|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#1
|
|||
|
|||
|
Sắp tới ngày sinh của họa sĩ này rồi (5/3/1856) có ai viết được về sự nghiệp nghệ thuật của ông không nhỉ? Nina thì chắc chỉ có thể dịch tiểu sử và những thứ chung chung thôi.
Hihi, hình như bức đầu tiên mà Nina thấy của Vrubel, và thích ngay lập tức là bức này: http://www.hrono.ru/img/vrub_lebed.jpg
|
|
#2
|
||||
|
||||
|
Có bài này sắp tới mình phệt lên trang chủ:
Danh hoạ Vrubel - Tài năng và bi kịch Tô Hoàng Mikhail Alexanderovich Vrubel (1856-1910) – Danh họa Nga không chỉ tiêu biểu cho khuynh hướng dân chủ cách tân trong hội họa Nga cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mà tên tuổi còn sánh ngang tầm với nhiều danh họa thế giới vào thời kỳ đó. Ông mắc căn bệnh bị ám ảnh bị ám ảnh bởi những hồn ma bóng quỷ thường đến với ông trong những giấc ngủ chập chờn đầy mộng mị. Họa sĩ đã thể hiện những điều đuợc chứng kiến trong những giấc mơ lên tranh và những tác phẩm của ông chỉ gây ấn tượng bởi đề tài chất liệu lạ mà còn cả ở những bố cục hòa sắc rất lạ lùng độc đáo… Ánh nắng chiều lan dần vào văn phòng khiến mọi vât quen thuộc thường ngày bỗng trở nên mù mờ khó hiểu, tựa như đuợc bao phủ một màn đêm huyền bí.“Không sao! Mọi vật xung quanh cần trở nên như thế để mọi người phải kêu váng lên trước tài năng của tôi- một tài năng khó kiếm ra trên đời này!– Mikhail Alexandrovich Vrubel tự nhủ thầm rối ngả lưng nằm xuống divan. Nhưng than ôi liệu bao giờ người đời mới nhận ra tài năng ấy? Mặc xác dẫu gì thì mình vẫn cứ cống hiến hết tâm lục cho những mảnh toan căng trên giá. Trong giay phút tự an ủi như vậy, Vrubel như đứt khỏi những ám ảnh buồn bã. Và chính trong khoảnh khắc ấy họa sỹ có cảm tưởng từ tít sâu tận đầu bên kia gian phòng như có ai đó đang chăm chú nhìn ông. Mà đó có phải là người không? Nếu là người làm sao có cái nhìn buốt giá đến như thế? Ngay lập tức nhận ra những giọt mồ hôi thấm ướt lưng áo ông. Một nỗi sợ hãi khó giải thích bỗng chạy lan khắp thân thể. Từ phía cuối phòng cái bóng mờ tỏ kia dần dần hiện rõ. Đó là khuôn mặt đẹp tuyết vời, thân hình vô cùng hài hòa cân đối và cái nhìn như phóng ra từ đôi mắt to lồ lộ. “Cứ hiện hết ra đi miễn là gợi ý cho ta có được những nét vẽ tài ba”. Ta sẽ chịu đựng được tất – Cái bóng kia chậm rãi tan vào nền tường trắng… ![]() ![]() Mikhail Alexandrovich bừng tỉnh vì một cơn đau lan suốt toàn thân. “Trời! Sao mình lại thiếp đi trên chiếc đi văng trong một tư thế không thuận lợi chút nào như thế này? Sau đó lại còn mộng mị nữa! Nhưng cái bóng dáng ta gặp trong mơ kia thì thật đáng ghi trên vải! Ai mà đáon được thứ ma quỷ ấy biết đâu đấy chẳng mang tới cho mình những thành công bất ngờ?” Thời yêu đương Kễ từ sau buổi tối hôm ấy, cuộc sống của Mikhail Alexandrovich Vrubel như quay ngoắt 180 độ. hằng ngày ông không bao giờ rời khung vải trước 5 giờ chiều. Gương mặt của hình hài bí ẩn mà một lần họa sĩ đã được thấy trong cơn mộng dạo nào bỗng trở thành hình tượng sống động cụ thể dần dần hiện ra trên khung vải. Hoạ sĩ cũng ngày một trở nên ít nói trầm tư nhưng tâm thái lại như một đứa trẻ. Nỗi bất hạnh trong đời sống riêng tư ông nếm trải xưa nay cũng bắt đầu biến đổi. Trước đây phụ nữ không tỏ ra nồng nhiệt, quan tâm đến Vrubel lắm. Và điều đó không có gì lạ cả. Trong mắt chị em, Vrubel như một nhân vật kỳ quặc. Lúc thì ông phung phí tiền bạc để mua những lẵng hoa, những món quà tặng hết sức xa xỉ, những hòm rượu vang đắt tiền; nhưng có thời kỳ trong túi không có một xu nào. Vrubel ăn vận cũng khác người, thường vuốt keo lên đầu, chóp mũ bôi phẩm xanh và tự cho như thế mới đẹp. Họa sĩ cũng hay tặng những bức tranh thuốc nước của