![]() |
|
Trích:
|
Trích:
Dương Đình Khuê. La littérature populaire vietnamienne Sài Gòn, 1967, 278p., plus de commentaires. nhưng vẫn chưa phải là bản dịch trước năm 1918 đâu, bác Geobic ạ. Các bác lưu ý là bản tiếng Việt câu ca dao này không phải là “chú, thím” mà chính là “bố, mẹ”: Cái cò trắng bạch như vôi Cô kia có lấy bố tôi thì về. Mẹ tôi chẳng mắng chẳng chê, Mẹ tôi móc mắt, mổ mề xem gan. La cigogne est toute blanche comme de la chaux. Voulez-vous, Mademoiselle, épouser mon père ? Ma mère ne vous réprimandera ni vous dédaignera, Elle ne fera qu’arracher vos yeux, ouvrir votre estomac et regarder votre foie ! |
Sau một thời gian tìm kiếm, Tuntin đã tìm được một số tài liệu từ thời “cổ lỗ sĩ”. Hiện nay, đang phải chăm chú nghiên cứu, vì tài liệu thì bằng tiếng Pháp, chữ thì đọc được, chữ thì không. Nhưng trước mắt xin cống hiến cho các bác thành viên NNN một bản Pháp văn, chắc chắn về xứ Annam mình, in năm 1890, tại Paris.
Le Ciel est immense et pur, La lune répand ses clartés, Les bammous se balancent sous la brise, L’air est fraig et parfumé: La famille est heureuse et joyeuse, Les parents sont assis parmi les fleurs du jardin Buvant du thé, fredonnant des vers. La maison est remplie d’un bruit de voix: Ce sont les enfants qui étudient Et le dernier né qui appelle sa nourrice. Ce lui qui peut ainsi vivre en famille A le bonheur parfait sur la terre; Les richesses et la gloire ne sont rien pour lui. Sa vie s’écoule doucement, En songeant que ses enfants lui survivront. Các bác so sánh với bản Annam của nhà thơ Nikolay Stepanovich Gumilyov nhé. Аннам Месяц стоит посредине Дивно-огромного неба, Ветер в бамбуковой чаще, Благоухающий воздух, Благословенна семья. Старшие в роще за чаем, Пьют и стихи повторяют, Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, Новорожденный кричит. Тот, кто живет этой жизнью, Полное знает блаженство. Что ему деньги и слава, Если он верит, что детям Должно его пережить? Về câu hỏi: “Nikolay Stepanovich Gumilyov có dịch từ văn bản này ra tiếng Nga hay không?” thì các bác có thể tự giải đáp. |
Cảm ơn bác Tuntin nhieu vì phát hiện lý thú này.
Geo xin tạm dịch nghĩa bài thơ đó như sau: Le Ciel est immense et pur, La lune répand ses clartés, Les bammous se balancent sous la brise, L’air est fraig et parfumé: La famille est heureuse et joyeuse, Les parents sont assis parmi les fleurs du jardin Buvant du thé, fredonnant des vers. La maison est remplie d’un bruit de voix: Ce sont les enfants qui étudient Et le dernier né qui appelle sa nourrice. Ce lui qui peut ainsi vivre en famille A le bonheur parfait sur la terre; Les richesses et la gloire ne sont rien pour lui. Sa vie s’écoule doucement, En songeant que ses enfants lui survivront. Bầu trời trong và rộng Mặt trăng lan tỏa ảnh sáng của mình Rặng tre ngả nghiêng trong gió Không khí trong lành và thơm Các bậc cha mẹ ngồi giữa các khóm hoa trong vườn Uống trà và ngâm thơ Trong nhà đầy ắp tiếng ồn: Tiếng trẻ học bài Và tiếng đứa út khóc đòi ăn. Những ai có thể sống trong gia đình Sẽ có hạnh phúc viên mãn trên Trái đất; Sự giàu có và vinh quang chẳng có nghĩa gì với anh ta, Cuộc đời anh ta êm đềm cháy, Khi anh ta nghĩ những đứa trẻ sẽ tiếp nối cuộc đời mình. (Vì không cần thật chính xác nên Geo tạm dịch không tra từ điển, có sai xót xin lượng thứ) Nếu bác Tuntin khẳng định được bài Pháp văn có từ 1890 thì chắc chắn Gumiliev đã dich bài đó sang tiếng Nga, không phải là phóng tác nữa. Và bài đó hẳn là thơ của tác giả Pháp, vì từ năm sinh của Bác Hồ ấy, ở VN chưa viết thơ theo phong cách Tây như thế. Chỉ lưu ý: Một số bài dịch thơ Bairơn và Gớt của Lermontov cũng xếp trong các tập thơ của ông, không ghi là "dịch", có chăng chỉ ghi "Phỏng theo Gơt...". Đó là cách làm của người Nga ngày xưa, Geo không bình luận về việc này. Chỉ thấy phát hiện này rất lý thú, xin bác Tuntin tiếp tục tìm hiểu, cho những thông tin mới về bản gốc tiếng Pháp. |
