![]() |
Nikolai Gumilev (Николай Гумилёв, 1886-1921)
Chép ra đây hai bài của Nikolai Gumilev viết về An Nam và Lào. Đọc xong mà lòng thấy nao nao một nỗi niềm khó tả.
Аннам Месяц стоит посредине Дивно-огромного неба, Ветер в бамбуковой чаще, Благоухающий воздух, Благословенна семья. Старшие в роще за чаем, Пьют и стихи повторяют, Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, Новорожденный кричит. Тот, кто живет этой жизнью, Полное знает блаженство. Что ему деньги и слава, Если он верит, что детям Должно его пережить? :emoticon-0100-smileAn Nam Vầng trăng lơ lửng treo Giữa khung trời vô tận Gió quanh quẩn rặng tre Hương thơm tràn mát đậm Cả gia đình bằng an Những người lớn uống trà Đọc thơ ngoài vườn biếc Đàn trẻ đùa trong nhà Hồn nhiên và ríu rít Tiếng khóc nào oa oa Cảnh đời hoan lạc thế Nào có nghĩa gì đâu Những bạc tiền, danh giá Nếu ta biết đời sau Luôn hậu sinh khả úy (Hồng Thanh Quang dịch) Лаос Девушка, твои так нежны щеки, Грудь твоя — как холмик невысокий. Полюби меня, и мы отныне Никогда друг друга не покинем. Ты взойдешь на легкую пирогу, Я возьмусь отыскивать дорогу. На слона ты сядешь, и повсюду Я твоим карнаком верным буду. Если сделаешься ты луною, Стану тучкой, чтоб играть с тобою. Если сделаешься ты лианой, Стану птицею иль обезьяной. Если будешь ты на горном пике Перед пастью пропасти великой, Пусть мне ноги закуют в железо, Я на пик твой все-таки долезу. Но напрасно все мое уменье, Суждено мне горькое мученье, Ты меня не любишь; и умру я, Как бычек, травы лишенный свежей, Без единственного поцелуя В щеку, где румянец нежен, свежий. :emoticon-0111-blushNước Lào Ơi cô gái, cặp má hồng êm ái Vồng ngực em như dải đồi thoai thoải Yêu anh đi và vĩnh biệt từ nay Ta chẳng bao giờ tay bỏ rời tay Thuyền độc mộc, em lướt như tên bắn Anh sẽ theo tìm đường ngay lối thẳng Em lên voi, và ở khắp mọi nơi Quản tượng là anh tận tụy suốt đời Nếu em bỗng hóa vầng trăng xa tít Anh thành mây, sẽ bên em quấn quít Còn nếu em hóa cây mọc cheo leo Anh thành chim - anh đậu, khỉ - anh trèo Nếu em lạc trên đỉnh đèo cao ngất Sát ngay bờ vực sâu muôn ngàn thước Anh vẫn bò lên được tới nơi em Dẫu đôi chân có bị nặng gông xiềng Nhưng vô ích mọi điều anh có thể Anh sẽ phải chịu khổ đau mãi thế Em chẳng chút yêu anh, anh sẽ chết Như con bò khi cỏ non cạn kiệt Không được hôn dẫu chỉ một lần thôi Lên má hồng, êm ái, dịu dàng tươi (Hồng Thanh Quang dịch) |
Trích:
Trích:
Chắc là ai đó sẽ có cảm giác là Nina ... khắt khe quá. Nhưng vẫn đành phải nói ra (một phần cũng vì yêu quý bác HTQ nữa đấy) - đoạn này bác hiểu chưa đúng rồi. Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, - hai câu này ý nói về bọn trẻ con đang học bài ê - a trong nhà ấy chứ, còn khuya mới được đùa! Bác nào đã đọc tiểu thuyết "Lều chõng" của Ngô Tất Tố hoặc mấy quyển tương tự thì chắc hiểu ý em - ngày xưa bọn trẻ con phải học thuộc đủ thứ mà nó chẳng hiểu gì, kiểu như đoạn sau Trích:
Trích:
|
Trích:
Gulinilev là nhà thơ tài năng, người chồng đầu tiên của Anna Akhmatova. Ông đã chết oan khuất dưới làn đạn của chính những người từng là đồng đội, đồng chí của mình. Anna Akhmatova mới thực sự là người dũng cảm, dám thể hiện tình yêu với người chồng cũ bằng những vần thơ: "Nước Nga ơi, sao người khát máu, Sao Người khát máu vậy, nước Nga ơi!" Và cũng dễ hiểu, bà đã hứng chịu những gì trong thời kỳ ấy. Vĩnh viễn Akhmatova và Svetaeva là những người phụ nữ huyền thoại trong văn học Nga và thế giới. Họ đã bị đày đoạ đến cùng cực. Còn Esenin ư, anh chàng đẹp trai và tài hoa đó chỉ biết lao vào du đãng, vào các cuộc chơi say bí tỉ, để rồi viết nhiều bài thơ tự xỉ vả mình... Nhưng vẫn không quên luôn ca ngợi CM, Lênin, chính quyền Xô Viết... Có điều, ông cũng không bao giờ quên và đã làm những bài thơ bất hủ về nước Nga mà ông yêu đến phút chót, để lại một di sản thi ca đồ sộ và bất hủ. Người ta yêu quý Esenin chủ yếu vì di sản văn học vô giá mà ông để lại, chứ ít ai say mê vì cái đời tư của ông...
Khổ cuối chưa thoát ý, vì Geo chưa hiểu thật rõ. Nhất là còn dấu chấm hỏi ở câu cuối. Geo hiểu đại khái: Người sống cuộc đời như vậy hiểu được đầy đủ nhất về hạnh phúc. Họ cảm thấy như được trời ban cho bạc tiền, danh vọng nếu biết chắc con cái họ sẽ vượt qua họ (hay sẽ tiếp tục duy trì được nòi giống, dòng họ...) Ai có ngọc ý gì xin đóng góp, nếu có thể xin dịch nghĩa 4 câu cuối. Ngoài ra Geo cũng muốn biết có tư liệu nào nói về những chuyến thảm hiểm của Nikolai Gumiliev đến Đông Dương không? Ông là nhà văn, đồng thời cũng là nhà thám hiểm thám hiểm mà). Thank. |
Phụ thêm về Nikolay Stepanovich Gumilyov và 2 bài thơ đăng trong topic này. 1. Hai bài thơ đăng trong topic này in năm 1918, trong tập “Фарфоровый павильон”, gồm có 2 phần “Китай” và “Индокитай”. Tạm không nói tới phần về “Китай” thì trong phần “Индокитай” có tất cả 5 bài thơ, gồm có: Аннам Месяц стоит посредине Дивно-огромного неба, Ветер в бамбуковой чаще, Благоухающий воздух, Благословенна семья. Старшие в роще за чаем, Пьют и стихи повторяют, Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, Новорожденный кричит. Тот, кто живет этой жизнью, Полное знает блаженство. Что ему деньги и слава, Если он верит, что детям Должно его пережить? Девушки Нравятся девушкам рупии С изображением птицы, Они покидают родителей, Чтобы идти за французами. Детская песенка Что это так красен рот у жабы, Не жевала ль эта жаба бетель? Пусть скорей приходит та, что хочет Моего отца женой стать милой! Мой отец ее приветно встретит, Рисом угостит и не ударит, Только мать моя глаза ей вырвет, Вырвет внутренности из брюха. Лаос Девушка, твои так нежны щеки, Грудь твоя - как холмик невысокий. Полюби меня, и мы отныне Никогда друг друга не покинем. Ты взойдешь на легкую пирогу, Я возьмусь отыскивать дорогу. На слона ты сядешь, и повсюду Я твоим карнаком верным буду. Если сделаешься ты луною, Стану тучкой, чтоб играть с тобою. Если сделаешься ты лианой, Стану птицею иль обезьяной. Если будешь ты на горном пике Перед пастью пропасти великой, Пусть мне ноги закуют в железо, Я на пик твой все-таки долезу. Но напрасно все мое уменье, Суждено мне горькое мученье, Ты меня не любишь, и умру я, Как бычок, травы лишенный свежей, Без единственного поцелуя В щеку, где румянец нежен свежий. Кха Где вы, красные девушки, Вы, что ответить не можете, Вы, что меня оставляете Ослабевающим голосом Звонкое эхо будить? Или вы съедены тиграми, Или вас держат любовники... Да отвечайте же, девушки, Я полюбил вас и встретиться С вами спустился в леса. С гор я увидел вас голыми Около чистого озера И прибежал, не подумавши, Что все вы - дочери месяца, Черной вороны я сын. Nguồn: http://kulichki.com/~risunok/literat...vil***39;on.htm 2. Thật đáng ngạc nhiên là Николай Степанович Гумилев khi đó lại không hề có mặt ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, ông viết những dòng này khi ông đang ở Paris bằng những kiến thức thu thập được ở đó và một trí tưởng tượng phong phú về miền Viễn Đông xa xôi. Nguồn: http://www.bestreferat.ru/referat-15602.html Về tiểu sử của ông, xin xem thêm ở đây: http://gumilev.ru/biography/80/ 3. Về cách hiểu đoạn cuối của bài “Аннам”, xin kính chuyển tới các bác tham khảo thêm bản dịch của Майя Журавель ra tiếng Anh: Annam. Look at the moon in the midst of Vastly magnificent sky bed; Hear the young winds among bamboo; Feel the air-heavy with fragrance. Families always are blessed! While parents rest in the grove, Drinking green tea, reading poems, House's alive with commotion: Children are busy with homework Wishing the newborn won't cry. If you enjoy this lifestyle, You will achieve true fulfillment. Why strive for fame and money When you believe that your children's Life must be longer than yours. Nguồn: http://gumilev.ru/languages/14/ 4. Về đoạn: Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети có người lại phân tích và cho rằng Николай Степанович Гумилев nói về lũ trẻ ê a chữ Quốc Ngữ (do ông đang ở Paris và chịu ảnh hưởng của tuyên truyền thực dân chăng!!!) Xin tham khảo thêm trong tài liệu sau: В.В.Ремарчук ФРАНЦУЗСКАЯ АДМИНИСТРАЦИЯ, ВЬЕТНАМСКАЯ ИНТЕЛЛИГЕНЦИЯ И КУЛЬТУРНЫЕ ПРИОРИТЕТЫ В КОЛОНИАЛЬНОМ ВЬЕТНАМЕ. Nguồn: http://www.iaas.msu.ru/res/lomo04/ecol/remarchuk.htm 5. Trong phần “Индокитай” này còn có một bài thơ: “Лаос”, đươc phổ nhạc, nghe cũng lạ. Nguồn: http://gumilev.ru/music/ Download nhạc ở đây: http://gumilev.ru/audio/LTTrack07.mp3 Tài liệu thu thập ở trên mạng, chẳng qua là giúp các bác đỡ phải kiếm tìm. Trân trọng cảm ơn các bác đã lưu tâm. Tuntin. |
Trích:
Annam Vầng trăng treo chính giữa Khung trời rộng khác thường, Gió lay lũy tre làng, Khí trời thơm mát lạ, Một gia đình yên ả. Người lớn, dưới tán lá, Uống trà và ngâm thơ, Từ trong nhà vọng ra Giọng ê a con trẻ Đang đọc Tam Tự Kinh, Tiếng khóc trẻ sơ sinh… Ai sống cuộc đời đó Sẽ mãn nguyện hoàn toàn. Những danh vọng, bạc vàng Cần chi, khi họ hiểu Lũ trẻ con có hiếu Sẽ sống lâu hơn mình? |
Em lại ... không đồng ý lắm với khổ thơ thứ hai của bản tiếng Anh - theo em thì trẻ sơ sinh phải khóc thôi chứ ạ?
