|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
||||
|
||||
|
Sắp tròn ba năm ngày mất của nhà văn Kirghizstan nổi tiếng và rất quen thuộc với bạn đọc Việt Nam qua các tác phẩm truyện ngắn "Người thầy đầu tiên", "Cây phong non trùm khăn đỏ", " Jamilya", tiểu thuyết "Đoạn đầu đài" ...
Năm ngoái, mọi người đã được đọc "Vĩnh biệt Gunxarư"- một tác phẩm đặc sắc miêu tả nội tâm nhân vật Tanabai và con ngựa Gunxarư với những tình cảm nhân văn, những bi kịch, cái Thiện, cái Ác. Còn trong "Con tầu trắng", tác giả thi vị hóa cái đẹp của cuộc sống mà nền tảng là Chân Thiện Mỹ và ước mơ của con người về hạnh phúc. Trong lời giới thiệu, dịch giả Phạm Mạnh Hùng đã viết: " Ông Mômun và chú bé là những người tiêu biểu cho lòng tin của nhân dân về cái đẹp của thiên nhiên, về sự hài hòa và vĩnh cửu của cuộc sống, về lòng nhân ái và yêu lẽ công bằng. Ông già Mômun tin vào câu chuyện Mẹ Hươu Sừng (Theo truyền thuyết, Hươu sừng Maran đã cứu bộ lạc Kirghidi khỏi bị diệt vong và được coi là tổ mẫu của người Kirghidi). Ông đã kế lại chuyện đó cho đứa cháu côi cút bất hạnh của ông. Hình ảnh Mẹ Hươu Sừng ăn sâu và trí óc thằng bé gợi nên trong tâm hồn nó niềm tin vào điều thiện, vào sự bất tử của thiên nhiên và cuộc sống." Xin được trân trọng gõ lại "Con tầu trắng" với tấm lòng tưởng nhớ nhà văn yêu mến - Chingiz Aitmatov.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
CON TẦU TRẮNG
1. Nó có hai huyền thoại. Một của riêng nó, không ai biết. Chuyện kia do ông kể. Rồi chẳng còn huyền thoại nào cả. Ở đây xin thuật lại câu chuyện đó. Năm đó nó vừa tròn bảy tuổi, mới lên tuổi thứ tám.. Mở đầu, nó được mua một chiếc cặp, chiếc cặp giả da mầu đen, có chốt kim loại bật tanh tách luồn qua móc gài. Có túi ngoài để đựng các thứ lặt vặt. Tóm lại là một chiếc cặp học trò hết sức bình thường mà lại rất lạ kỳ. Có lẽ mọi chuyện đều bắt đầu từ đó. Ông nó mua cái cặp ở ô tô bán hàng lưu động khi chiếc ô tô đó đến đây. Chiếc ô tô đó đưa hàng đến bán cho những người chăn gia súc trong núi, dôi khi cũng tạt vào trạm gác rừng của ông cháu nó ở hẻm Xan-Tasơ. Từ trạm gác này, khu rừng cấm qua các khe hẻn và các sườn dốc leo lên tận thượng nguồn. Ở xóm trạm gác chỉ có ba gia đình. Tuy vậy, ô tô bán hàng đôi khi vẫn ghé thăm những người coi rừng. Là một thằng bé duy nhất trong cả ba hộ, bao giờ nó cũng là người trước tiên trông thấy chiếc ô tô bán hàng. -Xe đang đến đấy, - Nó vừa gào ầm lên vừa chạy tới các cửa lớn và cửa sổ.- Ô tô bán hàng đến đấy. Con đường cho xe chạy tới đây khởi đầu từ ven hồ Ix xưc-Kun, luôn luôn qua các khe núi và bờ sông, toàn đá và ổ gà. Cho xe chạy trên con đường như thế không phải là dễ dàng gì. Đến núi Karaun, đường từ đáy lũng hẹp lên trên cao, rồi lại đổ xuống theo sườn núi dựng đứng trơ trụi, chạy dài mãi đếnn sân nhà những người gác rừng. Núi Karaun ở ngay cạnh xóm, mùa hè ngày nào thằng bé cũng chạy lên núi chiếu ống nhòm nhìn ra hồ. Ở đấy, bao giờ cũng nhìn thấy hết mọi thứ trên đường cái, rõ như trên lòng bàn tay: cả người đi bộ, cả người cưỡi ngựa, cà cố nhiên cả ô tô. Lần ấy vào một ngày hè nóng bức, thằng bé tắm trong cái đập nước của mình và từ đấy nó nhìn thấy chiếc ô tô tung bụi trên sườn dốc. Cái đập ở ria bãi sông, trên đá sỏi. Ông nó chất đá đắp nên cái đập ấy. Nếu như không có cái đập thì chưa biết chừng thằng bé đã mất mạng từ lâu. Thì có lẽ như bà nó nói, nước sông đã rửa trắng xương nó từ lâu và cuốn trôi tuột ra hồ Ix xưc-Kun, cá và các loài thủy tộc tha hồ mà ngắm nghía. Sẽ chẳng ai tìm kiếm và đau buồn xót thương nó. Bởi vì ai bảo đi nhảy xuống nước làm gì, vả chăng người ta cũng chẳng thiết gì nó lắm. Hiện thời chuyện đó chưa xảy ra. Chứ nếu xảy ra chuyện chẳng lành thì không chừng bà sẽ chẳng nhảy xuống cứu nó đâu, thật thế đấy. Nếu nó là máu mủ ruột thịt thì chẳng nói đằng này bà lại bảo nó là người dưng. Mà người dưng thì dù có nuôi nấng chăm sóc thế nào đi chăng nữa cũng vẫn cứ là người dưng. Người dưng nước lã…Ừ, nhưng nếu nó không muốn là người dưng thì sao? Tại sao chỉ có nó bị coi là người dưng? Có thể không phải nó, mà chính bà mới là người dưng thì sao? Nhưng chuyện ấy sau này sẽ nói, cả chuyện đập nước cũng để sau…
__________________
Ласковый Май |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-04-2012), Мужик (20-05-2011), eurasia2010 (17-03-2012), Nina (20-05-2011), nthach (18-05-2011), nttt1211 (04-07-2011), Old Tiger (21-05-2011), Vania (18-05-2011) | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Vậy là nó nhìn thấy chiếc ô tô bán hàng từ xa, chiếc xe đang xuống núi, bụi cuốn bốc lên đường theo sau xe. Thằng bé mừng quýnh lên, như thể là nó biết chắc là nó sẽ được mua chiếc cặp. Nó lập tức lên cạn, xỏ đôi chân gầy guộc vào ống quần, và người còn ướt nước, tái ngắt ( nước sông vẫn lạnh) , nó chạy trên con đường mòn về sân, để là người đầu tiên báo tin người bán hàng đang tới.
Thằng bé chạy nhanh, nhảy qua những bụi cây và chạy vòng qua những khối đá tảng nếu không đủ sức chạy qua, không dừng lại lấy một giây ở bất cứ chỗ nào: dù là bên những đám cỏ cao hay bên những khối đá, mặc dù nó biết đấy hoàn toàn không phải là những vật thông thường. Chúng có thể bực tức và ngáng chân cho ngã, “ô tô bán hàng đã đến rồi. Tớ sẽ trở lại sau.”- nó vừa chạy vừa nói với” Lạc đà nằm” (đấy là tên nó đặt cho khối đá hoa cương có bướu lún sâu dưới đất đến ngang ngực.). Bình thường, không bao giờ nó đi qua mà không vỗ vào bướu con “Lạc đà” của mình. Nó vỗ về con lạc đà như chủ vỗ về con vật, như ông nó vỗ về con ngựa thiến cộc đuôi của ông, nhân đi qua thì tiện tay làm thế thôi, như có ý bảo: mày đợi đây nhé, tao đi có việc một lúc. Nó có khối đá ’Yên ngựa": khối đá nửa trắng nửa đen, đốm khoang , lưng oằn xuống có thể ngồi lên như cưỡi ngựa. Còn có khối đá “Chó sói”, rất giống con chó sói lông màu nâu đốm bạc, ót rất khoẻ, gồ trán nặng nề. Thằng bé thường len lén bò tới gần và nhắm bắn. Nhưng khối đá nó thích nhất là “chiếc xe tăng”- khối đá kiên cố vô cùng, ở ngay cạnh sông, chỗ bờ bị xói mòn. Nom cứ như “Chiếc xe tăng” sắp từ trên bờ lao xuống nước, bò đi và sông sẽ sủi réo , tung lên những đợt sóng nhào trắng xoá. Trên màn ảnh, xe tăng cũng từ trên bờ lao xuống nước và bò đi…Thằng bé ít được xem phim, nên nó nhớ như in tất cả những gì đã được xem khi ông đèo cháu đến xem phim ở trại quốc doanh nuôi vật giống, trại này thuộc địa khu lân cận, phía bên kia núi. Chính bởi thế trên bờ sông mới xuất hiện “Chiếc xe tăng” sẵn sàng lao xuống nước, vựơt qua sông. Ngoài ra còn có những khối đá khác, “có hại” hoặc “hiền từ”, thậm chí “ranh mãnh” hay “đần độn”.
__________________
Ласковый Май |
|
#4
|
||||
|
||||
|
Cây cỏ cũng có thứ ‘ đáng yêu’, ‘can đảm’, ‘nhút nhát’, ‘độc ác’ và đủ mọi lọai khác nữa. Chẳng hạn kế gai là kẻ thù chính. Hàng ngày thằng bé dùng dao chiến đấu với nó hàng chục lần. Nhưng cuộc chiến tranh ấy không bao giờ kết thúc: kế gai vẫn cứ sinh sôi nảy nở. Còn bìm bìm ruộng thì tuy cũng là loài hoang dại, nhưng hoa bìm bìm tinh khôn và vui tính bậc nhất. Buổi sáng bìm bìm đón mặt trời hân hoan hơn mọi loài hoa cỏ khác. Các loài cỏ chẳng hiểu gì cả: đối với chúng sáng hay chiều cũng thế thôi. Còn bìm bìm, hễ vừa được tia mặt trời sưởi ấm là liền mở mắt, tươi cười. Thoạt tiên mở một mắt, rồi mắt thứ hai, tiếp đó tất cả các búp hoa đều theo nhau nở bung. Nào là màu trắng màu da trời nhạt, mầu tím nhạt và nhiều mầu khác… Nếu ngồi thật im bên cạnh chúng thì có cảm giác như chúng vừa thức giấc, đang thì thầm với nhau điều gì, khẽ đến nỗi không nghe thấy được. Ngay cả lũ kiến cũng biết như vậy. Buổi sáng, chúng chạy đi chạy lại trên thân bìm bìm, nheo mắt dưới ánh nắng và nghe xem hoa nói gì với nhau. Có lẽ hoa kể lại những giấc chiêm bao chăng?
