc sống riêng hòa nhập trong cuộc sống chung của đan tộc". Tập sách được viết dưới dạng "khó xác định" như chính lời bà nhận định. Đây là một tập văn xuôi bàng bạc chất thơ, hay cũng có thể gọi là một tập thơ bằng văn xuôi. Olga Becgon kết hợp những ghi chép tại chỗ như của một nhà báo với những lời bộc bạch trữ tình, lồng quá khứ vào hiện tại, khắc họa chân dung những con người thật và tư duy những vấn đề trừu tượng về triết học, mỹ học...Rất đáng chú ý là những suy nghĩ của bà về chức năng, tính chất của văn học nghệ thuật, về cái riêng và cái chung, về tính kế thừa và cách tân trong xã hộ Xô viết. Có thể nói, đây là một tác phẩm xúc động tận đáy sâu tâm hồn người đọc. Bản tiếng Việt Những ngôi sao ban ngày nhà xuất bản Văn học xuất bản năm 1963 đã được bạn đọc nhiệt liệt hoan nghênh. Lần in lại này, nhà xuất bản Thuận Hóa đã đề nghị người dịch soát lại, sửa chữa và nhiều đoạn dịch lại. Những đoạn thơ dài trong tác phẩm, người dịch được sự cộng tác của nhà thơ Chế Lan Viên. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc. |
NHỮNG NGÔI SAO BAN NGÀY- MÙA HÈ NĂM TRƯỚC
Mùa hè năm trước
... Cuối cùng, ấy là vì tôi đã trở lại thành phố của tuổi thơ vào những ngày sẽ được đánh dấu trong lịch sử nước ta; chưa đầy năm tháng sau khi Xta-lin qua đời ; ít lâu sau ngày đình chiến ở Triều Tiên; đúng vào lúc người ta vừa lột mặt nạ tên Be-ri-a, kẻ thù của nhân dân ... Cùng với những người dân U-gơ-lích, tôi đã nghe và đã thảo luận về những “luận cương” kỷ niệm lần thứ 50 ngày thành lập Đảng cộng sản Liên Xô. Tôi đã mừng ngày kỷ niệm 50 năm ấy với những đoàn viên thanh niên cộng sản ở địa phương. Như mọi người, không những hiểu mà tôi còn cảm thông đến tận đáy lòng công cuộc lớn lao đồ sộ chính quyền Xô-viết đã thực hiện hồi tôi còn thơ ấu, khi cơ quan hành chính thành phố U-gơ-lích sắp xếp cho người lao động đến ở tại các biệt thự của giai cấp quý tộc hay trong những căn buồng chật chội của tu viện, và bất chấpsự phong tỏa của mười bốn cường quốc, bất chấp tối tăm, đói khát, chính quyền Xô-viết muốn dạy cho cả nước biết đọc, biết viết; vào thời kỳ mà những bà cụ già xúc động, ngạc nhiên vì chính bản thân mình tập đánh vần trong các lớp của trường dành cho trẻ con;”nê-ra-bi, ra-bi-nê-mi”(“Chúng ta không phải là nô lệ, nô lệ không phải là chúng ta”- Bài tập đầu tiên trong cuốn sách vỡ lòng tiếng Nga hồi đó) trong khi ở Vôn-khốp-xtơ-rôi người công nhân thành Pê-téc-bua A-lê-xi Va-xi-li-ép đưa chiếc máy xúc đầu tiên đến-dung lượng nửa thước khối -để đặt nền móng cho nguồn ánh sáng và sức mạnh đầu tiên của chúng ta ,cái công việc lớn lao đồ sộ ấy giờ đây đang triển khai cải tiến và trở thành một cao trào mới trong lịch sử . Ở U-gơ-lích cũng như ở Y-a-rô-xláp hay Ri-bin-xcơ tôi gặp hàng mấy chục người khác nhau, nhất là những trí thức - nhà báo, kiến trúc sư, giáo sư, người làm công tác thư viện, hoạ sĩ, kỹ sư trẻ - nhưng cũng có những công nhân nhà máy điện , ở đấy tôi đã nói chuyện với những bậc lão thành từng làm nên đập Đơ-ni-ép-pô-rô-ghét, tức là cùng thế hệ với tôi .Và cho dù chúng tôi có đàm đạo về những chuyện gì đi nữa , rốt cuộc các sự kiện lớn trong năm, các sự kiện tôi vừa kể ra trên kia, cũng đến chen vào chuyện hoặc là nổi bật ở đằng sau như thể một cái cầu vồng sáng chói dựng chênh chếch trên một thung lũng vừa qua cơn giông . ... Cứ mỗi lần trở về căn buồng có hoa phong lữ , không những tôi chỉ ghi lại những cảm tưởng và cảnh tượng thấy trong ngày (tôi đã cho đăng trên báo Văn học một phần những ghi chép ấy dưới thể phóng sự) mà còn ghi một cách đều đặn, bên lề việc thường ngày, tất cả những gì bắt đầu sống trở lại trong tôi . Những sự hồi tưởng khá khác biệt và đôi khi đáng ngac nhiên nữa. Chẳng hạn tôi lại thấy mình đang ở trong thành phố Lê-nin-grát bi bao vây, cách ngày kỷ niệm lần thứ hai mươi lăm Cách mạng tháng Mười thành công có mấy hôm. Sau những đêm dài tăm tối và nặng nề, lần đầu tiên người ta đóng điện cho ba nghìn “căn hộ”cho ba nghìn nhà, những nhà đầu tiên được nhận luồng ánh sáng từ Von-khốp-xtơ-rôi, đứa con đầu lòng của công cuộc điện khí hoá, đứa con yêu quý của Lê-nin-grat, người đầu tiên chọc thủng cuộc phong toả Tối hôm ấy mặc cho lệnh tắt đèn , các cửa sổ một loạt nhà ở sáng lên; đó là những ngôi nhà chỉ còn có xác chết ở . Và vì không quân Đức tiếp tục ném bom chúng tôi đành phải phá cửa vào để tắt điện .( Đã đành cái nhà máy điện Von-khốp-xrôi nhỏ bé ấy, trong suốt thơì gian bị bao vây đã nuôi nấng nơi chôn rau cắt rốn của cách mạng bằng ánh sáng và sức mạnh của nó, việc ấy dù sao cũng chưa phải là chủ yếu .Tuy nhiên vẫn cần phải nói lên và phát triển rộng rãi điểm này ! Cả điểm này nữa cũng là để dành cho Tác phẩm của đơì tôi .Cũng như tất cả những gì xảy ra ở U-gơ-lích ...).Tôi hồi tưởng chúng tôi đã lắp máy phát lực đầu tiên của ta ở Đơ-ni-ép-pô-rô-ghét như thế nào, cái máy ấy được gọi là máy Vô-rô-si-lốp, bởi vì hầu hết những công nhân đều đã chiến đấu dưới quyền chỉ huy của nguyên soái Vô-rô-si-lốp trong nội chiến ,khi tôi còn đang thơ dại ...Toàn bộ thời thanh niên trở lại trong tôi, với những đêm trắng, những mối tình trong sáng và giản dị, niềm tin cuồng nhiệt đối với một tương lai xa xôi và huy hoàng mà người ta có thể ép buộc nó đến một cách dung dị ngay ngày mai đây thôi .Toàn bộ tuổi thanh cuân trở lại trong tôi ,nhưng trở lại để rồi tan vỡ trước cơn thử thách mênh mông và ghê gớm vào cuối những năm ba mươi ... Hoặc nữa, sau một lần nói chuyện với các kiến trúc sư và hoạ sĩ, tôi ghi lại hình dáng của các thành phố tương lai trên sông Vôn-ga rồi đây sẽ ra thế nào, rồi chúng ta sẽ tái phát hiện, chúng ta sẽ tái thực hiện ra làm sao những bí quyết cổ xưa của các kiến trúc sư và hoạ sĩ Nga, rồi chúng ta sẽ lại tìm ra tên những thiên tài khuyết danh ấy như thế nào, và bằng cách gì để một ngày kia chúng ta sẽ có một nền hội hoạ kỳ diệu với nhiều sắc thái khác nhau ... Tôi đã ghi vào sổ tay rằng chúng ta sẽ ký thác tất cả những thứ đó cho con cháu chúng ta, cho những kẻ thừa kế chúng ta (trong số đó hẳn sẽ co cả cậu Vo-vốt-sơ-ca ngơ ngác của người thiếu phụ Lê-nin-grát đồng hương của tôi, một cậu Vo-vốt-sơ-ca lúc ấy “sẽ hiểu biết”).Và chỉ có mình với mình trước bàn viết, tôi không thể kìm chế một nụ cười rộng rãi khi hình dung niềm phấn khởi đầy lòng biết ơn của chúng nó sau này đối với thời đại chúng ta, đối với cái năm ấy, đối với Đảng, đối với bản thân chúng ta . Chinh như thế đó,trong niềm cảm thông với toàn thể đất nước, tôi đã sống những sự kiện lớn lao năm 1953. Và cùng toàn thể đất nước, tâm hồn tôi chuẩn bị đón một buổi bình minh mới ... Đến đây tôi tạm ngừng những ghi chép về chuyến trở về thành phố của tuổi thơ tôi 1954 |
Lúc nào đọc xong Siren cho tớ mượn quyển "những ngôi sao ban ngày" nhé, đọc xong hứa chắc chắn sẽ return lại cho Siren :) Khi đọc quyển này của bà liên tưởng đến Nhật ký của Đặng Thùy Trâm.
|
Trích:
Trích:
Thế thì đúng chị Rừng là một ngoại lệ rồi he he. |
Em nhất trí với bác Gà Mờ! Nhưng em cũng hay mời bạn đến nhà giới thiệu giá sách và những cuốn sách hay nên đọc, kèm theo một câu: " Cho mượn sách là ngu, mượn sách mà trả lại còn ngu hơn":emoticon-0102-bigsm
Tóm lại là những cuốn ấy chẳng bao giờ quay lại với em cả, nhưng em thấy rất hạnh phúc ạ, chứng tỏ những cuốn sách trong tầm sưu tập của em là rất có giá trị. Chị Rừng yên tâm, thư ký tốc ký xong sẽ cho chị "mượn" ạ!:emoticon-0136-giggl |
Trích:
Em hứa là em sẽ trả lại bác ngay sau khi đọc xong ( nếu bác cho mượn :emoticon-0102-bigsm). |
Trích:
Vào đầu năm 1937 Olga Becgon bị bắt vì bị buộc tội “có quan hệ với kẻ thù của dân”…Khi ấy cô là vợ của Boric Kornhilov. Khi đó cô đang mang thai, cô bị gọi đến chất vấn và kẻ thù đã đánh bật đứa con của cô ra khỏi bụng bằng gót giầy Và đây, trích đoạn thư của mẹ Olga Becgon viết cho ông Stalin khi Olga bị bắt tù: "...Но дочь моя беременна и беременность у нее тяжелая. Чтобы сохранить ее дочь лечилась (ей делали переливание крови в Инст.Охраны Матери и Млад. под наблюден. пр. Скрябина) Дочерью пережито очень много горя и несчастия вот уже в течении шести лет. Вот около трех лет назад она потеряла чудную дочь 8 лет Умерла она от тяжелой болезни сердца. В течении трех лет мы боролись за сохранение ее жизни. И смерть ее оставила глубокий, неизгладимый след горя утраты Через 2 года враги народа оклеветали дочь мою Ольгу. Но следствие доказало ее невиновность и она была востановлена без всяких замечаний и выговора. И вот в то время, когда ее обвиняли на собрании враги и двурушники с остервенением забрасывая ее ужасной клеветой, нервы ее не выдержали.....и у нее произошли преждевременные роды шестимесячного мертвого ребенка. Надо сказать, что и эта беременность была тяжелая и, чтобы сохранить ее, дочь два месяца лежала в инст. Охр. Мат. и Младенч. под наблюдением проф. Скрябина. Беременность удалось сохранить. Но действия врагов убили ребенка и так она потеряла ребенка. И вот в настоящее время опять она беременна...." “…Nhưng con gái tôi đang có thai và cái thai rất yếu. Để giữ thai con gái tôi cần phải được điều trị. Người ta truyền máu cho nó tại Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em dưới sự theo dõi của giáo sư Skriabin. Trong sáu năm qua con gái tôi trải qua quá nhiều đau khổ và bất hạnh. Ba năm trước đó nó đã mất đi đứa con gái 8 tuổi vì bệnh tim nặng. Trong ba năm chúng tôi đã đấu tranh để giữ cuộc sống của nó. Cái chết của cháu tôi đã để lại nỗi bất hạnh mất mát sâu sắc không phai mờ. Sau 2 năm bọn kẻ thù của nhân dân đã vu khống cho con gái Olga của tôi. Nhưng kết luận cuối cùng đã chứng minh con tôi không hề có tội và nó được phục hồi danh dự không có một bất kỳ sự nhận xét và phê bình nào cả. Trong thời gian này, kẻ thù đã buộc tội con gái tôi tại cuộc họp, những kẻ lá mặt lá trái đã điên cuồng ném vào nó những lời vu khống đê tiện, chúng đã không để cho thần kinh con bé được yên. Và cuối cùng nó đã phải sinh sớm khi cái thai mới có sáu tháng tuổi. Cái thai rất yếu nên nó phải được theo dõi và bảo vệ trong Viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Nó nằm đó 2 tháng trời để an thai, nhưng tác động của kẻ thù đã giết chết đứa trẻ và nó đã mất con…. Olga Becgon là một nữ thi sĩ mình yêu mến hơn cả trong các nữ thi sĩ của Nga bởi những vần thơ giàu nữ tính của bà . |
KHOẢNG RỪNG THƯA TRỨ DANH ẤY
Ba tôi đến chơi rất muộn và báo cho hay rằng đêm nay cụ sẽ nghỉ lại nhà tôi. Rồi, với một giọng không thể ai cãi lại, cụ nói : - Mai, ba sẽ đưa con đi sở thú. Nhất định thế. Sáng sớm mai Tôi nghĩ thầm: Ông cụ lại quá chén rồi.Quý hồ là cụ chớ có biểu diễn cái tiết mục Gaudeamus igitur của cụ ra ! Ba tôi ít khi quá chén; nhưng cụ rất nhạy cảm với hơi men. Hơi ngà ngà, cụ trở nên cáu bẳn, cự nự, chế riễu những nếp làm việc của khoa ngoại bệnh viện (mà cụ làm chủ nhiệm) bài báng tổ công đoàn đã “chơi xỏ” bằng cách bầu cụ làm tổ trưởng hết khoá này đến khoá khác, thoá mạ Ban giám đốc y tế quận nhà và chất vấn tôi (tôi, chứ không phải ai khác) về cái khoản “tại sao lại có những lề thói xấu xa đáng giận ấy ” Say vừa phải, ba tôi tư lự. Chợt trở nên nghiêm trang, ông cụ xúc động gợi lại những bước chân gian nan trong chiến tranh thế giới lần thứ nhất và thời nội chiến mà cụ đã tham gia ngay từ đầu với tư cách là nhà phẫu thuật ở tiền phương từ tháng tám năm 1914 cho đến khi xảy ra vụ phiến loạn ở Krôn-xtát, cụ bình luận chính sách ngoại giao: “Về phần tôi, tôi nhận định chắc chắn là ...” và rất lấy làm bất bình nếu có ai dám phản bác nhận định ấy của cụ. Cuối cùng, khi đã say tuý luý thì ba tôi không sao đứng yên một chỗ được và làm ồn ào đến khiếp. Ông cụ vỗ tay vô duyên cớ. Ông cụ hát một bài hát cũ của Cửa ô Nép-xki, hơi buồn buồn nhưng lại trẻ trung như tất cả những bài hát ở dưới ấy : Mái tóc A-li-ô-sa Hung hung vàng óng Chàng hay hát những bài Mà người dân phố say mê Và không quên, nhân dịp này, vung vẩy mái tóc vàng lượn sóng trông giống như cái bờm ngựa mà sợi vàng đã chen lẫn sợi bạc. Ông cụ ngâm nhiều đoạn trong bài thơ Đức Chúa Trời của Dec-ja-vin.Và điều này chẳng thiếu bao giờ - với tư cách là một cựu sinh viên trường đại học Đô-rơ-pát cụ say sưa biểu diễn (với một giọng nam trầm) bài Gaudeamus igitur thuở hoa niên.Trong trạng thái này, ba tôi có những mong muốn khá kinh ngạc; đẻ thêm một đứa con nữa, viết một vở bi kịch bằng thơ, hay là như tối hôm ấy,bắt tôi ngừng mọi công việc để cho cho ông cụ đưa đi chơi sở thú mà chẳng buồn để ý rằng con gái mình đã là một người lớn, đường đường là biên tập viên của một tờ báo xuất bản định kỳ, và hơn nữa, đang dính vào một vụ kiện cáo lôi thôi, đang bị làm tình làm tội đến mất ăn mất ngủ ... -Kìa, ba - tôi cãi – ba biết rằng con không có thời gian, với lại con cũng chẳng còn lòng dạ nào mà đi chơi ! - Thôi, chớ có nói nhảm! Ba là ba của con, đúng thế chứ ? Có phải chính ba đây là người đã sinh con ra đời hay không ? Ba đã bảo chúng ta sẽ đi sở thú,và nói đi là đi , không một hai gì cả! Ba tôi im lặng một lát , rồi với giọng với giọng trang trọng ra vẻ người sành: - Chúng ta đi xem sư tử, chúa tể của loài thú ... Tôi không cầm được nụ cười.Ba tôi trông thấy,lấy làm vui sướng như điên, vỗ tay và gào oang oang: - Nhưng thưa hiền mẫu quý yêu Con là công nhân lái máy kéo Rồi ,chẳng chút mạch lạc , trở lại thành một người cha ân cần : - Vụ ấy của con đến đâu rồi ? Tôi cảm thấy như mình sống lại.Trước đó ít lâu có hai người đâm đơn kiện tôi , vụ kiện có tính chất phỉ báng và cuộc điều tra kéo dài vô tận.Việc ấy trở thành một ám ảnh; ngày cũng như đêm bất cứ vào giờ nào, tôi có thể trình bày tràng giang đại hải về cái vụ rắc rối ấy, tôi lẩm nhẩm đọc những bài diễn thuyêt bi ai thống thiết, tôi hình dung trong óc những lời đối đáp chua cay với đồng chí chủ nhiệm tờ báo, với đồng chí bí thư chi bộ của tôi cũng như với những kẻ vu cáo tôi, và đêm nằm tôi toàn mộng mị những việc đó. - Ba biết đấy, tôi trình bày, họ lại hoãn, chưa chịu kết luận cho.Trong phiên họp vừa qua của toà soạn chúng con, con mụ Cơ-lan-man-súc ấy mà, phát biểu ý kiến lại tuôn ra những chuyện đâu đâu ... Những chuyện khả ố ...Suýt nữa con ... Ồ ,con nhất định không chịu qua khỏi việc này đâu ... Con sẽ đưa đơn kiện, con cũng thế : dù sao cũng phải trình bày cho mọi người rõ chứ! Kiện lên cấp trên ... Trong khi chờ đợi ,con đã chuẩn bị đề cương tỉ mỉ để thảo văn bản ấy .Và bởi vì điều quan trọng là phải làm cho vấn đề thật sáng tỏ, đâu ra đấy. Con bắt đầu bằng ... Trong cơn bất bình, tôi bắt đầu tóm tắt bản đề cương vừa nói đến ấy. Ba tôi chăm chú nghe. Tỉnh táo hẳn. Hay ít ra cũng có vẻ như vậy.Thỉnh thoảng ông cụ lại chen ngang vào giữa hai câu nói của tôi một vài tiếng lầm bầm theo thói quen nghề nghiệp : “ Thế, thế ” “ Rõ rồi đấy ”, “ A, thật vậy ư?” Cuối cùng ba tôi ngắt lời tôi : - Ồ, con mụ tệ thật ! ... Nhưng mà xem ra tất cả các bạn đều mắc bệnh thần kinh cả rồi, các bạn quý của tôi ơi ... Thôi, con đi ngủ đi, ba cũng ngủ đây .Mai chúng ta sẽ đi thật sớm ! “ Ta là nô lệ ,vừa là vua ,vừa là thượng đế và là con giun ” - Vâng, mời ba đi nghỉ .Con thì còn phải ghi nháp cái này một chút .không phải cái bản đề cương ấy đâu ,mà là một vấn đề khác,nhân một bài báo thứ hai ... Để con mang cho ba tấm nệm ... - Không cần thiết ! Một người lính già ngủ không cần nệm ! “ Đội mũ nhỏ và mặc áo dài màu xám ...” - Ba muốn thế nào tuỳ ba nhưng xin ba đừng hát bài ấy! Con nhức đầu lắm rồi! - Rõ! Ba là ba của con, có phải không nào ? Y học cũng đành phải bó tay thôi !... Ba tôi nằm xuống một chiếc ghế dài hẹp và cứng .Tôi che ngọn đèn bằng một tờ báo cuốn hình phễu và ngồi xuống trước trang giấy trắng .Trời đất ! Tôi cảm thấy cô đơn làm sao! Ba tôi đã không muốn nghe thuật lại từ đầu đến cuối cái vụ ấy. Ba tôi chẳng hiểu tí gì về việc đó hết .Ba tôi cũng chẳng hiểu tí gì về con gái của người .Cái niềm vui không đúng chỗ ấy ăn nhập vào đâu cơ chứ ? Giữa một lúc mà tôi... Dù sao cũng thật là đáng trách: Ba tôi đã không để cho tôi trinh bày đến hết Đột nhiên, ba tôi gọi tôi .Và giọng ông cụ âu yếm ,pha một chút gì hơi buồn buồn nữa ; - Ôn-ga, con gái ta ơi ... - Gì thế, thưa ba ? - Con có còn nhớ không, hồi ở Za-rut-sê-vi-ê,cái hôm mà và ba không cho phép con cùng Mu-xi-a đi hái nấm ? Hình như các con có một khoảng rừng thưa, một khoảng rừng thưa trứ danh nào đó riêng của các con ... Đã lâu lắm rồi !... Trời đất ,hôm đó các con khóc mới ghê làm sao ! - Ba chớ làm phiền con ! Giá mà ba biết rằng, giữa lúc này đây con còn thiết gì đến cái khoảng rừng thưa ấy ! Ba tôi lặng yên không đáp Triền miên, đau đớn, tôi nặn óc tìm cho ra lý lẽ thuyết phục nhất .Tôi chà nát cái con mụ Cơ-li-man-súc ấy bằng những lời rủa thầm .Tôi hút thuốc lá đến bồi hồi cả tim .Và lòng rầu rĩ vì bị lăng nhục, tràn trề cảm thương đối với chính mình, tôi lầm bầm nhắc đi nhắc lại: “ Cô mệt nhọc quá rồi đấy, cô nàng tội nghiệp của mình ơi! Chao, những chuyện này thật vất vả làm sao! ” Tảng sáng tôi mới thiếp đi và lập tức mơ thấy mình phải đối chất trước hội đồng điều tra mới ,và giữa lúc bi tráng nhất của cuộc tranh luận, tiếng ba tôi vang lên như sấm : - Ôn-ga, dậy đi thôi ! Ba con ta đi sở thú ! Tôi không mở mắt ra nổi .Và nghĩ thầm : “ Ra ông cụ vẫn còn thiết tha với chuyện ấy ” Tôi đáp - Đã đến mười giờ đâu,ba ! Dù sao ta cũng không nên đi chơi sớm quá . - Trái lại, sở thú mở cửa đúng mười giờ. Nào ,dậy đi thôi ! Con hãy ra mà xem mặt trời đẹp chưa kìa . Người tươi tỉnh hẳn ra ,ba tôi vui như sáo, hoạt động rất sôi nổi, đôi mắt to mắt to màu xanh ánh lên một nét tinh quái như ông cụ đang nghiền ngẫm trong đầu một trò quấy đảo kinh thiên động địa nào đấy.Tôi tức đến phát điên ! Ra đến đường - đầu đội cái mũ cát-két nhà binh mà tôi trông thấy từ thời còn thơ ấu, mình khoác chiếc áo ra-gơ-lăng ngắn nó làm cho ông cụ trông giống như đang mặc chiếc váy xoè - cụ bắt đầu đi nhanh như chạy. Sợ nhỡ tàu chăng? Tôi vừa lóc cóc chạy theo ba tôi vừa cố kìm chế những lời cằn nhằn. Chúng tôi nhảy lên một toa tầu điện đang chạy chậm . |
KHOẢNG RỪNG THƯA TRỨ DANH ẤY
Cảnh vật quanh sở thú đã toả hơi mùa thu, một mùi xa lạ đối với nội thành. Cây cối vàng rộm trầm ngâm và im phăng phắc như hiểu rằng ánh mặt trời vàng nhạt chỉ hơi âm ấm kia chiếu cho chúng tôi lần này là lần cuối .Và cái vẻ lặng lờ êm ả, sự trong suốt dịu dàng của buổi sáng mùa thu ấy, buốt như một cục nước đá, làm cho ngưòi tôi tràn trề một niềm bâng khuâng cũng lặng lờ, trong suốt và êm ả như vậy
