Nước Nga trong tôi

Nước Nga trong tôi (http://diendan.nuocnga.net/index.php)
-   Thi ca (http://diendan.nuocnga.net/forumdisplay.php?f=30)
-   -   Thơ của Vladimir Nabokov (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=146)

Geobic 30-11-2007 14:25

Thơ của Vladimir Nabokov
 
Xin gửi vào đây mời dịch 1 bài của Nabokov - một nhà văn, nhà thơ Nga lưu vong, có lẽ vì thế ông đồng cảm với những cánh hạc bay ngang trời thì phải.

Владимир Набоков

ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

Geobic 30-11-2007 14:26

Trích:

hungmgmi viết
Bác Geobic mến, đồng chí Nabokov này chưa bao giờ được trao giải Nobel cả. Đồng chí là nhà văn Nga lưu vong, sự nghiệp thì em không biết có giá trị gì lắm không, nhưng nổi đình đám trên văn đàn thế giới nhờ một tiểu thuyết tầm tầm có tên LOLITA, đã được đưa lên màn bạc 2 lần rồi. Chủ đề của tiểu thuyết là tình yêu của một thiếu nữ vị thành niên với một gã trung niên, và từ đây khái niệm "Lolita" đã đi vào đời sống, chỉ các thiếu nữ dậy thì và yêu đương vô lối với các bậc cao niên.
Phim này đang có trên thị trường, bản DVD, phụ đề tiếng Việt, xem chán òm.

@ Hungmgm.
Cảm ơn Hungmgm vì những thông tin ngắn về Nabokov.

Để hiểu đầy đủ hơn về tác giả này, Geobic xin cung cấp tiếp như sau:

V. Nabokov (1899-1977), nhà văn, nhà thơ, kịch tác gia, nhà phê bình VH, dịch giả người Nga. Từ 1919 cùng gia đình rời nước Nga, sau sống ở nhiều nơi: Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Thuỵ Sỹ.

Hoạt động văn học của Nabokov rất phong phú và đa dạng, có nhưng tác phẩm được bán rất chạy, xuất bản nhiều lần. Ông cũng đã nhận một số giải thưởng lớn (không có Nobel). Những đánh giá về Nabokov cũng rất đa dạng, thậm chí trái ngược nhau, tuy nhiên các nhà nghiên cứu có chung nhận xét: Nabokov là “một nhà văn lạ lùng”.
Nabokov nhấn mạnh mối quan hệ sáng tạo giữa nghệ thuật và thực tiến, ông phản đối quan điểm cho rằng văn học là “tấm gương của cuộc sống”.

Sáng tác của Nabokov thể hiện quan điểm của những người Nga lưu vong, tình trạng bi kịch của họ. Tuy vậy, Nabokov là người thừa kế triệt để di sản văn hoc cố điển Nga. Bộ phận chính yếu trong sáng tác của nhà văn này là những cuốn tiểu thuyết, trong đó có những thành công lớn như: Massenca (1926), Lolita (1955)... Ông cũng viết nhiều thơ, mà bài thơ nhỏ Geo muốn mời thành viên NNN dịch nói lên tâm trạng của một người lưu vong, khi nhìn trời cao viễn xứ thấy những cánh hạc bay… Ông mất năm 1977 tại Thuỵ Sỹ, không có may mắn như Brodski và một số nhà văn Nga lưu vong khác được sống tới thời nước Nga đổi mới…

tykva 30-11-2007 14:27

Trích:

Владимир Набоков viết
ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918


Em thử liều dịch thế này:

Đàn sếu

Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.


Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.

Geobic 30-11-2007 14:30

Trích:

viết
Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.


Rất hoan nghênh bản dịch đầu tiên của Bí. Doan trích trên đây rất gợi cảm, phản ảnh đúng cảm xúc của Nabokov - người xa xứ.

USY 30-11-2007 14:30

Sếu bay

Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng,
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang,
Vẳng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.

Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt, dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.

Geobic 30-11-2007 14:32

Không biết có phải từ trong 4-rum của NNN mà những vần thơ đầu tiên của Nabokov được dịch sang tiếng Việt? Nếu đúng vậy thì cũng là vinh dự. Vì nói cho cùng thì ông cũng là một nhân vật lớn của VH thế giới.
Geo mời các mem dịch tiếp 2 bài sau đây của ông, còn mình thì sớm mai lại phải khăn gói lên đường đi công tác rồi. Hẹn gặp lại!

Владимир Набоков

* * *

Есть в одиночестве свобода,
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду, снежинку, каплю меда
я заключаю в стих.

И, еженочно умирая,
я рад воскреснуть в должный час,
и новый день — росянка рая,
а прошлый день — алмаз.


ВЬЮГА

Тень за тенью бежит - не догонит,
вдоль по стенке... Лежи, не ворчи.
Стонет ветер? И пусть себе стонет.
Иль тебе не тепло на печи?

Ночь лихая... Тоска избяная...
Что ж не спится? Иль ветра боюсь?
Это - Русь, а не вьюга степная!
Это корчится черная Русь!

Ах, как воет, как бьется - кликуша!
Коли можешь - пойди и спаси!
А тебе-то что? Полно, не слушай...
Обойдемся и так, без Руси!

Стонет ветер все тише и тише...
Да как взвизгнет! Ах, жутко в степи...
Завтра будут сугробы до крыши...
То-то вьюга! Да ну ее! Спи.

USY 30-11-2007 14:33

Есть в одиночестве свобода,
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду, снежинку, каплю меда
я заключаю в стих.

И, еженочно умирая,
я рад воскреснуть в должный час,
и новый день — росянка рая,
а прошлый день — алмаз.

Tự do có trong đơn côi,
Ngọt ngào có trong mộng tưởng.
Sao trời, tuyết bay, mật ngọt
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnhi,
Mỗi ngày đã qua - là kim cương chói lọi ánh bình minh.

Geobic 30-11-2007 14:34

Trích:

USY viết
Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,


Đúng là người của trường thơ Năm Phút. Thật tuyệt phải không bác VTN - người bạn tôi, cũng là người rất hâm mộ các dịch giả của NNN.

USY 30-11-2007 14:39

Trích:

Phanhoamay viết
Владимир Набоков

ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

Trước khi bắt tay vào dịch một bài thơ,
1. Ta phải tra nghĩa thật chính xác một số từ mà ta thấy chưa thật yên tâm hoặc chưa rõ vì sao tác giả lại dùng từ đó:
- всхлипывать - nức nở, thổn thức
- кочующие журавли - đàn sếu di cư, di trú.
- томноe небo - bầu trời uể oải, thẫn thờ.
2. Tác giả viết rất cô đọng, gần như là một bài thơ Trung Hoa cổ, do đó ta phải cố gắng "dịch" cái cô đọng đó sang bài thơ tiếng Việt, tránh dùng nhiều từ.

Xuất phát từ 2 điều trên, tôi liều đưa ra phương án của mình

Đàn sếu

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...

ВЬЮГА

Тень за тенью бежит - не догонит,
вдоль по стенке... Лежи, не ворчи.
Стонет ветер? И пусть себе стонет.
Иль тебе не тепло на печи?