Còn bản dịch của em thì ... khôn khéo không đả động đến việc bầy trẻ con học gì :D. Thật ra chúng ê a, vì chúng chưa hiểu những gì chúng phải học, do đó ê a học thuộc lòng (ai đã từng có tuổi thơ thì đều hiểu mà).
|
Bài này thì ... chua chát thật
|
Một vài suy nghĩ khi đọc và dịch bài thơ “Девушки” của Николай Степанович Гумилев. 1. Nguyên bản bài thơ: Девушки Нравятся девушкам рупии С изображением птицы, Они покидают родителей, Чтобы идти за французами. 2. Để hiểu và dịch được bài thơ này, có một vài lưu ý như sau: 2.a. Về từ “рупия” ở câu thứ nhất: “Rupee”, đồng tiền do công ty Đông Ấn của Anh sử dụng, xuất phát từ tiếng sanskrit, đầu tiên chỉ có nghĩa là đồng bạc, tiếng Pháp là “piastre”. (Рупия : англ. rupee, от санскр. слова rûpya – серебро…) Nguồn: http://www.wikiznanie.ru/ru-wz/index...BF%D0%B8%D1%8F Sau này mới thành tên đồng tiền không chỉ của Ấn độ mà còn của nhiều nước khác nhau. Nguồn: http://dic.academic.ru/dic.nsf/dic_p...9F%D0%98%D0%AF Vậy từ “рупия” trong câu thứ nhất của bài thơ chỉ có nghĩa thuần tuý là: “đồng bạc” 2.b. Về câu thứ hai “С изображением птицы”: “С изображением птицы” có nghĩa là “ với hình tượng con chim”. Thế “con chim” nào ở đây? Nó chính là con ó, nhưng dân gian vẫn quen gọi là con cò. Trích: Rồi ngày 10/4/1862, sau khi mới chiếm được Nam Kỳ, Thiếu tướng Bonard (Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha) đã ký quyết định xác định tính hợp pháp để cho lưu hành đồng bạc Mexicana (Mễ Tây Cơ - Mê Hi Cô), mà dân gian thường gọi là “đồng bạc con cò”. … Bù lại sự thiếu hụt khối lượng tiền lưu hành, năm 1903, Ngân hàng Đông Dương đúc tại Paris 10 triệu 200 ngàn đồng Piastre de Commerce; đồng thời ngày 30/01/1903 chính phủ Pháp ra nghị định “cấm xuất cảng những đồng bạc thương mãi và những thoi bạc”. Và để tiếp tục củng cố chủ quyền Pháp tại Đông Dương, ngày 03/10/1905 lại có thêm nghị định nêu rõ “kể từ 01/01/1906, đồng Mexicana không còn giá trị pháp định”. Nguồn: http://www.khoahoc.net/baivo/nguyena...cdongduong.htm Trích: Ngày 23/9/2004, tại Bảo tàng TP Hồ Chí Minh (65 Lý Tự Trọng, quận 1) đã khai mạc trưng bày Tiền Việt Nam và các nước với hơn 600 loại lưu hành trong vòng 500 năm qua. Trong đó có 120 loại tiền kim loại của các triều đại vua chúa Việt Nam đúc bằng đồng, chì, kẽm, sắt hình tròn và mỗi đồng có khoét một lỗ hình vuông ở giữa. Tại sao như vậy? Đối với những tâm hồn nhiều hoài cảm, hình dáng đồng tiền xưa gợi nhớ biểu tượng "trời tròn" bọc ngoài và "đất vuông" ở trong. Song với người có đầu óc thực tế sẽ thấy ngay lợi ích thực tiễn của cái lỗ hổng vuông vức giữa đồng tiền là rất tiện cho việc luồn dây xâu hàng trăm, thậm chí hàng nghìn đồng như thế thành một chuỗi. Hoặc khoanh từng khoanh cất vào rương, tủ. Hoặc quấn quanh bụng để khi đi xa mua bán lên bến xuống thuyền dễ dàng. Riêng loại bằng vàng, bằng bạc (quý kim) đúc thành đỉnh (1 lượng), thành nén, hoặc thoi (10 - 20 lượng), thành khối (20 lượng đổ lên) nặng ngót trăm ký không chừng (vàng khối) dùng làm của, giấu sau vườn, chôn dưới đất, thỉnh thoảng người đời nay đào gặp, thì chẳng đục lỗ làm chi. Lắm khi loại kim ngân này được "chặt nhỏ" để chi trả hoặc làm đồ trang sức, đồng Mễ Tây Cơ du nhập vào Việt Nam theo chân lính Tây Ban Nha trong đội liên quân Pháp cũng vậy. Một đồng Mễ ăn 5 quan tiền ta vào năm 1863. Thời trước, theo các nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu và Nguyễn Văn Cường, lương chính của lính tráng mỗi tháng (ngoài 28 - 30 ký gạo) chỉ lĩnh... 1 quan. Một quan ấy mua được nhiều thứ, dùng tiêu linh tinh khoảng 30 ngày. Xem thế đồng Mễ có giá (gấp 5 quan) và nặng nề so với các đồng khác. Lúc không có đơn vị nhỏ thanh toán, người ta chẳng ngại gì mà không chặt đồng Mễ (vốn chứa 0,72 lạng bạc) ra nhiều miếng, gọi là "góc tư, góc tám". Nó khá thông dụng tại các thương cảng và nơi đô hội ở nước ta thời Pháp mới qua với tên gọi nôm na là Bạc phiên hoặc tiền con Ó, vì trên mặt có in hình con Ó. Riết rồi, theo nhà văn Sơn Nam, con Ó được Việt Nam hóa thành con Cò quen thuộc . Nguồn: http://vietbao.vn/Van-hoa/Dau-an-lic.../45123286/181/ 2.c. Về từ “французы” ở câu thứ tư: Ở Việt nam thời trước, người Pháp thường được gọi là người Phú lang sa, Pháp lang sa, Phú lang tây, Pháp lang tây…hoặc chỉ gọi tắt là Lang sa, Lang tây… 3. Sau khi phân tích như vậy, bài thơ trên có thể tạm dịch nghĩa như sau: Các cô gái Các cô gái thích những đồng bạc Vẽ hình con cò. Các cô rời bỏ cha mẹ Để đi theo mấy ông Lang sa. 4. Bây giờ các bác so sánh bài thơ trên của Николай Степанович Гумилев, với câu ca dao của Việt nam nhé: Tham chi đồng bạc con cò Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang sa. 5. Một vài suy nghĩ của Tuntin: 5.a. Theo trích dẫn tại mục 2.b. thì “kể từ 01/01/1906, đồng Mexicana không còn giá trị pháp định”, vậy là “đồng bạc con cò” đã kết thúc giá trị pháp định của nó từ năm 1906. Bài thơ “Các cô gái” thì in năm 1918. Rõ ràng là câu ca dao của Việt nam không phải dịch từ bài thơ của Nikolay Stepanovich Gumilyov mà chính là ngược lại. 5.b. Vậy ai là người đã cho Nikolay Stepanovich Gumilyov biết câu ca dao Việt nam này? Lý do gì mà ông lại đổi hẳn ý thơ đi như vậy? (Từ ý khuyên nhủ các chàng trai đừng tham tiền theo giặc sang ý “trách móc” các cô gái tham tiền theo mấy ông Lang sa?)... Ý kiến của Tuntin là ý kiến cá nhân, nghĩ sao nói vậy, có gì không chính xác mong được các bác lượng thứ và cho thêm ý kiến, ngõ hầu sáng tỏ vấn đề. Trân trọng. |
Ôi, bác tuntin có một bài viết thật công phu quá. Đúng là nhiều khi những từ ... khá thông dụng lại hay bị dịch sai, vì cứ tưởng là đã biết nghĩa rồi...Cá nhân em thì luôn luôn đinh ninh рупия là đơn vị tiền tệ của Ấn Độ, và cũng chưa hề có ý định tra từ này trong từ điển.
Do đó em rất bất ngờ và cám ơn bài viết trên của bác Tuntin. Tuy nhiên, như một nhà triết học và kinh tế học nổi tiếng của nước Đức đã từng thích câu châm ngôn (hay cách ngôn nhỉ?) "Hoài nghi tất cả", trước khi sửa lại bản dịch, em bèn ngó qua từ điển một chút. Và kết quả làm em còn băn khoăn hơn trước Trích:
|
Bài viết của Tuntin rất kỳ công và có lý. Đành rằng Rupi la dơn vị tiền tệ khởi nguyên từ Ấn Độ, nhưng sau đó cũng nhiều nước sử dụng tên gọi đó cho đồng tiền nước mình. Do vậy không khó hiều khi người ta dùng tên đó để ám chỉ đồng bạc.
Đồng bạc có hình con ó (cò...) có thể hiều như Tuntin đã phân tích khá hợp lý. Còn ngày xưa, Pháp có cho đúc đồng "Piastre de commerce", in hình nữ thần tự do, lưu hành ở Đông Dương từ cuối TK 19. Dân ta vẫn gọi là "Đồng bạc trắng hoa xòe", hay "Đồng bạc con đầm xòe" (Không biết Geo nghĩ có đúng vậy không, vì số đồng bạc của Pháp đúc còn có nhiều loại khác cũng chứa bạc và bà đầm). Tất nhiên, cũng cần tìm hiểu xem đồng Rupi Ấn Độ hay của nước nào đó từng được dùng ở VN trước 1918 mà trên đó có hình con chim (nào đó). Nếu như không có, thì chắc chắn ý kiến của Tuntin là hoàn toàn đúng. Vì du sao, Gumiliev cũng sáng tác mấy bài thơ về Đông Dương khi ở Pháp. Nhưng tư liệu ông dùng làm "bột" để "gột" nên những bài thơ của mình thiết tưởng sẽ có gắn bó nhất định với những gì có ở ĐD ngày ấy. Đọc mấy bài này cũng làm nhớ lại "Những motyp Ba Tư" của Esenin. Nhà thơ Esenin cũng chưa hề đến Ba Tư, nhưng sáng tác nhiều bài thơ bất hủ về Ba Tư...:emoticon-0136-giggl |
Bác Geobic ơi, chưa chắc bài "Девушки" đã liên quan đến Việt Nam bác ạ. Vì nó chỉ nằm trong loạt bài với tên chung "Индокитай" - sau đó trong loạt bài này còn có bài về nước Lào nữa mà. Cho nên em càng nghĩ càng ... không hiểu gì.
