![]() |
Con tầu trắng (tiếp theo)
Sau lần ấy Ô-rô-zơ-kun đã thề không cho ai lấy một cành cây nhỏ, bất cứ ai , dù là chỗ quen biết thế nào đi nữa, dù là người cùng bộ lạc, cũng là con cháu Mẹ Hươu Sừng với nhau cả.
Những mùa hè đã trở lại. Những nhà lều trăng trắng trên các bãi cỏ xanh trên núi, các đàn gia súc làm náo động cả lên, khói tuôn dài trên các sông suối. Mặt trời ngời sáng, thoang thoảng mùi ku-mư-x ngây ngất, mùi hoa thơm ngát. Thật là sung sướng khi được ngồi ngoài trời thoáng đãng cạnh căn nhà lều, trên cỏ xanh, giữa đám bầu bạn, thưởng thức ku-mư-x, thịt tươi. Rồi uống một hơi hết cốc vôt-ka, khà một tiếng và đầu óc choáng váng. Ta cảm thấy ta có đủ sức để nhổ bật rễ cái cây lớn hay vặn cổ trái núi kia… Trong những ngày như thế, Ô-rô-zơ-kun quên mất lời thề của mình. Y khoái được nghe người ta gọi y là ông chủ oai quyền của một khu rừng lớn.Và y lại hứa hẹn, lại nhận quà biếu.. Lại một cây thông nào đó trong những loài còn sót lại trong rừng không ngờ rằng ngày của nó đã được đếm rồi, hễ mùa thu đến là nó hết đời. Mùa thu từ các cánh đồng đã gặt lẻn vào núi lúc nào không biết và bắt đầu sục sạo khắp xung quanh. Ở những nơi nó chạy qua, cỏ ngả sang màu đỏ hung, lá cây trong rừng ngả sang màu đỏ hung. Quả chín dần, cừu non lớn dần. Người ta chia chúng ra thành những đàn cừu đực riêng, cừu cái riêng. Đàn bà giấu pho mát khô trong những núi đựng thực phẩm mùa đông. Đàn ông bắt đầu bàn bạc xem nên cử ai là người đầu tiên mở đường trở về thung lũng. Nhưng trước khi ra đi, những kẻ hồi mùa hè đã giao hẹn với Ô-rô-zơ-kun báo trước rằng ngày ấy giờ ấy họ sẽ cho ô-tô đến khu trạm gác lấy số gỗ y đã hứa. Chiều hôm nay, một chiếc ô-tô có rơ-mooc sẽ tới chở hai cây gỗ thông đi. Một cây đã ở dưới kia, đã đưa qua sông và đem đến chỗ xe sẽ tới. Cây thứ hai thì đây, họ đang lôi nó xuống núi. Nếu như bây giờ Ô-rô-zơ-kun có thể trả lại tất cả những gì y đã ăn đã uống, để khỏi phải trả nợ bằng những cây gỗ này thì y sẽ làm ngay, miễn sao thoát khỏi nỗi cực nhục mà giờ đây y phải chịu đựng. Hỡi ôi, không có cách gì thay đổi cái số kiếp đáng nguyền rủa của mình ở chốn rừng núi này: chiều nay chiếc ô-tô có rơ-mooc sẽ tới để chở gỗ đi vào ban đêm. Nếu như mọi việc trót lọt cả thì còn may. Đường cái đi qua nông trường quốc doanh, ngay cạnh văn phòng ban quản trị, không còn con đường nào khác. Mà công an, các nhân viên thanh tra nhà nước thường tạt vào nông trang, và ở đấy cũng chẳng thiếu gì các loại người ở huyện về. Họ mà bắt gặp chuyến xe chở gỗ thì rầy: “ Gỗ lấy ở đâu và chở đi đâu?” Nghĩ đến chuyện đó Ô-rô-zơ-kun lạnh cả sống lưng. Và y giận sôi lên vì căm tức tất cả mọi thứ trên đời: cả lũ quạ đang kêu la inh ỏi trên đầu, cả ông già Mô-mun bất hạnh, cả gã Xây-đăc-mat lười nhác ba ngày trước đã tinh ý bỏ ra thành phố bán khoai. Gã biết thừa là sắp phải tha gỗ từ trên núi xuống mà. Thế là gã đánh bài lỉnh… Bây giờ thì bao giờ xong công việc ở chợ thì gã mới về.Không thì Ô-rô-zơ-kun đã sai gã cùng với ông già lôi những cây gỗ xuống chứ tội thân gì y chịu khổ sở thế này. |
Nhưng Xây-đăc-mat ở xa, còn về lũ quạ thì không có cách gì đụng tới chúng được. Bí lắm thì vẫn có thể nện cho mụ vợ một trận, nhưng cũng vẫn còn xa mới lần về được đến nhà. Ông già Mô-mun tụt lại sau. Ngộp thở và mỗi lúc một nổi hung lên vì cảm giác ngạt thở ở trên núi, miệng không ngớt chửi rủa, Ô-rô-zơ-kun phăm phăm băng qua các bụi cây, không hề thương hại con ngựa cũng như ông già đi sau y. Mặc cho con ngựa chết quách đi, mặc cho lão già chết quách đi, mặc cho chính bản thân y chết lăn ra vì vỡ tim! Y khổ thì người khác cũng không được sướng. Thế giới này cứ tan tành cả đi, trên cõi đời này, mọi sự đều không thỏa đáng, Ô-rô-zơ-kun không có được những gì mà y đáng được hưởng cho xứng với phẩm hạnh và chức vụ của y! Không còn tự chủ được nữa, Ô-rô-zơ-kun dắt ngựa vượt qua lùm cây bụi, đi thẳng tới chỗ sườn núi dốc đứng. Mặc cho lão Mô-mun nhanh nhảu nhảy múa xung quanh cây gỗ. Lão mà không kìm nổi cây gỗ thì sẽ biết tay ta! “ Ta sẽ cho lão già ngu ngốc một trận nhừ tử, thế là ổn.”- Ô-rô-zơ-kun tự nhủ. Giá vào lúc khác thì y không dám kéo cây gỗ tới một triền dốc nguy hiểm như thế. Nhưng lần này quỷ đã sai khiến y. Ông già không kịp ngăn giữ y, chỉ kịp kêu lên: “ Đi đâu thế? Đi đâu? Dừng lại!” Vừa dứt lời thì cây gỗ đã xoáy vặn đi ở đầu giây xích và tuồn tuột lôi xuống, đè nát những bụi cây. Cây gỗ tươi rất nặng. Mô-mun thử chẹn cây đòn để giữ cây gỗ không cho lao xuống. Nhưng sức va đập mạnh đến nỗi cây đòn bật khỏi tay ông già.
Mọi việc diễn ra trong khoảnh khắc. Con ngựa ngã lăn kềnh, và bị lôi tuồn tuột xuống trong tư thế nằm nghiêng. Khi ngã, con vật quật nhào cả Ô-rô-zơ-kun. Y lăn lông lốc, cuống quýt bám lấy các bụi cây. Lúc ấy, mấy con vật gì không rõ, có sừng, hãi hùng nhảy đại đi trong đám lá dày rậm. Chúng nhảy khỏe lắm, chồm lên rất cao và biến mất trong khu rừng phong. - Hươu Maran! Hươu Maran!- Ông Mô-mun kêu lên , sợ hãi và vui sướng đến mê người. Rồi ông im bặt, dường như không tin mắt mình nữa. Bỗng nhiên trong núi trở nên im ắng. Quạ lập tức bay đi hết. Cây gỗ mắc lại trên mặt dốc, đè gẫy những cây phong non cứng cáp. Con ngựa vướng víu trong đám dây rợ, đã tự đứng lên được. Ô- rô zơ-kun quần áo rách bươm, bò sang một bên. Mômun đâm bổ đến giúp con rể. - Ôi mẹ chí thánh, Mẹ Hươu Sừng! Chính Mẹ đã cứu chúng ta! Anh thấy chứ? Đấy là các con của mẹ Hươu Sừng. Mẹ chúng ta đã trở về rồi. Anh thấy chứ? Vẫn chwua tin mọi tai hoa đã qua, O rô zơ kun đứng lên, mặt sa sầm, sượng sùng, y phủi quần áo: - Đừng ba hoa, ông già. Đủ rồi! Tháo dây kéo cho con ngựa. Moomun ngoan ngoãn vội tới tháo dây cho con ngựa. - Ôi Mẹ thần kì, Mẹ Hươu Sừng!- Ông già tiếp tục lẩm nhẩm một cách vui sướng. – Hươu Maran đã trở lại các khu rừng của chúng ta. Mẹ Hươu Sừng đã không quên chúng ta! Mẹ đã tha tội cho chúng ta… - Vẫn lẩm bẩm một mình ư? – Ô rô zơ kun cằn nhằn. Y đã hết sợ, định thần lại, và cơn tức giận trước đây lại dày vò y. – Vẫn cứ kể những chuyện cổ tích của ông phải không? Bản thân ông đâm ra gàn dở, thế thì ông tưởng người khác cũng so tin nhwungx điều bịa đặt ngu xuẩn của ông phải không? - Chính mắt ta nhìn thấy. Đấy là những con hươu Maran, - Ông Mômun không chịu thôi. – Con ta ơi, chẳng lẽ anh không nhìn thấy ư? Chính con cũng nhìn thấy đấy thôi. - Ừ, tôi có thấy. Thấp thoáng đâu như ba con.. - Đúng là ba. Ta cũng thấy như thế. - Vậy thì sao kia chứ ? Maran thì Maran. Còn vừa nãy tí nữa là tôi gãy cổ. Có gì đáng vui mừng nào? Nếu đó là Hươu Maran thì hắn chúng từ bên kia đèo tới. Nghe nói ở Ka zăc tan, phía bên kia núi, trong các khu rừng vẫn còn hươu Maran. Ở đấy cũng có một khu rừng cấm. Nó đến thì đến chứ sao. Can gì đến chúng ta. Kazactan không dính dáng gì đến ta. - Có lẽ Hươu Maran sẽ ở lại vùng chúng ta chăng? - Ông Mômun mơ ước - Giá như chúng ở lại thì thật là... - Thôi, đủ rồi! - Ô rô zơ kun ngắt lwoif ông lão - Đi đi. Còn phải mất nhiều thời giờ để đưa cây gỗ xuống, rồi dùng ngựa kéo nó qua sông. Đấy cũng là việc nhọc nhằn. Rồi nếu đưa được cây gỗ qua sông trót lọt thì còn phải đem nó đến cái gò chỗ ô tô đến chở đi. Ôi, khó nhọc biết chừng nào!... |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
(Nhân ngày nghỉ cố gắng hoàn thành công việc "gõ mõ" dang dở...)
Ôrôzơkun cảm thấy y bất hạnh quá chừng. Y có cảm giác rằng xung quanh y toàn là những sự bất công. Núi non, chúng hoàn toàn vô tri vô giác, không mong muốn gì, không hề than phiền điều gì, cứ ung dung đứng nguyên một chỗ. Rừng đang vào thu, rồi sẽ bước vào mùa đông và chẳng thấy chuyện đó có gì khó khăn. Ngay đến những con quạ, chúng cũng cứ ung dung bay lượn tự do và la, gào thoả thích. Những con hươu Maran, nếu đấy quả thật là hươu Maran, đã vượt đèo sang đây và sẽ đi tha thẩn trong rừng, muốn đi đứng thế nào tuỳ ý và muốn đến đâu thì đến. Trong các thành phố, người ta chẳng lo nghĩ gì, đi bộ trên các đường phố rải nhựa, đi tăc-xi, ngồi trong các hiệu ăn, mải mê với những trò giải trí. Còn y là kẻ xấu số bị ném vào vùng núi này, y là kẻ bất hạnh… Ngay đến lão Mômun nhanh nhảu này, lão bố vợ hèn kém của y, lão cũng hạnh phúc hơn y, bởi vì lão tin những chuyện cổ tích. Một kẻ đần độn! Những đứa ngu bao giò cũng bằng lòng về cuộc sống. Còn Ôrôzơkun căm ghét cuộc sống của y. Cuộc sống ấy không xứng với y. Nó chỉ xứng với những kẻ như lão Mômun nhanh nhảu. Lão cần gì, lão Mômun? Càng sống càng oằn lưng xuống hết ngày này sang ngày khác, không hề được nghỉ ngơi. Và trong đời không có ai dưới quyền lão, còn lão phục tùng cả thiên hạ, ngay đến mụ già vợ lão, lão cũng không dám hé răng cãi lại. Cái lão khốn khổ như thế sẽ lấy làm hạnh phúc vì một câu chuyện hoang đường. Nhìn thấy mấy con hươu Maran trong rừng lão cảm động đến ứa nước mắt, như thể lão gặp những người anh em ruột thịt mà cả trăm năm nay lão vẫn tìm kiếm khắp thế giới. Ối chà, thật chẳng đáng nói làm gì!... Rốt cuộc hai người đã đến cái ranh giới cuối cùng, từ đây bắt đầu một cái dốc dài khá gay go dẫn xuống sông. Họ dừng lại nghỉ ngơi. Bên kia sông, trong sân khu trạm gác, có cái gì bốc khói. Nhìn làn khói có thể đoán đấy là khói ấm xamôva. Như vậy là mụ vợ đã chờ đón y. Nhưng điều đó không làm Ôrôzơkun dễ chịu hơn. Y há hốc mồm thở vì thiếu không khí. Trong lồng ngực đau nhói, còn trong đầu tiếng mạch đập âm âm như tiếng dội. Mồ hôi trên trán chảy xuống cay sè cả mắt. Mà phía trước là cả một cái dốc đứng dài dằng dặc. và ở nhà mụ vợ tiệt đường sinh đẻ đang chờ đợi. Hừ, mụ đặt ấm xamôva, muốn lấy lòng y. Trong lòng y bỗng dậy lên một ý muốn thôi thúc: chạy ào tới, đá tung chiếc ấm xamôva bụng phệ ấy đi, đá cho hắn văng tê đi. Rồi y sẽ xông vào đánh mụ vợ, đánh cho máu mê đầm đìa, đánh đến chết thì thôi. Y khoái chá tưởng tượng thấy cải cảnh ấy, nghe thấy tiếng gào rú của vợ, lời vợ y nguyền rủa số kiếp hẩm hiu của mình. “Mặc xác mụ. – Y nghĩ – Cho chết. Ta khổ sở thì tại sao mụ lại được sung sướng?”. Mômun làm đứt đoạn luồng suy nghĩ của y. - Này con ạ, ta quên đi mất – Ông già chợt nhớ ra và vội vã tới gần Ôrôzơkun. – Ta cần phải đến trường đón thằng bé. Tan buổi học rồi. - Thế thì sao nào? – Ôrôzơkun nói, cố ý lấy giọng điềm tĩnh. - Đừng giận, con ơi. Chúng ta hãy để cây gỗ ở đây. Ta xuống núi. Con về nhà ăn bữa trưa. Trong lúc đó ta phóng ngựa chớp nhoáng đến trường đón thằng bé. Khi hai ông con ta về, chúng ta sẽ chuyển cây gỗ qua sông. - Hẳn ông nghiền ngẫm lâu lắm mỡi nghĩ ra chuyện ấy đấy nhỉ, phải không ông già? – Ôrôzơkun châm chọc. - Thằng bé sẽ khóc mất thôi. - Thì đã sao nào? – Ôrôzơkun giận sôi lên. Rút cuộc đã có dịp cho lão gì một bài học nên thân. Suốt ngày Ôrôzơkun kiếm cách gây sự, bây giờ chính Mômun đã khiến y có cớ hoạnh hoẹ. – Nó khóc thì chúng ta sẽ bỏ mặc công việc phải không? Buổi sáng ông dỗ dành nó: ông sẽ đưa cháu đến trường. Được, ông đã đưa nó đến trường. Bây giờ sẽ đến đón nó về chứ gì? Thế còn tôi thì sao? Chúng ta đang chơi đồ chơi chắc? - Không nên, con ơi. – Mômun van nài. – Vào một ngày như thế này! Ta thì không sao, nhưng thằng bé trông đợi, nó sẽ khóc, mà một ngày như thế này… - Sao, một ngày như thế nào? Ngày gì mà đặc biệt thế? - Hươu Maran đã trở về. Một ngày như thế thì sao lại… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Ôrôzơkun ngẩn người ra, thậm chí im bặt vì ngạc nhiên. Y đã quên những con hươu Maran ấy, chúng đã thoáng hiện như những cái bóng nhanh nhẹn, nhảy nhót khi y lăn qua những bụi cây gai góc, hồn siêu phách lạc. Bất cứ lúc nào y cũng có thể bị cán bẹp bởi cây gỗ lao xuống trên sườn dốc. Nhưng y không hơi đâu bận tâm đến những con hươu Maran cũng như những lời ba hoa của lão già.
- Ông coi tôi là thứ người gì? – Y nói khẽ bằng giọng dữ tợn, phả hơi thở vào mặt ông già. – Tiếc rằng ông không có râu, không thì tôi sẽ túm lấy râu lôi đi để ông đừng cho rằng những kẻ khác đần hơn ông. Tôi cần cóc gì những con hươu Maran của ông! Rồi sau này tôi sẽ tính đến chúng. Ông đừng có phỉnh phờ tôi. Nào, đứng vào cạnh cây gỗ đi. Chưa đưa được cây gỗ sang sông thì đừng có đả động đến chuyện gì khác. Đứa nào đến trường học, đứa nào khóc, chuyện đó không dính dáng gì đến tôi. Đủ rồi, đi đi. Vẫn như mọi lần, Mômun lại tuân lời. Ông hiểu rằng ông không thể thoát khỏi tay Ôrôzơkun chừng nào cây gỗ chưa được đưa đến chỗ đã định, và ông lẳng lặng làm việc một cách tuyệt vọng.Ông không thốt ra một lời nào nữa, tuy tâm hồn ông gào thét điên cuồng. Thằng cháu đang đợi ông ở cạnh trường. Bọn trẻ đã về nhà hết, chỉ có một mình nó, đứa cháu côi cút của ông, vẫn nhìn ra đường và mong đợi ông. Ông già tưởng tượng thấy cả lớp học ùa ra, rầm rập chạy ra khỏi trường, tản tác mỗi đứa một ngả, ai về nhà nấy. Chúng đói lắm rồi. Ngay trên đường, chúng đã ngửi thấy mùi thơm của món ăn người ta nấu cho chúng, và vui sướng, hăm hở, chúng chạy qua dưới cửa sổ nhà mình. Các bà mẹ đã chờ đợi con về. Mỗi bà mẹ đều có một nụ cười khiến đứa trẻ ngây ngất. Dù bà mẹ buồn phiền hay vui sướng, nhưng bao giờ bà cũng đủ nghị lực dành cho con mình một nụ cười. Dù bà mẹ có hơi nghiêm giọng quát lên: “Tay thế kia à? Chờ ai rửa tay cho nữa?”, thì trong mắt bà cũng ẩn giấu vẫn nụ cười ấy. Từ khi thằng cháu của Mômun đi học, tay nó bao giờ cũng đầy vết mực. Ông già thậm chí còn lấy làm thích về chuyện đó: như vậy là thằng này chịu học. Vậy mà lúc này cháu ông đang đứgn trên đường, hay tay đầy vết mực, cầm chiếc cặp yêu mến mua dạo mùa hè năm nay. Chắc nó chờ đợi đã mệt nhoài rồi và đang lo lắng, chốc chốc lại ngóng nhìn và lắng nghe xem có phải ông cưỡi ngựa ló ra trên ngọn đồi hay không. Thì trước nay bao giò ông cũng đến kịp giờ mà. Hễ thằng bé ra khỏi trường là ông đã xuống ngựa chờ nó cách đấy một quang. Bọn trẻ tản về nhà, còn thằng bé chạy đến với ông. “Ông kia rồi. Ta chạy đi” – thằng bé nói với cái cặp. Chạy tới nơi, nó bối rối muốn nhảy bỏ đến ôm lấy ông, úp mặt vào bụng ông, ngửi cái mùi quen thuộc của áo quần ông và mùi cỏ khô mùa hè: trong những ngày này, ông dùng ngựa thồ cỏ khô từ bờ bên kia về, mua đông tuyết ngập sâu không thể sang được bờ bên kia, tốt hơn hết là chuyên chở từ mùa thu. Và một thời gian lâu sau đó, người ông toả ra mùi phấn cỏ đăng đắng. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Ông đặt cháu ngồi lên mông ngựa ở phía sau, và hai ông cháu đi về nhà, ngựa khi thì phi nước kiệu đường trường, khi thì bước một, hai ông cháu khi thì im lặng, khi thì nói với nhau một chuyện gì không đâu, và về tới nơi lúc nào không hay. Qua cái đèo yên ngựa giữa những trái núi nhỏ, hai ông cháu xuống hẻm Xantasơ về nhà mình.
Thằng bé say mê trường học quá đỗi khiến cho bà nó tức tối. Vừa thức giấc là nó mau chóng mặc quần áo và xếp sách vở vào cặp. Bà lão còn cáu về việc ban đêm nó đặt chiếc cặp bên mình. “Sao mà mày gắn bó với cái cặp khốn kiếp ấy thế? Mong sao nó thành vợ mày thì tốt, chúng tao khỏi tốn tiền dẫn cưới…” Thằng bé bỏ ngoài tai những lời của bà, vả chăng nó cũng chẳng hiểu rõ lắm bà nói thế là ý làm sao. Đối với nó, điều quan trọng nhất là đừng đi học muộn. Nó chạy ra sân giục ông. Chỉ khi nào trông thấy ngôi trường, nó mới yên tâm. Thế mà có lần hai ông cháu vẫn đến muộn. Tuần trước, tảng sáng ông già Mômun cưỡi ngựa sang bên kia sông. Ông định chuyên chở một chuyến cỏ khô từ sáng. Mọi việc lẽ ra sẽ ổn cả, nhưng giữa đường bó cỏ xổ ra, cỏ rơi tung toé. Phải bó lại tất cả, lại buộc lên lưng ngựa. Vì làm vội, bó cỏ lại xổ tung ra ở ngay bờ sông. Thằng bé cháu đã chờ ở bờ bên này. Nó đúng trên tảng đá sứt sẹo, vung chiếc cặp và gào lên câu gì không rõ, gọi ông. Ông già cuống quít, dây từng bị rối, thắt núi không gỡ ra được. Thằng bé vẫn la hét, và ông già hiểu rằng nó đã khóc. Thế là ông vứt ráo cả, cả cỏ và dây thừng, nhảy lên ngựa, nhanh chóng vượt qua chỗ sông cạn đến với cháu. Trong lúc ông vượt qua sông thì thời gian cũng trôi đi: không thể nhảy qua chỗ sông cạn như mọi khi được, nước khá sâu, dòng chảy xiết. Mùa thu thì không đáng sợ lắm, chứ mùa hè thì ngựa sẽ bị quật ngã, thế là toi mạng. Khi Mômun rút cuộc đã qua được sông và đến gần cháu thì thằng cháu đã khóc rưng rức. Nó không nhìn ông, chỉ khóc và nói lẩm nhẩm: “Muộn học rồi, muộn học rồi…” Ông già thõng người xuống từ trên lưng ngựa, bế thằng bé lên yên và phóng đi. Giá như trường ở gần nhà thì thằng bé sẽ chạy đi một mình là xong. Lần ấy suốt dọc đường nó cứ khóc hoài và ông già không làm cách nào cho nó yên lòng được, cứ như thế, ông đưa thằng bé khóc sướt mướt đến trường. Đã vào học rồi. Ông dẫn thẳng nó vào lớp. Mômun cứ xin lỗi cô giáo mãi, hứa lần sau không để xảy ra chuyện như thế. Nhưng điều làm ông lão bàng hoàng nhất là thằng cháu khóc ghê quá, nó khổ tâm lắm vì đã đi học muộn. “Cầu trời cho cháu luôn luôn ham thích đến trường như vậy”, - Ông nghĩ. Nhưng tại sao thằng bé khóc dữ đến như vậy nhỉ? Vậy là trong lòng nó có điều gì tủi hờn, một nỗi tủi hờn riêng không nói ra… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Và bây giờ, đi cạnh cây gỗ, khi thì ở phía bên này, khi thì chạy sang phía bên kia, dùng cây đòn bẩy, kích, đệm để nó khỏi mắc vào bất cứ chỗ nào, để nó trượt nhanh xuống dốc, Mômun luôn luôn nghĩ: cháu mình ở đấy như thế nào đây?