“ Ta bắt đầu có tuổi” Tôi nghĩ thầm Ba tôi thì nheo mắt lại một cách thích thú ngửa mặt đón nắng, phồng mũi lên hít không khí lạnh, làm bộ làm dáng và suýt xoa như một con ngưòi vô tư lự : - Trời ,thích quá đi thôi ! Thật là tuyệt ! Này cô bé, bây giờ thì cô đã lấy làm bằng lòng về chuyến đi chơi này rồi chứ? Tiếc là không có Mu-xi-a ở đấy . Con có còn nhớ cái buổi sáng mùa thu ở Za-rút-sê-vi-ê mà ba và mẹ không cho phép các con đi hái nấm ở khoảng rừng thưa, cái khoảng rừng thưa trứ danh của các con không ? - Vâng, có, con còn nhớ ! Ba tôi làm tôi bực điên người ... - Kìa, những con linh cẩu,ba tôi thốt lên tự hào là đã gọi được đúng tên loài thú ấy, khi chúng tôi tiến đến gần một cái chuồng. Những con vật bẩn thỉu! Chán nhất là chúng nó lại biết cười, con hãy nhìn xem con kia, cái con đang lục lọi kia ... Lạy Đức Mẹ Đồng trinh, sao mà thối đến thế ! Tôi thấy con chó rừng này giống như lột con mụ Cơ-li-man-súc thù địch với tôi. Tôi hé một nụ cười đau khổ. - Ôn-ga ,con hãy nhìn các con hổ! Trông chúng dù sao cũng oai vệ đấy chứ, có phải không ? - Chúng có vẻ không thật. Trông như vừa đựơc cắt ra từ một tấm thảm trải ở chân giường, tôi đáp . - Con nhầm. Đấy là những con vật tuyệt mỹ, ba thì ba yêu chúng lắm ...A, sư tử kìa! Chắc là sắp đến giờ người ta cho chúng nó ăn rồi đấy . Với một vẻ lo âu ghê gớm, ba tôi móc ra khỏi túi gi-lê cái đồng hồ giống như củ hành từ thời ông nội tôi để lại, xem giờ, đưa lên tai nghe rồi nói : - Đúng, người ta sắp mang thức ăn đến cho chúng nó ngay bây giờ mà. Con sẽ được xem ! -Ô thôi, xin cảm ơn ba. Ai hơi đâu đợi giờ ăn của thú bao giờ. Vả chăng, ba hãy nhìn bộ lông mòn nhẵn của chúng mà xem ; thật đúng là một tấm thảm cũ. Và chúng nó trông đần độn làm sao! Chúa tể các loài thú kia ư? Vâng, kể cũng phải; chúng nó hệt như của Ni-cô-lai Đệ nhị. Ba tôi cười gượng. Tôi nói tiếp ; - Chúng ta đi đi thôi, ba. Xem thế đủ rồi. Vả chăng, cũng chẳng có gì để mà xem lâu. -Đúng là những con sư tử này, chúng nó cũng hơi ... Ừ, giống vật này còn có những con tốt mã hơn kia ! - Ba tôi hơi thất vọng, nhưng vẫn giữ được vẻ tự tin - Ba tin chắc là, ngược lại, con sẽ thích gấu. Con biết đấy, khi loài gấu đùa giỡn, chúng nó có những cử chỉ kệch cỡm đến là hay ...Nhưng mà gấu, chúng ta xem sau, Bây giờ hãy đi xem chim đã, rồi đến bò. Được chứ? Sau đấy mới đến gấu? Con đồng ý chứ ? - Tuỳ ý ba . Chúng tôi đến đứng trước chuồng chim. Mùi cứt chim xông lên phát buồn nôn . Chiếc bồn tròn nhỏ chứa đầy một thứ nước bẩn trông thấy. Chim đậu vòng quanh, làm thành một hình tròn vành vạnh. Một con bồ nông béo phị đang ngăm nghía một cọng rau trôi lềnh bềnh. Cạnh nó, một con chim đờ đẫn và cáu bẩn giương cao cổ, mắt phủ một lớp màng trắng đục. Sát bên cạnh con này là con có mào, đứng co một chân, chiếc mỏ giữ tợn chìa ra phía trước. Và cứ thế. Tất cả giường như đang mải mê suy nghĩ cách giải quyết một vấn đề vượt qua s rất xa mọi khả năng của chúng. - Ba xem, thật giống hệt một cuộc họp toà soạn ở chỗ chúng con ... Câu so sánh chua chát đến với tôi một cách tự nhiên. Ba tôi buông một hơi thở dài não nề, và chúng tôi không nói thêm gì nữa cho mãi tới khi đến khoang nuôi ngựa tơ, ba tôi mới bảo : - Kia là ngựa tơ ! Chẳng có gì hay, phải không con? Ừ đây cũng chỉ là những con ngựa nhỏ vóc thôi...con không ưa chúng sao ? Trong giọng nói ba tôi có cái gì kỳ quặc. Tôi liếc mắt quan sát ông cụ : tôi thấy ba tôi chợt như già hẳn đi, có vẻ thất vọng và – vâng, đúng thế - hơi hổ thẹn nữa . “Ông cụ sao thế?” tôi nghĩ thầm, và chợt hiểu ra, có lẽ ba tôi muốn trông thấy tôi ngạc nhiên, thấy tôi vui vẻ như hồi còn bé. Không phải ba tôi muốn cho tôi đi dạo chơi ở sở thú mà chính là dạo chơi trong thời thơ ấu của mình, nó đồng thời cũng là tuổi hoa niên của người. Mà tôi thì tôi lại làm ra cái điều khó tính ! Tôi không nhìn thấy gì cả ; không thấy những cây cối óng vàng, không thấy những con vật ngộ nghĩnh kia. Tôi chỉ nhìn thấy bóng ma những ưu tư của mình. Tôi già mất rồi ! Ba tôi thốt ra buồn buồn : - Ta đi đi thôi, Ôn-ga ! Nhưng tôi kêu lên : - Không đâu, ba a. Ba hượm cho con một lát nữa ! Con muốn xem con ngựa tơ. - Thì con hãy xem đi – ba tôi đáp, hoài nghi nhưng có phần diu lại - Ba xem những con vật kia, ồ, con thích chúng quá – tôi kêu lên, xúc động vì yêu mến và thương hại ông cụ, nhưng chú ý để cho vai kịch của mình đừng lộ liễu quá .- Nó mới bé bỏng làm sao ! Ba này, tại sao ngựa tơ nó lại bé thế, ba nhỉ ? - Ừ , hình như thế. Đầu nó to hơn . - Hình như thôi à ? Không đâu. Xinh hơn nhiều chứ ... Cưỡi ngựa tơ có thú không ba ? Chà, con muốn cưỡi nó quá...Nghe nói ở bên Anh, người ta bắt chúng kéo xe, có đúng thế không ba ? Tôi còn biết nghĩ ra những gì gì nữa để làm vui lòng ba tôi ? - Không phải chỉ có ở bên Anh mà thôi đâu, - ba tôi vui vẻ đáp – Con hãy nhìn xem những chú nhóc con kia. Quả nhiên, trong tiếng sắt lanh canh một chíêc xe ngựa vừa tới, cỗ xe do một chú ngựa tơ mình rất nhiều lông và không lấy gì làm thoải mái lắm kéo. Bốn cái đầu trẻ con đội mũ lông nhô ra khỏi cỗ xe, do một chú bé mười hai tuổi tắc lưỡi điều khiển. Đằng sau, một con chó con lông lá xồm xoàm đến kỳ dị, lông che khuất ca mắt, lóc cóc chạy theo. Và cả cái đoàn ấy – lũ trẻ con, con ngựa tơ, chú đánh xe mười hai tuổi và con chó lông che khuất mắt - tất cả đều có dáng điệu nghiêm chỉnh, trang trọng, đường bệ lạ lùng, đúng là dáng điệu của những người đang lo đến sở chậm giờ làm việc hoặc là vừa được cấp trên giao phó cho một công việc tâm phúc - Ba cho con đi một cuốc nhé ? – Ba tôi nheo mắt hỏi – Ba có khả năng làm như vậy lắm, con biết đấy. - Ồ , vâng!... Có điều là làm thế e không được tiện lắm, ba nhỉ. - Nếu vậy thì chúng ta tiếp tục đi dạo. Còn khối thứ để mà xem - Đúng đấy, ba a. Con muốn đi xem khỉ quá ! – tôi thốt lên, phấn khởi vì đã đánh lừa được ông cụ khéo léo đến vậy - Giống khỉ ấy, con thích chúng làm sao! Nhất là những con khỉ độc. Đã lâu lắm rồi con muốn xem chúng . Chúng tôi đến chuồng khỉ. Tôi nắm tay ba tôi và như một con bé gái ngoan kiểu mẫu, tôi làm ra vẻ vất vả hết sức mới theo kịp ba tôi. Còn ba tôi thì mặt mày rạng rỡ! - Ba mua cho con một chiếc bánh quế nhé ? – ba tôi gợi ý - Một chiếc bánh to có thật nhiều kem ấy mà. - Phải đấy ba ạ ! Cái nào to nhất ấy !... - ... Bánh ăn được chứ ? - Ngon tuyệt! Kem nồng nặc xà-phòng tắm, vị ngọt của đường như cũng na ná như vậy và có lẽ có mạt cưa lẫn vào trong khuôn bánh hay sao. Tuy vậy tôi vẫn ăn hết cả chiếc, vừa ăn cừa cố nén buồn nôn, làm những mẩu bánh vụn li ti rơi xuống phủ đầy chiếc áo khoác. Ba tôi hút thuốc lá. Cây cối óng vàng lặng im toả bóng che chiếc ghế dài chúng tôi đang ngồi và đùa giỡn với những tia nắng cuối cùng. Bên cạnh chúng tôi, một thiếu phụ đang cố đi cho đứa con lên ba một đôi giày đi tuyết bẹt mũi bằng cao-su bạc màu. Bàn chân của cháu đu đưa trông giống một nùi lông. Người mẹ không làm sao xỏ chân con vào giày được, và vừa loay hoay bà vừa hỏi với với một giọng dịu dàng trầm bổng: -Vô-vốt-sơ-ca này, về nhà con sẽ kể cho mẹ nghe những gì nào, sau khi đã xem bao nhiêu là vật đẹp đẽ trong sở thú ? Và em bé, vầng trán dô nhăn lại suy nghĩ, đôi môi nở loe như cánh hai cánh bướm kể ra những điều kỳ diệu ; - Có một con voi bự này ...Rồi một con nạc đà to to này ... Và một con ngợ bé tẻo tèo teo này ... Em không quên kèm theo điệu bộ và lời nói : kể đến con voi và con lạc đà thì giọng trầm xuống, nhắc tới con ngựa bé tẻo tèo teo thì kèm thêm một tiếng hí thật cao. Trong thời gian ấy tôi đã giải quyết xong chiếc bánh quế . - Bánh ngon lắm, ba ạ. Bây giờ, con muốn uống... Ba cho con nước ngọt ba nhé! - Cô có những thứ nước ngọt gì nào ? Ba tôi hỏi chị bán hàng như quan tòa lấy khẩu cung. Đó là một người đàn bà béo tốt hai má đỏ ửng. Chị trả lời giọng càng về sau càng phấn khởi : - Nước lê này! Nước đào này!! Trái cây tươi này!!! Mật hoa pha chè này!!!! Tôi chọn một cốc trái cây tươi pha với mật ong: đã là trẻ con thì cần gì phải keo kiệt trên con đường trượt xuống thói hư, tật xấu cơ chứ ? Ba tôi lo lắng nhìn tôi uống : - Nước có lạnh quá không ? - Không đâu, ba ạ. - Ôn –ga, con còn nhớ không, - đây là lần thứ ba ông cụ hỏi tôi câu đó – con còn nhớ các con đã khóc đến thế nào, hôm ba và mẹ con không cho phép các con đi hái nấm? Tôi gật đầu “ có ”. Ba tôi bật cười ha hả : - Em con và con, các con khóc như mưa như gió, khóc suốt ba tiếng đồng hồ liền. Hôm đấy ba tự hỏi khóc như thế rồi có bao giờ nín được không ? - Cũng dễ hiểu thôi, ba ạ ! Trời hôm ấy đẹp thế, đúng là một ngày để đi hái nấm : mưa lất phất, trời sáng và trong, mùi cây thông ẩm thơm lựng, mà khoảng rừng thưa của chúng con chi chít vô vàn nấm hương ...Bây giờ sau mười lăm năm, con hy vọng ba hiểu ra vì sao hồi đó chúng con khóc nhiều như vậy chứ ? - Cố nhiên ... Ba và mẹ con hiểu ngay hôm đó nhưng vì lo các con bi cảm lạnh, vì trời mưa, không có mưa thì ba và mẹ đã đồng ý cho các con đi rồi . Ba tôi xin lỗi với một vẻ rạng rỡ. Chao ôi! Tôi thương ông cụ làm sao! Tôi vô cùng mong muốn được đưa ba tôi đi xa hơn nữa về qúa khứ, về gần hơn nữa thuở thanh xuân của người! Trí nhớ không làm lẫn của ba tôi chỉ cho tôi lối ra : - Ba, ba còn nhớ không, cái hôm ba đưa chúng con đi sở thú, lần ba về phép hồi đánh nhau với quân Đức ấy mà ? Ba tôi sửng sốt : - Làm sao con còn nhớ được ? Dạo ấy con còn bé thế ... - Ba thấy đấy con còn nhớ chứ. Gần hàng rào bằng lưới sắt, có một quán bán nước Chanh, một cái quán xây theo hình một cái chai to tướng mạ vàng. Và dạo ấy con mong ước đến điên lên, được trông thấy con chó sói sám lớn trong chuyện cổ tích, con sói đã cõng hoàng tử I-van chạy ấy mà ... Con còn nhớ tất, kể cả con chó sói! Ba, hôm ấy ba mặc bộ quần áo nhà binh, và khi ba con ta chụp ảnh, con leo len đầu gối ba và bám vào thanh gươm. Làm như vậy, con thấy mình có vẻ anh hùng ... Ba có nhớ không ba ? - Có, dĩ nhiên là ba còn nhớ ... Nhưng mà con, ừ, Ôn-ga ... Chao, dạo ấy ba bảnh trai lắm ! Con có nhớ những mớ tóc quăn của ba không ? Ông cụ lúc lắc cái bờm của mình và se sẽ hát : Mái tóc A-li-ô-sa Hung hung vàng óng Chàng hay hát những bài Mà người dân phố say mê Rồi : - Và cả bộ ria mép của ba nữa, con có nhớ không ? - Có, con nhớ. Mu-xi-a bảo rằng ba có những cái đuôi mọc từ trong mũi ra ! Ba lúc nào cũng vuốt ve ria mép. Và ba hát : Bộ ria mép xinh xinh của tôi không muốn quăn lên nữa Vì bà nhà tôi bắt đầu dở trò ... Ba tôi đưa tay ngắt lời tôi và hát tiếp: ... Bà đòi tôi đội mũ giúp, ba bắt tôi pha trà Bà không để cho ngón tay này được tự do. - Có đúng thế không nào ? - Đúng ạ - tôi trả lời hoan hỉ - Và nó kết thúc như thế này : Người ta cho bà một cái dải đeo gươm Từ ngày hôm ấy bà trở thành quan chỉ huy tôi Đó là những câu hát trong một hành khúc thời bấy giờ . ... Đến chuồng khỉ thì chúng tôi đã sung sướng như trẻ con thực sự ! Như thường lệ, ở đây có đông người xem. Những chú nhóc con , mặt tái xanh vì rét chồm lên trên hàng rào như những con rối, thèm thuồng theo dõi cuộc đọ sức giữa hai con bú dù, mà các chú rộng lòng cổ suý và khuyên bảo : - Thụi mạnh nữa vào, mày tóm được nó rồi đấy! - Nhưng trông kìa, đồ ngốc: nó leo tít lên cành cây ! - Tóm lấy đuôi nó chứ ! - Đấy, bây giờ thì dùng chân sau mà đạp vào ! Đằng sau lũ trẻ run rẩy, một đôi tình nhân thả bộ ; một pho tượng Ta-na-gơ-ra với mái tóc đen và một chàng trai có đôi vai độn nhiều đến nỗi tưởng như đấy là một cái quán bán báo. Nàng vui tíu tít, cười như nắc nẻ, thốt lên những tiếng kêu nhỏ, rồi đột nhiên nhớ ra là cần giữ vẻ con nhà, nàng quay lại nhìn chàng và hỏi rất đĩnh đạc : - Ơ-gien này, trông chúng nó cũng đáng yêu đấy chứ ? - Trông buồn cười ! – Chàng trả lời độ lượng Những con khỉ ấy ngốn ngấu cuộc đời của chúng, con nào lo phận ấy, bị cuốn hút vào hàng nghìn nỗi lo âu trong cuộc sống hàng ngày. Chúng cóc cần để ý đến công chúng, chúng bận lắm việc qúa mà. Một con bú dù đầu trọc tếch loay hoay tháo cái lon đựng nước uống, đã được gắn chặt vào chuồng. Cái lon đựng nước được lắp chắc chắn, và chú bú dù ta hết kéo ngược lại kéo xuôi, cố sức lay chuyển mà không sao được. Một con khác ngồi xổm bên cạnh nhìn bạn làm với một vẻ hứng thú say sưa. Khi trông thấy ban không thể nào làm nổi một công việc nặng nề đến thế, đến lượt nó hùng hổ bắt tay vào. Nhưng , vì nó ngốc hơn con kia, nó đẩy cái lon đựng nước ra phía ngoài và cuối cùng làm rơi tuột hẳn ra khỏi chuồng. Hai con bú dù sửng sốt: chắc chắn là có điều gì không ổn đây. Chúng thò những cánh tay gầy guộc như cánh tay con bé gái qua chấn song và thận trọng sờ nắn cái lon đựng nước, như thể hoàn toàn yên trí là cái vật này không phải bị ma làm. Xa hơn một ít có chú vượn gan dạ và có râu lay tấm lưới chắn : móc hai bàn tay co quắp vào mắt lưới, lay một lúc xong, nó lại nhìn kết quả: cái vật này có rời ra không nhỉ, hay là không chịu rời. Tiếc thay, mọi vật vẫn cứ trơ trơ, và trong sự năng nổ vô ích của con vượn già có một cái gì kỳ quặc mang tinh người đến nỗi cho tôi vui vẻ hẳn lên . “ Bài học tốt cho ta ! – Tôi nghĩ thầm .- Ta cũng ngốc không kém nó”. Tôi bật cười , không mảy may phật ý vì nhận xét của mình, và nhìn ba tôi. |
KHOẢNG RỪNG THƯA TRỨ DANH ẤY
Ba tôi hân hoan sảng khoái, đạt đến cái độ mà người ta chỉ còn muốn ban ơn ra khắp xung quanh .
- Bây giờ , - ba tôi tuyên bố - ba sẽ chỉ cho con xem con voi ! - Ồ ! Còn có cả voi ư ? Ta đến đấy nhanh lên, ba . Tôi đóng kịch rất tự nhiên, tôi nhập vào vai kịch, hay đúng hơn, tôi đã thôi đóng kịch tôi đang sống lại nỗi vui mừng rất êm dịu đột nhiên xâm chiếm tâm hồn mình. Nhảy nhót trước tấm lưới, bộ điệu tôi giống như một bé gái say sưa kinh ngạc đến nỗi một anh chàng gầy nhẳng - thật ngộ nghĩnh, sao hắn ta giống con thỏ rừng đến thế - nhường chỗ cho tôi, và tôi thấy việc đó là hoàn toàn tự nhiên . - Ô kìa, ba xem cái đuôi ! – Tôi nói quýnh lên – cái thân nó to thế, mà đuôi chỉ bằng ấy thôi thì bé quá chừng ... Chú voi này tên là gì nhỉ ? - Đấy là một cô – anh - chàng - thỏ - rừng trịnh trọng giảng cho tôi rõ – Tên nó là Bét-ti. Cô Bét-ti đồ sộ với đôi mắt sâu him híp đu đưa cái vòi nham nhở, và chốc chốc lại di chuyển dịch những ống chân to như cột nhà mà chỉ nhìn bề ngoài thôi cũng đủ nặng nề. Đối với nó, thế giới bên ngoài chắc hẳn chẳng có gì đáng quan tâm. “ Nếu có số mệnh, thì số mệnh giống như con Bet-ti này” tôi nghĩ thầm. Một ý nghĩ không mảy may ngây thơ làm cho tôi hoảng sợ . Tôi thốt lên : - Ba xem kìa: nó vừa tớp được một đồng xu . - Ấy là để mua củ cà-rốt đấy : giống voi, con biết đấy, chúng thông minh lắm . Anh -chàng - thỏ - rừng luận ngay việc đó vào bài học chính trị - Cô voi này có ý thức : chả là nó lao động mà ! - Xong rồi, ba ạ ! Nó đã mua được củ cà-rốt rồi. Nó đang ăn ! Chao, trông mới ngộ nghĩnh làm sao . Ba tôi lục trong túi tìm được một đồng hào đưa cho tôi - một đồng mười cô-pếch bám đầy bụi thuốc lá và hào phóng gợi ý : - Con hãy mua cho nó một củ cà-rốt khác. Khi ném đồng hào, chắc hẳn tôi có bộ dạng một cô bé ngốc nghếch đang say sưa. Đồng hào bay như một tia chớp cạnh cái vòi của Bét-ti, nhanh nhẹn lăn qua cái bụng đồ sộ của nó, quay tít hai ba vòng rồi cuối cùng dừng lại đúng ngay phía dưới đuôi. - Chị ném chật đích rồi ! – anh - chàng - thỏ - rừng thốt lên - Voi nó không biết quay đầu lại đằng sau đâu Đám đông xác nhận : - Trật rồi ! - Nó không biết quay mình lại đâu ! “ Nếu Bét-ti nhặt được đồng hào, những ước vọng của ta sẽ thực hiện : mọi việc sẽ đâu vào đấy”, tôi nghĩ thầm nhanh như chớp. Và tôi cảm thấy người run lên cầm cập : Tôi vừa thách thức Số mệnh mà . - Nó sẽ chẳng bao giờ nhặt được đồng hào đâu – như đoán được ý nghĩ của tôi, một người nào đó nói. Cái vòi to tướng của con Con – voi - Số - mệnh mò mẫm trên nền bê tông ... Không đúng chỗ !... Vẫn không đúng chỗ ! Nó tìm bên phải, rồi về phía tấm lưới, rồi không tìm nữa mà tiếp tục đua đưa đều đều cái vòi . Tôi đã thua cuộc; bàn tay tôi nắm chặt , móng tay bấm sâu vào thịt ... ... Vừa lúc ấy thần Số mệnh chậm chạp nhấc sang bên những ống chân voi to ghê gớm của nó, quay chổng mông về phía mọi người, rồi thò vòi ra và chỉ với mỗi một động tác nó đã hít gọn đồng hào Tôi vít ống tay áo ba tôi mà gào : - Ước vọng của con đã được thực hiện. Mọi việc rồi sẽ ổn thoả, sẽ đâu vào đấy cả. Ba hiểu chứ, ba ? Một ánh hoảng hốt làm vẩn đục đôi ngươi của anh - chàng - thỏ - rừng. Trong đám đông, có những tiếng “ ồ” lo âu. Nhưng ba tôi, người đã sinh ra tôi, thì người hiểu ! Người đã hiểu tất cả - Dĩ nhiên ! – ba tôi nói lầm bầm. Ông cụ cố làm ra vẻ bực mình, nhưng tôi có cảm tưởng là nước mắt sắp trào ra khỏi đôi mắt to của người. Dĩ nhiên là ước vọng của con rồi sẽ được thực hiện ! Còn bây giờ, bé ạ, ta đi đi thôi : Chúng ta đã xem tất cả những gì đáng xem rồi. Con bằng lòng chứ ? - Ồ , vâng, thưa ba ! Con bằng lòng lắm. Thích nhất là con voi - Thế thì càng hay ! Con định về đâu ? Con đáp tàu điện nhé ?... Ba thì ba rẽ qua trái; ba đến thăm bác. Con còn nhớ bác không?... Sao, con đã quên bác ấy rồi ư? - Thư thả ... Hình như con có nhớ ... À, vâng, nhớ chứ ! Bác ... - Bác Min-ca, bạn nối khố của ba hồi học ở Đô-rơ-pát, bác Vô-lô-khin ấy mà ...Nhưng mà thôi, chắc con không thể nhớ ra đâu. Thời ấy con chưa đẻ, ba còn là sinh viên mà . Thời ba và bác ấy cả hai cùng hát ... Và ba tôi, tuy lần này chẳng có chút hơi men, vẫn cất lên giọng trầm sai lạc ...Vita brevis jugaxque volu ptas Gaudeamus igitur ... |
KHOẢNG RỪNG THƯA TRỨ DANH ẤY
Hôm nay ba con mình đi chơi lâu quá ! Tôi nghĩ thầm khi nhìn thấy chiếc mũ bình thiên quân phục cũ của ba tôi xa dần, chiếc mũ mà tôi trông thấy từ hồi thơ ấu, cùng cái áo ra-gơ-lăng ngắn trông giống một chiếc váy xoè hình quả chuông. Tôi lấy làm sung sướng là đã tỏ ra khá thông minh, khá mưu mẹo, khá tinh tế để đánh lừa được ba tôi và gây cho người niềm vui của chuyến dạo chơi tay đôi về buổi hoa niên của người. Nhưng cùng lúc ấy, tôi chợt đoán ra: ba tôi cũng vậy, hẳn ông cụ lấy làm vui mừng là đã tỏ ra trí lự, láu lỉnh, tinh quái , khi kéo được tôi ra khỏi những lo âu và dẫn dắt tôi trở lại thời thơ ấu . Đúng thế, tuổi thanh xuân của ba tôi và thời thơ ấu của tôi đều ở kia , ngay bên cạnh nhau, với tất cả những gì là hạnh phúc và sáng trong ... Hạnh phúc ấy, sự trong sáng ấy chẳng phải chính là cuộc đời, cuộc đời chân thật hay sao ? Còn về những lo âu của tôi ... Những lo âu ấy là chuyện vớ vẩn ! Việc rắc rối của tôi ( tôi bàng hoàng vì sự phát hiện của chính mình ), nó nặng nề, nó xúc phạm thật đấy . Nhưng nó sẽ qua đi . Thực chất là cuộc đời. Và cuộc đời là thuộc về tôi , cùng với tôi , tôi yêu đời , đời làm cho tôi sung sướng . Trên thế giới này đâu phải chỉ có những con mụ Cơ-li-man-súc thôi . Hơn nữa , đồng chí chủ nhiệm tờ báo của tôi, đồng chí ấy tốt biết bao, đồng chí ấy đã phải làm vất vả bao nhiêu để làm sáng tỏ cho được cái vụ rối rắm này . Đúng là con người rất trung hậu . Cũng như đồng chí cán bộ ở khu uỷ , người đã bỏ suốt một ngày để gỡ cho ra mỗi một nút thôi của mớ bòng bong ... Và ba tôi ! Ba tôi trung hậu, tốt bụng làm sao ! Đông đảo xiết bao những con ngươì trung hậu , thì ở đó có cuộc đời, có cuộc đời chân thật !