mình cho bạn hữu, nhưng chợt nhận ra trong bức tranh ấy có chỗ nào chưa vừa ý, ông sẵng sàng xé vụn nó trước con mắt ngạc nhiên của người bạn. Ông rất sung sướng khi được tiếp nhận vào xã hội thượng lưu, bởi ông rất lịch sự, rất sây sắc. Vrubel thích hợp với những buổi vũ hội, những lễ tiếp tân sang trọng, còn với cuộc sống gia đình theo những quan niệm thời đó thì ở ông lại khiếm khuyết nhiều điểm. ![]() Nhưng năm 1895 đã trở thành một khúc ngoặt trong cuộc đời ông. Vào thời gian đó, nhóm opera tư nhân của Manmontov tới St.Peterburg biểu diễn. Vrubel đến xem. Ngồi khất trong bóng tối tít sau cuối khán phòng, Vrubel bực bội khi chợt nhận ra mình đã bị ma lực tình yêu cuốn hút. Ông yêu mà không thấy mặt người mình yêu, chỉ nghe được giọng hát của người con gái. Người có giọng hát khiến Vrubel ngây ngất ấy chính là Nadezhda Dabela – ngôi sao sáng nhất của nhóm opera Mamontov. Vào mấy phút giải lao giữa các hồi kịch, khi Nadezhda đang trao đổi điều gì với Tachiana Liubatovist- một bạn diễn, bỗng nhiên cuộc nói chuyện của cả hai bị ngưng đột ngột bởi một người đàn ông vừa vọt từ phía sau cánh gà ra, nắm chắt lấy bàn tay Nadezhda đặt những chiếc hôn nồng nhiệt lên đó, miệng lắp bắp: “Giọng hát của chị mới tuyệt làm sao!”. Người đàn ông ấy chính là chàng họa sỹ Vrubel. Bây giờ thì họa sỹ còn biết thêm rằng gương mặt của nữ diễn viên còn đẹp hơn cả giọng hát của cô. Cơn bột phát tình yêu ấy diễn ra rất nhanh để lại trong Vrubel những dự định nghiêm chỉnh: Chẳng bao lâu sau họa sĩ ngỏ lời cầu hôn người nữ diễn viên. Nadezhda Dabela nhận lời và vào năm 1896 đám cưới đã diễn ra. Có cảm giác rằng không tìm được một cặp hạnh phúc nào khác như họ ở cả Moskva, cả St Peterburg, ngay cả trên khắp nước Nga. Và ngay cả trên khắp hành tinh này nữa! Sau lễ thành hôn, Vrubel đi theo người yêu trong các chuyến lưu diễn. Ông đảm nhận việc trang trí phông màn, vẽ mẫu trang phục cho các nhân vật mà Nadezhda đảm nhận. Trước khi nàng bước ra sân khấu, bản thân Vrubel vận trang phục cho người yêu. Rõ ràng tình yêu đã tìm được hướng ra những bế tắc trong sáng tạo của Vrubel: Họa sĩ đã quên khuấy việc vẽ mấy co quỷ, trên các bức tranh của ông tràn ngập các nét dạng trong vẻ đẹp và sự hiền thục của Nadezhda Dabela. Chúng ta có thể thấy điều này qua các tác phẩm sau của Vrubel: Ghendel và Greltrl, Faust, Công chúa Greda, Nữ hoàng thiên nga… Thời điên loạn Những đám mây đen bắt đầu kéo tới với cặp vợ chồng Vrubel vào năm 1898. Mùa hè năm đó, hai ông bà đến thăm bà con họ hàng tại Tseinigov. Bất ngờ những khúc mục ca bỗng gợi dây trong ký ức Vrubel giấc mơ kỳ quái năm nào. Thế là họa sĩ quay trở về với những ám ảnh xưa - vẽ những con quỷ. Ông lại trở nên ưu tư, trầm uất. đêm này qua đêm khác Vrubel hầu như thức trắng. Tính khí của ông thay đổi rõ ràng. Xưa kia ông mềm mỏng, dịu dàng, độ lượng bao nhiêu thì nay trở nên cứng ngắc, thích sinh sự bấy nhiêu. Vrubel không thích ai lên tiếng nhận xét tranh của ông, ngược lại ông luôn tự ngợi khen tác phẩm của mình. Nedezhda Dabela hết sức khiếp hãi trước tính tình biến đổi của chồng và hoàn toàn tin rằng Vrubel đã mất trí. Bà chỉ trông đợi ở một điều: đứa bé sắp ra đời có thể làm ông tỉnh táo. Nhưng niềm hy vọng này cũng sụp đổ. Vừa nhìn thấy mặt con trai, Vrubel sửng sốt bởi chú bé có cặp môi méo mó như của con thỏ rừng. Họa sĩ cảm thấy đó là sự trả giá cho những tội lỗi ông đã phạm phải. Ông rơi vào trạng thái trầm uất và kễ từ ngày đó không còn quan tâm gì khác, ngoài sự ám ảnh của hình bóng quỷ. ![]() Năm 1902, một năm sau ngày cậu con trai chào đời, Vrubel vẽ xong bức tranh Con quỷ và được mang đi triển lãm tại St.Petersburg. Và dù bức tranh đã treo