Cũng có thể là Gumilyov có thông tin sai - ông ấy cứ tưởng là ở Đông Dương người ta dùng đồng rupi trong buôn bán, sinh hoạt? Điều này cũng có thể chứ, phải không các bác? |
Nhân tiện em tìm thấy mấy hình ảnh đồng rupee ở một link thấy có vẻ cũng tin tưởng được
http://www.columbia.edu/itc/mealac/p...nscompany.html http://www.columbia.edu/itc/mealac/p...idency1766.jpg A silver rupee issued in the name of Shah Alam II, during his regnal year 8 (1766/7) http://www.columbia.edu/itc/mealac/p...any/rupee2.jpg A silver rupee from Shah Alam II's regnal year 26, or AH 1198 (1784/5) và nhiều hình nữa. Còn trên đó có hình chim muông không thì ... các bác tinh mắt xem thử xem, em chịu! |
Trích:
Còn theo tôi bài "Девушки" này là nói về những người con gái nước khác, có một dẫn chứng khá cụ thể về một chi tiết nói về đồng Rupee của Pháp: Ngân hàng Indochina của Pháp phát hành đồng rupee cho thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ… Đồng Rupee của chính quyền thực dân Pháp ngang với đồng Rupee của Anh Ấn. Trích:
|
Thôi nhức đầu với bài "Девушки" quá, xin để ... sau khi mọi chuyện rõ ràng hơn vậy. Em gửi tạm bản dịch bài "Nước Lào" nhé, bài này thì thú thật là hơi ẩu :)
|
Kính gửi các bác thành viên NNN
1. Tôi rất vui sướng khi được các bác thành viên hưởng ứng và phản biện cho bài viết trên. Nếu một viên đá rơi tõm xuống ao bèo mà không có chút gợn sóng nước nào thì còn gì là thú vị nữa. Theo thiển ý cá nhân tôi: khi đưa ra một suy tưởng mới, thì không sợ khó, không sợ sai. Nếu qua tranh luận, ý tưởng này được coi là đúng thì quá tốt và nếu bị coi là sai thì cũng tốt luôn vì một lượng kiến thức mới sẽ tới với mình và đó mới chính là kết quả tích cực. Xin chân thành cảm ơn tất cả các bác đã tham gia tranh luận hoặc đã có quan tâm tới bài viết này. 2. Trong tiếng Việt, (tiền) đồng có nghĩa là gì? 2.a. Đó là đồng tiền được đúc từ đồng (hoặc kẽm). Ví dụ: Một quan là sáu mươi đồng. hoặc là: Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê. 2.b. Đồng (VND) là đơn vị tiền tệ chính thức của Việt Nam, do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành. Nó có ký hiệu là ₫, mã quốc tế theo ISO 4217 là "VND". … Theo luật pháp hiện hành của Việt Nam, tiền giấy và tiền kim loại là phương tiện thanh toán pháp quy không giới hạn nghĩa là người ta bắt buộc phải chấp nhận khi nó được dùng để thanh toán cho một khoản nợ xác lập bằng VND với mọi số lượng, mệnh giá. Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%..._(ti%E1%BB%81n) Như vậy, chúng ta thấy ở đây là từ đồng tiền ban đầu được đúc bằng đồng (hoặc kẽm) để thanh toán, đến khi được coi là phương tiện thanh toán pháp quy thì đồng tiền “đồng” có thể vẫn bằng kim loại đó hoặc không nhất thiết phải bằng kim loại đó nữa, nó thậm chí có thể bằng giấy. 3. Bây giờ xét tới từ: “рупия” có nghĩa là gì? 3.a. Đó là đồng tiền được đúc bằng bạc. Рупия : англ. rupee, от санскр. слова rûpya – серебро. Nguồn: http://www.wikiznanie.ru/ru-wz/index...BF%D0%B8%D1%8F Рупия (от санскр. рупья — чеканенное серебро) Theo trích dẫn của bác Nina trong “Большая советская энциклопедия”. The Rupee: Hindi and Urdu: Rupiya, from Sanskrit rupyakam meaning coins of silver. Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Rupee 3.b. Đó là tên chung để chỉ đơn vị tiền tệ chính thức của India, Pakistan… Рупия (от санскр. рупья — чеканенное серебро), денежная единица Индии, Индонезии, Маврикия, Мальдив, Непала, Пакистана, Сейшельских островов, Сиккима, Шри-Ланки… Theo trích dẫn của bác Nina trong “Большая советская энциклопедия” The Rupee (₨ or Rs.) (Hindi and Urdu: Rupiya, from Sanskrit rupyakam meaning coins of silver) is the common name for the currencies used in India, Pakistan, Sri Lanka, Nepal, Mauritius, and Seychelles; in Indonesia the unit of currency is known as the rupiah and in the Maldives the rufiyah, which are cognate words of Hindi Rupiya. The Indian rupee and the Pakistani rupee are subdivided into one hundred paise or pice (singular paisa), the Sri Lankan rupee into 100 cents and the Nepalese rupee can be subdivided into one hundred paisa or pice (both singular and plural) or four Sukas (sing. Suka) or two Mohors (sing. Mohor). Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Rupee Như vậy, cũng như trên, chúng ta thấy ở đây là từ đồng tiền được đúc bằng bạc “рупия” để thanh toán, đến khi được coi là phương tiện thanh toán pháp quy thì đồng tiền “bạc” có thể vẫn bằng kim loại đó hoặc không nhất thiết phải bằng kim loại đó nữa, nó thậm chí có thể bằng giấy. 4. Ở từ: “рупия” trong câu thơ thứ nhất, tôi xin sử dụng đúng như nghĩa của từ mà bác Nina đã nêu ra là “чеканенное серебро”, nghĩa là “đồng tiền đúc bằng bạc”, hay là: “đồng bạc”. Và cũng sử dụng như vậy với đoạn trích của bác nthach. 5. Về câu thứ hai “С изображением птицы” 5.a. Bác Nina cứ đi tìm kiếm đồng rupee theo nghĩa ở mục 3.b. thì làm sao tìm thấy con ó, con cò nào được. 5.b. Đồng bạc “con cò” mà tôi giới thiệu ở trên kia là đồng peso của Mexico mà. Tôi cũng đã đưa cả link nguồn để các bác vào coi, trong đó không chỉ mô tả tỉ mỉ bằng tiếng Việt mà còn có cả hình chụp kèm ghi chú rất rõ ràng. Sao bác Nina, bác nthach không vào cho vui? Xin đưa lại link nhé. Nguồn: http://www.khoahoc.net/baivo/nguyena...cdongduong.htm 6. Về vấn đề có liên quan tới Việt nam hay không: 6.a. Xin trả lời bác Nina: Trích lời bác Nina: Bác Geobic ơi, chưa chắc bài "Девушки" đã liên quan đến Việt Nam bác ạ. Vì nó chỉ nằm trong loạt bài với tên chung "Индокитай" - sau đó trong loạt bài này còn có bài về nước Lào nữa mà. Cho nên em càng nghĩ càng ... không hiểu gì. 6.a.1. Miền Đông Pháp (Индокитай), gồm có 5 xứ với các cách quản trị khác nhau: Cao mên (Cambodia), Ai lao (Laos), Bắc kỳ (Tonkin), Trung kỳ (Annam) và Nam kỳ (Cochinchine). Trong 5 xứ này thì 3 xứ thuộc Việt nam ngày nay được đánh giá là có trình độ được “khai hóa văn minh” cao hơn 2 xứ còn lại. Các trí thức lớn của Đông Dương thời thuộc Pháp hầu hết đều xuất thân từ 3 xứ này. Trung tâm hành chính để điều hành Đông Dương cũng ở tại đây… Do đó, việc Николай Степанович Гумилев tiếp xúc với các tài liệu liên quan đến Đông Dương có rất nhiều khả năng được in ấn từ 3 xứ này. 6.a.2. Thời kỳ trước năm 1918, ở Paris lúc đó có những nhà yêu nước người Việt nam như: Bác Hồ, Cụ Phan Châu Trinh, Cụ Phan Văn Trường…Xa hơn nữa, Cụ Trương Vĩnh Ký đã xuất bản ở Paris khá nhiều sách bằng tiếng Pháp giới thiệu ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử Việt nam.. Khả năng Николай Степанович Гумилев tiếp cận với nguồn “tư liệu” này cũng không phải là nhỏ. 6.a.3. Bác Nina xem bài kế tiếp trong seria “Индокитай” này nhé: Детская песенка Что это так красен рот у жабы, Не жевала ль эта жаба бетель? Пусть скорей приходит та, что хочет Моего отца женой стать милой! Мой отец ее приветно встретит, Рисом угостит и не ударит, Только мать моя глаза ей вырвет, Вырвет внутренности из брюха. Bác hãy tạm thay thế từ “con cóc” bằng từ “con cò”; thay từ “bố tôi””mẹ tôi” bằng từ “chú tôi” “thím tôi”, tôi xin giới thiệu với bác bài “Đồng dao” (Детская песенка), chép trong “Tục ngữ ca dao dân ca Việt nam”, tác giả: Vũ Ngọc Phan, Nhà Xuất bản Khoa học Xã hội. Hà nội 1997, trang 413. Cái cò trắng bạch như vôi, Có ai lấy lẽ chú tôi thì về! Chú tôi chẳng đánh chẳng chê, Thím tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan. Bác thấy “ý tưởng” của 2 bài Nga và Việt thế nào? 6.a.4. Chúng ta cùng ở trong một diễn đàn NNN, cùng có những kỷ niệm tốt về nước Nga. Bác Nina cũng như tôi và các thành viên khác, chẳng ai mù quáng tới mức: chỉ có Việt nam copy ý tưởng Nga chứ không bao giờ Nga copy ý tưởng Việt nam. Việc để bác Nina càng nghĩ càng không hiểu gì là lỗi tại tôi, do khả năng có hạn, nên không thể trình bày rõ ràng, mạch lạc suy nghĩ của mình. Xin thành thật xin lỗi bác. 6.b. Xin trả lời bác nthach: Trích lời bác nthach: Tôi có đi tìm thông tin về vấn đề này. Theo như mọi thông tin tôi đã rà soát lại Internet, thì có lẽ bài "Девушки" do chính người tổng hợp trên trang Web mới nhầm lẫn chứ chưa chắc là do tác giả. Vì Nikolay Stepanovich Gumilyov đã bị hành hình vào tháng 8 năm 1921. Còn theo tôi bài "Девушки" này là nói về những người con gái nước khác, có một dẫn chứng khá cụ thể về một chi tiết nói về đồng Rupee của Pháp: Ngân hàng Indochina của Pháp phát hành đồng rupee cho thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ… Đồng Rupee của chính quyền thực dân Pháp ngang với đồng Rupee của Anh Ấn. 6.b.1. Khi tranh luận, tôi xác định mình phải thực sự cầu thị. Các bác thành viên NNN có ý kiến gì, tôi cũng đọc rất kỹ để mong tiếp thu được kiến thức. Nhưng tôi thành tâm xin bác giải thích hộ đoạn văn: “Theo như mọi thông tin tôi đã rà soát lại Internet, thì có lẽ bài "Девушки" do chính người tổng hợp trên trang Web mới nhầm lẫn chứ chưa chắc là do tác giả. Vì Nikolay Stepanovich Gumilyov đã bị hành hình vào tháng 8 năm 1921”. Tôi không hiểu khi “Nikolay Stepanovich Gumilyov đã bị hành hình vào tháng 8 năm 1921” thì có liên quan gì đến “bài "Девушки" do chính người tổng hợp trên trang Web mới nhầm lẫn” và “bài "Девушки" này là nói về những người con gái nước khác”. 6.b.2. Bác nthach thông cảm cho tôi với nhé. 7. Bác Geobic có lời động viên tôi, tôi rất trân trọng và xin chân thành cảm tạ bao nhiêu thì cũng bấy nhiêu tôi rất trân trọng và xin chân thành cảm tạ các phản biện của bác Nina và Bác nthach. Đa tạ các bác. Trong lúc tranh luận có gì không nên không phải, mong các bác đại xá cho. Rất mong được các bác thành viên lưu tâm. Trân trọng. Tuntin |
Trích:
|
Trích:
Французский банк Индокитая выпускал собственную рупию для французских владений в Индии, сначала в виде монет, затем также в виде банкнот. Рупия французской колониальной администрации приравнивалась к британской индийской рупии. http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%A0%...BF%D0%B8%D1%8F Em nghĩ đoạn giải thích này trong Wikipedia có thể tạm dịch như sau: "Đồng rupee của Pháp. Ngân hàng Indochine của Pháp đã phát hành riêng loại tiền rupee cho các vùng thuộc địa của Pháp tại Ấn Độ, thoạt đầu dưới dạng tiền đồng/xu, rồi sau đó thêm cả loại tiền giấy. Tiền rupee của chính quyền thuộc địa Pháp có giá trị ngang với đồng rupee của Ấn Độ thuộc Anh". - британская индийская рупия - là đồng tiền lưu hành ở vùng Ấn Độ thuộc Anh (chắc do ngân hàng Anh hoặc ngân hàng Anh tại Ấn Độ phát hành cho những vùng đất Ấn Độ thuộc địa của mình (thuộc quyền cai quản của Anh - thuộc địa của Anh). Hiểu như vậy thì sẽ thấy đồng rupee chỉ là tên gọi chung cho loại tiền hình đồng bạc do ngân hàng Pháp đúc, trên có hình con ó hay chim chóc gì đấy (mà trong tiềm thức người Việt thì con chim to như vậy, mở rộng cánh như vậy có lẽ chỉ có thể là "con cò" đã rất quen thuộc với đồng ruộng và người nông dân nước Nam ta). Trước khi Pháp phát hành loại tiền "đầm xòe" (em nghĩ đối với đông đảo người dân An Nam thời đó thì chữ "đầm xòe" chỉ có nghĩa là "bà Tây mặc váy" thôi) riêng cho vùng Nam Kỳ, rồi sau đó là Trung Kỳ và Bắc Kỳ, thì có lẽ vẫn cho phép dân An Nam ta dùng loại tiền rupee do Ngân hàng Indochine đúc cho vùng thuộc địa của Pháp tại Ấn Độ (một công đúc tiền đôi xứ thuộc địa cùng của Pháp sử dụng (cho "tiết kiệm", đỡ lạm phát chăng?) Hơn nữa đối với Gumilev, người chưa từng sang An Nam mà chỉ nghiên cứu tài liệu, thu thập tư liệu về Đông Dương và VN ta để sáng tác, thì việc ông coi đồng "rupee" là loại tiền chung được lưu hành tại các vùng thuộc địa của Pháp ở Ấn Độ, Việt Nam, Lào hay đâu nữa trong khu vực Đông Dương..., cũng hoàn toàn có thể chấp nhận được. Vì vậy em nghĩ giải thích như bác tuntin là tương đối chính xác và rất thỏa đáng. @ bác tuntin: Em xin vote cho bài dịch về các cô gái đi theo mấy ông Phú lang sa của bác (mặc dù nghe rất ai oán):
|
Trích:
|
Bác tuntin đã có những phát hiện khá thú vị, khi đối chiếu những bài thơ của Gumilev với ca dao Việt Nam. Ý tứ trùng nhau quá rõ, khiến chúng ta không khỏi băn khoăn: Phải chăng nhà thơ Nga cũng là một dịch giả, khi ông "dịch" ra tiếng Nga (qua bản tiếng Pháp?) những bài ca dao Việt Nam?