Thời gian qua, Tuntin đã tìm được một số sách in bằng tiếng Pháp và bằng chữ Quốc ngữ tiếng Việt khoảng cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Trong đó có cuốn: “Les chants et les traditions populaires des Annamites”, tạm dịch “Những bài hát và truyền thống dân gian của người Annam” tác giả là G. Dumoutier in tại Nhà Xuất bản E. Leroux, Paris, năm 1890. 215 p. incl. plates. Port. 17cm. Xin xem các hình ảnh cuốn “Les chants et les traditions populaires des Annamites”: http://josephtrotta.free.fr/marie/84/000.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/001.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/002.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/003.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/004.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/005.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/006.jpg http://josephtrotta.free.fr/marie/84/007.jpg Về tác giả G. Dumoutier: Gustave-Emile Dumoutier sinh ở Courpalay, près Coulommiers (Seine-et-Marne) ngày 3-6-1850, và mất ở Đồ Sơn (Bắc Việt) ngày 2-8-1904. Thoạt tiên ông theo học về Nhân Loại Học Thời Tiền Sử, sau, với tư cách học viên dự thính, ông đã học trong ba năm về ngôn ngữ và lịch sử Trung Hoa tại trường Ngôn Ngữ Đông Phương. Tháng giêng năm 1886, ông tháp tùng Toàn quyền Paul Bert tới Bắc Kỳ và làm thông ngôn tiếng Việt và tiếng Hoa cho Phủ Toàn Quyền. Tại đây ông được giao nhiệm vụ tổ chức Nha Học Chính. Là một người hết sức họat động, tháo vát, một năm sau ngày tới Việt Nam ông đã tổ chức được một Trường Thông Ngôn, chín trường tiểu học cho nam sinh, và bốn trường tiểu học cho nữ sinh. Sau đó ông được giao chức vụ Giám đốc Nha Học Chính Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ông là tác giả của gần 60 tác phẩm gồm một số sách rất giá trị như các cuốn: Lễ Tang của người Việt Nam (Le rituel Funéraire des Annamites), Các Ngôi Chùa ở Hà Nội (Les pagodes de Hanoi), Nghiên cứu về Khảo Cổ Học và Minh Văn Học tại chùa Trấn Vũ (Le grand Bouddha de Hanoi), Tiểu luận về người Bắc Kỳ (Essai sur les Tonkinois), Chùa Hai Bà (Le temple des deux Dames) vv… và trên 50 bài khảo cứu đăng trong các báo nghiên cứu vào thời đó. Ông quan tâm nhiều tới lãnh vực tôn giáo (Phật giáo) và lãnh vực tâm linh khi viết những bài nghiên cứu thật tỉ mỉ về đủ lọai bùa phép, về các thầy phù thủy, thầy pháp vv… Sự liên quan giữa cuốn sách “Les chants et les traditions populaires des Annamites” và chủ đề của topic này: Cuốn sách đã ghi lại nhiều bản dân ca của Annam mà G. Dumoutier đã dày công sưu tập và dịch ra tiếng Pháp để truyền bá ở Paris, trong đó có 3 bài sau đây gợi cho chúng ta sự liên tưởng tới 3 bài thơ của Николай Степанович Гумилев in trong tập “Фарфоровый павильон” năm 1918, phần “Индокитай”. Xin trích dẫn ở sau đây: Le Ciel est immense et pur, La lune répand ses clartés, Les bammous se balancent sous la brise, L’air est fraig et parfumé: La famille est heureuse et joyeuse, Les parents sont assis parmi les fleurs du jardin Buvant du thé, fredonnant des vers. La maison est remplie d’un bruit de voix: Ce sont les enfants qui étudient Et le dernier né qui appelle sa nourrice. Ce lui qui peut ainsi vivre en famille A le bonheur parfait sur la terre; Les richesses et la gloire ne sont rien pour lui. Sa vie s’écoule doucement, En songeant que ses enfants lui survivront. Аннам Месяц стоит посредине Дивно-огромного неба, Ветер в бамбуковой чаще, Благоухающий воздух, Благословенна семья. Старшие в роще за чаем, Пьют и стихи повторяют, Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, Новорожденный кричит. Тот, кто живет этой жизнью, Полное знает блаженство. Что ему деньги и слава, Если он верит, что детям Должно его пережить? Les filles aiment les piastres A figure d’oiseau, Elles quittent leurs parents Pour suivre les français. Девушки Нравятся девушкам рупии С изображением птицы, Они покидают родителей, Чтобы идти за французами. Le crapeau a les lèvres rouges, C’est que le crapaud a mâché du bétel. Qu’elle vienne celle qui veut épouser mon père, Mon père l’accueillera doucement Avec de belles paroles et sans la frapper, Mais ma mère lui crèvera les yeux Et lui sortira les entrailles du ventre. Детская песенка Что это так красен рот у жабы, Не жевала ль эта жаба бетель? Пусть скорей приходит та, что хочет Моего отца женой стать милой! Мой отец ее приветно встретит, Рисом угостит и не ударит, Только мать моя глаза ей вырвет, Вырвет внутренности из брюха. Xin gửi các bác thành viên diễn đàn NNN link để download cuốn sách quý này nhằm sử dụng lâu dài. Les chants et les traditions populaires des Annamites / G. Dumoutier (1890) http://www.archive.org/download/lesc...lest00dumogoog Còn 2 bài thơ còn lại cũng trong phần “Индокитай” thì Tuntin không biết tiếng Lào, nên không dám lạm bàn. |
Một sự công phu rất đáng thán phục!
Xin cảm ơn bác tuntin lần nữa. :emoticon-0150-hands |
Chúc mừng bác Tuntin đã tiến những bước mới rất xa trong topic này.
