Trở về   Nước Nga trong tôi > Chiến tranh giữ nước vĩ đại > Hồ sơ chiến tranh thế giới

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #1  
Cũ 13-03-2013, 09:39
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

CUỘC NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN 1968


Việt Nam chưa từng biết đến một cuộc nổi dậy nào như thế. Vào dịp Tết âm lịch năm 1968 các trận chiến đã nổ ra tại 142 thị trấn và làng mạc. Ở cả Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế.

Mặt sân sở chỉ huy trung tâm của Mỹ tại Huế phủ đầy các vũng nước mưa. Dưới sức nặng của nước mưa, mái vải bạt các xe tải và xe gip cong võng xuống. Ngày thứ năm của cuộc chiến trôi qua, mọi người không hiểu tại sao Việt Cộng lại không tấn công ngôi nhà chỉ huy này trong đêm đầu tiên. Đêm đó, một con ngỗng trắng lớn đi lang thang vào sân. Đôi cánh của nó nặng nề do dính những lớp dầu mỡ nổi váng trên những vũng nước trong sân. Mỗi lần có chiếc xe nào tiến vào sân, con ngỗng lại bắt đầu làm ồn và đập cánh giận dữ, nhưng nó không có ý định rời khỏi sân. Như những gì được biết, người ta đã không ăn thịt nó.

Hai trăm người bị nhồi nhét vào hai căn phòng nhỏ, trước đây từng là phòng ăn. Những người Mỹ đã không vui vẻ gì khi phải sắp xếp từng đó lực lượng lính thuỷ đánh bộ được điều tới đây vào hai căn phòng, còn cánh nhà báo thì vung vẩy chân, họ đang chờ đợi cuộc chiến sẽ chuyển sang phía bờ sông đối diện, bên Thành Nội, việc chờ đợi này đơn giản đã làm họ nổi quạu. Quả là may mắn khi ai đó tìm được một chỗ trên sàn đủ để ngả lưng, thậm chí còn may hơn thế nữa - khi tìm thấy một chiếc cáng, và hoàn toàn tuyệt vời - nếu cáng còn mới và quan trọng nhất, là chưa có ai nằm ...

Suốt cả đêm dài, những tấm kính cửa sổ ít ỏi còn nguyên vẹn rung lên vì những tiếng bom nổ phía bên kia sông, còn ngay bên cạnh nhà là tiếng súng cối nổ liên tục. Khoảng hai hay ba giờ sáng nhóm lính thủy đánh bộ tuần tra trở về, nện bước quanh phòng, không để ý xem có dẵm lên chân ai không. Họ bật điện đài và gọi nhau vang vọng cả phòng. “ Này, các chàng trai, các anh không thể tôn trọng những người khác một chút à?” - Một nhà báo người Anh cất tiếng hỏi. Những lời của anh ta đã làm nổ ra một trận cười lớn đến nỗi đánh thức tất cả những người khác vẫn còn đang ngủ.

Phía bên kia đường là một trại giam các tù binh, và một buổi sáng ở đó đã có đám cháy. Tất cả nhìn thấy khói đen qua hàng rào dây thép gai, nghe tiếng súng tiểu liên bắn. Trại giam đã giam chật các tù binh và những người bị nghi ngờ là thân Việt Cộng. Lính canh giữ cho rằng đám cháy đã được tổ chức để che dấu cho một cuộc trốn trại. Binh lính Nam Việt Nam và một số lính Mỹ bắn hú hoạ vào đám lửa. Một số thân người rơi xuống đất và lập tức chìm trong khói lửa. Chỉ riêng trong một dãy phố, trên vỉa hè là những thi thể của cư dân địa phương. Họ nằm rải rác cả ở trong công viên cạnh bờ sông. Trời mưa lạnh, mặt trời bị mây che khuất, bóng tối ẩm ướt, tất cả như làm nền cho bối cảnh những gì đã xảy ra trong Thành nội Huế.