Ôrôzơkun thì không hề vội vã. Y dắt ngựa. Vả lại ở đây cũng không thể vội được: đoạn đường này dài, rất dốc, phải đi chéo xiên trên sườn núi. Nhưng chẳng lẽ không thể tôn trọng lời cầu xin của ông ư: tạm để cây gỗ ở đây, rồi sẽ quay lại lấy sau? Ôi chao, nếu có đủ sức, ông sẽ vác cây gỗ lên vai, bước một bước qua sông, quẳng nó ở cái chỗ ô-tô sẽ chở nó đi cho xong chuyện! Này, nhận lấy cây gỗ của các người, và hãy để tôi yên. Rồi ông sẽ đâm bổ đến với cháu ngay. Nhưng đừng mơ tưởng hão! Còn phải chầy chật mới đến được bờ sông, bước trên đá tảng, đá sỏi, rồi cho ngựa kéo cây gỗ qua chỗ sông cạn sang bờ bên kia. Mà ngựa đã kiệt sức rồi, nó đã lên dốc xuống dỗc bao nhiêu lần trên núi… Nếu mọi việc trót lọt cả thì còn là may, chứ nếu cây gỗ bị mắc vào đá ở giữa sông hay ngựa trượt chân ngã thì sẽ ra sao? Khi họ đã lội trong nước, ông Mômun cầu khấn: “Mẹ Hươu sừng, xin mẹ độ trì cho chúng con, sao cho cây gỗ đừng mắc lại, sao cho ngựa đừng trượt ngã!” Ông cởi đôi ủng, vắt qua vai, xắn quần cao quá gối, hay tay cầm cây đòn, hối hả theo cho kịp cây gỗ đang trôi. Họ kéo cây gỗ ngược dòng theo đường chéo xiên. Nước sông trong vắt, lạnh buốt. Nước mùa thu. Ông già gắng chịu đựng, chân chẳng rụng đâu mà lo, miễn là mau mau đưa được cây gỗ qua sông. Thế nhưng, như cố tình trêu người, cây gỗ vẫn bị mắc, nằm rịt trên đá ở chỗ nước chảy xiết nhất. Gặp lúc như thế này, cần cho ngựa nghỉ một lát, rồi thúc ngựa thật lực, giật mạnh một cái thì có thể lôi cây gỗ ra khỏi chỗ mắc trên đá. Nhưng Ôrôzơkun ngồi trên yên, vung roi thẳng cánh quất con ngựa đã yếu sức, mệt lả. Con vật khuỵu chân sau xuống, trượt chân, vấp móng, nhưng cây gỗ không nhích khỏi chỗ. Hai chân ông già tê dại, mắt tôi sầm lại. Đầu óc choáng váng. Cái bờ dốc đứng, khu rừng trên bờ dốc, những đám mây trên trời nghiêng đi, rơi xuống sông, trôi theo dòng nước chảy nhanh và quay trở lại. Ông già Mômun rất khổ tâm. Cây gỗ đáng nguyền rủa! Giá như nó khô, đốn lâu rồi thì lại khác, gỗ khô tự nó trôi trên mặt nước, chỉ cần kìm giữ nó thôi. Cây gỗ này vừa mới cưa và kéo ngay qua sông. Ai lại làm như thế kia chứ! Bởi vậy mới nên nông nỗi này. Việc làm mờ ám thì kết cục không ra gì. Ôrôzơkun không dám để cây gỗ mắc ở đấy: ngộ nhỡ nhân viên kiểm tra ập tới, lập biên bản về việc đốn gỗ quí trong rừng cấm thì nguy. Bởi vậy cưa xong là mau mau lôi cây gỗ đi cho khuất mắt. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Ôrôzơkun dùng gót giầy thúc ngựa, quất roi, đánh vào đầu ngựa, chửi tục, quát mắng ông già, như thể bao nhiêu tội lỗi là tại ông cả, nhưng cây gỗ vẫn không chịu thua, nó càng nằm ì ra, mắc kẹt vào đá. Ông già mất kiên nhẫn. Lần đầu tiên trong cả đời, ông giận dữ gắt lên.
- Xuống ngựa! – Ông kiên quyết tới gần Ôrôzơkun, lôi y khỏi yên ngựa. – Anh không thấy ngựa không kéo nổi nữa sao? Xuống ngay! Ôrôzơkun ngạc nhiên, lẳng lặng tuân theo. Chân mang ủng, y nhảy thẳng từ trên yên xuống nước. Từ phút ấy, y dường như đần người ra, tai choáng ù, mê mụ đi. - Nào! Góp sức vào! Ta cùng làm! Theo lệnh của Mômun, cả hai người đè lên thanh đòn, bênh cây gỗ lên, cốt giải thoát nó khỏi mắc nghẽn vào đá. Ngựa là con vật tinh khôn biết bao! Nó lao mạnh đi một cái đúng vào lúc đó, và cố bước một cách chầy chật, chân trượt trên đá, kéo căng những sợi dây chằng. Nhưng cây gỗ nhích khỏi chỗ một chút, bắt đầu trượt đi rồi lại mắc kẹt. Con ngựa lao mạnh cái nữa và không trụ nổi, ngã vật xuống nước, giãy giụa, vướng víu trong bộ dây thừng. - Con ngựa! Nâng con ngựa dậy! – Mômun đẩy Ôrôzơkun. Hai người hợp lực, phải vất vả mới giúp con ngựa đứng được lên. Con ngựa rét run cầm cập, đứng không vững trong nước. - Tháo ngựa ra! - Để làm gì? - Tháo ra, bảo mà. Rồi ta sẽ lại đóng nó vào. Tháo dây thắng ra. Ôrôzơkun lại lẳng lặng tuân lời. Khi ngựa đã được tháo ra, Mômun cầm cương dắt nó đi. - Bây giờ ta đi thôi, - Ông nói. – Ta sẽ trở lại sau. Cho nó nghỉ đã. - Dừng lại! – Ôrôzơkun giằng lấy giây cương khỏi tay ông già. Dường như y chợt tỉnh giấc. Đột nhiên y lại trở thành con người thực của y. – Ông định lỡm ai vậy? Ông không được đi đâu hết. Ta chuyển cây gỗ đi ngay bây giờ. Chiều tối người ta sẽ đến lấy. Đóng ngựa vào, không nói đi nói lại gì hết, nghe chưa! Mômun lẳng lặng quay đi, và bước khập khễnh bằng đôi chân tê dại, ông lội qua chỗ sông cạn đi về phía bờ bên kia. - Đi đâu, ông già? Đi đâu, tôi hỏi mà? - Đi đâu! Đi đâu! Đến trường. Cháu nó đợi từ trưa rồi. - Trở lại đi nào! Trở lại ngay! Ông già không nghe lời. Ôrôzơkun bỏ con ngựa ở giữa sông và đuổi kịp ông già ở ngay gần bờ, trên bãi sỏi, y túm lấy một bên vai ông, xoay người ông về phía y. Hai người đứng đối mặt với nhau. Bằng một động tác nhanh gọn, Ôrôzơkun giật lấy đôi ủng giả da cũ kĩ vắt trên vai ông già Mômun và vung lên, thẳng cánh quậthai lần vào đầu và vào mặt bố vợ. - Đi đi! Nào! – Ôrôzơkun nói bằng giọng khàn khàn, lẳng đôi ủng đi. Ông già tới nhặt đôi ủng trên cát ướt và khi ông đứng thẳng lên, máu ứa ra trên môi ông. - Thằng đểu cáng! – Ông Mômun vừa nói vừa nhổ máu trong miệng và lại vắt đôi ủng qua vai. Tiếng ấy thốt ra từ miệng ông già Mômun nhanh nhảu, người chưa bao giờ lăng mạ ai, tiếng ấy thốt ra từ miệng ông già nhỏ bé đáng thương đang tím tái lại vì rét, với đôi ủng cũ kĩ vắt qua vai, máu phùi bọt trên môi. - Đi đi! Ôrôzơkun lôi ông theo. Nhưng Mômun vùng mạnh ra và lẳng lặng bỏ đi, không ngoái lại. - Được, thằng già ngu xuẩn, giờ thì liệu hồn đấy. Ta sẽ cho biết tay! – Ôrôzơkun huơ nắm đấm, hét với theo. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Ông già không ngoái lại. Ra tới con đường mòn cạnh tảng đá “Lạc đà nằm”, ông ngồi xuống, đi ủng rồi rảo bước về nhà. Không lần chần ở đâu cả, ông đi thẳng vào chuồng ngựa. Ông dắt trong chuồng ra con ngựa xám Alabas. Đây là con ngựa Ôrôzơkun dành riêng để cưỡi khi đi đây đi đó, không ai được dùng đến của y, y không cho ai cưỡi nó hoặc dùng nó làm ngựa kéo, để khỏi làm hỏng dáng phi của nó. Như đi chữa cháy, Mômun cưỡi con ngựa không yên, không bàn đạp phóng ra khỏi sân. Khi ông phóng ngựa qua trước các cửa sổ, qua bên chiếc ấm xamôva còn bốc khói, mấy người đàn bà chạy xổ ra ngoài – bà lão Mômun, Bêkây con gái ông, chị Gungiaman trẻ tuổi. Họ hiểu ngay rằng có chuyện gì đã xảy đến với ông già. Chưa bao giờ ông cưỡi lên lưng con Alabas, chưa bao giờ ông phóng ngựa thục mạng như thế trong sân. Họ vẫn chưa biết rằng đó là sự khởi loạn của Mômun nhanh nhảu. Họ cũng chưa biết ông sẽ phải trả một giá như thế nào cho cuộc nổi loạn đó vào lúc tuổi già này…
Ôrôzơkun từ chỗ sông cạn về, dắt cương con ngựa đã được tháo khỏi cây gỗ. Con vật đi khập khễnh một chân trước. Mấy người đàn bà lẳng lặng nhìn y đến gần sân. Họ vẫn chưa đoán được những gì đã diễn ra trong tâm hồn Ôrôzơkun, chưa đoán được hôm ấy y sản xuất đem đến cho họ những tai hoạ, những nỗi sợ như thế nào… Chân đi đôi ủng ướt lép nhép, quần ướt sũng, y tới gần họ bằng những bước đi ì ạch, nặng nề, cau có gườm gườm nhìn họ. Bêkây, vợ y lo lắng: - Mình làm sao thế? Có chuyện gì xảy ra? Người mình ướt sũng cả thế kia? Cây gỗ trôi mất rồi chăng? - Không. – Ôrôzơkun gạt đi. – Này, cầm lấy. – Y trao dây cương cho Gungiaman – Đưa ngựa vào chuồng. – Còn y thì đi về phía cửa. – Vào nhà đi. – Y bảo vợ. Bà già toan đi theo vợ chồng y, nhưng Ôrôzơkun không cho bà bước chân lên ngưỡng cửa. - Bà đi đi, bà già. Bà không có việc gì làm ở đây. Về nhà bà đi và đừng có bén mảng đến đây. - Anh làm gì thế? – Bà lão bực bội. – Thế là thế nào? Còn ông lão nhà ta thì sao vậy? Có chuyện gì xảy ra? - Hỏi ông ấy thì biết. – Ôrôzơkun trả lời. Trong nhà, Bêkây cởi quần áo ướt cho chồng, đưa cho y chiếc áo lông, bê ấm xamôva vào và rót trà ra cái bát. - Không cần, - Ôrôzơkun phác một cử chỉ khước từ. – Cho rượu đây. Chị vợ lấy ra một chai nửa lít còn nguyên, rót rượu vào cốc. - Rót đầy vào. – Ôrôzơkun ra lệnh. Sau khi ngửa cổ nốc một hơi hết cạn cốc vôtka, y quấn chiếc áo lông, nằm lên tấm dạ, bảo vợ: - Mày không phải là vợ tao, tao không phải là chồng mày. Đi đi. Đừng có bén mảng đến nhà này nữa. Đi đi, trong lúc còn chưa muộn. Bêkây thở dài, ngồi xuống giường và theo thói quen, gạt nước mắt, khẽ nói: - Lại thế rồi ư? - Lại cái gì? – Ôrôzơkun gầm lên. – Xéo khỏi đây! Bêkây nhảy bổ ra khỏi nhà, và như mọi lần, vặn hai tay vào nhau, gào vang khắp sân: - Tôi sinh ra trên đời để làm gì kia chứ, rõ khốn khổ cái thân tôi… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Trong lúc đó ông già Mômun cưỡi Alabas phóng đến với cháu. Alabas là con ngựa chạy nhanh. Nhưng ông Mômun vẫn đến muộn mất hơn hai tiếng đồng hồ. Ông gặp cháu ở giữa đường. Cô giáo thân hành dẫn thằng bé về nhà. Chính cô giáo ấy, với đôi tay thô kệch, sạm màu nắng gió, với chiếc măng-tô cố cựu cô mặc năm nay là năm năm rồi. Người phụ nữ mệt mỏi nom cau có. Thằng bé đã khóc hết nước mắt từ lâu, hai mắt sưng húp, đi cạnh cô giáo, tay ôm chiếc cặp, nom nó thật thảm hại và tủi nhục. Cô giáo quở trách ông già Mômun thật gay gắt. Ông xuống ngựa cúi đầu đứng trước mặt cô.
Cô giáo nói: - Cụ không đến đón nó kịp giờ thì đừng đưa cháu đến trường nữa. Đừng trông cậy vào tôi, tôi một nách bốn con. Mômun lại xin lỗi, lại hứa sẽ không để xảy ra chuyện như thế nữa. Cô giáo trở lại Giêlêxai, còn hai ông cháu về nhà. Thằng bé im lặng, ngồi trên ngựa phía trước ông. Ông già không biết nói gì với nó. - Cháu đói lắm phải không? – Ông hỏi. - Không ạ, cô giáo đã cho cháu bánh mì. – Thằng cháu trả lời. - Thế tại sao cháu cứ một mực không nói năng gì? Thằng bé vẫn không trả lời gì hết. Ông Mômun mỉm cười ngượng ngập. - Cháu ông hay giận quá. – Ông nhấc chiếc mũ lưỡi trai của thằng bé ra, hôn lên đỉnh đầu nó và lại đội mũ vào cho cháu. Thằng bé không ngoảnh lại. Hai ông cháu cứ đi như thế, cả hai đều buồn bã và trầm lặng. Mômun không để cho Alabas tự ý muốn chạy thế nào thì chạy, ông ghì riết tay cương, không muốn để thằng bé bị xóc trên con ngựa không yên. Vả lại, bây giờ cũng chẳng có việc gì phải vội vàng. Con ngựa dường như hiểu người ta đòi hỏi gì ở nó: nó phi nhẹ nhàng. Thỉnh thoảng nó thở phì phì, nện móng lộp cộp trên đường. có con ngựa thế này thì nên cưỡi đi một mình, khe khẽ hát, mình hát mình nghe thôi. Thiếu gì điều ngưi ta tự hát cho mình nghe? Hát về những mơ ước không thành, về những năm đã qua, về những gì hồi ấy ta yêu mến… Con người thích thở than luyến tiếc cái thời đã đem theo đi một cái gì vĩnh viễn không bao giờ với tới được nữa. Nhưng thực ra đó là cái gì thì chính con người cũng không hiểu rõ. Nhưng đôi lúc người ta muốn suy nghĩ về cái đó, muốn cảm thấy chính bản thân mình. Con ngựa hay có nước đi hay, đó là người bạn đường tốt… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Nhìn cái gáy cạo nhẵn của thằng cháu, cái cổ mảnh và đôi tai vểnh lên của nó, ông già Mômun nghĩ rằng cả cuộc đời rủi ro của ông, tất cả những việc làm và những nỗi nhọc nhằn đã qua, tất cả những lo âu buồn phiền trước đây nay chỉ cò để lại cho ông thằng bé này, cái sinh vật còn yếu đuối này mà thôi. Nếu ông còn đủ thời gian gây dựng cho nó nên người thì hay biết bao. Nó mới chỉ như cái bắp ngô non, vậy mà đã gớp ghỉnh ra phết. Giá như nó hồn nhiên hơn, hiền lành hơn… Nó như thế rồi những kẻ như Ôrôzơkun sẽ thù ghét nó và xâu xé nó như lũ sói xâu xé con hưou bị dồn đến chỗ cùng đường…
Rồi ông Mômun chợt nhớ đến mấy con hươu Maran thoáng hiện như những cái bóng lướt qua trong khoảnh khắc, khiến ông lúc ấy đã buột lên tiếng kêu ngạc nhiên sung sướng. - Con ơi, con có biết gì không? Hươu Maran đã về với chúng ta rồi. – Ông Mômun nói. Thằng bé hăm hở quay lại nhìn qua vai: - Thật ư, ông? - Thật. Chính mắt ông trông thấy. Ba cái đầu. - Thế hươu từ đâu đến? - Ông cho là từ bên kia đèo. Ở đấy cũng có những khu rừng cấm. Bây giờ là mùa thu, đường đèo qua lại được, cũng như mùa hè. Và hươu Maran đã đến thăm chúng ta. - Thế hươu sẽ ở lại với chúng ta chứ? - Nếu thích thì nó sẽ ở lại. Đừng động đến nó thì nó sẽ ở. Vùng ta có thừa cái ăn cho hươu. Ở đây có thể nuôi được hàng nghìn con hươu Maran… Hồi xưa, thời Mẹ Hươu Sừng, ở đây có vô vàn hươu… Cảm thấy thằng bé linh lợi lên khi nghe tin này, nỗi tủi hờn của nó đang tan đi, ông già lại bắt đầu kể về thời xưa, về Mẹ Hươu Sừng. Và say mê với câu chuyện của mình, ông nghĩ: thật giản dị biết bao khi ta muốn đột nhiên trở nên hạnh phúc và mang lại hạnh phúc cho người khác! Phải luôn luôn sống như thế mới đúng. Ờ, như lúc này đây, giờ này đây. Nhưng cuộc sống lại không như thế: cùng với hạnh phúc, sự bất hạnh luôn luôn rình mò, xen vào tâm hồn, vào đời ta, không ngừng theo đuổi ta, sự bất hạnh từ ngàn đời nay vẫn bám riết lấy con người. Ngay cả giờ đây, khi hai ông cháu cảm thấy hạnh phúc, trong tâm hồn ông già bên cạnh niềm vui sướng vẫn canh cánh một mối lo Ôrôzơkun đang toan tính gì? Y định giở trò gì, trị ông bằng cách nào? Y định dùng hình phạt như thế nào đối với ông già đã dám không tuân lời y? Ôrôzơkun không đời nào bỏ qua chuyện này. Nếu không, y không còn là Ôrôzơkun nữa. Để khỏi nghĩ tới tai hoạ đang chờ đợi con gái ông và bản thân ông, Mômun kể với cháu về hươu Maran, về sự cao quí, vẻ đẹp và sự nhanh nhẹn của những con vật này. Ông kể một cách say sưa như thể bằng câu chuyện đó, ông có thể ngăn chặn cái tai hoạ không sao tránh khỏi. Nhưng thằng bé lại vui sướng. Nó không ngờ cái gì đang chờ nó ở nhà. Mắt nó rực lên, tai nó nóng bừng. Sao, hươu Maran trở lại rồi ư? Vậy ra tất cả những cái đó là có thực. Ông nói rằng Mẹ Hươu Sừng đã tha thứ tội ác của loài người chống lại mẹ và cho phép các con của mẹ trở lại vùng núi Ixxưc-kun. Ông nói rằng ba con hươu Maran vừa tới để thăm thú xem ở đây ra sao, và nếu ưng ý thì tất cả hươu Maran sẽ trở về quê hương. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
-Ala, - Thằng bé ngắt lời ông, - có lẽ chính Mẹ Hươu sừng đã tới chăng? Có lẽ Mẹ muốn xem xem ở đây ra sao, rồi sẽ gọi các con mình tới chăng, hả ông?
- Có thể, - Ông Mômun trả lời ngập ngừng. Ông ấp úng. Ông già cảm thấy ngượng ngập: phải chăng ông đã quá say mê và thắngg bé đã quá tin lời ông? Nhưng ông không làm mất lòng tin của cháu, vả chăng đã quá muộn để làm việc đó. – Ai mà biết được. – Ông nhún vai. – Có thể lắm, có thể là chính Mẹ Hươu Sừng đã tới. Ai mà biết được… - Nhưng ông cháu ta sẽ biết. Ala ạ, ông cháu ta đến cái chỗ ông đã trông thấy hươu Maran đi. – Thắng bé nói. – Cháu cũng muốn xem… - Nhưng hươu có ở nguyên một chỗ đâu. - Ta sẽ dò theo vết chứ. Ông cháu ta cứ theo vết mà đi mãi. Hễ ngó thấy hươu, dù chỉ loáng thoáng một tí thôi là về ngay. Khi ấy hươu sẽ biết rằng người không động chạm đến hươu đâu. - Cháu trẻ con quá. – Ông nó cười khẩy, - Ta cứ về nhà đi rồi sẽ thấy. Hai ông cháu đã tới gần khu trạm gác bằng con đường mòn phía sau các ngôi nhà. Nhà nhìn phía sau như người nhìn phía sau lưng. Cả ba ngôi nhà đều không có dấu hiệu gì cho biết những chuyện xảy ra ở bên trong. Ngoài sân cũng vắng lặng. Mối linh cảm chẳng lành kẹp chặt lấy tim ông Mômun. Có thể xảy ra những gì? Ôrôzơkun đánh đập Bêkây, người con bất hạnh của ông chăng? Y đã nốc rượu say mèm chăng? Còn có thể xảy ra chuyện gì nữa? Tại sao lại ắng lặng như thế? Tại sao không có ai ở sân vào giờ này? “Nếu mọi chuyện đều ổn cả thì phải lôi cây gỗ tai ác ấy dưới sôg lên,- Mômun nghĩ bụng. – Mặc xác cái gã Ôrôzơkun ấy, tốt hơn hết là không dây với hắn. Cứ làm theo ý muốn của hắn là hơn, thây kệ mọi sự đời. Không thể làm cho con lừa biết rằng nó là con lừa”. Mômun cho ngựa đi tới gần chuồng: - Xuống đi. Chúng ta đến nhà rồi. – Cố không để lộ sự lo lắng của mình, ông nói với cháu như thể hai ông cháu vừa đi xa về. Khi thằng bé cắp cái cặp của nó toan chạy về nhà, ông Mômun ngăn nó lại: - Khoan, hai ông cháu ta cùng đi. Ông cho Alabas vào chuồng, rồi dắt tay thằng bé, đi về nhà. - Ông dặn cái này nhé, - Ông bảo thằng bé. – Nếu người ta quát mắng ông thì cháu đừng sợ và đừng nghe những điều nọ tiếng kia ấy. Chuyện đó không can gì đến cháu. Việc của cháu là đi học. Nhưng không hề xảy ra chuyện gì như vậy cả. Khi hai ông cháu vào nhà, bà chỉ nhìn ông bằng một cái nguýt dài, rồi bậm môi, lại tiếp tục khâu vá. Ông cũng không nói gì với bà. Cau có và thủ thân, ông đứng một lúc giữa phòng, rồi lấy cái bát lớn đựng xúp mì sợi trên bếp lò, lấy hai cái thìa và bánh mì, và cùng với cháu ngồi ăn bữa trưa muộn màng. Hai ông cháu lẳng lặng ăn, bà thậm chí không thèm nhìn về phía hai người. Nét giận dữ ngưng đọng trên khuôn mặt mềm nhẽo, nâu sạm của bà. Thằng bé hiểu rằng đã xảy ra chuyện gì rất tệ hại. Nhưng hai ông bà già vẫn im lặng. Thằng bé bỗng cảm thấy khiếp sợ, lo lắng đến nỗi ăn không trôi. Không còn gì tệ hơn là trong bữa ăn người ta cứ im lặng và ngẫm ngợi điều gì riêng tư, dữ dội và đáng ngờ. “Có lẽ lỗi tại chúng ta chăng?” – thằng bé nói với cái cặp bằng ý nghĩ. Cái cặp nằm trên bậu cửa sổ. Tim thằng bé lăn trên sàn, leo lên bậu cửa sổ, tới gần cái cặp và thì thầm với nó. “Mày không biết gì ư? Tại sao ông buồn thế? Ông có lỗi gì? Tại sao hôm nay ông đến đón chúng mình muộn thế? Tại sao ông cưỡi Alabas không đóng yên? Xưa nay chưa từng có thế bao giờ. Có lẽ vì ông nhìn thấy hươu Maran trong rừng nên nán lại chăng?... Ngộ nhỡ chẳng có hươu Maran nào cả thì sao? Ngộ nhỡ đấy là chuyện bịa đặt thì sao? Thế là thế nào? Ông kể chuyện ấy làm gì? Hẳn Mẹ Hươu Sừng sẽ rất giận nếu ông đánh lừa chúng ta…”. Ăn xong, ông Mômun khẽ nói với thằng bé: - Cháu ra sân đi, có việc cần đến cháu. Cháu sẽ giúp ông. Ông ra ngay đấy. Thằng bé ngoan ngoãn đi ra. Nó vừa khép cửa lại thì nghe thấy tiếng bà nói: - Ông đi đâu đấy? - Tôi đi chở gỗ. Lúc nãy nói bị mắc ở sông, - ông Mômun đáp. - A, ông đã sực nhớ ra? – Bà gào lên, - ông đã nghĩ lại rồi đấy? Ông đi mà thăm con gái ông. Gungiaman đã đưa nó về nhà chị ta rồi. Bây giờ ai còn cần đến đứa con gái đần độn không sinh đẻ gì được của ông. Đi gặp nó đi, để nó nói cho ông biết bây giờ nó là cái thá gì. Chồng nó đuổi nó ra khỏi nhà như con chó ghẻ. - Cần quái gì, đuổi thì đuổi chứ sao. – Ông Mômun nói bằng giọng chua xót. - Gớm chưa! Thế còn bản thân ông có ra cái gì không? Hai đứa con gái ông hư hỏng như thế mà ông định dạy dỗ cho thằng cháu ông thành ông nọ ông kia chắc? Nó là người thế nào thì mới bõ công liều mình vì nó chứ. Lại còn dám nhảy lên con Alabas mà phóng đi nữa chứ. Táo tợn chưa! Phải biết thân biết phận mới được, ông phải nhớ là ông gây chuyện với ai… Nó sẽ vặn cổ ông như vặn cổ gà. Ông bắt đầu dám làm trái ý người khác từ hồi nào vậy? Ông trở thành anh hùng từ bao giờ vậy? Ông chớ có tính đến chuyện đưa con gái ông về ở nhà này. Tôi không cho nó bước chân đến ngưỡng cửa đâu… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Thằng bé ủ rũ lê bước trên sân. Trong nhà vẫn còn vang ra tiếng la rầy của bà, rồi cửa sập đánh rình một tiếng và Mômun nhảy bỏ ra khỏi nhà. Ông già đi về phía nhà Xâyđăcmat, nhưng Gungiaman đón gặp ông ở ngưỡng cửa.