Cả ngày, tôi đi dạo trong ánh vàng trong suốt của thành phố mùa thu. Tôi thấy lại sở thú, thấy lại thời thơ ấu của mình, thấy lại ba tôi, thấy lại con voi. Tôi cười .Người ta nghĩ rằng tôi cười vì trông thấy họ . Một số có vẻ không bằng lòng. Nhưng những người khác thì cười đáp lại tôi Ban đêm, tôi mơ thấy lại một trong những giấc mơ yêu chuộng của mình. Bởi vì tôi có những hai ước mơ và nó giống nhau lắm. Ước mơ thứ nhất, cái quan trọng hơn, được yêu chuộng hơn trong những cái được yêu chuộng, là được trở về U-gơ-lích, về thành phố nơi ba mẹ con chúng tôi đã sống thời ba tôi đi bộ đội, tham gia nội chiến, tôi đã kể chuyện đó rồi. Nhưng ước mơ yêu chuộng thứ hai của tôi, thì chính là cái khoảng rừng thưa trứ danh mà ba mẹ tôi đã không muốn cho chúng tôi đi nấm hương một buổi sáng mưa êm dịu, ở một nơi nào đó thuộc tỉnh Nốp-gô-rốt, gần Za-rút-sê-vi-ê, cái làng mà đã mấy năm, hè nào gia đình tôi cũng đều đến nhỉ ở đấy ... Tôi thấy lại mình đang bước đi trong khoảng rừng thưa ấy, như tôi đã từng bước tuổi thanh niên, men theo một con đường mòn tí tẹo, xuyên qua một khu rừng trăn rất già và rất rậm, dày đặc những bóng tối ngại ngùng và chắc chắn là muốn nói lên một cái gì đó, vừa rì rào, vừa làu bàu, bởi vì đâu đây có một con suối nhỏ bẳn tính, uốn lượn giữa những ngọn lá khô màu gỉ sắt và những tảng đá rêu phủ trông giống da hươu. Đen đủi và ẩm ướt, con đường mòn ngoằn ngòeo rất dài dưới bóng cây và trong tiếng rì rào đáng nghi ngại của thú rừng. Chúng tôi cứ đi, đi hoài. Cũng hơi sợ hãi một chút đấy, nhưng vừa đến được gốc cây cuối cùng, tới khoảng rừng thưa chứ danh ấy, thì một luồng ánh sáng dìu dịu và phơn phớt xanh trùm toả lên người ; ánh sáng ấy phát ra từ cỏ non phủ mặt đất, từ những cây bạch dương lá mảnh dẻ chung quanh, là khoảng không sáng chói, mạnh mẽ, thanh bình đang rộng mở ra kia. Vì khoảng rừng thưa ấy mọc trên bờ một cái vực vách dựng đứng, đứng ở đây tầm mắt có thể nhìn xa tít tắp: cơ man là những quả đồi hiền từ mà hình dáng đã nhoà đi, những đồng cỏ ở khắp mọi nơi, những khóm rừng xanh xa xa và màu xanh lơ của một con sông nhỏ uốn éo lấp lánh, một ngôi nhà gỗ nhỏ như đồ chơi trẻ con nhô cao bên bờ sông, và không gian, và ánh sáng, một cái gì vô cùng tốt, vô cùng lành, vô cùng Nga ... Và nếu như, trong các giấc mơ của tôi, tôi chẳng lần nào đến được tận ngôi nhà thờ ở U-gơ-lích thì bao giờ tôi cũng tới được khoảng rừng thưa, tôi dừng lại hồi lâu ở đấy, lòng tôi say sưa trước không gian mở rộng. Sau mỗi lần như vậy tôi thức dậy, người tươi tắn hẳn lên, cảm thấy yên tâm một cách kỳ lạ và tự tin, bởi vì, tôi biết rõ điều này, tất cả những cái kia, cuộc đời, ánh sáng, đất nước, những cái kia không phải chỉ có tồn tại trong mơ. 1939-1957 |
Ở CỬA Ô NÉP-XKI- Những ngôi sao ban ngày
Những ngôi sao ban ngày
Tôi nghe nói đến chuyện đó ở Nốp-gô-rốt, hồi tôi còn niên thiếu, và tôi không còn nhớ ra, ấy là sau khi đọc một tờ tập san nào, hay là do một lần trò chuyện với thầy giáo Pi-ốt Pê–tơ-rô-vích, một buổi tối ông đến thăm người giữ thư viện trong làng ... Đúng rồi, chắc chắn là do câu chuyện của thầy giáo, một ông già có đôi mắt bé nhưng cái nhìn rất sâu sắc, với bộ râu dài hung hung thưa thớt, ông biết lắm điều đến là lý thú, gần như huyền bí nữa, về loài người, về thế giới, về cuộc đời. Một tối tháng bảy, bầu trời xanh mỗi lúc một đậm hơn, khi những ngôi sao đầu tiên vừa sáng lên chiếu qua khuôn cửa rộng của ngôi nhà gỗ, dùng làm thư viện thì Pi-ốt Pê-tơ-rô-vích bắt đầu giảng cho chúng tôi nghe rằng trên trời lúc nào cũng có sao, và không chỉ có vào buổi tối hay ban đêm, bởi vì còn có cả những ngôi sao ban ngày. Sao ban ngày còn đẹp rực rỡ hơn cả sao ban đêm, có điều là chúng ta chẳng bao giờ trông thấy được chúng, bởi vì chúng đã bị ánh sáng mặt trời át mất. Những ngôi sao ban ngày ấy, người ta chỉ có thể nhìn thấy được trong những giếng sâu yên tĩnh; treo cao trên bầu trời, mắt ta không nhìn ra được, những ngôi sao ấy sáng lên trong chiều sâu của đất, trên tấm gương đen nhỏ của mặt nước giếng, chúng làm toả ra một vầng hào quang gồm những tia nắng sáng ngắn nhọn hoắt... Thật ra, thầy giáo chẳng hề nói đến những tia sáng ấy, nhưng nghe nói đến sao là tôi tưởng tượng ngay ra tia sáng; chẳng là chúng cần thiết cho tôi mà. Từ buổi tôi hôm ấy, tôi bị một ham muốn điên cuồng luôn luôn day dứt: thế nào cũng phải nhìn kỳ được những ngôi sao ban ngày ấy ! Tôi không nói với một ai ( tuyệt đối không một ai, kể cả em Mu-xi-a) rằng người ta đã cho biết như vậy, và tôi quyết thấy cho bằng được những ngôi sao ấy. Tôi định kế hoạch tôi sẽ xem chúng một mình, đầu tiên, rồi sẽ nói lại (với Mu-xi-a ngay lập tức) sau đó sẽ chỉ cho những người khác xem, bắt đầu từ Mu-xia-a. Tôi sẽ nói với họ : “ Các bạn hãy nhìn đi ! Chính tôi đã thấy chúng đầu tiên đấy ! ( tôi sẽ nói là tôi đã rình được chúng ; nói là rình thì mạnh hơn là nhìn thấy ). Những ngôi sao ban ngày ấy là một cái gì huyền diệu, quả đúng như thế, chúng tồn tại thật, tôi đã biết rõ điều đó. Giờ đây xin bà con ta hãy cùng biết cho rằng có những ngôi sao ban ngày, và xin hãy nhìn xem, mời tất cả hãy nhìn xem !” Lòng ham muốn được trông thấy những ngôi sao ban ngày và dự định chỉ cho những người khác cùng xem nảy ra trong tôi ngay tối hôm đó, trong khi từ Za-rút-sê-vi-ê trở về xóm bên cạnh, nơi chúng tôi thuê một căn buồng đến nay đã là mùa hè thứ ba. Đường đi có mùi dễ chịu, mùi đàn súc vật vừa đi qua, mùi sữa tươi. Đất bột âm ấm vọt lên như những tia nước êm dịu và mát rượi, ở kẽ những ngón chân đi đất ; trong các hố, sâu đất không sợ hãi ánh lên, dưới kia trong sương mù, tiếng vó và tiếng leng keng của những con ngựa vô hình dội lại ; chốc chốc một tiếng chuông nhỏ tách ra ngân nga, rất dịu và hơi buồn buồn. Con đường ngoằn ngoèo từ đồi này sang đồi khác; và thật là khoan khoái khi tự nhủ rằng đường này không phải tầm thường như bất cứ con đường nào, mà lúc này đây ta đang đi trên cao nguyên Van-đai, và đâu đây, không xa lắm, dưới một cái chòi bằng gỗ có một dòng suối vọt lên tên là Vôn-ga , rằng lúc này đây đâu đâu cũng là đêm tối và trên dòng con Vôn-ga-nguồn, Vôn-ga-suối, Vôn-ga-sông-lớn đang phản chiếu những ngôi sao ấy, nhưng chưa phải là những ngôi sao ban ngày, những ngôi sao ban ngày mà tôi sẽ trông thấy ngày mai !... |
Những ngôi sao ban ngày (tiếp theo)
Khi đi ngang qua vườn rau kề nhà, tôi chậm bước lại nửa lo nửa mừng đưa mắt nhìn về phía cái giếng cổ của nhà phủ đầy rong và xám xịt những rêu đất. Vẫn là cái giếng ấy, với cái cần vọt khẳng khiu chĩa lên trời, hướng tới một vì sao nào đó, một vì sao bình thường; và những cây ngưu bàng đồ sộ (hẳn là cùng loại cây mà chú bé Tí Hon đã dùng một ngọn lá làm thuyền), ( Tí Hon- nhân vật trong một truyện nổi tiếng của Pê rô viết cho thiếu nhi-ND) những cây ngưu bàng ban đêm xanh dịu đang run rẩy chung quanh tôi với những tiếng tưng tưng như tiếng của làn môi. Mọi vật vẫn như hôm qua, th ế mà tất cả đã thay đổi. Cái giếng thân thuộc xiết bao ấy, giờ đây tôi biết đã chứa đầy ắp những ngôi sao sáng chói, những ngôi sao ban ngày mà ngốc nghếch làm sao, chẳng bao giờ chúng tôi thoáng nghĩ ra; chúng tôi chỉ biết bày trò chơi buông chiếc gầu xuống mảng nước đen chi chít những sao ấy cho nó rơi “bõm” một tiếng rõ to.
“Mai ta sẽ nhìn thấy chúng !’’ Tôi rùng mình khoái trá. Tuy vậy vì những lý do huyền bí, trong nhiều ngày, tôi vẫn không dám đánh bạo đưa mắt nhìn xuống giếng. Tôi tự bảo: “ Hôm nay, thôi , để mai ...Thôi nhất định là ngày kia...” Không ý thức rõ rệt, tôi trì hoãn cái khoảnh khắc sung sướng ấy và có một tí gì khủng khiếp nữa của cuộc hò hẹn với những ngôi sao ban ngày. Và lạ lùng làm sao, những phút chậm trễ ấy lại mang đếncho tôi một nỗi thích thú khó hiểu và mới lạ Dạo ấy, sắp bước vào tuổi thanh niên, tôi chưa hiểu được rằng chờ đợi hạnh phúc nhiều khi còn khiến người ta xúc động hơn lúc chính hạnh phúc ấy đến, cũng như việc nhấm nháp trước về một công việc lớn lao, phức tạp mà người ta vẫn hoài bão, thường mang lại nhiều niềm vui hơn chính công việc ấy. Vì vậy đôi khi người ta hoãn nó lại, người ta làm chậm kỳ hạn, người ta bịa đặt ra những lý do để chưa phải bắt tay ngay vào làm, để cho mình có thời giờ tha hồ mà tơ tưởng không chỉ đến công việc làm mà còn đến kết quả của nó, nghĩa là đến cái tác phẩm mới của mình. Tác phẩm ấy đối với ta vĩ đại và nhịp nhàng cân đối xiết bao lúc nó còn ở trong dự định, lúc mà ta chưa suy nghĩ được chín muồi từ đầu đến cuối. Vả chăng, cái đoạn cuối ấy , cần nhất là ta không nên biết một cách chính xác; phải để cho nó tự đến một mình như là một phát lộ, một phần thưởng cho công sức lao động của ta, vọt lên từ những hình ảnh chằng chịt đầu tiên, khi thì loé sáng như những lưỡi dao, lúc thì thì hầu như không trông thấy được, vọt lên từ những mơ màng kiêu hãnh ngây thơ khi người ta tự nhủ rằng cuốn mà chưa một chữ nào được ném lên mặt giấy kia sẽ được những bạn hữu nghiêm khắc nhất đồng tình, rằng nó sẽ làm cho người đọc xúc động đến tận đáy lòng, sẽ làm cho họ rơi nước mắt, có lẽ là những giọt nước mắt tốt lành nhất, những giọt nước mắt cô đơn bao giờ cũng chỉ tuôn ra âm thầm . |
Những ngôi sao ban ngày (tiếp theo)
http://i793.photobucket.com/albums/y...p_image001.jpg
“Ăng- toan Ti-bô, bị hơi độc đục ruỗng, chết dần chết mòn nhưng biết mình đang chết, đã hồi tưởng thuở thanh niên và ghi vào nhật ký : “ Tôi đã sống trong niềm cảm thông vui vẻ với cuộc đời, tôi đã sống trong niềm tin tích cực vào đời ” Sống trong niềm cảm thông vui vẻ với cuộc đời, tức là khả năng sống trước cái sẽ đến, hơn nữa, cái có thể đến, nhưng đã được sống ngay từ bây giờ, cái thiên bẩm ấy mới đẹp đẽ và đau đớn làm sao! Trong một thời gian dài, quá dài là khác, tôi chỉ sống với mỗi một niềm vui, và có lẽ đã đặt niềm vui quá tích cực vào niềm vui ấy. Bây giờ, tôi biết thế nào là sống trước nỗi đau đớn vì những mất mát không thể tránh ( mất tình yêu, bạn hữu, gia đình ), vì bị vu oan giá hoạ, vì phải trải qua một thử thách lâu dài và vất vả. Nhưng vào dạo ấy, mới là một thiếu nữ ở Nốp-gô-rốt, chưa biết mình có thiên bẩm lớn lao là sống trước đi cái chưa đến (đây là một loại ký ức cùng kiểu với thiên bẩm sống lại quá khứ ) tôi chỉ sống trước cái niềm vui ấy mà không tự đặt ra những câu hỏi, tôi say sưa trước với ý nghĩ là mình sẽ trông thấy những ngôi sao ban ngày . Ngày hôm sau, hoặc là hôm sau nữa, trong không khí oi nồng giữa trưa, dưới một bầu trời quang mây, sau khi đã xem đi xem lại kỹ là không có một ai trong vườn rau, tôi chạy rất nhanh đến cái giếng cũ có nắp đậy bằng gỗ rồi nhắm mắt lại, lật nhanh hai cánh cửa nắp giếng như mở một cuốn sách và hau háu nhìn, không chớp mắt, vào cái lỗ tối đen Không hề có một ngôi sao nhỏ nào ! Tôi không chịu tin. Tôi lại nhìn hồi lâu, rất lâu, hít thở hơi mát và mùi gỗ ngấm nước. Nhưng chẳng hề thấy sao mà chỉ thỉnh thoảng mới nhận ra trên mảnh nước vuông đen một gợn sóng run rẩy mơ hồ, và những vòng tròn mờ mờ từ chính giữa lan dần ra thành giếng. Tôi tưởng tìm được cách cắt nghĩa: mới một lần đầu, làm sao nhìn thấy được ! Sau một, hai giờ chờ đợi chịu thui dưới ánh nắng mặt trời, tôi trở lại bên giếng không phải chạy ba chân bốn cẳng như lúc nãy mà rón rén như rình để ăn trộm, tôi nhẹ nhàng mở nắp giếng với muôn vàn thận trọng, và vẫn chẳng trông thấy gì. Tuy vậy, tôi vẫn bướng bỉnh làm đi làm lại mãi cho đến tối, cho đến khi những ngôi sao đầu tiên hiện lên, những ngôi sao mà bất kỳ ai cũng có thể nhìn thấy được. Ngày hôm sau, trời mưa. Những ngày tiếp sau đó, bầu trời bỗng dưng kéo đầy những áng mây tròn lấp lánh rực rỡ ( mây thì nhìn vào đáy giếng thấy rất rõ). Tôi vẫn khăng khăng chạy ra chạy vào nhìn xuống đáy giếng mấy lần. Khi thì đứng ở chỗ này khi thì đứng ở chỗ khác. Nhưng chẳng bao giờ, dù chỉ trong nháy mắt, tôi trông thấy được một ngôi sao con. Tôi không kể lại thất bại đó với một ai và tự lấy làm bằng lòng là đã không khoe khoang trước, ngay cả với Mu-xi-a, là mình biết có những ngôi sao ban ngày. Điều kỳ cục là tuy vậy, tôi vẫn giữ vững niềm tin chắc là có những ngôi sao ban ngày, có những giếng phản chiếu được sao ban ngày, có những giếng có sao ban ngày ở. Chẳng qua tại cái giếng của chúng tôi không đủ sâu, không đủ tối đó thôi. Cũng có thể là ở trong lòng nó có những mạch suối con mỏng manh, vọt lên từ đáy, làm vẩn đục, không cho nước giếng giữ được mức trong suốt cần thiết để phản chiếu những ngôi sao mà không một ai để ý ... Tôi xấu hổ không muốn thú nhận điều này, nhưng gần đây tôi mới vỡ lẽ hồi ở Za-rút-sê-vi-ê mình đã nghe không thủng, nêu không muốn nói giản dị hơn là tôi đã không hiểu được điều ông Pi-ốt Pe-tơ-rô-vích muốn nói : Những ngôi sao ban ngày ấy, không phải người ta có thể thấy đựơc ở đáy giếng mà từ đáy giếng, nghĩa là phải tự đặt mình vào sâu trong lòng đất. Tuy vậy, mặc dù suốt cả thời niên thiếu chưa một lần nào tôi trông thấy được một ngôi sao ban ngày , và mặc dù hiện nay đâu đâu cũng dùng nước máy, tôi vẫn muốn tin rằng trên mặt đất vẫn có những giếng sao, và không chỉ những cái giếng cổ yên tĩnh chung quanh có những cây ngưu bàng thần tiên mà có khi là những cái giếng mới toanh, đào vào thời bây giờ, những cái giếng xinh xắn thành đúc bê-tông táo bạo thọc rất sâu vào lòng đất, mặt nước giếng yên tĩnh và đen quá cả sự ước mơ của những cái giếng thời xưa. Không những tôi tin chắc có những giếng sâu như vậy, mà tôi còn muốn tâm hồn tôi rộng mở cho mọi người cũng giống như những cái giếng trong đó những ngôi sao ban ngày phản chiếu và ẩn náu, những ngôi sao ấy có thể là những tâm hồn, những cuộc đời, tâm hồn và cuộc đời những người khác, hay đúng tâm hồn và cuộc đời của những người cùng thời với tôi, của đồng bào tôi . Những ngôi sao ấy không nhìn thấy được bằng mắt thường, nó không có cuộc sống biểu hiện ra bên ngoài, nhưng tôi muốn rằng, xuyên qua tác phẩm của tôi, mọi người ai cũng có thể trông thấy được những ngôi sao ấy với tất cả vẻ rực rỡ huy hoàng của chúng. Tôi muốn được luôn luôn mang theo những ngôi sao ấy ở trong người như luồng ánh sáng và điều bí mật của bản thân tôi, như chất thanh khiết nhất trong con người tôi. Tôi biết rõ: không có chúng, không có những ngôi sao ban ngày ấy, có lẽ tôi sẽ không tồn tại, tôi sẽ không tồn tại với tư cách nhà văn. Và nếu không có tôi, cũng chẳng có ai nhìn thấy được chúng: nói cách khác, nếu không có sự tồn tại của tôi, không có câu chuyện tôi viết về chúng, nếu không có chúng ta, những nhà văn, thì bao giờ có những ngôi sao ban ngày. Chúng ta biết rõ điều đó lắm. |
Những ngôi sao ban ngày (tiếp theo)
Ước mơ ấy trong thời niên thiếu của tôi, ước mơ về những ngôi sao ban ngày và về những cái giếng phản chiếu chúng, tôi vừa nhớ lại, nhớ lại dưới ánh sáng hoàn toàn mới, trong suy nghĩ về những bức thư và những phản ánh của độc giả, sau khi tạp chí Nô-vưi Mia * ( Thế giới mới - ND) năm 1954 đăng những ghi chép mở đầu cuốn sách này với nhan đề Một chuyến đi năm ngoái, mà trong tập này tôi đặt tên Trở về thăm thành phố của tuổi thơ. Tôi sẽ không dám liều lĩnh nói đến những chuyện đó nếu tôi không tin tưởng chắc chắn rằng nó không chỉ liên quan đến riêng tôi mà còn có liên quan đến nhiều đồng nghiệp của tôi, bởi vì nó động đến lĩnh vực quan trong nhất : Những mối quan hệ giữa các nhà văn chúng ta với bạn đọc, hoặc nói đúng hơn, với Dân tộc.