Đối phương đã lẩn trốn "ẩn sâu" trong các bức tường của Thành Nội, nên các máy bay phải phá hủy lần lượt từng mét tường thành, thả bom napal chỉ cách vị trí tiền tiêu khoảng một trăm mét. Có cậu bé khoảng mười tuổi đi tới một nhóm lính Mỹ. Nó cười và lắc đầu một cách khôi hài. Cơn giận dữ đang bùng cháy trong mắt cậu bé có thể đã giải thích cho tất cả điều gì đã xảy ra với nó, nhưng phần lớn các lính Mỹ đã không hiểu rằng cậu bé Việt Nam này có thể bị điên, và cuối cùng khi họ cũng hiểu ra điều đó thì đứa trẻ đã cố gắng cào vào mắt họ, nắm chặt lấy bộ áo liền quần của họ, cho đến khi nó bị túm chặt tay từ phía sau bởi một người lính bộ binh da đen.
- Đi đi, cậu bé, - anh ta nói - khi mà một trong những người này...chưa kịp bắn chết chú mày, - và anh ta đã đưa đứa trẻ tới chỗ các y tá.

Số người bị thương được chở tới các trạm y tế bằng xe tải loại nửa tấn. Một trong số những người lính trẻ đã khóc, anh đang nằm trên cáng, còn viên trung sĩ nắm lấy tay anh. Người lính tiếp tục lặp đi lặp lại:
- Tôi không sống được nữa, trung sĩ, tôi không sống được nữa. Tôi sắp chết, phải không? Sắp chết ấy?
- Trời ơi, không, tất nhiên không – viên trung sĩ trả lời.
- Tôi sẽ chết! Sẽ chết!
- Cậu không bị thương nặng lắm đâu, - trung sĩ trả lời - Cố chịu đựng đi, mẹ kiếp. Cậu có hiểu không ?
Bị thương ngay tại cổ họng. Xem chừng chàng trai này khó có thể sống được.

Tiểu đoàn lính thuỷ đánh bộ tấn công vào Thành Nội. Thiệt hại vào khoảng một người cho mỗi mét tường tái chiếm được, một phần tư quân số tiểu đoàn đã thiệt mạng. Tiểu đoàn này, sau đó được biết tới như "Tiểu đoàn Thành Nội", năm 1968 đã tham gia tất cả các trận đánh ác liệt nhất rơi vào số phận của đơn vị lính thuỷ đánh bộ này. Vào tháng Giêng, giữa đèo Hải Vân và Phú Lộc, tiểu đoàn đã chiến đấu với các đơn vị của đối phương, cũng chính là các đơn vị họ gặp lại tại đây, ở Huế vào tháng Hai. Quân số mỗi đại đội còn lại chưa bằng một trung đội. Rõ ràng ai cũng hiểu điều gì đã xảy ra. Tất cả chỉ mong muốn sẽ là một trong những người được di tản vì bị thương. Chỉ có hy vọng như vậy họ mới có thể thoát ra khỏi địa ngục u ám khủng khiếp này.

Trận chiến giành lại Huế kết thúc. Các đơn vị của sư đoàn kỵ binh trấn giữ các khu vực thành cổ phía đông bắc Thành Nội, còn các chi đội 101 (sư đoàn lính thuỷ đánh bộ) thì đóng chốt án ngữ con đường đối phương thường đưa thêm người vào tăng cường cho lực lượng của họ. Lính thuỷ đanh bộ Nam Việt Nam và các đơn vị của sư đoàn 1 dồn ép các đơn vị còn lại của đối phương vào tường. Lá cờ Việt Cộng, tung bay khá lâu trên tường thành phía nam Huế đã bị tháo xuống và treo thay vào đó là lá cờ Mỹ. Một hai ngày sau đó, quân lính Nam Việt Nam đã vượt qua các bức tường của Cung điện Hoàng gia, nhưng đối phương đã không còn ở đó. Ngoại trừ một vài tử thi trong đường hào. Tất cả các nạn nhân bị đốt cháy.