Vào trang http://gumilev.ru/translations/ mà bác tuntin đã chỉ, mới biết Gumilev đích thực là một dịch giả, khi ông dịch khá nhiều thơ, trường ca, kịch.. của nhiều tác giả, trong đó có các nhà thơ Pháp như Rouget de Lisle(Руже Де Лиль), Heredia, Jos Maria de (Жозе-Мария де Эредиа).... |
Ô chào bác
Đôi khi chúng ta cũng nên dẫn giải một chút để vỡ lẽ được mọi vấn đề có phải không bác. Nói chung là tôi cũng đồng ý với bác về những chú dẫn. Tuy nhiên cũng có một vài ý để bày tỏ cho gãy gọn không lại "hiểu lầm nhau" thì hỏng to Thứ nhất xin trả lời với bác: Trích:
Tuy nhiên còn về vấn đề gọi đồng Rupee là do ông gọi chung theo kiểu người Việt gọi là "đồng bạc" thì tôi vẫn chưa thông lắm vì: Nikolai Gumilyov. Đã từng hai lần đến Pháp. Ở Paris năm 1907, ông bắt đầu xuất bản ở đây tờ tạp chí văn học hàng tuần mang tựa để - Sao Thiên lang. Đến năm 1917 ông tham gia vào đội viễn chinh Nga, và đóng quân tại Pháp. Ông đã ở lại Pháp và Anh để nghiên cứu văn học phương Đông . Năm 1918 ông trở về Petrograd…. Do đó ông có thể hiểu rất rõ về các nước phương Đông trong đó có Annam (Việt Nam), vì ông cũng đã có một bài thờ với tựa đề này. http://oldpoetry.com/oauthor/show/Ni...novich_Gumilev Còn thêm một ý mà tôi đã viết, có thể bài thơ này viết về những người con gái nước khác vì: Các nước thuộc Indochina của Pháp: Là một khu vực thuộc địa của Pháp, phía đông giáp Ấn Độ, phía nam giáp Trung Quốc – mọi người xem bản đồ vào năm 1886, các quốc gia tô màu xanh là khu vực Indochina. Nó không chỉ gồm có ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia, do vậy cũng có thể bài thơ này không nói đến các cô gái Annam, Lào, hoặc Campuchia (đây cũng chỉ là lập luận của tôi). http://www.lib.utexas.edu/maps/histo...china_1886.jpg |
Trích:
Còn với 2 bài ca dao VN mà bác Tuntin đã dẫn thì Geo thực lòng tin Gumiliev đã dựa vào những bài đó mà phóng tác sang tiếng Nga. Chính Lemontov cũng đã từng làm việc đó một cách cách thần tình, ví dụ những bài ông đề Phỏng Bairơn, Phỏng theo Gơt... chính là những bài dịch thơ tuyệt tác. Còn trường hợp 2 bài ca dao trên, Geo chỉ đó chỉ coi chúng là những bản phóng tác, và rất thú vị. @Tuntin: Bài Con cò trắng bạch như vôi... là do bác tự "mò ra" hay cũng đã có ai đó tìm ra và post lên mạng từ trước? Dù sao những tìm tòi của bác là rất kỳ phu, rất quý và đáng trân trọng. Còn bàn luận tiếp thì... nên quá chứ.
Ca dao Việt Nam Cái cò trắng bạch như vôi, Có về lấy lẽ chú tôi thì về! Chú tôi chẳng đánh, chẳng chê, Thím tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan.
Ca dao Việt Nam Tham chi đồng bạc con cò Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang sa. |
Em nghĩ ca dao là tinh hoa văn hóa và ngôn ngữ của dân tộc ta. Cho dù ta chỉ nhớ thuộc lòng từ tấm bé, lớn lên có khi quên bẵng đi, nhưng cũng có lúc bât giác nhớ ngọn ngành và bỗng dưng bật ra, như tiếng khóc lúc đau, tiếng gọi mẹ lúc buồn. Thế cho nên ca dao thì chẳng cần tìm trên mạng mà có khi chỉ truyền khẩu và nhập tâm thôi, vẫn không thể nào "quên sạch" được. Em tin tưởng vào công phu tìm tòi thu thập tư liệu trên mạng của bác tuntin, và em cũng hết sức tin tưởng vào vốn thành ngữ, tục ngữ, ngạn ngũ phong phú, vốn ca dao nhiều câu bình dị mà độc đáo, những bài đồng dao có khi rất ngô nghê nhưng cũng rất trong sáng..., nói chung là vốn sống và hiểu biết về văn hóa dân gian của bác tuntin. Bà ngoại em ngày xưa cũng thế, nhiều khi cụ nhớ ra và đọc chơi những câu ca dao em chưa nghe thấy bao giờ để bình luận sự việc nào đó, em cứ mắt tròn mắt dẹt hỏi: có thật đó là ca dao các cụ hay là bà "bịa" ra thế ạ? Bà em chỉ cười và nhẹ nhàng cắt nghĩa câu ca rồi bảo: ca dao đấy chứ, bà sao nghĩ ra được, bà chỉ nhớ nhập tâm thôi...:emoticon-0100-smile
Em tin chắc là ông Gumilev đã dựa vào câu ca dao của Việt Nam mà dịch và phóng tác thành mấy bài thơ trong tập Индокитай trên của ông. Vì nếu so với ca dao Việt Nam nhuần nhị, sâu sắc, có nét ai oán, thì thơ tiếng Nga của ông về mặt âm điệu ngữ nghĩa không sao bằng được, và những câu thơ về An Nam hay Lào kia cũng không hay bằng thơ thuần Nga của ông. Em nhầm bác Geo ạ, không phải là bác tuntin dịch thơ của Gumilev, mà là nhà thơ Nga đã dựa vào ca dao VN, có thể qua bản dịch tiếng Pháp, để viết nên những câu thơ kia, với tinh thần và logic ngôn ngữ tựa như của người Việt. Câu ca dao "Tham chi đồng bạc..." thật hay quá bác tuntin và Geo ạ!:emoticon-0150-hands Em vote lần nữa cho câu ca đó đấy! Xin phép các bác cho em đọc câu này ngoài chợ Bắc Qua nhé: Các cô tham tiền In hình con ó, Bỏ thầy bỏ u, Theo thằng mũi lõ. Đúng là... (thôi không nói nữa)! |
Em thì em cảm ơn bạn Bạch Tuyết nào đó đã post mấy bài thơ của Gumilev(bản dịch của nhà thơ Hồng Thanh Quang). Đúng là nhờ mem này mà em mới biết thêm một nhà thơ của thế kỷ bạc. Rồi không ngờ topic này lại sôi nổi không ngờ, với biết bao nhiêu điều mới mẻ được khám phá. Lọ mọ quanh topic này, lạc vào cơ man trang để biết thêm về các loại tiền cổ, tiền Mễ Tây Cơ, tiền Phú Lang Sa...Hay thật là hay.
Em quay trở lại trang trước cảm ơn nàng Bạch Tuyết cái đây:emoticon-0155-flowe. |
Tôi thấy các bác lại mượn ca dao Việt Nam để "tưởng nhớ" đến bài Девушки của Nikolai Gumilyov, thì lại lạc đề quá.
Đúng vậy, Việt nam có câu - đồng bạc con cò. Nhưng mà nếu so với bài trên thì khác nhau quá, chả lẽ Nikolai Gumilyov lại không nhận ra? Tình tiết bài này là: Một cô gái (hoặc người vợ) hỏi chàng trai: Anh ham chi đồng bạc con cò? Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa! Người con trai liền trả lời rằng: Cưới em bằng bạc con cò, Đâu phải hẹn hò, nói chuyện đẩy đưa?. Câu: Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa! ở đây có nghĩa là một người đi theo phó tá, làm tay sai cho giặc, chứ không phải như các bác nghĩ là phò khác. Do vậy toàn bộ vế trên; Anh ham chi đồng bạc con cò? Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang Sa! Là nói về người đàn ông đi làm ngụy chứ không phải nói về những cô gái đi làm me tây. Nếu là một dịch giả và nhất là người đã từng nghiên cứu văn học Đông phương thì nhất định ông không thể mắc lỗi này được. Do vậy tôi cũng vẫn không thông rằng bài thơ trên được dịch từ ca dao Việt Nam, và cũng có thể không nói đến các cô gái Annam vì khu vực Indochina rất rộng lớn như tôi đã viết ở trên. |
Trích:
Yêu anh đi và vĩnh viễn từ nay... |
Trích:
Nhưng có thể coi đó là các bài phóng tác, vì thực sự Gumiliev có ghi là bài dịch đâu. Nếu đúng là ông đã dịch từ ca dao VN thì thật vô duyên khi đem chúng dịch lại sang tiếng Việt. Ở đây, bác Tuntin đã nói rõ là Gumiliev đã thay đổi khái niệm (đánh tráo khái niệm), khi sáng tác những bài thơ của mình. Từ sự việc đi phò tây của mấy bác "nhà mình" biến thành đi làm me Tây của mấy cô gái, từ cô cò trắng muốt biến thành mụ cóc xấu xí. Đó hẳn là sáng tác của Gumiliev sau khi đọc mấy bài ca dao Annam, là ảnh hưởng của thơ ca VN đối với 1 tác giả Nga từ đầu TK trước. Kể cũng đáng kể đấy chứ, vì điều đó hiếm hoi lắm. Xưa nay ta biết rất nhiều văn sỹ nổi tiếng của VN, kể cả Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Vũ Trọng Phụng... đều chịu ảnh hưởng của văn hóa Phú Lang Sa!!!:emoticon-0136-giggl |
Phóng tác là chuyện thường mà bác. Dựa trên ý tứ của bản gốc mà lái đi theo hướng của mình. Tôi nhớ láng máng cụ Phạm Duy Tốn viết thiên truyện ngắn"Sống chết mặc bay" với câu "Ù thông tôm chi chi nảy...Điếu mày!" nổi tiếng cũng là phóng tác từ một truyện ngắn nước ngoài.