Trong mẩu đầu tiên, ( chúng ta hãy tạm thoả thuận với nhau gọi như vậy những ghi chép thuộc thể loại khó xác định ) tôi đã thuật lại chuyến đi về thành phố của tuổi thơ tôi, thành phố Nga cổ xưa U-gơ-lích. Tôi gợi lên trong đó những năm gian khổ xa xôi vào thời kỳ nội chiến, khi gia đình chúng tôi ở một căn buồng hẹp mà chính quyền thành phố đã trưng dụng cho, trong tu viện Nô-vô Đê-vít-si-ê. Tôi đã có một số suy nghĩ về “tác phẩm của tôi ”mà , giống như nhiều nhà văn khác, tôi luôn luôn nhìn thấy trước mắt. Tôi đã nói tôi hình dung tác phẩm ấy như “ những lời bộc bạch của một đứa con của thế kỷ ”. Trong bài ghi chép ấy, tôi còn đề cập đến nhiều vấn đề khác. Bài ký ấy mang lại cho tôi một tập thư dày cộp. Nhiều “đồng hương ” ở U-gơ-lích đã gửi thư cho tôi, ngày nay họ đã trở thành sỹ quan, kỹ sư, thuỷ thủ hạm đội đường sông. Hoặc là nội trợ trong gia đình, thời thơ ấu và tuổi thanh niên đã khiến họ lưu luyến cái thành phố Nga kỳ diệu ấy. Họ đã học ở đấy cùng thời với tôi, hoặc là sau một ít, nhiều người đã học cùng với tôi một trường. Chúng tôi dã không quen nhau, chúng tôi đã không kết bạn với nhau ; hồi ấy chúng tôi còn bé quá mà . Ấy thế mà ba mươi năm sau, qua sự môi giới của ấn phẩm, chung tôi làm quen với nhau. Cũng có những bức thư của những người chẳng hề dính dáng gì đến U-gơ-lích. Và dù cho dù điều này có thể là khó tin đối với một số người, phần lớn những bức thư ấy nói về tác phẩm của đời tôi. Chẳng hạn, thư của một bà giáo già ở vùng nông thôn Mát-xcơ-va, của một công nhân mỏ vùng Đôn-bát từng chiến đấu trong đội Cận vệ đỏ, của một người gác rừng đã bảy mươi tuổi ... Họ cho tôi biết họ hình dung tác phẩm của đời tôi như thế nào. Họ kể cho tôi nghe cuộc đời của họ và cuối cùng họ thêm : “ Điều ấy biết đâu có thể có ích cho đồng chí ” Đọc những bức thư ấy, những lời nhắn nhủ hay những lời tâm sự, tôi ý thức một phát hiện cơ bản ; nếu nhà văn có một tác phẩm của đời mình, tác phẩm mà nhà văn ấy chưa viết xong, và bao giờ cũng vẫn chưa ra đời thì độc giả cũng có tác phẩm của đời họ, một tác phẩm họ chưa đọc và bao giờ cũng cũng vẫn chưa có để mà đọc cũng như nhà văn không bao giờ ngừng viết tác phẩm của đời mình lúc nào cũng mơ đến nó, cũng như mỗi lần bắt tay viết một tác phẩm nhà văn lại tự nhủ : “ lần này ta động đến cái thực chất đây ” để rồi sau đó phát hiện ra rằng đấy chỉ mới là sự tiến gần đến cái thực chất ấy thôi, bởi vì cái thực chất một lần nữa lại vẫn còn ở trong tương lai, “lại vẫn chưa ra đời”, người đọc ngày càng hiểu mình, và hiểu rõ hơn thời đại của mình qua không ít tác phẩm của nền văn học Xô-viết xuất sắc, có nhiều tác phẩm của chúng ta được độc giả yêu mến, nhưng tác phẩm chủ chốt, tác phẩm sẽ bao trùm tất cả, trong đó độc giả thấy được tâm hồn mình, tác phẩm ấy vẫn “chưa ra đời ”. Độc giả tìm kiếm nó. Độc giả hy vọng ở nó. Độc giả muốn được thấy trong tác phẩm đó không chỉ diễn biến hời hợt của những sự việc, không chỉ bề ngoài của những hoạt động của họ, mà trước hết cái sâu sắc nhất, cái bí ẩn nhất, cái kín đáo nhất, cái chân thực nhất trong tâm hồn họ. Độc giả muốn được thấy trong tác phẩm đó con người thực của mình, không cần tô đẹp thêm cũng như không bị làm cho nghèo đi, không cần một chữ nói quá đi cũng như không có gì bị phớt lờ, không gia cũng chẳng giảm. Có lẽ ngôi sao ban ngày cũng tự lấy làm đau khổ vì chưa được mọi người trông thấy chăng ? Có lẽ nó mong muốn được nhìn ra ánh sáng không phải để cho mình tự thấy mình, mà là để biết rằng nhưng người khác đã trông thấy và nhận ra mình, bởi vì nó cũng muốn được san xẻ với những người khác luồng ánh sáng sâu sắc nhất, kín đáo nhất, bí ẩn nhất của mình. Con người Xô-viết, mà tiểu sử là tiểu sử của một người khổng lồ, không chỉ muốn san sẻ kinh nghiệm tinh thần cho đồng bào của mình thời nay mà còn muốn san sẻ cho toàn thể mọi người trên thế giới, cho cả những thế hệ tương lai, không phải bằng những lời úp mở, bằng một lối tâm sự lặng câm, mà thông qua một tác phẩm lớn, tác phẩm mà một nhà văn có thể đã để vào đấy cả cuộc đời mình. Người độc giả Xô-viết còn muốn hơn nữa ; muốn cộng tác với nhà văn để sáng tạo nên tác phẩm ấy, muôn cùng nhà văn trở thành nhân vật của tác phẩm như vậy, nhân vật mà tâm hồn rộng mở đến tận nơi sâu kín nhất trước toàn thể nhân dân, muốn trở thành nhân vật trong một thiên bộc bạch mới của một đứa con của thế kỷ. Sự chờ đợi tác phẩm như vậy ra đời không chút liên quan gì đến những yêu sách xuất phát từ sự khoa trương ngu ngốc với những câu như : “ Các nhà văn hãy làm cho tên tuổi những người lao động trong ngành bách hoá sống mãi muôn đời đi !” , “ Tại sao lại quên những nhân viên ngành thuế vụ chúng tôi nhỉ ?” hay là “ Các đồng chí nhà văn, các đồng chí hãy cúi nhìn xuống cuộc đời những người lính cứu hoả với nào ” Không, đây không phải là lòng mong muốn nông nổi đ ược ngắm nghía cho thật sớm hình ảnh của bản thân, mà là thái độ nghiêm túc trước tương lai của những người đang xây dựng tương lai ấy. Đấy là niềm cảm thông vui vẻ trước cuộc đời của chính mình chiếu rọi vài cuộc đời của những người sẽ kế tục chúng ta, là lòng mong muốn được để lại cho họ một ít di sản không chỉ là vật chất mà còn cả tinh thần, được chuyển giao cho họ với sự thật tàn nhẫn kinh nghiệm tinh thần của một thời đại về mặt tích cực cũng như mặt tiêu cực như thể nhắn nhủ : “ Cái này tốt, các anh hãy làm theo như vậy, nhưng chớ có làm theo thế kia, chớ có lặp lại những sai lầm và những đau xót trước đây của chúng tôi. Và kia là con đường mà trong một thời gian dài chúng tôi ngỡ là tốt, song đấy lại là con đường xấu. Và đây là con đường mà chúng tôi cho là xấu trong một thời gian khá lâu. Chúng tôi đã tránh nó, chúng tôi đã lánh xa nó. Kỳ thực đấy lại là con đường đúng đắn duy nhất ” |
Những ngôi sao ban ngày (tiếp theo)
Những bức thư tâm sự, những bức thư tự truyện ấy làm cho tôi hiểu thêm một chân lý khác nữa ; độc giả rất sợ các nhà văn chúng ta, trong khi thể hiện, trong khi ghi lại trên giấy, trong khi ghi chép những điều mọi người đều thấy đều biết, e chúng ta vượt được len trên thời sự, lên cái dáng thoáng qua trước mắt ; độc giả rất sợ chúng ta quên mất cái quan trọng, có lẽ là cái thực chất nữa, cái thời sự nhất cho bây giờ và cho mãi mãi trong cuộc đời và trong tâm hồn họ - tức là cuộc đời và tâm hồn của cả dân tộc. Cũng giống như ngôi sao ban ngày khi đi qua đúng miệng giếng, nhưng lo cái giếng này không phản chiếu mình, sẽ không nhận lấy luồng ánh sáng vô hình của mình vào trong lòng sâu thẳm của nó ...
Nỗi sợ hãi cũng tự nhiên thôi. Thực tế, cuộc sống có bao nhiêu vẻ, bao nhiêu hiện tượng làm vẩn đục mặt nước tâm hồn con người Xô-viết, làm cho con người đó lúc thì đắng cay, lúc thì vui vẻ, khi thì bị dằn vặt hành hạ, khi được nâng cao. Biết bao nhiêu khía cạnh trong lịch sử của tâm hồn ấy chỉ mới được chúng ta lướt qua thôi, hoặc là, thông thường hơn, bị chúng ta làm sai lạc đi Nhưng chúng ta còn nhớ. Một nhà thơ thời xưa, khi than khóc những điêu tàn của Giê-ru-ja-lem, thành phố chứa chất bao vui mừng và đau khổ của nhà thơ và cũng là nơi chứa chất bao đau khổ và vui mừng của dân tộc ông, đã thốt lên : “ Hỡi Giê-ru-ja-lem, mai sau nếu có lúc nào ta quên lãng ngươi thì bàn tay phải của ta hãy bạo liệt đi, lưỡi ta hãy dính chặt vào mồm, ta cam chịu cực hình ấy, nếu ta không mãi mãi nhớ đến ngươi, nếu ta không mang niềm vui lớn nhất để nói về Giê-ru-ja-lem” Điều đó có nghĩa là nhà thơ thời thượng cổ kêu gọi đổ lên đầu mình sự tê liệt của cơ thể cùng với sự tê liệt của tâm hồn ( tức là cái câm lặng vĩnh viễn ) nếu ngày kia ông quên mất chân lý sáng ngời hay là ghê gớm, chân lý của ông và chân lý của dân tộc ông. Không, chúng ta sẽ không quên gì hết ! Chúng ta mãi mãi trung thành với lời hiệu trịêu của Đảng : nhớ, hiểu rõ và nói lên sự thật, tất cả sự thật, chỉ nói sự thật thôi về cuộc sống của chúng ta, về con người của xã hội Xô-viết và về tâm hồn của họ.Chúng ta sẽ trung thành với bạn, hỡi bạn đọc đang đòi hỏi chúng tôi những điều vừa nói ở trên đây, đang chờ đợi những tác phẩm về cuộc đời của chúng tôi và của bạn! Đằng nào rồi chúng tôi cũng viết tác phẩm ấy, viết với sự giúp đỡ vừa sáng suốt vừa khoan hậu của bạn, chúng tôi sẽ viết nó lên qua việc giãi bày tấm lòng của bạn và tấm lòng chúng tôi - tức là tấm lòng của những người cùng dân tộc. Tôi cũng vậy, có lẽ tôi sẽ viết lên tác phẩm của đời mình chắc chắn nữa là khác !...Nhưng bây giờ thì tôi chỉ mới đang ở ngưỡng cửa . Những ghi chép này chỉ mới là những bước đường đi tới tác phẩm ấy, nhưng - có một cái gì nói với tôi như vậy - những bước đường này đưa tôi tới gần tác phẩm ấy hơn những lần trước. Dĩ nhiên, đây cũng vẫn mới chỉ là một bản nháp thôi ; nhưng tác phẩm của đời người bao giờ cũng vẫn là dự kiến hơn là hiện thực, bao giờ nó cũng vẫn chỉ là ước mơ, vẫn là niềm vui được- sống - trước - đi bản thân, bản-thân-tác-phẩm-đời-người, bản-thân-tác-phẩm-vĩ-đại. Tuy nhiên, tôi nhắc đi nhắc lại, trong ngày hôm nay đây, những ghi chép này đối với tôi có vẻ tiến gần đến tác phẩm của đời tôi hơn mọi ghi chép khác, và chính vì vậy tôi quyết định cho xuất bản nó. Tác phẩm của một đời người không phải được viết nên trong thánh đường khô cằn của một toà soạn, trong cô đơn – cho dù nó là cảnh cô đơn thuận lợi nhất trên đời - của một phòng làm việc. Theo ý tôi, những ghi chép chuẩn bị cho tác phẩm đó nhất thiết phải được trình bày với công chúng. Không phải niềm kiêu căng mà với niềm hy vọng là độc giả và cả những đồng nghiệp của chúng ta nữa sẽ đến chi viện cho chúng ta. Vậy thì chúng tôi tiếp tục ghi chép như tôi đã bắt đầu viết chúng, không tự coi mình bị trói buộc bởi một hình thức nào câu thúc hơn hình thức nhật ký tâm tư rộng mở cho mọi người, ở đó lẫn lộn quá khứ, hiện tại và vi lai, hồi ức và niềm vui trực cảm cuộc đời, những nhân vật đã chết và những nhân vật đang còn sống. Tôi sẽ trở lại những điều tôi đã viết, người ta sẽ tìm thấy những điều lặp lại. Tôi có bao nhiêu là điều cần nói, và cái hiện tại lại đòi hỏi biết bao nhiêu ở chúng ta ! Nhưng nếu tôi không bao giờ nói trọn được những suy nghĩ của mình thì tôi hiểu rằng, bây giờ đây hơn lúc nào hết, người đọc đang cùng với tôi viết tác phẩm của đời chúng ta, độc giả ấy sẽ hiểu cho tôi đến cùng. Hiện tại đòi hỏi rất nhiều ở chúng ta, và trước hết đòi hỏi chúng ta bảo vệ hoà bình. Vì vậy, trong những ghi chép vụn vặt này tôi sẽ nói nhiều đến chiến tranh, đến công cuộc bảo vệ Lê-nin-grát vào những năm ghê gớm và cao cả khi thành phố ấy bị bao vây ... |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ
Tôi đã kể đến đoạn, trong căn buồng khách sạn ở U-gơ-lích, ngồi trước cứa sổ có hoa phong lữ, nhìn thấy cái hình dáng dịu dàng của nhà thờ kỳ diệu, tôi đã sống trọn vẹn cuộc đời tôi, bởi thay vì ngôi nhà đã biến mất của tuổi thơ vào ước mơ không thực hiện được tôi vừa nhận ra cái cảm giác lạ lùng của một niềm cảm thông với toàn bộ cuộc đời nhân dân ta trong cả không gian và thời gian . Tuy nhiên, còn một ngày khác nữa đã qua trước cái ngày ở U-gơ-lích, một ngày giống hệt, cũng sôi sục, cũng phong phú như hôm nay. Tôi sẽ cứ gọi nó, có lẽ hơi quá trang trọng đi đấy, là đỉnh cao ngày tháng, nó đã gợi cả cho tôi cảm hứng để viết ra một số câu thơ nữa, nhưng thơ tôi hồi ấy đã không diễn tả nổi lấy một phần trăm những gì tôi cảm nghĩ, nhưng điều này tôi đã nói trước rồi, tác phẩm của cả đời muốn thành hình dáng phải xuyên qua cơ man những nỗi thăng trầm.
Cái đỉnh cao ngày tháng ấy là vào đầu tháng mười năm 1941, ở cửa ô Nép-xki. Nhưng tôi cần mô tả trước( tạm thời tôi sẽ nói gọn ) đến cái cửa ô Nép-xki này vào buổi bình minh của đời tôi : Thiếu việc này những người khác cũng như, than ôi, cả bản thân tôi nữa sẽ chẳng hiểu mô tê gì. Trong nỗi ham muốn, được bắt đầu bằng chỗ khởi đầu, có lẽ cả sự cần thiết hàn nối tất cả cuộc đời tôi, thành một khối đơn nhất, sự cần thiết nhớ lại, so sánh suy nghĩ lần nữa về tất cả những gì mà đời tôi chưa đựng từ ngọn nguồn, sự cần thiết tập hợp cái Tôi của tôi trong những thời gian bị gián đoạn trước hết bởi chiến tranh và tiếp đến là những sự kiện xảy ra vào thời kỳ 1953-1957. Trí nhớ của tôi đi ngược lại thời gian khá xa, về tận năm tôi mới lên ba. Tôi thấy mình trở lại căn nhà gỗ của gia đình giữa những người mà vì khá nhiều lý do, tôi biết rõ và yêu mến từ bao giờ ; bà nội béo phị của tôi Ôn-ga Mi-khai-lốp-na, ông nội Kơ-rít-xtô-pho, mẹ tôi và ba tôi, những người đẹp nhất trần đời. Ơ-đô-xi tức Đu-ni-a, người ở gái làm đủ mọi thứ việc trong nhà và cũng là vú nuôi của chúng tôi. Bà số 2 của tôi , bà ngoại Ma-ri-a I-va-nốp-na người thấp bé thân sinh ra mẹ tôi ( chúng tôi gọi là Ma-sa), một lô những chú họ, những cô họ và cuối sổ là em bé Mu-xi-a của tôi, chẳng biết từ đâu đến với gia đình một cách huyền bí. Những kỷ niệm của tôi bắt đầu chính từ cái đêm nó ra đời, và từ đêm hôm đó, ký ức tôi như một con tằm, bắt đầu nhả tơ kéo sợi gắn các sự kiện tản mát lại thành một chuỗi đời người liên tục. Kỷ niệm xa xôi nhất mà tôi con nhớ lại được là Ơ-đô-xi bế tôi trong đôi tay vạm vỡ của chị, chị bế tôi đi dọc căn nhà chìm trong bóng tối mờ mờ, ở đây mờ mờ thấy nhiều người đang tất bật.Chị bế tôi đi qua gian nhà bếp có ánh lửa rung rinh ; qua hành lang dậy mùi phố xá và giá rét ; chị bế tôi đến tận buồng của mẹ tôi. |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ
Một ngọn đèn lồng màu xanh da trời được thắp sáng. Đèn treo trên trần, và căn buồng như ngập trong ánh sánh xanh thanh thiên. Có mùi gì ngộ lắm và trong buồng rất nóng. Dưới ngọn đèn, ở chính giữa buồng, có cái gì lạ na ná một chiếc giường, với một tấm màn trắng có góc nhọn trông giống hệt một chiếc thuyền bằng giấy. Thêm vào đấy, cái thuyền ấy lại đu đưa và phát ra một tiếng như tiếng ngọn lá bị vò. Vậy thì đúng là một chiếc thuyền bằng giấy thật rồi, nhưng là một chiếc thuyền to to là. Bà ngoại Ma-sa của tôi, người gầy nhẳng, mặc toàn đồ đen, nhịp nhàng đưa đẩy nó. Bà nội Ôn-ga mặc áo choàng mầu lửa, đôi tay đồ sộ khoanh lại trên bộ ngực đồ sộ, đứng ở phía bên kia chiếc thuyền lớn ấy. Nhưng cái mà tôi trông thấy đầu tiên là cửa sổ. Trên những ô cửa kính đóng băng bởi đêm tháng giêng. Ánh sáng ngoài đường phố chiếu hắt vào làm nhảy nhót những ngọn lửa rực rỡ: xanh lá cây, đỏ, vàng, xanh da trời; những ngọn lửa đanh chơi trò chạy đua, vọt ra, xoắn lại, nhảy lên, bện vào nhau, khiến tôi không làm sao rời mắt khỏi cảnh tượng đó được.
- Ôn-ga, hãy nhìn xem em bé của em kìa!- Chị Ơ-đô-xi thì thầm. Chiếc thuyền không động đậy nữa. Tôi trương mắt nhìn. Nằm trên đáy trắng của chiếc thuyền là một mảng gì tôi tối, nhăn nheo như một cái vỏ bồ đào và hao hao giống một con búp bê. Tôi đưa tay ra. Người ta không cho tôi sờ vào cái vật đó. Ơ-đô-xi hỏi khẽ - Ôn-ga có thích em bé không? Tôi đang nóng lòng muốn nhìn lại các kính cửa sổ nên quay đầu đi và nghiêm trang đáp: - Không, tại nó đỏ lòm. Hai bà tôi phá ra cười. Các cô tôi cũng cười theo. Đêm tối mịt rồi mà chẳng ai chịu đi ngủ. Trừ mẹ tôi (buồn cười thật) mẹ nằm sau bức màn, còn tất cả mọi người xúm xít quanh chiếc thuyền nhỏ. Ai cũng cúi xuống nhìn nó, người ta thì thầm, người ta đu đưa nó, và người ta hôn tôi. Mọi người đều rất đáng yêu: bà, ba, ông nội, các cô... Ra đời trên chốn At-lan-tít ( một chốn đẹp đẽ trong thần thoại phương Tây tương truyền đã chìm ngập xuống Đại Tây Dương –ND) xa xôi của những người ấy, tô là thịt và máu của họ. Mọi người đã chăm lo dạy dỗ tôi những gì mấy nghìn năm nay ông cha đã dạy dỗ họ: dạy đi, dạy nói. Tôi đã trông thấy cơn đại hồng thuỷ nhận chìm Át-lan-tít, và bản thân tôi, trong tất cả khả năng sức lực của mình, tôi đã góp phần vào sự nhận chìm ấy. Tuy nhiên, nghĩ lại thời đó, nỗi nhớ nhung da diết thỉnh thoảng lại dày vò tôi. Những năm đầu tiên của đời tôi, cũng như của tất cả mọi người, là những năm tháng tuyệt đẹp đầy rẫy những điều huyền bí và những phát hiện trong lòng một thế giới hoàn toàn lạ. Tôi nhớ lại quãng thời gian ấy với một niềm kính trọng sâu sắc, một nỗi trìu mến bâng khuâng và cả một chút ganh tỵ nữa với con người tôi hồi đó. Tôi nhớ lại những năm ấy như nhớ đến một xứ mà người ta đã quên mất con đường đi tới nơi, như một phong cảnh thần thoại mà lòng ta mãi mãi sẽ chẳng bao giờ nguôi nhớ... |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)
Ở xứ sở của tuổi thơ tôi, cái gì cũng sống động. Địa phận vô biên của nó dĩ nhiên bắt đầu từ căn hộ nhỏ của gia đình mà hồi đó tôi cho hình như đã là ghê gớm lắm.Vào thời ấy cái gì cũng đều có một ý nghĩa. Không có gì là không có linh hồn. Mỗi vật đều có cuộc đời riêng của nó, có khuôn mặt, giọng nói, tính tình riêng của nó.