trong phòng triễn lãm rồi, Vrubel vẫn chưa yên tâm và sáng sáng ông vẫn tới cạnh bức tranh để thêm màu này, làm nhạt đi màu khác. Việc làm đó của họa sĩ khiến những người kéo đến xem bức tranh của ông khiếp hãi khi họ nhận ra vẻ mặt của con quỷ trong tranh như thay đổi thần thái môi ngày. Cũng vào năm ấy vợ chồng họa sĩ quyết định đưa cậu con trai về Riadan nhờ những người họ hàng trông coi. Nhưng trên đường đi sức khoẻ của Vrubel suy sụp hẳn nên bà vợ phải đưa ông vào bệnh viện tâm thần. Năm 1903 thì cậu con trai của Vrubel qua đời vì chứng viêm phổi nặng. Một bi kịch lớn trùm lên cuộc đời vợ chồng nhà danh họa. Những năm sau này Vrubel mắc thêm chứng thông manh. Bức tranh cuối cùng hầu như ông đã vẽ bằng trực giác. Nhưng bức tranh ấy còn chưa vẽ xong thì họa sĩ đã mù hẵn. Đêm đêm ông đi lại giữa những bức tường xám lạnh của khu bệnh viện tâm thần, miệng thì thầm như đang nói chuyện với ai đó. Trên những bức tuờng ấy dần dà hiện lên những hình vẽ phác khi thì là mớ tóc, khi là bờ miệng, khi là đôi mắt…Vẫn của một bóng hình quen thuộc của con quỷ như trong bức tranh nổi tiếng của ông. Vrubel vĩnh viễn ra đi vào năm 1910. Nữ nghệ sĩ opera Nadezhda Dabela-Vợ ông, vỏn vẹn chỉ được sống với ông 3 năm. T.H (Tạp chí Tài Hoa Trẻ) |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Nhờ các mod box này hiệu đính giúp bài này với nhé - Nina chỉ biết dịch thôi, có nhiều thuật ngữ không trôi lắm
![]() Bài gốc ở đây http://www.krugosvet.ru/articles/83/.../1008376a1.htm Bản dịch (có chút xíu mắm muối )Kỷ niệm 150 năm ngày sinh họa sĩ M.A. Vrubel Mikhail Alekxandrovich Vrubel (1856–1910) là đại diện lớn nhất của chủ nghĩa tượng trưng và modern trong hội họa Nga. Ông sinh ngày 17 tháng 3 năm 1856 ở thành phố Omsk trong gia đình một luật sư quân đội. Vrubel học tập ở Trường Nghệ thuật Peterburg (1880–1884) với thầy P.P. Chischiakov, và học vẽ màu nước với họa sĩ lừng danh I.E.Repin. Ảnh hưởng đặc biệt với ông là nền hội họa thời kỳ Phục sinh của Venice (trong số những người cùng thời thì có họa sĩ người Tây Ban Nha M.Fortuni, và có thể là các họa sĩ hậu Rafael ở Anh), cũng như các hình ảnh cổ điển của văn học Phục sinh và lãng mạn (W. Shakespeare, J.W. Goethe, M.Yu.Lermontov). Trong số các họa sĩ Nga thì Vrubel đặc biệt đánh giá cao I.K.Aivazovsky và V.M.Vasnhetsov. Chàng họa sĩ trẻ đã làm được một bước đi về phía chủ nghĩa modern cương quyết hơn nhiều các họa sĩ Nga khác. Bút pháp độc đáo của Vrubel – một bức tranh pha lê đặc biệt, về một khía cạnh nào đó là sự cải tiến chủ nghĩa lập thể, và colorito lấp lánh những tông “bóng tối xanh tím của thế giới” – lời của A.A.Blok – đã được hình thành trong những năm Vrubel sống và làm việc ở Kiev khi vẽ cho các nhà thờ (1884–1889). Khi được mời tham dự phục chế Nhà thờ Kirillovskaya (được xây từ thế kỷ 12), thì trong rất nhiều trường hợp Vrubel phải vẽ tranh mới thay cho những tranh cũ đã bị mất. Khi đó Vrubel đã vẽ bức tranh thánh (icona) Đức Mẹ và Chúa hài đồng cho nhà thờ này. Đỉnh cao của thời kỳ Kiev là những bức tranh chưa được thực hiện do nhà thờ cản trở - những phác họa Nhà thờ Vladimirsky (1887, màu nước và bút chì). Truyền thống Byzantium được bão hòa bởi chủ nghĩa tâm lý luận căng thẳng – bi kịch của thời đại mới. Vẻ đẹp rực rỡ của colorito của Vrubel được thể hiện đầy đủ trong bức tranh “Cô bé trên nền tấm thảm Ba Tư” (1886). Từ năm 1889 Vrubel chủ yếu sống ở Matxcơva. ![]() Девочка на фоне персидского ковра Cô bé trên nền tấm thảm Ba Tư “Tất cả đều là trang trí” – phương châm này của Vrubel được thể hiện hữu cơ nhất trong thời gian những chuyến đi ghé thăm Abramtxemvo của Vrubel, nơi Vrubel là một trong số các thành