- Lúc này chưa nên, để sau hẵng hay, - Chị nói với ông Mômun, ông già dừng lại, bối rối. – Anh ta khóc, đánh chị ấy. – Gungiâmn thì thầm. – Anh ta bảo rằng bây giờ hai người sẽ không ở với nhau nữa. Anh ta nguyền rủa ông. Anh ta bảo rằng lỗi là ở ông bó cả. Ông Mômun im lặng. Biết nói gì được? Bây giờ ngay cả con gái ruột cũng không muốn nhìn mặt ông. - Còn Ôrôzơkun vẫn đang uống rượu trong nhà anh ta. Thứ người thú vật. – Gungiaman kể lể. Cả hai cùng nghĩ ngợi. Gungiaman thờ dài ái ngại. - Giá anh Xâyđăcmat về mau mau lên thì tốt. Hôm nay thế nào anh ấy cũng về. Anh ấy sẽ cùng ông chở cây gỗ đi cho xong chuyện, thế là rảnh nợ. - Có phải chỉ là chuyện cây gỗ thôi đâu? – Ông Mômun lắc đầu. Ông trầm ngâm suy nghĩ, rồi thấy cháu đứng cạnh, ông bảo nó: - Cháu đi chơi đi. Thằng bé đi ra chỗ khác. Nó vào nhà kho, lấy chiếc ống nhòm giấu ở đó. Nó lau chiếc ống nhòm cho sạch bụi. “Thật khổ cho chúng ta. – Thằng bé buồn rầu nói với chiếc ống nhòm. – Có lẽ lỗi là tại tao với cái cặp. Ước gì có một trường học khsc ở nơi nào đó. Tao với chiếc cặp sẽ đến đấy học. Không cho một ai hay biết. Nhưng tao chỉ thương ông thôi,ông sẽ tìm kiếm. còn mày, ống nhòm ơi, mày sẽ cùng ai ngắm nhìn con tàu thuỷ trắng? Mày tưởng tao sẽ không thành cá ư? Đấy rồi xem. Tao sẽ bơi ra với con tàu thuỷ trắng…”. Thằng bé nấp sau đống cỏ khô và bắt đầu chiếu ống nhòm nhìn ra xung quanh. Tronglòng không vui, nó nhìn một lúc rồi thôi. Giá vào lúc khác thì nó nhìn không chán mắt: núi non mùa thu bao phủ bởi những cánh rừng thu, phía trên là tuyết trắng, phía dưới là lửa đỏ rực. Thằng bé đặt chiếc ống nhòm vào chỗ cũ, và khi ra khỏi nhà kho, nó thấy ông dắt con ngựa qua sân, ngựa mang vòng cổ và dây thắng. Ông đi về quãng sông cạn. Thằng bé muốn chạy đến với ông, nhưng một tiếng thét gọi của Ôrôzơkun làm nó dừng lại. Ôrôzơkun nhảy xổ ra khỏi nhà, mặc chiếc áo lót trong, vai khoác tấm áo lông. Mặt y đỏ tía như bầu vú bị viêm. - Này, lão già. – Y quát lên với ông Mômun bằng giọng dữ tợn. Dắt ngựa đi đâu? Trả nó về chỗ cũ. Không cần đến lão. Chớ có cả gan động đến cây gỗ. Bây giờ lão chẳng là cái quái gì ở đây nữa. Ta sẽ sa thải lão. Xéo đi đâu thì đi. Ông cười khẩy một cách chua chát và dắt ngựa trả vào chuồng. Đột nhiên ông Mômun trở nên già lão và bé nhỏ quá chừng. Ông bước đi, lê gót ủng quèn quẹt và không nhìn xung quanh. Thằng bé nghẹn thở vì tủi thay cho ông, và để không ai nhìn thấy nó khóc, nó chạy dọc bờ sông. Con đường mòn phía trước chìm trong sương mù, biến mất rồi lại xuất hiện dưới chân. Thằng bé chạy, mắt mờ lệ. Này đây những khối đá gần bờ mà thằng bé yêu mến: “Xe tăng”, “Chó sói”, “Yên ngựa”, “Lạc đà nằm”. Thằng bé không nói gì với chúng, chúng chẳng hiểu gì cả, từ trước tới giờ chúng vẫn thản nhiên dừng nguyên một chỗ. Thằng bé ôm lấy cái bướu của “Lạc đà nằm”, và tì người vào khối đá màu hung, nó khóc nức nở, khóc một cách cay đắng, buồn tủi. Nó khóc khá lâu, rồi dần dần nín lặng và nguôi đi. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Cuối cùng, nó ngẩng đầu lên, lau mắt và sững người ra khi nhìn về phía trước.
Ngay trước mặt nó, ở bờ bên kia có ba con hươu Maran đứng sát mặt nước. Hươu Maran thực sự. Bằng xương bằng thịt. Chúng uống nước, và dường như đã uống thoả thích. Một con con to nhất, sừng nặng – lại cúi đầu xuống nước và uống từng tí một, dường như ngắm nghĩa cỗ sừng của mình trong vụng nước nhỏ, như thể soi gương. Con hươu đó lông màu nâu nhạt, ngực nở, vạm vỡ. Khi nó ngẩng đầu lên, nước nhỏ giọt từ vành môi lông lá màu sáng của nó. Con hươu sàng động đậy hai tai, chăm chú nhìn thằng bé. Nhưng nhìn thằng bé chăm chú nhất là con hươu cái trắng, hông nở, sừng trên đầu thanh mảnh, nhiều nhánh, nom như chiếc vương miện. Sừng con hươu này hơi nhỏ hơn, nhưng rất đẹp. Con hươu này hệt như Mẹ Hươu Sừng. Mắt to, sáng. Bản thân hươu nom như con ngựa cái thon thả mỗi năm đẻ một con. Mẹ Hươu Sừng nhìn thằng bé chằm chằm bằng cặp mắt điềm tĩnh, như nhớ xem đã gặp thằng bé đầu to tai vểnh này ở đâu. Mắt hươu loáng ướt, long lanh ngời sáng ở đằng xa. Từ hai lỗ mũi bốc lên một làn hơi mờ nhẹ. Cạnh mẹ Hươu, một chú hươu non không sừng đứng quay mông lại phía này, đang ăn những cành liễu. Chú hươu non chẳng lo nghĩ gì hết. Chú béo tốt, rắn chắc và vui vẻ. Bỗng nhiên thôi không ăn cành cây nữa, chú nhảy cẫng lên, đụng vai vào hươu mẹ, rồi nhảy nhót xung quanh, xoắn xuýt lấy mẹ. Chú cọ cái đầu không sừng vào sườn Mẹ Hươu Sừng. Còn Mẹ Hươu Sừng vẫn nhìn thằng bé hoài. Thằng bé nín thở, từ sau tảng đá đi ra, và như trong chiêm bao, nó giơ hai tay về phía trước, tới gần bờ,tới sát mặt nước. Mấy con hươu Maran không hề sợ hãi. Từ bờ bên kia, chúng điềm nhiên ngó nhìn thằng bé. Giữa người và hươu là dòng sông màu lục nhạt, trong veo, chảy xiết, sủi réo, tràn qua những chỗ chồng chất đá ngầm. Nếu như không có con sông này ngăn cách hươu và nó thì tưởng chừng như có thể tới gần và sờ, mó vào những con hươu. Hươu Maran đứng trên bãi sỏi bằng phẳng, sạch tinh. Phía sau mấy con hươu, ở chỗ tận cùng của dải đá sỏi, những bụi cây mùa thu của rừng tugai rực lên như bức tường bốc lửa. Cao hơn nữa là bờ dốc bằng đất sét, trên bờ dốc là những cây phong và dương đỏ tía pha sắc vàng óng ánh, phía trên nữa là một khu rừng lớn và tuyết trắng trên những quả núi thấp lởm chởm đá. Thằng bé nhắm mắt rồi lại mở ra. Trước mặt nó vẫn là cảnh tượng ấy, và gần rừng tugai lá đỏ hơn chút nữa vẫn là những con hươu Maran hoang đường ấy đứng trên bãi đá sỏi sạch tinh. Nhưng kìa, hươu đã quay đi và kéo hàng một vượt qua bãi đá sỏi vào rừng. Đi đầu là con hươu to, đi giữ là con hươu non chưa có sừng, cuối cùng là Mẹ Hươu Sừng. Mẹ hươu ngoảnh lại nhìn thằng bé lần nữa. Hươu Maran vào rừng tugai, đi qua các bụi cây. Những cành cây màu đỏ đung đưa phía trên đầu hươu, lá đỏ rụng lả tả xuống những tấm lưng bằng phẳng mềm mại của chúng. Ba con hươu theo dải đường mòn leo lên bờ dốc. Chúng dừng lại ở đây. Thằng bé lại tưởng như những con hươu đang nhìn nó. Con hươu to vươn dài cổ, ngửa đầu ra sau khiến sừng chạm vào lưng, kêu lên vang dội như tiếng kèn đồng: “ba-ô! Bao-ô!”. Tiếng kêu của nó chuyển vận rầm rầm trên bờ dốc,biến thành một dư âm kéo dài trên sông: “A-ô-ô, a-ô!”. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Mãi đến lúc này thằng bé mới sực tỉnh. Nó ba chân bốn cẳng chạy về nhà theo con đường mòn quen thuộc. Chạy thật lực. Nó lao vút qua sân và xô cửa đánh rầm một tiếng làm cửa bật tung ra, thở hổn hển gào lên ở ngưỡng cửa:
-Ata! Hươu Maran đã đến! Hươu Maran! Ở ngay đây thôi! Ông Mômun nhìn cháu, ông ngồi trong góc nhà, đau xót và lặng lẽ. Ông không nói gì, dường như chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra sao. - Thôi đừng làm ồn lên! Bà xuỵt một tiếng. – Đến thì mặc nó, lúc này ai thiết gì đến hươu với nai. Thằng bé lặng lẽ quay ra sân. Ngoài sân vắng tanh. Mặt trời đã xuống sau núi Karaun, sau dãy núi trọc gần đấy lúc này đã nhuốm màu hoàng hôn. Ráng chiều đỏ đậm nhưng không ấm, thắm hồng trên vùng núi hoang vu đang lạnh dần. Từ nơi này, cái ráng hồng lạnh lẽo ấy lan tràn ra những đỉnh núi mùa thu xung quanh, lung linh như ánh hồi quang. Rừng chìm trong bóng tối chiều hôm. Bắt đầu cảm thấy lạnh. Gió từ nơi có tuyết lùa về. Thằng bé run lên. Nó rét. Nó ớn rét ngay cả khi đã lên giường nằm. Mãi nó chưa ngủ được. Bên ngoài đêm tối đen. Đầu nhức buốt. Nhưng thằngbé chẳng nói năng gì. Không ai biết nó ốm. Người ta đã quên nó. Mà không quên làm sao được kia chứ! Ông đâm ra quẫn trí. Đứng ngồi không yên. Lúc thì đi ra ngoài, lúc thì lại vào, lúc ngồi xệp xuống, buồn rũ, thở dài thườn thượt, lúc thì lại đứng lên và đi dâu không rõ. Bà tức giận cằn nhằn ông già và cũng đi đi lại lại, ra sân rồi lại vào. Ngoài sân có những tiếng nói nhát gừng, nghe không rõ, có tiếng chân ai bước vội vã, có tiếng ai chửi mắng, hình như Ôrôzơkun lại chửi mắng, có người nào khóc nức nở… Thằng bé nằm im thít, mỗi lúc một thêm mệt mỏi vì những tiếng nói và tiếng bước chân ấy, vì tất cả những gì xảy ra trong nhà và ngoài sân. Nó nhắm mắt lại, và để bớt cô đơn, để quên đi cái thân phận bị bỏ rơi của mình, nó nhớ lại sự việc đã xảy ra hôm nay, cái cảnh tượng mà nó mong muốn được thấy. Nó đứng trên bờ con sông lớn. Nước chảy nhanh đến nỗi không thể nhìn lâu xuống nước được,nhìn lâu thì mặt mày sa sẩm. Còn ở bờ bên kia, những con hươu Maran nhìn nó. Cả ba con hươu Maran nó đã thấy hồi chiều, giờ đây lại đứng đó. Mọi việc lại tái diễn. Từ làn môi ướt của con hươu đực to lớn, vẫn những giọt nước ấy nhỏ xuống vụng khi hươu cất đầu lên khỏi mặt nước. Còn Mẹ Hươu Sừng vẫn nhìn thằng bé chằm chằm như thế bằng cặp mắt hiền từ, thông hiểu. Mắt hươu mẹ rất to, thẫm máu và loáng ướt. Thằng bé rất ngạc nhiên vì Mẹ Hươu Sừng có thể thở dài y như người.Thở dài buồn rầu và đau xót giống như ông nó. Rồi mấy con hươu bỏ đi, xuyên qua những bụi tugai. Những cành cây màu đỏ đung đưa trên đầu hươu, lá cây đỏ úa rơi lả tả xuống những tấm lưng hươu bằng phẳng và mềm mại. Hươu leo lên bờ dốc. Cả tốp dừng lại ở đấy. Con hươu lớn vươn cổ, ngật đầu ra sau, sừng chạm vào lưng, cất tiếng kêu vang như tiếng kèn: “Ba-ô! Ba-ô!”. Thằng bé mỉm cười một mình, nhớ tiếng kêu của con hươu to vang vọng hồi lâu trên mặt sông. Sau đó hươu Maran khuất dạng trong rừng.Nhưng thằng bé không muốn giã từ hươu Maran, và nó bắt đầu nghĩ ra những gì nó muốn thấy. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Con sông lớn lại hiện ra trước mắt nó,nước chảy nhanh vùn vụt. Chóng cả mặt vì tốc độ dòng chảy. Thằng bé nhún mạnh, nhảy như bay qua sông. Nhịp nhàng và êm nhẹ, nó đáp xuống cách những con hươu Maran không xa. Hươu vẫn đứng trên bãi sỏi như trước. Mẹ Hươu Sừng gọi nó tới:
- Con là con cái nhà ai vậy? Thằng bé im lặng: nó xấu hổ, không muốn nói nó là con ai. - Con và ông rất yêu mẹ, thưa Mẹ Hươu Sừng. Chúng con chờ mẹ đã lâu rồi. – Nó thốt lên. - Ta cũng biết con. Và biết cả ông con nữa. Ông con là người tốt. – Mẹ Hươu Sừng nói. Thằng bé vui sướng, nhưng không biết nói thế nào để bầy tỏ lòng biết ơn. - Mẹ có muốn con biến thành cá và bơi theo sông ra hồ Ixxưc-kun, đến với con tàu thủy trắng không? – Nó bỗng nói. Cái đó nó làm được. Nhưng về chuyện này,Mẹ Hươu Sừng không trả lời gì cả. Thế là thằng bé bèn cởi quần áo, và như mọi lần về mùa hè, nó co ro, bám lấy cành liễu gần bờ, thả mình xuống nước. Nhưng hoá ra nước không lạnh buốt, mà nóng rực, hầm hập. Nó mở mắt bơi dưới nước, và vô vàn hạt cát nhỏ xíu vàng óng ánh cùng những mảnh đá nhỏ li ti quay cuồng xung quanh như bầy ong bay vù vù. Nó bắt đầu ngạt thở, và luồng nước nóng vẫn cứ cuốn nó đi. - Giúp con với, Mẹ Hươu Sừng, giúp con với, con cũng là con trai mẹ. – Nó gào to. Mẹ Hươu Sừng chạy theo nó trên bờ. Mẹ chạy nhanh, sừng rẽ gió vi vút. Thằng bé lập tức cảm thấy nhẹ nhõm. Ngươì nó đầm mồ hôi. Thằng bé nhớ rằng những lần như thế, ông càng ủ ấm cho nó, nó đắp lại chăn cho kín hơn. Trong nhà không có ai. Bấc đèn đã lên hoa, đèn sáng tù mù. Thằng bé muốn trở dậy, uống nước cho đã khát, nhưng ngoài sân lại vang lên tiếng nói gay gắt, có người nào quát mắng ai không rõ, có người nào khóc, một người khác dỗ dành. Có tiếng huyên náo, tiếng chân rầm rập… Rồi ngay cạnh cửa sổ có tiếng ôi ối và tiếng chân hai người, dường như người nọ lôi kéo người kia. Cửa bật mở đánh rầm một tiếng, và bà nổi cơn tam bành, thở hồng hộc, đúng là xô ông vào trong nhà. Chưa bao giờ thằng bé thấy ông nó khiếp sợ như thế. Dường như ông chẳng còn hiểu mô tê gì nữa. Mắt ông nhớn nhác, hoang mang. Bà đẩy vào ngực ông, bắt ông ngồi xuống. - Ngồi đấy, ngồi đấy, ông già ngốc nghếch, không ai cần thì đừng có xộc vào. Có phải lần đầu tiên giữa chúng có sinh chuyện như thế đâu? Nếu ông muốn mọi việc đều được dàn xếp ổn thoả thì cứ ngồi đấy, đừng có dính vào. Tôi bảo gì làm nấy. Nghe chưa? Không thì thằng ấy nó sẽ làm cho chúng ta không sống nổi đâu, ông thừa hiểu là nó sẽ làm chúng ta không còn đất sống nữa kia. Tôi với ông già rồi, biết đi đâu được? Đi đâu được? – Nói đoạn bà sập cửa đánh rình một cái và lại hấp tấp chạy đi. Trong nhà lại vắng lặng. Chỉ nghe thấy tiếng thở khò khè đứt quãng của ông. Ông ngồi trên bệ bếp lò, hai tay run run ôm chặt lấy đầu. Bỗng nhiên ông già quì xuống, giơ hai tay lên cao, rên rỉ, nói với ai không rõ: - Hãy đem tôi đi, bắt tôi đi, lão già khốn khổ này! Chỉ xin Người cho nó một đứa con! Tôi không còn đủ gan nhìn thấy nó nữa. Xin ban cho nó một đứa con, chỉ một đứa thôi, xin hãy thương lấy chúng tôi… Ông già vừa khóc vừa loạng choạng đứng dậy và vịn vào tường, sờ soạng tìm cánh cửa. Ông ra ngoài, khép cửa lại, và ở ngoài cửa, ông khóc nức lên, tay bưng miệng cố nén tiếng khóc. Thằng bé khó ở trong người. Nó lại ớn lạnh. Khi thì sốt nóng khi thì lạnh run. Nó muốn trở dậy, ra với ông. Nhưng chân và tay không theo ý nó, đầu nhức nhối. Ông già vẫn khóc ngoài cửa, và Ôrôzơkun say rượu lại làm dữ ở sân, già Bêkây lại gào khóc inh ỏi, tiếng cô Gungiaman và bà van vỉ, can ngăn hai vợ chồng họ. Thằng bé rời bỏ những con người đó và đi vào thế giới tưởng tượng của mình. Nó lại đứng trên bờ con sông chảy xiết, còn ở bờ bên kia, trên bãi sỏi vẫn là những con hươu Maran ấy.Thế là thằng bé cầu xin: “Thưa Mẹ Hươu Sừng, cầu xin mẹ đem đến cho già Bêkây con một chiếc nôi treo trên sừng của mẹ! Con cắn rơm cắn cỏ cầu xin mẹ đem cho họ một chiếc nôi. Xin cho họ có một đứa con”. Và thằng bé chạy đến với Mẹ Hươu, băng qua sông nước. Nước biến đâu mất, song nó cũng chẳng tới gần được bờ bên kia, nó chạy mà dường như vẫn dẫm chân tại chỗ. Nó không ngớt van vỉ, cầu khẩn Mẹ Hươu Sừng: “Xin mẹ mang đến cho họ một chiếc nôi treo trên sừng của mẹ! Xin mẹ làm sao cho ông chúng con khỏi khóc, sao cho Ôrôzơkun đừng đánh già Bêkây. Xin mẹ cho họ sinh được một đứa con. Con sẽ yêu tất cả mọi người, con sẽ yêu cả bác Ôrôzơkun nữa, chỉ cần mẹ cho bác ta sinh được một đứa con. Xin mẹ đem cho họ một chiếc nôi treo trên sừng của mẹ!..” |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Thằng bé tưởng như nghe thấy tiếng chuông con ngân vang ở đằng xa. Tiếng chuông mỗi lúc một rõ. Đấy là Mẹ Hươu băng qua các ngọn núi, mang theo chiếc nôi trẻ em có quai, treo trên sừng của mẹ- chiếc bêsic bằng gỗ phong có cái chuông con. Chuông gắn vào nôi reo vang. Mẹ Hươu Sừng rất vội. Tiếng chuông ngân mỗi lúc một gần…
Nhưng cái gì thế nhỉ? Hoà vào tiếng chuông có tiếng động cơ ầm ì xa xa. Ở đâu đó có chiếc cam-nhông đang chạy. Tiếng ù ù của động cơ một lúc một mạnh, một rõ hơn, còn tiếng chuông trở nên rụt rè, nhịp reo thảng thốt và lát sau thì mất hẳn trong tiếng động cơ ồn ào. Thằng bé nghe thấy chiếc ô-tô tới gần sần, tiếng sắt khua động ầm ầm. Con chó sủa vang nhảy xổ ra sân sau. Ánh đèn pha hắt lên bừng sáng ở cửa sổ trong giây lát rồi tắt ngấm. Động cơ cũng im bặt. Tiếng sập cửa buồng lái. Những người mới tới trao đổi với nhau – nghe tiếng nói thì có ba người, - họ đi qua cái cửa sổ chỗ thằng bé nằm. - Xâyđăcmat đã về, - Bỗng có tiếng nói mừng rỡ của Gungiaman và nghe tiếng chân chị hối hả chạy đến đón chồng. – Gớm, mọi người đợi hết cả hơi! - Chào chị! – Những người lạ trả lời chị. - Thế nào, ở nhà ra sao? – Xâyđăcmat hỏi. - Chẳng có gì lạ. Vẫn sống bình thường. Sao về muộn thế? - Em phải nói là anh gặp may mới đúng. Cố về được tới nông trường quốc doanh, anh chờ mãi để đón một chiếc ô-tô đi cùng đường. Ít ra là đi nhờ đến giêlêxai. Thế mà lại gặp đúng mấy người này đến chỗ chúng ta lấy gỗ, - Xâyđăcmat kể. – Hẻm núi tối om. Đường xá thì em biết đấy. - Thế Ôrôzơkun đâu? Có nhà không? – Một trong hai người vừa tới hỏi. - Có nhà. – Gungiaman ngập ngừng trả lời. – Bác ấy hơi khó ở. Nhưng các ông đừng lo. Đêm nay mời các ông nghỉ lại đây, có đủ chỗ mà. Ta đi đi. Họ đi. Nhưng mới được mấy bước, họ dừng lại. - Kính chào ăcxakan, chào baibitsê. -Những người mới tới chào ông Mômun và bà. Như vậy là sợ mang tiếng với người nơi khác đến, ông bà đã ra sân đón khách lạ cho phải phép. Có lẽ cả Ôrôzơkun cũng sẽ sợ mang tiếng chăng? Dù sao chắc bác ta cũng không muốn bản thân bác ta và những người khác phải mang tiếng xấu. Thằng bé hơi yên tâm. Nói chung nó thấy dễ chịu hơn. Đầu bớt nhức. Thậm chí nó nghĩ không biết có nên trở dậy, ra xem chiếc xe hay không: đấy là loại xe gì, bốn bánh hay sáu bánh. Mới hay cũ? Rơ-mooc như thế nào? Mùa xuân năm nay, có lần thậm chí một chiếc cam-nhông quân sự đã tạt vào trạm gác này: bánh xe cao, mũi xe hếch như bị chặt cụt. Anh lính lái xe trẻ tuổi cho thằng bé ngồi lên ngồi ca-bin. Tuyệt thật! Còn người quân nhân đeo cầu vai vàng choé tới đáy bằng chiếc cam-nhông đó cùng với Ôrôzơkun đi vào rừng. Để làm gì nhỉ? Chưa từng bao giờ có chuyện như thế. - Các chú làm gì thế, đi lùng gián điệp à? – Thằng bé hỏi người lính. Ngưi kia nhếch mép cười. - Ừ, đi lùng gián điệp. - Nhưng chưa hề có tên gián điệp nào đến đây bao giờ cả, - Thằng bé buồn rầu thốt lên. Anh lính cười phá lên: - Thế nhưng cháu cần tên gián điệp để làm gì? - Cháu sẽ truy lùng nó và tôm cổ nó. - Ái chà, cháu hăng hái quá đấy! Còn nhỏ quá, hãy lớn leen chút nữa đã. Trong lúc người quân nhân đeo cầu vai vàng choé cùng với Ôrôzơkun đi vào rừng, thằng bé và anh lái xe nói chuyện với nhau. - Cháu thích tất cả các ô-tô và tất cả những người lái xe. – Thằng bé nói. - Tại sao vậy? – Người lính tò mò hỏi. - Ô-tô là loại xe tốt, khoẻ và nhanh. Lại có mùi xăng thơm thơm. Lái xe người nào cũng trẻ, và tất cả đều là con của Mẹ Hươu Sừng. - Cái gì? Cái gì? – Người lính không hiểu. – Mẹ Hươu Sừng nào? - Thế mà chú không biết ư? - Không. Chưa bao giờ chú nghe thấy điều kì lạ như thế. - Thế chú là người ở đâu? - Chú là người Kazăc ở Karaganđa. Chú đã học ở trường của mỏ. - Không, cháu hỏi chú con ai kia. - Con của bố và mẹ chú. - Thế bố và mẹ chú con ai? - Lại là con của một ông bố và một bà mẹ. - Thế ông bố và bà mẹ ấy là con ai? - Này, cứ như thế thì có thể hỏi mãi không cùng. - Còn cháu là con của các con trai của Mẹ Hươu Sừng. - Ai nói với cháu như thế? - Ông cháu. - Cái chuyện hơi lẩm cẩm đấy. – Anh lính lắc đầu hoài nghi. Anh thú thằng bé đầu to, tai vểnh, con trai của các con trai của Mẹ Hươu Sừng này. Nhưng anh lính hơi ngượng ngập khi vỡ lẽ ra rằng chẳng những anh không biết dòng họ mình khởi nguyên từ đâu, mà thậm chí còn không biết cả tông chi bẩy đời của mình, điều này người ta nhất thiết phải biết. Anh chỉ biết bố, ông, cụ mình. Còn tiếp nữa thì sao? - Thế không ai dạy chú nhớ tên các cụ bẩy đời à? – thằng bé hỏi. - Không. Mà biết để làm gì kia chứ? Như chú đây này, chú không biết, vậy mà cũng chẳng sao. Chú vẫn sống bình thường. - Ông cháu bảo rằng nếu người ta không nhớ đến tổ tiên thì sẽ đâm ra hư hỏng. - Ai hư hỏng? Con người ấy ư? - Vâng. - Nhưng tại sao kia chứ? - Ông cháu bảo rằng khi ấy sẽ không ai xấu hổ về những việc làm xấu xa, bởi vì con cháu có nhớ đến cha ông đâu mà lo. Và cũng sẽ không ai làm việc tốt, vì đằng nào thì con cháu cũng chẳng biết đến kia mà. - Ông của cháu kì thật đấy! – Anh lính ngạc nhiên thành thực. – Một người ông lí thú. Có điều ông cụ nhồi vào đầu cháu đủ mọi chuyện vớ vẩn. Còn cháu là một thằng bé to đầu… Tai cháu nom như cái máy định vị ở bãi thử của các chú. Cháu đừng nghe ông cụ. Chúng ta đang đi tới chủ nghĩa cộng sản, bay vào vũ trụ, vậy mà ông già dậy cháu cái gì vậy? Giá như ông cháu đến học lớp chính trị của các chú, người ta sẽ làm cho ông cụ hiểu ra ngay tức khắc: Rồi đây cháu lớn lên, học thành tài, cháu nên đi nơi khác, đừng ở với ông nữa. Ông cháu là một người dốt nát, vô văn hoá. - Không, cháu chẳng bỏ ông đi đâu cả. – Thằng bé không chịu. – Ông cháu là người tốt. - Ấy là bây giờ thì cháu nghĩ thế thôi. Sau này cháu sẽ hiểu. Lúc này, lắng nghe tiếng người nói, thằng bé nhớ tới chiếc xe quân sự ấy và nhớ tới việc hồi ấy nó không làm cách nào giảng giải cho anh lính hiểu rõ được tại sao những người lái xe ở đây, ít nhất là những người nó biết, đều tự coi mình là con cháu Mẹ Hươu Sừng. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Thằng bé đã nói với anh lính như thế, và điều đó là có thực. Nó không bịa đặt chút gì. Năm ngoái, đúng vào tiết thu như thế này, hay hình như muộn hơn chút nữa, có những chiếc ô-tô của nông trường quốc doanh vào núi chở cỏ khô. Xe không đi qua trạm gác, mà cách trạm gác một quãng thì theo con đường lớn lớn rẽ vào thung lũng Arisa và đi lên phía trên, nơi mùa hè ngưi ta đã cắt cỏ khô để mùa thu đưa xe lên chở về nông trang. Nghe thấy tiếng động cơ gầm gào chưa từng thấy trên núi Karaun, thằng bé chạy ra ngã ba đường. Nhìn thấy ngay bao nhiêu là ô-tô! Chiếc nọ nối đuôi chiếc kia. Cả một đoàn dài. Thằng bé đếm được mười lăm chiếc.