Ночь лихая... Тоска избяная...
Что ж не спится? Иль ветра боюсь?
Это - Русь, а не вьюга степная!
Это корчится черная Русь!

Ах, как воет, как бьется - кликуша!
Коли можешь - пойди и спаси!
А тебе-то что? Полно, не слушай...
Обойдемся и так, без Руси!

Стонет ветер все тише и тише...
Да как взвизгнет! Ах, жутко в степи...
Завтра будут сугробы до крыши...
То-то вьюга! Да ну ее! Спи.

Bão tuyết
Bóng tối trên tường dồn bóng tối,
Hãy nằm yên, trằn trọc làm chi!
Gió rên rỉ thì thây kệ gió
Hay mi chưa đủ ấm bên lò?

Đêm tai ương...Nỗi nhớ căn lều nhỏ
Mi khó ngủ ư, hay sợ gió rồi?
Đâu phải là thảo nguyên bão tuyết,-
Là nước Nga trăn trở lúc tối trời!

Nào rú rít, giật rung, gào thét!
Có sức thì ra cứu giúp đi!
Sao thế nữa? Đủ rồi, bưng tai lại...
Sẽ qua thôi, dù nước Nga chẳng bên mi!

Tiếng gió rên khe khẽ yếu dần
Rồi lại tru lên... Ôi, thảo nguyên đáng sợ!
Sáng mai ra, băng ngập dày kín cửa...
Bão tuyết cơ mà! Thôi kệ nó, ngủ đi!

USY 30-11-2007 14:42

Khuân vác tư liệu :D

Trích:

Phanhoamay viết
USY viết:
Есть в одиночестве свобода,
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду, снежинку, каплю меда
я заключаю в стих.

И, еженочно умирая,
я рад воскреснуть в должный час,
и новый день — росянка рая,
а прошлый день — алмаз.

Tự do có trong đơn côi,
Ngọt ngào có trong mộng tưởng.
Sao trời, tuyết bay, mật ngọt
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnhi,
Mỗi ngày đã qua - là kim cương chói lọi ánh bình minh.



Tôi xin mạn phép "biên tập" đôi chỗ bản dịch đã rất hay của USY. Việc biên tập là chuyện thường tình, mọi người vẫn thường giúp chỉnh các bản dịch của tôi đấy thôi?

Tự do có trong đơn côi,
Ngọt ngào có trong mộng đẹp.
Sao trời, tuyết bay, giọt mật
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnhi,
Mỗi ngày qua - là kim cương long lanh


"chói lọi ánh bình minh" là USY phóng tác cho đủ chữ và đúng vần, tôi thay bằng "long lanh", cũng là bịa so với nguyên bản, nhưng giảm được 50% cái sự bịa! Hihi!

Trích:

Phanhoamay viết
Владимир Набоков


Đàn sếu

Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...


Trích:

Geobic viết
Không còn muốn gì hơn. Bác PHM đã mang lại hơi thở Đường Thi cho Nabokov. Mà không biết bác đã "xin" chị Trăng Quê câu đầu chưa ấy nhẩy?

Đội Gana đang thắng Mỹ 2-1, hiệp 2 bắt đầu. Thừa thắng xông lên, bằng cách post thêm 4 "quả" của Nabokov nữa. Vị chi tỉ số là 6-1? Tuy Geo chưa có 1 chữ nào dich nhà thơ này, nhưng tự xét có công đưa ông lên đây, mong mọi người vì thế mà xí xoá. Vả lại dạo này Geo bận quá, mai đi công tác sớm rồi, tạm xa NNN một thời gian.

Озеро


Взгляни на озеро: ни солнце, ни звезда,
ни мощные дубы, ни тонкая осока,
хоть отражаются так ярко, так глубоко,
не оставляют в нем следа.

Взгляни и в душу мне: как трепетно, как ясно
в ней повторяются виденья бытия!
Как в ней печаль темна, как радость в ней прекрасна...
-- и как спокоен я!

24 августа 1918


x x x


О чем я думаю? О падающих звездах...
Гляди, вон там одна, беззвучная, как дух,
алмазною стезей прорезывает воздух,
и вот уж путь ее -- потух...

Не спрашивай меня, куда звезда скатилась.
О, я тебя молю, безмолвствуй, не дыши!
Я чувствую -- она лучисто раздробилась
на глубине моей души.

26 августа 1918


Солнце бессонных


Sun of the sleepless
(из Байрона)

Печальная звезда, бессонных солнце! Ты
указываешь мрак, но этой темноты
твой луч трепещущий, далекий,-- не рассеет.
С тобою я сравню воспоминаний свет,
мерцанье прошлого -- иных, счастливых лет -
дрожащее во мгле; ведь, как и ты, не греет
примеченный тоской бессильный огонек,--
лучист, но холоден, отчетлив, но далек...

7 сентября 1918


Лунная ночь


Поляны окропил холодный свет луны.
Чернеющая тень и пятна белизны
застыли на песке. В небесное сиянье
вершиной вырезной уходит кипарис.
Немой и стройный сад похож на изваянье.
Жемчужною дугой над розами повис
фонтан, журчащий там, где сада все дороги
соединяются. Его спокойный плеск
напоминает мне размер сонета строгий;
и ритма четкого исполнен лунный блеск.
Он всюду -- на траве, на розах, над фонтаном
бестрепетный, а там, в аллее, вдалеке,
тень черная листвы дробится на песке,
и платье девушки, стоящей под каштаном,
белеет, как платок на шахматной доске...

18 сентября 1918


tykva 30-11-2007 14:44

Trích:

Владимир Набоков viết

* * *

Есть в одиночестве свобода,
и сладость — в вымыслах благих.
Звезду, снежинку, каплю меда
я заключаю в стих.

И, еженочно умирая,
я рад воскреснуть в должный час,
и новый день — росянка рая,
а прошлый день — алмаз.


ВЬЮГА

Тень за тенью бежит - не догонит,
вдоль по стенке... Лежи, не ворчи.
Стонет ветер? И пусть себе стонет.
Иль тебе не тепло на печи?

Ночь лихая... Тоска избяная...
Что ж не спится? Иль ветра боюсь?
Это - Русь, а не вьюга степная!
Это корчится черная Русь!

Ах, как воет, как бьется - кликуша!
Коли можешь - пойди и спаси!
А тебе-то что? Полно, не слушай...
Обойдемся и так, без Руси!

Стонет ветер все тише и тише...
Да как взвизгнет! Ах, жутко в степи...
Завтра будут сугробы до крыши...
То-то вьюга! Да ну ее! Спи.


Владимир Набоков

* * *

Trong cô đơn luôn sẵn có tự do,
Trong mộng ảo - vị ngọt ngào mơ ước.
Ánh sao, giọt mật và bông tuyết
Tôi giam vào chỉ một câu thơ.

Và mỗi đêm là một lần hấp hối,
Tôi vui mừng mỗi rạng sáng hồi sinh.
Sương thiên đường lấp lánh ngày mới đến
Khi ngày qua - thành kim cương long lanh.