Có thể ai đó có ý khác, nhưng tôi cho rằng chắc chắn Gumilev đã đọc đâu đó những bản dịch ra Pháp ngữ những câu ca dao của VN, và lấy tứ đó để viết nên 2 bài thơ trong phần Indokitai của mình. Tôi nghĩ về một mặt nào đó có thể chấp nhận được điều này ở Gumilev, một người chưa hề đến VN, chỉ biết đến xứ này khi đang đồn trú ở Pháp. Đối tượng được nhắc đến trong 2 câu ca dao của VN và bài thơ Девушки của Gumilev khác nhau. Đúng thế. Nhưng ý bật lên trong cả 2 văn bản là các vị (anh hay các nàng) cùng một giuộc với nhau cả, đều chạy theo lũ mắt xanh mũi lõ vì...tiền. Nên lưu ý là tiền kim loại in hình con ó của Mê-hi-cô (mà dân gian gọi là con cò, theo ý kiến của nhà văn Sơn Nam-một pho sử về văn hoá Nam Bộ-ý này lấy từ bài bác tuntin đã trích dẫn) chứ không phải đồng tiền nào khác, dù thời điểm đó vẫn tồn tại tiền giấy và tiền đồng bạc khác. Có thể diễn đạt ý này bằng những hình ảnh khác, nhưng sự giống nhau đến kỳ lạ này trong bài thơ vỏn vẹn 4 câu của Gumilev và câu ca dao không khỏi khiến chúng ta nghi ngờ. Bài Детская песенка thì ý lại càng rõ hơn. Ngay từ việc đặt tít. Chúng ta dịch tít bài thơ này thành gì, nếu như không chọn phương án Đồng dao (như bác Geobic đã lựa chọn rất đúng trên kia). Đồng dao, như đã rõ là những câu hát truyền miệng của trẻ con. Chẳng lẽ Gumilev đi đặt lời một bài hát mới cho trẻ con xứ Đông Pháp, chắc chắn là không phải rồi. Bài thơ chắc chắn dựa trên ý bài đồng dao VN mà chúng ta đã biết, với những lời dậm doạ giết người, móc ruột...của "bà cả" nghe thật gớm ghiếc ở cuối bài:emoticon-0136-giggl. |
Trích:
1. Ý tưởng về việc nhà thơ Nga Nikolay Stepanovich Gumilyov có 2 sáng tác bằng tiếng Nga mô phỏng theo 2 bài ca dao có xuất xứ từ Việt nam (xin phép được dùng từ của bác Hungmgmi) là tự Tuntin nghĩ vậy, chưa có ai ở Việt nam đặt vấn đề này ra. Chính vì thế khi đưa ra trên topic này, Tuntin rất mong nhận được nhiều những bình luận hoặc là ủng hộ hoặc là phản biện có thể có để làm rõ được thực chất vấn đề. 2. Chính vì thế mà 2 bài ca dao Việt nam nói trên là do chính Tuntin tự "mò ra" (xin phép được dùng từ của bác Geobic) đấy ạ. À, chút nữa quên, xin được thông tin thêm, bài ca dao "đồng bạc con cò", in cùng trong sách đã dẫn của Vũ Ngọc Phan, trang 488. Chỉ có 2 câu và không có các câu nào khác kèm theo. 3. Tiện đây xin phép bác Geobic cho phép tôi trình bày: Nếu các bác thành viên NNN tìm được ở trang mạng nào hoặc ở tài liệu dạng in ấn nào có ai đó đã bàn về vấn đề này, thì Tuntin thành khẩn kính mong các bác chỉ dẫn cho để Tuntin được tham khảo với ạ. Xin cảm ơn bác Geobic đã lưu tâm. Kính chúc bác Geobic khỏe. Trân trọng. Tuntin. |
Trích:
Gumiliev là tác giả mà Geo rất quan tâm, nhưng ít biết về ông. Bây giờ có thêm những tư liệu rất quý. Xin chép lại dưới đây bài viết của nhà thơ Akhmatova, vợ cũ của ông, viết ngày ông bị sát hại, 3 năm sau khi những bài viết về Annam kia xuất hiện. * * * Не бывать тебе в живых, Со снегу не встать. Двадцать восемь штыковых, Огнестрельных пять. Горькую обновушку Другу шила я. Любит, любит кровушку Русская земля. 16 августа 1921 * * * Anh đã không còn sống nữa, Không dậy nữa rồi từ tuyết trắng nhường kia. Hai mươi tám nhát lê, Và năm phát đạn. Áo liệm đớn đau Tôi đã may cho bạn. Sao thích máu đến vô chừng, vô hạn Đất Nga ơi! 16-8-1921 Vâng, sau khi Anna Akhmatova qua đời, một cuộc đời sóng gió, một tượng đài rất đẹp đã được dựng lên, ở quận Bezhetsky vùng Tver, cho cả Nhikolai Gumiliev, Anna Akhmatova và con trai họ là Lev Gumiliev, mặc dù hai vợ chồng họ đã sớm chia tay nhau sau 8 năm chung sống. Đó là một trong những nhóm tượng đài văn học đẹp nhất thế gian này. http://i220.photobucket.com/albums/d...kgumiledv4.jpg |
Tôi thấy các bác cùng hưởng ứng về bài "Девушки" là do tác giả mượn ỳ văn học của Annam để phóng tác thành tác phẩm của mình. Vậy tôi cũng tạm xin đi theo hướng các bác đã chọn, và cũng xin mạo muội được đặt tên cho tựa đề của bài thơ "Девушки" là "Những cô gái Annam".
Nhưng trước khi đặt tên tựa cho bài thơ này như vậy thì tôi rút lại lời xin lỗi đã viết ở bài trên: Trích:
Bởi vì nếu tác giả có ý định viết "Những cô gái Annam". Thì cái chết của ông rất có quan hệ với bài thơ này, không những thế mà còn có quan hệt rất, rất… mật thiết nữa. Tại sao lại có quan hệ mật thiết đến như vậy?. Bởi vì hoàn cảnh văn học và xã hội của Việt Nam vào hai thập kỷ đầu của thế kỷ 20 hoàn toàn không như những gì ông đã viết: Trước tiên ta nói về văn học Việt Nam vào hai thập kỷ đầu thế kỷ 20: Văn học Việt Nam từ cuối thế kỷ 19 và hai thập kỷ đầu của thế kỷ 20 chủ yếu là những tác phẩm của những nhà nho như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, và những người trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục... trong văn học dân gian vào thời gian này còn có Tú Xương… các tác phẩm này thì hoàn toàn không đề cập đến những vấn đề mà chúng ta đang bàn đến Trong giai đoạn hai thập kỷ đầu của thế kỷ 20, thì hầu như toàn là những tác phẩm mang tính chính trị, yêu nước. Đa số các tác phẩm vào thời gian này còn viết bằng chữ Hán. Còn các tác phẩm có liên quan đến chủ đề của chúng ta đang bàn thì phải đến đầu những năm 30 (thập kỷ thứ tư) mới được bắt đầu ra mắt như "Ngựa người và người ngựa" của Nguyễn Công Hoan viết vào năm 1931, Kỹ nghệ lấy Tây (1934), Số đỏ (1936) Vũ trọng Phụng. …. Về xã hội Việt Nam vào hai thập kỷ đầu thế kỷ 20: Xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ 19 và những năm đầu thế kỷ 20, là một xã hội còn mang tính chất phong kiến nặng nề và khắt khe. Vào giai đoạn này, tính chất phong kiến còn ăn rất sâu vào tiềm thức từ những người ở nông thôn cho đến thành thị, các nét văn hóa cách tân, du nhập, tây hóa… thì phải đến thập kỷ thứ ba mới bắt đầu lác đác có mặt ở Việt Nam. Cuộc sống xã hội cũng như những suy nghĩ của đại bộ phận người dân trong giai đoạn này còn rất nhiều bảo thủ và phong kiến. Những cô gái Ả Đào, chỉ là ca hát phục vụ cho những ông ký, thày thông ngôn… người Việt Nam thôi, nhưng cũng bị xã hội lên án rất mạnh mẽ, và qui cho họ là những "Xướng ca vô loài". Trong giai đoạn này, ở Việt nam vẫn chưa xuất hiện một lớp người mà chúng ta thường gọi là những bà đầm, me tây… Nhưng đến thập kỷ thứ ba trở đi, xã hội Việt Nam mới dần thay đổi. những kiểu áo cách tân xẻ tà, môi son đỏ chót… mới dần có mặt ở thành thị, rồi về sau nữa những "Ngựa người và người ngựa" những "Kỹ nghệ lấy Tây" những Me tây trong "Số đỏ" mới dần hình thành và tạo ra một xã hội hỗn độn hơn... Do vậy, nếu Nikolai Gumilyov đã chết vào đầu những năm 20, và bài thơ "Những có gái Annam" chắc chắn là ông đã viết vào khoảng năm 1917, năm mà ông đang nghiên cứu Đông phương học ở Pháp. Do vậy, ông ta hoàn toàn không thể biết được những gì mà chỉ sau khi ông ta chết mới có, vậy mà ông đã bịa ra được bài thơ "Những cô gái Annam" và tựa của bài thơ để ở thể số nhiều "Девушки" thì quả là đáng trách chứ không nên đáng khen. Và cho dù có dùng bất kỳ một hình thức nghệ thuật trong văn chương, thơ ca nào đi nữa, cho dù có "đánh tráo" hay "phóng tác" đi nữa, thì cũng không thể bẻ cong, lấy đen làm trắng một giai đoạn lịch sử văn hóa, xã hội của cả một dân tộc được, tuy rằng chỉ một vài thập kỷ sau những vấn đề đó là có thật. Ví dụ như, tôi không thể được phép viết rằng – Vào những năm 1980, nước Nga là một nước đa đảng phái. Tuy rằng sự thật nước Nga chỉ một thập kỷ sau vấn đề này hoàn toàn là sự thật. Qua những phân tích của riêng tôi ở trên, tôi xin đi đến một kết luận rằng: Nếu Nikolai Gumilyov viết "Những có gái Annam" thì thật là đáng trách, vì đó không phải là sự thật. |
Xin được trả lời bác nthach:
Bài viết của bác rất hay và đánh giá về các giai đoạn phát triển văn hóa xã hội Việt nam thật là logic. Tôi xin cảm ơn bác. Nhưng về vấn đề mà chúng ta đang bàn ở đây, tôi lại có một số ý kiến tranh luận với bác như sau: 1. Các bài ca dao (tôi xin nhấn mạnh chữ CA DAO) là những sáng tác truyền khẩu, lưu hành trong dân gian và không phải là do những tác giả như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…sáng tác ra. Chúng có thể đã có từ lâu đời, trước cả khi Nikolay Stepanovich Gumilyov sinh ra. 2. Như tôi đã trích dẫn ở các bài trên, tôi cũng đã lưu ý rằng: đồng bạc Mexico đã bị chính phủ “bảo hộ” chấm dứt lưu hành ở Đông dương từ 01/01/1906. Vậy theo ý kiến cá nhân tôi thì thời điểm ra đời bài ca dao phải trước năm 1906. Vì từ năm 1906, chính phủ bảo hộ làm gì còn đồng bạc con cò để trả cho những ai theo họ. 3. Tôi rất rất tán thành với bác về nhận định: “Nhưng đến thập kỷ thứ ba trở đi, xã hội Việt Nam mới dần thay đổi. những kiểu áo cách tân xẻ tà, môi son đỏ chót… mới dần có mặt ở thành thị, rồi về sau nữa những "Ngựa người và người ngựa" những "Kỹ nghệ lấy Tây" những Me tây trong "Số đỏ" mới dần hình thành và tạo ra một xã hội hỗn độn hơn... “ 4. Do đó tôi đâu có tán thành dịch ra tiếng Việt thành chữ “Me Tây” đâu? Cũng vì vậy, tôi đã đặt câu hỏi: “Vậy ai là người đã cho Nikolay Stepanovich Gumilyov biết câu ca dao Việt nam này? Lý do gì mà ông lại đổi hẳn ý thơ đi như vậy? (Từ ý khuyên nhủ các chàng trai đừng tham tiền theo giặc sang ý “trách móc” các cô gái tham tiền theo mấy ông Lang sa?)” Ý tôi chính là giống ý bác nthach đấy chứ. 5. Trong quá trình tìm kiếm tư liệu trả lời 2 câu hỏi trên, tôi đã gặp được nhiều bài tham luận, nhấn mạnh các ý sau: 5.a. Trước năm 1918, đã có nhiều nhà trí thức Pháp theo chân lính viễn chinh sang Đông dương để nghiên cứu khoa học (Chẳng hạn Yersin đã sang Việt nam từ năm 1890), trong đó cũng có những nhà thám hiểm, những nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, khảo cổ…Chuyện này cũng bình thường thôi phải không ạ? Napoleon chẳng đã có một câu nói nổi tiếng khi ông trên đường viễn chinh Ai cập hay sao: “Lừa ngựa và các nhà bác học đi vào giữa”. Kinh thành Angkor ở Cambodia chẳng do người Pháp tìm lại đấy thôi. Chắc chằn rất nhiều nhà nghiên cứu văn học Pháp đã sang nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ, lịch sử, phong tục…của Đông dương nói chung và Việt nam nói riêng. Mà văn học Việt nam lúc đó, đúng như lời bác nhận định, làm gì có gì khác văn học dân gian, tức là ca dao, tục ngữ… 5.b. Cụ Trương Vĩnh Ký, một nhà bác học về ngôn ngữ, là người Việt nam đã viết nhiều sách bằng tiếng Pháp in tại Paris để giới thiệu ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, địa lý…Việt nam. Mà cụ giới thiệu ngôn ngữ văn hóa nào nếu không phải là văn hóa dân gian. 5.c. Rất có thể những nhà bác học Pháp, hoặc chính cụ Trương Vĩnh Ký (người vẫn “được coi là” có tư tưởng thân Pháp), hoặc một ai khác…khi đưa bài ca dao nói trên sang tiếng Pháp, in ấn và lưu hành ở Paris, thì tất yếu không thể chuyển ngữ dưới dạng một câu thơ chống chính phủ bảo hộ, chống lại mẫu quốc Phú Lang sa được, họ có thể dùng từ ở ngôi thứ hai như “tu””vous”, như thể là nói các cô gái chứ không phải nói các chàng trai và có thể ý đó tạo ấn tượng nơi Nikolay Stepanovich Gumilyov hiểu như vậy chăng? Kinh đô Paris thời điểm đó chắc chẳng thiếu những cô gái (Pháp, lai Pháp hoặc từ các thuộc địa nào đó của Pháp…) tham tiền mà đi theo mấy ông Phú Lang sa đâu. 6. Nikolay Stepanovich Gumilyov lúc đó đang ở Paris, hít thở không khí Paris nên tưởng tượng về xứ Viễn Đông xa xôi bằng cặp mắt của người Paris. Tôi xin phép được có vài lời bênh vực cho ông. Mong bác thông cảm nhé. 7. Với đánh giá thật khách quan, tôi thấy các lý luận của mình ở mục 5 chỉ là giả thiết, chưa thật sự thuyết phục đâu vì tôi chưa tìm được các bản văn bằng tiếng Pháp về các bài ca dao đó. Tôi đang nỗ lực kiếm tìm nhưng cũng biết khó như đáy bể mò kim, vì tiếp cận được tư liệu dạng quý hiếm như thế đâu phải dễ. Chính vì vậy, những bình luận đánh giá và phản biện của các bác làm tôi yêu mến biết bao. Cảm ơn bác nthach một lần nữa. Tuntin. |
Trích:
Bác nthach ạ, cái thành Hà Nội của chúng ta sở dĩ tan hoang thế này, chả còn di tích nào cho ra hồn là do "công" của một me Tây nổi tiếng đấy. Me Tây này là Tư Hồng, một chủ thầu Nam Định đã cho phu lên phá tan nát thành HN từ cuối thế kỷ 19 cơ. Tư Hồng là một me Tây có tiếng. Còn có biết bao cô gái lấy Tây nữa vào những năm đầu thế kỷ 20. Chưa ai thống kê. Nhưng chắc là có nhiều. Và trong dân gian liền xuất hiện thơ ca hò vè chế diễu, phê phán hành động này. Bằng chứng là có một truyện thơ nổi tiếng ở Nam Bộ có tên Sáu Trọng, ra đời vào cuối thế kỷ 19, in sách năm 1905. Theo ông Trần Dũng "Đến năm 1916, tác phẩm này được tái bản đến lần thứ 6, dù luôn gặp phải sự cấm đoán gắt gao của nhà đương cục". Nội dung của truyện thơ dài gần 700 câu này nói gì. Cũng theo Trần Dũng:"Truyện thơ kể lại cuộc đời anh chàng Sáu Trọng vốn bỏ nhà đi hoang từ bé. Đến năm 15 tuổi, Sáu Trọng trở về thăm quê, gặp và cưới Hai Đẩu làm vợ. Hai người đưa nhau về Sài Gòn sinh sống. Sau đó, Hai Đẩu ngoại tình khiến Sáu Trọng thất chí bỏ đi. Càng ngày Đẩu càng dấn sâu vào con đường tội lỗi. Cô ta lấy anh chồng Ký lục người Pháp và cùng chồng thuyên chuyển về Trà Vinh. Sáu Trọng tìm về Trà Vinh mong răn dạy vợ nhưng bị vợ vu oan khiến anh phải ngồi tù ba tháng. Ra tù, trở về Sài Gòn mới hay Đẩu mướn tay anh chị giết mình, Sáu Trọng lại quay về Trà Vinh giết chết người vợ phản bội, rồi tự nạp mình để chịu án chém. Cũng trong bài này của mình, Trần Dũng viết: " Một người thiếu vững vàng trong cuộc sống, lại ham thích chuyện hưởng thụ trong một xã hội nhiễu nhương đầy cám dỗ thì chuyện trượt dài trên con đường tha hóa, bỏ chồng lấy Tây là chuyện đương nhiên, không chóng thì chầy. Cô Hai Đẩu tảo tần mua bán, hồn nhiên, vô tư ngày nào trở thành một me Tây ăn chơi sành sõi. Trong cặp mắt của nhân vật Hai Đẩu, mọi chuyện trên đời không qua một chữ Tiền. Vì tiền, cô ta sẵn g bỏ chồng, sẵn sàng bán rẻ tấm thân mình. Cuộc hôn nhân với viên Ký lục chẳng qua là cuộc mua bán, có trả giá sòng phẳng : « Em là con gái thời xưa Qua cưới năm chục có vừa ý không » Các bác có thể đọc toàn văn truyện thơ có ý phê phán thực dân Pháp đã làm đảo lộn cuộc sống, thuần phong mỹ tục của dân ta, phê phán một bộ phận phụ nữ tham vàng bỏ ngãi, chạy theo Tây ở cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 tại đây: http://www.vanchuongviet.org/vietnam...ID=24&TGID=511 |
Xin cung cấp tư liệu:
1. Trong cuốn tiểu thuyết "Chủng tộc khác" (L’AUTRE RACE, NXB Albin Michel, Paris, 1930) của nhà văn Pháp Hebert Wild, được đề cử giải thưởng Gongcua, có đề cập nhận vật chính là một cô Sây, dân tộc Tày, lấy chồng Tây. Con cô ta được bố đưa về Pháp nuôi, sau trở lại VN, khó hoà đồng với XH Viêt Nam thời đó, không hòa hợp được với chính mẹ đẻ của mình nữa. Một cuốn sách rất hay, và nhà văn nhìn nhận với con mắt đầy tính nhân văn và với cái nhìn thiện cảm với Việt Nam. Ông gọi bọn quan lại xấu xa là "Quan Lớn" theo tiếng Việt. 2. Hebert Wild chính là bút danh văn học của nhà địa chất tài ba người Pháp Jacque Deprat, từng làm việc ở Việt Nam từ 1908 đến 1919. Từng từng giữ chức Giám đốc Sở Địa chất Đông Dương. 3. Trong hơn chục cuốn tiểu thuyết của ông viết sau khi ông về nước (1919), nhiều cuốn nói về thời kỳ ông làm việc ở VN, về XH Việt Nam thời ông sống, rất sinh động. 4. Văn học, nhất là tiểu thuyết, thường đi sau thực tiễn XH, nhà văn hồi tưởng, chiêm nghiệm lại quá khứ... Do vậy không lạ alf tiểu thuyết Chủng tộc khác in ở Paris 1930, nhưng toàn bộ câu chuyện theo tôi không vượt khỏi khung thời gian nhà địa chất này say mê nghiên cứu ở núi rừng Việt Bắc nước ta. Mỗi tiểu thuyết về VN của ông như một hồi ức đẹp hoặc đau buồn về quãng đời ông sống ở VN. 5. Đồng bạc Mexico (đồng bạc con cò) được thiếu tướng Bonard, chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha, cho lưu hành chính thức ở Annam ngày 10/4/1862. 6. Từ 1862 đến 1921 là gần 60 năm. 7. Nếu xét trong xã hội, gần Tây nhanh và ảnh hưởng của Tây sớm hơn, hẳn phải là người Kinh, ở đồng bằng, thành phố. Chứ khi việc lấy Tây đã lan đến miền núi, đến đồng bào dân tộc thiểu số với những quan niệm còn khắt khe hơn nhiều, thì đã không còn là giai đoạn đầu của "trào lưu" nữa. Cần biết thêm, con cô Sây trong tiểu thuyết Autre Race về sau đã trưởng thành, ngoài 20 tuổi, trở về VN. Nghĩa là mẹ cô kết hôn vơi quân nhân Pháp trước đoạn kết trong cuốn tiểu thuyết cỡ 20 năm! Và H. Wild đã kể lại toàn bộ câu chuyện đó. Tất nhiên văn học không phải sử học. 8. Kết luận của riêng Geo: - Việc lấy Tây không phải sang những năm 20 hay 30 của TK trước mới có, mà từ trước đó. Và chính trong giai đoạn đầu, nó đã bị lên án mạnh mẽ. - Chưa có tư liệu nào nói về người phụ nữ VN đầu tiên lấy Tây, nếu bác nào "tò tò" moi được tư liệu ấy kể cũng rất hay đấy. Thank. |
Các bác đếm được từng người "Lấy tây" như vậy thì tôi cũng đành chịu vậy, như tôi đã viết:
Trích:
Trích:
Các vấn đề nó phải trào dâng mạnh mẽ như một luồng sóng, một lớp người, một tệ nạn, thì mới gây được sự chú ý và đáng để phản ánh về một xã hội đó. Không thể bỗng nhiên, mà chỉ có một vài cá thể trong hàng chục triệu người, mà lại trở thành một điểm nhấn trong một nền văn học, trong một xã hội được. Do vậy trong thi ca giống như bài thơ của Nikolai Gumilyov, tôi tạm gọi là thể loại thơ "phản ánh hiện thực". Thì ông hoàn toàn không thể chỉ dựa vào vài cá thế nào để phản ánh cả một xã hội trong cả một thời kỳ của cả một dân tộc, mà chắc chắn rằng ông sẽ phải gạn lọc những điểm đáng chú ý nhất của xã hội đó để phản ánh trong tác phẩm của mình. Nếu không, tác phẩm sẽ trở thành dạng "Con kiến mà leo cành đa..." mất. Vâng, nhưng rồi đến thập kỷ thứ ba trở đi, thì ở Việt Nam đã thực sự dần xuất hiện một lớp người này. Do đó, các nhà văn của chúng ta mới "ồ ạt" đăng đàn các tác phẩm của mình nói về "vấn nạn" này. Thời kỳ này, vấn đề "Девушки" mới thực sự là một tâm điểm, là một "nhức nhối" để thu hút sự chú của toàn xã hội... Và sự ra đời của "Девушки" mới thực sự có hiệu quả và xác thực. |
Vài lời trao đổi với bác nthach:
- Trong tiếng Nga, Девушки để chỉ từ hai người trở lên, không nhất thiết phải là một lớp người. - Như trong bài viết của mình trên đây, Geo nói là cho đến 1919 thì chắc chắn số người làm me Tây đã không còn là cá thể, đôi ba người. Chỉ có điều chưa có ai làm thống kê. - Năm 1926 Việt Nam mới có tiểu thuyết đầu tiên làm theo phong cách lãng mạn, là cuốn Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách. Dễ hiểu phải sang những thập kỷ sau đó mới là thời kỳ chín của tiểu tuyết, truyện ngắn. - Cũng trong bài thảo luận trước, Geo cho là ngay những người lấy tây đầu tiên đã chịu sự lên án hà khắc của XH phong kiến cũ, không nhất thiết đến lúc thành “phong trào” mới bị lên án; Bằng chứng là ngay cô Tư Hồng, mà bác Hungmgmi đề cập, lấy Tây từ cuối TK 19, đã có ít nhất 2 bài bêu riếu: Ông Trần Bình đã viêt đôi câu đối: MỪNG CÔ TƯ HỒNG “Bốn chữ sắc phong hàm cụ lớn Ba thuyền tế độ của bà to!” Còn cụ tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến thì làm cả một bài thơ, cũng tặng cô Tư Hồng: “Giàu sang bà lớn thực trời cho Trời lại cho bà chữ tự do! Áo mạng, con đà ngôi mệnh phụ, Sắc rồng, cụ cũng mặt làng nho Tóc sương bực lão đành không kém, Má phấn đàn em dễ dám so! Khắp cõi trời Nam đều biết tiếng, Nghìn năm danh tiếng của bà to!” - Ca dao, dân ca, đồng dao thường xuất hiện sớm hơn văn học viết. |
1.Tôi thì cho rằng khi viết seri thơ về Đông Dương, nhà thơ Gumilev cũng không có tham vọng những bài thơ của mình sẽ đóng vai trò phản ánh" những điểm nhấn, những tâm điểm chú ý của một xã hội đương thời" mà ông vẫn còn xa lạ. Vào thời của Gumilev, ông chỉ biết về Đông Dương qua các văn bản. Đó là những văn bản đa dạng, dưới nhiều thể loại như bác tuntin đã phân tích trên đây. Mỗi bài thơ của Gumilev chỉ như một lát cắt mỏng của cuộc sống, thế thôi. Chắc hẳn nhà thơ nào cũng sẽ quan niệm như vậy. Tôi cho rằng không thi sĩ nào lại nghĩ rằng thơ tôi phải nói lên những cái thật lớn lao, thật tiêu biểu, phải gạn lọc nhiều để thể hiện "điểm nhấn" của xã hội cả, đúng không bác?