viên tích cực nhất của nhóm nghệ thuật của S.I.Mamontov. Ở đây Vrubel đã vẽ một loạt những bức tranh giá trị nhất của mình, làm việc với đồ gốm (nhóm tượng Sa hoàng Berendei, Lel, Volkhova), thực hiện những phác thảo lò gốm, lọ hoa, ghế. “Phong cách Nga” của những sản phẩm này đã hóa thân vào trong những công trình thực hiện cho nhóm opera tư nhân Nga Matxcơva của S.I.Mamontov, trong đó có bố trí sân khấu cho các vở opera “Sadko” (1897) và “Chuyện cổ tích về sa hoàng Saltan” (1900) nhạc của N.A.Rimsky-Korsakov, người có tâm hồn gần gũi với Vrubel khi cùng yêu thích những tưởng tượng “theo kiểu cổ tích Nga”. Không khí của câu truyện cổ tích thần kỳ đặc trưng cho những bức tranh Pan (1899), Công chúa – Thiên nga, Đêm xuống, Tử đinh hương (1900) chứa đầy cảm xúc sự hỗn loạn tăm tối ẩn dấu ngoài vũ trụ vốn đặc trưng cho chủ nghĩa trừu tượng. Những bức chân dung của K.D và M.I.Artsưnbushevsky, cũng như chân dung S.I.Mamontov) rất kịch tính – diễn cảm. Chủ nghĩa bi kịch tiềm tàng đạt đến đỉnh điểm trong những hình tượng minh họa cho trường ca “Con quỷ” của M.Yu.Lermontov (màu nước, phấn, 1890–1891), trong những bức tranh “Con quỷ” (1890) và “Quỷ sứ bị đánh bại” (1902). Sự kết hợp những dạng phát tia lửa trong bức tranh cuối cùng đã gần với nghệ thuật không đối tượng. Năm 1902 Vrubel bị khủng hoảng tâm lý nặng, nhưng ngay cả trong thời kỳ này (chủ yếu ở trong những bệnh viện Matxcơva và Peterburg) Vrubel cũng thực hiện được không ít tác phẩm với trình độ tinh tế (Ngọc trai, 1904; V.Ya.Briusov, 1906). Năm 1906 họa sĩ bị mù. Vrubel qua đời ở Peterburg ngày 14 tháng 4 năm 1910. Ảnh hưởng nghệ thuật của Vrubel là rất đa dạng – trong những chừng mực khác nhau. Hầu như tất cả các nhà hoạt động nghệ thuật lớn của Nga trong thế kỷ XX đều chịu ảnh hưởng của ông. Ngày 1 tháng 3 năm 2006 vừa qua Ngân hàng Nước Nga phát hành đồng tiền xu mệnh giá 2 rub kỷ niệm 150 năm ngày sinh của M.A.Vrubel. |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Nhân tiện nhờ các bạn xem xem bản dịch này có gì cần sửa không nhé
Bài gốc (bài viết thứ 2) ở đây: http://www.hrono.ru/biograf/vrubel.html ============================= Mikhail Alekxandrovich Vrubel là một tài năng đa dạng hiếm có. Ông nổi tiếng như một nghệ sĩ vẽ văn bia kỷ niệm, họa sĩ sân khấu, nhà điêu khắc và thậm chí còn là kiến trúc sư. Nhưng dù có làm việc trong lĩnh vực nào thì họa sĩ cũng tạo ra những tác phẩm xuất sắc. Ngay cả trong số các họa sĩ xuất sắccủa thời kỳ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX thì Vrubel cũng nổi bật bởi sự độc đáo không lặp lại của nghệ thuật của mình. Sự độc đáo của ý tưởng, sự mới mẻ của hình thức thể hiện thường cản trở những người cùng thời hiểu được nghệ thuật của ông, còn sự không công bằng nghiệt ngã của phê bình đã làm thương tổn nặng nề người họa sĩ tinh tế này. Họa sĩ bậc thầy I.E.Repin hồi tưởng “Cả cuộc đời anh ấy chịu rất nhiều đau khổ, nhưng tài năng rực rỡ của anh ấy đã cho ra những tác phẩm tuyệt vời”. Mikhail Alekxandrovich Vrubel sinh ngày 17 tháng 3 năm 1856 ở thành phố Omsk trong gia đình một luật sư quân đội. Người cha rất quan tâm tới sự say mê hội họa của con trai. Trong thời gian sống ở Peterburg không lâu Vrubel học tập ở trường vẽ và thường đến thăm Ermitage. Sau khi tốt nghiệp trường gymnasia Odessa, nơi đã học văn học, lịch sử, tiếng Đức, Pháp và la tinh rất nghiêm túc, Vrubel thi vào khoa Luật Trường Đại học Tổng hợp Peterburg. Năm 1879 Vrubel tốt nghiệp đại học. Tới lúc đó thì Vrubel đã quyết định đi theo con đường nghệ thuật, và vào năm 1880 thi vào Trường Nghệ thuật Peterburg vào lớp của thầy giáo nổi tiếng P.P. Chischiakov. Trong trường này Vrubel làm