Ban ngày, thường là giữa trưa, thằng bé thích chui vào những bụi sirangin thân thảo. Sirangin thân cao, không có hoa, nhưng có mùi thơm, mọc thành từng đảo nhỏ, túm tụm vào nhau để các loại cỏ khác không chen đến gần được. Sirangin là những người bạn trung thành. Đặc biệt khi ta có điều gì buồn bực và muốn khóc mà không để ai nhìn thấy thì ẩn vào bụi sirangin là tốt nhất. Sirangin có mùi thơm như mùi gỗ thông ở ven rừng. Ẩn trong bụi sirangin vừa nóng ấm vừa tĩnh lặng. Song cái chính là bụi cây không che lấp bầu trời. Nên nằm ngửa nhìn lên trời. Lúc đầu, qua làn nước mắt hầu như không phân biệt được gì cả. Rồi mây trôi tới và biến hòa thành tất cả những gì ta liên tưởng. Mây biết thằng bé không thoải mái lắm, nó muốn trốn biệt hoặc bay tới một nơi nào để không ai tìm ra nó, để rồi mọi người phải thở dài và kêu lên: thằng bé mất tích rồi, chúng ta biết tìm đâu ra nó bây giờ?... Để chuyện đó không xảy ra, để thằng bé không bỏ đi biệt tích, mà lặng lẽ nằm ngắm mây, mây biến thành tất cả những gì thằng bé muốn. Vẫn những đám mây ấy mà thay đổi hình dạng không cùng. Chỉ cần biết nhận ra những đám mây biến thành cái gì. Còn trong bụi sirangai bao giờ cũng vắng lặng, thân lá không che lấp bầu trời. Siranga là thế đấy, nó có mùi gỗ thông nồng ấm… Thằng bé còn biết nhiều điều linh tinh về các loại cỏ. Đối với cỏ vũ mao trắng mọc trên đồng cỏ úng nước, thằng bé có thái độ bao dung. Vũ mao thật là loại cỏ kì quặc! Tính khí đến là bông lông. Những cụm hoa vũ mao mềm mại óng mượt không thể sống mà không có gió được. Chúng chỉ chờ gió thổi chiều nào là ngả theo chiều ấy. Muôn ngọn như một, cả đồng cỏ ngả rạp xuống, răm rắp theo như một mệnh lệnh. Nếu trời đổ mưa hay cơn giông bùng ra, cỏ vũ mao không biết uốn theo chiều nào. Chúng vật vã lung tung, ngã đổ, ép gí xuống đất. Nếu có chân, chắc hẳn chúng đã phóng chân thục mạng… Nhưng chúng giả tảng đấy thôi. Lặng cơn giông, cỏ vũ mao nông nổi lại ngả nghiêng theo chiều gió…
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-04-2012), Мужик (24-05-2011), hongducanh (29-05-2011), MIG21bis (22-11-2011), nttt1211 (04-07-2011) | ||
|
#5
|
||||
|
||||
|
Độc trọi một mình, không có bạn bè, thằng bé sống giữa những vật mộc mạc xung quanh nó, chỉ riêng chiếc ô tô bán hàng là có thể làm nó quên hết mọi thứ trên đời và ba chân bốn cẳng chạy tới đón gặp. Còn phải nói, ô tô bán hàng đâu phải như những tảng đá và cỏ. Ở đấy nào còn thiếu thứ gì, trong chiếc ô tô ấy!
Thằng bé chạy về đến nhà thì chiếc ô tô bán hàng đã gần vào tới cái sân ở đằng sau mấy căn nhà. Nhà ở khu gác rừng thảy đều quay mặt ra sông, những nhà phụ trong sân thoai thoải đổ thẳng xuống bờ sông, còn ở mé bên kia sông, bắt đầu ngay từ cái bờ dốc đứng bị sói lở, rừng chạy ngươc lên núi, thành thử chỉ có một lối đến trạm gác: lối phía sau các ngôi nhà. Thằng bé mà không chạy về kịp thì hẳn là sẽ không ai biết ô tô bán hàng đã ở đây rồi. Giờ này đàn ông không có ai ở nhà, họ tản đi hết từ sáng rồi. Đàn bà đang bận việc nội trợ. Nhưng đúng lúc đó thằng bé gào lên the thé, chạy tới các cửa nhà mở toang: -Xe đến rồi! Ô tô bán hàng đến rồi! Cánh đàn bà nhốn nhào cả lên. Họ bổ đi tìm tiền nong cất giấu. Rồi họ lao ra khỏi nhà, người nọ vượt lên trước người kia. Ngay đến bà thằng bé cũng khen nó: -Thằng bé nhà này tinh mắt thế đấy! Thằng bé cảm thấy khoái chí, như thể chính nó dẫn chiếc ô tô tới. Nó sung sướng vì đã đem đến cho họ cái tin đó, vì đã cùng với họ chạy đến sân sau, cùng với họ chen đẩy nhau bên cái cửa mở của chiếc ô tô hòm. Nhưng các bà ở đây quên nó ngay. Họ chẳng còn bụng dạ đâu để ý đến nó. Nhiều thứ hàng quá, mắt nhìn cứ hoa cả lên. Có ba người đàn bà: bà thằng bé, già Bêkay, chị của mẹ nó và là vợ của người có quyền hành nhất trạm gác rừng này.- gã tuần rừng. Ô-rô-zơ-kun và cô Gunjaman còn trẻ, bế đứa con gái nhỏ, chị là vợ anh công nhân phụ động Xây-đăc-mat. Cả thảy chỉ có ba người đàn bà. Nhưng họ rối rít tít mù lên, lục tung hàng hóa, xem đi xem lại, khiến người bán hàng phải đòi họ theo thứ tự lần lượt, đừng có nhao nhao cả lên thế. Tuy nhiên lời người bán hàng chẳng ăn thua gì mấy đối với mấy người đàn bà. Thoạt tiên họ vồ lấy tất cả mọi thứ liền một lúc, bắt đầu chọn lựa, rồi trả lại những cái đã chọn. Họ để riêng từng thứ ra, ướm thử, bàn cãi, nghi ngại, gặng hỏi cặn kẽ đến hàng chục lần vẫn một điều. Cái này thì họ không thích, cái kia thì đắt, cái nọ thì màu không hợp… Thằng bé đừng ngoài cuộc. Niềm mong chờ một cái gì khác thường đã tan biến, chẳng còn đâu niềm vui sướng rộn ràng khi nó nhìn thấy chiếc ô tô chạy trên núi. Chiếc ô tô bán hàng bỗng biến thành chiếc ô tô bình thường chất đống những thứ đồ bỏ đi. Người bán hàng cau có: không thấy mấy bà này định mua một thứ gì. Vậy thì tội vạ gì anh ta lái xe đến cái nơi xa xôi hẻo lánh này, vượt qua bao núi non? Sự thể đúng như thế thật. Các bà bắt đầu ngãng ra, sự hăm hở của họ lui hẳn đi, thậm chí dường như họ mệt mỏi. Không hiểu sao họ bắt đầu phân bua, nửa như phân bua với nhau, nửa như với người bán hàng. Bà thằng bé là người đầu tiên lên tiếng than phiền rằng không có tiền. Mà không có tiền trong tay thì không thể mua được hàng. Già Bê-kay không dám mua cái gì nhiều tiền khi chưa được chồng ưng thuận. Già Bê-kay là người đàn bà bất hạnh nhất trên đời, vì già không có con bởi thế lúc rượu vào Ô-rô-zơ-kun thường đánh đập già, điều đó khiến ông khổ tâm; già Bê-kay là con gái ông chứ không phải ai xa lạ. Già Bê-kay mua vài thứ lặt vặt và hai chai vôt-ka. Thật là phí tiền và dại dột: sẽ càng khổ cho già hơn thôi. Bà không nín nhịn nổi: - Sao lại đi mua tai chuốc vạ vào mình như thế? – Bà khẽ càu nhàu, dễ người bán hàng khỏi nghe thấy. - Con biết con làm cái gì chứ. – Già Bê-kay đáp gọn lỏn, ngắt lời bà. - Hừ, đúng là đồ ngu,- Bà lầu bầu càng khẽ hơn, nhưng bộc lộ một vẻ hí hửng độc địa. Không có người bán hàng ở đấy, hẳn bà nhiếc móc già Bê-kay phải biết. Hai người sẽ mắng nhau ra trò cho mà xem!... Cô Gunjaman trẻ tuổi đã gỡ được thế khó xử cho mọi người. Cô thanh minh với người bán hàng rằng Xây-đăc-mat của cô định nay mai ra thành phố, ra thành phố thì cần có tiền, vì vậy cô không thể tiêu mạnh tay được. Thế là họ đã chen lấn nhau chiếc ô tô bán hàng, mua ‘mấy xu’ hàng hóa- nói theo lời người bán hàng,- rồi ai về nhà nấy. hừ, thế có đáng gọi là mua bán không!. Người bán hàng nhổ một bãi nước bọt về phía mấy người đàn bà đã bỏ đi, bắt đầu thu gọn lại những hàng hóa đã bị đảo lộn lung tung để rồi lái xe đi nơi khác. Chợt anh nhận thấy thằng bé. - Chú muốn gì, chú bé tai to kia?- Anh ta hỏi. Thằng bé có đôi tai vểnh lên, cổ ngẩng, đầu tròn và to. – Muốn mua phải không? Thế thì mau mau lên, không chú đóng của đây này. Có tiền không? Người bán hàng hỏi cho có chuyện thế thôi, nhưng thằng bé trả lời một cách lễ phép: - Thưa chú không ạ, cháu không có tiền,- và nó lắc đầu. - Thế mà ta cứ tưởng là cháu có tiền. –Người bán hàng nói dài giọng, vờ ra vẻ không tin. – Các người ở đây ai cũng giàu có cả, chỉ giả nghèo giả khổ đấy thôi. Thế trong túi chú mày có cái gì, không phải tiền ư? - Không phải đâu, chú ạ. – Thằng bé trả lời, vẫn thành thực và nghiêm trang như thế và lộn trái cái túi rách ra. (cái túi thứ hai đã khâu kín lại rồi.) - Thế thì cháu đã để rơi vãi hết mất rồi. Đi mà tìm ở những chỗ cháu vừa chạy qua ban nãy ấy. Nhất định sẽ tìm thấy. Cả hai cùng im lặng. - Cháu là con cái nhà ai vậy? – Người bán hàng lại hỏi- Người nhà ông già Mô-mun phải không ? Thằng bé gật đầu. - Cháu ông cụ phải không? Thằng bé lại gật đầu. - Thế mẹ đâu? Thằng bé không nói gì. Nó không muốn đả động đến chuyện ấy. - Mẹ cháu hoàn toàn bặt tin. Chính cháu cũng không biết tin tức gì, phải không? - Cháu chẳng biết gì cả. - Thế còn bố cháu? Cháu cũng không biết à? Thằng bé im lặng. - Sao lại thế, anh bạn, không biết gì cả ư? Người bán hàng trách móc bằng giọng bông đùa. Thế thì thôi vậy. Cầm lấy này. – Anh ta vôc một nắm kẹo. – Mạnh khỏe nhé. Thằng bé ngần ngại. - Cầm lấy, cầm lấy. Đừng chần chừ gì nữa. Chú phải đi rồi đây. Thằng bé cho kẹo vào túi và toan chạy theo chiếc ô tô, tiễn xe ra đường cái. Nó gọi Ban-têc, con chó xồm lười nhác kinh khủng. Ô-rô-zơ-kun vẫn luôn luôn đe sẽ bắn chết con chó: nuôi con vật như thế làm quái gì. Nhưng ông vẫn cố nài y thư thư ít lâu: cần kiếm một con chó chăn cừu, rồi sẽ đem Ban-têc đi bỏ ở một nơi nào đó. Còn Ban-têc thì thây kệ mọi sự đời: no thì nó ngủ, đói thì nó cứ quấn quýt bên một người nào đó, bất kể là người nhà hay người lạ, cốt sao người ta quẳng cho nó cái gì ăn. Nó thế đấy, con chó Ban-têc ấy. Nhưng đôi khi buồn tình nó cũng chạy theo những chiếc ô tô. Thực ra chỉ một quãng ngắn thôi. Nó lao vút lên rồi quay ngoắt lại và lon ton chạy về nhà. Một con chó không đáng tin cậy. Nhưng dù sao đuổi theo ô tô có con chó chạy theo bên cạnh vẫn thú hơn chạy một mình gấp một trăm lần. Gì thì gì vẫn cứ là có một con chó… Lén lút, không để người bán hàng nhìn thấy, thằng bé ném cho con chó một cái kẹo.”Liệu chừng nhé,- Nó báo trước cho con chó. – Ta sẽ chạy lâu đấy”. Ban-têc khẽ ăng ẳng, ve vẩy đuôi: nó vẫn còn chờ đợi. Nhưng thằng bé không dám vứt cho nó cái kẹo nữa. Không thể làm người bán hàng phật lòng, chú ấy cho nó một vốc kẹo không phải để ném cho chó.