Thời tiết cữ này rất dễ xoay chuyển đột ngột, chưa biết ngày nào tuyết có thể ập xuống. Khi ấy thì “vĩnh biệt cỏ khô, hẹn đến năm sau”. Ở vùng này, không kịp thời chở cỏ đi thì sau đó đừng nghĩ gì đến cỏ nữa. Xe không tài nào đi được. Chắc hẳn ở nông trường quốc doanh, người ta bấn bíu công việc kia việc nọ nên cứ trì hoãn mãi, rồi khi thời gian đã gấp, người ta bèn quyết định có bao nhiêu xe đưa đi hết, chở vệ một lần toàn bộ số cỏ đã cắt. Nhưng đâu có ơ ngon như vậy!.. Song thằng bé không biết điều đó, và lại thực ra chuyện đó bận gì đến nó? Vui mừng tíu tít, đúng là nó chạy ra đón từng chiếc xe, chạy theo xe một quãng rồi lại đón chiếc xe sau. Những chiếc cam-nhông đó toàn là xe khá mới, buồng lái đẹp, ô kính rộng. Ngồi trong buồng lái những chàng gighit trẻ tuổi anh nào nom cũng còn măng sữa, một số buồng lái có hai chàng trai. Những thợ lái bạn đi để xếp và bó cỏ khô. Thằng bé thấy bọn họ người nào cũng đẹp trai, can trường vui tính. Y như trong phim ảnh. Nói chung thằng bé không lầm. Sự thể đúng là như thế. Ô-tô của họ chạy tốt, bon nhanh trên con đường đá dăm rắn chắc sau khi xuống hết đoạn dốc núi Karaun. Họ rất hào hứng: thời tiết khá tốt, thêm nữa không biết tự đâu bỗng xuất hiện một thằng bé đầu to tai vểnh, chẳng rõ con cái nhà ai, chạy ra đón từng chiếc xe, cứ cuống lên vì vui sướng điên cuồng. Chẳng thể nào không cười và giơ tay vẫy nó, không dọa đùa nó để nó càng vui vẻ và tinh nghịch hơn… Chiếc cam-nhông đi sau chót thậm chí còn dừng lại. Một chàng trẻ tuổi, mặc quần áo lính với chiếc áo khoác ngắn, nhưng không đeo cầu vai và không đội mũ lưỡi trai quân nhân, mà đội mũ cát-két. Đấy là anh lái xe. - Chào chú bé! Tại sao em lại ở đây, hả? – Anh niềm nở nháy mắt với thằng bé. - Chơi thế thôi. – Thằng bé trả lời không chút bối rối. - Em là cháu ông Mômun phải không? - Vâng. - Chú biết mà. Chú cũng là người Bugu đấy. Và tất cả anh em trong đoàn xe này đều là người Bugu cả. Các chú đi lấy cỏ khô. Người Bugu bây giờ không ai biết ai nữa, tản tác hết cả… Nói với ông chú có lời hỏi thăm nhé. Hãy nói rằng cháu đã gặp chú Kulubêc, con trai ông Sốtbai. Hãy nói rằng chú Kulubêc đi bộ đội đã về và hiện giờ làm lái xe ở nông trường quốc doanh. Thôi, cháu ở đây nhé! – Lúc chia tay, chú lái xe tặng thằng bé một chiếc huy hiệu quân nhân gì không rõ, rất hấp dẫn. Nom như chiếc huân chương. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Xe gầm lên như con báo và chạy đi, đuổi kịp những chiếc khác trong đoàn. Đột nhiên thằng bé muốn ngồi xe cùng đi với chú ấy, cái chú mặc áo khoác ngắn, niềm nở, can trường, người cùng bộ lạc Bugu. Nhưng đường đã vắng tanh, và thằng bé phải trở về nhà. Nó về nhà lòng đầy tự hào, và nó kể với ông về cuộc gặp gỡ đó. Còn chiếc huy hiệu thì nó đeo trước ngực.
Hôm ấy, lúc gần tối, gió Xan-tasơ chợt nổi lên đùng đùng từ dãy núi cao ngất trời. Gió ào tới, giật dội từng cơn. Lá cây cuốn bốc lên, quện thành cả một cây cột trên rừng, và mỗi lúc một vươn cao lên trời, ào ào băng qua các trái núi. Trong khoảnh khắc, đất trời quay cuồng mù mịt đến nỗi không thể mở mắt ra được. Tuyết lập tức trút xuống. Bóng tối trắng mờ bất thình lình chụp lấy trái đất, rừng cây nghiêng ngả, sóng sủi réo. Tuyết xuống dày đặc, biến thành cơn bão. Họ phải chầy chật lắm mới lùa được gia súc về, thu dọn được mấy thứ ở sân, vất vả lắm mới khuân đựơc kha khá củi vào nhà. Sau đó không ai thò mũi ra khỏi nhà nữa. Ra ngoài sao được: bão tuyết đến sớm và ghê gớm như thế này. - Thế là cái quái gì nhỉ? – Ông Mômun băn khoăn lo lắng trong lúc nhóm bếp lò. Ông vẫn lắng nghe tiếng gió rít, chốc chốc lại đến gần cửa sổ. Bên ngoài, bóng tối tràn ngập tuyết trắng, cuộn xoáy nhanh chóng dày đặc lại. - Thôi ông về chỗ của ông đi! – Bà cằn nhằn. – Đây là lần đầu tiên như thế chắc? “ Thế là cái quái gì nhỉ?” – Bà nhại lại – Thế là mùa đông đã đến chứ còn gì nữa. - Bất chợt như thế, trong vòng có một ngày thôi ư? - Sao lại không nhỉ? Nó phải hỏi ông chắc? Mùa đông, nó cần đến là nó cứ đến thôi. Gió gào rú trong ống khói bếp lò. Lúc đầu, khi giúp ông làm việc nhà, thằng bé rụt rè và rét cóng nữa. Nhưng lát sau củi cháy to, trong nhà bắt đầu ấm, thơm mùi nhựa nóng, mùi khói gỗ thông, thằng bé yên tâm, cảm thấy ấm áp. Rồi cả nhà ăn tối. Xong, họ đi ngủ. Bên ngoài tuyết vẫn xuống, cuộn xoáy, gió lồng lộn. “Trong rừng chắc là khiếp lắm”. – Thằng bé nghĩ, lắng nghe những âm thanh ngoài cửa sổ. Nó thấp thỏm bồn chồn khi bỗng nhiên có những tiếng nói mơ hồ, những tiếng thét gọi gì không rõ vẳng đến. Có người nào gọi ai không rõ, có người nào lên tiếng. Thoạt tiên thằng bé cho rằng nó mường tượng thế thôi. Lúc này ai đến đây làm gì? Nhưng cả ông Mômun và bà đều chột dạ. - Có người. – Bà nói. - Ừ đúng. – Ông già đáp, giọng ngập ngừng. Rồi ông bắt đầu lo lắng: Ở đâu mà lại đến đây vào cái giờ như thế này? Ông già vội vã mặc quần áo. Bà cũng hối hả. Bà trở dậy, thắp đèn. Thằng bé sợ hãi điều gì không rõ, nhanh chóng mặc quần áo. Trong lúc đó có người đến gần cửa sổ. Nhiều tiếng nói, nhiều tiếng bước chân, tiếng tuyết bị giẫm ken két. Những người mới tới nện gót ủng thình thịch ngoài hiên, gõ cồng cộc ở cửa ra vào. - Ăcxakan, mở cửa ra! Chúng tôi chết rét rồi đây này. - Ai đấy? - Người nhà đây mà. Ông Mômun mở cửa. Hơi lạnh, gió và tuyết cuồn cuộn thốc vào nhà, và ùa vào theo là những con người tuyết bám suốt từ đầu đến chân, chính là những người lái xe lúc ban ngày đã đánh xe đến khu Arsa lấy cỏ khô. Thằng bé nhận ra họ ngay. Nó nhận ra cả Kulubêc mặc chiếc áo khoác ngắn, chú lái xe đã cho nó chiếc huy hiệu quân nhân. Một người được họ dìu đi, người đó rên rỉ, kéo lê một chân. Trong nhà lập tức nháo nhào cả lên. - Axtapranla!(1) Có chuyện gì vậy? – Ông Mômun và bà đồng thanh lên tiếng than thở. --------------------- (1) Axtrapanla: cầu trời phù hộ (chú thích của bản tiếng Nga.) |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
- Chúng cháu sẽ kể chuyện sau! Vẫn còn mấy anh em chúng cháu đang đi ở ngoài kia, bảy người. Chỉ e họ lạc đường. Nào, cậu ngồi xuống đây. Sái chân đây mà. – Kulubêc nói nhanh, đồng thời đặt anh chàng đang rên rỉ ngồi xuống bệ bếp lò.
- Hiện giờ họ ở đâu, người của các anh ấy mà? Ông Mômun vội vã. – Tôi sẽ đi ngay, dẫn các anh ấy về. Còn cháu, -Ông nói với thằng bé. – Cháu chạy đi nói với chú Xâyđăcmat mau mau mang đèn đến đây, đèn pin ấy. Thằng bé nhảy bổ ra khỏi nhà và nghẹn thở. Cho đến chót đời nó vẫn còn nhớ giây phút ấy. Một con quái vật gì không rõ, lông lá, lạnh giá, rú rít thộp lấy cổ nó và bắt đầu vần vò. Nhưng nó không run sợ. Nó vùng ra khỏi những cẳng chân bám chặt, dùng hai tay che đầu, chạy tới nhà Xâyđâcmat. Tới đây chỉ có vài ba mươi bước, mà nó tưởng chừng như nó chạy rất xa, qua bão táp, như một batưr tới giúp sức các chiến binh của mình. Lòng nó tràn đầy dũng khí và quyết tâm. Nó cảm thấy nó cường tráng và vô địch. Và trong lúc chạy đến nhà Xâyđăcmat, nó đã kịp lập nên những kì công anh hùng đáng kinh ngạc. Nó nhảy từ ngọn núi này sang ngọn núi khác, vượt qua những vực thẳm, nó dùng gươm hạ sát cơ man nào là địch quân, nó cứu những người đang bị lửa thiêu và chìm nghỉm dưới sông, nó cưỡi chiếc máy bay phản lực có lá cờ đỏ phấp phới, đuổi theo con quái vật đang chạy trốn, luồn qua các khe núi và các vách đá hòng thoát khỏi tay nó. Chiếc khu trục phản lực của nó lao vút đi như viên đạn, đuổi theo quái vật. Thằng bé nã súng máy vào con quái vật và reo hò: “ Giết chết tên phát xít đi!”. Trong cuộc chiến đấu này, ở đâu cũng có Mẹ Hươu Sừng. Mẹ tự hào về nó: Khi thằng bé đã chạy gần đến nhà Xâyđăcmat, Mẹ bảo nó: “Bây giờ hãy cứu lấy các con trai của ta, những người lái xe trẻ tuổi!” –“Con sẽ cứu họ, thưa Mẹ Hươu Sừng, xin thề với Mẹ!” –thằng bé nói thành tiếng và gõ cửa ầm ầm. - Nhanh lên, chú Xâyđăcmat, đi cứu lấy anh em ta! Nó nói một thôi một hồi đến nỗi Xâyđăcmat và Gungiaman hoảng sợ lùi lại. - Cứu ai? Có chuyện gì xảy ra? - Ông bảo chú mang đèn pin đến ngay, những người lái xe của nông trường bị lạc. - Đồ ngốc! –Xâyđăcmat mắng nó. –Thì cứ nói luôn như thế có hơn không. –Rồi anh đâm bổ đi sửa soạn mọi thứ cần thiết. Nhưng thằng bé không mảy may bực mình. Làm sao Xâyđăcmat biết được rằng nó đã lập nên những vĩ công như thế nào mới đến được nhà chú ấy, nó đã thế nào mới đến được nhà chú ấy, nó đã thề nguyền như thế nào. Thằng bé cũng chẳng ngượng ngùng gì lắm ngay cả khi nó biết ông Mômun và Xâyđăcmat đã gặp cả bảy người lái xe ở ngay gần trạm gác và đưa họ về nhà. Thì sự tình cũng có thể khác lắm chứ! Khi nguy hiểm đã qua thì người ta thấy nó chẳng có gì ghê gớm… Nói chung, những người kia cũng biết ứng phó mau lẹ. Xâyđăcmat dẫn họ về nhà mình. Cả Ôrôzơkun cũng cho năm người ngủ đêm ở nhà mình: phải đánh thức y dậy. Tất cả những những người còn lại chen chúc trong nhà ông Mômun. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Bão tuyết trong núi vẫn không ngớt. Thằng bé chạy ra hàng hiên và lát sau nó đã không còn hiểu đâu là bên phải, đâu là bên trái, đâu là đầu trên đâu là đâu là đầu dưới. Đêm bão tuyết quay cuồng, lồng lộn như hoá rồ. Tuyết ngập đến ngang đầu gối.