việc rất nhiều và nghiêm túc. Trong số những bức vẽ hồi còn học trong trường của Vrubel nổi bật nhất là bức vẽ màu nước “Lễ đính hôn của Maria và Joseph” (1881). Bố cục của bức tranh gợi nhớ đến bức tranh của Raphael cùng chủ đề, cùng với đó trong bức vẽ ảnh hưởng các phác họa chủ đề Kinh Thánh của A.A.Ivanov, nhưng cấu trúc bố cục, chuyển động của các nhân vật sôi nổi hơn. Mùa thu năm 1883 Vrubel thuê một xưởng vẽ để làm việc độc lập. Ở đây Vrubel đã vẽ bức màu nước “Người mẫu trong khung cảnh Phục hưng”. Bức tranh này đã cho thấy khả năng của họa sĩ truyền đạt sự đa dạng của hình dạng vật chất, sự phong phú của các tông màu sắc. Ngay từ khi còn học ở Trường Nghệ thuật Vrubel đã bắt đầu quan tâm đến những chủ đề nhân văn, triết học, và bị lôi cuốn bởi những hình tượng con người mạnh mẽ, nổi loạn và thường là bi kịch. Không phải ngẫu nhiên mà bức tranh đầu tiên của Vrubel gắn liền với bi kịch của Shakespeare: đó là “Hamlet và Ophelia” (1884). Vào tháng tư năm 1884 Vrubel rời Trường Nghệ thuật nhận lời đề nghị của nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng A.Prakhov tham gia vào phục chế Nhà thờ Kirillovskaya (được xây từ thế kỷ 12). Họa sĩ đã hoàn thành việc phục hồi 150 mảnh của những bức vẽ cổ trên tường và vẽ 4 bức vẽ mới trên chỗ của những bức không phục hồi được. Ngoài các bức vẽ trên tường thì Vrubel còn vẽ 4 bức tranh thánh (icona). Họa sĩ vẽ những bức tranh thánh này ở Venice, nơi Vrubel nghiên cứu nghệ thuật thời kỳ Đầu Phục hưng. Tác phẩm tốt nhất trong số đó là bức tranh thánh “Đức Mẹ” – hình tượng một người mẹ hiền dịu – nữ tính và cùng lúc đó lại u buồn, dường như linh cảm được số phận bi thảm của con trai mình. Tuy nhiên đỉnh cao trong nghệ thuật của Vrubel thời kỳ Kiev là những phác họa Nhà thờ Vladimirsky (1887). Khi làm việc ở nhà thờ Kirillovskaya, khi nghiên cứu những bức vẽ trên tường nhà thờ Sophiskaya, họa sĩ đã cảm nhận được bản chất của nghệ thuật vẽ Nga cổ. Trong những bức phác họa Nhà thờ Vladimirsky đã thể hiện rất rõ mối quan hệ chặt chẽ của nghệ thuật Vrubel và những kế thừa hội họa cổ vốn gần gũi với tài năng và tâm hồn của họa sĩ. Hình tượng cao thượng của “Phục sinh”, hay hình ảnh “Thiên thần và lư và ngọn nến” rực rỡ hào quang, dường như được vây quanh bởi nền xanh không đáy của bầu trời, và cuối cùng là “Khóc trên quan tài” với cảm xúc bi kịch đầy sức mạnh. Đức Mẹ với đôi mắt mở to đầy nước mắt, dường như hóa đá trong nỗi đau khổ trên chiếc quan tài của con trai mình. Tiết tấu hoành tráng trong những nếp gấp quần áo, những đường nét nghiêm nghị, sự giản dị đơn sắc của gam màu, sự hàm súc tối đa của bố cục đã giúp đỡ họa sĩ diễn tả chiều sâu và sự vĩ đại của nỗi buồn. Trong “Khóc trên quan tài” – một trong những tác phẩm Vrubel đã phối hợp hữu cơ sự hài hòa và sự hoành tráng của nghệ thuật cổ với sự biểu cảm tình cảm của con người thế kỷ XX. Họa sĩ không thực hiện được những suy tưởng của mình trong các bức vẽ trên tường nhà thờ - sự tham gia của Vrubel trong việc trang trí nhà thờ bị giới hạn trong việc vẽ các đường viền rắc rối – nhưng ngay cả trong việc đó họa sĩ vẫn vẽ say sưa, đem vào đó sự giàu có của óc tưởng tượng. Theo lời của họa sĩ lừng danh Nhesterov thì Vrubel “một con người trong trắng vô tư không thuộc hành tinh này, anh ấy bay bổng trong những giấc mơ của mình, và nhữnng ước mơ ấy khi đã ghé thăm anh ấy rồi thì cũng không ở lại lâu, chúng nhường chỗ cho những ước mơ mới, những hình ảnh mới, những hình ảnh chưa bao giờ có, chưa được thậm chí chờ đợi, những câu đố chưa được giải đáp, những cách nhìn tuyệt vời của cuộc sống và óc tưởng tượng của một họa sĩ thần kỳ từ hành tinh khác. Năm 1889 Vrubel đến