Cho đến đây, có thể thấy rõ là Gumiliev đã dịch 3 bài thơ có trong sách Pháp mà bác đã sưu tầm lại được. Thật tuyệt vời. Vì như vậy nhà thơ Nga đã dịch, chứ không phải chỉ phỏng dịch 3 bài liên quan đến Việt Nam trong cuốn sách "Các bài hát và truyền thuyết dân gian Việt Nam". Geo có nhận xét sơ bộ: 1) Bài Đồng dao, có thể ở VN có 2 dị bản của bài này (1 về Cóc, 1 về Cò), và tác giả Pháp đã dịch bản "Cóc". 2) Về bản liên quan đồng tiền con cò, cũng có thể trong ca dao VN có 2 dị bản chăng? 3) Về bài thơ Annam, thấy rõ không giống dân ca, bài hát dân gian... Mà một bài thơ rõ ràng. Cần xem bài ấy nằm tại phần nào trong sách để làm sáng rõ. Nếu đúng là thơ thì tác giả người Việt hay người Pháp ? Cụ thể: Trong quyển này có bài thơ : Le Ciel est immense et pur, La lune répand ses clartés, Les bammous se balancent sous la brise, L’air est fraig et parfumé: La famille est heureuse et joyeuse, Les parents sont assis parmi les fleurs du jardin Buvant du thé, fredonnant des vers. La maison est remplie d’un bruit de voix: Ce sont les enfants qui étudient Et le dernier né qui appelle sa nourrice. Ce lui qui peut ainsi vivre en famille A le bonheur parfait sur la terre; Les richesses et la gloire ne sont rien pour lui. Sa vie s’écoule doucement, En songeant que ses enfants lui survivront. 1890 N. Gumiliev dịch sang tiếng Nga, 1918 : Аннам Месяц стоит посредине Дивно-огромного неба, Ветер в бамбуковой чаще, Благоухающий воздух, Благословенна семья. Старшие в роще за чаем, Пьют и стихи повторяют, Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, Новорожденный кричит. Тот, кто живет этой жизнью, Полное знает блаженство. Что ему деньги и слава, Если он верит, что детям Должно его пережить? Bản dịch lại sang tiếng Việt của Geo: ANNAM Vầng trăng treo chính giữa Khung trời rộng khác thường, Gió lay lũy tre làng, Khí trời thơm mát lạ, Một gia đình yên ả. Người lớn, dưới tán lá, Uống trà và ngâm thơ, Từ trong nhà vọng ra Giọng ê a con trẻ Đang đọc Tam Tự Kinh, Tiếng khóc trẻ sơ sinh… Ai sống cuộc đời đó Sẽ mãn nguyện hoàn toàn. Những danh vọng, bạc vàng Cần chi, khi họ hiểu Lũ cháu con có hiếu Sẽ sống lâu hơn mình? Vậy là Bài thơ khép 1 vòng « luẩn quẩn », nhưng khi trở lại tiếng Việt, nó không còn là bản gốc. Rất tiếc khi Dumoutier dịch bài đó từ tiếng Việt sang tiếng Pháp, ông không làm kiểu song ngữ. Bây giờ không thể biết diện mạo của bản Việt ngữ gốc như thế nào. Có điều lạ là bài thơ Việt ấy, có trước 1890 (trên 129 năm trước đây) mà có vẻ như «Thơ Mới », chứ không phải kiểu thơ cổ của các cụ thời ấy. Hai bài đồng dao và ca dao mà Gumiliev dịch từ Pháp văn cũng có trong cuốn sách của tác giả Pháp này : 1) Les filles aiment les piastres A figure d’oiseau, Elles quittent leurs parents Pour suivre les français.Девушки Bản dịch của Gumiliev, 1918: Нравятся девушкам рупии С изображением птицы, Они покидают родителей, Чтобы идти за французами. 2) Le crapeau a les lèvres rouges, C’est que le crapaud a mâché du bétel. Qu’elle vienne celle qui veut épouser mon père, Mon père l’accueillera doucement Avec de belles paroles et sans la frapper, Mais ma mère lui crèvera les yeux Et lui sortira les entrailles du ventre. Bản dịch của Gumiliev, 1918: Детская песенка Что это так красен рот у жабы, Не жевала ль эта жаба бетель? Пусть скорей приходит та, что хочет Моего отца женой стать милой! Мой отец ее приветно встретит, Рисом угостит и не ударит, Только мать моя глаза ей вырвет, Вырвет внутренности из брюха. Đó chính xác là những bản dịch, không còn phóng tác nữa. Có điều, nếu so với mấy bài ca dao Việt mà bác Tuntin kỳ công tìm được, thấy có khác đôi chút. 1) Ham chi đồng bạc con cò Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang-sa 2) Cái cò trắng bạch như vôi, Có về lấy lẽ chú tôi thì về! Chú tôi chẳng đánh, chẳng chê, Thím tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan. Geo nghĩ là các bài ca dao thường có nhiều dị bản, mỗi nơi đọc một khác, vì là thể loại truyền miệng. Trong khi chưa tìm lại được di bản gốc mà từ đó tác giả