Mãi đến bây giờ, khi đã tìm được tất cả anh em lái xe của nông trường, khi họ đã được sưởi ấm, đã hết sợ và hết rét, ông Mômun mới thận trọng dò hỏi xem chuyện gì đã xảy đến với họ, tuy chẳng cần hỏi cũng đã rõ là họ gặp bão giữa đường. Anh em lái xe kể chuyện, còn hai ông bà già thở dài. - Ối trời ơi! –Hai ông bà già ngạc nhiên về chuyện đã xảy ra và cảm tạ Thượng đế, hai tay áp vào ngực. - Thế mà các anh ăn vận phong phanh quá, -Bà vừa trách vừa rót trà nóng cho họ. – Đi vào núi mà mặc như thế được ư? Các anh thật trẻ con quá, trẻ con quá!... Lúc nào cũng trưng diện, muốn cho ra người thành phố. Nếu các anh bị lạc, ở ngoài trời cho đến sáng thì lạy trời, không khéo các anh chết cóng, biến thành những khối băng mất. - Nào ai biết đâu nên cơ sự ấy. –Kulubêc trả lời bà lão. –Chúng con mặc ấm làm gì? Nếu có chuyện chi thì ôtô của chúng con được sưởi ầm từ bên trong kia mà. Cứ ngồi trong xe như ngồi ở nhà ấy chứ. Chỉ việc vặn tay lái thôi. Trong máy bay chẳng hạn, máy bay bay tít trên cao, nhìn xuống núi nonn chỉ như những quả đồi nhỏ, bên ngoài rét bốn mươi độ dưới không, vậy mà ở bên trong người ta mặc sơ-mi… Thằng bé nằm trên tấm da cừu giữa các chú lái xe. Nó nằm thu lu cạnh chú Kulubêc và dỏng tai nghe người lớn nói chuyện. Chẳng ai đoán được rằng thậm chí nó vui sướng vì đột nhiên đã xảy ra trận bão như vậy khiến những con người này phải trú vào trạm gác nhà nó. Trong thâm tâm nó hết sức mong muốn bão kéo dài nhiều ngày không ngớt, ít ra là ba ngày. Để họ phải ở lại đây. Ở với họ mới vui làm sao! Thú vị lắm. Thì ra ông biết tất cả bọn họ, nếu không biết chính bản thân người đó thị cũng biết bố mẹ anh ta. - Đấy nhé, -Ông nói với cháu, giọng hơi lộ vẻ kiêu hãnh. –Cháu đã gặp những người dòng họ Bugu của mình. Bây giờ cháu sẽ biết họ là những người như thế nào. Xem đấy! Ôi chao, các chàng ghigit bây giờ mới cao lớn làm sao! Cầu trời ban sức khoẻ cho các anh. Lão vẫn nhớ mùa đông năm bốn mươi hai, lão cùng với những anh em khác được đưa đến Magơnhitôgorxk để tham gia công cuộc xây dựng… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Và ông bắt đầu kể chuyện mà thằng bé đã thuộc làu: những người lao động được đưa từ khắp nơi trong nước về đây xếp thành hàng dài dằng dặc theo thứ tự, cao thấp, thế là hầu hết người Kirghidi đều lọt vào cuối hàng, vì tầm vóc thấp. Người ta điểm danh, sau đó moị người được nghỉ để hút thuốc. Một anh chàng cao kều, tóc hung, nom khoẻ mạnh tới gần họ. Anh ta nói oang oang:
- Ở đâu ra những người như thế này nhỉ? Người Mãn-Châu à? Trong số người Kirghidi có một ông giáo già. Ông ta trả lời: - Chung tôi là người Kirghidi. Khi chúng tôi đánh nhau với bọn Mãn-Châu ở cách đây không xa thì chưa hề có ai nhắc đến Magơnhitôgorxk. Và tầm vóc chúng tôi hồi ấy cũng như anh bây giờ. Rồi đây khi làm xong nhiệm vụ chiến đấu, chúng tôi sẽ còn cao thêm nữa… Ông nhớ lại câu chuyện xa xưa đó. Ông cười hể hả, đưa mắt nhìn khắp lượt các vị khách đêm của mình lần nữa. - Ông giáo ấy nói đúng. Đôi khi ra thành phố, hay đi trên đường, để ý xem xét, lão thấy dân ta bây giờ cao to, đẹp đẽ không như thời trước… Các chàng trai mỉm cười, hiểu ý: ông già thích bông đùa. - Chúng cháu lớn xác thì có lớn xác thật, -Một người trong bọn họ nói. –Thế mà vừa rồi lại để cho một chiếc xe sa xuống rãnh. Ngần này con người mà không đủ sức… - Ù, làm gì nổi! Xe chất đầy cỏ khô, lại bão tuyết thế này. –Ông Mômun biên bạch cho họ. –Thế là thường. Nhờ trời, ngày mai là ổn thôi. Cần nhất là trời lặng gió. Các chàng tai kể với ông về việc họ đánh xe lên bãi cắt cỏ Arsa ở trên cao như thế nào. Ở đấy có ba đống cỏ lớn, cỏ cắt trên núi. Họ chất cao lên xe cao hơn nóc nhà, thành thử phải từ trên cao giòng dây thả bỏ cỏ xuống. Bằng cách đó, họ chất đầy hết xe này đến xe khác. Không còn trông thấy buồng lái, chỉ thấy kính chắn gió, mui xe và bánh xe. Đã có công đưa xe đến, họ muốn chở một lần cho hết để khỏi phải quay lại. Họ biết rằng nếu không chở hết thì số còn lại phải đến năm sau mới lấy được. Họ làm việc hăng hái. Xe nào đã chất xong thì tránh sang một bên và người lái chiếc xe đó giúp một tay chất cỏ lên xe khác. Họ đã chất được gần hết cỏ, chỉ còn chừng hai xe, không hơn. Họ nghỉ hút thuốc, thoả thuận với nhau về việc xe nào sẽ đi sau xe nào, rồi tất cả cùng lên đường, kéo thành một đoàn dài. Họ đi một cách thận trọng, gần như dò dẫm cho xe xuống núi. Cỏ là thứ hàng chở không nặng, nhưng cồng kềnh và thậm chí nguy hiểm, đặc biệt ở những chỗ hẹp và những chỗ ngoặt dốc. Họ cho xe đi, không ngờ trước mắt cái gì đang chờ đợi họ. Xuống khỏi bình nguyên Arsa, đoàn xe qua một hẽm núi, ra khỏi hẽm núi thì đã gần chiều, lúc ấy cuồng phong ập tới, tuyết đổ xuống. -Mọi việc khởi diễn đột ngột đến nỗi mồ hôi toát ra ướt đẫm lưng, - Kulubêc thuật lại. – Tối sầm ngay lại, gió dữ dội đến nỗi vô lăng tuột khỏi tay. Người nào cũng nơm nớp lo xe có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào. Mà đường xá thì đến khiếp, ngay ban ngày ban mặt cho xe đi cũng còn nguy hiểm… Thằng bé nín thở nghe kể chuyện, đôi mắt long lành nhìn Kulubêc không dứt. Vẫn buổi tối ấy, vẫn trận bão tuyết ấy đang làm dữ ở bên ngoài. Nhiều người lái xe và công nhân khuân vác đã ngủ, nằm ngổn ngang trên sàn, để nguyên cả quần áo và ủng. Tất cả những gian nguy họ đã trải qua bây giờ lại được cảm nghiệm lại lần nữa bởi thằng bé có cái cổ mảnh khảnh và đôi tai vểnh này. Mấy phút sau, không còn trông thấy đường đâu nữa. Xe nọ theo sau xe kia như người mù đi theo kẻ dẫn đường, và luôn luôn báo hiệu để khỏi lạc hướng. Tuyết xuống dày đặc như bức tường, bết vào đèn pha, cần gạt kính không kịp gạt sạch lớp vỏ băng. Phải thò đầu ra ngoài buồng lái để cho xe đi: nhưng như thế thì sao gọi là đi bằng ô-tô? Tuyết vẫn trút xuống không ngớt… Bánh xe bắt đầu quay trượt tại chỗ. Đoàn xe dừng lại trước một đoạn dốc gay go. Động cơ gầm rú như điên, nhưng vô ích… Anh em nhảy ra khỏi buồng lái và nghe tiếng nói của nhau, chạy từ xe này sang xe khác, tụ tập ở đầu đoàn xe. Làm thế nào bây giờ? Không thể đốt đống lửa lên được. Ngồi trong buồng lái thì sẽ dùng hết chỗ chất đốt may lắm cũng chỉ đủ để về đến nông trường. Mà không sưởi ấm buồng lái thì có cơ rét cóng. Anh em bối rối. Máy móc toàn năng đành chịu bất lực. Làm gì bây giờ? Có người đề nghị dỡ hết cỏ ở một chiếc xe và mọi người cùng vùi mình trong cỏ. Nhưng rõ ràng chỉ cần tháo dây buộc ra là sẽ không còn túm cỏ nào nữa: bão sẽ cuốn phăng đi hết trong nháy mắt. Trong lúc đó, xe mỗi lúc càng bị ngập tuyết nhiều hơn, những đống tuyết đã ngộn lên dưới bánh xe. Anh em cuống lên, đờ người ra trước gió rét. -Ắcxankan a., - Kulubêc kể. – Đột nhiên con nhớ ra rằng trên đường đến Arsa, con đã gặp một em nhỏ Bugu, chú bé này đây, - Anh trỏ vào thằng bé và âu yếm vuốt tóc nó. – Chú bé chạy bên đường. Con dừng xe lại. Con hỏi chú bé. Hai chú cháu nói chuyện với nhau một lát. Đúng không? Sao cháu không ngủ? Thằng bé mỉm cười gật đầu. Nhưng chẳng ai biết tim nó đập rộn lên vì vui sướng và tự hào. Chính Kulubêc nói về nó. Người khoẻ nhất, can đảm nhất, đẹp trai nhất trong số các chàng trai này. Ước gì nó trở thành người như thế! Ông khen nó, đồng thời cho thêm củi vào lửa. - Cháu tôi nó thế đấy. Thích nghe chuyện. Đấy, nó cứ dỏng tai lên mà nghe thôi! - Lúc ấy làm sao con lại nhớ đến chú bé, chính con cũng chẳng biết nữa! – Kulubêc nói tiếp. – Con bảo với anh em, gần như hét lên vì gió át cả tiếng: “Các cậu ơi, phải cố tìm đến trạm gác rừng. Không thì chúng ta sẽ bỏ mạng ở đây mất thôi”. – “Nhưng làm cách nào lần đến được? – Anh em hỏi quát vào mặt con. Đi bộ thì không đi nổi. Vả lại cũng không thể vứt bỏ xe được kia. “Còn con bảo anh em”: Tay hãy đẩy xe lên dốc, tiếp đó đường lại xuống dốc. Chúng ta chỉ cần đến được hẻm Xantasơ, con nói, rồi ta sẽ đi bộ lần tới chỗ những người gác rừng của chúng ta, cũng không xa lắm đâu”. Anh em nghe ra. Họ bảo: “Thế thì cậu chỉ huy đi”. À, nếu đã vậy thì… Chúng con bắt tay vào chiếc xe đi đầu: Ôxmônalư, chui vào buồng lái!” Và tất cả chúng con, ngần ấy người cùng ghé vai đẩy xe. Xe bắt đầu chuyển. Rồi chúng con kiệt sức. Nhưng không thể lùi lại được. Tưởng chừng như không phải chúng con đẩy một chiếc ô-tô lên dốc, mà đẩy cả một trái núi. Chở như thế kia mà, cả một đụn cỏ trên bánh xe! Con chỉ biết rán hết sức gào toáng lên: “Cố lên! Cố lên! Cố lên nào!”, nhưng chính con cũng không nghe thấy tiếng mình. Gió, tuyết, không nhìn thấy gì hết. Xe gào rú, khóc như một sinh vật. Nó thu hết sức lực gắng leo lên. Cả chúng con cũng thế. Tim như vỡ ra, văng ra từng mảnh. Đầu óc choáng váng… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
- Chết nỗi! – ông Mômun buồn phiền. – Thật hú vía cho các con. Hẳn là Mẹ Hươu Sừng đã che chở cho các con, các con trai của Mẹ. Mẹ đã cứu các con. Không thì ai biết thế nào… Nghe thấy không? Bên ngoài đến giờ vẫn chưa ngớt kia mà, đất trời vẫn quay cuồng, gió bão ầm ầm…
Mắt thằng bé ríu lại. Nó cố cưỡng lại giấy ngủ, nhưng mi mắt cứ ríu lại. Và nửa thức nửa ngủ, nghe câu được câu chăng cuộc chuyện trò giữa ông già và Kulubêc, thằng bé lẫn lộn thực tại với tưởng tượng. Nó mường tượng thấy nó cũng ở đấy, giữa những người trẻ tuổi bất ngờ gặp bão tuyết trong núi. Trước mắt nó là con đường dốc ngược chạy lên trái núi tuyết phủ trắng xoá. Bão tuyết làm cho má rát như phải bỏng. Mắt cay sè. Mọi người đẩy chiếc ô-tô chở cỏ khô to ù lù như cái nhà. Họ tến lên một cách chậm chạp, rất chậm. Chiếc cam nhông không nhích lên nữa, nó chịu thua, nó lùi lại. Khủng khiếp quá. Tối tăm mịt mù. Gió buốt như lao tuồn tuột xuống và đè bẹp họ. Nhưng ngay lúc đó, Mẹ Hươu Sừng ở đâu bỗng hiện ra. Mẹ ghé sừng chống đỡ chiếc ô-tô, giúp họ đẩy nó lên. “Nào, dấn lên, dấn lên!” – thằng bé gào to. Xe bắt đầu nhích lên, chuyển dịch. Họ lên được hết dốc, rồi chiếc ô-tô xuống dốc không cần đẩy. Họ đẩy chiếc thứ hai lên, rồi chiếc thứ ba, và những chiếc khác. Lần nào Mẹ Hươu Sừng cũng giúp họ. Nhưng thằng bé nhìn thấy và biết. Mỗi lần tình thế trở nên không sao kham nổi nữa, người ta bắt đầu khiếp sợ lo không đủ sức thì Mẹ Hươu Sừng lại chạy tới và ghé sừng giúp họ đẩy xe lên. “Nào, dấn lên, dấn lên!” – thằng bé hò theo. Nó luôn luôn ở bên cạnh Kulubêc. Rồi Kulubêc bảo nó: “Ngồi lên cầm lái”. Thằng bé vào ngồi trong buồng lái. Xe rung chuyển, gầm lên. Tay lái tự nó quay đi quay lại dưới tay thằng bé, dễ dàng như cái đai thùng mà thằng bé vẫn dùng để chơi trò lái ô-tô: nó còn trẻ con mà. Thằng bé cảm thấy xấu hổ vì tay lái của nó chẳng khác gì thứ đồ chơi. Bỗng nhêin xe lạng đi, đổ nghiêng. Và lăn ầm ầm, vỡ tan tành. Thằng bé khóc oà lên. Nó xấu hổ quá. Xấu hổ không dám nhìn vào mắt Kulêbêc. - Cháu làm sao thế? Cháu làm sao thế, hả? – Kulubêc đánh thức nó. Thằng bé mở mắt. Nó vui mừng vì tất cả chỉ là giấc mơ. Kulubêc bế nó lên, ôm ghì lấy nó. - Cháu nằm mơ phải không? Sợ phải không? Ôi dào, thế mà cũng đòi làm anh hùng kia đấy! – Anh hôn thằng bé bằng cặp môi thô nhám sạm màu sương gió. – Thôi, chú đặt cháu nằm nhé, phải ngủ đi thôi. Anh đặt thằng bé nằm xuống sàn, trên tấm dạ, giữa những người lái xe đang ngủ, và chính anh cũng nằm xuống cạnh nó, dịch nó lại gần mình, sát cạnh sườn, và kéo tà áo khoác đắp lên người. Sáng sớm, ông đánh thức nó. - Tỉnh dậy đi. – Ông già khẽ nói. – Mặc cho ấm vào. Cháu sẽ giúp ông một tay. Dậy đi. Bên ngoài vẫn còn mờ đất, đang lúc tranh tối tranh sáng. Trong nhà mọi người vẫn còn ngủ, nằm ngổn ngang trên sàn. - Này, đi đôi ủng dạ vào. – Ông Mômun nói. Ở ông toả ra mùi cỏ khô. Như vậy là ông đã cho ngựa ăn. Thằng bé đi đôi ủng dạ vào chân và cùng ông ra sân. Tuyết bề bộn khắp nơi. Nhưng gió đã ngớt. Chỉ thỉnh thoảng một cơn gió nhẹ lướt trên mặt đất, cuốn tuyết bốc lên. - Lạnh quá! – Thằng bé rùng mình. - Không sao. Dường như trời đang quang tạnh dần rồi đấy. – Ông già lẩm bẩm. – Thật không thể tưởng tượng nổi! Mới mở đầu mà đã ghê gớm quá. Nhưng thôi được, miễn là không đến nỗi thành một tai hoạ… Hai ông cháu vào chuồng cừu, ở đấy có năm con cừu cái của Mômun. Ông già sờ soạng trên chiếc cột, tìm cây đèn gió, thắp lên. Cừu dồn cả vào một góc, quay đầu lại nhìn, ho rũ ra. - Cầm lấy, cháu soi cho ông. – Ông già nói với thằng bé, đưa cho nó cây đèn. – Ta sẽ giết thịt con cừu tơ đen. Đông khách lắm. Họ trở dậy là ta đã phải làm xong thịt cừu. Thằng bé soi đèn cho ông. Gió vẫn còn rít trong các khe cửa, ngoài trời vẫn còn lạnh và tối. Thoạt tiên ông già ném xuống cửa chuồng một ôm cỏ khô sạch. Ông dẫn con cừu tơ đen đến chỗ đó, và trước khi quật ngã và trói chân nó, ông nghĩ ngợi, ngồi xổm xuống. - Đặt cây đèn xuống. Cháu cũng ngồi xuống đi. – Ông bảo thằng bé. Còn ông xoè hai bàn tay trước mặt, thì thầm: - Ôi Mẹ Hươu Sừng, thủy tổ vĩ đại của chúng con. Con xin dâng hiến mẹ một con cừu tơ. Tạ ơn mẹ đã cứu các con của chúng con trong cơn nguy biến. Tạ ơn dòng sữa trắng của mẹ đã nuôi sống tổ tiên chúng con, tạ ơn lòng nhân đức của mẹ, tạ ơn con mắt mẫu tử của mẹ. Xin đừng bỏ rơi chúng con trên đèo cao, sông dữ, trên những đường mòn trơn trượt. Xin đừng mãi mãi ruồng bỏ chúng con trên trái đất này, chúng con là con của mẹ. Amin! |
Ông sùng kính đưa hai tay vuốt mặt từ trán xuống đến cằm. Thằng bé cũng làm như thế. Thế là ông quật ngã con cừu, trói chân nó lại. Ông rút con dao châu Á của mình ra khỏi vỏ.
Thằng bé soi đèn cho ông. Rút cuộc gió bão đã lặng cả. Hai lần vầng mặt trời hãi hùng ló ra qua những mảng mây đen xơ xác đang chạy tản đi. Xung quanh bầy ra dấu vết của trận bão đêm qua: những đống tuyết bề bộn, những bụi cây đổ rụi, những cây non cong oằn dưới sức nặng của tuyết, những cây già bị quật đổ. Rừng bên kia sông trầm lặng, hiền hoà, có phần ủ rũ. Bản thân con sông dường như rút xuống thấp hơn, hai bờ đầy tuyết, dốc hơn trước. Nước ít ồn ào hơn. Mặt trời vẫn lúc thế này lúc thế khác: khi thì ló ra, khi thì lẩn mất. Nhưng không có điều gì khiến tâm hồn thằng bé rở nên u ám, không có gì khiến nó phải lo ngại. Những lo lắng đêm qua đã chìm vào lãng quên, trận bão đã bị xoá nhoà trong kí ức, còn tuyết không làm phiền gì nó, như thế này lại thú vị hơn là đằng khác. Nó chạy loăng quăng đây đó, chỉ thấy những cụm tuyết bắn văng lên từ dưới chân. Nó vui vẻ vì trong nhà đầy chật người, vì các chú ấy đã ngủ no giấc, đang cười nói oang oang, ăn một cách ngon lành món thịt cừu nấu để mời các chú ấy. Trong lúc đó mặt trời đã bắt đầu trở lại trạng thái ổn định, toả sáng tỏng trẻo hơn và lâu bền hơn. Mây đen đã tản bớt một phần. Thời tiết thậm chí ấm lên. Tuyết ngộn lên không đúng lúc bắt đầu nhanh chóng lún xuống, nhất là trên đường cái và những con đường mòn. Tuy vậy, thằng bé cảm động khi các chú lái xe và công nhân bốc vác chuẩn bị lên đường. Tất cả đều ra sân, từ biệt các chủ nhà khu trạm gác, cá ơn chủ nhà đã cho trú nhờ và cho ăn. Ông Mômun và Xâyđăcmat đánh ngựa đi tiễn họ. Ông đèo bó củi, còn Xâyđăcmat chở một chiếc thùng lớn tráng kẽm để đun nước nóng đổ lên các động cơ bị đóng băng. Mọi người rời khỏi sân. -Ata, cháu cũng đi, cho cháu đi với. – Thằng bé chạy đến gần ông. - Cháu thấy đấy, ông đèo củi, còn chú Xâyđăcmat chở chiếc thùng. Chẳng có ai đèo cháu được. Mà cháu ra đấy làm gì kia chứ? Đi bộ trên tuyết cháu sẽ mệt lử ra. Thằng bé hờn giận. Nó phụng phịu. Thế là Kulubêc cho nó theo. - Đi với các chú. – Anh nói và dắt tay nó. – Lúc trở về cháu đi với ông. Mọi người ra ngã ba, chỗ đường cái từ khu cắt cỏ Arsa chạy xuống tuyết vẫn còn ngộn lên. Thì ra theo cho kịp bước những chàng trai cường tráng này không phải là dễ dàng. Thằng bé bắt đầu mệt. - Nào, ngồi lên lưng chú. – Kulubêc bảo thằng bé. Anh khéo léo bế nó lên và khéo léo chuyển nó ra sau lưng. Anh cõng nó một cách quen thuộc như thể ngày nào anh cũng cõng nó. - Cậu làm cái việc đó thông thạo quá, Kulubêc ạ. – Một người lái xe đi cạnh anh nói. - Thì suốt đời tớ vẫn cõng các em trai em gái của tớ mà. – Kulubêc khoe. – Tớ là con cả, chúng tớ có sáu anh em, mẹ làm ruộng, bố cũng thế. Bây giờ các em gái tớ đã có con rồi. Ở quân đội về, tớ vẫn độc thân, chưa đi làm. Em gái tớ, đứa lớn nhất ấy, nó bảo tớ: “Anh đến ở với vợ chồng em đi, anh trông trẻ khéo lắm”. Tớ nói: “Không, xin miễn! Bây giờ anh sẽ bồng bế con anh..” Cứ thế, họ vừa đi vừa nói chuyện linh tinh. Cưỡi trên tấm lưng vững chãi của Kulubêc, thằng bé cảm thấy thích thú và yên tâm. “Giá mình có người anh như thế thì tuyệt! – Nó mơ ước. – Mình sẽ không sợ ai nữa. Ôrôzơkun cứ thử quát mắng ông hay đụng đến ai mà xem, chỉ cần Kulubêc nhìn bác ta nghiêm nghị một chút là bác ta tịt ngòi ngay”. Những xe cỏ bị bỏ lại đêm qua nằm cách ngã ba đường khoảng hai kilômet, phia trên cao. Bị tuyết phủ kín, nom chúng giống như những đống rơm giữa cánh đồng mùa đông. Tưởng chừng như không ai có cách gì làm chúng dịch khỏi chỗ được. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Nhưng họ đã đốt một đống lửa. Họ đã đun nóng nước. Họ bắt đầu dùng tay quay cho nổ máy, động cơ sống lại, rộ lên, bắt đầu hoạt động. Tiếp đó, công việc tiến triển nhanh hơn. Mỗi chiếc sau đều được khởi động bằng cách dùng xe khác kéo đi. Mỗi chiếc đã được sưởi ấm, đã khởi động lại kéo chiếc đỗ ngay sau nó trong đoàn xe.
Khi tất cả các xe cam-nhông đã bắt đầu hoạt động, họ cho hai chiếc hợp lực kéo chiếc xe bị sa rãnh đêm qua lên. Tất cả những người có mặt tại đấy đều giúp đẩy chiếc xe lên đường. Thằng bé cũng ghé vào một chỗ bên rìa, cũng góp một tay. Nó luôn luôn lo sợ có người nào sẽ nói: “Cháu cứ quẩn chân người ta làm gì thế? Chạy ra chỗ khác đi!” Nhưng không ai nói như thế, chẳng ai xua đuổi nó. Có lẽ đấy là vì Kulubêc đã cho phép nó góp sức với mọi người. Mà ở đây, chú ấy là người giỏi nhất, được mọi người kính trọng. Những người lái xe từ biệt lần nữa. Xe chuyển bánh. Thoạt đầu chậm chạp, rồi nhanh dần. Và nối đuôi nhau thành đoàn dài trên con đường lớn giữa những trái núi bị tuyết bao phủ. Những người con trai của các con trai của Mẹ Hươu Sừng đang lái xe đi. Họ không biết rằng do trí tưởng tượng thiết tha của trẻ thơ, trước mặt họ là Mẹ Hươu sừng vô hình đang chạy trên đường. Bằng những bước nhảy dài hăng say, Hươu mẹ lao vun vút ở phía trước đoàn xe. Hươu che chở cho họ thoát khỏi mọi tai hoạ và rủi ro trên con đường gian khó. Giúp họ thoát khỏi những vụ sụt lở, những khối tuyết từ trên cao đổ xuống, bão tuyết, sương mù và nhiều thiên tai khác đã đem đến cho người Kirghizi cơ man nào là tai hoạ trong nhiều thế kỉ sống du mục. Chẳng phải đó chính là điều ông Mômun đã cầu xin Mẹ Hươu Sừng khi giết con cừu đem dâng lễ bên Mẹ lúc tảng sáng đó sao? Đoàn xe đã đi rồi. Thằng bé cũng ngồi xe cùng đi với các chú ấy. Đi bằng tưởng tượng. Nó ngồi trong buồng lái cạnh Kulubêc “Chú Kulubêc ơi, - Nó nói với chú ấy. – Mẹ Hươu Sừng đang chạy trên đường trước mặt chúng ta kia kìa”. – “Thật ư?” – “Thật đấy. Cháu xin thề. Kia kìa”. - Này, cháu nghĩ ngợi gì thế? Sao lại đứng ngây ra đấy? – Ông Mômun khiến nó sực tỉnh: - Lên đi đến lúc về nhà rồi. – Ông cúi xuống từ trên mình ngựa, bế thằng bé lên yên. – Cháu lạnh phải không? – Ông già nói và ủ ấm cho cháubừng hai tà áo lông. Hồi ấy thằng bé vẫn chưa đi học. Còn bây giờ, thỉnh thoảng thức giấc trong giấc ngủ nặng nề, nó lo lắng nghĩ bụng: “Sáng ra làm thế nào ta đến trường được? Ta bị ốm rồi, trong người khó chịu quá…”. Rồi nó thiếp đi. Nó mường tượng như nó đang chép vào vở những từ cô giáo viết trên bảng: “At. Ata. Taka!”(1)Nó viết những chữ đó của học sinh lớp một vào đầy quyển vở, hết trang này đến trang khác. “At. Ata. Taka. At. Ata. Taka”. Nó mệt mỏi, mắt hoa lên, người nóng rực, nóng quá thể, thằng bé bỏ chăn ra. Khi nó nằm không đắp chăn và rét cóng, những ảo ảnh khác nhau lại đến với nó. Khi thì nó là con cá bơi trong dòng sông giá buốt, tới gần con tàu trắng, nhưng không thể nào bơi tới nơi được. Khi thì nó sa vào một trận bão tuyết. Trong cơn lốc lạnh lẽo, mờ mịt, những chiếc ô-tô chở cỏ trượt bánh trên con đường dốc đứng chạy lên cao. Xe nức nở như người và vẫn trượt bánh tại chỗ. Bánh xe quay như điên, đỏ rực lên như lửa. Bánh xe cháy, bùng lửa. Tì sừng vào thùng xe, Mẹ Hươu đẩy một chiếc xe chở cỏ khô lên dốc. Thằng bé cố hết sức giúp Mẹ Hươu. Toàn thân nó đẫm mồ hôi nóng. Bỗng nhiên xe chở cỏ khô biến thành chiếc nôi trẻ em. Mẹ Hươu Sừng nói với thằng bé: “Ta chạy mau lên, mang chiếc bêsic đến cho già Bêkây và bác Ôrôzơkun”. Mẹ Hươu cùng nó phóng đi. Thằng bé tụt lại. Nhưng phía trước, trong bóng tối tiếng nhạc chuông của chiếc nôi vẫn ngân vang. Thằng bé chạy theo tiếng chuông gọi. ------------------- (1) At, ata, taka: ngựa, hố, móng ngựa (chú thích của bản tiếng Nga) |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Nó thức giấc vì tiếng chân bước ngoài hiên và tiếng kẹt cửa. Ông Mômun và bà trở vào, dường như đã hơi yên tâm. Chắc hẳn vì có ngưi ngoài đến khu trạm gác, nên Ôrôzơkun và Bêkây đành thôi không làm ầm ĩ nữa. Cũng có thể Ôrôzơkun mệt mỏi vì uống rượu nhiều, cuối cùng đã ngủ. Ngoài sân không có tiếng la thét, cũng không có tiếng chửi mắng.