Bão tuyết

Trên tường chập chờn bóng tối
Nằm yên đi, thôi đừng có càu nhàu.
Gió thét gào? Ừ thì kệ gió.
Nằm bên lò sưởi chẳng ấm sao?

Đêm tai hoạ... Buồn chán trong nhà gỗ...
Sao khó ngủ thế này? Ta sợ gió hay sao?
Nước Nga đấy, đâu phải là bão tuyết!
Là nước Nga đen tối chuyển mình thôi!

Chà, tiếng rú gào, tiếng gió rít rợn người!
Nếu có thể - hãy đi ra mà cứu lấy!
Ta á? Đủ rồi, thôi đừng nghe xui dại...
Ta lo được cho mình, dù chẳng có nước Nga!

Tiếng gió gào như đang dần lặng đấy...
Lại đột ngột rít lên! Ôi đáng sợ thảo nguyên...
Rồi sáng ra chất chồng từng đống tuyết...
Đến tận mái nhà! Thôi mặc bão! Cứ ngủ ngon.

USY 30-11-2007 14:46

Trích:

Phanhoamay viết
Tôi xin mạn phép "biên tập" đôi chỗ bản dịch đã rất hay của USY. Việc biên tập là chuyện thường tình, mọi người vẫn thường giúp chỉnh các bản dịch của tôi đấy thôi?

Tự do có trong đơn côi,
Ngọt ngào có trong mộng đẹp.
Sao trời, tuyết bay, giọt mật
Tôi giam cả vào thơ.

Rồi hàng đêm sau mỗi lần hấp hối,
Lại sướng vui đón giờ khắc phục sinh,
Mỗi ngày mới như giọt sương tiên cảnhi,
Mỗi ngày qua - là kim cương long lanh


"chói lọi ánh bình minh" là USY phóng tác cho đủ chữ và đúng vần, tôi thay bằng "long lanh", cũng là bịa so với nguyên bản, nhưng giảm được 50% cái sự bịa! Hihi!


Bác Phan sửa 3 chỗ, đứng là 3 chỗ em yếu nhất - lúc dịch không nghĩ nổi bác sửa thế làm bài thơ thanh thoát và chính xác hơn nhiều, hay hẳn lên! Em phục bác sát đất và cám ơn bác rất nhiều! mà hình như biên tập thì không có nhuận bàn phím bác nhỉ Thôi thì khi nào bác NguyenAnh cho lên trang NNN hoặc trong tạp chí "Cây nhà lá bờ rào" của bác ấy thì xin đăng bản dịch bác sửa, dưới đề : Người dịch - Si Phan, bác nhé!

tykva 30-11-2007 14:47

Trích:

Озеро


Взгляни на озеро: ни солнце, ни звезда,
ни мощные дубы, ни тонкая осока,
хоть отражаются так ярко, так глубоко,
не оставляют в нем следа.

Взгляни и в душу мне: как трепетно, как ясно
в ней повторяются виденья бытия!
Как в ней печаль темна, как радость в ней прекрасна...
-- и как спокоен я!

24 августа 1918

Mặt hồ

Hãy ngắm mặt gương hồ: Mặt trời, những vì sao,
Cả rừng sồi cao, cả những cây cỏ thấp,
In bóng mình trên mặt hồ sáng trong và sâu thẳm,
Không bao giờ để lại dấu vết nào.

Hãy nhìn thẳng vào hồn tôi: từng sự kiện mà tôi thấy
Làm hồn tôi xao xuyến, bồi hồi rung động!
Nỗi buồn tối màu và niềm vui rạng ngời đều phản chiếu...
-- Nhưng tôi, tôi bình thản sống qua!

24 августа 1918

tykva 30-11-2007 14:48

Tranh thủ các bác còn chưa tới cơ quan, em xì pam thêm một bài:

Trích:

О чем я думаю? О падающих звездах...
Гляди, вон там одна, беззвучная, как дух,
алмазною стезей прорезывает воздух,
и вот уж путь ее -- потух...

Не спрашивай меня, куда звезда скатилась.
О, я тебя молю, безмолвствуй, не дыши!
Я чувствую -- она лучисто раздробилась
на глубине моей души.

26 августа 1918

Tôi nghĩ về gì nhỉ? Về những vì sao rơi...
Nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng lẽ
Cắt qua không gian một vết ánh kim cương,
Rồi tắt ngấm vĩnh viễn trong đêm trường...

Xin đừng hỏi nhé em, điểm đến của vì sao.
Van em đấy, hãy lặng im và tạm ngừng hơi thở!
Tôi thấy như vì sao đang vụn vỡ
Thành ngàn tia sáng nơi thẳm sâu của hồn tôi.

26 августа 1918

USY 30-11-2007 14:49

Trích:

О чем я думаю? О падающих звездах...
Гляди, вон там одна, беззвучная, как дух,
алмазною стезей прорезывает воздух,
и вот уж путь ее -- потух...

Не спрашивай меня, куда звезда скатилась.
О, я тебя молю, безмолвствуй, не дыши!
Я чувствую -- она лучисто раздробилась
на глубине моей души.

26 августа 1918
Anh nghĩ gì ư? - Về những thoáng sao rơi...
Em thấy không, kia một ngôi, như linh hồn câm lặng
Vạch trời đêm ánh kim cương lấp lánh,
Rồi giữa không trung - tắt lặng, chẳng còn chi...

Đừng hỏi anh, sao bay đi đâu.
Van em đấy! Lặng yên, đừng thở nữa!
Anh cảm thấy sao kia đã vỡ
Thành muôn tia sáng rỡ trong sâu thẳm hồn anh.

@ Bác NA: em xin phép không dịch 2 bài bác đưa lên - 1 bài toàn nghĩ về chuyện bóp cổ với xử bắn, nghe phát khiếp Còn bài kia về mùa đông tả cảnh tinh tế ren rua, hơi giống bài chợ Tết của Đoàn Văn Cừ, 5' em làm không nổi - xin mạn phép bác "em ngược" ạ

Geobic 30-11-2007 14:52

Trích:

Phanhoamay viết
Xin đi sâu một chút về bài thơ "Đàn sếu" của nhà thơ V. Nabokov.

Chính tác giả mới là người đang thổn thức bởi nỗi nhớ quê hương của người xa xứ, ông gán cái thổn thức của mình cho đàn chim và đã tạo ra hình ảnh "đàn sếu thổn thức bay". Nếu ta không cố gắng chuyển dịch hình ảnh này sang tiếng Việt, ta sẽ làm mất đi cái sáng tạo của tác giả, làm giảm giá trị của bài thơ.

Tác giả rất nhớ nước Nga, nhớ quê hương. Nhưng nếu ông viết "Anh nhớ em da diết" thì tầm thường quá, đơn giản quá. Để diễn tả nối nhớ của mình, ông "bịa" ra chuyện 2 con chim bay cuối đàn kể cho ông nghe "rằng em hằng nhớ anh".