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-04-2012), Мужик (24-05-2011), hongducanh (29-05-2011), MIG21bis (22-11-2011), nttt1211 (04-07-2011) | ||
|
#6
|
||||
|
||||
|
Vừa hay ông nó đến. Trước đó ông già đi ra chỗ nuôi ong, ở chỗ nuôi ong thì không nhìn thấy gì phía sau nhà. May sao ông về kịp thời, xe bán hàng chưa đi, chỉ là sự tình cờ. Không thì cháu ông đã không có cái cặp. Hôm ấy thằng bé gặp may.
Ông già Mô-mun được những người tinh khôn lõi đời đặt cho cái biệt hiệu là lão Mô-mun nhanh nhảu. Cả vùng đều biết ông già, còn về phần ông, không một người nào là ông không biết. Cái biệt hiệu đó rất đúng với Mô-mun: ông luôn luôn niềm nở với bất cứ ai, dù chỉ là quen biết sơ sơ, bao giờ ông cũng sẵn long làm một việc gì giúp bất kì người nào cần đến. Tuy nhiên, chẳng ai quý trọng cái nhiệt tâm của ông, cũng như vàng không còn là của quý nữa nếu như bỗng nhiên nó được đem ra phát không. Chẳng ai tôn trọng Mô-mun như người ta thường đối xử với những bậc già cả vào tuổi ông. Người ta đối xử với ông không giữ lễ gì hết. Nhiều khi, trong những bữa tiệc tang linh đình nhân dịp một bậc già cả quyền quý nào đó của bộ tộc Bugu tạ thế,- mà Mô-mun gốc gác là người Bugu, ông rất tự hào về điều này và không bao giờ bỏ qua những bữa cỗ tang như thế, người ta giao cho ông mổ thịt gia súc, đón các vị khách danh dự, đỡ họ xuống ngựa, bưng trà, có khi cả bổ củi, xách nước. Trong đám cỗ tang lớn, bao nhiêu khách khứa khắp nơi về dự, công việc bề bộn biết chừng nào? Bất kể được giao việc gì, Mô-mun đều làm một cách nhanh chóng, dễ dàng. Song cái chính là ông không thoái thác như những người khác. Những phụ nữ nông dân trẻ tuổi trong bản có nhiệm vụ tiếp đãi đám khách khứa đông đảo ấy, khi thấy Mô-mun đảm đương công việc đó chu tất như thế nào, họ nói: - Không có lão Mô-mun nhanh nhảu thì bọn ta xoay sở sao nổi! Có khi ông già từ xa đến, cho cả cháu đi theo, vậy mà ông lại làm chân phụ việc cho gã gighit đun ấm xa-mô-va. Người khác ở địa vị ông già Mô-mun hẳn phải phát uất lên vì cảm thấy bị xỉ nhục. Thế mà ông già Mô-mun cứ điềm nhiên như không! Và chẳng ai lấy làm lạ về việc ông già Mô-mun nhanh nhảu hầu hạ khách khứa: có thế suốt đời ông mới là ông già Mô-mun nhanh nhảu. Ông mang danh là lão Mô-mun nhanh nhảu thì chính là lỗi tại ông thôi. Nếu có người lạ nào đó tỏ ý ngạc nhiên về nỗi ông già cả như thế mà lại đi chạy việc vặt cho bọn đàn bà, chẳng lẽ trong bản hết cả trai tráng rồi sao, thì Mô-mun trả lời: "Người quá cố là anh em của tôi. (Bất cứ người Bugu nào cũng được ông coi là anh em của mình. Nhưng họ cùng là chỗ "anh em" không kém gần với các khách khác.) Ngày cỗ đám người anh em của tôi, tôi không làm thì ai làm kia chứ? Người Bugu chúng ta thảy đều là dòng dõi của bà cụ tổ Mẹ Hươu sừng của chúng ta mà. Mẹ Hươu sừng chí linh thánh đã căn dặn chúng ta phải yêu thương anh em cả khi còn sống cũng như khi đã khuất…”
__________________
Ласковый Май Thay đổi nội dung bởi: Siren, 24-05-2011 thời gian gửi bài 04:43 |
|
#7
|
||||
|
||||
|
Ông già ấy thế đấy, lão Mô-mun nhanh nhảu!
Già trẻ lớn bé đều gọi ông là “lão”, kẻ nào cũng có thể bỡn cợt ông: ông già vốn hiền lành. Chẳng cần coi trọng ông: bao giờ ông cũng nhẫn nhịn. Chẳng thế mà thiên hạ bảo rằng người đời chẳng hề dung tha những kẻ không biết bắt kẻ khác phải tôn trọng mình. Mô-mun lại không biết làm việc đó. Ông biết làm nhiều thứ trên đời. Ông đã từng là thợ mộc, thợ làm yên cương, đã từng là người đánh đống cỏ khô. Hồi còn chưa già lắm, ở nông trang ông đã đánh những đống cỏ khô đẹp đến nỗi mùa đông dỡ ra người ta thấy tiếc: trời mưa, nước cứ chuội đi như chạm vào lông ngỗng, tuyết xuống đọng lại thành mái hai dốc. Thời chiến tranh ông là người lính trong đội quân lao động Magni-tô-gorxk, ông xây tường nhà máy và đã được tặng danh hiệu chiến sĩ Xtakha-nô-vitx. Sau chiến tranh trở về, mấy ngôi nhà ở xóm gác rừng đều do ông dựng nên, ông làm thợ rừng. Tuy chỉ là thợ phụ, nhưng chính ông trông coi rừng, còn Ô-rô-zơ-kun, con rể ông, thì luôn có người mời mọc, thành thử cứ đi vắng suốt. Chỉ khi nào bất thình lình có cấp trên về, khi ấy Ô-rô-zơ-kun mới thân hành đưa khách đi thăm rừng, tổ chức săn bắn, khi ấy y đứng ra làm chủ. Mô-mun chăm nom gia súc, nuôi ong, suốt đời ông làm lụng từ sáng tới tối, lúc nào cũng lo âu bận bịu, may mà không biết cách làm cho người khác phải trọng mình. Ngay cả vẻ bề ngoài, Mô-mun cũng không ra dáng một Ăc-xa-kan tí nào. Không có phong thái đạo mạo, không uy nghi, không nghiêm nghị. Ông là người đôn hậu, thoạt nhìn đã đoán ngay được ông có cái đức tính bất lợi ấy của con người. Thời buổi nào người ta cũng vẫn răn dạy những kẻ như vậy: “chớ có nhân từ, phải ác mới được. Nhớ lấy,ghi tạc vào long! Phải ác mới được.” Thế nhưng, tai hại thay,ông vẫn cứ là người tốt bụng, không sao sửa đổi được. Nét mặt ông tươi cười, và nhăn nheo, con mắt lúc nào cũng như dò hỏi: “Anh cần gì? Anh muốn tôi giúp anh việc gì chăng? Tôi xin làm ngay, chỉ cần bạn cho tôi biết bạn cần gì”. Mũi ông mềm, kiểu mũi vịt, hầu như không có sụn. Vóc dáng ông lão lại bé nhỏ, nom ông lanh lẹn như một chú bé. Còn râu lại chẳng ra râu. Chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ. Cằm trơn nhẵn lơ thơ mấy sợ màu hung nhạt: cả bộ râu chỉ có thế. Sự thể sẽ khác hẳn nếu như ta thấy một ông già quắc thước đi trên đường, râu rậm lòa xòa, mình mặc áo da lông thùng thình, ve áo lốt lông cừu non, đội chiếc mũ chùm đắt tiền, con ngựa ông cưỡi lại là con tuấn mà mang bộ yên nạm bạc, ai không bảo đấy là bậc hiền triết, là đấng tiên tri, có rạp mình xuống chào một người như thế cũng không thẹn mặt, người như thế đến đâu cũng được tôn kính! Còn Mô-mun sinh ra đời chỉ là lão Mô-mun nhanh nhảu. Có lẽ ưu thế duy nhất của ông là ông không sợ hạ mình trước bất cứ ai. (Ông ngồi không đàng hoàng, nói năng không chững chạc, trả lời không thỏa đáng, mỉm cười vụng về, không đúng cách, không khéo, vụng về…) Xét theo ý nghĩa này, Mô-mun là người hạnh phúc hiếm có, tuy đó là điều chính ông không ngờ tới. Nhiều người chết vì bệnh tật thì ít, mà chủ yếu là vì một tham vọng bất trị, đeo đẳng họ suốt đời, làm họ héo mòn mãi đi, cứ muốn cho mình lớn lao hơn con người thực của mình. (Ai không muốn được tiếng là người thông minh, xứng đáng, đẹp đẽ, thêm nữa lại là người đáng gờm, công bằng, kiên quyết? …)
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#8
|
||||
|
||||
|
Nhưng Mô-mun không phải là người như thế. Ông là người kì quặc, và người ta đối xử với ông như một kẻ gàn dở.