G. Dumoutier đã dịch sang tiếng Pháp, Geo tạm giả thiết 2 di bản đó có dạng như sau: 1) Nàng cóc nhai trầu đỏ môi Có về lấy lẽ chú tôi thì về! Chú tôi chẳng đánh, chẳng chê, Thím tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan. 2) Các nàng ham bạc con cò Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang-sa Chú ý : Chữ « phò » (hay phù) có nghĩa là đi theo, giúp đỡ, hầu hạ. Trong bản Pháp văn và Nga văn đều dịch chính xác là « đi theo » « suivre les français » và « идти за французами”, những chữ đó nếu áp dụng đổi với phụ nữ thì cũng có nghĩa là đi (lấy chồng). Việc dịch những bài ấy sang tiếng Nga của Gumiliev là đã rõ ràng. Vấn đề còn lại là truy tầm những bài thơ và ca dao gốc tiếng Việt tương ứng. Đây có lẽ là vấn đề còn lại nan giải nhất, tuy những khó khăn vô cùng lớn bác Tuntin đã vượt qua. Quả là một nghị lực khổng lồ, thật đáng trân trọng. -------------- PS. Trong tuyển tập thơ của Lermontov có bài В АЛЬБОМ(Из Байрона) Как одинокая гробница Вниманье путника зовет, Так эта бледная страница Пусть милый взор твой привлечет. И если после многих лет Прочтешь ты, как мечтал поэт, И вспомнишь, как тебя любил он, То думай, что его уж нет, Что сердце здесь похоронил он. 1836 Geo đã dịch như sau: GHI VÀO ALBOM (Phỏng Bairơn) Như nấm mồ cô đơn Khiến nao lòng lữ khách, Trang giấy nhạt nhoà này Cũng hằng mong cuốn hút Ánh mắt người tôi thương. Nếu sau nữa nhiều năm Đọc điều nhà thơ ước, Nhớ lại mối tình chàng, Hãy tin, em: chàng khuất, Tim còn vùi trong trang. 1836 Sau này, Geo đọc trong quyển Thơ Byron do Thái Bá Tân dịch có bài sau: * * * Anh viết đây dòng chữ nhỏ Để em nhớ anh đôi lần Như tên ai trên bia mộ Gọi người du khách dừng chân. Rồi tháng năm qua trông lại Thấy tên người xưa còn đây, Hãy tin: dù anh xa mãi Nhưng tim chôn ở trang này. Geo cho là bài tiếng Nga chẳng qua là bản dịch tác phẩm của Byron. Đến lúc này có thể tam kết luận: Các bài trong mục Đông Dương của Gumiliev đều là các bản dịch các tác phẩm của Đống Dương thông qua bản tiếng Pháp của G. Dumoutier. Việc làm của Geo trên đây gần giống như việc Gumiliev đã làm - Dịch mấy bài thơ của Gớt, của Byron thông qua bản tiếng Nga... Chúc bác Tuntin thêm nhiều thành công mỹ mãn. Hy vọng được chiêm ngưỡng tiếp những tìm tòi của bác. |
Trích:
------------------ Sau khi post bài trên, Geo nghĩ có thể nhờ cụ Google kiểm tra giả thiết về dị bản kế trên của mình. Thật bất ngờ, tại trang: http://e-cadao.com/cadaonam/huonghoadatnuoc14.htm , Geo đọc được câu ca dao sau: Cái cóc ăn trầu đỏ môi Có ai làm lẽ chồng tôi thì làm. Vậy là chìa khóa cho bài ca dao trên đã được tìm ra. Vì Geo cho rằng, gay cấn nhất là câu đầu của bài Ca dao bác Tuntin tìm được không ăn nhập với bài Pháp văn. Còn bài Geo vừa tìm được thì chỉ có 2 câu, câu sau không ăn nhập mấy, nhưng câu đầu thì ổn. Vì thế, nếu ghép lại như sau thì có lẽ ổn. Và Geo tin trên thực tế, tác giả Pháp G. Dumoutier đã thu thập được bài ca dao cổ có dạng như sau, và đã dịch bài ấy ra tiếng pháp trong quyển in năm 1890: Cái cóc ăn trầu đỏ môi Có về lấy lẽ bố tôi thì về Bố tôi chẳng đánh, chẳng chê Mẹ tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan Xin đóng góp chút đỉnh với bác Tuntin trên đường đi tới đích mà bác vẫn đang kiên trì hướng tới. |
Trong lúc chờ phần tìm tòi rất công phu và đáng khâm phục của bác tuntin, em xin giới thiệu thêm một bài thơ khác của Gumilyov nhé
|
Cái cóc ăn trầu đỏ môi
Có về lấy lẽ bố tôi thì về Bố tôi chẳng đánh, chẳng chê Mẹ tôi móc ruột, lôi mề, ăn gan:emoticon-0107-sweat Chào các bác, hôm nay em mới có thời gian " lướt" chứ chưa đọc hết topic này mà thấy nhiều điều thú vị quá, nhấn nút Cảm ơn mỏi tay luôn:emoticon-0150-hands. Đọc mấy câu ca dao trên thấy rùng rợn. Tấm Cám còn thua xa, eo ôi phụ nữ Việt nam mà hiện ra trong ca dao như ác thú...sợ hết hồn:emoticon-0107-sweat. Công nhận các bác mò mẫm giỏi quá, tiếc rằng không có nhiều thời gian mà xem được hết các đường link để " mở mắt" ra thêm chút. Cảm ơn các bác nhé, riêng thơ của bác Gumiliev:emoticon-0127-lipss ... |