Matxcơva bắt đầu giai đoạn mới rực rỡ nhất trong cuộc đời nghệ thuật của mình. Họa sĩ nhận được một loạt đặt hàng vẽ panno trang trí. Một trong số đó – “Venice” (1893) – được vẽ theo ấn tượng chuyến đi Italia (1891-1892). Trước khán giả xuất hiện một thành phố của thời đại Phục hưng với vẻ đẹp lộng lẫy trong ngày lễ Karnaval rực rỡ. Nội dung của bức tranh “Tây Ban Nha” (1894), có thể là được gợi cảm hứng từ vở opera “Carmen” của Bizet, vở opera được Vrubel rất yêu thích và cho rằng đó là một “kỷ nguyên trong âm nhạc”. Sự hồi hộp của các nhân vật, sự căng thẳng của màu sắc, dòng những tia sáng mặt trời nóng bỏng gọi cảm xúc mâu thuẫn, kịch tính. Đất nước như đang sống động với những cảm xúc nóng bỏng sôi sục, tình yêu và sự căm giận mạnh mẽ. Gần gũi theo một khía cạnh nào đó với bức tranh này là bức “Gadanka” (1895), một tác phẩm tâm lý sâu sắc. Giữa ánh sáng lấp lánh tím hồng của thảm và lụa vải Vrubel đã làm nổi bật khuôn mặt. Cái nhìn chăm chú của đôi mắt cháy bỏng cuốn hút mạnh mẽ, dường như trước mặt người phụ nữ này đang mở ra bí mật đáng sợ của tương lai. Trong thời gian này Vrubel vẽ nhiều tranh chân dung, và đối với mỗi bức chân dung họa sĩ lại tìm ra những thủ thuật hội họa đặc biệt. Trong bức chân dung K.D.Artxưbusheva (1897) có thể cảm thấy sự thăng bằng bình thản, chân dung của S.I.Mamontov (1897) lại được xây dựng trên sự tương phản các nhịp điệu bố cục, chi tiết, màu sắc, làm gợi nên sự nóng bỏng của hình ảnh, trong đó sự vĩ đại gần kề sự bất lực. Tình yêu âm nhạc có từ lâu dẫn Vrubel đến với đoàn hát opera tư nhân của S.I.Mamontov, nơi họa sĩ chơi thân với N.A.Rimsky-Korsakov, và tham dự vào việc bố trí sân khấu cho các vở opera “Vị hôn thê của sa hoàng” và Chuyện cổ tích về sa hoàng Saltan. Sau đó Vrubel tham gia thiết kế các dự án kiến trúc, trong đó chỉ có một dự án đựơc thực hiện – hàng rào cạnh nhà Mamontov ở Matxcơva. Ở Abramtxevo thì họa sĩ đứng đầu một xưởng gốm, tạo ra một sêri những tác phẩm điêu khắc gốm theo chủ đề cổ tích “Lel”, “Volkhova”, “Kupava”. Nhiều tìm tòi sáng tạo của Vrubel gắn liền với Abramtxevo. Nơi đây Vrubel bắt đầu quan tâm tới văn hóa dân gian, tới những truyền thống dân tộc. Trong một bức thư gửi em gái Vrubel viết: “Bây giờ anh đang ở Abramtxevo và anh lại nghe thấy nốt nhạc dân tộc mà anh muốn bắt lấy trên tranh vẽ và trong các đường viền. Đó là âm nhạc của một người nguyên vẹn, không bị chia cắt bởi những xao nhãng của Phương Tây trật tự, phân biệt và nhợt nhạt” Họa sĩ tìm “âm nhạc của một người nguyên vẹn” trong folklore Nga, và trong những năm 90 Vrubel thường xuyên đề cập tới những hình ảnh của folklore. Vrubel không quan tâm tới những minh họa cho những tráng sĩ ca hay truyện cổ tích nhất định, họa sĩ mong muốn cảm nhận được khái niệm của cha ông về con người và thiên nhiên, nhìn thế giới bằng cặp mắt của họ. Và bức tranh “Tráng sĩ” (1898) của Vrubel là như thế - sản phẩm của thiên nhiên xung quanh, người đã cho tráng sĩ ấy sức mạnh và sự vĩ đại. Trong bức tranh “Pan” (1899), thì vị thần Hy Lạp biến thành thần cây gỗ Nga. Già cả, đầy những nếp nhăn, với đôi mắt xanh sâu thẳm, ngón tay như những cành khô, dường như Pan xuất hiện từ một gốc cây cũ kỹ. Những đồng cỏ ẩm ướt vô tận, dòng suối uốn khúc, những cây bạch dương mảnh dẻ đứng lặng trong sự yên lặng của hoàng hôn đang buông xuống mặt đất, được chiếu sáng bởi ánh sáng đỏ của vầng trăng khuyết – khung cảnh đặc trưng Nga – trở nên nhuốm sắc màu sắc thần bí kỳ lạ. Sự phối hợp hài hòa giữa thực tế và tưởng tượng còn được thể hiện trong bức tranh “Công chúa – Thiên nga” (1900). Bố cục bức tranh tạo nên ấn tượng dường như chúng ta nhìn vào thế giới cổ tích, nơi