Điều duy nhất có thể khiến Mô-mun uất giận ghê gớm là người ta quên không mời ông đến dự cuộc họp gia tộc bàn về việc ma chay cho một người nào đó… Khi ấy ông giận lắm và coi đó là một sự xúc phạm nghiêm trọng, nhưng không phải vì người ta lờ ông đi- trong cuộc họp bàn, dù sao ông cũng chẳng quyết định gì, chỉ ngồi cho có mặt- mà duyên do là vì cái bổn phận vốn có tự ngàn xưa đã không được tôn trọng. Mô-mun cũng có những rủi ro và những nỗi chua xót khiến ông đau khổ, khiến đêm đêm ông phải phát khóc. Người ngoài hầu như không biết gì về chuyện đó. Nhưng người nhà thì biết. Khi Mô-mun thấy cháu đứng cạnh chiếc ô tô bán hàng, ông hiểu ngay rằng thằng bé có điều gì buồn phiền. Nhưng vì người bán hàng là người ở nơi khác đến, nên ông chào hỏi người đó trước. Ông nhanh nhẹn nhảy trên yên xuống, giơ cả hay tay về phía anh ta. - Axalam-a-lây-kum, nhà đại khách thương.- Ông nói nửa đùa nửa thật. Thương đoàn của ông tới nơi bình an chứ, việc buôn bán của ông phát đạt chứ ạ?- Mô-mun hớn hở lắc tay người bán hàng. – Đã bao nhiêu nước chảy qua cầu kể từ lần gặp gỡ trươc đây! Thật là vạn hạnh! Người bán hàng cất tiếng cười giễu cợt những lời lẽ trịnh trọng và hình dạng xấu xí của ông già- vẫn đôi ủng giả da đã quá tàng ấy, chiếc quần vải thô ấy do bà lão may cho, chiếc áo vét- tongo sờn rách, cái mũ dạ dãi dầu mưa nắng đã ngả màu nâu. Anh ta trả lời lão Mô-mun: - Thương đoàn không suy suyển. Khốn nỗi thương gia đến mà các ông tránh mặt, bỏ vào rừng và xuống lũng hết. Các ông lại căn dặn vợ giữ gìn từng xu như giữ gìn linh hồn trước khi chết. Như thế thì dù có chất đầy hàng hóa ở đây cũng không ai bỏ tiền ra mua. - Xin lượng thứ cho, ông bạn quý hóa. – ông già Mô-mun ngượng ngùng xin lỗi. –Nếu biết anh đến thì chúng tôi chẳng tản tác đi như vậy đâu. Còn tiền đã không có thì chẳng moi đâu ra được. Mùa thu này chúng tôi bán được khoai thì… - Đừng nói chuyện hươu vượn! – Tôi biết các người rồi, những ông nhà giàu thối tha ơi. Các ông ngồi trong núi, đất đai, cỏ khô bao nhiêu cũng có. Xung quanh toàn rừng là rừng, có cưỡi ngựa đi vòng quanh ba ngày cũng chưa hết. Ông có nuôi gia sức chư? Có nuôi ong chứ? Vậy mà một xu cũng không dám bỏ ra, cứ bo bo giữ tiền. mua cái chăn lụa này đi, máy khâu còn một chiếc đây này… - Tình thực là không có tiền mua những thứ ấy, - ông già Mô-mun thanh minh. - Ông nói thế thì tôi biết thế. –Ông sẻn nhặt tích tiền, ông già ạ. Định dùng vào việc gì? - Tình thực là không có, tôi xin viện Mẹ Hươu sừng ra mà thề. - Này, lấy tấm nhung kẻ này đi, may lấy chiếc quần mới. - Xin thề có Mẹ Hươu sừng, tôi sẽ mua ngay nếu như… - Hừ, nói chuyện với ông rõ chán! Người bán hàng phảy tay. – Tôi đến thật uổng công. Thế Ô-rô-zơ-kun đâu? - Anh ấy đi từ sáng, đâu như đến Ắc-xai thì phải. Có việc cần gặp những người chăn cừu. - Như vậy là gã được mời đi đánh chén đấy. – Người bán hàng tỏ ra thông hiểu. Một lúc yên lặng ngượng ngập. -Xin đừng giận, anh bạn thân mến ạ. – Mô-mun lại lên tiếng. – Nhờ trời, đến mùa thu, chúng tôi bán được khoai… - Còn lâu mới đến mùa thu. - Thôi thì anh bỏ qua cho. VÌ long mến Chúa, mời anh vào dùng chén trà. - Tôi đến đây không phải để ngồi uống trà.- Người bán hàng từ chối. Anh ta bắt đầu đóng của xe và chợt nhìn thấy thằng bé đứng cạnh ông già, tùm một tai con chó, sẵn sàng chạy theo xe, anh ta nói luôn: - Này, thế thì mua lấy chiếc cặp vậy. Thằng bé cũng đến tuổi đi học rồi chứ nhỉ? Nó mấy tuổi? Ông lão Mô-mun vồ ngay lấy sự gợi ý ấy: dù sao ông cũng phải mua cái gì cho anh chàng bán hàng gan lì này, vả chăng cháu ông cũng cần cái cặp thực, mùa thu này nó đến trường rồi. - Ờ phải đấy, -Mô-mun quýnh lên. – Thế mà tôi không nghĩ ra. Đúng vậy, nó hơn bảy tuổi rồi còn gì. Lại đây, cháu. – Ông gọi thằng bé. Ông cụ lục túi, lấy ra đồng năm rúp cất giữ cẩn thận.Hẳn là nó nằm trong túi ông lão đã lâu lắm rồi. - Cầm lấy này, chú bé tai to. – Người bán hàng nháy mắt với thằng bé một cách ranh mãnh và giao cho nó chiếc cặp. – Bây giờ chịu khó học đi nhé. Chứ không thông chữ nghĩa thì rồi sẽ suốt đời ru rú trong núi với ông thôi. - Nó sẽ học giỏi chứ! Cháu tôi sáng dạ lắm mà, - ông già khẽ nói, Bàn tay rắn chắc, nặng chịch của ông dịu dàng chùm lên đầu thằng bé. Thằng bé bỗng cảm thấy tắc nghẹn trong họng, cảm quan nhạy bén khiến nó thấy rõ ông gầy quá, nó ngửi thấy mùi áo quần quen thuộc của ông. Ở ông nó tỏa ra mùi cỏ khô và mùi mồ hôi của người làm lụng vất cả. Ông là người ruột thịt thân tín của thằng bé, có lẽ là người duy nhất trên đời hết lòng yêu thương nó, vậy mà đấy là một ông già chất phác, hơi gàn dở được những người tinh khôn đặt cho cái biệt hiệu là lão Mô-mun nhanh nhảu… Thì đã sao? Gì thì gì, vẫn cứ là có ông có cháu, có ông là thú rồi.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#9
|
||||
|
||||
|
Chính thằng bé không hề ngờ rằng nó sẽ có một niềm vui lớn lao như thế. Cho đến giờ, nó chưa hề nghĩ tới chuyện được cắp sách tới trường. Cho đến giờ nó mới chỉ thấy những đứa trẻ khác cắp sách đến trường: bọn trẻ ở bên kia núi, trong các làng bên hồ Ix-xưc-kun, nơi nó cùng đi với ông dến dự cỗ đám của các ông già quyền quý. Từ lúc đó, thằng bé không rời cái cặp lấy một giây. Thích quá và muốn khoe, nó tức tốc chạy đi gặp tất cả mọi người trong trạm gác. Thoạt tiên nó khoe với bà- ông mua cho đấy, - rồi khoe với ông già Bê-kaay,già cũng vui thích về cái cặp và khen ngợi chính thằng bé.
Hiếm khi già Bê-kaay vui vẻ. Thường thì già ủ rũ và bẳn tính, không để ý gì đến thằng cháu. Già chẳng còn bụng dạ đâu mà bận tâm đến nó. Già có những nỗi khổ riêng của mình. Bà thường nói: giá như già có con thì già sẽ thành người khác hẳn. Cả Ô-rô-zơ-kun, chồng già, cũng sẽ khác. Khi ấy cả ông Mô-mun cũng khác, chứ không như hiện nay. Tuy ông có hai con gái, già Bê-kay và mẹ thằng bé là con gái út, nhưng không phải con bà đẻ ra thì vẫn đáng buồn, thật đáng buôn. Mà đáng buồn hơn nữa là con mình lại không có con. Bà nói như thế đấy. Nên hiểu nỗi lòng bà… Khoe với già Bê-kay xong, thằng bé chạy ngay đi gặp cô Gungjaman và đứa con gái nhỏ của cô để phô cái cặp mới mua. Rồi nó phóng ra bãi cắt cỏ tìm Xây-đăc-mat. Nó lại chạy qua chỗ tảng đá “lạc đà” màu hung và không có thời gian vỗ vào bướu con lạc đà, nó chạy qua chỗ khối đá “ Yên ngựa”, “Chó sói”, “xe tăng” tiếp đó cứ men theo bờ sông, theo con đường mòn, vượt qua những bãi sa táo, rồi theo một dải đất đai cắt trụi hết cỏ, nó chạy đến chỗ Xây-đăc-mat. Hôm nay chỉ có một mình Xây-đăc-mat ở đây. Ông đã cắt xong cỏ ở khu vực mình từ lâu, luôn thể cắt luôn cả khu vực của Ô-rô-zơ-kun. Cỏ cắt được đã chở về hết rồi: bà và già Bê-kay chất cỏ vào một chỗ, ông Mô-mun bó lại, còn thằng bé giúp ông mang cỏ ra xe. Cỏ được đánh thành hai đống cạnh chuồng bò. Ông đánh đống cỏ khô chu đáo đến nỗi mưa to thế nào cũng không ngấm vào nổi. Những đống cỏ trơn nhẵn như chải bằng lược. Năm nào cũng thế Ô-rô-zơ-kun không cắt cỏ, phó mặc cho bố vợ: dù sao y cũng là cấp trên kia mà. Y nói : “Nếu muốn, tôi sẽ đuổi cổ các người ngay, thế là mất công việc làm”. Ấy là y nói ông cụ và Xây-đăc-mat. Và y nói lúc say rượu. Ông cụ thì y không dám đuổi đâu. Đuổi thì lấy ai làm việc? Cứ thử thiếu ông mà xem? Trong rừng rất lắm việc, nhất là vào mùa thu. Ông vẫn bảo: “Rừng không phải là đàn cừu, không chạy tản tác đi được. Nhưng phải coi sóc nó không kém gì đàn cừu. Vì dễ xảy ra cháy rừng hay nước lũ từ trên núi đổ xuống thì cây không nhảy đi nơi khác được, không dời đi đâu được, nó sẽ chết tại chỗ. Nhiệm vụ của người coi rừng là làm thế nào để cây không bị chết”. Còn Xây-đăc-mat thì Ô-rô-zơ-kun sẽ không đuổi vì anh ta hiền khô. Chuyện gì cũng mặc vì anh ta không xen vào, không cãi lại. Anh chàng tuy hiền lành và khỏe mạnh, nhưng lại lười, thích ngủ. Chính vì thế nên anh ta mới kiếm cái chân coi rừng. Ông bảo: “Ở nông trường quốc doanh, những gã trai tráng như thế lái ô tô, cầy bằng máy kéo kia chứ”. Ở vườn rau của Xây-đăc-mat, cỏ tân lê mọc lấp cả khoai. Gungiaman phải vừa bế con phải vừa làm vườn. Vào vườn cắt cỏ, Xây-đăc-mat cứ đẩy đưa mãi chưa chịu làm. Hôm kia ông mắng anh ta. Ông nói: “Mùa đông năm ngoái không phải tôi thương hại anh đâu, tôi thương gia súc đấy thôi. Bởi thế tôi mới san sẻ cho anh một phần cỏ khô. Nếu anh vẫn lại trông cậy vào cỏ khô của lão già này thì cứ nói ngay đi, tôi sẽ cắt cỏ hộ anh”, Xây-đăc-mat nghe ra, và sáng nay anh ta mang liềm đi cắt cỏ.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#10
|
||||
|
||||
|
Nghe thấy tiếng bước chân phía sau lưng, Xây-đăc-mat quay lại, đưa ống tay áo lên lau mặt.