Khi quân Việt Cộng tấn công vào Huế, dân chúng còn đang ăn uống đón Tết. Trước khi Việt Cộng rút đi, những người dân đã buộc phải nấu cơm ăn trên bề mặt các hầm hào. Một trong những thành phố đẹp nhất Việt Nam đã bị phá hủy tới bảy mươi phần trăm.

Sau khi đối phương rút lui, một buổi lễ kéo cờ chính thức được tổ chức đánh dấu sự kiện này. Hàng trăm người tỵ nạn bị đẩy ra khỏi trại và đưa tới bờ sông phía phía nam; họ âm thầm và cau có đứng trong mưa, ngước nhìn lá cờ của miền Nam Việt Nam được kéo lên. Nhưng sợi dây thừng trên cột cờ đã bị đứt, cho rằng du kích đã bắn tỉa làm đứt dây thừng, đám đông trong cơn hoảng loạn đã giải tán. (Báo chí Sài Gòn đưa tin đã không đề cập đến trời mưa, không nói gì về sợi dây bị đứt, mà chỉ nói tới đám đông hân hoan hàng ngàn người).

Cuộc nổi dậy ở tất cả các thành phố miền Nam Việt Nam dịp Tết - năm mới 1968 theo âm lịch của những người yêu nước đã kết thúc mà chưa thành công. Nhưng đó là một cuộc "tổng diễn tập", một thử nghiệm sức mạnh chuẩn bị cho chiến thắng trong tương lai.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), Huonghongvang (20-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #2  
Cũ 13-03-2013, 16:14
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

CHƯƠNG VI.

Đường xuống "Cực nam" của Việt Nam.


Đến cuối chiến tranh ... vẫn còn hơn một tháng. Chiến dịch "Hồ Chí Minh" đã tăng nhịp độ, nhưng ít ai nghĩ rằng những thành phố lớn như Đà Nẵng, Huế, Nha Trang và hơn nữa những pháo đài chính Sài Gòn - Chợ Lớn - Biên Hòa lại có thể sụp đổ dễ dàng.

Tuy nhiên, kết cục đã được định trước. Giá của cuộc chiến - cuộc sống của nguyên một thế hệ. Mục tiêu - giành chiến thắng, thống nhất hai miền Việt Nam thành một quốc gia. Và chúng tôi, một số ít các nhà báo, với máy ảnh "Leika" và sổ ghi chép đã đi theo đội ngũ hành quân chiến đấu của các đơn vị quân đội, biết rằng mỗi dòng của những bài báo được viết và xuất bản sẽ đi vào lịch sử của cuộc chiến Đông Dương và tạo lập một cuộc sống mới ở Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.


"Tôi đón hòa bình với niềm vui mừng". Huế - thành phố trên sông Hương


Có lẽ ở miền Trung Việt Nam không có thành phố nào có ấn tượng và đẹp như tranh hơn Huế. Cựu cố đô trải dài ở giữa những ngọn đồi xanh dọc theo hai bờ con sông nổi tiếng Hương giang - sông Hương - con sông của mùi thơm, mang nước từ dãy núi hùng vĩ ở miền Trung - dãy Trường Sơn, chảy qua các khu rừng thông, nơi bao phủ bởi mùi hương kỳ diệu của các loại thảo mộc. Mùi hương của chúng được lan truyền xuống cả dòng nước của sông. Vì vậy, nếu tin vào truyền thuyết về tên con sông này thì đây cũng là một trong những tuyến giao thông đường thuỷ đẹp nhất tại Việt Nam.

Những gì liên quan đến lịch sử đầu tiên của Huế là năm 1306, khi nơi này được sáp nhập vào Đại Việt (một trong những cái tên cổ của Việt Nam). Vua Tông (Trần Nhân Tông) đã gả con gái Trần (Huyền Trang) cho hoàng tử nước láng giềng Champa (Chiêm Thành), và đổi lại nhận được hai châu - Thuận và Hóa cùng thành phố Phú Xuân. Những người châu Âu sau đó đã đi tới đây vào thế kỷ XVII, cái tên Phú Xuân đã được gọi chuyển đổi thành Seina, Sinheia, Sinzheia cho đến khi tên chính thức "Huế" được hình thành.