Thời ấy, trong phòng đợi có cái thùng to tướng, chứa đầy một thứ nước đen. Nếu ta đứng nhón gót chân, cúi đầu xuống miệng thùng và hét thật to, thì cái thùng sẽ cất giọng ồm ồm bực bội đáp lại như một ông già cáu gắt. Ngoài ra còn trông thấy cả cái đầu to và đôi má phinh phính nữa. Có thể chết đuối trong cái thùng này và chắc chắn rằng dưới đáy thùng sâu thăm thẳm này có những con cá trú ngụ. Mùa đông bắt đầu bằng cái thùng đó, khi trên mặt đen nổi lềnh bềnh những mảnh băng nhỏ lấp lánh, trơn tuột khỏi tay hệt như những con cá con mà Ơ- đô-xi cấm tôi không được bắt, Cuối hành lang kề với nhà bếp lúc nhúc những thứ đồ dùng nho nhỏ trong nhà, cái nào cũng có cuộc sống riêng của chúng và cũng khá láu lỉnh. Nhà bếp có rất nhiều khu cấm, thế mà ở những khu cấm ấy, có thể xây nhà lên và vào đấy ở nữa là khác. Cái bếp lò bằng bằng đất nung sáng chói, sờ tay vào lúc nào cũng thấy nóng, có ba cửa : cửa bếp, cửa lò và ở dưới lò, một cửa thứ ba mà cho dù các tất cả vàng trên thế gian này, Ơ-đô-xi cũng không cho phép chúng tôi động tới. Mỗi lần tôi mò đến gần chỗ ấy, chị lại kêu lên gớm ghiếc : - Ôn-ga đi nơi khác ngay ! “Gio” đấy ! không nên động vào “Gio”. - Tại sao ? - Nó có thể bay vào mắt đấy . Chỉ nghe cái tên Gio phát ra từ miệng chị, và không rõ cái quái vật ấy nó thế nào, tôi chắc mẩm rằng “Gio” là một con mụ độc ác mà Ơ-đô-xi đã bắt được và nhốt vào dưới gầm lò. Những buổi chiều mùa đông, khi trời nổi gió (ở trong nhà bếp nghe gió tôi mới hãi làm sao!) và khi mụ “Gio” ghê tởm ấy đập cửa nhà bếp mà hầm hè, tôi nép mình vào Ơ-đô-xi Đu-ni-a, chị thì chắc chắn không sợ mụ “Gio”rồi, bởi vì sáng nào khi cả nhà còn đang ngủ, chị cũng dùng một cái xẻng lôi cổ mụ từ đấy ra . Bên trên cái bàn nhà bếp màu mật ong ( tưởng chừng có thể ăn được ) có treo chiếc chổi đầy lông lá và đen thui dùng để lau bóng đèn. Khi người ta cầm đến nó, cái cán chổi rít những tiếng nổ giận giữ: cái chổi chùi bóng đèn cũng là một vật sống, nó có thể cắn tôi và tôi sợ nó lắm. Ơ-đô-xi biết rõ như vậy. Thỉnh thoảng khi thấy tôi quẩn chân chị quá, chị vớ lấy cái chổi và la lên : “ Có xê ra không, tôi lại để cho nó đánh cô bây giờ ” . Và cái “Trổi” xù lông lên một cách giận giữ và cất tiếng rít nghe đến là khủng khiếp. Cái kẹp dùng để đập vỡ đường, tôi đặt tên cho nó là : “ Ha-ha” vì nó cứ há hốc mồm ra như cười, và cái lưỡi nhọn hoắt của nó cứ như đang nhe răng ra vậy. Ha-ha hiển nhiên là một vật sống và nó rất lấy làm thú vị khi được người ta cho nhai đường. |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)
:emoticon-0111-blush
http://i793.photobucket.com/albums/y...Picture055.jpg Trong buồng ăn tường bọc giấy in giả làm ván gỗ sồi, ở một góc có một lò sưởi cầu kỳ thếp toàn vàng (nhất định là vàng thật, chúng tôi tin chắc như vậy) giữa phòng đặt một chiếc bàn to, trên trần có một ngọn đèn treo, và ở tường có một vật đáng chú ý hơn cả: chiếc đồng hồ treo. Một cái đầu hươu nhỏ trang trí vỏ đồng hồ, nếu ta chịu đứng yên, chỉ cần nheo mắt lại và biết cách liếc thì cái đầu hươu đu đưa từ phải sang trái như thể con hươu nom thật nhỏ nhắn, thật xinh xắn ấy sắp sống lại thật, và sắp nhảy vọt ra từ chỗ đang đứng. Tôi khẽ gọi. Tôi bảo nó : “Đến đây, nào bé ngoan của chị!”. Nhưng điều kỳ diệu ấy chấm dứt ngay khi tôi mở mắt ra để nhìn thật vào nó. Dạo ấy, tôi cảm thấy như một sự đòi hỏi huyền diệu, được tự tay mình sắp xếp các đồ đạc, được đặt tên cho chúng, phả cho chúng một linh hồn và lấy làm thú vị về những cử động của chúng. Nhưng người lớn lại cấm không cho phép tôi được mó máy vào, được lay động chúng, được làm cho chúng sống.Thậm chí hình như người ta còn lấy làm thích thú về cái việc đập cho tan vụn cái vũ trụ sinh động đầy những con người tí hon của chúng tôi. Cứ mỗi lần (tức là bất cứ lúc nào) tôi len lén đến gần một vật gì hay hay là y như rằng bà nội Ôn-ga tôi lại hét toáng lên : - Mày làm hỏng nó bây giờ ! Mày lại làm vỡ nó bây giờ! Mày lại làm sứt nó bây giờ! Đi nơi khác không được động vào! Cho đến nỗi không một thứ đồ chơi nào người ta cho tôi (ngay cả bà nội thỉnh thoảng bà cũng có cho) mà bà nội lại không cất quá tầm tay với của tôi, bà chỉ sợ tôi làm hỏng hay làm vỡ mất. Bà nội đã nhét kỹ vào sau cửa kính của tủ buyp-phê một bộ đồ ăn rất đẹp bằng sắt của ông nội tôi làm quà cho tôi, bà đã vùi sâu xuống đáy hòm con búp-bê Ni-na biết nhắm mắt; và giấu trong cái vực sâu của một tủ áo to bằng cả một ngôi nhà cái dù nhỏ xinh xinh, một cái dù thật sự, mà cô Li-sa đã tặng tôi. Bởi vậy trong cả nhà không có một nơi trú ẩn nào thân mến, dịu hiền hơn căn nhà bếp và trong bếp lại không có chỗ nào bằng cái giường của Đu-ni-a. Giường kê sát tường, có một tấm màn vải chéo go màu rượu chát ngăn cách giường với căn buồng (Đu-ni-a gọi là tấm boóc-đô) chẳng bao giờ Đu-ni-a đuổi không cho chúng tôi chơi trên giường của chị. |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)- Olga Becgon
Chúng tôi có thể thượng lên giường, trốn xuống chiếc gối to tướng màu hồng, nhào lộn, thậm chí đứng hẳn lên chiếc gối ấy để nhìn cho sát tượng thánh của Đu-ni-a. Các tượng thánh của bà nội thảy đều giống nhau hệt: những khuôn mặt dài và vêu ra, đen thui và độc ác. Tượng thánh của Đu-ni-a thích thú hơn nhiều. Đấy là một cụ già nhỏ, một ông thánh, giống ông nội tôi một cách ghê gớm, trừ chỗ tượng thánh có cái đầu quá to và một vầng hào quang bao bọc quanh đầu. Cụ già bé nhỏ ấy cho một con gấu nâu ăn gì trong lòng bàn tay. Việc đó xảy ra giữa một khu rừng rậm. Một ngôi nhà bé tí tẹo từ trong rừng quay mặt ra. Nhà có nhiều cửa sổ con con, một cái lò sưởi và ống khói trong lò. Làng Gu-jô-vô quê của Đu-ni-a chắc chắn giống hệt thế này. Vả chăng, khi nào ngọn đèn ngủ màu xanh lá cây trước tượng thánh được thắp lên thì cả khu rừng sống động: nó lung lay thật
Dưới gầm giường, Đu-ni-a xếp một cái thúng to bằng sậy. Chị cất trong thúng nhiều thứ vải rất đẹp (đầy những hoa hồng và bươm bướm) một chiếc áo nịt lót mình (màu canh lá cây xanh ơi là xanh) và nhất là một chiếc khăn san kỳ lạ, một mặt vàng còn mặt kia màu bạc. Những lúc rỗi rãi, Đu-ni-a thích giở đồ đạc trong cái thúng của chị ra. Chị quý chiếc khăn san hơn cả. Chiếc khăn làm chị say sưa mê mẩn, và cố nhiên là cả chúng tôi nữa cũng say sưa bởi vì cứ mỗi lần chị bắt đầu kiểm kê tài sản của chị là chúng tôi chạy ngay vào bếp ... Chiếc khăn san một mặt màu vàng một mặt màu bạc ấy, chúng tôi nhìn không rời mắt ra được, Đu-ni-a gọi nó là chiếc khăn hai mặt. - Chao! Chị Đu-ni-a ơi, cái khăn mới đẹp làm sao! Chị cho em sờ tí nào! Chị Đu-ni-a này, nàng công chúa có nổi một cái khăn đẹp như thế này không nhỉ? Sao chị không quàng nó bao giờ, hở chị Đu-ni-a? - Chị quàng nó để làm gì cơ chứ? – Đu-ni-a nghiêm giọng cự lại – bao giờ chị về quê chị ở Gu-jô-vô chị sẽ mang theo tất cả, và về dưới đấy chị mới thắt mở hàng chiếc khăn này. Chị Đu-ni-a quê ở cùng Pơ-xcốp. Vì vậy chị đọc s và x ngược lại, theo lời chị giảng giải cho chúng tôi nghe, muốn đi đến tận Gu-jô-vô, quê nhà chị, ở gần Sơ-cốp, phải đi ròng rã ba đêm và có thể còn lâu hơn nữa. Chúng tôi hỏi chị : - Và bao nhiêu ngày? - Người ta chỉ đi đến đấy vào ban đêm thôi - chị trả lời quả quyết Chao ôi! Xa lắm, cái làng Gu-jô-vô của Đu-ni-a, xa đến nghìn lẻ một dặm, cách đến nghìn lẻ một đêm. |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)- Olga Becgon
Bức màn màu “boóc đô” của Đu-ni-a thường được vén lên một cái móc: Đu-ni-a chỉ buông màn xuống vào ban đêm, lúc chị sắp đi ngủ. Tuy vậy, đôi khi chị cũng buông màn xuống trước lúc đi ngủ khá lâu. Ấy là vào những hôm mọi người lớn trong gia đình đã đi thăm bà con, bỏ chúng tôi lại trong căn nhà trở nên lặng lẽ một cách kỳ lạ, chỉ được thắp sáng bằng những ngọn đèn ngủ trước các tượng thánh, khiến cho căn nhà bỗng trở nên mơ hồ xa lạ, hơi khủng khiếp nữa là khác, như một bãi xa mạc.
Vào những hôm ấy, Ơ-đô-xi buông màn xuống, ngồi lên giường, cẩn thận đặy hai bàn tay lên đầu gối vạm vỡ, và mắt nhìn vào cái gì không rõ mà thờ thẫn như bị thôi miên, chị hát với một giọng nho nhỏ, kéo dài ê a và được ngôi nhà vọng trở lại : Ta yêu mến biết bao nơi ta cha-ào đời ... Chẳng bao giờ chị có thể hát nhiều hơn nữa: những giọt nước mắt nhỏ đã ngay lập tức giàn giụa trên khuôn mặt to của chị, vẫn cái giọng yếu ớt và nhớ nhung ấy, chị than vãn nghe không rõ lời, trừ chốc chốc lại câu này : Ta yêu mến xiết bao nơi ta cha-ào đời ... Cứ mỗi lần Đu-ni-a tựa lưng vào tấm phên ẩm ướt nhẵn thín đằng sau bức màn màu sẫm và rền rĩ hát, trong bóng đêm của ngôi nhà vắng vẻ một nỗi lo âu vô cớ tự nhiên se lòng hai chị em tôi Chúng tôi van nài : - Chị Đu-ni-a ơi, chị đừng hát nữa chị! nghe hãi lắm chị Đu-ni-a ơi ! Chị vẫn không nhúc nhích. Khuôn mặt chị đầm đìa nước mắt, cái mũi hình mỏ vịt vẫn trơ trơ không nao núng. Cho mãi đến khi chúng tôi cũng buồn lây nỗi buồn của chị và bật ra những tiếng gào khóc ầm ĩ, chị mới nghe. Hình như mãi đến lúc này chị mới sực tỉnh, và vội vã ôm chầm lấy chúng tôi, chị dỗ dành : - Chao ôi ! khốn khổ chưa ! Nhưng các em, tại sao? tại sao các em lại khóc? Các em không nên khóc vì các em còn có ba mẹ cơ mà ... - Thế chị, tại sao chị lại khóc? - Tại vì ... Chị không có mẹ cũng chẳng có ba. Chị côi cút. Chị nhớ làng xóm quê hương của chị, nhớ đến nẫu cả ruột gan. Chị muốn gửi cho anh chị một bức thư lắm nhưng chị không biết viết ... |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)- Olga Becgon
Nỗi buồn lớn nhất của Ơ-đô-xi là mù chữ, chuyện ấy dày vò chị. Chị lấy đó làm điều hổ thẹn không sao tả xiết, và tự cho mình là “ một con mụ u mê sấu sa chẳng ra gì xất”. Tuy vậy, chị không phải duy nhất là người không biết đọc biết viết: bác gác cổng cũng một cảnh ngộ như chị, cũng như người gánh nước, bác lau nhà, trong nhà này còn khối người mù chữ, cả đàn ông lẫn đàn bà. Nhưng đối với họ, họ dửng dưng như không, còn đối với Đu-ni-a thì lấy việc đó làm đau khổ xót xa. Chị nhìn những cuốn sách của chúng tôi như kẻ đói ăn nhìn miếng bánh, và đôi khi chị cũng tìm cách học tập :
- Chữ này là chữ gì? - chị hỏi – Còn chữ kia ?... - Chữ A, chị đã thuộc rồi ... Ôn-ga ơi, em hãy dạy thêm cho chị một chữ cỏn con nào nữa đi em... Ước mơ của đời chị là học cho biết chữ với một ý định rất rõ rệt : để mà viết, viết một bức thư cho ông anh tội nghiệp của chị ở Gu-jô-vô, cái làng Gu-jô-vô đã làm cho chị rơi không biết bao nhiêu nước mắt, đã làm gián đoạn bài hát của chị, cái làng Gu-jô-vô mà chúng tôi óc thể nghe chị nói đến hàng mấy tiếng đồng hồ liền, và cũng chỉ cần viết có thế thôi Chị vừa nín khóc, chúng tôi đã nhao nhao nài nỉ chị : - Chị kể đi, chị Đu-ni-a! Chị Đu-ni-a! Chị kể đi, chị kể cho chúng em một chuyện gì về làng Gu-jô-vô với nào Những câu chuyện chị kể rất kỳ cục, có khi chỉ có mỗi một câu, nhưng đầy rẫy những biến cố, và bao giờ cũng buồn buồn hoặc khủng khiếp. Chẳng hạn: - Ở Gu-jô-vô, có một khu rừng lớn.Ngày xưa, có lần Quỷ Xanh bắt mang vào rừng một cô gái rồi bóp chết cô ta ... Chúng tôi há hốc mồm : - Chị Đu-ni-a ơi! con Quỷ Xanh là cái gì thế, hở chị? Chị đưa mắt sợ sệt nhìn quanh, rồi hạ giọng : - Một con vật khiếp lắm: độc ác nhất trần đời ...Nhưng ta không bao giờ được động đến tên nó! Cố nén sợ, chúng tôi van nài : - Chị Đu-ni-a, chị kể chuyện nữa đi, chị! Chị lặng đi một hồi lâu rồi mới kể tiếp: - Mẹ của chị bị chó sói ăn thịt. Tuy không đúng hẳn thì cũng gần như thế. Hôm bà cụ qua đời, bà cụ cứ một mực kêu: “Có chó sói trong nhà. Chúng sắp ăn thịt tôi kìa!” Cũng như ông anh tội nghiệp của chị, việc ấy làm chị thương xót nẫu cả ruột gan. Run như cầy sấy, chúng tôi vừa áp người vào hai bên hông to lớn ấm áp của chị, vừa đưa mắt lo âu tò mò vào đêm tối: - Chị Đu-ni-a ơi, chị kể nữa đi!... |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)- Olga Becgon
Chị nhìn thẳng về phía trước mặt như rình đợi một thứ gì hiện lên. Khuôn mặt to hiền hậu với những mạch máu đỏ tươi của chị trông đáng thương lạ lùng. Mồm chị sệ xuống. Và chị nói :
- Có một lần, những con ngỗng cắn chị, thật đúng là gần chết ... - Tại sao chúng cắn, hở chị Đu-ni-a ? - ...Chả là vì còn bé tí tẹo, chị đã phải đi ở chăn ngỗng cho một nhà giàu, hồi ấy chị chưa cao bằng ngần này; mà ngỗng thì to tướng mà lại giữ nữa chứ. Thế là cả đàn chúng nó xô vào cắn chị và chị khóc, khóc mãi ...May lúc ấy ông anh của chị đến kịp và đuổi chúng nó đi. Thế nhưng ông anh tội nghiệp của chị, anh ấy chẳng có ngỗng cũng chẳng có ngựa gì xất. - Thế thì anh ấy không sợ ngỗng sao ? - Việc gì anh ấy lại phải xợ ngỗng cơ chứ ? Chúng tôi thở dài nhẹ nhõm và đòi nghe những chuyện khác nữa về ông anh của chị Đu-ni-a. Ơ-đô-xi ngẫm nghĩ rồi nói: - Một lần có một con bò cái, một con bò cái rất dữ cứ hay húc người, bởi vì rằng nó đã húc tất cả mọi người trong làng. Thế là ông anh tội nghiệp của chị, anh ấy túm lấy đôi xừng của nó và anh ấy cắt luôn . Hay là : - Một lần ở nàh kia có một con ngựa, nó hay cắn khiếp lắm cơ, nó cắn rồi nó bỏ chạy vào rừng, ông anh chị cũng theo vào rừng, anh ấy chẳng những bắt được ngựa và còn hái về cơ man nào là nấm, nhiều tới mức đủ cho cả làng ăn cơ . - Thế còn con Quỷ Xanh? - Quỷ Xanh làm sao? - Con Quỷ Xanh ấy, ông anh chị cũng không sợ ư? - Ông anh tội nghiệp của chị, anh ấy chẳng xợ gì xất. Ở làng Gu-jô-vô bò cái thì đưa sừng húc, ngỗng thì hay cắn người, khu rừng mà con Quỷ Xanh hay lui tới thì ảm đạm, chó sói thì đến ăn thịt người ta khi người ta sắp chết, ngựa thì dữ tợn, nhưng ông anh của Đu-ni-a lại dám xông tận vào trong rừng hoang thăm thẳm, thật là một con người ghê gớm không biết sợ là gì, ông ta đánh tan đàn ngỗng hung hãn, cắt cụt sừng những con bò cái dữ tợn, khinh thường con Quỷ Xanh mà không ai dám gọi đến cả tên, ông anh chị dang cánh tay kéo chiếc phong cầm dạo bài hát mà ở Pê-téc-bua Ơ-đô-xi không bao giờ có thể hát trọn được. Ôi! Cái làng Gu-jo-vô đẹp dữ dằn, một làng mất hút trong rừng sâu Pơ-xcốp, cây cối um tùm, làng ấy đang từ trên tượng thánh được Đu-ni-a mang theo khi rời quê hương phiêu bạt ra thành phố, trang nghiêm nhìn chúng tôi! Tối tối Ơ-đô-xi đứng thẳng người, mắt nhìn xuống chân giống hệt như một pho tượng đá, lầm rầm cầu kinh trước mặt ông cụ già đang bình thản cho con gấu ăn, trước ngôi nhà nhỏ rầu rĩ, tượng trưng cho cái làng nhỏ Gu-jô-vô có lẽ lúc này đang rực sáng ở nơi xa xôi cách trở đến những ba đêm trường. Ngồi xổm trước bếp lò, chúng tôi kính cẩn ngắm chiếc váy rộng có gấp nếp, món tóc tết mảnh dẻ buông thõng trên cái lưng để trần giữa những xương bả vai rắn rỏi, ngắm bàn tay to đỏ chậm chạp làm dấu thánh giá. Chúng tôi vểnh tai cố nhận ra lời lầm rầm của chị. Và mộy lần nữa tôi nghe đựơc : - Hỡi lái tim thiêng liêng, lái tim vạn năng, lái tim bất diệt, xin hãy thương xót chúng con ... Trí tưởng tượng của chúng tôi liền sửa lại ngay câu cầu nguyện. Nó trở thành bí hiểm một cách diệu kỳ “ Hỡi những bông hoa thiêng liêng, những bông hoa bất diệt, xin hãy thương xót chúng con...” Chúng tôi tin ngay vào lời cầu nguyện đó, một niềm tin tươi vui.Trong thiên đường của Đức Chúa hiền từ, có một cây cổ thụ nở những bông hoa to tướng, những bông hoa cứng cáp và tốt lành chẳng bao giờ tàn. Chúng phát sáng lên tựa những chiếc đèn lồng. Ai cầu xin gì đều được thoả mãn. Và tâm hồn thanh thản, với một niềm tin tưởng chọn vẹn, đến lượt chúng tôi, chúng tôi cầu nguyện những bông hoa của thượng đế có quyền lực thiêng liêng ấy; - Hỡi những bông hoa thiêng liêng, những bông hoa vạn năng, những bông hoa bất diệt, xin hãy thương xót chúng con! Tôi giấu không cho những người lớn biết về cầu nguyện ấy. Tôi linh cảm có lẽ người lớn sẽ cấm tôi làm việc đó. Những người vẫn cầu kinh trước những tượng thánh ảm đạm mặt đen thui sẽ không bao giờ lại thừa nhận rằng có những bông hoa thiêng liêng, tươi vui và hiền hậu. |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. TUỔI THƠ ( tiếp theo)- Olga Becgon