- Gì thế cháu? Gọi chú về phải không? - Không. Cháu có cái cặp. Đây này. Ông mua cho cháu đấy. Cháu sẽ đi học, đến trường hẳn hoi. - Vì chuyện ấy mà cháu chạy đến đây ư? – Xây-đăc-mat cười rộ,- Ông già Mô-mun là người như thế này này,- anh ta dừng một ngón tay xoay tròn quanh thái dương,- cháu thì cũng thế! Nhưng thôi, xem cái cặp thế nào nào. – Anh ta gài khóa đánh tách một cái, hai tay xoay xoay cái cặp một lúc, rồi trả lại, lắc đầu ra ý diễu cợt. - Ờ khoan,- Anh ta kêu lên, -mà cháu sẽ vào học trường nào chứ? Trường của cháu ở đâu nhỉ? - Còn trường nào nữa? Trường ở trại chăn nuôi chứ gì? - Đi bộ đến tận Giê-lê-xai kia ấy! - Xây-đăc-mat ngạc nhiên,- Phải đến năm ki-lô-mét vượt qua núi chứ không ít. - Ông bảo ông sẽ đèo cháu đi bằng ngựa. - Ngày nào cũng đưa đi đưa về à? Ông già kì quặc thật.. Nhân tiện ông già cũng vào trường học luôn thể. Ngồi cùng bàn với cháu, tan học hai ông cháu cũng về! - Xây-đăc-mat cười lăn ra. Anh ta buồn cười nôn ruột khi tưởng tượng ông già Mô-mun ngồi cùng bàn với cháu. Thằng bé im lặng sững sờ. - Chú nói chơi để cười cho vui thôi mà! – Xây- đăc-mat nói chữa. Anh ta búng nhẹ vào mũi thằng bé, kéo chiếc mũ cho mảnh lưỡi trai sụp xuống mắt thằng bé ( nó đội chiếc mũ lưỡi trai của ông). Ông già Mô-mun không đội chiếc mũ lưỡi trai đồng phục của nhân viên lâm nghiệp, đội nó ông cảm thấy ngượng ( “Tôi có là loại cán bộ lãnh đạo gì đâu? Tôi không đổi chiếc mũ Kirghi-zơ của tôi lấy bất cứ chiếc mũ nào khác). Mùa hè ông già Mô-mun đội chiếc mũ dạ thời hồng hoang, “ nguyên là” chiếc ăc-koon-păc – chiếc mũ trắng không vành, ria mũ viền xa tanh đen đã mất hết tuyết,- mùa đông ông đội chiếc mũ lông cừu cũng thuộc loại mũ từ thời hồng hoang. Chiếc mũ lưỡi trai đồng phục của công nhân lâm nghiệp thì ông cho cháu đội. Thằng bé không ưa thái độ giễu cợt của Xây-đăc-mat đối với cái sự việc mới lạ mà nó vừa cho biết. Nó cau có hất vành lưỡi trai lên trán, và khi Xây-đăc-mat lại toan búng mũi nó lần nữa, nó nguẩy đầu đi và cự lại. - Đừng có lôi thôi! - Ái chà chà, chú mày sao mà cáu kỉnh thế! - Xây-đăc-mat nhếch mép cười. – Mà thôi, đừng giận. Cái cặp của chú mày coi được đấy! – Và anh ta vỗ vai thằng bé. – Bây giờ chú mày về đi. Tớ còn phải cắt cỏ khướt người ra đấy… Xây-đăc-mat nhổ bọt vào hai lòng bàn tay, lại vơ lấy cái hái. Còn thằng bé chạy về nhà, vẫn theo con đường mòn ấy, lại qua bên những khối đá ấy. Lúc này không có thời giờ đâu nô giỡn với những khối đá. Cái cặp là vật quan trọng. Thằng bé thích nói chuyện một mình. Nhưng lúc này, nó nói chuyện không phải với bản thân mình, mà với cái cặp: “Mày đừng tin anh ta, ông tao không phải như thế đâu. Ông rất mộc mạc, vì thế người ta chế nhạo ông. Chỉ vì ông không ma mãnh chút nào. Ông sẽ đèo tao và mày đến trường. Mày vẫn chưa biết trường ở đâu phải không? Không xa lắm đâu. Tao sẽ chỉ cho mày xem. Chúng ta sẽ chiếu ống nhòm nhìn xuống trường từ trên núi Ka-ra-un. Tao sẽ cho mày xem cả con tàu trắng của tao nữa. Nhưng trước hết chúng ta hãy tạm vào nhà kho đã, tao giấu chiếc ống nhòm ở đấy. Lẽ ra tao phải coi giữ con bê, nhưng lần nào tao cũng lẩn đi xem con tàu trắng. Con bê nhà tao đã lớn rồi, có dắt trộm đi cũng không giữ nổi nó, vậy mà nó không bỏ được thói quen bú sữa con bò cái. Con bò cái là mẹ nó, và bò mẹ không tiếc sữa. Mày hiểu không? Các bà mẹ không bao giờ tiếc cái gì cả? Cô Gun-gia-man nói như thế đây, cô ấy có một đứa con gái bé… Chẳng bao lâu nữa người ta sẽ vắt sữa con bò cái, rồi chúng ta sẽ lùa bê ta đi ăn cỏ. Khi ấy chúng ta sẽ lên núi Ka-ra-un và từ trên núi ta sẽ nhìn thấy con tàu thủy trắng. Tao cũng vẫn nói chuyện với chiếc ống nhòm như thế. Bây giờ chúng ta sẽ có ba người: tao, mày, chiếc ống nhòm…”
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#11
|
||||
|
||||
|
Nó trở về nhà trong tâm trạng như thế. Nó rất thích nói chuyện với cái cặp. Nó định tiếp tục cuộc chuyện trò đó, nó muốn kể chuyện về bản thân nó, điều mà chiếc cặp chưa biết. Nhưng nó bị quấy rầy. Ở phía trên có tiếng vó ngựa lộp cộp. Một người cưỡi ngựa xám từ sau đám cây đi ra. Đây là Ô-rô-zơ-kun. Y cũng trở về nhà. Con ngựa xám Alabas này, y không cho ai được cưỡi, ngoài y ra. Nó thắng cỗ yên dùng trong những chuyến đi long trọng, có bàn đạp bằng đồng, có đai ngực, có những đồ trang sức bằng bạc treo lủng lẳng, kêu leng keng.
Chiếc mũ của Ô-rô-zơ-kun tụt ra sau gáy, để lộ ra cái trán thấp đỏ ửng. Trời nóng nực khiến y thiu thiu ngủ. Y ngủ trong khi ngựa vẫn đi. Chiếc áo cổ đứng bằng nhung kẻ, may không lấy gì làm khéo lắm theo kiểu áo các cán bộ lãnh đạo của huyện thường mặc, cởi hết cúc từ trên xuống dưới. Chiếc sơ-mi trắng buột ra khỏi thắt lưng ở trước bụng. Y đã đánh chén no say. Y vừa đi thăm viếng đâu về, đã uống Ku-mux và ăn thịt no chán. Đến kì đưa gia súc vào núi chăn thả trong mùa hè, những người chăn cừu và chăn ngựa đàn thường mời Ô-rô-zơ-kun tới để khoản đãi. Y có nhiều bạn bè cũ trong số đó. Nhưng họ mời mọc cũng có ý đồ cả. Họ cần đến y. Đặc biệt là những người đang dựng nhà, nhưng bản thân họ lại phải ở lì trong núi. Không thể bỏ mặc đàn gia súc mà đi được, vậy thì kiếm đâu ra vật liệu xây dựng? Trước hết là gỗ. Chiều chuộng Ô-rô-zơ-kun thì có thể hắn sẽ đưa đến cho vài ba súc gỗ hạng nhất lấy trong khu rừng cấm. Không thì cứ lang thang trong núi với đàn gia súc, còn nhà thì cả đời chưa xây xong… Dáng bộ lừ đừ và oai vệ, Ô-rô-zơ-kun thiu thiu ngủ trên yên ngựa, uể oải tì mũi đôi ủng bốc- can vào bàn đạp. Vì bất ngờ, suýt nữa y bắn văng khỏi mình ngựa khi thằng bé chạy tới đón gặp y, tay vung cái cặp. - Bác Ô-rô-zơ-kun cháu có cái cặp. Cháu sẽ đến trường học. Cháu có cái cặp đây này. - Ô, cái thằng chết tiệt! – Ô-rô-zơ-kun sợ hãi kéo dây cương, mắng thằng bé. Y giương cặp mắt say rượu, hum húp, đỏ ngầu vì ngái ngủ nhìn thằng bé. - Mày làm cái trò gì thế? Mày ở đâu ra vậy? - Cháu về nhà. Cháu có cái cặp, cháu đã cho chú Xây-đăc-mat xem.- thằng bé nói bằng giọng chán nản. - Thôi được, đi chơi đi. – Ô-rô-zơ-kun lầu bầu và ngật ngưỡng trên yên, cho ngựa tiếp tục đi. Y hơi đâu mà bận tâm đến cái cặp dớ dẩn ấy, đến thằng bé bị bố mẹ bỏ rơi ấy, thằng cháu của vợ y, một khi chính y đang hết sức oán trách số phận vì thượng đế không cho y một đứa con trai mang dòng máu của chính y, trong khi đó Ngài lại rộng lòng ban cho kẻ khác con đàn cháu đống… Ô-rô-xơ-kun sụt sùi và nức lên một tiếng. Nỗi tủi hờn khiến y nghẹt thở. Y hận về nỗi đời y sẽ đi qua không để lại dấu vết gì và nỗi căm giận mụ vợ không sinh đẻ bừng bừng trong lòng y. Con mụ đáng nguyền rủa ấy, đã bao nhiêu năm nay mà chẳng thai nghén gì được… “Tao sẽ cho mày một trận! “- Ô-rô-zơ-kun thầm hăm dọa trong óc, hai bàn tay nần nẫn nịt nắm chặt lại, và y rên lên một tiếng nghẹn ngào để khỏi bật khóc thành tiếng. Y biết: về đến nhà y sẽ đánh vợ. Mỗi lần Ô-rô-zơ-kun nốc rượu say đều xảy ra như thế. Gã Mugich nom như con bò mộng này đâm ra u mê đi vì đau xót và giận dữ. Thằng bé đi sau trên con đường mòn. Nó ngạc nhiên khi Ô-rô-zơ-kun đi ở phía trước bỗng biến đâu mất. Chính lúc đó, Ô-rô-zơ-kun rẽ ra sông, xuống ngựa, vứt bỏ dây cương, xăm xăm vượt qua đám cỏ cao. Y đi lom khom, loạng choạng, hai tay bưng mặt, cổ rụt lại. Đến bờ sông, Ô-rô-zơ-kun ngồi xổm xuống. Y chụm hai bàn tay vốc nước sông táp vào mặt. “Chắc bác ấy đau đầu vì trời nóng quá”,- thằng bé tự bảo, khi thấy Ô-rô-zơ-kun làm như vậy. Nó không biết rằng Ô-rô-zơ-kun khóc và không sao nén được tiếng nức nở. Y khóc vì thằng bé chạy đến đón y không phải là con trai y, vì y không tìm thấy trong lòng y một tình cảm gì thích hợp để nói mấy lời tử tế với thằng bé mang chiếc cặp đến khoe y.
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#12
|
||||
|
||||
|
ĐỨNG TRÊN ĐỈNH NÚI KARAUN NHÌN THẤY được quang cảnh tất cả các vũng xung quanh. Thằng bé nằm úp sấp, ướm cái ống nhòm vào mắt. Đấy là chiếc ống nhòm dã chiến loại khỏe. Trước đây ông nó được thưởng chiếc ống nhòm này vì đã phục vụ lâu ở trạm gác rừng. Ông già không thích bận bịu với chiếc ống nhòm: “ mắt tôi nhìn chẳng kém gì hết”. Nhưng cháu ông thích chiếc ống nhòm lắm.