HÀNH TRÌNH TÌM NGUỒN CỘI NHỮNG BÀI THƠ
CỦA N. GUMILIEV VIẾT VỀ VIỆT NAM Trong tập thơ “Toà nhà bằng sứ” (Фарфоровый павильон) in năm 1918 của nhà thơ Nga N. Gumiliev, phần “Đông Dương” có 5 bài thơ: Annam, Các cô gái, Đồng dao, Nước Lào và Những cô gái Khạ. Hai bài thơ sau chắc chắn viết về đề tài Lào, những bài còn lại có vẻ như đều viết về Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20. Để làm rõ vấn đề này, chúng tôi đã vượt qua nhiều trở ngại và cũng đã thu được một số kết quả bước đầu. 1. NHỮNG BÀI THƠ VIẾT VỀ ĐÔNG DƯƠNG CỦA N. GUMILIEV Trong 5 bài thơ kể trên của N. Gumiliev, bài “Annam” là bài viết về chủ đề Việt Nam dễ nhận biết nhất. Bài này đã được nhà thơ Hồng Thanh Quang chọn dịch: An Nam Vầng trăng lơ lửng treo Giữa khung trời vô tận Gió quanh quẩn rặng tre Hương thơm tràn mát đậm Cả gia đình bằng an Những người lớn uống trà Đọc thơ ngoài vườn biếc Đàn trẻ đùa trong nhà Hồn nhiên và ríu rít Tiếng khóc nào oa oa Cảnh đời hoan lạc thế Nào có nghĩa gì đâu Những bạc tiền, danh giá Nếu ta biết đời sau Luôn hậu sinh khả úy (Hồng Thanh Quang dịch) Vấn đề còn lại là liệu 2 bài “Các cô gái” và “Đồng dao” cũng viết về Việt Nam chăng? Trong kho tàng thi ca Nga nói riêng, thi ca Âu châu nói chung, vào những năm đầu thế kỷ 20 trở về trước hầu như chưa thấy những bài thơ viết về đề tài Việt Nam. Do đó, nếu điều nêu trên là đúng thì sẽ là một trường hợp hiếm hoi, đáng quan tâm. Với những tư liệu hiện biết thì nhà văn Nga đầu tiên có mặt tại Việt Nam là V. V. Krextôpxki. Ông đến Sài Gòn năm 1880 và có viết một ký sự về thành phổ Viễn Đông này. Con gái ông là nữ văn sỹ M.V. Krextôpxkaia, người đã cùng nữ văn sỹ Nga khác là T.L. Sepkina-Kupernhic có mặt ở Alger vào mùa xuân năm 1902. Tại đó họ có gặp gỡ, đàm đạo rồi trở thành bạn của vua Hàm Nghi. Trong cuốn du ký nhan đề “Những bức thư từ phương xa” (1903-1913), T.L. Sepkina-Kupernhic đã viết về những chuyện kỳ lạ ở nước ngoài, trong đó có thiên ký sự “Hoàng tử Lý Tsong” với nguyên mẫu là vua Hàm Nghi. Ngày đó, người ta quen gọi vị vua Việt Nam bị lưu đày ở Algeri là Hoàng tử Annam (Prince d’Annam). N. Gumiliev là một đại diện xuất sắc của Thế kỷ bạc trong nền thi ca Nga. Ông là người chồng đầu tiên của Anna Akhmatova - người được mệnh danh là Nữ hoàng thi ca Nga. Vì thế những tác phẩm kể trên của ông càng được quan tâm. Và việc trước tiên, chúng tôi cần tìm hiểu là liệu trong cuộc đời chinh chiến và thám hiểm của mình, N. Gumiliev có ghé qua mảnh đất Đông Dương hay không? Câu hỏi này đã nhanh chóng có lời giải đáp: N. Gumiliev chưa hề đặt chân tới Đông Dương, nhưng vào năm 1917, trước khi tập thơ “Lâu đài bằng sứ” ra đời, ông đã có mặt tại Pháp. Chắc chắn những bài thơ về Đông Dương của ông có liên quan đến những thư liệu mà ông được đọc trong thời gian sống ở Pháp này. Trước hết, để truy tìm nguồn gốc các bài thơ, cần tạm dịch chúng sang tiếng Việt. Về bài “Annam”, đã có bản dịch của Hồng Thanh Quang kể trên. Hai bài tiếp theo là: Девушки Нравятся девушкам рупии С изображением птицы, Они покидают родителей, Чтобы идти за французами. Tạm dịch : Các cô gái Các nàng mê những đồng bạc Trên mặt khắc hình chim bay, Nên đành rời xa bố mẹ, Bỏ nhà theo mấy ông Tây. Детская песенка Что это так красен рот у жабы, Не жевала ль эта жаба бетель? Пусть скорей приходит та, что хочет Моего отца женой стать милой! Мой отец ее приветно встретит, Рисом угостит и не ударит, Только мать моя глаза ей вырвет, Вырвет внутренности из брюха. Tạm dịch: Đồng dao Nàng cóc tô môi đỏ thắm Chắc vừa bỏm bẻm nhai trầu? Nếu muốn về với bố tớ Làm vợ thảo hiền, về mau! Bố tớ sẽ đón thiện tình, Nuôi ăn và không đánh đập, Nhưng mẹ tớ không vậy đâu: Sẵn lòng móc mắt, rút ruột... Một người say mê văn học, ông NCT từ Tp. Hồ Chí Minh, khi tham gia diễn đàn của trang WEB Tôi yêu nước Nga (Nuocnga.net) đã phát hiện ra một bài ca dao Việt Nam có nội dung gần với bài 2 trong chùm thơ “Đông Dương” của N. Gumiliev, bài “Các cô gái”: Ham chi đồng bạc con cò Bỏ cha bỏ mẹ đi phò Lang-sa Ông NCT cũng tìm thấy tư liệu cho