bỗng nhiên cô gái – thiên nga thần kỳ hiện ra, bơi đến bờ biển bí ẩn xa xăm và sắp biến mất. Những tia nắng mặt trời cuối cùng lấp lánh trên bộ lông chim trắng như tuyết chuyển thành các màu sắc cầu vồng rực rỡ. Cô gái quay lại, khuôn mặt tinh tế dịu dàng tràn đầy nỗi buồn, đôi mắt sáng một nỗi buồn bí hiểm – trong đó có nỗi buồn day dứt… của sự cô đơn. “Công chúa – Thiên nga” là một trong những hình ảnh phụ nữ quyến rũ nhất, tâm trạng nhất được họa sĩ tạo ra. Tình yêu thiên nhiên mãnh liệt giúp cho họa sĩ truyền đạt được sắc đẹp của thiên nhiên. Những chùm hoa “Tử đinh hương” (1900) lộng lẫy của Vrubel dường như cháy rực ngọn lửa tím, sống, thở và tỏa ngát hương trong ánh sáng rực rỡ đêm sao. Một trong những người cùng thời của Vrubel đã viết: “Bà chúa thiên nhiên đã làm anh ấy mù mắt … vì anh ấy đã nhìn quá chăm chú vào những bí mật của bà”. Ngang với những chủ đề anh hùng ca, trong suốt những năm 90 Vrubel còn làm việc với hình ảnh Ác quỷ (Демон). Trong một bức thư gửi cha họa sĩ đã nói lên quan niệm của mình về Ác quỷ: “Ác quỷ - đó là một thần linh không chỉ đầy ác ý, mà còn đau khổ và buồn rầu, mặc dù vậy đó là một thần linh oai vệ và uy nghi”. Lần đầu tiên họa sĩ thử giải quyết chủ đề này vào năm 1885, song chính họa sĩ đã hủy bỏ tác phẩm. Trong bức tranh “Ác quỷ ngồi” (1890) người khổng lồ trẻ trung được mô tả trong những tia nắng hoàng hôn trên đỉnh núi. Thân hình mạnh mẽ tuyệt đẹp dường như quá chật đối với khung, đôi tay ???, trong đôi mắt là nỗi buồn siêu phàm. “Ác quỷ” của Vrubel – đó là sự kết hợp của những mâu thuẫn: vẻ đẹp, sự vĩ đại, sức mạnh và cùng với đó là sự đè nén, sự bất lực, nỗi buồn: chung quanh Ác quỷ là một thế giới cổ tích tuyệt vời, nhưng đó là thế giới lạnh lẽo, hóa đá. Trong màu sắc của bức tranh là những sự tương phản. Màu tím lạnh lẽo “đấu tranh” với màu vàng cam ấm áp. Vách đá, hoa, hình dạng được vẽ theo một cách đặc biệt của Vrubel: họa sĩ dường như chẻ hình dạng ra những khía cạnh khác nhau, và tạo nên ấn tượng rằng thế giới được dệt từ những phiến đá quý. Và cảm xúc nguyên gốc sinh ra. Suy nghĩ bằng những hình ảnh tưởng tượng, Vrubel gắn bó chặt chẽ với cuộc sống xung quanh, hình ảnh Ác quỷ của họa sĩ hết sức hiện đại, trong đó là hình bóng không chỉ những trăn trở cá nhân của họa sĩ, mà còn của cả chính thời đại với những tương phản và mâu thuẫn của nó. Như thi sĩ A.Blok đã viết: “Ác quỷ của Vrubel là biểu tượng của thời đại chúng ta, không phải đêm, không phải ngày, không phải bóng tối, mà cũng không phải ánh sáng”. Năm 1891 khi chuẩn bị xuất bản kỷ niệm các tác phẩm của Lermontov do Kolchalovsky chủ biên thì Vrubel đã thực hiện 30 bức vẽ minh họa, trong đó tới một nửa là cho Ác quỷ. Những minh họa này, như những tác phẩm độc lập, rất có giá trị trong lịch sử sách Nga, và chứng tỏ sự hiểu biết sâu sắc của Vrubel đối với thi ca của Lermontov. Đặc sắc nhất là bức vẽ màu nước “Đầu Ác quỷ”. Trên nền những đỉnh núi đá phủ tuyết trắng là cái đầu với mái tóc xoăn đen. Khuôn mặt nhợt nhạt, đôi môi rám nâu dường như bị đốt cháy bởi ngọn lửa bên trong, cặp mắt rực lửa với cái nhìn sôi sục chứa đầy nỗi đau không chịu đựng nổi. Trong cái nhìn ấy là khát vọng “hiểu biết và tự do”, linh hồn nổi loạn của sự hoài nghi. Vài năm sau Vrubel vẽ bức “Ác quỷ bay” (1899). Hình ảnh tràn đầy linh cảm về cái chết và sự diệt vong. Màu sắc chung của bức tranh là ảm đạm. Và “Ác quỷ bị đánh bại” – bức tranh cuối cùng của Vrubel viết vào những năm 1901-1902. Họa sĩ đã làm việc căng thẳng và cực nhọc để có bức tranh này. A.Benua hồi tưởng lại rằng bức tranh đã được đem ra trưng bày ở triển lãm “Thế giới nghệ thuật” rồi, mà Vrubel vẫn còn tiếp tục vẽ lại