Lần này nó lên núi mang theo cả chiếc ống nhòm và chiếc cặp. Thoạt đầu mọi vật nhảy nhót, lẫn vào nhau trong cái mắt kính tròn, rồi đột nhiên rõ nét và đứng im. Đấy là điều thú vị nhất. Thằng bé nín thở để giữ nguyên điều chỉnh đã tìm được. Rồi nó chiếu ống nhòm sang điểm khác: tất cả lại nhòa vào lẫn nhau. Thằng bé lại bắt đầu xoay ống kính. Từ đây nhìn thấy hết mọi vật. Cả những đỉnh cao tuyết phủ, cao hơn nữa chỉ là bầu trời. Những đỉnh cao ấy ở đằng sau tất cả các ngọn núi, cao hơn cả núi non, bên trên cả trái đất. Cả những ngọn núi thấp hơn những đỉnh núi tuyết một chút: những ngọn núi có rừng, phía dưới là rừng cây lá bản, trên nữa là rừng thông tối thẫm. Cả dãy núi Kun-gây hướng về phía mặt trời. Trên sườn dãy núi Kun-gây chẳng có cây cối gì, chỉ có cỏ. Cả những trái núi nhỏ hơn, ở phía hồ, chỉ là núi đá trơ trụi. Những núi đá nhỏ đổ xuống thung lũng, thung lũng liên tiếp với hồ. Ở phía ấy có ruộng vườn, làng mạc… Trên nền xanh của đất gieo trồng đã xuất hiện những dãi màu vàng nom như tuyết tan mùa xuân: vụ gặt sắp đến rồi. Những chiếc ô tô nhỏ xíu chạy trên đường nom như những con chuột nhắt, kéo theo những đuôi bụi dài, ngoằn ngoèo. Mãi tận cùng trời cuối đất, nơi xa nhất tầm mắt có thể phóng tới được, liền sau dải bờ cát là cái vệt xanh đậm của mặt hồ cong nhô lên. Đấy là biển hồ Ix-xưc-Kun. Nơi ấy nước và trời tiếp liền nhau. Tiếp đó không còn gì nữa. Hồ im lìm bất động, ngời sáng và hoang vắng. Chỉ thấy bọt sóng trắng xóa hơi rập rềnh ở ven bờ. Thằng bé nhìn mãi về phía ấy. “Không thấy con tàu thủy trắng, - Thằng bé nói với cái cặp. – Ta lại xem trường ta lần nữa đi.” Từ đây nhìn thấy rõ thung lũng bên cạnh, phía sau núi. Qua ống nhòm, có thể nhìn rõ cả bó sợi trong tay một bà lão ngồi cạnh nhà dưới cửa sổ. Lũng Giê-lê-xai không có rừng, rừng đã bị chặt hết rồi, chỉ còn đôi chỗ còn sót lại mấy cây thông già đơn độc. Trước kia ở đây là rừng. Bây giờ ở đây là những dãy sân gia súc lợp mái fib-rô xi măng, trông thấy cả những đống phân gia súc và những đống rơm to lù lù, đen xì. Ở đây người ta nuôi gia súc non làm giống cho trại sữa. Kề ngay gần đấy, cách những sân gia súc không xa, là một xóm dân cư ngắn ngủn: khu nhà của những người chăn nuôi. Cái xóm này xuống thấp dần từ trên một ngọn đồi thoai thoải. Ở ngay rìa xóm là một ngôi nhà nhỏ, nom không phải là nhà ở. Đấy là trường bốn năm. Trẻ lớp trên đi học ở trường nội trú của nông trường quốc doanh. Trẻ nhỏ học trường này.
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-04-2012), Мужик (29-06-2011), hongducanh (06-06-2011), nttt1211 (04-07-2011), rung_bach_duong (04-06-2011) | ||
|
#13
|
||||
|
||||
|
Thằng bé đã cùng với ông đến xóm này mấy lần: ấy là những lần nó bị viêm họng và ông đưa nó đến cho ông y sĩ thăm bệnh. Bây giờ qua ống nhòm, nó chăm chú nhìn ngôi trường nhỏ mái ngói nâu, với một cột ống khói đơn độc xiêu vẹo, với tấm biển bằng gỗ, dán mang dòng chữ tự kẻ lấy. Thằng bé không biết đọc, nhưng nó đoán ra chữ ấy viết cái gì. Trong ống nhòm, mọi cái đều hiện rõ tới từng chi tiết nhỏ nhặt nhất, nhỏ nhặt đến khó tin. Những chữ gì không rõ vạch trên lớp trát tường, tấm kính dán giấy trong khung cửa sổ, và ở hàng hiên là những tấm ván vênh lên, điểm những vệt lỗ chỗ. Nó tưởng tượng nó sẽ xách cặp đến đấy và bước vào cửa, cái cửa hiện giờ móc chiếc khóa lớn. Nhưng lúc này ở đấy có cái gì, sau này sẽ có những gì, đằng sau cánh cửa ấy?
Xem xét kỹ trường học rồi, thằng bé lại chĩa ống nhòm ra hồ. Nhưng ở đấy tất cả vẫn như trước. Con tầu trắng vẫn chưa xuất hiện. Thằng bé quay đi, ngồi xoay lưng lại phía hồ, và đặt chiếc ống nhòm sang bên cạnh, bắt đầu nhìn xuống dưới. Ở dưới ngay dưới chân núi, một con sông nhiều ghềnh đá, óng ánh bạc chảy cuồn cuộn trên đáy cái lũng dài hẹp. Cùng với sông, con đường chạy ngoằn ngoèo trên bờ, và cùng với sông, con đường khuất sau khúc ngoặt của hẽm núi. Bờ đối diện dốc đứng và có rừng. Khu rừng cấm Xan-tasơ bắt đầu từ đây, nó chạy lên núi, lên rất cao, tới tận chỗ có tuyết. Những cây thông leo cao nhất. Giữa đá và tuyết, chúng nhô lên tua tủa như những chổi lông trên các dãy núi. Thằng bé nhìn những căn nhà, nhà kho và nhà phụ trên trên sàn bằng con mắt diễu cợt. Từ trên cao nhìn xuống, những cái đó nom thật nhỏ bé, mỏng manh. Sau khu trạm gác, nhìn tiếp dọc bờ sông, thằng bé phân biệt được những khối đá quen thuộc của nó. Chính từ nơi đây, từ núi Karaun này mà lần đầu tiên nó nhận ra hình dáng tất cả những khối đá ấy qua ống kính- “Lạc đà”, “Chó sói”, “Yên ngựa”, “Xe tăng”- và đã đặt tên cho chúng. Thằng bé mỉm cười tinh nghịch. Đứng lên và ném một hòn đá về phía sân. Hòn đá rơi ngay ở sườn núi. Thằng bé lại ngồi xuống và bắt đầu nhìn kỹ khu trạm gác qua ống nhòm. Thoạt tiên nhìn từ mắt kính lớn qua mắt kính nhỏ, mấy ngôi nhà chạy tít ra xa, biến thành những cái hộp nhỏ xíu như thứ đồ chơi. Những khối đá tảng biến thành những hòn đá nhỏ. Còn cái đập giữ nước của ông trên bãi sông nom thật tức cười: nông tới đầu gối chim sẻ. Thằng bé nhếch mép cười mỉa mai, lắc đầu và lẹ tay quay ngược ống nhòm lại, vặn ống kính. Những khối đá nó yêu mến, được phóng đại tới kích thước khổng lồ, tuồng như áp trán vào kính ống nhòm. “Lạc đà”, “Chó sói”, “Yên ngựa”, “Xe tăng” thật là oai nghiêm – với những vết sứt, những vết nứt rạn, những vệt rêu màu rỉ sắt ở bên sườn. Cái chính là chúng rất giống những vật mà chúng đã khiến thằng bé liên tưởng đến. Chà, “Chó sói” ra chó sói! Còn “Xe tăng” nữa, đích thực là xe tăng. Đằng sau các khối đá, trên bãi sông là là cái đập giữ nước của ông. Qua ống nhòm nhìn thấy rất rõ cái chỗ này trên bờ sông. Từ khúc chảy xiết, nước tạt vào bãi đá sỏi rộng lớn này và sủi réo trên những đoạn nông, rồi lại đổ vào khúc chảy cuồn cuộn. Nước trên bãi ngập tới đầu gối. Nhưng dòng chảy mạnh tới mức đúng là có thể cuốn trôi một thằng bé như nó ra sông. Để khỏi bị cuốn đi, thằng bé bám vào cụm liễu ven bờ - cụm liễu mọc ngay ở rìa bờ, một số cành ở trên cạn, một số khác quẫy lộn trong sông, - và nó lặn hụp trong nước. Tắm kiểu gì lạ vậy? Như ngựa bị buộc vào cọc. Lại còn bao nhiêu chuyện rầy rà nữa chứ, bị mắng mỏ luôn! Bà đay nghiến ông: “ Nó mà bị cuốn ra sông thì chỉ tại ông thôi, tôi là tôi thây kệ. Tưởng người ta cần nó lắm đấy! Bố mẹ nó bỏ rơi nó. Còn tôi cũng đã chán vạn mối lo âu rồi, chẳng còn hơi sức đâu nữa”. Có thể nói gì với bà được? Bà nói kể cũng đúng. Vả chăng bà cũng thương thằng bé: sống ở ngay bên cạnh, gần như ngay cạnh cửa. Nhưng bà lão dọa thế nào thì dọa, thằng bé vẫn cứ xuống nước. Thế là ông lão Momun liền quyết định: xây trên bãi một cái đập ngăn nước bằng đá, để thằng bé có chỗ tắm, mà không phải e sợ gì cả. Ông già đã khuân cơ man nào là đá, chọn những tảng khá to để nước không cuốn đi được. Ông ôm ghì tảng đá vào bụng, đứng trong nước, xếp tảng nọ lên tảng kia sao cho nước có thể chảy vào dễ dàng và chảy đi cũng dễ dàng như thế. Bộ dạng kỳ cục, thân hình gầy nhom, với bộ râu thưa thớt, chiếc quần ướt dính sát vào người, ông già loay hoay suốt ngày với cái đập nước. Tối đến ông nằm liệt giường, ho sù sụ, không duỗi lưng ra được. Thế là bà lão tức điên lên: “Rõ đồ trẻ ranh ngu ngốc, đúng là đồ trẻ ranh, già mà ngu thì người ta sẽ nói thế nào? Tội thân đời gì mà nhọc công như thế? Cho ăn, cho uống đầy đủ, thế chứ còn gì nữa? Cứ đi chiều những thói chơi ngông. Chao ôi, rồi sẽ xảy ra chuyện chẳng lành cho mà xem!…” Nói gì thì nói, trên bãi đã có một cái đập giữ nước tuyệt diệu. Bây giờ thằng bé tắm không phải e sợ gì hết. Nó níu lấy một cành cây, từ trên bờ tuồn xuống, lao xuống dòng nước. Và nhất thiết là mở mắt. Mở mắt vì cá bơi trong nước cũng mở mắt. Nó có một mơ ước kỳ lạ: Nó muốn biến thành cá. Và bơi đi.