Năm tháng trôi qua. Rồi cách mạng thành công. Rồi nội chiến, chúng tôi sống ba mùa đông ở U-gơ-lích, sau đó trở về Pê-trô-grát trong một ngôi nhà mà mọi vật có hồn đều đã bỏ đi và ngay cả ông cụ già nhỏ của chúng tôi cũng trút linh hồn bỏ đi nốt. Chín năm sau tôi vĩnh viễn rời bỏ mái nhà của bố mẹ, rời bỏ Cửa ô Nép-xki của chúng tôi. Tôi trở thành đoàn viên thanh niên cộng sản và được kết nạp cả vào Đảng, làm Đảng viên dự bị. Đã từ lâu không tin có Chúa và hoàn toàn quên hẳn những bông hoa vạn năng ấy, thì bỗng dưng chúng hiện về với tôi, không phải trong mơ mà chính mắt tôi trông thấy thực! Ấy là vào mùa hè, lần đầu tiên trong đời, tôi đi du lịch về miền Nam. Ở Xốt-si, trong khi đợi xe ca đi Ga-gơ-ra, tôi đi dạo trong vườn hoa “Đen-đra-ri-om”. Lòng tôi hình như quá bé nhỏ, không chứa đựng hết niềm say sưa kỳ di trước những điều thần kỳ vừa hé thấy: biển ngập tràn lòng tôi với mặt nước bạc lung linh của nó. Nhưng đến chỗ một con đường ngoặt, hai bên đường viền những cây to màu xanh vỏ chai toả bóng râm ngan ngát và làm dịu lòng người một cách thật huyền bí, tôi chợt ngây người đứng lại: Trên cành giữa đám lá xum xuê sẫm mầu, lấp lánh những bông hoa to tướng màu ngọc lặng yên giống hệt những chiếc đèn lồng. Về sau tôi mới biết đây là hoa mộc lan. Nhưng khi vừa đi vào dưới vòm cây và trông thấy làn ánh sáng ấy vọt lên, khi trông thấy những đoá hoa khổng lồ trong khung cảnh trong trẻo diệu kỳ lý tưởng chừng thoát ra ngoài thời gian ấy, tôi nhớ lại lời cầu nguyện dại khờ thời rất ấu thơ và bật cười. Trời ơi! Vậy ra tôi đang ở nơi thiên đường? Và trong niềm vui bột phát, như xưa kia ở Cửa ô Nép-xki, (nhưng nếu đây không còn là một lời cầu nguyện nữa, thì cũng không phải sự xúc phạm thần linh) tôi lầm rầm :
- Hỡi những bông hoa thiêng liêng, những bông hoa vạn năng, những bông hoa bất diệt, xin hãy thương xót chúng con ! ... Cửa ô Nép-xki, tôi ngày càng thưa về thăm hơn. Từ nay tôi ở “ trên phố ” nhà số 7 phố Ru-bin-xta-in, trong ngôi nhà kỳ cục được xây dựng nền ít lâu sau năm 1930 mà tôi đã mô tả ở đoạn trên đây . Ngôi nhà cũ của gia đình tại Cửa ô Nép-xki, ba tôi vẫn ở đấy cùng với dì Va-ri-a, bà ngoại Ma-ria I-va-nốp-na ( tức là bà Ma-sa của tuổi thơ tôi ) và Ơ-đô-xi người vú em ngày trước của chúng tôi. Mẹ tôi đã bỏ ba tôi về ở với một người em gái. Mái tóc xoăn màu vàng của ba tôi bắt đầu hoa râm và thưa thớt dần. Nhưng đôi lúc ông cụ vẫn lắc lắc cái bờm ấy một cách rất trai trẻ và cất tiếng hát bài hát cũ của khu phố: Mái tóc A-li-ô-sa Óng ánh như vàng Chàng thuộc những bài hát Mà ở phố người ta say mê Làm sao Ma-ri-út-xa Lại không yêu chàng kia chứ? Ba tôi vẫn là bác sĩ ở bệng xá của xí nghiêp Thon-tơn cũ, nay trở thành nhà máy Tân-lơ-man, còn có tên là nhà máy “ Người thợ dệt Đỏ ”. Người vào làm ở đây từ sau nội chiến, ngay sau khi kết thúc chiến dịch Krôn-xtát, chiến dịch cuối cùng mà người trực tiếp tham gia Ba tôi thỉnh thoảng đến thăm tôi trong căn buồng nhỏ bé không tưởng tượng nổi, nhỏ như một căn nhà dành cho búp bê ở. Tôi thì chẳng bao giờ có thời giờ rỗi rãi để thăm ba, đến thăm được nhà máy, nơi ba tôi làm việc, trong cái bệnh xá cổ xưa bằng gỗ thông trước một mảnh vườn nho nhỏ, gần như cái nhà riêng thứ hai của người đã dành ở đấy từ bao năm nay, ba tôi trồng những cây hoa hồng rất hiếm thấy ở Lê-nin-grát; mà chỉ đến thăm được căn buồng đơn chiếc của người trong ngôi nhà cũ kỹ của chúng tôi . Bà Ôn-ga và ông nội tôi đã mất từ lâu, nhưng bà ngoại Ma-sa thì vẫn cứ còn sống dai. Người bé tí như một chiếc lá rụng và chẳng mấy khi ai nghe đựơc tiếng bà đi lại, nhưng bà vẫn linh lợi, đôi mắt đen vẫn sắc sảo như bao giờ. Từ sáng đến chiều bà tôi lo việc nội trợ, săn sóc ông con rể cũ khi ba tôi có nhà, và săn sóc dì Va-ri-a, y tá ở bệnh viện A-lếch-xan-đra, người con gái độc nhất còn ở lại với bà. Dì Va-ri-a vào làm y tế từ những tháng đầu của cuộc chiến tranh chống lại vua Đức, khi chồng chưa cưới của dì ra mặt trận . Ông ta đóng lon trung uý. Và khi dì tôi tối tối khe khẽ hát lên bài hát “Chim hải âu của các chiến hào ”, bài tình ca được nhiều người ưa chuộng hồi bấy giờ, tôi tưởng tượng con người trong bài hát ấy là chồng chưa cưới của dì tôi : Một trung uý thuộc bộ binh dũng mãnh Bảo vệ quân kỳ của trung đoàn thân yêu Anh đã nhìn thấy toàn đại đội thương vong Nhưng, dũng cảm làm sao, anh vẫn chiến đấu đến cùng. Người chồng chưa cưới của dì tôi đã tử trận . Có lẽ cũng như trong bản tình ca : Khi đêm tối trôi qua và bình minh loé sáng Quân ta đánh lui đựơc quân thù vào ngày hôm sau Thì trên đống tử thi, trung uý vẫn Nắm chắc cán cờ trong đôi bàn tay lạnh cứng... Dì Va-ri-a không đi lấy chồng. Dì tàn tạ một cách dịu dàng, không phản kháng, có thể nói là tự nguyện nữa . Từ gần một phần tư thế kỷ nay, dì tôi thường khóc chàng trung uý của mình; dì không rời khỏi bệnh viện sau cuộc nội chiến đã trở thành bệnh xá của công nhân, và vẫn chùm tấm khăn trắng có dấu chữ thập đỏ nhỏ ở trên đầu. Bây giờ người ta không ai trùm khăn nữa, nhưng đặc biệt dì Va-ri-a, với tư cách là người cao niên nhất trong các nữ y tá ở phòng mổ, vẫn được phép đặc biệt trùm khăn có thêm dấu hồng thập tự . Còn Đu-ni-a, từ lâu chị vào làm việc ở nhà máy “Các-tông-tôn”, làm lao công giúp việc quét dọn lau chùi và vẫn tiếp tục theo lớp học xoá mù chữ từ năm 1920 nhưng cho đến hôm nay vẫn chưa biết viết và cũng chưa biết đọc. Tôi rất ít khi về thăm ngôi nhà ở Cửa ô Nep-xki nhưng lần nào về cũng thấy chị đến phàn nàn với tôi: - Ấy là do tại cái chữ xờ ( chị muốn nói chữ sờ ) nó không chịu vào đầu óc. Chữ K, chữ N, chữ R, chữ T thì thuộc hết cả rồi. Chị khóc, lau nước mắt vào một chéo khăn và lẩm bẩm : - Dưới thời Nga Hoàng, tôi là một con dốt nát tối tăm. Đến nay, thời Xô-viết, tôi vẫn là con tối tăm dốt nát... Thà tôi trở về làng để mà đỡ đần ông anh tội nghiệp của tôi còn hơn ở đây ... Ông anh tội nghiệp của chị đã bị thương nặng ở mặt trận vào khoảng năm 1916. Nói thế nhưng Đu-ni-a vẫn không bao giờ trở về đựơc làng Gu-jô-vô. Thành phố đã giữ riết lấy chị. |
* * *
Năm tháng vẫn trôi qua; 1930, kế hoạch năm năm lần thứ nhất, những đêm sốt rét ở nhà máy “Ê-lếch-tơ-rốt-xi-ta” nơi tôi làm việc, cái tang đau đớn của hai con gái tôi qua đời cách nhau không lâu, cuộc thử thách nặng nề những năm 1937-1939 nó để lại trong đầu óc tôi một vết không thể phai mờ, rồi cuối cùng tiếp ngay sau đấy, là chiến tranh... Biết bao nhiêu sự kiện dồn dập, chồng chất, tạo nên một bức rào ngăn cách ngôi nhà cũ với tôi. Những niềm vui và nỗi buồn của tôi (nhất là những nỗi buồn) giờ đây không chút giống nỗi buồn và niềm vui mà tôi cho là đông đọng lại, trở thành cái phận của những người thân ở Cửa ô Nép-xki ! Sợi dây ràng buộc tôi và những người thân ngày càng trở nên mong manh và như sắp sửa đứt tới nơi. Nói thật ra, tôi không lấy điều ấy làm buồn; tôi cũng chẳng nghĩ tới nó nữa. Tôi rất ít gặp ba tôi. Cửa ô Nép-xki đã chìm vào nơi xa xôi trong tiềm thức tôi rồi. Tôi gần như không còn nhớ tới Ơ-đô-xi, tới bà tôi cũng như tới dì Va-ri-a nữa. Ấy thế mà bỗng dưng vào đầu năm 1941, khi Lê-nin-grát đã hoàn toàn bị bao vây trong khi quân Đức liên tiếp mở những cuộc tấn công, bỗng dưng một buổi sáng tôi nghe qua máy điện thoại tiếng dì Va-ri-a: - Ôn-ga, hãy đến vĩnh biệt bà đi ! Tôi ngẩn người ra, chẳng hiểu gì cả. - Kìa dì, - tôi nói – làm thế nào để đưa bà đi tản cư đựơc? Có còn đường nào nữa đâu. - Không phải là đưa bà đi tản cư, Ôn-ga a, bà sắp lâm chung đấy . Tôi suýt thốt lên: “ Thế nào?” Tôi không hiểu nghĩa câu nói. Dì tôi nói tiếp: - Ôn-ga ạ, trứơc khi mất, bà muốn được nhìn mặt cháu ... Tôi hết sức bối rối. Tôi ấp úng nói : - Nhưng mà dì Va-ri-a a, hôm nay khu uỷ triệu tập hoả tốc các cán bộ làm công tác chinh trị ...Dì biết là cháu phụ trách công tác ấy ... Trong khi tôi lúng búng nói, một câu hỏi lướt qua đầu óc : “ Thế đã bao năm nay ta không gặp bà ngoại Ma-sa ... Đúng rồi ! Đã gần hai năm!... Thế mà ta ở trong cùng thành phố với bà ... Và giờ đây bà sắp qua đời ...” Đột nhiên, hình ảnh bà ngoại hiện ra trước mắt tôi. Giống hệt như hồi tôi còn thơ ấu: người thấp bé, làm việc luôn tay, cử chỉ nhanh nhẹn, hay la mắng một cách đáng yêu và tốt bụng, và dễ mến làm sao... Bà ngoại tôi ! Bà ngoại già nua và hiền hậu của tôi! Người bà cuối cùng của tôi ... Và tôi kêu lên : - Dì Va-ri-a, cháu đến ngay đây ... Có còn kịp không ạ? - Kịp, dì tin là còn kịp. - Cháu đến ngay đây, dì Va-ri-a à! |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. SỢI DÂY CHUYỀN HẠNH PHÚC
Việc này xảy ra khoảng mấy ngày sau lần báo động máy bay mà chúng tôi cũng như nhiều người Lê-nin-gát khác đã nhặt được ở sân tờ truyền đơn kỳ quái: “ Hãy chờ đêm bạc ”. Sáng hôm ấy, những người ở cùng nhà mang đến cho tôi nhiều tờ khác nữa. Họ đã tìm thấy dưới khe cửa nhà họ. Không phải là truyền đơn Đức: những tờ truyền đơn này viết bằng bút chì với một bàn tay kém vững tin và run run trên tờ giấy kẻ ô hẹp, rõ ràng là xé từ một cuốn sổ tay - không rõ nét chữ ông già hay nét chữ trẻ con. Phía trên hình vẽ bằng bút chì, vòng tròn ốc hay là dây chuyền gì đó, cũng cực kỳ ngây thơ hay đúng hơn là non dại, nhưng lời lẽ thì không mắc một lỗi chính tả hoặc cú pháp nào. Tôi gần như thuộc lòng tờ truyền đơn ấy vì chính tôi cũng bắt được một tờ như vậy vào tảng sáng, trên sàn gỗ gần cửa nhà tôi. Nội dung như sau :
“ Sợi dây chuyền hạnh phúc đã được truyền cho tôi, tôi gửi nó đến bạn, hãy nhanh lên! Trong vòng hai mươi bốn tiếng bạn hãy gửi nó đến bốn người mà bạn cầu mong họ sẽ gặp được việc tốt lành. Sợi dây này đã được truyền đi khởi đầu từ miền Phơ-lăng-đrơ năm 1729, do một nhà bác học tung ra, và sợi dây này phải đi vòng quang thế giới ba lần. Kẻ nào làm đứt đoạn nó sẽ gặp một tai hoạ lớn. Bạn sẽ chú ý đến điều sẽ xảy ra cho bạn trong ngày thứ tư kể từ hôm bạn nhận được sứ mệnh làm mắt xích trong sợi dây truyền này. Ngày hôm đó, một hạnh phúc to lớn sẽ đến với bạn, nếu bạn không giữ lại bức thư này mà tiếp tục gửi nó đi ” Trong chuyến tàu điện đưa tôi trở về ngôi nhà cắt rốn chôn rau đã gần như bị lãng quên (nó vẫn mang cái số hiệu như hồi tôi còn thơ ấu, khi tôi rời nhà lên ở “trên phố”) . Tôi không nghĩ đến những gì mình sẽ gặp lại ở Cửa ô Nép-xki, không nghĩ đến việc vĩnh biệt bà ngoại mà chỉ nghĩ đến tờ truyền đơn ban sáng. Lời văn ngây thơ của nó thôi miên tôi. Bất giác, tôi lặp lại: “ Sợi dây chuyền hạnh phúc ...phải vòng quanh thế giới ba lần ...kẻ nào làm đứt đoạn sẽ gặp một tai hoạ lớn ...” Một ý nghĩ làm tôi lo lắng: ai đã viết nó ra? Ai phổ biến những câu đó? Ai truyền sợi dây chuyền kia đi? Không phải một máy bay Đức đã thả nó xuống, nhưng sự việc còn nghiêm trọng hơn nhiều; kẻ thù gây nên chuyện này đang sống ngay bên cạnh chúng ta ... Một kẻ thù cũng có thể là một người nào đó ước mong rằng vào những ngày mà tất cả chung quang chúng ta đều sụp đổ, loài người sẽ nắm tay nhau thành một sợi dây chuyền? Nắm tay nhau làm thành một sợi dây chuyền không gì phá vỡ nổi? Được lắm, nhưng tại sao lại là những lời lẽ mù tịt kia chứ không phải những lời giản dị đi thẳng vào lòng người mà ngày nay bất cứ ai cũng dùng? Sao lại có những lời dạo dẫm: “ kẻ nào làm đứt đoạn nó sẽ gặp một tai hoạ lớn ...” Không, cho dù người đã chép lại tờ truyền đơn kia luồn vào khe cửa nhà tôi chỉ là một người hoang mang đi nữa, thì cũng chính tay kẻ thù đã viết nó ra và bày ra cái trò đó. Một kẻ thù sống ngay bên cạnh, có thể là ở ngay trong nhà tôi. Đêm hôm qua, hay vào lúc tảng sáng, một kẻ nào đó đã đi dọc hành lang ngôi nhà chúng tôi ở và đã luồn những mảnh giấy ấy vào dưới khe cửa, một kẻ thù hay là một tay chân của kẻ thù, hay là một người sợ lời doạ dẫm của kẻ thù đã rình mò trước cửa nhà tôi, sợ nghe từng bước chân tôi đi. Và người đó lai doạ tôi : “ kẻ nào làm đứt đoạn nó sẽ gặp một tai hoạ lớn ...” Kẻ thù giảo quyệt, nó biết rằng trong những ngày đầy rẫy những điều kinh rợn và thảm hoạ này, điều có thể tác đông chắc chắn nhất đến người khác là những lời doạ dẫm mơ hồ, những lời hứa hẹn không rõ rệt, những câu nói huyền bí. Vậy thì tác giả tờ truyền đơn này là ai nhỉ? Sáng nay người ta mang đến cho tôi bốn tờ . Với tờ của tôi nữa là năm. Năm người đã làm gián đoạn dây chuyền hạnh phúc. Và giữa lúc này, có bao nhiêu người đang chép lại và phổ biến mảnh giấy con với những lời huyền bí làm hoang mang đầu óc này? Không phải chỉ có trong ngôi nhà của tôi ở mà trong nhiều nhà khác nữa, trong tất cả Lê-nin-gát, bởi vì sợi dây chuyền bắt đầu từ lâu rồi, người ta có cho tôi biết như vậy. Và thế là sáng nay, sợi dây ấy đến tận nhà tôi, những mắt xích han gỉ của nó đã loảng xoảng trước cửa buồng tôi. Hẳn người ta sẽ hiểu vấn đề này ở cuộc họp khu uỷ. Tôi sẽ phát biểu rằng không có một lý do gì để im lặng, ngược lại phải nêu vấn đề này trong các cuộc họp hay là ở các hầm trú ẩn những lúc báo động, phải đọc tờ truyền đơn ấy lên và phải chế nhạo nó. Các lời kêu gọi nhân dân thường nhắc đi nhắc lại rằng “ Quân thù ở trước cửa chúng ta ”. Phải nhấn mạnh điều đó mà nói rằng: cần phải tóm cổ nó, tóm cổ tên thù địch ấy khi nó luồn lời tuyên bố huyền bí ấy vào khe cửa nhà anh hay vào một hòm thư. Nếu không phải là một kẻ thù, mà là một kẻ rồ dại không còn hiểu được việc nó làm thì cũng cần giải thích cho nó nghe ra ... |
ĐỈNH CAO NGÀY THÁNG. SỢI DÂY CHUYỀN HẠNH PHÚC
Tôi quá chìm đắm trong suy tưởng đến nỗi không để ý đến chiếc xe điện nữa ; nó đã đỗ lại một lúc khá lâu, sốt ruột chị bán vé gắt kên :
- Này, bà làm sao thế ? Bà suy nghĩ gì vậy ? Xuống nhanh đi chứ ! Tôi nhìn qua cửa kính : chúng tôi đang ở trước nhà máy Lê-nin, trước kia là xưởng Xê-mi-a-ni-cốp-xki. - Tôi xuống ở ga sắp tới cơ – tôi trả lời - Bà điếc hay sao ? Trọng pháo đang nã ! Nào xuống đi cho, có hầm trú ẩn đằng trước, bên trong ngôi nhà kia. Tôi xuống xe . Thật vậy đạn đại bác đang rít rất cao trên đầu, và nổ ở một nơi nào đó trước mặt tôi, về phía đại lộ Pa-lép-xki . Những đám mây màu bạc to dày và tròn trĩnh dựng lên như một bức tường, ở cuối đại lộ Xsơ-lút-xen-bua thẳng tắp. Không rõ cái gì lọc ọc và ầm ầm như sấm dậy ở đấy, giống như một củ khoai tây khổng lồ bằng gang đang sôi trong một cái nồi khổng lồ. Tôi nghĩ thầm: đang đánh nhau ở phía ấy, hẳn là về mạn Mua-zin-ca, hay là ở nhà máy ba tôi làm việc ...Một viên đạn trái phá bay qua, khá thấp với một tiếng rú như tiếng mèo kêu, và mấy giây sau, tôi nghe tiếng nổ vẫn vào chỗ cũ, trên đại lộ Xsơ-lút-xen-bua. Nhà tôi ở về mạn ấy. Một ý nghĩ làm tôi lạnh toát : hay là đạn rơi đúng vào nhà mình? Tôi điên cuồng muốn nhìn thấy lại ngôi nhà chúng tôi một lần nữa, được trông thấy bà ngoại tôi và những người thân khác, tim tôi se lại đau đớn đến nỗi quên cả sợ hãi. Gần như chạy, tôi lao đi trên địa lộ Pa-lép-xki, vừa đi vừa rút từ chiếc túi đựng mặt nạ phòng chống độc ra hai tờ giấy thông hành: một tờ cho phép đi lại những lúc có máy bay và một tờ “Được phép ra mặt trận và quay trở về ” Nắm chặt hai tờ thông hành trong bàn tay phaỉ, bàn tay trái nén chặt ngực để cho tim bớt đập, tôi chạy bộ cho đến tận ngôi nhà nơi tôi đã ra đời, nơi thế giới bắt đầu mở ra trước mắt tôi với mối tình đầu và lời kêu gọi không thể nào cưỡng lại của cách mạng, ngôi nhà mà tôi đã bỏ ra đi năm hai mươi tuổi, lòng đầy khinh bỉ đối với những con người sống trong đó vì “ tính chất tiểu tư sản ” của họ, ngôi nhà mà tôi gần như đã quên bẵng. Trong tiếng rít ghê tởm của đạn trái phá, tôi lao đầu chạy, lòng nghẹn ngào đau xót khi nghĩ rằng có lẽ mình không còn được trông thấy ngôi nhà của ông cha nữa. Chao ôi , ước gì được nhìn thấy nó lần nữa thôi, ít ra cũng một lần ... Ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn! |
NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ- Olga Becgon
Tôi đứng lại trước ngôi nhà, trước cái cổng vặn vẹo, trước cây phong lớn đã nhìn tôi qua cửa sổ trong suốt thời thơ ấu của tôi và cứ sáng sáng lại khoác áo một màu xanh lam . Ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn, nhưng sao mà bé đi đến thế. Trông nó còn bé hơn cả khi chúng tôi ở U-gơ-lích trở về. Đúng thế, nhỏ bé đi nhưng vẫn còn nguyên vẹn, trong khi ngôi nhà con, ngay trước thì nó đã bung cả ruột gan ra ngoài. Tuy vậy, rõ ràng là cảnh đổ nát này không xảy ra trong trận bắn phá vừa rồi, cũng không phải vào ngày hôm nay vì không có cái gì đang cháy và cảnh điêu tàn cũng không còn bốc lên mùi tro lạnh. Đạn trái phá tuy vậy vẫn nổ hoài, không xa lắm. Có một lúc mặt đất nhảy chồm lên; lần này là một qủa bom và chắc chắn rơi cũng gần đây thôi. Ngay lập tức, các còi báo động nhất tề nổi lên, phát ra những tiếng gào thét khủng khiếp, điên cuồng, như tiếng gào của những mụ phù thuỷ. Một quả bom khác nổ, tiếp theo sau là tiếng rít ghê người trong khi trên không những vùng mây tròn trắng bạc phát ra những tiếng lọc ọc còn mạnh hơn là tiếng rít. Tôi lấy lại hơi. Sực nhớ ra rằng cần vĩnh biệt bà ngoại đang hấp hối. Và tôi bước vào căn nhà của chúng tôi .