Tôi đứng trên sân thượng của khách sạn "sông Hương" và tận hưởng sự tươi mát của buổi tối mùa xuân. Chỉ một vài năm trước đây, khách sạn này thuộc về em trai của cựu độc tài Ngô Đình Diệm. Ở đây trên sân thượng này cách đây không lâu, chính quyền thành phố, các quan chức nước ngoài và Sài Gòn đã tổ chức tụ họp. Buổi lễ đã diễn ra xa hoa trịnh trọng. Ở phía dưới là sân khấu bằng đá có dáng hình một bông hoa sen. Có những ca sĩ và vũ công trình diễn. Nhưng khi trời gần sáng, dãy đèn trước sân khấu đã tắt, những nữ diễn viên cởi bỏ trang phục biểu diễn sặc sỡ của họ, rửa sạch phấn son trang điểm. Mệt mỏi, kiệt sức, họ đi bộ qua cây cầu Tràng Tiền xây dựng vào năm 1897 sang phía bên kia sông Hương về lại những túp lều khốn khổ của họ cùng với chiếc phản - giường tre cũ nát ọp ẹp.

Những người phục vụ quán bar, nhà hàng, ngư dân, công nhân sống chật chội ở vùng nghèo nhất của Huế - Phú An. Hơn 11 ngàn người sống trên những con thuyền gỗ nhỏ cũ. Ở đây con người khi sinh ra bị bỏ rơi, sống cùng quẫn, bất hạnh. Khi họ chết đi, tình cảnh cũng như vậy.

26 tháng 3 năm 1975 ngày giải phóng Huế đã đến.

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 13-03-2013 thời gian gửi bài 21:16
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #3  
Cũ 13-03-2013, 16:18
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Có lần tại khu Phú An trên bờ sông Hương, tôi đã gặp một chàng thanh niên. Anh ta lấy ra từ chiếc cặp bằng vải bạt một chồng vở và cắm cúi đọc. Anh viết gì đó vào vở, sau đó đặt những quyển vở xuống bãi cỏ ven bờ và ngồi ngắm nhìn dòng nước sông Hương đang từ từ trôi lặng lẽ.

Tôi đi đến chỗ anh. Mắt anh vẫn còn ngấn lệ. Người Việt thường ưa ở một mình với những nỗi niềm riêng, không muốn người ngoài chứng kiến những thể hiện cảm xúc cá nhân của mình. Bị bắt gặp, người ta sẽ tìm cách lánh xa, hoặc tìm cách thay đổi ấn tượng của người ngoài về tâm trạng của mình. Người mới quen của tôi, sau khi được biết đã gặp một nhà báo Liên Xô, anh nhanh chóng lau nước mắt, cất cẩn thận những cuốn vở vào trong cặp, nhưng đã không tỏ ra chút nào là có ý muốn bỏ đi. Thay vào đó, anh đứng lên, bình tĩnh vuốt mái tóc rối và đĩnh đạc chìa tay ra.

- Vũ Cao - anh thanh niên tự giới thiệu. - Sinh viên của Đại học Huế. - Sau đó, một lần nữa, anh cúi xuống và nhặt lên một...chiếc gậy tre.
Tôi nhận thấy thay vì chiếc chân phải bình thường thì ở chàng thanh niên - là một chiếc chân giả. Tôi đã muốn xin lỗi, rồi đi tiếp, để cậu ta tiếp tục với những suy nghĩ của mình, không bận tâm tới sự hiện diện của tôi.
Người đàn ông trẻ tuổi dường như hiểu được ý nghĩ của tôi, chạm tay mình vào vai tôi và mỉm cười:
- Không! Đừng đi! Tôi chưa bao giờ thấy một người Nga. Tôi muốn nói chuyện với ông. Và tôi có thể nói về cái chân này ngay bây giờ. Bị thương vào năm 1968. Bác sỹ đã phẫu thuật cắt bỏ nó cho tôi…