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#14
|
||||
|
||||
|
Lúc này, chiếu ống nhòm nhìn cái đập ngăn nước, thằng bé tưởng tượng nó cởi hết quần áo, trần truồng, co ro, thả mình xuống nước. Nước ở các con sông trong núi bao giờ cũng lạnh, thoạt đầu cảm thấy lạnh đến tắc thở, nhưng rồi cũng quen đi. Nó tưởng tượng nó níu lấy cành liễu, lao sấp mặt xuống dòng nước. Nước ào ào khép kín lại trên đầu, chảy thành dòng nóng bỏng dưới bụng, trên lưng, dọc theo hai chân. Ở dưới nước, những âm thanh bên ngoài tắt lặng hẳn, trong tai chỉ còn tiếng nước lóc bóc. Thằng bé mở to mắt, cố nhìn tất cả những gì có thể nhìn thấy dưới nước. Mắt cay sè, nhức nhối, nhưng thằng bé kiêu hãnh mỉm cười với mình, thậm chí thè lưỡi ra dưới nước. Đấy là nó trêu bà. Để cho bà biết nó không chết đuối được đâu, nó chẳng sợ gì hết. Rồi nó buông cành cây ra và nước lôi nó đi, cuốn nó đi, cho đến khi nó đạp chân vào vách đá đập nước. Vừa hay sức nín thở cũng hết. Thằng bé lập tức ngoi ra khỏi nước, leo lên bờ, lại chạy tới chỗ cụm liễu. Cứ như thế nhiều lần. Nó sẵn lòng tắm một trăm lần một ngày trong cái đập nước của ông. Cho tới bao giờ rút cuộc nó sẽ biến thành cá. Dù thế nào thì thế, nó nhất quyết muốn biến thành cá…
Trong lúc xem xét kỹ bờ sông , thằng bé chiếu ống nhòm về sân nhà. Những con gà mái, gà mái tây và gà con, chiếc rìu cắm vào khúc củi, chiếc ấm Xamova đang bốc khói, cùng các vật linh tinh ở gần lối đi trong sân nom to kỳ lạ, gần đến nỗi bất giác thằng bé vươn một tay ra, tưởng như có thể với tới được. Liền đó, nó kinh hãi khi nhìn thấy con bê màu nâu được phóng to lên bằng con voi trong ống nhòm đang thản nhiên nhá quần áo phơi trên giây. Con bê nheo mắt thích thú, bọt mép sùi ra, khoái trá nhai đầy mồm chiếc áo dài của bà. - A, cái đồ ngu!- Thằng bé nhỏm lên cùng với chiếc ống nhòm và phảy tay. –Hừ , cút đi! Này này, xéo ngay! Bantec, Bantec! (Qua ống kính nhìn thấy con chó ung dung nằm gần nhà, cứ tỉnh bơ đi) Cắn đi, cắn nó đi! – Lòng đầy thất vọng, thằng bé ra lệnh cho con chó. Nhưng con chó không buồn nhúc nhích. Nó vẫn nằm ung dung như không có gì xảy ra. Lúc đó bà lão ra khỏi nhà. Thấy sự thể như vậy, bà đập hai tay vào nhau. Bà vơ lấy cái chổi và xông tới đánh con bê. Con bê chạy, bà đuổi theo. Vẫn giương ống nhòm nhìn theo bà, thằng bé ngồi xổm xuống để bà không trông thấy nó ở trên núi. Đuổi được con bê đi rồi, bà lão vừa chửi vừa đi vào nhà, thở hổn hển vì tức giận và phải đi nhanh. Thằng bé nhìn thấy bà như thể nó ở ngay cạnh bà, thậm chí còn gần hơn là ở ngay bên cạnh. Nó nhìn bà ở cận cảnh trong ống kính, như trong điện ảnh, khi chiếu một khuôn mặt choán hết màn. Nó thấy đôi mắt màu vàng của bà co hẹp lại vì tức điên lên. Nó thấy khuôn mặt răn reo, đầy nếp gấp của bà đỏ như gấc. Như trên màn ảnh khi mất tiếng, trong ống nhòm đôi môi bà mấp máy nhanh và không có âm thanh, phô ra những chiếc răng thưa lỗ chỗ. Bà lão quát mắng cái gì, từ xa không nghe được, nhưng thằng bé nghe rõ từng lời bà nói như thể bà nói sát ngay bên tai nó. Ôi chao, bà mắng nó xơi xơi! Nó thuộc lòng rồi: “ Cứ giờ hồn đấy. Về đây rồ sẽ biết. Tao sẽ sửa cho. Tao sẽ không thèm đếm xỉa gì đến ông mày nữa. Đã bao nhiêu lần tao bảo phải quẳng cái ống nhòm nhố nhăng ấy đi. Mày lại chạy lên núi rồi. Cầu cho nó vỡ tan ra, con tầu thủy ma quái ấy, lửa thiêu cháy nó đi, cho nó chìm quách đi cho rồi!” Ở trên núi, thằng bé thở dài não nuột. Hôm nay, khi ông mua cho nó cái cặp và nó mơ ước cắp sách đến trường thì sao nó lại sơ suất không để ý đến con bê kia chứ!...
__________________
Ласковый Май |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
|
#15
|
||||
|
||||
|
Bà lão vẫn chưa im tiếng. Bà vừa xem kỹ lại chiếc áo bị nhai nát của mình vừa chửi mắng. Gungiaman bế con đến. Khi than phiền với chị, bà càng cáu hơn. Bà giơ hai nắm tay về phía trái núi. Nắm tay xương xẩu, tối thẫm của bà lù lù trước ống kính, đầy hăm dọa: “ Mày đã tìm được cái trò tiêu khiển như thế đấy. Cầu cho nó vỡ tan tành ra, cái tàu ma quỷ ấy, lửa thiêu cháy nó đi, nó chìm quách đi cho rảnh!...”
Chiếc ấm Xamova ở sân đã sôi. Qua ống nhòm nhìn thấy những luồng hơi nước tuôn lên từ dưới mái nhà. Già Bekay ra lấy ấm vào. Thế là lại bắt đầu. Bà gần như dí vào mũi già Beekay chiếc áo bị nhai nát cảu bà. Này xem, thằng cháu mày làm ăn lếu láo thế này đây! Già Beekay cố làm cho bà nguôi giận, khuyên can bà. Thằng bé đoán xem già nói gì. Cũng đại khái như trước đây thôi. “Xin bớt giận, enêkê (mẹ) Thằng bé còn ngờ nghệch lắm, đòi hỏi gì ở nó được. Nó trơ trọi một mình, bạn bè chẳng có. Quát mắng cho trẻ nó khiếp sợ làm gì?” Đáp lại, chắc chắn bà nói: “Chị đừng có dạy khôn cho tôi. Chị hãy đẻ lấy một đứa con đi rồi sẽ biết cần bắt trẻ vào khuôn phép như thế nào. Nó vơ vẩn ở trên núi ấy làm gì. Nó không buồn buộc con bê vào nữa. Nó ngóng cái gì ở đấy? Ngóng chờ con mẹ thằng bố đĩ bợm của nó chăng? Những đức đẻ nó ra rồi vứt bỏ nó, mỗi đứa đi một ngả ấy ư? Rõ đẹp mặt chị lắm, cái đồ tịt đẻ…” Dù cách xa như thế, qua ống nhòm thằng bé cũng thấy cặp má hõm của già Beekay xám ngắt như da người chết, toàn thân già run lên, và nó biết đích xác già hẳn phải trả miếng như thế nào-, già nói đốp chát vào mặt bà dì ghẻ: "Này con mụ già, thế bản thân mụ nuôi dạy được mấy con trai con gái?Bản thân mụ có ra cái nợ gì không?” Thế là không thể tưởng tượng nổi! …Bà già bị nhục mạ gào rú lên. Gungiman cố dàn hòa hai người đàn bà, can ngăn họ, ôm lấy bà, muốn lôi bà vào nhà, nhưng bà càng điên tiết hơn, lồng lộn trong sân như hóa rồ. Già Beekay vồ lấy cái ấm Xamova đang sôi,, bê cái ấm gần như chạy vào nhà, làm nước sôi sóng cả ra. Còn bà mệt mỏi ngồi xuống cái máng cho gia súc ăn. Bà khóc nức nở, than thân trách phận. Bây giờ thằng bé bị bỏ quên, bây giờ chính thượng đế và thế gian phải nghe chửi.”Mày nói tao đấy ư? Mày bảo tao là cái thứ người gì hả? – Bà nổi cơn tam bành sau khi bị con gái riêng của chồng nói đau. – Nếu như trời không trừng phạt tao, không cướp đi của tao năm đứa con thơ, nếu như đứa con trai độc nhất của tao không trúng đạn bỏ mình trong chiến tranh giữa lúc nó mới mười tám tuổi đầu, ,nếu như ông lão Taiga yêu dấu của tao không chết trong cơn bão tuyết cùng với đàn cừu thì bây giờ tao đâu có ở đây, giữa bọn gác rừng các người? Tao đâu đến nỗi không sinh không đẻ được như mày? Đâu đến nỗi về già tao lại sống với bố mày, lão Mômun gàn dở? Lão Trời đáng nguyền rủa kia, tao tao tội tình gì mà Người trừng phạt ta?” Thằng bé bỏ ống nhòm khỏi mắt, buồn bã cúi đầu xuống. “Bây giờ làm thế nào chúng ta về nhà được? – Nó khẽ nối với chiếc cặp. – Tất cả là tại tao và con bê ngu xuẩn kia. Cũng tại mày nữa, ống nhòm ạ. Lần này mày cũng rủ rê tao lên nhìn con tàu trắng. Mày cũng có lỗi”. Thằng bé nhìn bốn phía. Xung quanh toàn núi là núi: vách đá, khối đá, rừng. Từ những sông băng trên cao, những dòng suối đổ xuống không có tiếng động, xuống đến đây, ở dưới này, nước mới có tiếng nói, không ngớt ồn ào trong sông đời đời kiếp kiếp. Còn núi non thật hùng vĩ và trùng trùng điệp điệp. Lúc này thằng bé cảm thấy mình quá bé nhỏ, quá cô đơn, hoàn toàn lạc loài. Chỉ có nó và núi non trùng điệp, chỗ nào cũng là núi cao vòi vọi
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-04-2012), Мужик (29-06-2011), hungmgmi (30-06-2011), nttt1211 (04-07-2011), Vien_Mai (29-06-2011) | ||
|
#16
|
||||
|
||||
|
Thay đổi nội dung bởi: Vien_Mai, 30-06-2011 thời gian gửi bài 08:26 |
|
#17
|
|||
|
|||
|
"...Cuốn sách cực hay của Atơmatốp" Nhà văn mới?????
|
|
#18
|
||||
|
||||
|
Hì hì, em gõ thiếu. Phải là Aitơmatốp.
|
|
#19
|
||||
|
||||
|
Mặt trời đã xế tà, ngả về phía hồ. Không còn nóng lắm nữa. Trên các sườn phía đông đã xuất hiện những bóng đen đầu tiên, còn ngắn ngủn. Bây giờ mặt trời sẽ xuống mỗi lúc một thấp, những bóng đen sẽ trườn xuống dưới, phía chân núi. Vào quãng này trong ngày, con tàu thủy trắng thường xuất hiện trên hồ Ixxức-Kun.