Gần nửa đêm, mặt trăng nhô cao trên núi. Nó lơ lửng như chiếc đĩa mờ hơi sương ngay trên đỉnh núi cao nhất đóng băng. Trái núi quanh năm đóng băng sừng sững vươn cao trong bóng tối, những mặt gồ ghề lấp lánh một cách huyền ảo. Xung quanh, núi non, vách đá, những khu rừng đen ngòm và bất động tĩnh lặng như tờ, và ở mãi tận dưới cùng, con sông lồng lộn, réo ào ào trên những ghềnh đá. Ánh trăng mờ ảo dọi một luồng chênh chếch vào cửa sổ. Thứ ánh sáng ấy làm thằng bé khó chịu. Nó trăn trở, nheo mắt. Nó muốn nhờ bà buông rèm cửa xuống. Nhưng nó không dám nhờ: bà đang giận ông. - Thật là xuẩn. – Bà lẩm bẩm lúc đi ngủ. – Đã không biết đường ăn ở thì cứ im thít đi cho xong. Người ta bảo gì nghe nấy. Vận mệnh của ông nằm trong tay nó. Ông có đồng lương là nhờ nó, dù là ba cọc ba đồng. Nhưng tháng tháng có tiền. Không có đồng lương thì ông là cái thá gì? Già rồi mà chẳng khôn ra được tí nào… Ông lão không trả lời. Bà im lặng. Rồi bỗng nhiên bà nói to: - Con người mà bị cắt mất lương thì không còn là con người nữa. Đấy là thứ người bỏ đi. Ông già vẫn không nói gì. Còn thằng bé không sao ngủ được. Đầu nhức buốt, ý nghĩ rối bời. Nó nghĩ đến trường và lo lắng. Nó chưa hề bỏ học ngày nào và bây giờ nó không thể tưởng tượng nổi nó sẽ làm thế nào nếu ngày mai nó không thể đến trường của nó ở Giêlêxai. Thằng bé cũng nghĩ về việc nếu Ôrôzơkun đuổi ông không cho làm việc nữa thì bà sẽ không để cho ông yên thân. Khi ấy hai ông cháu làm thế nào nhỉ? Tại sao người ta lại sống như thế nhỉ? Tại sao có những người độc ác, có những người tốt bụng? Tại sao có những người sung sướng, có những người khổ sở? Tại sao có những người ai cũng phải sợ, lại có những người chẳng được ai nể sợ cả? Tại sao những người này có con, những người khác lại không? Tai sao có những người có quyền không cấp lương cho người khác? Chắc hẳn những người giỏi nhất là người được lương cao nhất? Còn ông ít lương, vì thế ông bị mọi người coi rẻ. Chao ôi, giá làm cách nào để ông được nhiều lương! Có lẽ khi ấy cả Ôrôzơkun cũng sẽ kính trọng ông. |
Trích:
|
Trích:
Nâu nâu nhà miềng mới châm lão một phát rồi nặn! @ bác hongducanh: Nhà em châm bác trước kẻo để cụ Ong cụ ấy chích choác còn đau hơn, bác hỉ! |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Những ý nghĩ ấy khiến thằng bé càng nhức đầu hơn. Nó lại nhớ tới những con hươu Maran nó đã thấy lúc chiều ở chỗ sông cạn. Ban đêm hươu làm thế nào nhỉ? Chỉ có mấy con hươu với nhau trong núi đá lạnh lẽo, trong rừng tối đen như mực. Khiếp đảm lắm. Ngộ nhỡ chó sói xộc đến thì sao? Ai sẽ mang đến cho già Bêkây chiếc nôi thần treo trên sừng hươu?
Nó thiếp đi trong giấc ngủ đầy lo âu, và lúc bắt đầu thiu thiu, nó cầu khẩn Mẹ Hươu Sừng mang đến cho già Bêkây và Ôrôzơkun một chiếc bêsic bằng gỗ phong. “Cầu xin cho họ có con, xin cho họ có con!” – nó cầu khẩn Mẹ Hươu Sừng. Và nó nghe thấy tiếng chuông reo ở đằng xa, tiếng chuông của chiếc nôi. Mẹ Hươu Sừng treo chiếc nôi thần trên sừng của mẹ, đang vội vã chạy đến. Sáng sớm thằng bé thức giấc vì có bàn tay chạm vào nó. Tay ông lạnh giá, ông vừa ở ngoài đường vào. Thằng bé bất giác co quắp lại. - Cứ nằm yên, nằm yên. – Ông hà hơi cho tay ấm lên, rồi sờ trán nó, đặt tay lên ngực, lên bụng nó. - Ờ, có lẽ cháu ốm rồi. Ông buồn rầu. – Người cháu nóng hầm hập. Thế mà ông cứ nghĩ: sao thằng bé vẫn còn nằm. Đến giờ đi học rồi. - Cháu dậy ngay đây, ngay bây giờ đây. – Thằng bé nhỏm đầu dậy, và mắt nó hoa lên, tai ù đặc. - Chớ có dậy. – Ông đặt cháu nằm xuống gối. – Ai lại đưa người ốm vào trường kia chứ? Nào, thè lưỡi ra. Thằng bé vẫn một mực đòi theo ý nó: - Cô giáo sẽ mắng cháu một trận nên thân cho mà xem. Cô chúa ghét những đứa bỏ học… - Cô không mắng đâu. Ông sẽ nói với cô. Nào, thè lưỡi ra ông xem. Ông chăm chú xem lưỡi và họng thằng bé. Ông bắt mạch một lúc lâu: bằng phép màu gì không rõ, với những ngón tay cứng đanh, nâu sạm vì làm công việc thô sơ, ông nhận biết nhịp tim đập trong cánh tay nóng rực, đẫm mồ hôi của thằng bé. Biết chắc điều gì đó, ông già thốt lên cốt cho thằng bé yên tâm: - Thượng đế nhân đức. Cháu chỉ bị cảm lạnh chút ít thôi. Khí lạnh nhiễm vào cháu. Hôm nay cháu chịu khó nằm trên giường, rồi trước khi đi ngủ ông sẽ lấy mỡ cừu chỗ gần đuôi đem hơ cho nóng, xát chân và ngực cho cháu. Cháu sẽ đổ mồ hôi và nhờ trời, sáng ra trở dậy cháu sẽ khoẻ như con lừa hoang… Nhớ đến chuyện xảy ra hôm qua và những gì còn đang chờ đợi ông, Mômun trở nên ủ rũ, ngồi ở giường của cháu, thở dài và nghĩ ngợi. “Mặc xác hắn” – ông vừa thì thầm vừa thở dài. - Cháu ốm từ bao giờ đấy? Sao cháu lặng thinh thế? – Ông nói với thằng bé. – Buổi tối phải không? - Vâng, gần tối. Khi cháu thấy hươu Maran ở bên kia sông. Cháu chạy về tìm ông. Rồi cháu cảm thấy lạnh. Không hiểu sao, ông già nói bằng giọng biết lỗi: - Thôi được… Cháu nằm nghỉ nhé, ông đi đây. Ông đứng lên, nhưng thằng bé giữ ông lại: - Ata, đấy chính là Mẹ Hươu Sừng phải không ạ? Con hươu cái trắng như sữa, mắt như thế này này, nhìn như người ấy… - Cháu thật là ngốc nghếch. – Ông già Mômun mỉm cười dè dặt. - Ừ thì cháu muốn thế nào nó ra thế. Có lẽ đấy chính là Mẹ Hươu. – Ông nói, giọng khàn khàn. – Mẹ Hươu Sừng chí linh thánh, ai mà biết được?.. Ông nghĩ như thế này… Ông già không nói được hết câu. Bà xuất hiện ở cửa. Bà hấp tấp từ sân vào, bà đã dò biết được điều gì. - Ông ơi, ra đấy đi. – Bà nói ở ngưỡng cửa. Nghe thấy thế, ông Mômun lập tức cụt hứng, ông trở nên thảm hại, chán chường. - Ở ngoài ấy, họ định dùng ô-tô kéo cây gỗ dưới sông lên. – Bà nói. – Ông ra đi, người ta sai bảo gì thì làm nấy… Ối trời ơi, chết nỗi, sữa vẫn chưa đun! – Bà chợt nhớ ra và bắt đầu nhóm bếp, dọn bát đĩa lanh canh. Ông già nhăn nhó. Ông muốn bác lại điều gì, muốn nói điều gì. Nhưng bà không để ông mở miệng. - Ơ này, sao ông lại cứ nhìn trân trân như vậy? – Bà nổi giận – Ương làm gì? Phận tôi với ông là không giở bướng ra được đâu, ông già khốn khổ của tôi ạ. Ông là gì mà chống lại được họ? Người ta đã đến tìm Ôrôzơkun rồi đấy. Họ đi một chiếc ô-tô to lắm. Chất cho đủ thì phải đến mười cây gỗ mà nó vẫn chở được qua đường núi. Vậy mà Ôrôzơkun không thèm ngó ngàng gì đến chúng ta. Mặc dù tôi đã hết lời van xin, đã quỵ luỵ hết sức. Nó không cho con gái ông bước chân đến ngưỡng cửa nhà. Đứa con gái tuyệt đường sinh nở của ông hiện giờ ngồi ở nhà Xâyđăcmat đấy. Nó khóc sưng húp cả mắt và nguyền rủa ông, lão bố già đần độn của nó… - Được, được, tôi sẽ cho nó uống sữa nóng, ông cứ đi đi, hãy vì chúa, đi đi. – Sau khi đưa ông ra ngoài, bà vẫn còn lầu bầu. – Tại sao bỗng dưng lão già lại dở chứng ra như thế nhỉ? Chẳng bao giờ dám cãi lại ai, lặng hơn nước, thấp hơn cỏ, thế mà bỗng dưng lại như thế! Lại còn dám nhảy lên lưng con ngựa của Ôrôzơkun mà phóng đi nữa chứ. Tất cả chỉ là vì mày thôi. – Bà lão nắm một cái nhìn độc ác về phía thằng bé. – Người như thế nào thì mới bõ cho mình liều thân chứ… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Rồi bà mang đến cho thằng bé sữa nóng cho thêm bơ nóng chảy vàng rượi. Sữa nóng bỏng môi. Bà nằn nỉ, thúc giục nó:
- Uống đi, uống càng nóng càng tốt, đừng sợ. Chỉ có dùng đồ nóng mới đuổi được cảm lạnh. Thằng bé bị bỏng, nước mắt giàn giụa. Bà bỗng tỏ ra hiền từ: - Khoan, để cho nguội đi, để cho nguội đi chút đã… Mà rõ bực, lại đi ốm đúng vào lúc này kia chứ! – Bà thở dài. Thằng bé đã buồn đi giải từ lâu. Nó đứng lên, một cảm giác yếu đuối kỳ lạ, dịu ngọt lan khắp toàn thân. Bà vội ngăn: - Chờ đấy, bà lấy cho cháu cái chậu con, có ngay thôi mà. Thằng bé ngượng ngập quay đi, đái vào cái chậu, ngạc nhiên thấy nước tiểu vàng và nóng như thế. Nó cảm thấy nhẹ nhõm hơn trước nhiều. Đầu bớt nhức hơn. Thằng bé yên tâm nằm trên giường, biết ơn bà chăm sóc nó, và tự nhủ sáng ra phải khỏi ốm và thế nào cũng đến trường. Nó còn nghĩ rằng đến trường nó sẽ kể câu chuyện về ba con hươu Maran đã xuất hiện trong khu rừng gần nhà nó, về việc con hươu cái lông trắng chính là Mẹ Hươu Sừng, bên cạnh hươu mẹ có một con hươu con đã lớn và cường tráng, và cùng với mẹ con hươu còn có con hươu đực khoẻ mạnh, lông màu nâu, sừng rất đồ sộ, hươu đực khoẻ lắm và bảo vệ cho hươu mẹ và hươu con khỏi bị chó sói làm hại. Nó còn nghĩ bụng, nó sẽ kể với các bạn rằng nếu hươu Maran ở lại khu rừng gần nhà nó và không bỏ đi nơi nào khác thì chẳng bao lâu Mẹ Hươu Sừng sẽ đem đến cho bác Ôrôzơkun và già Bêkây một chiếc nôi thần. Buổi sáng hươu Maran xuống sông uống nước. Chúng ra khỏi khu rừng thượng khi vầng mặt trời mùa thu ngắn ngủn nhô lên được một nửa trên dãy núi. Mặt trời lên càng cao thì chỗ thấp giữa núi càng sáng và ấm. Thoát khỏi trạng thái đờ đẫn ban đêm, rừng sống lại, tràn đầy sự biến động của ánh sáng và màu sắc. Len qua giữa những thân cây, hươu Maran đi thong thả, sưởi ấm trên những bãi cỏ có nắng trong rừng, vặt lá cây long lanh hạt sương trên cành. Chúng đi vẫn theo thứ tự ấy – đi đầu là hươu đực có sừng ở giữa là hươu con, cuối cùng là hươu cái thân hình thon gọn. Mẹ Hươu Sừng, hươu Maran vẫn đi trên con đường mòn mà hôm qua Ôrôzơkun cùng với ông Mômun kéo cây gỗ thông tai ác xuống sông. Vết kéo rõ mồn một trên đất đen sườn núi như một đường cày còn mới, với những mảng đất cỏ bị xé nham nhở. Con đường mòn ấy dẫn tới chỗ sông cạn nơi khúc gỗ mắc ở ghềnh sông và bị bỏ lại. Hươu Maran đến chỗ ấy, vì đấy là chỗ uống nước thuận tiện. Ôrôzơkun, Xâyđăcmat và hai người đến lấy gỗ tới đây để xem xét địa thế, tìm cách nào tốt nhất đưa ô-tô đến, rồi dòng giây cáp kéo cây gỗ lên. Ông Mômun do dự đi sau rốt, đầu cúi gục. Ông không biết nên như thế nào sau vụ rắc rối hôm qua; cư xử ra sao, làm gì? Liệu Ôrôzơkun có để cho ông mó tay vào làm không? Liệu y có đuổi ông như hôm qua, khi ông toan dừng ngựa kéo cây gỗ lên không? Nếu y nói: “Ông cần cái gì ở đây? Đã bảo là ông bị buộc thôi việc rồi kia mà!”, nếu y nói như vậy thì sao? Nếu y mắng ông trước mặt mọi người và đuổi ông về nhà thì sao? Những mối nghi ngờ dày vò ông già, ông đi như người dẫn thân đến chỗ chịu khổ hình, nhưng ông vẫn bước đi. Bà theo sau. Như thể không có chuyện gì đặc biệt, tuồng như chỉ vì tò mò. Nhưng thực ra bà lão đi kèm ông già. Bà dồn ông Mômun nhanh nhảu tới chỗ phải làm lành với Ôrôzơkun, phải tỏ ra xứng đáng được y tha thứ. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Ôrôzơkun bước đi một cách đường bệ, ra dáng ông chủ. Y vừa đi vừa thở phì phò, thỉnh thoảng lại khịt mũi và nhìn xung quanh với vẻ nghiêm nghị. Tuy nhức đầu vì uống quá nhiều rượu, y cảm thấy khoái chá được trả thù. Ngoảnh lại nhìn, y thấy ông già Mômun chạy lon ton theo sau như con chó trung thành bị chủ đánh. “Được, rồi ta sẽ làm cho người phải hát lên giọng khác. Bây giờ ta không thèm ngó ngàng gì đến ngươi. Ta coi như không có ngươi. Rồi chính ngươi sẽ phải sụp xuống dưới chân ta”. – Ôrôzơkun mở cờ trong bụng khi nhớ tới cảnh tượng đêm qua vợ y gào khóc thất thanh dưới chân y, y đá vợ và bằng những cú đá đuổi vợ ra khỏi cửa. “Được lắm! Để tống khứ xong bọn này cùng với mấy cây gỗ đã, rồi ta sẽ tính chuyện với bố con lão, ta sẽ làm cho bố con lão cắn xé nhau. Bây giờ thì ả sẽ móc mắt bố. Ả đã trở nên hung dữ như con chó sói cái”. – Ôrôzơkun suy tính vào những quãng tạm ngừng lời trong khi vừa đi vừa nói chuyện với ngươì mới tới.
Người này tên là Kôkêtai. Đấy là một gã mugich lực lưỡng, nước da đen nhẻm, kế toán viên của nông trang ở vùng gần hồ. Gã kết bạn với Ôrôzơkun đã lâu rồi. Mười hai năm trước, Kôkêtai làm nhà. Ôrôzơkun giúp gỗ. Y bán cho Kôkêtai những cây gỗ tròn với giá rẻ để xẻ làm ván. Rồi gã kia cưới vợ cho con trưởng, gã làm nhà cho đôi vợ chồng trẻ. Ôrôzơkun lại cung cấp gỗ súc cho gã. Bây giờ Kôkêtai cho con thứ ra ở riêng, và lại đòi gỗ làm nhà.Và ông bạn cố tri Ôrôzơkun lại giúp gã. Đến khổ, cuộc sống thật là khó khăn! Làm xong một việc, cứ tưởng là bây giờ có thể sống yên ổn. Thế rồi cuộc sống lại nghĩ ra một chuyện gì. Mà đời nay không có những kẻ như Ôrôzơkun thì không xong… - Nhờ trời phù hộ, chẳng bao lâu nữa tôi sẽ mời bác đến ăn mừng nhà mới. Bác đến nhé, chúng ta sẽ đánh chén thoả thích. – Kôkêtai nói với Ôrôzơkun. Ôrôzơkun thở phì một tiếng với vẻ tự đắc, nhà khói thuốc lá: - Cảm ơn. Ai mời thì tôi không từ chối, mà không mời thì tôi không đòi hỏi. Khi nào bác mời thì tôi sẽ tới. Không phải lần đầu tiên tôi tới thăm nhà bác. À, tôi chợt nảy ra ý nghĩ thế này này: có lẽ bác nên chờ tối hẳn hãy cho xe về chăng? Cần nhất là cho xe đi qua nông trường quốc doanh mà không bị để ý. Bằng không nhỡ ra bị chặn lại thì… - Ờ phải đấy. – Kôkêtai lưỡng lự. – Nhưng chờ đến tối thì lâu quá. Ta sẽ cho xe đi một cách kín đáo. Trên đường có trạm gác nào để kiểm tra chúng tôi đâu… Nếu chẳng may gặp công an hay kẻ nào khác… - Chính thế đấy! – Ôrôzơkun lầm bầm, nhăn mặt vì đau rát thực quản và nhức đầu. – Suốt một trăm năm đánh xe đi đây đi đó làm trăm nghìn công việc mà không gặp lấy một con chó trên đường, vậy mà cả trăm năm có một lần chở gỗ thì lại bị tóm. Trò đời bao giờ cũng thế… Họ lặng thinh, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng. Lúc này Ôrôzơkun rất bực về chuyện hôm qua y đã phải bỏ cây gỗ giữa sông. Nếu không thì gỗ đã sẵn sàng, đã đưa được gỗ lên xe từ đêm và tảng sáng đã tống khứ được chiếc xe đi cho khuất mắt… Ôi chao, thật là đen đủi nên hôm qua mới xảy ra chuyện như thế! Trăm sự là tại lão già Mômun ngu ngốc, lão lại dám làm loạn, muốn vượt ra khỏi uy quyền của cấp trên, không muốn phục tùng nữa. Ừ được! Gì chứ chuyện gì thì đừng hòng ta bỏ qua một cách dễ dàng… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Hươu Maran đang uống nước thì người đã đến bờ sông bên kia. Những con người này thật là kì quặc: lăng xăng, ồn ảo. Mải lo công việc và chuyện trò, họ không để ý thấy những con vật đứng ngay phía trước mặt, bên kia sông.
Hươu Maran đứng trong những bụi tugai-nước có màu đỏ vào lúc sáng sớm này chúng lội trong nước ngập đến mắt cá chân trên đá sỏi sạch tinh của doi đất gần bờ. Chúng uống từng ngụm nhỏ, thong thả, uống rồi lại ngừng. Nước lạnh buốt. Mặt trời trên cao toả nắng mỗi lúc một ấm hơn và dễ chịu hơn. Vừa uống cho đã khát, hươu Maran vừa thích thú sưởi nắng. Sương từ các cành cây rơi xuống ướt đẫm lưng ở dọc đường đã khô hết. Một làn hơi mờ nhẹ bốc lên từ những tấm lưng hươu. Sáng hôm ấy là một buổi sáng yên ả, hiền hoà. Mấy người ấy rút cục vẫn không nhận thấy hươu Maran. Một người quay lại chỗ xe ô-tô, những người khác ở lại trên bờ sông. Hươu Maran động đậy tai, đón bắt một cách thính nhậy tiếng người nói thỉnh thoảng vẳng đến với chúng và chúng ngây ra, làn da rung động khi ở bờ bên kia xuất hiện chiếc ô-tô có rơ-moóc. Chiếc xe xô động ầm ầm, gầm rú. Mấy con hươu động đậy, định bỏ đi. Nhưng chiếc xe bỗng dừng lại, không gây tiếng động ầm ầm và không gầm gừ nữa. Những con vật chần chừ, nhưng rồi chúng vẫn thận trọng rời khỏi chỗ: ở bờ bên kia người ta nói quá to và đi lại quá nhộn nhịp. Hươu Maran len lén đi theo con đường mòn giữa những bụi tugai nhỏ, lưng và sừng chúng chốc chốc lại ló ra. Người vẫn không nhận thấy chúng. Mãi đến khi chúng bắt đầu vượt ngang qua bãi cát khô lộ thiên do nước lũ bồi đắp nên, người ta mới nhìn thấy chúng rõ như trên lòng bàn tay. Chúng ở trên bãi cát màu hoa cà, dưới ánh mặt trời chói chang. Họ há hốc miệng, ngây ra trong những tư thế khác nhau. - Nom kìa, nom xem cái gì kia! Xâyđăcmat là người đầu tiên kêu lên. – Nai! Chúng ở đâu ra mà lại lạc đến đây? - Việc gì mà gào tướng lên, làm ầm ĩ lên thế? Nai gì đâu, hươu Maran đấy. Chúng tôi thấy nó từ hôm qua kia. – Ôrôzơkun nói với giọng thờ ơ, - Ở đâu ra ấy à? Như vậy là nó mới đến đây. - Pai, pai, pai! – Gã Kôkêtai vạm vỡ tỏ vẻ thán phục và xúc động quá, gã cởi khuy cổ áo sơ-mi làm gã khó thở. – Mượt mà quá đi thôi, - gã tỏ ý thán phục. Béo múp béo míp… - Còn con cái nom mới tuyệt chứ! Kìa xem nó bước đi mới đẹp chứ, - Người lái xe giương mắt tròn xoe, phụ hoạ theo. – Y như con ngựa cái hai tuổi. Lần đầu tiên tôi trông thấy đấy. - Còn con đực kia nữa như con bò mộng ấy! Xem sừng nó kia kìa! Làm sao nó mang được cỗ sừng ấy chứ! Chúng chẳng sợ hãi gì hết. Chúng ở đâu ra thế nhỉ, Ôrôzơkun? – Kôkêtai dò hỏi, đôi mắt lợn luộc của gã long lanh vẻ thèm muốn. - Chắc là ở khu rừng cấm. – Ôrôzơkun đáp với giọng trịnh trọng, đầy ý thức về quyền làm chủ của mình. – Chúng vượt đèo sang đây, từ bên kia sang. Còn tại sao chúng không sợ ư? Chúng không hề bị đe doạ bao giờ, vì thế không biết sợ. - Chà, giá mà có khẩu súng thì hay quá! – Xâyđăcmat bỗng buột miệng.- Có đến hai tạ thịt chứ chơìa? Mômun từ nãy vẫn rụt rè đứng bên ngoài không nén nổi nữa. - Anh nói kì quá, Xâyđăcmat. Có lệnh cấm săn hươu Maran kia mà, - ông già nói khẽ. Ôrôzơkun lừ mắt, ném lên ông già một cái nhìn cau có. “Rồi ta sẽ cho mi được lên tiếng!” – y nghĩ, lòng đầy căm hờn. Y muốn mắng cho lão già một trận tơi bời, làm cho lão chết tươi ngay tại chỗ, nhưng y nén được. Dù sao cũng còn có người ngoài. - Đừng có lên mặt dạy khôn. – Ôrôzơkun nói một cách cáu kỉnh, không nhìn Mômun. – Cấm săn ở nơi có hươu kia. Còn ở vùng ta không có hươu. Chúng ta không chịu trách nhiệm về chúng. Rõ chưa? – Y nhìn về phía ông già đang bối rối, tỏ vẻ hăm doạ. - Rõ rồi, - Ông Mômun ngoan ngoãn đáp, và cúi đầu lánh sang một bên. Ngay lúc đó bà lão len lén kéo tay áo ông. - Ông cứ im đi thì hơn, - Bà khẽ rít lên, giọng chì chiết. Mọi người gằm mắt xuống, có phần ngượng ngập. Rồi họ lại nhìn theo những con vật đang đi trên con đường mòn nhỏ hẹp dốc đứng. Mấy con hươu Maran đi hàng một lên bờ dốc. Đi đầu là con hươu đực sắc nâu, kiêu hãnh mang cỗ sừng to khoẻ của mình, theo sau là chú hươu con không sừng, đi đoạn hậu là Mẹ Hươu Sừng. Trên nền của một mạch đất sét sạch tinh, hình dáng mấy con hươu Maran nổi rõ mồn một và thật duyên dáng. Mỗi cử động, mỗi bước đi của chúng đều bầy ra trước mắt. - Ôi chao, đẹp tuyệt trần! – Người lái xe không nén được, hân hoan thốt lên. Đấy là một chàng trai trẻ tuổi, mắt ốc nhồi, nom rất hiền. Tiếc rằng tôi không mang máy ảnh, giá như có máy… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
- Đẹp thì làm gì. – Ôrôzơkun bực bội ngắt lời anh ta. – Thôi đừng đứng ngây ra nữa. Đẹp cũng không mài ra mà ăn được. Hãy đánh xe đi giật lùi tới bờ sông, cho thẳng xuống nước ngập sâu tới mấp mé rìa xe. Còn chú mày, Xâyđăcmat, cởi giầy ra, - Y ra lệnh, trong lòng khoái chá vì quyền lực của mình. – Còn cậu, - Y chỉ dẫn cho người lái xe. – cậu cho buộc dây cáp vào cây gỗ. Mà nhanh nhanh lên. Còn công việc khác nữa.