Sau đó, chúng tôi đi từ từ dọc theo bờ sông, gần như được đậu kín bởi hàng trăm chiếc thuyền chài lớn nhỏ.
- Không nên để tâm đến khuyết tật về thể chất của tôi - đột nhiên Cao nói. Mất mát của tôi không là gì, so với những đau khổ mà nhân dân tôi phải chịu đựng. Tôi thấy ông là người mới đến Huế. Hãy đi thăm các khu vực khác nhau của thành phố, nhất là phải đến thăm ngôi chùa đẹp đẽ Linh Mụ ở phía bên kia sông Hương, thăm các cung điện hoàng gia tuyệt vời, nhưng đừng bao giờ quên rằng chúng được làm từ những bàn tay của nhân dân tôi. Bây giờ, tất cả những công trình này đều thuộc về chúng tôi. Và điều này chẳng lẽ không phải là một trong những gì quí giá của cuộc sống?

Sau đó, anh mở cặp và lấy ra một tập sách nhỏ cũ của nhà tư tưởng thế kỷ XVI Nguyễn Trãi, mở cuốn sách đến trang nơi có in đoạn thơ sau:

Ta treo cung tên lên
Lau chùi cất áo giáp.
Và đón chào hoà bình
Bằng những lời hoan hỉ.


- Những lời thơ cổ xưa này lại có ý nghĩa hiện đại làm sao! Chiến tranh kết thúc, hoà bình đã trở về trên đất nước của chúng tôi - Cao nói. - Nhưng cần phải có bao nhiêu sức lực nữa đổ ra cho sự hồi sinh của đất nước!

... Một truyền thuyết cổ xưa kể rằng đã có thời Hoàng đế phương Bắc xa xôi gửi đến vùng đất Việt Nam một ác tinh. Ác tinh này cần phải tước đoạt của người Việt Nam khối linh khí, mà người xưa tin rằng linh khí này sẽ phú cho người ta có được nhân tài và ý chí. Một người phụ nữ cao tuổi, biết được lòng dạ xảo quyệt của kẻ thù, bà đã dấu kín trên một ngọn đồi trên bờ sông Hương lá bùa hộ mệnh được cho là đã hấp thụ toàn bộ tinh lực linh khí quốc gia. Ác tinh vì thế đã phải tay không trở về.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #4  
Cũ 13-03-2013, 16:21
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Như vậy, nếu tin theo truyền thuyết, thì vào năm 1601,để thờ cúng người phụ nữ cao tuổi này, một ngôi chùa đã được xây dựng bên bờ sông Hương. Chùa được đặt tên là "Thiên mụ" hoặc "Linh mụ" - "ngôi chùa của người phụ nữ nhà Trời". Mỗi người việt Nam khi còn ngồi trên ghế nhà trường, ở phía bắc cũng như phía nam, vẫn giữ trong tâm trí những dòng thơ của bài ca dao :

"Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Linh Mụ, canh gà Thọ Xương”


Tuy nhiên, sự xuất hiện của những dòng này không phải là ngẫu nhiên. Chuông Linh Mụ được nhiều người Việt Nam biết tới cũng như chúng tôi những người Nga, biết về chuông Vua (Tsar Bell) trong điện Kremlin. Chuông Linh Mụ được đúc vào năm 1715, nặng khoảng hai tấn, và được đặt trên lưng một con rùa đá khổng lồ. Âm thanh của nó từ bờ sông Hương được lan truyền xa tới nhiều dặm. Ở đây trên một ngọn đồi gần chùa Linh Mụ có một toà tháp 7 tầng vươn cao lên trời - tháp Phước Duyên. Tại mỗi tầng có đặt một bức tượng của Đức Phật. Người ta khẳng định ban đầu có ba bức tượng được làm bằng vàng. Song chúng đã bị những tên trộm không rõ nào đó đánh cắp vào năm 1943.

Ngay sau khi giải phóng Huế, số phận đã đưa tôi đến một người có nguồn gốc gia đình hoàng tộc - Bửu Cam. Ông đã phục vụ như một hướng dẫn viên trong văn phòng du lịch Huế và biết rõ lịch sử của từng tòa nhà trong thành phố. Cũng dễ hiểu, với nguồn cảm hứng say sưa ông đã kể về các cung điện Thành Nội, là nơi mà có lúc nào đó chính ông đã sống tại đấy. Ông tự hào chỉ cho tôi một Thành Nội Huế có hình chữ nhật với 10 cửa thành. Qua lối vào cửa thành phía tây An Hòa, trên đại lộ có những cây cổ thụ râm mát, Bửu Cam dẫn tôi đến khu Tử Cấm Thành - nơi cư trú cũ của các hoàng đế triều đình nhà Nguyễn Việt Nam. Khi kể lại, ông thậm chí còn hạ thấp giọng, như thể cho phép tôi tham gia vào những bí mật của các cung điện nơi đây.

- Trong tòa điện Cần Chánh ở trong khu Tử Cấm Thành này, có nhiều đồ vật bằng vàng và đồ sơn mài, là nơi vua tiếp các quan lại và các sứ bộ ngoại giao. Trong buổi lễ thiết triều, chỉ có một số ít người được tham dự. Tôi là một trong số họ - Bửu Cam nói và nheo mắt lại. Khi ở cạnh ngai vàng quan khách chỉ có thể đứng trên đầu gối và dâng lên những món quà cho thiên tử.

Trước lối vào cung điện là những con rồng bằng đá đứng lặng im trong giấc ngủ hàng thế kỷ. Điện Càn Thành vốn là các tòa nhà hùng vĩ với các cột màu đỏ mạ vàng, Bửu Cam chỉ cho tôi thấy phần phía sau điện này là nền móng còn lại của năm tòa nhà, trước kia những cung phi của nhà vua đã từng ở trong những ngôi nhà đó. Còn đây là Thái Bích Lâu, nơi nhà vua nghỉ ngơi, đọc các tác phẩm văn học và tìm đến các nguồn cảm hứng thi ca.

- Những công trình kiến trúc đẹp đẽ này đã bị phá hủy bởi bom đạn trong mùa xuân năm 1968, Bửu Cam nói một cách buồn bã. - Tất nhiên, vẫn còn các bức ảnh được lưu lại. Có lẽ tài năng của nhân dân sẽ tái tạo lại những kiệt tác này. Nhưng những phiến đá bị đập vỡ rồi có lẽ nào lại gắn lại được?

Tôi đặc biệt quan tâm đến thế giới nội tâm của Bửu Cam. Muốn biết những gì mà người đàn ông trung niên này đã suy nghĩ khi làn sóng cách mạng đã làm mất đi những cơ hội vẫn được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác cho những người xuất thân từ gia đình hoàng tộc.

- Tôi tin vào hoàng đế - Bửu Cam nói. - Tôi đã nghĩ triều Nguyễn là vĩnh cửu. Song thất vọng - như giấc mơ bị gián đoạn. Tôi nhớ cuộc bầu cử năm 1955. Sự thất bại của Bảo Đại - hoàng đế cuối cùng của nhà Nguyễn là điều đã được định trước. Ngay cả lá phiếu của ông ta đã được in màu tối - màu của thất bại. Tôi là một người theo chủ nghĩa quân chủ nhiệt thành, đánh giá thất bại của Bảo Đại là bi kịch cá nhân. Tôi thật sự khinh bỉ Ngô Đình Diệm là người chiến thắng trong cuộc bầu cử, nhưng không phải vì ông ta là một kẻ phản bội, một tên tay sai cho nước ngoài - điều mà tôi khi đó chưa nhận thức được. Tôi chỉ thấy ông ta như là kẻ thù đương nhiên của triều Nguyễn. Đối với tôi, khi đó hoàng đế vẫn là hoàng đế, mặc dù trong thực tế Bảo Đại vào năm 1945 đã thoái vị. Lăng mộ các hoàng đế triều Nguyến nằm cách Huế năm mươi cây số, là nơi thờ cúng thiêng liêng, kết nối các thế hệ khác nhau của Thiên tử.