Thằng bé chiếu ống nhòm về chỗ xa nhất có thể thấy được và nín thở. Nó kia rồi! Thế là thằng bé quên hết mọi thứ trên đời. Ở phía trước, tận mép hồ Ixxưc-Kun xanh biếc, con tầu trắng đã xuất hiện. Nó ló dần ra. Nó kia rồi! Những cột ống khói làm thành hàng dài, hung dũng và đẹp. Con tầu lướt đi như trượt theo một sợi dây đàn, nhịp nhàng và thẳng tắp. Thằng bé vội vã dùng gấu áo sơ mi lau mắt kính, một lần nữa lại chiếu ống kính. Hình dáng con tầu mỗi lúc một rõ. Bây giờ có thể thấy nó lắc lư trên sóng, bỏ lại phía sau một vệt màu sáng ngầu bọt. Thằng bé mê thích nhìn con tàu trắng không dứt. Nếu được như ý muốn, nó sẽ nài con tàu đến gần hơn nữa để nó có thể nhìn thấy những người đi trên tàu. Nhưng con tàu không biết thằng bé muốn như thế. Nó thong thả và oai vệ đi theo con đường của mình, con đường không rõ từ đâu đến và đi về đâu.. Mắt dõi nhìn rất lâu con tàu lướt trên sóng, thằng bé nghĩ ngợi mãi về vệc nó sẽ biến thành cá và bơi tới gần con tàu trắng như thế nào… Khi lần đầu tiên từ trên núi Karaun nhìn thấy con tàu trắng trên biển hồ Ixxưc-Kun xanh lam, tim nó đập thình thịch trước vẻ đẹp ấy, đến nỗi nó dứt khoát cho rằng bố nó - một thủy thủ đường Ixxưc-Kun - đi chính trên con tàu trắng này. Thằng bé tin như thế, bởi vì nó rất muốn tin như thế. Nó không nhớ mặt bố, cũng không nhớ mặt mẹ. Nó chưa nhìn thấy bố mẹ bao giờ. Chưa bao giờ bố hay mẹ về thăm nó. Nhưng thằng bé biết: bố nó là thủy thủ trên biển hồ Ixxưc-Kun, còn mẹ nó, sau khi li dị với bố nó, đã bỏ con lại cho ông và ra thành phố. Ra đi là biệt tăm. Mẹ nó đến một thành phố xa xăm, qua núi, qua hồ, rồi lạ qua núi nữa. Ông Mômun có lần đã ra thành phố ấy bán khoai. Ông đi suốt một tuần, và khi trở về, trong bữa trà, ông kể với già Bêkây và bà rằng ông đã gặp con gái, tức là mẹ thằng bé. Mẹ nó làm thợ dệt ở một xí nghiệp lớn. Mẹ nó đã có gia đình mới - hai con gái gửi ở vườn trẻ, mỗi tuần mẹ chỉ gặp con có một lần. Chị ở trong một ngôi nhà lớn, nhưng phòng riêng của chị thì bé nhỏ đến nỗi không có chỗ mà xoay trở nữa. Ra ngoài chẳng ai biết ai, cứ như ở chợ ấy. Mọi người đều sống như thế; vào phòng là khóa cửa lại ngay. Người ta luôn khóa cửa nhốt mình lại như ngồi trong tù. Chồng chị đâu như làm lái xe, lái ô-tô buýt chở khách trong thành phố. Anh ta đi từ bốn giờ sang đến đêm khuya. Công việc cũng vất vả. Ông già kể lại rằng con gái ông cứ khóc lóc, xin ông tha lỗi. Vợ chồng họ đang chờ đến lượt để phân nhà mới. Bao giờ được thì chưa biết . Bao giờ có nhà mới, chọ sẽ đem con trai đến ở với chị, nếu chồng cho phép. Và chị cầu xin ông bố già hãy nán lòng chờ đợi. Ông Mômun bảo con gái đừng buồn. Cái chính là chị sống hòa thuận với chồng, còn mọi cái khác rồi sẽ ổn thỏa thôi. “Chừng nào bố còn sống, bố sẽ không trao thằng bé cho ai cả. Bố chết đi thì thượng đế sẽ dẫn dắt nó, con người sẽ tìm thấy số phận mình…!” Nghe ông già kể, già Bêkây và bà chốc chốc lại thở dài, thậm chí cùng khóc. Chính trong bữa uống trà ấy, họ có nói cả về bố thằng bé. Ông nghe phong thanh đâu rằng con rể trước đây của ông, tức là bố thằng bé, làm thủy thủ ở một hãng tàu nào đó, anh cũng đã lập gia đình mới, đã có con, hai hay ba đứa. Họ ở gần bến. Đâu như anh ta đã chừa rượu. Chị vợ mới lần nào cũng đưa con ra bến đón chồng. “Như vậy là họ đón chính con tàu này đây…” – thằng bé nghĩ. Còn con tàu vẫn lướt đi, ra xa một cách chậm chạp. Thân dài sơn trắng, nó lướt trên mặt hồ xanh biếc bóng nhẵn, nhả khói cuồn cuộn và không hề biết thằng bé đã biến thành cá đang bơi tới gần nó…
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (06-04-2012), Мужик (14-07-2011), hongducanh (06-07-2011), nttt1211 (04-07-2011), Vania (03-07-2011) | ||
|
#20
|
||||
|
||||
|
Thằng bé mơ ước biến thành cá sao cho tất cả đều đúng là cá -thân, đuôi, vây, vẩy - chỉ riêng đầu vẫn là đầu của nó, dính vào cái cổ mảnh, cái đầu to, tròn, hai tai vểnh lên, mũi xây xước. Và mắt cũng như thế. Tất nhiên không hoàn toàn như bây giờ, mà nhìn được như cá. Mi thằng bé dài như mi con bê, và không hiểu sao tự nó cứ chớp chớp. Gungiaman nói rằng giá như mi mắt con gái chị được như thế thì lớn lên nó sẽ thành cô gái xinh biết bao! Xinh gái để làm gì? Tưởng là cần lắm đấy! Riêng nó, nó chẳng thiết đôi mắt đẹp làm gì, nó chỉ cần mắt nhìn được dưới nước.
Sự biến hình hẳn phải xảy ra trong cái đập ngăn nước của ông. Hấp, thế là thành cá. Liền sau đó, nó sẽ nhảy qua đập vào sông, nhảy thẳng ngay vào chỗ nước xiết réo ào ào và bắt đầu bơi xuôi dòng. Tiếp đó, sẽ thế này: thỉnh thoảng vọt lên khỏi mặt nước và nhìn xung quanh. Cứ bơi mãi dưới nước thì chán. Nó bơi trong con sông chảy xiết dọc theo một bờ dốc lớn bằng đất sét đỏ, qua các ghềnh, lướt trên các con sóng bạc đầu, qua núi, qua rừng. Nó vĩnh biệt những khối đá yêu dấu: “ Vĩnh biệt “Lạc đà nằm”, vĩnh biệt “Chó sói”, vĩnh biệt “Yên ngựa”, vĩnh biệt “Xe tăng”. Và khi bơi qua gần khi trạm gác, nó sẽ nhảy lên khỏi mặt nước, vẫy vây chào ông. “Tạm biệt ata, cháu sẽ trở về ngay.”. Ông sẽ ngớ người ra trước sự kì lạ như thế và không biết xử trí thế nào. Còn bà, già Bê-kay và Gungiaman với đứa con gái, tất cả đều đứng há hốc mồm ra. Ai đời lại đầu người thân cá kia chứ? Còn thằng bé giương vây vẫy chào: “Tạm biệt, cháu bơi ra hồ Ixxức-kun đến chỗ con tàu thủy trắng. Bố cháu làm thủy thủ ở đấy mà.” Ban-têc chắc sẽ đâm đầu chạy dọc bờ sông. Con chó quả chưa bao giờ thấy thế. Nếu Ban-têc định nhảy xuống nước theo nó, nó sẽ quát lên: “Không được, Ban-têc, không được! Chết đuối đấy!”- còn nó sẽ tiếp tục bơi đi. Nó sẽ lặn xuống, chui qua những giây cáp cầu treo và bơi dọc theo đám lùm cây ven bờ, rồi xuôi theo cái khe nước réo ầm ầm, bơi thẳng ra Ixxức-kun. Ixxức-kun là cả một cái biển. Nó bơi trên các lượn sóng Ixxức-kun, từ lượn sóng này lên lượn sóng khác. Này đây, con tàu trắng đang đến với nó.. « Chào ngươi, con tàu trắng- Thằng bé nói với con tầu- Tao vẫn luôn luôn nhìn mày qua ống nhòm mà ». Mọi người trên tàu sẽ ngạc nhiên, đổ xô ra xem chuyện kì dị. Khi ấy nó sẽ nói với bố nó là một thủy thủ: « Chào bố! Con là con trai của bố đây! Con bơi đến với bố đây! »- « Mày là con trai tao thế nào được ? Mày nửa người nửa cá thế kia kìa! »- « Thì bố cứ đem con lên tàu đi, con sẽ trở lại thằng con bình thường của bố cho mà xem ».- « Hay lắm! Nào, ta thử xem » Bố nó quăng lưới, chụp lấy nó dưới nước, kéo lên boong. Thế là nó liền biến thành chính nó. Rồi sau đó, sau đó... Sau đó con tàu trắng tiếp tục đi. Nó sẽ kể với bố nó tất cả những gì nó biết, cả cuộc đời nó. Kể chuyện về núi non xung quanh nơi nó ở, về những khối đá nọ, về con sông và khu rừng cấm, về cái đập ngăn nước của ông, nơi nó học bơi như cá, mở mắt hẳn hoi… Tất nhiên nó sẽ kể cho bố nó biết nó sống với ông Mô-mun ra sao. Để bố nó đừng tưởng hễ ông bị gán cho cái biệt hiệu Mô-mun nhanh nhảu thì ông nó là người tồi đâu. Người ông như thế không thể tìm đâu ra, người ông tốt nhất trần đời. Nhưng ông chẳng ma mãnh tí nào, vì thế mọi người đều chế nhạo ông. Còn bác Ô-rô-zơ-kun thì thỉnh thoảng bác ấy lại quát mắng ông. Có khi bác ta quát mắng ông trước mặt mọi người. Còn ông, đáng lẽ phải không cho phép Ô-rô-zơ-kun được nặng lời với mình thì lại tha thứ hết thảy, đã thế còn đảm nhiệm mọi công việc trong rừng thay cho Ô-rô-zơ-kun. Mà nào có chỉ làm thay cho bác ta thôi đâu! Mỗi lần bác Ô-rô-zơ-kin say rượu về, đáng lẽ nhổ toẹt vào cái mặt vô liêm sỉ của bác ta, ông lại chạy tới đỡ bác ta xuống ngựa, dìu vào nhà, đặt nằm lên giường, lấy áo lông đắp cho bác ta khỏi lạnh run, khỏi đau đầu, rồi ông tháo yên cương cho ngựa, tắm rửa sạch sẽ cho nó và cho nó ăn. Tất cả chỉ là vì già Bê-kay không sinh đẻ. Nhưng tại sao lại thế , hả bố? Người ta muốn đẻ thì đẻ, không muốn đẻ thì thôi chứ. Thằng bé thương ông mỗi khi bác Ô-rô-zơ-kun đánh già Bê-kay. Thà bác ta đánh ngay ông còn hơn. Ông khổ sở vô cùng khi già Bê-kay kêu khóc. Nhưng ông làm gì được kia chứ ? Ông muốn xông vào cứu con gái, nhưng bà không cho: « Đừng dây vào,- bà bảo.- Tự chúng nó sẽ thu xếp với nhau. Can gì đến ông, hả ông già ? Không phải là vợ ông, vậy thì ông cứ ngồi đấy. », - « Nhưng nó là con gái tôi kia mà ! ». Bà lại nói: « Thế nếu không phải ông sống liền ngay cạnh nhà, mà ở nơi xa thì ông sẽ làm gì ? Mỗi lần như vậy ông sẽ phi ngựa tới giằng chúng nó ra chắc ? Làm như thế thì sau này ai còn lấy con gái ông làm vợ nữa?»
__________________
Ласковый Май |
| Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Truyện núi đồi và thảo nguyên (Aitmatov) | matrioska2009 | Văn học | 14 | 20-01-2013 13:00 |
| VĨNH BIỆT GUNXARƯ-Chingiz Aitmatov | Siren | Văn học | 76 | 23-07-2010 23:06 |
| Nhà văn Chingiz Aitmatov từ trần | USY | Văn học | 12 | 21-06-2008 17:18 |