biết, ngày 10/4/1862, sau khi mới chiếm được Nam Kỳ, thiếu tướng Bonard (Tổng chỉ huy liên quân Pháp - Tây Ban Nha) đã ký quyết định xác định tính hợp pháp của việc lưu hành đồng bạc Mehico (đồng Mexicana), trên bề mặt có hình con chim ó mà dân ta quen gọi là “đồng bạc con cò”. Rất dễ nhận ra tính tương đồng về nội dung của bài ca dao Việt và bài thơ in trong cuốn thơ của N. Gumiliev. Với linh cảm của mình ông NCT tin bài thứ ba trong chùm thơ của N. Gimiliev cũng có nguồn gốc ca dao Việt Nam. Ông đã dày công tìm kiếm trong kho tàng ca dao Việt Nam, đồng thời cũng tìm những thư liệu tiếng Pháp mà theo ông có khả năng N. Gumiliev đã từng đọc để rồi « sáng tạo » ra các bài thơ bằng tiếng Nga. Rồi ông tìm được bài ca dao sau: Cái cò trắng bạch như vôi, Có về lấy lẽ chú tôi thì về! Chú tôi chẳng đánh, chẳng chê, Thím tôi móc ruột, lộn mề, ăn gan. Về ý tứ, có thể thấy giữa bài “Đồng dao” của N. Gumiliev và bài ca dao “Cái cò trắng bạch như vôi” kể trên có những nét tương đồng. Nhưng từ “cái cò” trắng đẹp trong ca dao Việt đã trở thành “con cóc” xấu xí trong bài thơ Nga. Xét về góc độ sáng tạo để cho ra đời một bài thơ khác, trong ngôn ngữ khác, thì điều này hoàn toàn có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, cũng cần tìm hiểu thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Ca dao thuộc thể loại văn học dân gian, nên mỗi bài có thể có nhiều dị bản. Liệu có dị bản nào nói về con cóc chứ không phải con cò? Sau một thời gian tìm kiếm chúng tôi đã tìm được bài: Cái cóc ăn trầu đỏ môi Có ai làm lẽ chồng tôi thì làm. Bài này chỉ có 2 câu, câu sau không ăn nhập mấy, nhưng câu đầu thì khá tương đồng với câu trong bài thơ tiếng Nga. Nếu tổng hợp lại thành một bài như sau thì sẽ tương hợp với bài “Đồng dao” của N. Gumiliev: Cái cóc ăn trầu đỏ môi Có về lấy lẽ bố tôi thì về Bố tôi chẳng đánh, chẳng chê Mẹ tôi móc mắt, lộn mề, ăn gan. Sau một thời gian tìm kiếm khó khăn nữa, ông NCT lại tìm ra được một tác phẩm bằng tiếng Pháp, cuốn “Les chants et les traditions populaires des Annamites” (Những bài hát và ca dao của người Annam), tác giả Gustave-Emile Dumoutier (Nhà Xuất bản E. Leroux, Paris, 1890, 215 p.). G-E. Dumoutier sinh ở Courpalay, gần Coulommiers (Seine-et-Marne) ngày 3-6-1850, và mất ở Đồ Sơn (Bắc Việt Nam) ngày 2-8-1904. Thoạt tiên ông theo học về Nhân loại học thời Tiền sử, sau này với tư cách học viên dự thính, ông đã học trong ba năm về ngôn ngữ và lịch sử Trung Hoa tại trường Ngôn ngữ Đông Phương. Tháng giêng năm 1886, ông tháp tùng Toàn quyền Paul Bert tới Bắc Kỳ và làm thông ngôn tiếng Việt và tiếng Hoa cho Phủ Toàn Quyền. Tại đây ông được giao nhiệm vụ tổ chức Nha Học Chính. Là một người hết sức năng động, tháo vát, một năm sau ngày tới Việt Nam ông đã tổ chức được một trường Thông Ngôn, chín trường Tiểu học cho nam sinh, và bốn trường Tiểu học cho nữ sinh. Sau đó ông được giao chức Giám đốc Nha học chính Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Ông là tác giả của gần 60 tác phẩm, trong đó có một số sách rất giá trị như: - Lễ Tang của người Việt Nam (Le rituel Funéraire des Annamites) - Các ngôi chùa ở Hà Nội (Les pagodes de Hanoi) - Tượng phật lớn ở Hà Nội: Nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ học và văn khắc tại chùa Trấn Vũ (Le grand-Bouddha de Hanoi : etude historique, archeologique et epigraphique sur la pagode de Tran-Vu) - Tiểu luận về người Bắc Kỳ (Essai sur les Tonkinois) - Đền thờ Hai Bà (Le temple des deux Dames) v.v… Ngoài ra ông còn có trên 50 bài khảo cứu đăng trong các báo thời đó. Ông quan tâm nhiều tới lĩnh vực tôn giáo (Phật giáo) và lĩnh vực tâm linh khi viết những bài nghiên cứu thật tỉ mỉ về các loại bùa phép, về các thầy phù thủy, thầy pháp v.v… 2. SỰ LIÊN QUAN GIỮA CUỐN SÁCH CỦA G. DUMOUTIER VỚI CẤC BÀI THƠ CỦA N. GUMILIEV VÀ NHỮNG BÀI DÂN CA, CA DAO VIỆT NAM Cuốn sách của G. Dumoutier đã ghi lại nhiều bài ca dao, dân ca Việt Nam mà ông đã dày công sưu tập và dịch ra tiếng Pháp, trong đó có 3 bài sau đây gợi cho chúng ta sự liên tưởng tới 3 bài thơ của N. Gumiliev in trong tập thơ “Lâu đài bằng sứ”: 1) Annam Le Ciel est immense et pur, La lune répand ses clartés, Les bammous se balancent sous la brise, L’air est fraig et parfumé: La famille est heureuse et joyeuse, Les parents sont assis parmi les fleurs du jardin Buvant du thé, fredonnant des vers. La maison est remplie d’un bruit de voix: Ce sont les enfants qui étudient Et le dernier né qui appelle sa nourrice. Ce lui qui peut ainsi vivre en famille A le bonheur parfait sur la terre; Les richesses et la gloire ne sont rien pour lui. Sa vie s’écoule doucement, En songeant que ses enfants lui survivront. Аннам Месяц стоит посредине Дивно-огромного неба, Ветер в бамбуковой чаще, Благоухающий воздух, Благословенна семья. Старшие в роще за чаем, Пьют и стихи повторяют, Из дому слышно гуденье, Там занимаются дети, Новорожденный кричит. Тот, кто живет этой жизнью, Полное знает блаженство. Что ему деньги и слава, Если он верит, что детям Должно его пережить? 2) « Les filles » Les filles aiment les piastres A figure d’oiseau, Elles quittent leurs parents Pour suivre les français. Девушки Нравятся девушкам рупии С изображением птицы, Они покидают родителей, Чтобы идти за французами. 3) « Le crapeau a les lèvres rouges » Le crapeau a les lèvres rouges, C’est que le crapaud a mâché du bétel. Qu’elle vienne celle qui veut épouser mon père, Mon père l’accueillera doucement Avec de belles paroles et sans la frapper, Mais ma mère lui crèvera les yeux Et lui sortira les entrailles du ventre. Детская песенка Что это так красен рот у жабы, Не жевала ль эта жаба бетель? Пусть скорей приходит та, что хочет Моего отца женой стать милой! Мой отец ее приветно встретит, Рисом угостит и не ударит, Только мать моя глаза ей вырвет, Вырвет внутренности из брюха. Sau khi đối sánh chi tiết các văn bản, chúng tôi nhận thấy cả 3 bài thơ của N. Gumiliev là những bản dịch chân của 3 bài thơ trong cuốn sách tiếng Pháp của G. Dumoutier. Như phân tích ở phần trên, 2 trong số 3 bài thơ ấy có xuất xứ từ ca dao Việt Nam. Điều băn khoăn của chúng tôi là bài đầu tiên (Annam), mà chúng tôi đã tạm dịch lại dưới đây, không hề có dáng vẻ của một bài ca dao. Khi dịch ra tiếng Việt, nó có hình thức và nội dung như một bài “thơ mới” mà thời kỳ đó ở Việt Nam chưa xuất hiện: Annam Vầng trăng treo chính giữa Khung trời rộng khác thường, Gió lay lũy tre làng, Khí trời thơm mát lạ, Một gia đình yên ả. Người lớn, dưới tán lá, Uống trà và ngâm thơ, Từ trong nhà vọng ra Giọng ê a con trẻ Đang đọc Tam Tự Kinh, Tiếng khóc trẻ sơ sinh… Ai sống cuộc đời đó Sẽ mãn nguyện hoàn toàn. Những danh vọng, bạc vàng Cần chi, khi họ hiểu Lũ cháu con có hiếu Sẽ sống lâu hơn mình? Một số người suy đoán, phải chăng G. Dumoutier đã dịch nó từ lời một bài hát dân ca Việt Nam mà ông từng được nghe. Còn TS. ngữ văn Trần Thu Dung từ Paris lại cho rằng, tìm lại lời một bài ca cổ kiểu ca trù, hát xẩm là rất khó. Với những nghệ nhân tài năng, có khi chỉ ra đề là họ có thể chuyển thành lời hát xẩm, ca trù. Theo chị, từ bài “Annam” có thể biên soạn ra lời hát xẩm. Trong khi chưa tìm được lời bài hát tiếng Việt, chúng tôi tạm đưa ra phương án lời một bài hát xẩm mà TS. Trần Thu Dung đã thử biên soạn như sau : Annam Xanh xanh, rộng rộng trời xanh, Lung lung linh linh trăng tỏa sáng Gió đùa đùa ngọn tre. Trời se se lạnh lạnh Hương ngát ngát thơm thơm Thầy me ngồi nhấm nhấm chén trà ngân nga Trẻ nhỏ học bài ê a Thằng cu tí đòi u ới à. Hạnh phúc trên thế gian này Êm êm cuộc sống trôi trôi Vui vui, sống giữa đàn con Vui vui, thọ thọ với đàn con… Với việc phát hiện ra cuốn sách “Les chants et les traditions populaires des Annamites” của tác giả G. Dumoutier, chúng tôi thấy xuất xứ của các bài thơ viết về đề tài Việt Nam trong tập “Toà nhà bằng sứ” của nhà thơ N. Gumiliev đã sáng tỏ. Chúng đều được dịch từ những bài ca dao và dân ca Việt Nam mà G. Dumoutier đã sưu tầm và dịch ra tiếng Pháp trong cuốn sách kể trên. Với 2 bài “Các cô gái” và “Cái cóc ăn trầu đỏ môi” thì dường như đã tìm được những bài ca dao Việt Nam tương ứng. Riêng với bài “Annam”, việc dịch ngược lại thành lời một bài hát xẩm chưa thể được coi là hoàn thiện, mới chỉ là một gợi ý nhỏ. Hy vọng trong tương lai, với sự tìm tòi, nghiên cứu của rnhiều người, lời Việt gốc của bài hát đó cũng sẽ có cơ may tìm lại được. VĂN LIỆU 1. G. Dumoutier. Les chants et les traditions populaires des Annamites. Maison d’édition E. Leroux, Paris, 1890, 215 p. 2. Nguyễn Ngọc Giao. Hàm Nghi nghệ sĩ, Giaodiem.online. 