Bác Phan ơi, từ nơi thực địa xa xôi, phương tiện "giao lưu" thật không chuẩn tí nào, hôm nay Geo chui được vào mạng một lúc cũng đã là may mắn lắm. Không sao đánh được chữ "ư" từ cái máy này - hehe, em xin phép edit bài này của bác một tẹo nên có chữ ư rồi . Có một chút "đính chính" để mọi người tránh hiểu lầm: Bài "Đàn sếu" Nabokov viết năm 1918, mà 1919 ông mới rời nước Nga, sống kiếp lưu vong. Do vậy những liên hệ về thân phận lưu vong với đàn sếu trong bài thơ này cần được xem xét lại.

Bài "Bão tuyết" cũng viết trước khi ông rời nước Nga, trong đó thể hiện rõ hơn "tâm sưj" của con người phức tạp này với đất Nga của ông (nước Nga vừa qua CM tháng 10).
Trong hoàn cảnh hiện tại, Geo chưa thể post bài dịch của mình lên được. Hẹn cuối tháng, khi về HN sẽ góp lời với mọi người.[/i]


Hôm nay lại vào mạng được một lúc, tranh thủ gửi mấy bài Nabokov như một “món nợ” của Geo với NNN.

ĐÀN SẾU

Xào xạc cánh rừng vàng
Biển rì rào tiếng dội,
Đàn sếu thảng thốt bay
Tới miền cư trú mới.

Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần,
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em hằng nhớ anh.

24-10-1918

* * *

Tự do có trong cô đơn
Và ngọt ngào – trong mộng ước.
Giọt mật, ánh sao, bông tuyết
Tôi gom trong một câu thơ.

Và sau mỗi đêm hấp hối
Tôi mừng sớm mai sống lại.
Ngày mới - giọt sương thiên đường
Còn ngày qua - hạt kim cương.


BÃO TUYẾT

Bóng đen trên tường đuổi nhau rối rít
Hãy nằm yên, mi trằn trọc mãi chi
Gió rền rĩ? Ừ thì mặc gió
Hay bên lò chưa đủ ấm sao, mi?

Đêm ương ngạnh... Mái lều tranh thổn thức...
Khó ngủ ư? Hay mi sợ gió gào?
Đây nước Nga, đâu phải thảo nguyên bão tuyết –
Nước Nga đêm đen đang vật vã, lộn nhào.

Tiếng gió rít, tiếng rú gào thảm thiết
Nếu mi có gan, có thể cứu - hãy ra!
Ồ sao thế? Đủ rồi, vậy đừng nghe nữa...
Không có nước Nga, ta vẫn vượt được mà.

Gió rên rỉ, ngày càng lắng dịu...
Lại tru lên... Ôi hoang dã thảo nguyên...
Ngày mai tuyết ngập mái nhà, từng đụn...
Bão tuyết mà! Thây kệ nó, hãy ngủ yên!


* * *

Tôi nghĩ gì ư? Về những sao băng
Em nhìn kìa, thêm một ngôi, như linh hồn lặng ngắt
Bay vút qua không gian vệt sáng kim cương
Đến tận cùng đường, và lụi tắt.

Đừng hỏi tôi, sao rơi nơi đâu
Tôi xin em, hãy lặng im và nín thở!
Tôi cảm thấy ngôi sao đang tan vỡ
Thành muôn tia trong sâu thẳm hồn mình.

26-8-1918

Nina 30-11-2007 14:59

Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời

Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ

Geobic 30-11-2007 15:03

Trích:

Nguyên Anh viết
Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.

Các bác PHM @ For:
Vài lời thưa lại với các bác về vài chi tiết trong tiểu sử Nabokov:

Ông sinh ở Saint Petersburg 1899 (Nga)
1917 cùng gia đình đ ến Krưm (Crimê) thuộc Ucraina, lánh cuộc nội chiến, rồi trở thành Bộ trưởng Tư pháp của Chính phủ lâm thời Krưm.
15-4-1919 ông rời cảng Sevastopol trên con tàu nhỏ của Hy Lạp, để vĩnh viễn xa rời nước Nga.
Như vậy, bài “Đàn sếu” được viết n ăm 1918, khi ông đã ở Krưm. Xét về góc độ quê hương thì Krưm thuộc Ucraina, không phải là Nga nữa, tuy vẫn thuộc CCCP trước đây. (Saint Petersburg ở bên biển Baltic, bắc Nga, còn Krưm ở bên biển Hắc Hải, nam Ucraina). Như vậy hiểu bài “Đàn sếu” được viết trong nỗi niềm xa quê hương có lẽ là chính xác. Tuy nhiên về phương diện Tổ quốc thì khi đó ông chưa phải dân lưu vong.

Dưới đây là đoạn trích trong tiểu sử của nhà văn này:

Осенью 1917 Владимир Дмитриевич отправил семью подальше от гражданской смуты в Крым, а позднее и сам, чудом избежав ареста, присоединился к ней. Он стал министром юстиции Крымского Временного правительства. В это время Владимир Набоков-младший познакомился с Андреем Белым и Максимилианом Волошиным. Он продолжал писать стихи и ловить бабочек, а однажды его чуть не арестовал бдительный часовой, вообразивший, что тот подает сачком знаки английским военным судам. Весной 1919 года красные ворвались в Крым, и 15 апреля под грохот артиллерийского обстрела Набоковы отплыли из Севастополя на небольшом греческом пароходе, чтобы навсегда оставить Россию.

Nhân đây xin mời dịch mấy bài Nabokov làm sau khi đã rời nước Nga (1919), trong đó có 2 bài viết về Tổ quốc và Nước Nga.

x x x


...И все, что было, все, что будет,
и золотую жажду жить,
и то бессонное, что нудит
на звуки душу разложить,

все объясняли, вызывали
глаза возлюбленной земной,
когда из сумрака всплывали
они, как царство, предо мной.

18. 1. 23.

Снег

О, этот звук! По снегу --
скрип, скрип, скрип --
в валенках кто-то идет.

Толстый крученый лед
остриями вниз с крыши повис.
Снег скрипуч и блестящ.
(О, этот звук!)

Салазки сзади не тащатся --
сами бегут, в пятки бьют.

Сяду и съеду
по крутому, по ровному:
валенки врозь,
держусь за веревочку.

Отходя ко сну,
всякий раз думаю;
может быть, удосужится
меня посетить
тепло одетое, неуклюжее
детство мое.

1930, Берлин

Родина


Как весною мой север призывен!
О, мятежная свежесть его!
Золотой, распевающий ливень,
а потом -- торжество... торжество...

Облака восклицают невнятно.
Вся черемуха в звонких шмелях.
Тают бледно-лиловые пятна
на березовых светлых стволах.

Над шумливой рекою,-- тяжелой
от лазури влекомых небес,--
раскачнулся и замер веселый,
но еще неуверенный лес.

В глубине изумрудной есть место,
где мне пальцы трава леденит,
где, как в сумерках храма невеста,
первый ландыш, сияя, стоит...

Неподвижен, задумчиво-дивен
ослепительный, тонкий цветок...
Как весною мой север призывен)
Как весною мой север далек!