Căn buồng, tôi nhớ rõ lắm từ khi còn thơ ấu ... một làn mờ đục lúc nào cũng phủ kín một mặt tấm gương đặt giữa hai cửa sổ, tấm gương đã mờ nước thuỷ sắp chết hẳn rồi, không còn phản chiếu được gì nữa. Do ánh sáng của phản quang những đám mây bạc đang gào thét kinh hoàng kia, trong buồng rất sáng, chỉ có một điểm tối thôi, trong một góc đó là bức tượng đồ sộ của thánh Ni-cô-lai mà chúng tôi đều khiếp sợ, hồi còn bé tí . Nó cũng chính là nguyên nhân đã khiến cho tôi hết mực bài bác thần thánh, khi gia nhập đoàn thanh niên Côm-xô-môn. Ngọn đèn đỏ quạch trước tượng thánh làm cho khuôn mặt kiêu kỳ và nghiêm trang của ông thánh dưới cái mũ giáo chủ từa tựa hình mái nhà thờ nổi hẳn lên trên nền đen, nom càng thêm sầu thảm và tàn nhẫn. Những cây xanh mà cũng thời kỳ tôi chủ trương bài bác thần linh ấy, tôi đã thù ghét kịch liệt không kém cũng nảy nở một cách gớm ghiếc, tưởng chừng đấy là những vật sống mà không biết liêm sỉ. Một mùi thơm, thứ mùi bị tôi quên bẵng hơn cả, tràn ngập căn buồng: mùi thơm buồn buồn và tinh khiết của hương trầm. Tất cả những thứ đó tôi cảm thụ trong một phần giây, trước khi nhận ra điều sửng sốt nhất: sự thanh khiết phi thường, hầu như trang trọng nữa, đang ngự trị trong căn buồng, và vẻ đường bệ giản dị không thể nào tin được của bà ngoại tôi trong phút lâm chung. Dì va-ri-a, vẫn trùm tấm khăn trắng có dấu chữ thập đỏ như bao giờ, đứng dưới chân bà tôi; dì vẫn làm việc ở bệnh viện ấy xưa kia là nhà thương A-lếch-xan-dra sau đổi thành Viện điều dưỡng vô sản, rồi nay lại là Bệnh viện quân khu, đủ biết là nơi gần mặt trận như thế nào! Trông thấy tôi, dì ra đón, vẻ mặt rất bình tĩnh. Dì âu yếm hôn tôi và nói, giọng không cao không thấp, một cách hết sức ngạc nhiên : - Bà còn tỉnh, được gặp cháu, chắc bà sẽ mừng lắm. Tôi bỏ tấm khăn quàng xuống và lại gần giường bà ngoại. Một tiếng nổ dữ dội làm rung chuyển ngôi nhà nhỏ. Ngọn đèn ngủ đỏ quạch bắt đầu nhảy nhót trước khuôn mặt lạnh như tiền của ông thánh. Dì va-ri-a nhón chân sửa lại cho nó đứng im. Bà tôi nằm tựa lên chồng gối, đầu trùm một tấm khăn quàng trắng như những người đàn bà thôn quê. Khuôn mặt bà đã choắt lại, nhăn nhúm. Đôi mắt lõm sâu trong hai hốc mắt, nhưng từ trong đáy cùng của hốc mắt, đôi đồng tử tinh anh và sáng suốt vẫn sinh động hơn bao giờ . Cái làm cho tôi chú ý nhất là đôi bàn tay chắp lên ngực, đôi tay dường như to tướng, không cân đối , với những con tay thô nhám, xù xì vì những lớp chai và những đường gân xanh to quăn queo nổi hằn dưới da . Đấy là đôi tay của một người phụ nữ đã lao động đúng tám mươi năm trong số tám mươi bảy năm tuổi của mình, đôi bàn tay của một bà mẹ đã sinh đẻ, nuôi nấng, nâng giấc, dạy dỗ mười bốn đứa con cùng với một đám lốc nhốc những cháu cùng chắt, đôi tay đã sống dai hơn nhiều con cháu, và với đôi bàn tay ấy đã vuốt mắt, đã chôn cất và đã ném nắm đất đầu tiên xuống huyệt của nhiều đứa trong bọn chúng. Tôi nhìn khuôn mặt bé choắt mà hơi nóng đang lụi dần ấy, nhìn ánh mắt linh hoạt và đôi bàn tay to tướng ấy. Một cái gì trong tôi rung động một nỗi sợ hãi dâng lên và đột nhiên tôi nhận ra rằng trong suốt đời mình, chưa bao giờ tôi làm một việc gì tốt lành, chưa bao giờ tôi nói một lời hiền từ với bà ngoại, người bà có đôi mắt sống động, đôi bàn tay to tướng này . Làm lại có thể như thế được nhỉ ? Làm sao mọi việc lại diễn ra như vậy ? Tôi chợt nhớ lại thời bà ngoại cho tôi đi tắm hơi, bà đã cẩn thận cho tôi ngồi vào cái chậu đầy “ nước rất chi là mát ” như thế nào, bà đã mút bọt xà-phòng bắn vào mắt cháu ra làm sao. Tôi nhớ chiếc bánh sừng bò đen thui, ngọt một cách kỳ diệu mà bà mua cho trước khi ra về, ở ngay trước cửa nhà tắm, hay là cốc kơ-vát chua chua mà bà cho uống. Còn tôi? Tôi đã làm gì cho bà ngoại, cho dì Va-ri-a, cho ba tôi? Chẳng làm gì hết T ôi không có thì giờ mà. Đầu óc tôi còn bận bịu vì những chuyện khác cơ : kế hoạch năm năm lần thứ nhất, những công trường mũi nhọn, việc học tập chủ nghĩa Mác, cuộc đời riêng của mình và việc bước đi bước nữa. Với tôi một người đang lo chuyện xây dựng xã hội mới, thì những người thân trong gia đình không có ý nghĩa gì to lớn lắm! Bà ngoại, những cô, những dì, các buổi lễ tết trong gia đình cùng những nỗi băn khoăn kiểu tư sản của những con người ấy có mang lại gì cho tôi đâu? ... |
NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ (tiếp theo)- Olga Becgon
Khi tôi ngồi ghé xuống đầu giường, bà tôi đang quay mặt vào tường. Bà hầu như đax nửa mê. Dì Va-ri-a gọi:
- Mẹ ơi, cháu Ôn-ga đến thăm mẹ đấy ... Hai đồng tử của bà tôi linh hoạt hẳn lên, đôi bàn tay thô run run . - Va-ri-a à - bà tôi nghiêm khắc hỏi - sao con không đi làm ở bệnh viện mà lại ở nhà ? - Con đã nhờ người trực thay, mẹ a - dì Va-ri-a đáp như biện bạch. Rồi dì lặp lại Cháu Ôn-ga đến thăm mẹ đấy, mẹ thấy chứ ? Bà ngoại quay đầu lại phía tôi. Bà nhìn tôi hồi lâu, lặng lẽ, với một niềm âu yếm không thể nào tả xiết . Rồi bà nói : - Ôn-ga, thế là cháu đã tới thăm bà ... Đứa cháu gái lớn nhất của bà ... Cháu không tin vào Chúa, bà biết ... Cháu là đoàn viên Côm-xô-môn mà ... Nhưng bà vẫn cứ ban phước lành cho cháu ... Việc đó không làm cháu phật lòng chứ? - Thưa bà, không đâu a . Một tiếng nổ nữa làm rung chuyển ngoi nhà cũ kỹ, trong khi bàn tay thô nhám của bà tôi, tưởng chừng đúc bằng đồng đột nhiên trở nên nhẹ nhõm, chậm rãi làm phép ban phước lành cho tôi. Tôi áp bàn tay ấy vào môi : nó đang lạnh dần . - Thôi ... – bà tôi nói thều thào nhưng rất rành mạch - Vậy là ít ra bà cũng được trông thấy mặt một đứa cháu của bà rồi ... Còn Mu-xi-a, nó ở đâu, cháu Mu-xi-a của bà ? - Thưa bà, em cháu hiện ở Mát-xcơ-va ạ . - Ừ ở Mát-xcơ-va ... ở dưới đấy có bị ném bom không ? - Thưa bà ,có - Mát-xcơ-va ở về phía nào nhỉ ? - Tôi không hiểu rõ bà tôi hỏi làm gì. Tôi chỉ vu vơ vào bức tường sát giường - Thưa bà, về phía kia a. Bà tôi hơi quay về phía vách, giơ bàn tay thô ráp mà lao động đã tạo nên, phác một dấu thánh giá nhỏ (người không còn đủ sức làm một dấu to) và lẩm bẩm : - Lạy Chúa tôi, xin Chúa hãy thương xót lấy Mu-xi-a bầy tôi của Chúa , xin hãy thương xót lấy Mát-xcơ-va thần thánh, thành phố của Chúa ... |
NHỮNG BÔNG HOA BẤT TỬ (tiếp theo)- Olga Becgon
Và đột nhiên một cảm xúc chưa bao giờ thấy bừng lên trong tôi như một ánh bình minh ...Bà tôi đang lìa cõi đời . Không chút vội vàng vô ích. Một cách đĩnh đạc. Vừa từ biệt tất cả chúng tôi, vừa ban phước lành cho chúng tôi. Đấy là sự đóng góp của bà tôi vào thắng lợi của cuộc chiến tranh, sự đóng góp duy nhất mà bà có thể làm, công việc cuối cùng của đời bà. Bà tôi chưa chết: bà tôi đang hành động một lần cuối cùng kia. Bà tôi chết, cái chết xứng đáng của một người Nga hay đúng hơn, bà tôi ra đi với lòng sốt sắng và hoàn toàn tỉnh táo. Điều quan trọng đối với bà tôi không phải là Chúa mà là cái khác cơ.
Nhà bác học Páp-lốp lúc sắp lìa trần vẫn lắng nghe người mình và nói lên những cảm tưởng cho một cộng tác viên ngồi ở đầu giường ông ghi lại. Có người gõ cửa. Ông trả lời : - Tôi bận việc: tôi đang mải chết ... Vào lúc lâm chung, một trong những đầu óc vĩ đại của nhân loại, và bà tôi một con người dốt nát bình thường gặp nhau. Nhưng sao lại nói dốt nát? Lao động, yêu thương, yêu thương vô biên đến mức tới phút cuối cùng vẫn nghĩ đến những kẻ thân yêu và tổ quốc của mình, như vậy chẳng phải là đạt đỉnh cao của trí tuệ rồi sao? Páp-lốp, một thiên tài, và bà ngoại tôi cũng có một cái chết không sợ hãi, chết mà luôn luôn nghĩ đến cuộc sống đến cả những hành động cuối cùng ... Đấy phải chăng là chết? Không: đấy là một sự thách thức...Một sự thách thức cái chết đang đổ lên đầu chúng ta và đang gào thét chung quanh chúng ta. Một cái chết của người chiến sĩ . Phải chăng những kẻ ngã xuống dưới đạn trái phá hay trong khi chiến đấu trong những quầng mây gào thét kia chết như vậy đấy? Đúng, chết mà không nhìn thấy cái chết, mà chỉ nghĩ đến cuộc sống. Vậy thì sao? Vậy thì không có cái chết. Không cần phải sợ nó. Có thật đúng là không có cái chết? Những ý nghĩ của tôi rượt đuổi nhau, chen lấn nhau, quay vòng trở lại. Bất giác, tôi buông đôi bàn tay giá lạnh của bà ngoại ra để xem đồng hồ: tôi còn phải trở về ngôi nhà tập thể, từ đó đến dự cuộc họp khu uỷ rồi tới Đài phát thanh làm việc. Bà tôi hiểu ra khi nhìn thấy cử chỉ của tôi. Bà nở một nụ cười khoan dung hiền hậu, một nụ cười của người lớn đối với lỗi lầm của trẻ con và âu yếm lẩm bẩm: - Cháu đi đi, cháu Ôn-ga bé bỏng của bà à, đi đi thôi, cháu thân yêu, chớ có đợi làm gì ... Tôi đáp như mình chỉ từ giã bà để hôm sau lại gặp thôi, chứ không phải đây là lời vĩnh biệt muôn đời : - Thưa bà, bà tha lỗi cho cháu, cháu có việc gấp quá . - Bà hiểu lắm, cháu à. Cháu đi nhanh lên ... |
"KHÔNG AI CHIẾM ĐƯỢC GU-JÔ-VÔ"- Olga Bergon
Ra ngoài, tôi đứng nhìn mảnh vườn. Thời kỳ nội chiến người ta gần như phát trụi cây cối trong vườn, thế mà nay chúng lại mọc lên rậm rịt, mảnh vườn trông huy hoàng với bộ áo đầy màu vàng thẫm của nó. Đạn đại bác rít trên không trung, gần như không ngớt, quân Đức đã hướng tầm đạn đi xa hơn. Suy nghĩ ngồn ngộn trong đầu óc tôi, tầng tầng, lớp lớp, mỗi lúc một dày đặc hơn, thì bỗng một giọng quen thuộc gọi :
- Ôn-ga! Tôi nhận ra Ơ- đô-xi - Chị Đu-ni-a thân mến của chúng tôi, đang lại gần, một tay chị cầm cái cuốc, một tay cầm gói thức ăn, đầu trùm khăn san trắng muốt . Mừng rơn, tôi chạy bổ đến. - Đu-ni-a! Chị Đu-ni-a thân mến! Được gặp chị em mừng quá! Thế nào, chị vẫn khoẻ chứ? Chị làm việc ở đâu? - Ở chiến hào - Chị vừa cười vừa trả lời - Tôi đi đến chiến hào đây. Cô sem : tôi đã trùm chiếc khăn quàng trắng rồi đấy. - Thấy rồi, nhưng như vậy nghĩa là thế nào? Chị quay đầu về phía mảnh vườn vàng rộ trong một giây, rồi với một vẻ tâm linh quan trọng : - Hôm kia, chúng nó rải truyền đơn nói : “ Các bạn hãy quàng khăn trắng, thì chúng tôi sẽ không ném bom. ” Thế là ở xưởng tôi chị em quyết định quàng khăn trắng tất . - Chị Đu-ni-a, kìa , chị không hiểu sao? Làm như vậy là các chị đầu hàng chúng nó! - Chúng tôi đầu hàng? Cô này kỳ cục thật ... Ấy là để chơi khăm chúng nó một vố đấy chứ ...Trông thấy phụ nữ quàng khăn trắng, chúng nó sẽ ngừng ném bom. Còn chúng tôi, những chiếc khăn trắng chẳng hề làm chúng tôi vướng víu chút nào trong khi đào tăng –xê, còn bom của chúng nó dội thì trở ngại lắm, mà chúng tôi thì quyết đào cho được những cái hố để chôn hai chân chúng lại, lũ khốn kiếp ! Chi sửa lại chiếc khăn nhằm chơi khăm quân thù một vố ấy , thở dài và nói : - Lũ quân Đức ấy, ngày nào đánh bại được chúng rồi tôi mới về Gu-jô-vô. Cô còn nhớ chiếc khăn xan hai mặt của tôi chưa từng khoác một lần ấy chứ ? Về Gu-jô-vô tôi sẽ quàng “ mở hàng ” chiếc khăn đó. - Nhưng mà, chị Đu-ni-a., - Tôi trả lời không suy nghĩ – làng Gu-jô-vô đã bị quân Đức chiếm mất rồi, cả vùng Pơ-xcốp cũng vậy. Chị trừng mắt nhìn tôi gần như khinh bỉ, một cái nhìn từ cao nhìn xuống , chỉ để dành cho những tay nát rượu hoặc những tên nói chuyện tục tằn : - Ôn-ga - Chị nói rất bình tĩnh - những tên ngu xuẩn nào nói cho cô nghe những chuyện láo toét ấy ? Quân Đức ấy mà, chừng nào trên trái đất này còn có người, chúng sẽ không bao giờ chiếm được làng Gu-jô-vô của tôi đâu. Cô nghĩ rằng ông anh tội nghiệp của tôi lại cho phép chúng nó làm điều đó ư? Một luồng phấn chấn trào lên trong người tôi, khích động nghị lực chiến đấu của tôi. Hiển nhiên như vậy rồi. Quân địch đâu có thể chiếm được làng Gu-jô-vô của chị Đu-ni-a, tôi muốn nói: chiếm mãi mãi? Làng Gu-jô-vô với khu rừng có ma, với những con ngựa hay cắn, những con ngống dữ dằn và nhất là với ông anh mới vui tính làm sao, tốt bụng làm sao và không hề biết sợ hãi là gì? Không bao giờ địch chiếm được Gu-jô-vô! Và không baogiờ địch chiếm được Lê-nin-grát! Không thể nào như thế được! Phi lý! Tất cả những gì đã xảy ra, chỉ là tạm thời, là những ảo ảnh trong cơn mê sảng, là chuyện điên cuồng. Chúng ta sẽ giữ vững, chắc chắn như vậy ... Và nếu cái chết có xảy đến thì với tôi ...Nhưng mà nó không thể xảy đến đâu: Cái chết không tồn tại mà! Vừa lúc ấy, tôi nghe ba tôi gọi. Tôi chạy đến với người. Ba tôi bước nhanh, mình mặc chiếc áo ra-giơ-lăng xấu xí đã cũ trông giống hệt một chiếc váy đàn bà, đầu đội chiếc cát-két ka-ki cổ lỗ, có lẽ còn lại từ thời chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và qua ánh mắt vui tươi trong đôi mắt xanh của người, không biết một cái gì trẻ lại trong giọng nói của người, tôi đoán ra rằng ba tôi cũng như tôi, đang nung nấu quyết tâm vui vẻ đương đầu với cái chết, quyết tâm tự cho mình bách chiến bách thắng ... - Con vừa về thăm bà đấy à? – ba tôi náo nức hỏi. – Tốt lắm! Ba cũng vừa thoát được cái bệnh viện của ba được một phút ...Con đợi ba nhé: ba trở lại ngay. Chúng ta sẽ cùng đi đến đại lộ Xsơ-lút-xen-bua – Và đột nhiên giọng giận dữ - Các cô làm sao lại đứng trơ ra cả đây, ngốc ơi là ngốc? Ít ra cũng phải vào dưới mái nhà kho kia mà đứng chứ! Nó mà rơi xuống đây cái vại ấy thì các cô đi đời ! Nào tôi có coi ra gì cái vại ấy! Thế nhưng cho đến hôm nay, mỗi trận máy bay ném bom, mỗi trận đại bác bắn phá (là cán bộ làm công tác chính trị, tôi không xuống hầm trú ẩn) đều gây cho tôi những cơn hãi hùng mệt lả, đến nỗi sau khi báo yên, tôi cảm thấy như người tôi chỉ còn có chân và đầu, đằng này gan bàn chân tôi lạnh toát, và ở đằng kia, mặt tôi đã trở thành một tảng nước đá. Còn thân mình và hai cánh tay thì đã biến đâu mất rồi . Ấy thế mà ngày hôm ấy, tôi bình tĩnh. Ơ-đô-xi cọ vào mặt tôi đôi má đẫy đà ram ráp của chị . - Chào cô Ôn-ga nhé! Và nhớ đấy: chớ có tin chuyện nhảm nhí của bọn Đức, chớ có phơi người ra dưới bom đạn của chúng, và nhỡ có xảy ra việc gì thì cần nhất là không được quên, phải mang ngay cái mặt nạ phòng hơi độc của cô vào! Đồng chí chỉ huy đã giải thích cho chúng tôi rõ mà, cái mặt nạ phòng hơi độc ấy. |
"KHÔNG AI CHIẾM ĐƯỢC GU-JÔ-VÔ" Tiếp theo - Olga Bergon
Bước được mấy bước, chị quay lại nói thêm, giọng buồn buồn :
- Thế là tôi vẫn chưa biết đọc biết viết! Nhưng mà tôi sẽ học sau chiến tranh, tôi sẽ học. Tôi đã hứa với Đức Chúa trời là tôi sẽ học! Chị giơ lưỡi cuốc lên doạ trời rồi bước đi, người đong đưa trên bộ mông to béo, bên mông lủng lẳng chiếc mặt nạ phòng hơi độc quý hoá. Tôi bật cười : tôi vừa nhớ lại lời một giáo viên ở nhà máy “Ê-lếch-tơ-rô-xi-a” lên lớp về cách phòng thủ thụ động. Anh ta sa sả : “ Trong những trường hợp có báo động máy bay thả hơi độc, thì ta phải làm gì? Phải mang ngay mặt nạ phòng hơi độc, và phải đi ngay đôi ủng cao su dùng để phòng nhiễm độc” Ba tôi ra khỏi nhà. Vẻ mặt ba tôi nghiêm trang, chiếc cát-két cầm ở tay : - Bà ngoại rất có phong độ trước cái chết – ba tôi khẽ nói. – Cầu cho linh hồn bà được thanh thoát!... Ba tôi lắc đầu như thể trút một gánh nặng, nở một nụ cười kiêu hãnh ( tôi hiểu rõ ông cụ lắm : một nụ cười thách thức đấy ) và nói thêm : - Ta đi đi con, có vẻ sắp yên rồi đấy . Hai cha con tôi bước nhanh trên vỉa hè cũ kỹ lát bằng gỗ của đại lộ Pa-lép-xki, lòng tràn đầy niềm vui của những con người dám coi thường cái chết. Câu chuyện của chúng tôi có tính chất gợi ý hơn là nói bằng lời, gồm những câu cụt lủn, hầu như không thể nào thuật lại cho chính xác . Ba tôi đưa mắt liếc nhìn tôi : - Chính uỷ ư? - Gần như thế : cán bộ công tác chính trị. Thêm việc ở Đài phát thanh. Mỗi thứ một tí. Đập lại luận điệu địch. Và vẽ cả tranh cổ động TASS nữa. Tôi gắng nói ra vẻ thản nhiên nhưng thâm tâm không thể nào giữ nổi tự hào và vui thích. Chả là người hỏi là ba, ba tôi mà tôi trước kia bao giờ cũng kính sợ. Thế mà hôm nay dưới bom đạn, tôi đi sát với ba tôi như một người lớn, đi với ba là người đã tham gia hai cuộc chiến tranh, mà đâu có phải chiến tranh thường! Hai cuộc chiến tranh ... Bắt đầu là đánh nhau với quân Đức của vua Vin-hem đệ nhị, tôi đã trông thấy lão ta qua bức chân dung in trong tạp chí Ni-va : đôi mắt lườm lườm, một bộ râu mép kinh khủng với hai cái đuôi nhọn leo lên gần đến tận mắt, đến cái mũ của lão cũng có cái chóp nhọn hoắt như chòm râu của lão vậy. Một lần, ba tôi ghé qua nhà nghỉ vài ngày vì đoàn tàu cứu thương của người dừng lại gần đấy, ở một nơi gọi là Xu-va-ki, ba tôi có mang về cho chúng tôi một chíêc mũ giống hệt như vậy để làm đồ chơi, một chiếc mũ có chóp nhọn được tô điểm một con đại bàng gớm guốc, lưỡi thè ra và chân thì giương giương bộ móng kẻ cướp. Tệ nhất là cái mùi: một mùi chua chua, nặng nề không làm sao chịu nổi, mùi chiến trận. Cả Mu-xi-a nữa, hai chị em tôi nhận ra ngay cái mùi ấy, và thế là chúng tôi không chơi với cái mũ. Chúng tôi lật đi lật lại, và không để cho ai trông thấy, hơi lờm lợm chúng tôi lặng lẽ quẳng lên trên lò sưởi... Sau đấy, ba tôi tham gia chiến tranh đánh bọn Bạch về ở miền Nam, chống Vơ-răng-ghen, chống Ca-lê-đin, chống Krát-xnốp. ba tôi chỉ huy một đoàn tàu cứu thương “ Những con đại bàng đỏ ”. Sau khi đưa chúng tôi từ U-gơ-lích về Pê-trô-grát, ba tôi lại ra đi cùng với nhiều người khác lên miền băng tuyết, để đánh tan cuộc nổi loạn phản cách mạng ở Krông-xtát. Ông cụ săn sóc những người bị thương ở mặt trận, vì ba tôi là một nhà phẫu thuật quân y, nổi tiếng nữa là khác. Ấy thế mà, lần đầu tiên trong đời, không chỉ như một người lớn mà đúng hơn, như một người lính chiến, và đây là điều đã ngầm thức tôi ba hoa về những công việc chiến đấu của mình với một giọng cố làm ra vẻ thản nhiên Tôi nói rõ thêm : - Toà báo của quân đoàn lại muốn xin con vào làm. Nhưng phải khước từ thoi, vì bận quá - Ba tôi thở phì phò, cánh mũi phồng ra và đôi lông mày cau lại, dấu hiệu ba tôi buồn da diết hoặc bực tức hết sức. - Thế đấy, người ta cho đàn bà con gái làm được việc, còn mình người ta tống đến chỗ an nhàn ! - Sao cơ? - Ba muốn xin vào tự vệ chiến đấu ... Ba tôi tôi im lặng một lát mới trả lời, và giọng ông cụ nghe thảm thiết, đáng thương, ngây thơ đến mức mặc dù đang lên gân tôi vẫn nghẹn ngào : ba tôi, người lính già qua hai cuộc chiến tranh, ông cụ ganh tị với tôi ! - Ba điên ư? – tôi đáp, cố lấy giọng hết sức lạnh lùng.- Với tuổi tác của ba ? Với bệnh tim của ba mà đòi sung vào tự vệ ? - Đúng là những điều mà các đồng chí của cô đã nói với tôi – ba tôi càu nhàu – “ bác sĩ a, nghề nghiệp của bác sĩ là khám cho những người cần tuyển vào quân đội hoặc dân quân ”...Mà ba thì lại rất muốn vào dân quân. Làm như tự vệ chiến đấu không còn cần một nhà phẫu thuật quân y, một người đã quen công việc cấp cứu ở tuyến đầu... Các đồng chí của cô toàn một bọn quan liêu tất ... |
"KHÔNG AI CHIẾM ĐƯỢC GU-JÔ-VÔ" Tiếp theo - Olga Bergon
Từ ngày cưỡng lại ý của ba tôi, tôi rời khỏi Cửa ô Nép-xki, ba tôi coi Đảng cộng sản cùng những thắng lợi, sai lầm của chúng ta cũng như toàn bộ lịch sử như là quyền sở hữu cá nhân của tôi. Ba tôi nói : “ cái kế hoạch năm năm của cô có vẻ như sắp cho ra một cái gì ! ” Hay là : “ Đấy, lại là các ông đồng chí của cô đặt cái cày đi trước con trâu rồi ”. Nói chung tất cả đều là của tôi, và tôi chịu trách nhiệm trước ông cụ về tất cả những gì xảy ra trên đất nước, tình thế ấy đôi khi cũng đến là tế nhị.