07-07-2008. (http://www.giaodiemonline.com/noidun...hp?newsid=2557) 3. Diễn đàn Nuocnga.net (http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=1520&page=3) 4. Н.С. Гумилев. фарфоровый павильон. Издательство: Гиперборей, 1918 г. 80 стр. |
Bác Geobic ơi, bài viết vừa rồi đã được đăng ở đâu thế hả bác? Mà ... em thấy tác giả tự xưng ở ngôi thứ nhất số nhiều, nên hơi hơi tò mò - ai thế nhỉ? :emoticon-0136-giggl:emoticon-0136-giggl
|
Trích:
Geo dùng "chúng tôi", có ý thay mặt cho tất cả những người đã đóng góp sức vào topic này đấy. Bài viết vẫn ở dạng bản thảo, mong được quý độc giả NNN góp ý. @ Bác tuntin, xin bác cho biết tên đầy đủ tiếng Pháp của tác phẩm này nhé: - Nghiên cứu về Khảo Cổ Học và Minh Văn Học tại chùa Trấn Vũ (Le grand Bouddha de Hanoi) |
Ôi, thế thì em xin có ý kiến một chút. Vẫn biết là ... muốn có sự hoàn hảo, tuy nhiên, em cảm thấy phần dịch lại bài An Nam ra tiếng Việt có hơi ... cưỡng ép, và chính phần này làm giảm sự thuyết phục của bài viết đi. Tất nhiên đó chỉ là cảm nhận cá nhân của em thôi...
|
Bài tổng hợp của bác Geo và các bác đồng tác giả rất công phu. Cá bác đừng đăng bản thảo này lên đâu vội nhé, cả trang chủ NNN cũng vậy, đề mời bà con nhà mình xem cho đã đã, biết đâu lại còn ai muốn hỏi hay góp ý thêm tư liệu gì, rồi lại được các bác giải đáp thêm rất thú vị.
Mà bác Geo chưa giới thiệu kỹ với chúng em về "Một người say mê văn học từ Tp. Hồ Chí Minh tham gia diễn đàn của trang WEB Tôi yêu nước Nga (Nuocnga.net) " đấy nhé! Các bác gặp nhau đàm đạo chuyện văn thơ kín tiếng quá!:emoticon-0127-lipss, chúng em nhiều khi "văn kỳ danh, bất kiến kỳ nick", e "phạm húy" các bác thì gay quá! |
Trích:
Nếu USY theo dõi topic này, và cả bài "tổng kết" của Geo, cùng những "phụ kiện" sau đó, hẳn sẽ tự trả lời được được câu hỏi của mình. Đóng góp lớn cho nội dung bài này là của bác ấy, Geo đã gợi ý bác ấy viết bài, nhưng rồi bác ấy lại "ủy quyền" cho Geo đấy:emoticon-0150-hands:emoticon-0155-flowe Trong bài của Nguyễn Ngọc Giao (http://www.giaodiemonline.com/noidun...hp?newsid=2557) mà Geo đã dẫn cuối bài có đoạn: "Vừa qua, trên mạng VietNamNet, bài viết của nhà nghiên cứu người Nga N. L. Nikulin (bản dịch của Vũ Thanh, 5.5.2008,) đã hé mở cho chúng ta một nét ít được biết về Hàm Nghi : hoạ sĩ. Nội dung chủ yếu của bài viết này thực ra đã được công bố cách đây hơn 10 năm (Tạp chí Khoa học Xã hội, Năm thứ 9, Số 33, Quý III-1997, bản dịch của Phương Phương)", Geo đã được đọc nội dung bài viết của Nikulin, nhưng không tìm được bản gốc, cũng không rõ tên bài viết của Nikulin, in năm nào, tạp chí nào... Bác nào có diều kiện tìm giúp nhé, vì trong văn liệu không có bài ấy e khiếm khuyết quá. Phần dịch bài "Những cô gái Khạ" của Nina rất hay, nhưng vì bài báo đã quá dài, nên không đưa vào được. Vả lại, bài tổng hợp này chỉ nhằm giải quyết những bài liên quan đến Việt Nam. |
Trích:
Kính chúc bác Geobic mạnh khỏe. Tuntin. |
Trích:
Geo |
Trích:
Trưa nay, tôi đang rất bận, mượn tạm máy của người khác, lại không có file lưu của mình nên chỉ viết được vài dòng nhờ bác giúp đỡ ngay. Cảm ơn bác rất nhiều vì đã chiếu cố đề nghị của tôi. Cuốn sách bác Geobic nói ở trên viết đầy đủ như sau ạ: Le grand-Bouddha de Hanoi : etude historique, archeologique et epigraphique sur la pagode de Tran-Vu / par G. Dumoutier Author Dumoutier, Gustave, 1850-1904 Description Hanoi : F.H. Schneider, 1888. 82, [44] p. : ill. ; 28 cm. Trân trọng kính chào bác. Tuntin. |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 05:57. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.