<1921>
России


Не предаюсь пустому гневу,
не проклинаю, не молю;
как изменившую мне деву,
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок, Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей,
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая,--
глаза невинные твои,--
и лепестки, все понимая,
чуть искрились росой любви...

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!

1921?

Geobic 30-11-2007 15:04

Trích:

NguyenAnh viết
Trích:

chú Việt Hùng viết
Bác Geobic mến, đồng chí Nabokov này chưa bao giờ được trao giải Nobel cả.


Đúng thế, các nhà thơ nhà văn Nga được trao giải Nobel về văn học theo thời gian là:

1933: Иван Алексеевич Бунин

1958: Борис Леонидович Пастернак

1965: Михаил Александрович Шолохов

1987: Иосиф Александрович Бродский

Trong đó mất ba ông lưu vong


Bác NA ơi, làm gì mà có đến 3 ông lưu vong? hai thôi chứ - là Бунин và Бродский. Chắc bác nghĩ là có cả Пастернак? Ông này là tác giả tiểu thuyết Bác sỹ Zhivago lừng danh, viết xong 1955, in lần đầu tại Italia 1958, giải thưởng Nobel 1958. Để khỏi bị đuổi khỏi CCCP, tác giả đã phải từ chối nhận giải thưởng Nobel, nhưng vẫn bị khai trừ khỏi Hội Nhà văn LX. Năm 1987, hội tịch Hội NVLX của ông mới được phục hồi và tiểu thuyết Bác sỹ Zhivago mới được in bằng tiếng Nga ở LX cùng với nhiều thơ của ông. Tiếc rằng ông đã mất năm 1960.
Thơ Paxternak được đánh giá rất cao, nhưng thú thực là Geo không sao dịch nổi vì khó quá. Ở VN cũng có vài bài thơ của ông được dịch, khá thành công.

tykva 30-11-2007 15:07

Trích:

России


Не предаюсь пустому гневу,
не проклинаю, не молю;
как изменившую мне деву,
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок, Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей,
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая,--
глаза невинные твои,--
и лепестки, все понимая,
чуть искрились росой любви...

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!

1921?

Em hưởng ứng bác một nhát:

Gửi nước Nga

Ta không giận vẩn vơ
Không nguyền rủa cũng không van vỉ
Ta vẫn yêu Tổ quốc ta xưa cũ
Như cô nàng từng phụ tình ta.


Nhưng ta cô đơn, ôi nước Nga!
Giờ đây người đã xa ta quá!
Qua mất rồi những ngày ta vẫn nhớ:
Người với ta chung một niềm đau.

Tiếng người cười như vang vọng tới ta
Từ thẳm sâu cánh rừng Nga xanh mát!
Dịu dàng quá khiến tim ta đau thắt
Và tràn đầy đam mê trẻ trung.


Ta khẽ hôn đóa đồng thảo tháng năm,--
Đôi mắt Nga thơ ngây trong vắt,--
Những cánh hoa dường như cũng hiểu,
Long lanh sương đáp lại tình ta...

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Đôi mắt trong veo thế
Nếu đã lỗi lầm, người không giữ nổi đâu!


1921?

tykva 30-11-2007 15:15

Trích:

Geobic viết
Trích:

tykva viết


Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Đôi mắt trong veo thế
Nếu đã lỗi lầm, người không giữ nổi đâu!

1921?

Bài dịch của Bí rất được, riêng câu cuối nếu thay như sau liệu có đúng hơn không?

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Đôi mắt trong veo đến vậy
Chẳng thể nào có ở kẻ lỗi lầm đâu!

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!

Dạ vâng, em xin bác hai câu cuối, và sửa như sau:

Và vì thế, ơi nước Nga của ta,
Ta chẳng dám bao giờ buồn giận...
Ta luôn nói: Mắt trong veo đến vậy
Kẻ lỗi lầm chẳng có nổi đâu!

Geobic 30-11-2007 15:16

Geo xin gửi bài dịch sau đây, chắc chắn được sáng tác sau khi Nabokôv đã rời Tổ quốc, để hiểu về tình cảm của ông với quê hương mà bác For đã rất dày công phân tích về bài Đàn Sếu. Rất mong mọi người hưởng ứng dịch tiếp các bài khác. Những Nina, Usy dạo này đi đâu mất tăm ấy nhỉ?

Gửi nước Nga

Ta chẳng ngợp trong giận hờn vô nghĩa,
Rủa nguyền, van vỉ cũng không;
Ta vẫn yêu Tổ quốc mình sau trước,
Như yêu ai đã đổi dạ, thay lòng.

Nhưng, ơi nước Nga, ta cô độc quá chừng!
Người với ta giờ ngàn trùng cách trở!
Vậy mà từng có những ngày quá khứ:
Người cùng ta chia sẻ, bao dung!

Ta cảm nhận nỗi đau êm dịu
Niềm đam mê rất đỗi trẻ trung
Khi từ cánh rừng xanh tươi vọng lại
Tiếng Người cười tựa nhạc ngân rung.

Ta từng hôn đoá hoa đồng thảo tháng năm, -
Những con mắt Nga ngây thơ, trong trắng, -
Và những cánh hoa, chừng hiểu lòng ta,
Những giọt lệ-sương yêu lấp lánh…

Và vậy đó, ơi nước Nga của ta,
Ta đâu dám giận hờn, sầu tủi…
Ta biết rằng ánh mắt sáng trong kia
Chẳng thể có ở người lầm lỗi.

1921?

России

Не предаюсь пустому гневу,
не проклинаю, не молю;
как изменившую мне деву,
отчизну прежнюю люблю.

Но как я одинок, Россия!
Как далеко ты отошла!
А были дни ведь и другие:
ты сострадательной была.

Какою нежностью щемящей,
какою страстью молодой
звенел в светло-зеленой чаще
смех приближающийся твой!

Я целовал фиалки мая,--
глаза невинные твои,--
и лепестки, все понимая,
чуть искрились росой любви...

И потому, моя Россия,
не смею гневаться, грустить...
Я говорю: глаза такие
у грешницы не могут быть!

1921?

NguyenAnh 30-11-2007 15:20

@ bạn For:
BBT NNN từng có ý định đưa bài viết này của bạn lên trang chủ, nhưng thú thực là có phần e ngại vì bạn đã có lần phật ý và bày tỏ ý kiến không muốn để cho ai sửa chữa, biên tập làm mất văn phong của mình. Nay thấy bạn có ý nhắc nhở, chúng tôi xin đề xuất biên tập một chút như sau. Nếu bạn không phản đối thì chúng tôi sẽ cho lên như là một bài viết cảm nhận về văn học.

Chúc bạn tiếp tục chộp được nhiều cảm xúc và nhiều chuồn chuồn

Trích:

Forytchia viết
Những cảm xúc sâu lắng cùng “Đàn sếu”


“Đàn sếu” là một trong số các tác phẩm thơ của Vladimir Nabokov. Ông viết bài thơ này vào một ngày tháng mười mùa đông năm 1918. Đã gần một thế kỷ trôi qua mà những gì tác muốn giả gửi gắm ở “Đàn sếu” vẫn không hề xưa cũ, ngay cả đối với thế hệ độc giả yêu thơ hôm nay:

ЖУРАВЛИ

Шумела роща золотая,
ей море вторило вдали,
и всхлипывали, пролетая,
кочующие журавли

и в небе томном исчезали,
все тише, все нежней звеня.
Мне два последних рассказали,
что вспоминаешь ты меня...
24 октября 1918

Các phương án dịch:

ĐÀN SẾU
1.
Xào xạc cánh rừng vàng
Biển xa vang tiếng dội,
Đàn sếu nức nở bay
Tới miền cư trú mới.