2.Còn vì sao ông dùng số nhiều, tôi nghĩ cũng đơn giản thôi. Dùng số nhiều, không có nghĩa ông coi đó là tất cả các cô gái Annam, là "luồng sóng, một lớp người" đâu. 3.Còn về đồng bạc in hình con chim: Đến khi Gumilev viết bài thơ thì đồng bạc Mễ Tây Cơ này, như các trích dẫn đã có trong các bài của bác tuntin, nó đã chấm dứt hiệu lực từ ngay trước đó khoảng chục năm rồi. Rõ ràng là các ý tứ, chi tiết trong bài lúc này đã là hoàn toàn vay mượn qua các văn bản khác. 4.Hình như chúng ta đang đi theo hướng khác của mạch tranh luận thì phải, có đúng vậy không các bác? Mấy ngày nay chúng ta đang bàn: Có phải Gumilev chịu ảnh hưởng của câu ca dao VN khi viết Девушки và Детская песенка? Bây giờ thì chúng ta đang bàn về ý kiến của bác nthach: "Qua những phân tích của riêng tôi ở trên, tôi xin đi đến một kết luận rằng: Nếu Nikolai Gumilyov viết "Những có gái Annam" thì thật là đáng trách, vì đó không phải là sự thật" |
Mục mỗi ngày một chuyện, hôm nay lại tiếp tục các bác ơi. Mục tuần này là trả lời câu hỏi của bác Hungmgmi:
Trích:
Như toàn bộ mọi người đã biết. Trong lĩnh vực thi ca, có lẽ nó hơi khác với dòng tiểu thuyết và văn viết. Trong lĩnh vực văn xuôi có lẽ hơi thoáng, ở đây có quá nhiều đất dành cho tác giả tùy nghi phóng bút, họ có thể phóng tác, bóp méo, mượn hình tượng… để tô đậm nhân vật, tình tiết, cốt chuyện… trong tác phẩm của mình, sao cho thật ly kỳ và thật khác người… để đưa độc giả vào những tình tiết lôi cuốn. Họ luôn cần đưa người đọc đến hết ngạc nhiên này cho đến những sửng sốt khác… Trái lại trong lĩnh vực thi ca, ở đây có lẽ lại hơi khắt khe một chút. Nó sẽ không đồng ý cho tác giả muốn bóp méo tình tiết và sự thật nào cũng được. Do vậy, luôn có những bài thơ đi vào lòng người, là những tác phẩm mà bất kỳ một thi sĩ nào cũng mong muốn. Xin lấy một ví dụ một bài thơ của Nguyễn Bính: Mưa dầm gió bấc cố nhân ơi! Áo rét nàng đan lỡ hẹn rồi Sông lạnh khi nàng ra giũ lụa Vớt giùm trong nước lấy hồn tôi. Khi đọc bài thơ này, có người lại cứ cho rằng ông đã viết về chính bản thân họ, và rất nhiều người khác cũng lại cho là ông đã viết về mình. Vậy là bài thơ đã được nhiều người chào đón một cách hồ hởi, vì nó đã mang đến cho họ những cảm giác thật mãn nguyện trong những thời điểm nhất định nào đó. Đó là thành công của tác giả. Tôi còn nhớ khi Nguyên Binh sang Liên Xô, có viết một bài thơ nói về nỗi lòng của một người xa xứ, tôi xin trích một đoạn: Sóng lặng Volga ắng như tờ. Phong cảnh chiều buồn tựa trong mơ. Dõi mắt xa đưa nhìn mây biếc. Nhưng hồn tôi gọi nỗi hoang sơ. … Khi đọc bài thơ này, ít nhất cũng có nhiều người đồng cảm và bùi ngùi cho thân phận mình nơi viễn xứ. Tôi xin đi gần hơn một chút nữa, Người Việt Nam có câu: Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa. Thật là rõ ràng như ban ngày, đó là qui luật tự nhiên của xã hội. Vào thời kỳ trước ai nghe thấy câu này cũng phải thừa nhận rằng, nó hoàn toàn đúng!. Vậy ta thử bẻ đi một chút: Trên đồng cạn, dưới đồng sâu Vợ cày, chống cấy con trâu đi bừa. Thì tự nhiên câu ca dao này trở nên vô nghĩa và phản tác dụng, và nó nhanh chóng bị mọi người bác bỏ, hoặc ít nhất nó cũng bị đổi lại vị trí. Vậy trong thi ca được phép "tráo đổi khái niệm" như thế nào. Tôi xin lấy một ví dụ một câu thơ: Ánh nắng chiếu xuống khắp hiên nhà. Cây hồng đang nở một cành hoa. Câu thơ trên quả là khô khan và có phần lủng củng, do đó ta có thể tráo đổi đi một chút: Giọt nắng lung linh khắp hiên nhà. Cành hồng hé nở một nụ hoa. Chúng ta hãy tạm quên đi cú pháp và cách đặt câu ở các đoạn thơ trên, và nhất trí rằng, cách tráo đổi như phía dưới đã làm cho câu thơ dịu dàng và có thi vị hơn, nhưng vẫn giữ được ý thơ. Đúng vậy, ta có thể mượn ca dao hoặc kể cả mượn cú pháp của người khác để viết cho tác phẩm của mình, nhưng phải lột tả được tự nhiên vốn có của những tình tiết xung quanh ta, nhất là thể loại "phản ảnh hiện thực" theo dòng ca dao tục ngữ. Thôi có lẽ tôi qua miên man quá làm mọi người khó chịu, với những dòng viết trên tôi chỉ muốn tự nói nên suy nghĩ của riêng mình, về việc nếu làm biến dạng hay tráo đổi ngôn từ, hoặc đi ngược lại với tự nhiên của xã hội mà ta thể hiện trong thơ ca thì nó sẽ có tác dụng như thế nào, và khi bài thơ được ra đời đúng thời điểm và nó phản ánh được tâm trạng của người đọc thì nó được đón chào rất nồng nhiệt ra sao, (tất nhiên đây cũng chỉ là ý kiến của riêng tôi). Còn bây giờ tôi đi thẳng vào câu trả lời chính. Để trả lời câu hỏi mà chính tôi đã viết ra trên kia, thì tôi cũng xin phép chỉ thâu tóm lại những gì tôi đã viết trong topic này (nhưng chắc là chưa rõ ràng nên làm mọi người chưa hiểu). Ngay lúc đầu tôi đã không nhất trí rằng, bài thơ "Девушки" là viết về những cô gái Việt Nam, nhưng khi thấy các bác đều đi theo một hướng là, tác giả đã mượn ca dao Việt Nam để phóng tác. Vậy tôi tạm thời đi cùng đường các bác để rồi cùng đưa ra những dẫn chứng cụ thể hơn. Sau đây tôi xin mạn phép được dịch bài này: Những thiếu nữ. Nhiều thiếu nữ đam mê đồng xu nhỏ Trên mặt tiền in hình con chim ó Họ chối bỏ cả những bậc sinh thành Để theo hầu mấy anh Pháp mắt xanh. Ta tạm thời không dùng đến từ "Rupee" thì nó mới gần Việt Nam hơn. Nhưng cũng cần phải nói là: Bất kỳ một độc giả nào khi đọc đến từ Rupee thì đều có cảm nhận và liên tưởng, đó là đang nói về các nước Trung Á – vì như người ta đã thường có khái niệm rất chặt chẽ rằng – đồng tiền là tiếng nói của quốc gia sử dụng nó. Nếu gọi đồng Rupee theo như các bác suy xét, đó là ông gọi chung cho một loại tiền thì chưa ổn. Tại sao tác giả không gọi là деньги hoặc Money cho nó chung chung hơn, mà cứ phải gọi là рупии. Trong khi đó ở Annam đang dùng đồng Mexicana mà tên gọi của nó đơn giản chỉ là Piastre – đồng bạc, hay đồng Mexicana. Vậy tại sao ông không viết là "nhiều thiếu nữ đam mê đồng Piastre?" mà lại gọi rất rõ ràng như vậy, làm người đọc buộc liên tưởng đến ngay các quốc gia Trung Á. Trong thời kỳ này ngân hàng Indochia cũng đang "sở hữu" những quốc gia Trung Á này. Thôi tôi cũng tạm bỏ về này đã. Như tôi đã dẫn giải thích rất nhiều ở trên. Ông là một người đang ở Pháp và nghiên cứu về Đông phương học, ông chỉ "ngồi một chỗ" thì nhất định ông không thể biết là có vài cô gái đang theo tây ở Annam. Và như tôi đã viết, nếu có một lớp người như vậy xuất hiện thì mới có một làn sóng dư luận rộng rãi, và "tiếng lành mới đồn xa", còn nếu như ông chỉ ngồi Paris thì làm sao biết được cái "lát mỏng" ở một xứ sở quá xa đến như vậy, để rồi phóng tác ra những cái ông không biết (cái này nếu có thì thật đáng trách). Các bác thế nào cũng nói rằng vào thời kỳ đó sẽ có nhiều gái Việt theo Pháp, tôi cũng xin nói lại rằng, hoàn toàn chưa hề xuất hiện một lớp người này vào đúng thời kỳ này. Tại sao tôi lại cứ nhùng nhằng mãi về ý này, cũng là vì có ý nói chỉ một vài cá thể của cả một vùng dân tộc, thì không đủ để làm lên một tiếng vang lớn dư luận trong xã hội đó ra đến khắp năm châu. Tôi xin tạm dừng ở đây, và sẽ viết tiếp sau nhé. |
Geo tin là trước cùng một hiện tượng, một sự vật, mối người có cách tiếp cận riêng, và sẽ hiểu theo cách của riêng mình. Điều đó hoàn toàn bình thường.