Xâyđăcmat bắt đầu tháo ủng ở chân. Ủng của anh hơi chật. - Sao lại cứ đứng nhìn thế, giúp anh ta đi chứ. – Bà lão thúc ông già một cái, không để cho ai nhận thấy. – Ông cũng tháo ủng ra, lội xuống nước đi. – Bà nhắc bằng giọng thì thầm giận dữ. Ông Mômun vội tới kéo đôi ủng ở chân Xâyđăcmat và chính ông cũng nhanh chóng tháo ủng. Trong lúc đó Ôrôzơkun và Kôkêtai chỉ huy chiếc xe. - Cho lại đây, cho lại đây. - Sang bên trái một chút, sang bên trái. Thế. - Chút nữa. Nghe thấy tiếng ồn ào lạ tai phát ra từ chiếc ô-tô, hươu Maran rảo bước trên con đường mòn. Chúng lo lắng ngó quanh, nhảy lên bờ dốc và biến mất giữa những cây phong. - Ôi, chúng biến mất rồi! – Kôkêtai chợt tỉnh. Gã kêu lên bằng giọng tiếc rẻ, như thế con thú săn đã vuột khỏi tay gã. - Không sao, chúng không biến đi đâu được hết! – Đoàn được ý nghĩ của gã kia và hài lòng về điều đó, Ôrôzơkun huyênh hoang. – Từ giờ đến tối bác chưa đi được đâu, bác sẽ là khách của tôi. Chính thượng đế muốn như vậy. Tôi sẽ đãi bác một chầu thoả thích. – Và gã cười hô hố, vỗ vai bạn. Ôrôzơkun cũng có thể vui vẻ lắm chứ. - Nếu vậy thì xin theo lệnh bác, bác là chủ, tôi là khách. – Gã Kôkêtai vạm vỡ phục tùng, mỉm cười phô ra những chiếc răng to khoẻ, vàng khè. Chiếc ô-tô đã ở bờ sông, bánh sau ngập trong nước đến lưng chừng. Người lái không dám liều cho xe dẫn sâu hơn nữa. Bây giờ phải ròng dây cáp tới cây gỗ. Nếu dây cáp đủ dài thì kéo cây gỗ ra khỏi chỗ mắc đá ngầm không có gì là khó khăn lắm. Dây cáp bằng thép, dài và nặng. Cần kéo sợi cáp trong nước, dòng tới tận cây gỗ. Người lái xe miễn cưỡng cởi giày, e ngại nhìn xuống nước. Anh ta vẫn chưa quyết: có nên đi cả ủng lội xuống nước hay nên cởi ra thì hơn. “Có lẽ nên đi chân không thì hơn – anh ta nghĩ, - Thế nào rồi nước cũng tràn vào ủng. Sâu thế cơ mà, gần đến háng. Rồi sau đó suốt ngày sẽ phải đi ủng ướt”. Nhưng anh ta cũng tưởng tượng được nước sông lúc này hẳn lạnh lắm. Ông Mômun nắm ngay lấy cơ hội ấy. - Con đừng cởi ủng nữa, con ạ. – Ông nhảy bổ tới cạnh anh ta. – Ta với Xâyđăcmat sẽ xuống. - Ấy chớ làm thế, ăcxakan. – Anh lái xe bối rối, lên tiếng cãi lại. - Con là khách, còn chúng ta là người ở đây, con lên cầm tay lái đi. – Ông Mômun khuyên nhủ anh ta. Sau khi đóng một cái cọc vào giữa cuộn dây cáp, ông cụ và Xâyđăcmat lội xuống nước kéo sợi dây đi. Xâyđăcmat kêu toáng lên: - Ối-ối, băng chứ không phải là nước nữa! Ôrôzơkun và Kôkêtai cười giễu cợt với thái độ khoan dung, khuyến khích anh ta: - Chịu khó một chút, chịu khó một chút! Chúng tôi sẽ kiếm cái gì làm cho cậu ấm lên! Còn ông Mômun không thốt lên một tiếng nào. Thậm chí ông không cảm thấy cái lạnh giá buốt. Rụt cổ lại để người ta bớt chú ý đến mình, ông đi chân không trên đá ngầm trơn chuội, vừa đi vừa cầu xin thượng đế có một điều: cầu sao cho Ôrôzơkun đừng bắt ông quay trở lại, đừng đuổi ông, đừng quát mắng ông trước mặt mọi người, cầu mong y tha thứ cho ông, lão già ngu ngốc, khốn khổ… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Còn Ôrôzơkun không nói năng gì. Y dường như không để ý đến sự sốt sắng của ông già, không coi ông là người. Nhưng trong bụng y lấy làm đắc ý, vì dù sao y cũng đã khuất phục được lão già nổi loạn. “Thế đấy. – Ôrôzơkun cười thầm một cách cay độc – Mi đã bò lết sụp dưới chân ta. Hừ, đáng tiếc là ta không có nhiều quyền hành, không thì ta sẽ bắt cả những kẻ gấp mười lần mi phải còng lưng lại như cái sừng cừu: Ta sẽ làm cho những kẻ gấp mười mi phải bò lê trong cát bụi. Giá như ta được giao phó một nông trường quốc doanh hay một nông trang tập thể thì ta sẽ đưa vào qui củ ngay. Người ta đã để cho dân chúng trở nên buông tuồng. Rồi bây giờ chính họ lại than phiền: chủ tịch không được kính trọng, giám đốc không được kính trọng. Một tên chăn cừu vớ vẩn nào đó cũng nói năng với cấp trên như người bằng vai. Một lũ ngốc, không xứng đáng được trao quyền hành vào tay. Với bọn tép riu cần gì phải cư xử như thế kia chứ? Đã có thời đầu người bị chém vô tội vạ, vậy mà chẳng kẻ nào dám ho he hóc hách. Đã từng có thời như thế, đúng vậy! Còn bây giờ thì sao? Một kẻ hèn kém nhất trong những kẻ hèn kém bỗng nhiên cũng định giở bướng. Ừ được, mi cứ bò đi, cứ bò dưới chân ta đi”, - Ôrôzơkun hí hửng trong lòng với ý nghĩ độc ác của y, chốc chốc lại nhìn về phía Mômun.
Ông già co cúm lội trong nước giá băng, kéo sợi dây cáp cùng với Xâyđăcmat và mãn nguyện vì Ôrôzơkun dường như đã tha thứ cho ông. “Con hãy thay thứ cho lão già này đã để xảy ra cơ sự như thế. – Bằng ý nghĩ, ông già nói với Ôrôzơkun. – Hôm qua ta không nén lòng được. Ta phóng ngựa đến trường đón cháu. Nó cỉ có mỗi một thân một mình, vì thế ta thương nó. Ấy thế mà hôm nay nó không đi học được. Nó hơi khó ở, không rõ vì sao. Hãy quên đi, tha thứ cho ta. Thì với ta, anh đâu có phải là người dưng. Anh tưởng ta không mong muốn cho anh và con gái ta được hạnh phúc sao? Nhờ trời phù hộ, ta mà nghe thấy tiếng kêu khóc của đứa bé mới sinh của vợ anh, con gái ta thì ta đến chết sững tại chỗ mất thôi. Khi ấy dù trời có bắt ta phải trút linh hồn ta cũng cam lòng. Thề có đất trời, lúc ấy ta sẽ khóc vì sung sướng. Có điều, anh đừng lăng nhục con gái ta, tha thứ cho ta. Còn làm việc thì chừng nào ta còn đi đứng được, ta sẽ làm lụng không tiếc sức. Ta sẽ làm hết mọi việc. Chỉ cần anh bảo ta một câu…” Đứng riêng một chỗ trên bờ sông, bằng điệu bộ và toàn bộ vẻ mặt của mình, bà lão như muốn nói với ông già: “Gắng lên ông già! Ông thấy không, nó tha thứ cho ông rồi đó. Cứ làm như tôi bảo là ổn cả thôi mà.” Thằng bé ngủ. Chỉ có một lần nó thức giấc khi có tiếng súng nổ vang ầm ở đâu đó. Rồi nó lại ngủ thiếp đi. Kiệt lực vì hôm qua mất ngủ và lại vừa qua một trận ốm, hôm nay nó ngủ một giấc ngon lành, say lì. Trong giấc ngủ, nó cảm thấy mình nằm khoan khoái trên giường, duỗi dài một cách thoải mái, người không nóng, cũng không ré. Chắc hẳn nó sẽ ngủ rất lâu nếu không có bà và già Bêkây. Hai người cố nói nhỏ, nhưng tiếng bát đĩa lanh canh làm thằng bé thức giấc. - Cầm lấy cái bát to này. Lấy cái đĩa nữa. – Bà thì thầm một cách sôi nổi ở phòng ngoài. – Còn ta sẽ mang cái xô và cái nong. Ôi chao, lưng đau như giần. Chúgnt a đã làm xong bao nhiêu việc. Nhưng ơn trời, ta mừng quá đi mất. - Ôi, còn phải nói, ênêkê, con cũng mừng lắm. Hôm qua con muốn chết đi cho rồi. Nếu không có Gungiaman thì con đã tự huỷ hoại thân con rồi. - Thế mà còn nói. – Bà mắng át đi. – Lấy ớt rồi chứ? Ta đi đi. Chính thượng đế ban cho món qùa để cho vợ chồng chị làm lành với nhau. Ta đi đi, đi đi thôi. - Nó vẫn ngủ à? - Cứ để cho nó ngủ một lúc nữa. – Bà đáp. – Khi nào làm xong, ta sẽ mang súp thịt thật nóng cho nó. Thằng bé không ngủ nữa. Ngoài sân có tiếng chân rậm rịch và tiếng người nó. Già Bêkây cười, cô Gungiaman và bà cũng cười đáp lại. Có cả tiếng nói của những người lạ. “Chắc là nhữgn người đến đêm hôm qua. – Thằng bé đoán chắc. – Như vậy là họ vẫn chưa đi”. Chỉ không nghe thấy tiếng ông Mômun, cũng không thấy ông. Ông đâu? Ông bận việc gì? Thằng bé lắng tai nghe tiếng nói ở bên ngoài, chờ ông. Nó rất muốn nói chuyện với ông một lúc về những con hươu Maran nó trông thấy hôm qua. Mùa đông sắp đến rồi. Cần để lại nhiều cỏ khô hơn nữa trong rừng cho hươu. Để cho hươu ăn. Cần làm cho hươu quen đi, để nó hoàn toàn không sợ người, mà vượt qua sông đến thẳng đây, vào sân này. Hươu đến đây thì phải cho nó ăn thứ gì nó thích nhất. Không biết hươu thích gì nhất nhỉ? Giá mà tập được cho hươu Maran con quen đi để mình đi đâu nó cũng theo sau thì hay quá. Thế thì tuyệt vời. Có lẽ nó sẽ theo thằng bé đến trường chăng?... |
Thằng bé chờ ông, nhưng chẳng thấy ông đâu. Chỉ có Xâyđăcmat độtnhiên xộc vào. Anh có điều gì rất vừa ý. Anh rất vui vẻ, lắc la lắc lư, mỉm cười một mình. Khi anh ta tới gần, mùi rượu xông lên nồng nặc. Thằng bé rất không ưa cái mùi gay gắt khó chịu ấy, nó khiến thằng bé nhớ tới thói độc đoán của Ôrôzơkun, những đau khổ của ông và của già Bêkây. Nhưng khác với Ôrôzơkun, Xâyđăcmat rượu vào thì lại trở nên hiền từ, vui vẻ, nói chung là nom hơi ngây ngô cù rù, mặc cù ngay lúc không say anh cũng chẳng có gì thông minh khác người. Những lúc như thế, giữa anh ta và ông Mômun thường diễn ra cuộc nói chuyện đại khái như sau:
- Có chuyện gì mà cứ mủm mỉm cười như thằng ngố thế, Xâyđăcmat? Cả anh mà cũng đâm ra đổ đốn rồi ư? - Ăcxakan ơi, con yêu ông lắm! Thực đấy, ăcxakan ạ, yêu chẳng khác gì bố đẻ của con. - Rõ chán, vào cái tuổi của anh mà lại như thế! Người khác thì lái ô-tô đi đây đi đó, còn anh thì không sai khiến được cái lưỡi của mình. Tôi mà ở tuổi anh thì ít nhất tôi cũng lái máy kéo. - Ăcxankan ơi, ở trong quân đội ông chỉ huy bảo con rằng con không có khả năng về khoản đó. Nhưng con là bộ binh, ăcxankan ạ, mà không có bộ binh thì không làm ăn gì được. - Bộ binh! Anh là thằng đại lãn chứ bộ binh gì. Vậy mà lấy được cô vợ… Trời không có mắt. Một trăm thằng như anh không đáng giá một mình Gungiaman… - Chính bởi thế chúng con mới ở đây, ăcxandan ạ, chỉ có mỗi một mình với một mình cô ấy. - Thôi chả bõ nói với anh. Người khoẻ như con bò mộng, vậy mà trí khôn thì… - Ông Mômun khoát tay, ra chiều thất vọng. - Mu-u-u. – Xâyđăcmat làm tiếng bò kêu và cùng cười với ông cụ. Rồi anh dừng lại ở giữa sân, cất tiếnghát bài ca kì lạ, nghe được ở đâu không biết: Từ dãy núi màu hung, màu hung Ta cưỡi con ngựa sắc hung đi tới. Ơi hỡi thương nhân áo hung, mở cửa ra, Chúng ta sẽ uống rượu vang màu hung. Từ dãy núi màu nâu, màu nâu Ta cưỡi con bò đực sắc hung đi tới. Này hỡi thương nhân áo nâu, mở cửa ra Chúng ta sẽ uống rượu vang màu nâu Và cứ như thế có thể tiếp tục bất tận, bởi vì ở trên núi xuống, anh cưỡi lạc đà, cưỡi gà trống, cưỡi chuột, cưỡi rùa, tất cả những gì có thể di chuyển được. Lúc Xâyđăcmat say, thằng bé còn thích anh hơn là lúc anh tỉnh… Vì thế, khi Xâyđăcmat chuếnh choáng say bước vào, thằng bé niềm nở mỉm cười với anh. - Ơ kìa! – Xâyđăcmat kêu lên ngạc nhiên. – Thế mà nghe bảo cháu ốm. Nhưng cháu có ốm gì đâu. Tại sao cháu không ra sân chạy chơi? Thế này không được… - Anh ta nằm vật xuống giường cạnh thằng bé, người anh ta toả ra mùi rượu, có cả mùi thịt sống ở tay và quần áo. Anh ta vần vò và hôn thằng bé. Hai má anh ta tua tủa râu cứng đâm rát mặt nó. - Này thôi đi, chú Xâyđăcmat, - Thằng bé van. – Thế ông cháu đâu, chú có thấy ông cháu đâu không? - Ông cháu ở ngoài ấy, làm các món ấy, - Xâyđăcmat khoa hai tay một cách vu vơ trong không trung. – Chúng ta… chúng ta đã kéo cây gỗ dưới nước lên. Vì thế mọi người uống chút rượu cho ấm. Hiện giờ ông cháu đang nấu chính cái ấy, ở nấu thịt ấy mà. Cháu dậy đi. Mặt quần áo vào, rồi chú cháu ta ra ngoài ấy đi. Sao lại thế! Như thế không đúng. Mọi người đều ở ngoài ấy; vậy mà một mình cháu ở đây. - Ông không cho phép cháu ra khỏi giường – Thằng bé nói. - Đừng nói thế, không cho phép là thế nào? Ta ra xem đi. Hôm nay là ngày đặc biệt. Bát nhờn mỡ, thìa nhờn mỡ, miệng cũng nhờn mỡ… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Thằng bé loạng choạng theo Xâyđăcmat ra khỏi nhà. Ở trong núi hôm nay trời có gió, ít mây. Mây chuyển chỗ nhanh chóng trên bầu trời. Trong lúc thằng bé đi qua hiên, thời tiết thay đổi đột ngột hai lần: đang nắng chói chang trở thành u ám đến khó chịu. Thằng bé cảm thấy đầu nó nhức nhối vì thời tiết thay đổi đột ngột. Cơn gió mạnh thốc sau lưng, khói từ đống lửa tạt vào mặt. Mắt cay sè. “Hôm nay chắc là cả xóm giặt quần áo.” – thằng bé nghĩ bụng, đống lửa thường được nhóm lên ở sân trong ngày tổng vệ sinh quần áo, để đun nước cho cả ba nhà bằng cái chảo đồ sộ đen sì. Một người không nâng nổi cái chảo lớn đó. Già Bêkây cùng cô Gungiaman hợp sức khiêng nó lên.
Thằng bé thích dịp tổng vệ sinh quần áo. Thứ nhất, đống lửa ở bếp ngoài trời, có thể nghịch lửa được, không như ở trong nhà. Thứ hai, phơi phóng quần áo đã giặt cũng là chuyện rất thú vị. Vải trắng, xanh, đỏ phơi trên dây làm sàn đẹp hẳn lên. Thằng bé còn thích lên đến gần những quần áo giăng trên giây, áp má vào mặt vải ướt. Lần này trong sân chẳng thấy có quần áo gì cả. Vậy mà lửa bốc đùng đùng dưới cái chảo lớn, hơi bốc nghi ngút từ cái chảo đang sôi, chất đầy ắp những tảng thịt lớn. Thịt đã chín: mùi thịt và mùi bếp lửa thơm lừng, làm ứa nước miếng. Già Bêkây mặc bộ áo váy mới màu đỏ, đi đôi ủng giả da mới, choàng chiếc khăn hoa trễ xuống vai, lúi húi trên đống lửa, hớt bọt váng bằng một cái muôi, còn ông Mômun quì gối cạnh già, lật giở những khúc củi đang cháy trong bếp. - Đây kìa, ông cháu đấy. – Xâyđăcmat nói với thằng bé. – Ta ra đi. Và anh cất tiếng ê a: Từ dãy núi màu hung, màu hung Ta cưỡi con ngựa sắt hung đi tới, Vừa đúng lúc đó Ôrôzơkun từ nhà kho ló ra. Đầu y cạo nhẵn, tay cầm chiếc rìu, tay áo xắn cao. - Chú mày lẩn đi đâu mất mặt thế? – Y gọi Xâyđăcmat giọng dậm doạ - Khách đang bổ củi kia kìa, - Y hất đầu về phía người lái xe đang bổ khúc củi. – Vậy mà chú mày lại hát với hổng. - Vâng được, tôi làm nhoáy cái là xong thôi mà. – Xâyđăcmat nói cho Ôrôzơkun hài lòng và đi về phía người lái xe. – Nào, để tôi làm, người anh em. Còn thằng bé tới gần ông nó đang quì gối cạnh bếp. Nó tới gần ông từ phía sau lưng. -Ata.? – Nó gọi. Ông không nghe thấy. -Ata, - Thằng bé nhắc lại và chạm vào vai ông. Ông già ngoảnh lại và thằng bé không nhận ra ông. Ông cũng say. Thằng bé không thể nhớ được có lần nào nó đã thấy ông dù chỉ là hơi chuếch choáng hơi men. Nếu có xảy ra chuyện như thế thì chỉ là ở nơi nào khác, trong đám tang các ông già Ixxưc-kun, tại đó người ta mời rượu vôtka tất cả mọi người, ngay cả đàn bà. Nhưng bỗng dưng như thế này thì đấy là chuyện chưa từng xảy ra với ông. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Ông già nhìn thằng bé chằm chằm, cái nhìn xa vắng, kì dị, ngây dại. Mặt ông nóng bừng và đỏ gay, và khi nhận ra cháu, mặt ông càng đỏ hơn. Mặt đỏ bừng lên rồi tái nhợt đi ngay. Ông vội vã đứng lên.
- Cháo bảo gì, hả? – Ông nói bừng giọng khàn khàn và ôm ghì cháu vào người. – Cháu bảo gì, hả? Cháu bảo gì? – Ngoài mấy tiếng đó, ông không thốt lên được câu gì khác, dường như đã mất tiếng nói. Sự xúc động của ông truyền sang thằng bé. - Ông ốm ư, ata? – Thằng bé hỏi, giọng lo lắng. - Không, không. Ông chẳng làm sao cả, thế thôi. – Ông Mômun nói lí nhí. – Cháu đi đi, đi dạo đi một lúc. Còn ông phải trông bếp củi ở đây, chính cái ấy... Ông gần như đẩy cháu ra và dường như quay lưng lại với toàn thế giới, lại quay mặt vào bếp. Ông quỳ gối và không ngoái lại, không nhìn đi đâu, chỉ bận bịu với ý nghĩ riêng của mình và với đống lửa. Ông già không thấy thằng cháu đứng tại chỗ một lúc, rồi đi trong sân, tới chỗ Xâyđăcmat đang bổ củi. Thằng bé không hiểu có chuyện gì xảy đến với ông và có chuyện gì xảy ra trong sân. Mãi tới lúc đến gần nhà kho nói mới để ý thấy một đống thịt tươi đỏ lòm to lù lù chất trên tấm da trải trên đất, mặt lông xuống dưới. Ở mép tấm da còn rỉ ra những dòng máu nhợt nhạt. Cách đấy một quãng, chỗ người ta vứt những thứ bỏ đi, một con chó đang gầm gừ lôi cỗ lòng. Cạnh đống thịt, một người lạ, thân hình to lớn, ngồi xổm, nom lù lù như một khối đá tảng, mặt gã đen nhẻm. Đấy là Kôkêtai. Gã và Ôrôzơkun cầm dao chia thịt. Điềm tĩnh, thong thả, họ quẳng những khúc xương to dính thịt ra những chỗ khác nhau trên tấm da căng rộng. - Khoái thật! Mùi thơm tuyệt! – Gã mugich vạm vỡ, mặt đen ngửi mùi thịt, nói bằng giọng trầm. - Lấy đi, lấy đi, vứt vào đống của bác đi. – Ôrôzơkun nói với ông khách, tỏ ra rộng rãi. – Thượng đế ban cho chúng ta con này trong đàn của Ngài, nhân dịp bác tới đây. Không phải ngày nào cũng có dịp may thế này. Ôrôzơkun vừa làm vừa thở phì phò, chốc chốc lại đứng lên, vuốt cái bụng căng tròn, như thể đã ních đầy một món gì đó. Có thể thấy ngay là y đã nốc nhiều rượu. Y khó thở, hơi thở khò khè, và ngật đầu ra sau để lấy hơi. Khuôn mặt bự thịt như cái vú bò của y bóng nhẫy lên vì đắc ý và no nê. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Thằng bé sững sờ, lạnh toát cả người khi nó thấy cái đầu hươu Maran có sừng dưới chân tường nhà kho. Cái đầu bị chặt rời ra lăn lóc trong đám bụi thấm những vệt máu giọt thẫm đen. Nom nó từa tựa như một gốc cây cong queo bị hất sang bên đường. Nằm lăn lóc cạnh cái đầu là bốn cái chân có móng bị chặt đứt ở khớp đầu gối.