Trên bầu trời mệt mỏi
Tiếng chim lịm tắt dần,
Hai con sếu sau chót
Nhủ: em còn nhớ anh.
(Tạ Phương)

2.
Cánh rừng vàng xào xạc
Biển cũng hát rì rào
Đàn sếu bay mê mải
Tha thiết gọi bạn yêu

Bầu trời như thể mất
Đàn sếu và bài ca
Hai con cuối kể lại
Em vẫn thường nhớ anh !
(Minh Nguyệt)

3.
Rừng thưa lấp lánh vàng xào xạc
Phía xa kia biển hoà giọng hát cùng
Và nghẹn ngào kêu những tiếng não nùng
Bay ngang trời những con sếu bạc.

Dần mất dạng trên bầu trời mệt mỏi
Vệt sếu bay và tiếng sếu trong ngân
Hai con sếu rốt đàn kể cho anh biết
Ngày ngày em vẫn nhớ tới anh.
(Quỳnh Hương)

4.
Cánh rừng thưa xào xạc lá vàng,
Biển xa xăm hoà đồng tiếng hát.
Trên trời cao đàn sếu bay ngang,
Văng vẳng tiếng gọi đàn thê thiết.

Bóng chim khuất trong mây lững thững
Tiếng sếu ngân nhỏ bớt, dịu dần
Có hai con cuối đàn kể lại:
Nơi quê nhà em vẫn nhắc tới anh.
(Thu Hương)

5.
Cánh rừng vàng xào xạc
Biển xa vọng ngân nga
Những con sếu di trú
Thổn thức bay ngang qua

Xa mờ trên trời nhạt
Tiếng chúng dịu lắng dần
Hai con cuối đàn kể
Rằng em hằng nhớ anh ...
(Phan Chí Thắng)

6.
Rừng vàng khẽ rung xào xạc
Biển xa nhắc lại bồi hồi
Đàn sếu bay đi tránh rét
Tiếng kêu nức nở ngang trời

Tiếng sếu dịu dần rồi tắt
Trên bầu trời mệt thẫn thờ
Hai con cuối đàn kể chuyện
Nơi xa em nhớ ... bây giờ
(Lưu Hải Hà)

7.
Rừng thưa xào xạc lá vàng
Xa xa sóng biển rộn ràng ngân nga
Lưng trời đàn sếu bay qua
Tiếng kêu giã bạn thiết tha, cháy nồng

Bóng chim tan giữa thinh không
Lời yêu dần nhỏ, lắng trong tim này
Đôi chim sau rốt giãi bày:
Rằng em vẫn thế, hằng ngày nhớ anh.
(Nguyên Hùng)

Mỗi bản dịch trên đây, với giọng văn và cảm xúc riêng của người dịch, đã cho ta thấy nhiều góc nhìn về bài thơ, nhưng đều toát lên được tình cảm nhớ nhung quê hương của tác giả thông qua hình tượng đàn sếu di trú.

Để hiểu sâu sắc một bài văn, bài thơ nào đến tận cùng cội rễ ta đều nên tìm hiểu hoàn cảnh xuất xứ ra đời của nó. Ở bài thơ “Đàn sếu” cũng không là một ngoại lệ. Tác giả bài thơ sáng tác vào thời điểm tháng mười – khi ấy mùa đông lạnh lẽo đang tràn về; những đàn chim di trú mắt nhắm nghiền từng đàn theo quy luật của tự nhiên bay từ miền bắc về phương nam ấm áp hơn, bắt đầu rủ nhau đi tránh rét. Tác giả mượn hình ảnh đàn chim này chính là nói lên nỗi lòng mình khi biết rằng rồi mình cũng như đàn chim kia: bay đi nhưng sẽ trở về dù có thể chỉ là trong tâm khảm, tuy phải tạm xa mảnh đất quê hương nhưng quê hương vẫn nhớ khắc sâu trong tim.

Đàn chim sếu hay chính là bản thân tác giả trước khi ra đi chuẩn bị thật sự rời xa tổ quốc như tự nhủ với chính lòng mình “Ra đi nhưng lòng vẫn mãi nhớ về quê hương”. Một nhà văn Nga (sống lưu vong ở Italia) cũng đã từng thốt lên những lời yêu thương dành cho tổ quốc của mình, đại ý: “Dưới đế giày của tôi luôn luôn có những hạt đất của nước Nga”- dù có ở đâu hay đi bất cứ nơi nào thì tổ quốc vẫn sẽ ở mãi trong tâm trí.

Ở khổ thơ đầu, hình ảnh “cánh rừng thưa xào xạc lá vàng” và” tiếng biển ngân vang “ hòa với nhau thành bài ca ca ngợi mảnh đất quê hương ở Nga rất đặc trưng. Thời tiết vào mùa đông thường hay ảm đạm nhưng với tác giả thì hai hình ảnh ấy vẫn ngời ngời trong tâm tưởng vì chẳng đâu đẹp hơn quê mình, tổ quốc mình. Hình ảnh siêu thần ấy chỉ ở nơi quê hương là đẹp đẽ nhất bởi hai chữ Quê Hương viết hoa luôn ngự trị trong trái tim một người con khi sắp phải rời ra nơi đó. Tác giả nhân cách hoá “đàn sếu” cũng biết “ thẫn thờ” lưu luyến đầy vơi như tình cảm con người khi biết mình sắp phải tạm biệt những điều yêu thương gần gũi từ thuở nào. Trạng thái này xảy ra khi đàn chim đang chuyển động dần xa, tác giả dùng hai từ này quả là quá tuyệt. Bạn ơi, hãy cho tôi mượn chiếc khăn màu thời gian để thấm những giọt tâm hồn như đang ngây ngất khi nghe cách thể hiện tình cảm của V. Nabokov với quê hương mình.