Cũng dịch một bài thơ, nhưng 10 người dịch sẽ đưa ra những phương án dịch rất khác nhau, đó là chưa kế nếu là phóng tác thì vô chừng… Chuyện Kiều được Nguyễn Du viết theo nội dung một tiểu thuyết của Tàu, kịch Romeo và Julet được Xếchxpia viết dựa trên cốt truyện của Ytalia (nếu Geo nhớ không nhầm). Nhưng nếu Nguyễn Du, Xếchxpia không đưa thêm vào bao nhiều tình tiết, sáng tạo, sẽ không bao giờ hai tác phẩm đó có thể trở thành tinh hoa của nhân loại. Những bài thơ của Gumiliev in trong tập “Фарфоровый павильон”, phần “Индокитай” chỉ có 5 bài. Cảm nhận của riêng geo là cả 5 bài này ông dành cho xứ Đông Dương thuộc Pháp, nghĩa là ngoài Việt nam, còn có Lào, Campuchia và một phần rất nhỏ của Tàu. Tại sao Geo cảm nhận vây: 1) Vì Gumiliev đang ở Pháp, điều kiện tiếp cận với mảng tư liệu Đông Dương thuộc Pháp chắc dễ hơn so với màng Mã lai, Thái Lan, Mianma. 2) Trong mấy bài đã đã được post trên 4rum NNN và đã được dịch, thấy rõ có 1 bài về Lào, 2 bài về Việt Nam (bài Nàng cóc và bài Annam – chưa thấy ai phản đối ý này). Còn bài "Девушки" thì cho đến lúc này, bác nthach vẫn kiên trì bảo vệ ý kiến của mình. Điều này cũng rất thỏa đáng. Còn bài “Кха” thì chưa được dịch, và cũng chưa ai cho ý kiến. Sơ bộ thì thấy bài đó cũng viết về đề tài nước Lào. Như vậy là khá tập trung. Hy vọng trong thời gian sớm nhất, Nina sẽ lấp kín khoảng trống này! Trong 2 bài viết về đề tài VN, thì bài về Nàng cóc khá rõ là một phóng tác theo bài ca dao “Cái cò trắng bạch như vôi”. Vì vậy, chắc hẳn Gumiliev đã được tiếp cận với các bản dịch Pháp văn của thơ ca dân gian VN thời kỳ ông ở Pháp 1917. Và một người đọc như Geo cảm nhận thêm: Rất có thể bài "Девушки" cũng được phóng tác theo bài ca dao khác của VN “Ham chi đồng bạc con cò…”. Cả 2 phát hiện này đều là công lao tìm tòi của bác Tuntin. Sự cảm nhận như trên của geo còn dựa trên sự kiện là đồng tiền Mexico có hình con ó từng được chính thức sử dụng ở VN trước khi bài thơ của Gumiliev ra đời, và dân ta thì gọi nó là “đồng bạc con cò” như nhiều bác đã phân tích có dẫn liệu. Về motyp thì có gì đó hao hao giống nhau: Tham đồng tiền có hình con chim, và theo Tây. Cũng theo cảm nhận của mình, Geo cho là trước 1918 ở Việt Nam đã có nhiều phụ nữ lấy chống Pháp. Điều này cũng dễ hiểu. Khi thực dân Anh chiếm Trung Quốc, cũng nhanh chóng có nhiều phụ nữ Trung Quốc lấy chồng “Tây”. Và điều đó thường xảy ra như thế. Pháp tấn công Việt Nam từ giữa TK19, đến 1862 Nhà Nguyễn đã ký hiệp ước “Hòa bình hữu nghị” với Pháp và Tây Ban Nha, Pháp đã xây nhà tù Côn Đảo vào năm ấy, rồi từng bước thôn tính toàn cõi Việt Nam. Đến 1883 thì Nam Kỳ đã thành thuộc địa chính thức của Pháp, còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ - là xứ Pháp bảo hộ. Chữ "Девушки" trong bài thơ của Gumiliev hoàn toàn có thể dịch là “Vài thiếu nữ”, không nhất thiết phải dịch là “Nhiều thiếu nữ” như bác nthach (ý Geo muốn nói là dịch cả hai cách đều đúng). Bài thơ "Девушки"của Gumiliev khó có thể nói là viết về các nước Trung Á như bác nthach viết, vì Trung Á không thuộc “Индокитай”, và càng không thuộc xứ “Đông Dương thuộc Pháp”. Trên đây chỉ là cảm nhận riêng của Geo, và Geo thấy hoàn toàn tin vào những gì bác Tuntin đã mầy mò tìm được. Và dù không kể bài "Девушки", thì riêng phát hiện bài “Cái cò trắng bệch như vối” của bác Tuntin cũng đã là một đóng góp rất có ý nghĩa. Cũng như bác USY nói, các bài thơ này chỉ là một mảng nhỏ thơ của Gumiliev, không phải những bài thơ hay so với các mảng sáng tác khác của ông. Tuy nhiên, bài về Annam theo Geo là một bài có giá, nó chứng tỏ tác giả đã phần nào hiểu được cái xứ Annam xa xôi mà ông chưa từng đặt bước chân. Không phải ngẫu nhiên bài đó đã được dịch sang tiếng Anh. Xin post dưới đây bản “Cái cò trắng bạch như vối” được dịch sang tiếng Pháp (chưa rõ ai dịch): La cigogne est toute blanche comme de la chaux Voulez-vous, mademoiselle, épouser mon père ? Ma mère ne vous réprimandera, ni vous dédaignera, Elle ne fera qu’arracher vos yeux, ouvrir votre estomac et regarder votre fois ! Tạm dịch nghĩa : Cô cò trắng bạch như vôi Cô có muốn về làm vợ bố tôi không ? Mẹ tôi không mắng, không chê cô đâu, Bả chỉ móc mắt, moi mề và xem gan cô thôi. Gửi lời kính trọng tới tất cả các bác đã tham gia cuộc tranh luận lý thú này. Cũng muốn các bác tiếp tục đề cập tới bài thơ thứ 5 trong cụm “Индокитай” |
Trích:
|
Trích:
Кха là Người Khạ ở bên Lào đấy. Những người này sống ở Tây Nghệ An và một số nơi khác ở Việt Nam còn được gọi là người Khơ Mú. Nina chịu khó xem bài dưới đây nói về Voi trắng của người Khạ nhé. Geo chỉ dám gửi phần đầu bài viết, vì gửi hết sợ bị nghĩ là người của Alqueda :emoticon-0136-giggl Nhưng trước hết Geo thử đưa ra phương án dịch của mình, dù chưa tin tưởng lắm:
Белые слоны кха Верхом на задавале Весь видимый мир заполняла красная густая и хрусткая пыль, проникавшая через одежду, набивавшаяся в волосы, уши, рот, вызывавшая нестерпимый зуд и доводившая до отчаяния. Струйки пота превращались в оранжевые потеки, загустевали коричневыми масками на лицах. «Джип» по оси тонул в этой пудре, поднимавшейся из-под колес густыми клубами, и в первый раз, что я ездил по дорогам Лаоса, я не видел ни велосипедов, ни мопедов: в здешних условиях они не годились. Так продолжалось полдня, а потом мы с наслаждением выкупались в каком-то болоте, разогнав с поверхности бочага ряску. Едва выйдя из воды, мы тут же залезли в высокие ботинки: нам сказали, что вокруг кишат змеи. Змей, впрочем, мы так и не увидели, за исключением той, которую приготовили для нас на ужин. Это была не дорога, а скорее тропа. Мы двигались из города Паксе в деревню Тунгной, в восточной части плато Боловен, расположенном на юге Лаоса. Оттуда наш путь лежал в джунгли, где жили люди народности кха — это общее название множества племен индонезийской языковой группы. К середине дня мы были на месте. На единственной площади Тунгной, окруженной несколькими строениями: крытым жестью зданием с легкими стенками — помещением местной власти, кирпичным складом для горючего, несколькими серыми от солнца и дождей хижинами,— полулежали слоны. Их было четыре и еще один детеныш. Выпиравшие мощные позвоночники казались килями больших шлюпок, положенных набок. Связанные из бамбука площадки с низкими перильцами, с подставками, похожими на кресла с раздвинутыми ножками, валялись рядом с грудой амуниции. И мы сами, и вещи должны были поместиться на этих площадках. Начали седлаться. Слоны помогали: подпругу, сделанную из лианы, брали в хобот, продевали между ног, совали погонщику, подтягивавшему бамбуковую площадку к спине. Мне показалось, что завязывает он совсем не туго. Погонщик прищелкнул языком. Слон подогнул ногу, подставляя ее мне. Помня только что полученные наставления, я схватился за огромное ухо, встал на мощную лодыжку, а остальное произошло само по себе. Слон, которого звали Задавала, поддел меня хоботом и перекинул в бамбуковую корзинку. Корзинка тут же съехала набок. Я беспомощно ухватился за края. Однако появившийся рядом погонщик в вылинявшей панаме уравновесил меня. На втором животном разместились еще двое, а на остальных взвалили тюки с книгами, тетрадями, лекарствами, коробками кинолент, кое-какими продуктами и нашу поклажу. В общем-то выходило, что слоны оказались не такими уж силачами... Да и во время похода, в течение которого мы двигались над сплошными зарослями, достигавшими слонам до бивней, они, как я заметил, обходили крупные деревья. Пхо Пхотилак, погонщик головного слона, на которого меня посадили, давал животному полную волю выбирать дорогу, поправляя взятое им направление только если оно расходилось с намеченным путем. Щелчок языком, легкий удар палкой по уху, и слон, уперев нарост между хоботом и лбом в ствол дерева, сгибал его, переламывая затем мощной ногой. На крутых склонах животное подгибало задние ноги и съезжало, как на санках, раздирая кустарник и мелкие деревца. Мотаясь из стороны в сторону, измученный до тошноты беспрестанным подкидыванием, я сидел с затекшими ногами, вцепившись в перильце корзины, совсем не уверенный в том, что меня не выкинет из нее в заросли на какой-нибудь колдобине. Пхо Пхотилак работал ветеринаром, и главная цель, которую ставил перед ним Народный комитет провинции, состояла в увеличении поголовья как одомашненных, так и диких слонов. Правда, в южном Лаосе издавна не делают различия между теми и другими. На период вязки домашних животных отпускают на волю. Как сообщил Пхо, по данным Министерства сельского хозяйства республики, в четырех основных «слоновьих» провинциях Лаоса — северной Сайябури и южных Чампассак, Сараван и Аттопеу — в хозяйстве держат примерно тысячу животных. Заняты они в основном на трелевочных лесных работах: с этим они справляются в лаосских лесах куда лучше механизмов. Часто слонов используют и под вьюками. Шеститонная громадина не может, однако, брать на спину более центнера груза из-за слабого позвоночника. Индокитайские слоны — неисправимые бродяги. Из Лаоса, где охота на них издревле строго нормирована, они перебираются, переплыв Меконг, в Таиланд, оттуда идут в Бирму, во Вьетнам. Кха издавна охотились на слонов, догоняя их бегом — скорость огромных животных не превышает двадцати километров в час. Охотники проскальзывают под слона и вонзают в брюхо копье. Требуются большая энергия и хорошая выносливость в соединении с хладнокровием, чтобы решиться на это. Раненый слон прекращает бегство. В этот момент он становится опаснее тигра. В особенности старый самец, уже встречавшийся с вооруженными людьми. Неудачливый храбрец будет раздавлен и растерт буквально в пыль. — От специалистов приходится слышать, что индокитайский слон,— говорил Пхотилак,— намного слабее африканского. Дело в том, что натуралисты наблюдали в основном только горного слона, он чаще у нас встречается. Он меньше слонов из заболоченных долин. Те водятся вокруг озера Тонлесап в Кампучии, достигают в высоту у плеча более трех метров, а бивни у них — в метр длиной. Некоторые зоологи считают, что наш слон вырождается — сказывается «биологическая усталость», ведь вид существует многие тысячелетия. Все это еще изучать и изучать, только потом можно принимать меры. Мое дело на первых порах — убедить кха помогать мне в работе. По некоторым данным, приручение слонов в Азии началось тысячи четыре лет назад... |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 09:24. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.