Thằng bé kinh hãi nhìn cảnh tượng khủng khiếp ấy. Nó không tin vào mắt mình nữa. Trước mặt nó là cái đầu Mẹ Hươu Sừng… Nó muốn chạy khỏi đây, nhưng đôi chân không tuân theo ý nó. Nó đứng nhìn cái đầu chết,đã biến dạng hẳn đi của con hươu Maran cái lông trắng. Chính con hươu hôm qua còn là mẹ Hươu Sừng, hôm qua còn nhìn nó từ bờ bên kia bằng cái nhìn hiền từ chăm chú, hôm qua thằng bé đã tưởng tượng mình nói chuyện với chính hươu mẹ này, đã cầu khẩn hươu mẹ dùng sừng đem đến cho già Bêkây chiếc nôi thần có chuông treo. Tất cả những cái đó bỗng nhiên biến thành đống thịt không có hình thù, tấm da lột, những cẳng chân bị chặt và cái đầu bị vứt ra kia. Nó nên bỏ đi là phải, nhưng nó vẫn đứng ngây ra như hoá đá, không hiểu được tất cả những chuyện đó đã xảy ra như thế nào và tại sao lại như thế. Gã mugich lực lưỡng mặt đen ngồi chia thịt dùng mũi dao nhọn thọc lấy quả bầu dục trong đống thịt và đưa cho thằng bé. - Cầm lấy, chú bé, đem mà nướng than, ngon lắm nhé! – gã nói. Thằng bé không động đậy. - Cầm lấy! – Ôrôzơkun ra lệnh. Thằng bé giơ tay ra mà không hề cảm thấy tay mình đang làm gì, và bây giờ nó đứng thẫn ra, bàn tay lạnh giá nắm chặt quả bầu dục mềm mại còn ấm của Mẹ Hươu Sừng. Lúc đó, Ôrôzơkun cầm sừng nhấc đầu con hươu trắng lên. - Ôi, nặng quá! – Y xách bổng lên, đưa đi đưa lại. – Chỉ riêng cỗ sừng cũng bao nhiêu kí rồi. Y đặt cái đầu ghế nghiêng lên khúc gỗ, cầm lấy rìu và bắt đầu chặt để tách cỗ sừng ra khỏi sọ. - Cỗ sừng chúa quá! – Y vừa nói vừa chém phập lưỡi rìu vào gốc sừng, tiếng lắc rắc nghe rõ mồn một. – Chúng tao kiếm cái này cho ông mày đấy. – Y nháy mắt với thằng bé. – Khi nào ông già qua đời, chúng ta sẽ đặt cỗ sừng lên mộ ông. Bấy giờ thử xem kẻ nào dám bảo chúng ta không kính trọng ông cụ. Kính trọng quá đi chứ! Được cỗ sừng như thế này thì dẫu có chết ngay hôm nay cũng hả dạ! – Y vừa cười hô hố vừa nhắm chỗ bổ rìu. Cỗ sừng không chịu thua. Thì ra chặt được nó không phải dễ. Say rượu, Ôrôzơkun, chặt không đúng chỗ, vì thế y nổi khùng. Cái đầu trật khỏi khúc gỗ, rơi xuống. Thế là Ôrôzơkun vung rìu bổ vào cái đầu trên mặt đất. Cái đầu bắn văng đi, y cầm rìu đuổi theo. Thằng bé run rẩy, mỗi lần như thế nó lùi lại một bước, nhưng nó không đủ sức bắt mình rời khỏi chống này. Như trong cơn ác mộng, một sức mạnh khủng khiếp và khó hiểu khiến nó bị chôn chân tại chỗ, nó đứng ngây ra và ngạc nhiên vì con mắt lờ đờ, không chớp của Mẹ Hươu Sừng chẳng hề tránh né chiếc rìu. Con mắt không chớp, không nheo lại vì sợ hãi. Cái đầu đã bê bến bùn đất từ lâu, nhưng con mắt vẫn trong trẻo, và dường như vẫn nhìn thế giới với vẻ ngạc nhiên câm lặng, ngưng đọng như lúc cái chết chợt đến với nó. Thằng bé sợ Ôrôzơkun say rượu sẽ bổ trúng con mắt. Sừng vẫn không rời ra. Ôrôzơkun mỗi lúc một mất bình tĩnh, trở nên hung hãn, và không còn phân biệt gì nữa, cứ chém bừa vào cái đầu, bổ cả bằng sống và lưỡi rìu. - Như thế thì làm gãy sừng mất. Đưa tôi nào. – Xâyđăcmat tới gần. - Xê ra! Ta tự làm lấy! Gãy thế nào được, nói láo! – Ôrôzơkun thở hổn hển, vung rìu. - Thôi thì tuỳ ông, - Xâyđăcmat nhổ bọt, rồi đi về nhà mình. Gã mugich vạm vỡ mặt đen đi theo anh ta, lễ mễ tiếp tục tùng xẻo cái đầu Mẹ Hươu Sừng ở sau nhà kho. Có thể cho rằng y đang làm một việc trả thù mà y hằng mong đợi từ lâu. - À, mày! Đồ khốn kiếp! – miệng sùi bọt mép, y dùng mũi ủng đá cái đầu, tuồng như cái đầu chết có thể nghe được tiếng nói của y. - Ồ không, láo khoét! – Y cầm rìu xông tới liên tiếp. – Tao mà không trị được mày thì tao không đáng sống nữa! Cho mày biết tay này! Cho mày biết tay này – Y ra sức vung rìu chém lấy chém để. Cái sọ nứt răng rắc, mảnh xương văng tứ tung. Thằng bé kêu lên một tiếng thất thanh khi lưỡi rìu bất ngờ chém ngang con mắt. Từ ổ mắt vỡ toác, một chất nước đặc sệt, thẫm màu ứa ra. Con mắt đã chết, biến mất, chỉ còn là một lỗ hổng trống rỗng… - Đầu rắn gấp mười thế này ta cũng bổ vỡ được! Sừng cứng gấp mười lần thế này ta cũng bẻ gãy như thường! – Ôrôzơkun gầm gừ trong cơn tức tối và căm thù man rợ đối với cái đầu vô tội này. Cuối cùng y đã bổ vỡ được cái sọ ở đỉnh và ở trán. Thế là y quẳng rìu đi, hay tay chộp lấy cỗ sừng, dùng chân đạp gí cái đầu xuống đất, hung hãn ra sức vặn cỗ sừng. Y vặn cho nó bật ra, và cỗ sừng kêu răng rắc như đám rễ cây bị vặn đứt. Đấy chính là cỗ sừng mà thể theo lời cầu khẩn của thằng bé, lẽ ra Mẹ Hươu Sừng sẽ treo chiếc nôi thần lên đó để đem tới cho Ôrôzơkun và già Bêkây… Thằng bé choáng váng. Nó quay đi, bỏ rơi quả bầu dục xuống đất và chậm chạp lê bước dời khỏi nơi này. Nó rất sợ là nó sẽ ngã hay ói mửa ngay tại đây, trước mắt mọi người. Mặt tái mét, mồ hôi lạnh nhơm nhớp trên trán, nó đi qua cạnh cái bếp đang bùng bùng ngọn lửa, ở đó hơi nóng đang cuồn cuộn bốc lên từ chiếc chảo và ông Mômun khốn khổ của nó vẫn như trước, ngồi quay lưng lại với cả thế giới, quay mặt vào bếp. Thằng bé không muốn làm phiền ông. Nó muốn mau mau lần về tới giường, đi nằm, trùm chăn kín đầu. Không nhìn, không nghe gì hết. Quên đi… |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Không dè nó lại gặp già Bêkây từ phía trước đi tới. Mặc diện một cách lố lăng, nhưng mặt vẫn đầy những vết thâm tím do trận đòn của Ôrôzơkun để lại, thân hình gầy nhom và vui vẻ không đúng lúc, hôm nay già tất tưởi lo liệu cho “bữa thịt trọng đại”.
- Cháu làm sao thế? – Bêkây giữ thằng bé lại. - Cháu nhức đầu. – Thằng bé nói. - Cháu yêu quí của già, cháu ốm đây mà. – đột nhiên cảm thấy lòng dạt dào trìu mến, già Bêkây nói và hôn thằng bé tới tấp. Bêkây cũng say rượu. Người chị ta cũng sặc sụa mùi vôtka đáng ghét. - Thằng bé đau đầu. – Chị ta lầm bầm với giọng cảm động. – Cháu thân thương của già? Chắc cháu muốn ăn phải không? - Không, cháu không muốn. Cháu muốn đi nằm. - Thế thì ta đi đi, ta đi đi, già sẽ thu xếp chỗ cho cháu nằm. Tội gì cháu đi nằm một thân một mình. Mọi ngưi sẽ có mặt đầy đủ ở nhà già. Cả khách, cả người nhà. Thịt cũng xông rồi mà. – Và Bêkây lôi thằng bé theo. Khi Bêkây và thằng bé đi qua bếp, Ôrôzơkun ló ra từ sau nhà kho, mặt nhễ nhại mồ hôi và đỏ như cái vú bị viêm. Y đắc chí quẳng xuống cạnh ông Mômun cỗ sừng hươu Maran đã chặ rời ra. Ông già nhỏm dậy. Không nhìn ông già, Ôrôzơkun nhất xô nước lên và dốc ngược cái xô trên đầu, vừa dội nước vừa uống. - Bây giờ ông có thể chết được rồi đấy. – Gã nói nhát gừng, ngừng uống, rồi lại áp mặt vào xô nước. Thằng bé nghe thấy ông nó lắp bắp: - Cám ơn con, cảm ơn. Bây giờ dẫu có chết cũng không đáng sợ. Đúng thế, như vậy là ta được trọng vọng, được tôn kính… - Cháu về nhà đây. – Thằng bé nói, cảm thấy toàn thân bủn rủn. Già Bêkây không nghe. - Chẳng tội gì cháu lại nằm nhà một mình. – và già gần như lôi thằng bé vào nhà, đặt nó nằm trên chiếc giường trong góc nhà. Trong nhà Ôrôzơkun, tất cả đã sẵn sàng cho bữa ăn. Mọi món đã nấu nướng xong cả. Bà và Gungiaman sôi nổi làm tất cả những việc đó. Già Bêkây chạy đi chạy lại ở sân, giữa nhà và bếp. Trong lúc chờ đợi bữa thịt long trọng, Ôrôzơkun và gã Kôkêtai vạm vỡ mặt đen dùng tạm chút trà tiêu khiển. Họ nửa nằm nửa ngồi trên những tấm chăn màu, khuỷu tay tì lên những chiếc gối. Cả hai lập tức đều ra bộ oai vệ và cảm thấy mình như những ông hoàng. Xâyđăcmat rót trà ít một vào bát cho họ. Còn thằng bé nằm im thít trên giường, toàn thân tê dại trong trạng thái căng thẳng. Nó lại ớn rét. Nó muốn trở dậy và lánh ra chỗ khác, nhưng nó sợ rằng chỉ cần dời khỏi giường là nó ói mửa liền. Vì thế nó quằn quại cố giữ cái cục mắc trong họng. Nó không dám động đậy lần nữa. Lát sau, mấy người đàn bà gọi Xâyđăcmat ra sân. Rồi anh ta xuất hiện ở cửa với một cái bát tráng men cực to đầy tú hụ thịt bốc khói. Anh ta bê cái bát thịt đó một cách khó nhọc và đem đến đặt trước mặt Ôrôzơkun và Kôkêtai. Mấy người đàn bà theo sau bưng vào những món ăn khác nữa. Mọi người bắt đầu ngồi vào chỗ, chuẩn bị dao và đĩa. Trong lúc đó, Xâyđăcmat rót vôtka. – Anh ta cười hô hố, nghiêng đầu chỉ mấy cái chai trong góc nhà. Ông Mômun tới sau cùng. Hôm nay ông già có một bộ dạng kì lạ, thảm hại khác thường. Ông muốn ngồi ghế vào một chỗ nào bên cạnh, nhưng gã Kôkêtai vạm vỡ mặt đen dỏ ra rộng rãi, bảo ông cụ ngồi cạnh gã. - Cụ đến đây, ăcxakan. - Cảm ơn, chúng tôi ngồi đây, chúng tôi là người nhà mà. – ông Mômun toan từ chối. - Nhưng cụ là người cao tuổi nhất, - Kôkêtai nài và kéo ông cụ ngồi giữa hắn với Xâyđăcmat. – Acxakan ạ, chúng ta sẽ uống rượu mừng sự thành công này của cụ. Mời cụ lên tiếng trước tiên. Ông Mômun ngập ngừng hắng giọng. - Chúc cho sự hoà thuận trong nhà này. – Ông nói một cách gượng gạo. - Ở đâu có hoà thuận thì ở đấy có hạnh phúc, các con ạ. - Đúng thế, đúng thế! – Mọi người hùa theo, dốc ngược cốc rượu vào miệng. - Sao lại thế, cụ? Không, như thế không ổn! Cụ chúng mừng hạnh phúc cho rể và con gái, vậy mà chính cụ lại không uống. – Kôkêtai trách ông Mômun, còn ông cụ có vẻ bối rối. - À vâng, nếu là để chúc mừng hạnh phúc thì tôi uống cũng được. – Ông già vội nói. Trước con mắt ngạc nhiên của mọi người, ông tợp một hơi gần hết cốc vôtka đầy, và choáng váng, ông lúc lắc mái đầu già nua. - Giỏi lắm! - Ông già của chúng ta thật khác người! - Ông già của chúng ta cừ khôi lắm! Tất cả đều cười, tất cả đều hài lòng, tất cả đều khen ngợi ông già. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
Trong nhà nóng bức và ngột ngạt. Thằng bé nằm trên giường, lòng tràn ngập nỗi day dứt nặng nề, luôn luôn buồn nôn. Nó nằm nhắm mắt và nghe thấy những người say rượu nhai nhóp nhép, gặm sồn sột, hít khìn khịt, ngốn nuốt thịt Mẹ Hươu Sừng. Họ mời nhau những miếng ngon, chạm những chiếc cốc lem luốc với nhau, bỏ những khúc xương đã gặm vào bát.
- Không phải là thịt thường, mà là thịt ngựa non! – Kôkêtai chép môi, khen ngợi. - Sống trong núi mà không chén thứ thịt như thế này thì thật ngờ nghệch, chúng tôi đâu phải là đồ ngốc. – Ôrôzơkun nói. - Đúng, chính vì thế ta mới ở đây. – Xâyđăcmat phụ hoạ. Mọi người đều khen thịt Mẹ Hươu Sừng: cả bà, cả già Bêkây, cả Gungiaman, thậm chí cả ông Mômun. Thằng bé cũng được người ta dúi cho một đĩa thịt và những thức ăn khác nữa. Nhưng nó từ chối, và thấy nó khó ở, những người say rượu để nó yên. Thằng bé nghiến chặt răng nằm yên. Nó có cảm giác rằng như thế dễ nén cơn buồn nôn hơn. Nhưng nó càng đau khổ hơn vì thấy rõ sự bất lực của mình: nó không đủ sức làm một điều gì để trừng phạt những người này, những người đã giết Mẹ Hươu Sừng. Trong cơn giận chính đáng và trẻ con của nó, trong lúc tuyệt vọng, thằng bé nghĩ ra những cách trả thù khác nhau, tựa hồ như nó có thể trừng phạt họ, bắt họ phải hiểu là họ đã phạm một tội ác ghê gớm như thế nào. Nhưng nó chẳng nghĩ được cách gì hay hơn ngoài cách tưởng tượng đến việc cầu cứu Kulubêc. Phải, chính anh thanh niên mặc áo khoác ngắn quân nhân cùng với những người lái xe trẻ tuổi đánh xe đi lấy cỏ khô trong đêm bão tuyết ấy. Trong tất cả những người thằng bé biết, đấy là người duy nhất có thể khuất phục được Ôrôzơkun, nói đốp vào mặt y tất cả sự thật. … Nghe thằng bé gọi, anh phóng cam-nhông tới, nhảy ra khỏi buồng lái, khẩu tiểu liên nhăm nhăm: - Họ đâu? - Kia ạ. Hai chú cháu chạy vào nhà Ôrôzơkun, xô bật tung cửa. - Đứng im! Giơ tay lên! – Từ ngưỡng cửa, Kulubêc ra lệnh, giọng hăm doạ, tay chĩa tiểu liên. Tất cả đều bàng hoàng. Họ ngây ra vì sợ, ai ngồi đâu nguyên đấy. Những miếng thịt mắc trong cổ họng họ. Tay nhờn mỡ cầm những khúc xương đang gặm, má và miệng nhờn mỡ, thịt no rượu say, họ thậm chí không động cựa được nữa. - Này, đứng lên, tên súc sinh! – Kulubêc gí tiểu liên vào thái dương Ôrôzơkun. Còn y run như cầy sấy, sụp xuống chân Kulubêc, nói lắp bắp. - Xi-xi-in rủ lòng-lòng thư-ương, xin đừng-đừng gi-giết t-tôi! Nhưng Kulubêc một mực không khoan nhượng. - Đi ra, đồ súc sinh! Mày đến ngày tận số rồi! – Anh đá một cú trời giáng vào cái mông béo mỡ của Ôrôzơkun, buộc y phải đứng dậy, ra khỏi nhà. Tất cả những người có mặt đều hoảng sợ và im thin thít, theo ra sân. - Đứng sát vào tường! – Kulubêc ra lệnh cho Ôrôzơkun. – Vì mày đã giết Mẹ Hươu Sừng, vì mày đã chặt cổ sừng mẹ dùng để mang chiếc nôi, mày phải chết. Ôrôzơkun ngã nhào xuống đất bụi. Y bắt đầu bò lê, rú lên, rên rỉ: Xin đừng giết tôi, tôi chẳng có con cái gì cả. Tôi chỉ có một một mình trên đời. Tôi chẳng có con trai, cũng chẳng có con gái… Thói kiêu ngạo, vênh váo của y biến đâu mất rồi! Một tên hèn nhát thảm hại, mạt hạng. Thứ người như thế thậm chí người ta không bõ giết… - Thôi được, ta chẳng thèm giết hắn làm gì, - Thằng bé nói với Kulubêc. – Nhưng phải đuổi hắn cút xéo khỏi nơi đây và bảo hắn không bao giờ được quay trở lại nữa. Ở đây không cần đến hắn. Đuổi hắn đi. Ôrôzơkun đứng lên, xốc lại quần, và không dám ngoái nhìn lại, lật đật chạy đi, thân hình béo ị, phục phịch, chiếc quần galifê xệ xuống. Nhưng Kulubêc chặn y lại: - Đứng lại! Chúng ta nói với ngươi một lời cuối cùng. Ngươi sẽ không bao giờ có con. Ngươi là kẻ độc ác và vô dụng. Ở đây chẳng ai ưa ngươi. Rừng không ưa ngươi, không một cái cây nào, thậm chí không một ngọn cỏ nào ưa ngươi. Ngươi là tên phát xít. Cút đi và không bao giờ được vác mặt về đây nữa. Xéo nhanh chân lên! Ôrôzơkun chạy thẳng một mạch, không hề ngoái cổ lại. - Snen! Snen! – Kulubêc cười ha hả tống tiễn y đi và để doạ y, anh bắn chỉ thiên một tràng tiểu liên. Thằng bé vui sướng và hoan hỉ. Khi Ôrôzơkun mất dạng, Kulubêc nói với tất cả những người khác đang đứng ở cửa, xem ra họ có vẻ bối rối: - Sao các ông các bà lại chung sống với một kẻ như thế? Các ông các bà không thấy hổ thẹn sao? Thằng bé cảm thấy nhẹ nhõm. Thế là đã thực hiện được một việc xét xử công bằng. Và nó tin vào mơ ước cảu mình đến nỗi nó quên bẵng nó đang ở đâu, nhân dịp gì mà người ta đánh chén trong nhà Ôrôzơkun. |
Con tàu trắng - Chingiz Aitmatov (Tiếp theo)
… Tiếng cười rộ lên lôi nó trở lại từ trạng thái khoan khoái ấy. Thằng bé mở mắt, lắng nghe. Ông Mômun không còn ở trong phòng. Ông ra ngoài, chắc là đi đâu có việc gì đó. Đàn bà thu dọn bát đĩa. Người ta chuẩn bị bưng trà lên. Xâyđăcmat đang lớn tiếng kể chuyện gì không rõ. Những người ngồi đấy cười, nghe anh ta kể.
- Rồi sao nữa? - Kể đi! - Này, nghe đây, cậu kể đi, kể lại lần nữa đi, - Ôrôzơkun cười lăn lộn, yêu cầu. – Lão nói về việc ấy như thế nào? Cậu doạ lão ra sao. Ôi, tôi không sao nhịn được cười! - Thế này nhé. – Xâyđăcmat vui lòng kể lại câu chuyện lần nữa. – Chúng tôi vừa mới cho ngựa đến gần những con hươu Maran, còn chúng đứng ở rìa rừng, ba con cả thảy. Chúng tôi vừa buộc ngựa vào cây xong thì ông già chộp lấy tay tôi. Ông cụ nói: “Chúng ta không thể bắn hươu Maran được. Chúng ta là người Bugu, con cháu của Mẹ Hươu Sừng mà!” Ông cụ nhìn tôi, nom cụ cứ như đứa trẻ thơ. Mắt cụ van vỉ. Còn tôi, thật buồn cười đến chết được, chỉ muốn cười lăn ra. Nhưng tôi không cười. Trái lại, tôi làm bộ nghiêm trang, nói: “Sao thế, bố? Bố muốn vào tu chắc?” – “Không.” – ông cụ nói. “Bố nên biết rằng những chuyện hoang đường ấy người ta bịa ra từ thời tăm tối dưới quyền thống trị của các bai, chỉ cốt để doạ dân nghèo đấy thôi!” Thế là ông cụ há hốc mồm ra: “Anh nói gì lạ thế?” Tôi đáp: “Chính thế đấy, bố vứt quách câu chuyện đó đi, không thì con sẽ không nể bố già cả nữa đâu, con sẽ viết đơn tố cáo bố với cơ quan có trách nhiệm”. - Ha-ha-ha! – Những người ngồi đây nhất loạt phá lên cười. Ôrôzơkun cười nhiều hơn ai hết. Y cười hô hố, khoái chí ra mặt. - Thế rồi chúng tôi lên đến gần. Loài thú khác thì đã nhảy biến đi từ lâu, không còn tăm tích đâu nữa, còn những con hươu Maran dỡ khôn dở dại này chẳng chạy gì cả, dường như chúng không sợ chúng tôi. Ờ được, càng tốt, - Xâyđăcmat say rượu kể chuyện, ra chiều khoe khoang. – Tôi cầm súng đi trước. Ông già đi sau. Tôi bỗng cảm thấy nghi ngại. Cả đời tôi chưa hề bắn lấy một con chim sẻ. Mà đây là việc quan trọng. Tôi mà bắn trượt thì chúng sẽ rông tuốt vào rừng, có mà tìm khướt. Có giỏi thì cứ đuổi theo chúng. Chúng sẽ vượt đèo sang bên kia cho mà xem. Làm thế ích gì cho ai, mồi săn như thế mà bỏ lỡ hay sao? Ông già của chúng ta là người đi săn, hồi xưa ông đã từng hạ một con gấu. Tôi bèn bảo ông cụ: “Cụ ơi, súng đây, cụ bắn đi!” Ông cụ nhất định không chịu! Ông cụ bảo: “Anh bắn đi”. Tôi bảo ông cụ: “Nhưng con đang say rượu mà”. Tôi lảo đảo, tuồng như đứng không vững. Thì chính ông cụ đã thấy lúc kéo được cây gỗ dưới sông lên, tôi cùng với các bác đánh ngã một chai rượu mà. Vì thế tôi mới giả vờ say. - Ha-ha-ha!... - Tôi nói: “Con bắn thì thế nào cũng trượt, hươu Maran sẽ chạy mất, nó không trở lại lần thứ hai nữa đâu. Mà ông con ta không nên trở về tay không. Chính ông biết đấy. Về tay không thì coi chừng. Chúng ta được phái đến đấy để làm gì?”. Ông cụ lặng thinh, nhưng không cầm lấy súng. Tôi nói: “Thôi tuỳ ông”. Tôi bỏ súng xuống và làm như định bỏ đi. Ông cụ theo tôi. Tôi nói: “Con thì con chẳng cần, Ôrôzơkun có đuổi con thì con xin vào làm ở nông trường quốc doanh. Còn ông, ông đi đâu lúc tuổi già này?”. Ông cụ lặng thinh. Thế là, để cho mùi mẫn hơn nữa, tôi khe khẽ hát: Từ dãy núi màu hung, màu hung. Tôi cưỡi con ngựa sắc hung đi tới Ôi hỡi thương gia áo hung, mở cửa ra!.. - Ha-ha-ha!... - Ông cụ tin là tôi say thực. Ông cụ đi lấy súng. Tôi cũng quay lại. Trong lúc chúng tôi cãi cọ, hươu Maran đã ra xa hơn một chút. Tôi nói: “Này, ông cẩn thận đấy, kẻo chúng bỏ đi thì đuổi không kịp đâu. Bắn đi, nhân lúc chúng còn chưa hoảng sợ”. Ông già cầm lấy súng. Chúng tôi bắt đầu lên đến gần. Còn ông cụ vẫn lẩm nhẩm như người dở dại: “Tha thứ cho con, hỡi Mẹ Hươu Sừng, xin Mẹ tha thứ cho con…” Còn tôi nhắc lại với ông cụ: “Cẩn thận đấy nhé, ông mà bắn trượt thì ông cứ chạy theo hươu Maran đi đâu thì đi, tốt hơn hết là đừng trở về nữa”. - Ha-ha-ha! Trong không khí chuyếnh choáng giữa những người say rượu đang cười hô hố, thằng bé càng cảm thấy nóng bức và ngột ngạt hơn, cơn đau nở phình ra, không chứa vừa trong đầu làm cho đầu muốn vỡ toác ra. Nó có cảm giác như có kẻ nào dùng chân đá vào đầu nó, có kẻ nào dùng rìu bổ vào đầu nó. Nó có cảm giác như có kẻ nào vung rìu chực bổ vào mắt nó, và nó nguẩy đầu, cố tránh né. Đang mệt lả vì nóng, nó bỗng thấy mình ở trong dòng sông lạnh giá. Nó đã biến thành cá. Đuôi, thân, vây, tất cả đều là cá, chỉ có đầu vẫn là đầu nó, mà lại đau nhức. Nó bơi trong khoảng mát lạnh dìu dịu tăm tối ngầm dưới nước và nghĩ rằng bây giờ nó sẽ mãi mãi là cá và không bao giờ trở lại núi nữa. “Ta sẽ không trở về, - Nó tự nói với mình. – Làm cá còn hơn, làm cá còn hơn…” |
| Giờ Hà Nội. Hiện tại là 18:51. |
Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.