Khi hiểu xuất xứ bài thơ, đứng trên góc độ cách cảm nhận đồng điệu ấy, những người dịch thơ và các bạn đọc thơ sẽ thấy được những điều ẩn chứa trong hình ảnh đàn sếu, và nhất là ở hình ảnh hai con rốt đàn, vô cùng cảm động! Hình ảnh cực kỳ đắt là khi hai chú chim (trước khi bay khuất vào làn mây) ngoái lại đầy quyến luyến để gửi gắm lời nhắn nhủ lần cuối “Em sẽ mãi hằng nhớ anh, nhớ mãi mảnh đất này”. Tác giả sử dụng phương pháp nhân cách hóa quá tuyệt vời ở hai câu kết, lời của chim sếu băng qua muôn trùng mây, muôn ngàn gió vọng đến vẫn ấm nồng gửi lại mảnh đất thân quen ấy một lời khắc khoải.


tykva 30-11-2007 15:22

Ta khuân vác bài này lưu tư liệu :D

Trích:

Việt Hùng viết
V.Nabokov lần đầu được dựng tượng tại nước Nga

theo Newsru

http://i14.photobucket.com/albums/a3...0525114045.jpg

Hôm qua, thứ Sáu 26/5/2007, tượng đài đầu tiên của V.Nabokov tại nước Nga đã được khánh thành tại Saint Petersburg. Tác giả bức tượng-ông Vasily Azemsha đã đặt tên cho tác phẩm của mình là "Ông vua cô đơn"-ngụ ý muốn nhắc đến thân phận cô độc của nhà văn khi phải sớm rời Tổ quốc tha hương.
Bức phù điêu nhà văn Nabokov bằng đồng mô tả nhà văn đang ngồi suy tư bên bàn cờ vua được đặt trong sân Khoa ngôn ngữ, Trường Đại học tổng hợp quốc gia Saint Petersburg.
Ngày 2/7/2007 sẽ tròn 30 năm ngày mất của V.Nabokov. Ông thọ 78 tuổi và được mai táng tại Thụy sĩ.


hungmgmi 16-08-2009 17:42

Xin khuân về một bài viết mới công phu của bạn Thụy Anh về Nabokov và cuốn tiểu thuyết cuối cùng sắp được ra mắt bạn đọc Nga:
“Gã ta là quái vật! … Nhưng là nhà văn tuyệt vời!”
Cập nhật lúc 16:01, Chủ Nhật, 16/08/2009 (GMT+7)
- Những ngày này ở Nga, người ta đã hoàn tất những thủ tục cần thiết về bản dịch tiếng Nga cho tác phẩm cuối cùng của nhà văn hải ngoại người Nga Vladimir Nabokov (1899-1977). Cuốn tiểu thuyết chưa có phần kết được chấp bút vào năm 1975, mang tên: “Laura và nguyên mẫu của nàng”.

http://images.vietnamnet.vn/dataimag...s1845523_1.jpg
Nabokov thời niên thiếu
Số phận của cuốn tiểu thuyết này thật đặc biệt. Trước khi qua đời, V. Nabokov đề nghị vợ hủy bản thảo bởi ông viết chưa xong và không thể chịu được ý nghĩ “người ta sẽ đọc cuốn sách mới có trong đầu ông mà chưa được viết ra giấy”. Bản thảo chưa hoàn tất cũng không kém phần kỳ lạ: được viết tay trên 138 tấm bìa nhỏ.

Hiểu được lo lắng của nhà văn quá cố, các NXB quyết định, bản thảo sẽ được in ra trọn vẹn, đúng theo những gì Nabokov để lại, không hiệu đính, không viết thêm để kết thúc câu chuyện. Người ta còn có ý định, khi in cuốn sách sẽ sao chụp toàn bộ 138 tấm bìa này, in đằng sau mỗi trang giấy, như là minh họa, đồng thời tạo điều kiện cho những độc giả hâm mộ Nabokov thấy được bút tích của nhà văn.

Theo lời kể của Dmitry Nabokov, con trai ông, trước đó, nhiều lần Dmitry Nabokov định thực hiện ý nguyện của cha là đốt bản thảo, nhưng rồi đầu năm nay lại quyết định chuyển nhượng bản quyền cho một số NXB để tác phẩm cuối cùng của người cha được ra đời. Nhân vật chính của cuốn sách là nhà khoa học Phillip Wild, người luôn bị chìm trong những ý tưởng điên rồ về cái chết của chính mình.

Một trong những nguyên nhân của việc ấy là thái độ hư hỏng không chung thủy của người vợ trẻ… mà ông ta không yêu. Ông lấy nàng chỉ vì nàng rất giống với “nguyên mẫu”, một người con gái ông say mê thời trẻ! Trong tiểu thuyết này, lại một lần nữa V. Nabokov chứng tỏ tài năng trong việc mổ xẻ tâm lý con người, những bấn loạn và tưởng tượng vô hạn của con người, cũng như trong “Lolita”!

http://images.vietnamnet.vn/dataimag...s1845525_2.jpg
Nhân vật Lolita trong bộ phim cùng tên.
Chính “Lolita” cũng từng bị Nabokov muốn hủy bỏ nhưng cuối cùng vẫn được in ra do sự can thiệp của vợ nhà văn, bà Vera Slonim. Rất có thể, cuốn tiểu thuyết hơn hai mươi năm nằm day dứt trong bóng tối sẽ có chung kết cục tốt đẹp như của “Lolita”.

Người của thế giới, nhưng trái tim đập nhịp nước Nga

Trong dòng văn học hải ngoại của Nga, tên tuổi của Vladimir Nabokov chiếm giữ một vị trí quan trọng.

Nabokov không hoàn toàn là nhà văn Nga mặc dù thứ tiếng Nga ông dùng khi chuyển ngữ các tác phẩm của mình từ tiếng Anh là thứ tiếng Nga văn học hoàn hảo, ngang bằng với vốn tiếng Anh, tiếng Pháp mà ông có được từ thời thơ ấu. Ông là nhà văn “của thế giới”.

Ông thường nói: “Tôi là nhà văn Mỹ gốc Nga, được đào tạo ở Anh, nghiên cứu văn học Pháp và mười lăm năm sống ở Đức”. Xuất thân từ một gia đình quý tộc Nga hoàng, sống như một “ông hoàng nhỏ” muốn gì được nấy, việc phải cùng gia đình rời bỏ nước Nga vào năm 1919 là một bi kịch lớn của ông.

Theo lời con trai của ông, Dmitry Nabokov, sinh thời, nhà văn thường nhắc đến ba bi kịch của đời mình: tuổi thơ bị tước đoạt, cái chết đau đớn của thân phụ ở Berlin bởi bàn tay của những người theo chủ nghĩa quân chủ Nga tại hải ngoại (1922), và việc không được sáng tác bằng thứ tiếng Nga thân thương và giàu có của mình khi bắt đầu di cư sang Mỹ.

Một vài năm sau khi cha mất, Nabokov sống khá cực nhọc, kiếm tiền bằng việc soạn các thế cờ cho các tờ báo, nhận dạy quần vợt, đấm bốc, bơi, dạy tiếng Anh, tiếng Đức và đôi khi còn tham gia đóng phim nữa. Tiểu thuyết đầu tay của Nabokov là cuốn “Mashenka” với bút danh Vladimir Sirin.

Từ đấy nhà văn dần trở thành một tác gia quan trọng trong nền văn học Nga hải ngoại. Trong thời gian này, ông viết và xuất bản tám cuốn tiểu thuyết bằng tiếng Nga. Ngoài ra, ông còn sáng tác kịch và làm thơ.