Và giờ đây, kẻ bị ba tôi chỉ trích vẫn là tôi, ông cụ ganh tị và đi càu nhàu với tôi vì một điều rất vô lý là tại sao người ta không chịu nhận một ông già vào tự vệ chiến đấu. Nhưng sự ganh tị và càu nhàu của ba tôi chỉ làm tăng thêm niềm vui thần diệu, tăng thêm sự tự do và luồng ánh sáng cuồng nhiệt đang tiếp tục dâng lên trong tôi. Đi đến ngã tư hai đại lộ Pa-lép-xki và Xso-lút-xen-bua gặp nhau, chúng tôi dừng lại. Cách đây chưa lâu lắm, đâu đây gần chỗ này có dựng lên một nhà vệ sinh tiểu tiện bằng tôn lượn sóng, mà bên dưới trống hoác nhìn thấy rõ quần của những người vào đi giải. Tôi còn nhớ rất rõ cái nhà vệ sinh này: là tặng phẩm của các nhà buôn yêu nước yêu nước trong khu phố, nó được xây dựng nên năm 1915, mái của nó mô phỏng cái mũ nhà binh có chóp nhọn, có gắn huy hiệu con phượng hoàng của nước Phổ. Trước mặt xế về bên trái ( dù sao cũng mới như hôm qua đây thôi ) có một cái điếm khác, cái này dùng vao việc thương mại : một cái quán gỗ lung lay, đúng hơn là một cái giá hàng, bên trên có một tấm biển gỗ run rẩy ở đầu hai con sào dựng đứng. Dưới nơi trú ẩn không lấy gì làm an toàn ấy, vào cữ đầu thời kỳ Tân kinh tế, lão Gơ-rê-goa đã dựng lên một cái mà lão gọi là cửa hiệu, bày bán kẹo thơm và kẹo ca-ra-men. Sáng nào cũng vậy, trên đường đi học, ngang qua quán, tôi lại hỏi : - Cụ Gơ-rê-goa ơi, hôm nay bao nhiêu tiền một chiếc kẹo ca-ra-men mềm, hở cụ? - Hai trăm tám mươi triệu – lão trả lời lạnh như tiền. Dạo ấy đang thời kỳ lạm phát, đồng rúp xuống giá rất nhanh, đến nỗi sau đấy thật là dễ chịu và thoạt tiên hơi sửng sốt nữa khi thấy những con số tỉ và con số triệu thốt nhiên biến thành những đồng rúp đơn giản, thậm chí thành những đồng năm, mười cô-pếch, rồi xuất hiện những đồng tiền đúc đầu tiên : một đồng rúp bằng bạc thật, những đồng năm hào, hai hào; những đồng năm cô-pếch bằng đồng khá nặng và những đồng nửa cô-pếch bé tí hon. Trên đồng bạc có hình một nông dân và một công nhân bá vai nhau nhìn ra xa xa, sau lưng họ, mặt trời đang mọc... Ngày nay, cái quán của lão Gơ-rê-goa đã biến mất, và cũng đã mất tăm cái nhà tiểu tiện có mái hình chiếc mũ nhà binh. Nhưng tôi vẫn nhớ như in đến nỗi dường như vẫn trông thấy nó rành rành trước mắt. - Thôi nhé, chào con, con gái của ba ! – Ba tôi im lặng một giây rồi hỏi, giọng thấp hơn một chút - Thế còn Ni-cô-lai ? - Thoạt đầu, khi mới bắt buộc phải giải ngũ, anh ấy rất đau khổ. Đặc biệt khi chính đại đội của anh ấy yểm hộ cho cuộc rút lui từ Kin-gi-xép ! Bây giờ, tinh thần anh đã khá hơn : người ta đã cho anh sung vào Đội phòng thủ thụ động, anh viết bào cho tờ náo của quân đoàn, và ba biết đấy, anh ấy còn còn tiếp tục công trình nghiên cứu về Léc-môn-tốp và Mai-a-cốp-xki. - Ồ! Mai-a-cốp-xki, - ba tôi nói – ba tkhông thích ông ta, Ét-xê-nhin, tay này thì ba còn hiểu được . - Ba sẽ yêu Mai-a-cốp-xki, chừng nào ba đọc bài nghiên cứu của Ni-cô-lai.Chiến tranh kết thúc, anh ấy sẽ bắt tay vào một tác phẩm mới : Năm nhà thơ : Pu-skin, Léc-man-tốp, Nê-cơ-ra-xốp, Bơ-lốc và Mai-a-cốp-xki. Anh ấy có rất nhiều ý kiến mới! Mới sơ thảo, anh ấy đã viêt rất nhiều, viết ngay cả vào dạo này, nhưng hôm anh không phải thường trực ... Ba tôi ngắt lời tôi : - Cả hai con hãy đi đi – ba tôi nói mà không dám nhìn vào mắt tôi.- Các con nhất thiết phải đi khỏi nơi này. Bất cứ bằng phương tiện nào. - Thế ba, ba có đi không ? Ba còn muốn sung vào tự vệ nữa cơ mà ... - Cái đó khác ! – ba tôi phản đối, hơi cao giọng một tí - Người xưa nói : Khốn cho kẻ nào bỏ thành phố của mình đang bi bao vây... - Đúng ! Chính vì vậy mà chúng con ... - Với bệnh tình của nó, Ni-cô-lai không chịu đựng nổi đâu – ba tôi lại nói, gần như lí nhí trong họng. Đang nói ba tôi dừng phắt lại, lắc đầu và thốt lên gần như vui vẻ: - Chúng mình ba hoa quá ! Thôi đi, cô bé, công việc đang chờ chúng ta ! Con khoẻ nhé ! Ba tôi vỗ nhẹ vào vai tôi, không hôn tôi, không cả bắt tay, rồi quay sang đi vào đại lộ Xsơ-lút-xen-bua, mà không hề dừng hoặc ngoái đầu lại. Ông cụ gần như chạy... |
"KHÔNG AI CHIẾM ĐƯỢC GU-JÔ-VÔ" Tiếp theo - Olga Bergon
Ba tôi không khoe khoang làm phách, không tự đè nén mình : Chỉ là cũng như tôi, ba tôi biết rằng chúng tôi không thể chết. Tôi nhìn theo chiếc áo khoác ngoài phồng lên một cách kỳ cục của người khuất dần về phía Cửa ô Nép-xki, ở đấy có xưởng máy ba tôi làm việc, có bệnh viện của dì Va-ri-a, nhà máy đúc Ô-bu-khốp, nhà máy lớn nhất ngoại ô, nơi những đám mây tròn dựng đứng giống một bức thành đẹp như trong kinh thánh, những đám mây ấy, vừa mới đùn lên đang gầm gừ, lọc ọc mỗi lúc một mạnh hơn. Tôi nhìn những đám mây, và đột nhiên toàn bộ cuộc đời trải ra trước mắt. Với một tốc độ không lời nào tả nổi, nhiều hình ảnh vụt qua đầu óc tôi, những bức tranh toàn cục về cuộc đời riêng của tôi và cuọc đời đất nước xen lẫn với những kỷ niệm về những điều xảy ra ngay cả trước khi tôi có trí nhớ.
Không, không phải tôi chỉ nhớ lại những cái đó. Những gì đã có, những gì đang có và những gì sẽ có, tôi đều sống cả cùng một lúc. Đây là những cảnh sống lại trong nháy mắt, không có liên hệ với nhau, tản mạn, nhưng cùng hoà vào một dòng thác, hay đúng hơn, vào một cái gì không rõ giống như sóng nhào ngoài biển Nam, một niềm vui không sao chịu nổi và gần như đau đớn nữa đang rào rạt trào lên trong người tôi. Xưa kia, người ta từng nói đến cái tận cùng của Thời gian. Thật đúng như thế đấy. Tôi đã biết, bây giờ tôi đã biết sự vật sẽ ra thế nào khi không còn có thời gian. Đến ngày ấy, thời gian tự huỷ diệt. Tất cả đều cuộn lại thành một quả cầu sáng chói : mọi thời gian, mọi sự sống đều ở trong tôi. Những hàng rào ngăn cách sống và chết, nghệ thuật và cuộc đời, quá khứ, hiện tại và tương lai thảy đều sụp đổ. Những hàng rào ấy tỏ ra mong manh, giả tạo làm sao ! Thực dễ dàng biết mấy bằng một trực cảm duy nhất. Thường thức toàn bộ cuộc đời, thưởng thức tất cả chất thơ cũng như tất cả bi kịch của nó. Ở nơi kia, trên cái mép đầu cùng, trên cái mép cuộc đời, ở góc đại lộ Pa-lép-xki và Xsơ-lut-xen-bua giao nhau này, giữa hình bóng kỳ quặc của những lâu đài quá khứ, vào lúc tiếng đạn bom chợt im dần : Bầu trời là sợi dây da xanh Cháy trong huyết quản tôi ... Chỉ cần một khoảnh khắc để tập hợp cuộc sống lại và tốn nhiều trang giấy để nói việc đó lên. Những khoảnh khắc của một cuộc đời vọt lên như một ngọn lửa chớp nhoáng. Sau đây tôi sẽ không tìm cách giải thích. Nhìn theo hình dáng ba tôi khuất đằng xa, tôi nghĩ rằng ông đang đi đến xưởng máy của người, cái xưởng lần đầu tiên đã đăng những câu thơ của tôi, những câu thơ viết về Lê-nin. Và tôi thả tâm hồn trôi theo ngọn sóng cồn, theo hơi ấm, theo ánh sáng của Người .... |
LÊ-NIN - Olga Bergon
LÊ-NIN
Lê-nin đã nhập vào ý thức tôi khi tôi còn bé tí, khi tôi còn mơ đến làng Gu-jô-vô của chị Đu-ni-a, vào buổi tiếp xúc đầu tiên với ngọn lá sồi và tảng đá cô đơn của Léc-môn- tốp, vào quãng thời niên thiếu ấy, mơ hồ như buổi rạng đông mà hư với thực còn lẫn lộn, mà chỉ cần một lời bóng gió thôi cũng đủ để dựng lên một truyện thần kỳ và để tin vào chuyện ấy... Cuộc chiến tranh chống Vim-hem cứ kéo dài mãi. Ba tôi vẫn ở ngoài mặt trận. Ba tôi không có dịp trở về thăm chúng tôi nữa ngoài cái lần duy nhất người mang về cho chúng tôi cái mũ nhà binh. Chúng tôi bắt đầu quên ba tôi, không hiểu bây giờ hình dáng người ra sao. Mùa hè đến. Mùa hè năm ấy chúng tôi ở Phần-lan. Những ngọn lá thông nhọn như kim, và mùi nhựa thông làm cho không khí tê mê vì hơi thở nóng hổi của nó. Một mùi hương tinh tế của cái ấm và của bờ biển luồn vào không khí. Và những người lớn tuổi thì thầm những tin tức đáng lo âu: - Ở Pê-trô-grát, vừa xảy ra một cuộc biểu tình ghê gớm của công nhân các nhà máy ... - Hình như trên đại lộ Nép-xki, nhất là về phía Xa-đô-vai-a, thật không thể nào tin được ... toàn là cờ đỏ và cờ đỏ. Cả mấy nghìn lá cờ. - Chính Lê-nin đã cổ vũ họ đứng lên đấy. - Tất cả các nhà máy đều đi theo Lê-nin. Cả những công nhân ở xưởng đúc cũng hành động rồi ... - Lê-nin trở về bằng xe bọc thép đấy! - Trời! Đi qua Đức giữa thời buổi này thì nguy hiểm biết chừng nào! Chỉ nghĩ đến chuyện ấy thôi đã thấy ghê người ... - Thế mà vẫn không ngăn được Lê-nin đi đấy. Chả là người quá sốt ruột muốn trở vềcùng với công nhân Pê-trô-grát mà. Chỉ cần có thế là trí tưởng tượng của tôi đủ xây dựng nên hình dáng thần thoại của một Lê-nin dũng mãnh và vạn năng, người mà tất cả các nhà máy đều tiến bước theo sau. Tôi đã nhiều lần trông thấy những dòng thác người đông đúc và dày đặc tuôn ra khỏi các cổng rộng mở của xưởng máy nơi ông tôi làm việc. Một tiếng rì rào dâng lên từ đám đông ấy. Mà bây giờ lại là tất cả các nhà máy cùng tiến bước cơ. Tiến bước theo Lê-nin, chỉ theo Lê-nin mà thôi. Tất cả đám đông ấy tiếp tục tiến lên, không ngừng, không nghỉ. Để đi theo Lê-nin, cả nhà máy đúc thép cũng đứng lên, những nhà máy đúc mà buổi tối nhìn qua các cửa sổ chúng tôi thấy ánh lửa cháy run rẩy và hãi hùng, mà không biết một cái gì nặng nề và to lớn cứ chạy ầm ầm đến nỗi ngồi trong các buồng cũng nghe rõ. Ấy thế mà cái xưởng ầm ầm như sấm dậy, cái xưởng toả ra một luồng ánh sáng đỏ hực phập phồng ấy, tất cả đều tiến bước sau Lê-nin... Và Lê-nin đã đi ngang qua nước Đức, ở đó Vin-hem, tên vua có bộ râu mép gớm ghiếc và chiếc mũ chóp nhọn vắt vẻo con đại bàng đang ngự trị cái nước Đức quê hương của hàng triệu người râu xồm không kém phần khủng khiếp mà ba tôi và bao nhiêu là lính tráng phải đi đánh nhau với chúng. Nhưng Lê-nin đã không sợ đi ngang qua nước Đức, mà lại đi trong một toa xe không phải như một toa xe bình thường, một toa xe mà người ta gọi là bọc thép, bởi vì Người sốt ruột muốn đựơc về với những công nhân Cửa ô Nép-xki của chúng tôi, với xưởng đúc của ông nội tôi và nhà máy Ô-bu-khốp của chú Su-ra ... Tiếp đấy vọt lên trong ký ức cái đêm khiếp đảm, hôm đó tôi nép mình vào người chị Đu-ni-a, bởi vì một luồng ánh sáng đỏ rực vừa nhuộm hồng các cửa sổ căn buồng, như vậy có nghĩa là một đám cháy xảy ra cách đây không xa (trên đời này không sợ gì hơn sợ cháy nhà, người tôi cứ run lên cầm cập ). Và Ơ-đô-xi, mắt không rời khỏi các cửa kính phản chiếu, những tia sáng ửng hồng đã ôm chặt tôi vào bên sườn chị mà thì thầm: - Không hề hấn gì đâu, Ôn-ga ạ : đó chỉ là cái đồn cảnh xát đang cháy đấy thôi ...Lại những người ở trong xưởng máy của ông nội Ôn-ga không chịu yên đấy mà ... Đã quật hoàng đế xuống đất rồi còn chưa đủ cho họ sao? Bây giờ họ lại đốt đồn cảnh xát nữa ! Chớ có hãi, em ngoan ạ! cháy xa lắm, không xợ ngọn lửa táp đến chúng mình đâu. |
LÊ-NIN (tiếp theo) - Olga Bergon
Tôi cũng chẳng hiểu tại sao, không phải vào tháng hai mà đến tháng mười năm 1917 mới thấy cháy đồn cảnh sát ở ngã tư đại lộ Pa-lep-xki và Xsơ-lút-xen-bua, nơi về sau sẽ mọc lên cái quán bán kẹo ca–ra-men của lão Gơ-rê-goa, kẻ hèn mọn, phất lên nhờ chính sách Tân kinh tế. Buổi sáng, theo mẹ ra đường, chị em tôi còn nhìn thấy những đống gạch vụn của đồn cảnh sát bốc khói. Ở đại lộ Xsơ-lút-xen-bua, những chiếc xe vận tải mở hết tốc độ phóng qua, trên xe có những bác thợ mặc áo va-rơi da tì tay lên súng và những chú lính thuỷ, người ràng chằng chịt bao nhiêu là băng đạn súng máy, và ngực đeo những tấm băng đỏ to tướng căng phồng trước gió.
Ở Cửa ô Nép-xki, người ta bàn tán mỗi một chuyện là Lê-nin. Và tên của Người gắn liền với những tiếng âm vang ghê gớm, hùng vĩ như “ Xô-viết ”, “đại biểu nhân dân ”, “cách mạng ”, vì thế tên Người hiện lên trong thời thơ ấu của tôi bao giờ cũng ghê gớm hơn, thần kỳ hơn. Rồi gia đình chúng tôi dọn về U-gơ-lích, ở đây tôi bắt đầu đi học. Lớn dần lên, tôi học tập và cũng như mọi học sinh khác, tôi biết rằng Vơ-la-đi-mia I-lích U-li-a-nốp Lê-nin đứng đầu Hội đồng Dân uỷ, rằng Người là lãnh tụ của chúng ta, chính Người đã chỉ bảo nhân dân ta cách đánh thắng lão Kôn-sắc và tất cả lũ Bạch vệ hung ác ấy như thế nào, chính vì bọn chúng nó mà chị em tôi phải chịu đói rét đến thế, chính vì chúng nó mà chúng tôi không còn có ba ở nhà. Vơ-la-đi-mia I-lích Lê-nin, lúc nào Người cũng nghĩ tới chúng tôi. Lúc nào Người cũng chăm sóc chúng tôi. Chao! Chúng tôi tin tưởng ở người biết bao! Về sau, trên đường từ U-gơ-lích về Pê-trô-grát trong toa tầu đêm đầy những người khốn khổ mà một nửa đã nhiễm bệnh thương hàn, tôi chợt thức giấc vào lúc rạng đông và chợt nghe được ông già nói về đập nước Vôn-khốp-xtơ-rôi, nhà máy thuỷ điện sẽ rọi ánh sáng ngập tràn nước Nga. Chính Lê-nin đã bảo cần xây dựng nên đập Vôn-khốp-xtơ-rôi ấy. Rồi năm 1920, trong ngôi nhà gỗ cũ của chúng tôi ở Cửa ô Nép-xki, những bóng đèn điện đầu tiên được bật sáng. Người ta gọi chúng là những “ngọn đèn của I-lích ”...Lê-nin, đúng là một sức mạnh tuyệt vời, đôi khi cũng hơi đáng sợ, một luồng ánh sáng đẹp đẽ, nhân hậu đã từ thuở ấu thơ nhất của tôi nhập sâu vào con tim thế hệ chúng tôi. Chúng tôi càng lớn lên, hình ảnh của Người càng thêm gần gũi với con tim và lòng kính yêu của chúng tôi đối với Người càng mang tính người một cách sâu sắc, nó tự nhiên, thường xuyên, êm dịu, giống như hơi thở của con người khoẻ mạnh. Khi Người lâm bệnh chúng tôi lo sợ biết bao! Cùng với nhà thơ, chúng tôi lập lại, chúng tôi bập bẹ, chúng tôi ước nguyền : Một bóng đen làm mờ mùa xuân “ Thông báo của chính phủ ...” Không ! Không thể được ! Không thể nào tin được ! Ở trường, chúng tôi chuẩn bị tối kỷ niệm lần thứ mười chín Ngày chủ nhật Đẫm máu năm 1905. Chúng tôi lo sắp đặt lớp lang. Chúng tôi duyệt lại những hoạt cảnh trình bày tập thể và những bài đồng ca (học sinh hát những bài hát cách mạng : Bão lốc thù địch, Nhưng chiến sĩ bị tù đày). Chúng tôi chuẩn bị như chính chúng tôi đi đánh trận thật, trên các chiến luỹ vậy. Những vỉa hè trở thành chiến luỹ Không phải là nơi trú chân của bọn tư sản! ... Ở miệng chúng tôi, đây không còn là một bài hát nữa : nó đã trở thành một tiếng thét. Chao! Chúng tôi mong muốn làm sao được lên tới các chiến luỹ ấy. Chúng tôi ước mong làm sao, ước mong thật sự, đựơc hy sinh vì cách mạng! Tiếng ầm ầm của những chiếc xe con chở súng liên thanh, ngọn lửa bốc lên từ những đám cháy, hơi nóng của những bếp lửa trại đóng quân, mùi hôi của những bếp lò bằng gang nhỏ, những cơn mê sảng của bệnh nhân mắc thương hàn, những năm tháng đói rét đến thế của cuộc nội chiến đã qua, giờ đây để lại đựơc chúng tôi coi như là một thời đại vàng son. Chúng tôi đã quên rằng, dù sao mình cũng từng tham gia cuộc nội chiến, tham gia theo cách của trẻ con, mà đâm ghen tị với những người đã được cái may mắn ra đời đúng lúc để có thể nắm vũ khí trong tay, chiến đấu cho cách mạng. |
LÊ-NIN (tiếp theo) - Olga Bergon
Bù vào chỗ đó, chúng tôi có cuộc biểu tình phản đối lo* Cơ-giơn (* huân tước, một danh vị quý tộc Anh-ND). Lão ta đe doạ sẽ mở một cuộc can thiêp mới, nghĩa là mở lại chiến tranh, đói khát, một mùa đông rét mướt khác như hồi ở U-gơ-lích. Chúng tôi mang hết nhiệt tâm để làm việc ấy. Truờng học trống trải hẳn đi. Học sinh chuẩn bị một tấm băng kẻ bằng những nét chữ đen xiên xẹo khẩu hiệu mà ở Cửa ô ai cũng biết : “ Ngài huân tước ấy, chúng ta sẽ đập vỡ mặt người ra ”. Và chúng tôi khéo léo len lỏi vào làn sóng công nhân các nhà máy dệt, nhà máy đúc, nhà máy sợi, một dòng thác nóng bỏng đang thét gào, làm cho hè phố rầm rập tiếng giày, dội vang tiếng hô khẩu hiệu và cuồn cuộn biểu ngữ, băng cờ. Ngay từ đầu, chúng tôi đã bước rập như những người lớn : lớp 2B chúng tôi còn được cả sự may mắn diệu kỳ là đi sát ngay sau chiếc xe vận tải chở một cáí quan tài đen thui. Một công nhân rất đẹp, một chú công nhân trẻ bằng xương bằng thịt hẳn hoi, mặc bộ quần áo lao động màu xanh ghì chặt một con sào to tướng xuyên chéo qua nắp quan tài. Một tấm vải điều căng dọc thành xe, có câu : “ Chúng ta sẽ đóng cọc vào quan taì của giai cấp tư sản thế giới ” * ( Dân gian Nga xưa tin rằng, đóng một cái cọc vào quan tài của những tên phù thuỷ thì cái ma của chúng không thể tác quái được nữa ). Bị cuốn hút vào sóng người đang đổ vào thành phố, chúng tôi xuôi theo đại lộ Xsơ-lút-xen-bua men bên ngoài những xưởng máy cũ kỹ, ảm đạm của Xê-mi-ni-cốp-xki, những ngôi nhà gỗ, những túp lều ván. Ánh lửa căm hờn nhảy nhót trên những khuôn mặt nhem nhuốc, ròng ròng mồ hôi, đầy bụi ghét: chả là mọi người từ vừa xưởng máy xuống thẳng đường mà. Đường phố nồng nặc mùi dầu máy bẩn, mùi bụi bặm của các xưởng dệt, mùi cặn của nhà máy Xtê-a-rin. Lúc đoàn biểu tình đi ngang qua trước nhà máy Xê-mi-ni-cốp-xki, từ trên xe một người nào đó thét lên : “Đả đảo những con cá mập đế quốc chủ nghĩa ! ” Chúng tôi đồng thanh hô : “Đả đảo! Đả đảo ! Đả đảo ”. Rồi lấy hết gân cổ thi nhau hát, ai cũng cố gào hco thật to, át tiếng người đi bên cạnh.
Lũ quân Trắng với lão nam tước Đen Định dựng chiếc ngai cho Nga Hoàng Nhưng từ thảo nguyên đến tận các biển thuộc địa Anh Không có đạo quân nào dũng cảm bằng Hồng quân Tiến lên, Hồng quân! Đôi bàn tay chai cứng Hãy nắm chắc lưỡi lê ! Quết chiến, hỡi tất cả anh em ta Quyết tử chiến Tiến lên, đây là trận cuối cùng ! Tiếp đó, chúng tôi hát bài : “Hướng về phía trước, bước đều, hỡi đồng chí ta ”, “ Thế giới ngập tràn đại dương nước mắt ” trong đó lặp đi lặp lại điệp khúc xúc động về lá cờ : Đây màu đỏ, màu căm hờn Đây màu đỏ, màu các đồng chí ta ... với nhiều bài hát khác nữa. Chúng tôi hát không biết bao nhiêu lần bài Quốc tế ca : Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian ., Điều đáng ngạc nhiên là bài nào cũng không còn khúc hát nữa. những “ biển thuộc địa Anh ”, những “ quyết chiến hỡi tất cả anh em ta ” đều trở thành thực tế chân thật, thực tế đơn giản về Hồng quân, về ý chí sẵn sàng chiến đấu. Chúng tôi không hát, mà nói lên, mà giãi bày những điều đang nung nấu trong tim ; tất cả chúng tôi, công nhân, và các thầy cô giáo đi bên cạnh chúng tôi, ai ai cũng đều làm như vậy. * * * |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:38. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.