Thưởng thức vẻ đẹp của những lăng mộ, trong đó có nhiều lăng đã được xây dựng cách đây hàng thập kỷ, Bửu Cam không băn khoăn về việc những ai đã bỏ công sức xây dựng nên các công trình sáng tạo độc đáo này, những ai đã phải chuyên chở tới đây từ nơi xa xôi hàng trăm dặm những khối gỗ, đá quí, vật liệu xây dựng... Đối với Bửu Cam - tất cả là tài sản của triều đình hoàng tộc. Năm 1945, triều đình này đã bị sụp đổ. Mười năm sau thất bại trong cuộc bầu cử, Bảo Đại đã buộc phải rời khỏi Việt Nam. Ông là người duy nhất trong các vị vua trị vì đã không kịp xây cho mình khu lăng mộ, nhưng thay vào đó ông đã mãi mãi chôn vùi triều Nguyễn, mặc dù ông vẫn còn sống và cảm thấy không đến nỗi nào khi ở Pari.

Những người như Bửu Cam thuộc dòng họ tôn thất ở Huế là không nhiều - khoảng gần một nghìn người. Bị thất sủng, họ đã trở nên sống khép kín, với thời gian họ chuyển đổi dần thành một tầng lớp xã hội thụ động, xu thời.

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 13-03-2013 thời gian gửi bài 21:28
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #5  
Cũ 14-03-2013, 10:54
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Những người trí thức Huế, đã có những năm tháng chiến đấu chống thực dân Pháp, giờ đây lại quyết định bước vào con đường đấu tranh giải phóng dưới lá cờ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nhiều người trong số họ đã bị tra tấn tại nhà lao Thừa Phủ, bị giam cầm, đày ải trong các nhà tù chết chóc tại Côn Đảo và Phú Quốc. Tôi đã gặp một người như thế đại diện cho giới trí thức tiến bộ Huế tại toà nhà uỷ ban hành chính thành phố. Nhà thơ - học giả và nhà tự điển học 63 tuổi nổi tiếng khắp miền Nam Việt Nam, Hoàng Phương Thảo, trong những năm còn là sinh viên đã tham gia vào hàng ngũ của những người đấu tranh chống lại sự thống trị của nước ngoài.

- Tờ truyền đơn đầu tiên - ông Thảo nhớ lại - tôi đã viết thành bài thơ vào ngày 7 tháng bảy năm 1935. Tại sao tôi lại nhớ một cách chính xác ngày đó? Vào ngày đó năm đó là vừa chẵn 50 năm từ khi Pháp đánh chiếm kinh thành Huế. Những tên thực dân, khi tiến vào kinh đô đã đốt cháy các khu dân cư bỏ trống. Ngày mùng 7 tháng bảy năm 1885, trùng với ngày hai mươi ba tháng năm âm lịch. Ngày hôm ấy đã trở thành một ngày đau buồn của những người dân Huế. Kinh đô khi đó đã bị đốt cháy suốt trong ba ngày đêm…