Những nhà văn Nga hải ngoại có thái độ không mấy thân thiện đối với Nabokov, bởi lẽ, nhà văn trẻ trong tiểu thuyết “Tặng vật” đã cho phép mình mô tả cuộc sống của người Nga lưu vong một cách châm biếm cay độc. Thậm chí nhiều người không thèm bắt tay với ông. Thế nhưng, tài năng của ông vẫn được nhìn nhận. I. Bunin đã từng thốt lên: “Gã ta là quái vật! … Nhưng là nhà văn tuyệt vời!”
http://images.vietnamnet.vn/dataimag...s1845529_4.jpg
Nabokov và vợ.
Chế độ phát xít thâm nhập vào chính quyền Đức cuối thập kỷ 30 thế kỷ trước khiến những người Nga lưu vong như Nabokov đành phải tìm đường đi nơi khác. Năm 1937, V. Nabokov cùng người vợ Do Thái của mình chạy sang Paris. Năm 1940 một lần nữa họ lại phải ra đi, rời Pháp sang định cư tại Mỹ.

Trong 20 năm sống ở Mỹ, Nabokov gặp bi kịch thứ ba của đời mình, là không còn được sáng tác bằng tiếng Nga nữa vì không có độc giả đọc tiếng Nga. Tuy vậy, ông vẫn giữ mối liên hệ gần gũi với tiếng Nga thông qua việc nhận giảng dạy về văn học Nga tại một số trường đại học và … chuyển ngữ những tác phẩm của mình ra tiếng Nga.

Ngoài việc sáng tác, dạy học, ông còn được làm một công việc yêu thích của mình từ thuở ấu thơ – là nghiên cứu các loài bướm. 4 ngày trong tuần ông làm việc say mê ở phòng thí nghiệm côn trùng học của Viện bảo tàng tự nhiên New York, “đắm mình trong thế giới trong suốt kỳ diệu của ống kính hiển vi, nơi chỉ sự tĩnh lặng ngự trị hoàn toàn” và cũng hoàn toàn cảm thấy hạnh phúc.

Những tiểu thuyết đầu tiên của Nabokov không có được thành công lớn về mặt xuất bản tại Mỹ, nhưng từ cuốn “Lolita” (1955), ông trở nên cực kỳ nổi tiếng. Mà nổi tiếng vì... tác phẩm bị nhiều nhà xuất bản từ chối!

Tại thời điểm đó, Lolita là một câu chuyện khó hiểu và không thể chấp nhận được ngay cả ở Mỹ! Cuối cùng, Nabokov gửi bản thảo về Paris và một thời gian sau “Lolita” cũng được in ở Mỹ. Cuốn tiểu thuyết này được tái bản nhiều lần, được dựng thành phim, đem đến cho nhà văn danh tiếng và tiền bạc.

Những năm cuối đời, V. Nabokov sống ở Thụy Sĩ, viết những cuốn tiểu thuyết cuối cùng của đời mình và tiếp tục… bắt bướm. Khi nữ sĩ Nga Bella Akhmadulina đến thăm Nabokov tại Thụy Sĩ trước khi ông mất, nhà văn đã tâm sự:” Tôi tiếc là đã không ở lại nước Nga”.

Khi vợ ông phản đối sự nuối tiếc ấy, nhắc lại bối cảnh lịch sử rất phức tạp thời đó với xuất thân của ông, thì nhà văn “người Mỹ gốc Nga” đã nói: “Ai biết được, có lẽ nếu ở lại tôi sẽ trở thành một tác giả hoàn toàn khác, có thể còn hay hơn nhiều!”

Trong thời gian sống ở Thụy Sĩ, ông đã hoàn thành một món quà lớn dành cho quê hương: giới thiệu văn học Nga, văn hóa Nga ra thế giới. Đó là dịch thi phẩm “Evgheny Oneghin” của A.S.Pushkin ra tiếng Anh kèm với … bốn tập biên khảo, chú giải cho tác phẩm ấy mà ông đã dày công ghi chép trong vòng 15 năm. Ngoài ra, ông còn dịch rất nhiều tác phẩm thơ kinh điển khác.

Mặc dù thời gian sống trong lòng nước Nga chỉ vỏn vẹn 20 năm đầu của cuộc đời, sâu xa, Nabokov vẫn thương nhớ nước Nga, đúng như nhà văn từng nói: “đầu nói bằng tiếng Anh, tai nghe bằng tiếng Pháp nhưng trái tim nói bằng tiếng Nga!

Được đón nhận ở Tổ quốc

http://images.vietnamnet.vn/dataimag...s1845531_5.jpg
Tượng Nabokov ở Thụy Sỹ.
Ở Nga, người ta bắt đầu đọc Nabokov từ năm 1986. Những năm 90 của thế kỷ trước, rộ lên “làn sóng” xuất bản các tác phẩm của V.Nabokov, đặc biệt là cuốn “Lolita”. Những năm ấy, nếu bước vào hiệu sách, bạn sẽ gặp “Lolita” đủ các kiểu dáng, kiểu bìa, đủ các loại giá tiền và cũng có thể gọi là best-seller dạo ấy. Bây giờ, các tác phẩm của Nabokov vẫn được các NXB liên tục tái bản.

Sắp tới, người ta còn cho dựng vở balet Nga theo kịch bản chuyển thể từ “Lolita”! Độc giả trẻ người Nga cho rằng, “Nabokov là nhà văn biết ca ngợi tình yêu thể xác một cách kỳ diệu”.

Có thể nói, đối với người Nga, Nabokov là một nhà văn “cổ điển” của thời hiện đại bởi lẽ, càng ngày ông càng được tìm đọc nhiều hơn. Sự lồng ghép giữa các mảng không gian: hiện thực và ác mộng và những chi tiết biến hóa kỳ ảo trong tâm lý con người, sự giải thoát về nhục thể và trí tưởng tượng vô biên đã tạo “đất” cho Nabokov khắc họa bản chất của tâm hồn con người theo cách riêng của ông. Đó cũng là một trong những mối quan tâm lớn của độc giả hiện đại.
Thụy Anh

http://vietnamnet.vn/vanhoa/2009/08/863697/

cun09 01-09-2009 16:02

Trích:

hungmgmi viết (Bài viết 36021)
Nhân vật Lolita trong bộ phim cùng tên.
Chính “Lolita” cũng từng bị Nabokov muốn hủy bỏ nhưng cuối cùng vẫn được in ra do sự can thiệp của vợ nhà văn, bà Vera Slonim. Rất có thể, cuốn tiểu thuyết hơn hai mươi năm nằm day dứt trong bóng tối sẽ có chung kết cục tốt đẹp như của “Lolita”.

Hiên nay chưa có bản dịch Lolita sang tiếng Việt. Có thể chưa dịch giả nào đủ bản lĩnh dịch tiểu thuyết này. Vì dịch văn Nabokov rất khỏ, đặc biệt văn trong Lolita. Không hiểu ông thấu suốt, sẽ cho ra những bản dịch vô hồn. (Nhiều bài dịch thơ Blok sang tiếng Việt hiện ở tình trạng đó).

Nhờ nhuận bút cuốn Lolita mà Nabokov đã hoàn toàn thóat khỏi khó khăn về kinh tế, ông đã rời Mỹ sang châu Âu sinh sống...


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 01:32.

Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.