khuôn mặt của Ác quỷ, thay đổi nền màu của bức tranh. Thân hình bị đánh biến dạng của Ác quỷ với đôi cánh đã gẫy nằm bất lực trong hẻm núi, đôi mắt cháy lên giận dữ. Thế giới chìm vào bóng tối, tia nắng cuối cùng bừng lên trên vương miện của Ác quỷ, trên đỉnh núi. Linh hồn nổi loạn đã bị lật đổ, nhưng không bị bóp nghẹt. Những người cùng thời nhìn thấy trong hình tượng đó căn nguyên nổi loạn của con người tuyệt vời không chịu khuất phục. Đó là những lời của A.Blok: “Ôi sự bất lực trong khoảnh khắc! Thời gian như màn khói nhẹ nhàng! Chúng ta sẽ lại giang rộng cánh! Và lại bay cùng trời đất mênh mang!...” và những lời của Shaliapin sẽ nói sau đó không lâu: “Và Vrubel đã vẽ ra những Ác quỷ của mình! Mạnh mẽ, đáng sợ, khủng khiếp và không thể sánh bì … Và Ác quỷ của tôi đó là từ Vrubel mà ra”. Sau khi kết thúc bức tranh Ác quỷ bị đánh bại thì Mikhail Alekxandrovich Vrubel bị ốm nặng và phải nằm viện. Căn bệnh khi đỡ khi nặng kéo dài tới năm 1904, sau đó thì Vrubel khỏe được một thời gian ngắn. Thay đổi nội dung bởi: Nina, 13-12-2007 thời gian gửi bài 08:57 |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Năm 1904 Vrubel đi Peterburg. Đó là sự bắt đầu của thời kỳ sáng tạo cuối cùng của họa sĩ.
Năm 1904 Vrubel vẽ bức tranh “Seraphim sáu cánh”, theo ý tưởng gắn với bài thơ “Nhà tiên tri” của Pushkin. Thiên thần hùng mạnh trong bộ cánh lấp lánh cầu vồng trong một khía cạnh nào đó tiếp tục chủ đề Ác quỷ, nhưng hình tượng này nguyên vẹn hơn, hài hòa hơn. Những năm cuối đời Vrubel tạo nên một trong những hình tượng dịu dàng nhất, mảnh dẻ nhất – “Chân dung N.I.Zabela trên nền những cây bạch dương” (1904). Cũng thời gian đó họa sĩ đã vẽ nhiều chân dung tự họa đặc sắc. Từ năm 1905 Vrubel đã phải ở hẳn trong bệnh viện nhưng vẫn tiếp tục làm việc. Họa sĩ vẽ những cảnh sinh hoạt của bệnh viện, chân dung các bác sĩ, phong cảnh. Những bức phác thảo thực hiện theo những phong cách khác nhau, nhưng đều cho thấy sự quan sát sắc sảo và ấn tượng sâu đậm của họa sĩ. Bác sĩ Usoltxev, người điều trị Vrubel đã viết: “Đó là một họa sĩ – người sáng tạo tới tận xương tủy. Anh ấy luôn luôn sáng tạo, mọi lúc, có thể nói là không ngừng nghỉ, và sáng tạo đối với anh ấy cũng dễ dàng và cần thiết như hơi thở vậy. Chừng nào con người còn sống thì còn thở, còn khi Vrubel còn thở thì anh ấy còn sáng tạo”. Vài năm trước khi qua đời Vrubel bắt đầu làm việc với bức chân dung của V.Briussov (1906). Ít lâu sau đó Briussov viết rằng cả đời ông cố gắng giống bức chân dung đó. Vrubel không kịp hoàn thành bức tranh này, vào năm 1906 họa sĩ bị mù. Vrubel chịu đựng đòn đau này một cách bi thảm, trong bối cảnh nặng nề của bệnh viện họa sĩ mơ ước về bầu trời xanh trên những cánh đồng tối sẫm, về những sắc màu xà cừ lộng lấy của mùa xuân. Niềm an ủi duy nhất đối với ông là âm nhạc. Họa sĩ Vrubel qua đời ngày 14 tháng 4 năm 1910. Mikhail Vrubel. Self-Portrait. 1882. Watercolor on paper. The Russian Museum, St. Petersburg, Russia. Khi tạo ra những hình tượng bi thảm, họa sĩ đã gửi gắm khởi nguồn tươi sáng cao thượng vào trong đó. Cuộc đấu tranh của ánh sáng và bóng tối – đó là nội dung của phần lớn các tác phẩm của Vrubel. Trên nấm mộ của họa sĩ, nhà thơ A.Blok đã nói: “Vrubel đến với chúng ta như một người đưa tin, rằng trong đêm màu tím có mạ vàng của buổi chiều trong trẻo. Vrubel để lại cho chúng ta những Ác quỷ của mình, như những người thề nguyền chống lại cái ác màu tím, chống lại bóng tối. Trước những gì mà Vrubel và những người như anh ấy mở ra trước loài người một lần trong suốt trăm năm, tôi chỉ còn biết run rẩy”. Thay đổi nội dung bởi: Nina, 13-12-2007 thời gian gửi bài 09:03 |
![]() |
| Bookmarks |
|
|