50 năm sau, thành phố trở thành một trung tâm của cuộc đấu tranh chống lại bọn thực dân. Vào ngày 1 tháng 5 năm 1930, tại Huế đã tổ chức tiến hành các cuộc biểu tình lớn của quần chúng. Tuy nhiên, chỉ tới năm 1945 lá cờ đỏ sao vàng mới được bay cao trên dinh toàn quyền An nam của Pháp, trên cầu Tràng Tiền, trên các ngôi chợ của thành phố. Cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi ở Huế ngày 22 tháng tám năm 1945. Ủy ban khởi nghĩa, trong đó có ôngThảo tham gia, đã gửi cho vua Bảo Đại một thông điệp yêu cầu phải thoái vị. Mặc dù chính quyền nằm trong tay các lực lượng cách mạng, song Đảng đã suy tính một số đặc điểm ở Việt Nam thời kỳ đó, cho rằng cần thiết phải lật đổ chế độ quân chủ không bằng bạo lực, và cho nhà vua cơ hội tự mình xin thoái vị. Lễ thoái vị đã tiến hành vào ngày 30 tháng tám, hai ngày trước khi tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trước cửa tòa Ngọ Môn, vua Bảo Đại đã trao cho các đại diện lực lượng cách mạng Huế khối ấn tín bằng vàng cân nặng 10 kg, là biểu tượng quyền lực của hoàng đế có từ thời vua Minh Mạng (1820-1840),cùng với một thanh kiếm có chuôi cầm ngọc bích là quốc bảo của hoàng triều.

Từ năm 1946, cũng giống như toàn thể Việt Nam, Huế đã đứng lên tiến hành cuộc kháng chiến. Sau khi ký kết hiệp định Genève, do nằm ở phía nam vĩ tuyến mười bảy, nên thành phố đã bị đặt dưới sự kiểm soát của chế độ Sài Gòn. Một lần nữa, khủng bố và đàn áp lại nhắm vào những người yêu nước. Được biết, chỉ riêng viên cựu thị trưởng có tên gọi là Đuê đã khai báo cho quân cảnh danh sách hơn mười chiến sỹ cách mạng ở lại hoạt động bí mật trong thành phố. Tất cả những người này đã bị sát hại.

Trong cuộc tổng tấn công đầu năm 1968, khu vực Tử Cấm Thành bị hư hại nặng, nhưng mẹ của vua Bảo Đại - Từ CungThái Hậu đã không rời bỏ thành phố Huế, bà đã giúp đỡ những người yêu nước bị thương - ông Thảo kể - Có người nói rằng họ đã nhìn thấy bà thậm chí trong các chiến hào của Việt Cộng trên núi Tuý Vân gần Huế.

- Nói chung, chúng tôi đã khôi phục lại thành phố trong vài tháng sau khi giải phóng Huế - ông Thảo tiếp tục. - Khó khăn rất nhiều.

Đầu năm 1976, tại Huế đã tiến hành điều tra dân số. Khi bắt đầu phân phát bản tự kê khai, đột nhiên chúng tôi phát hiện ra một số bộ phận dân cư, chủ yếu từ những người thuộc tầng lớp trung lưu, việc thu thập thông tin này đã gây cho họ nỗi sợ hãi không thể tin được. Tôi đã phải giải thích cho tất cả mọi người hiểu rằng cuộc Tổng điều tra dân số này mang tính chất nhà nước, chứ không phải là mang tính chất như "cảnh sát, mật vụ". Việc điều tra dân số là cần thiết để chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội thống nhất, cần biết cụ thể số người mù chữ, thất nghiệp và số người dân ở Huế và cả nước là bao nhiêu. Đầu tiên người ta nghĩ rằng ở Huế có khoảng 200 nghìn người. Điều tra dân số năm 1976 cho thấy, dân số của thành phố chỉ là 140 nghìn người.


Giải phóng Đà Nẵng mà không có một cuộc chiến


Chiến thắng mùa xuân năm 1975. Khi mọi người còn chưa kịp bắn pháo hoa đón mừng ngày giải phóng Huế, thì vào lúc 15 giờ ngày 29 Tháng Ba năm 1975 trên cả nước lại lan truyền tin tức mới: Đà Nẵng - thành phố lớn thứ hai ở miền Nam Việt Nam với dân số khoảng 600 ngàn người đã được giải phóng! Ngày 31 tháng ba, tôi đã xem những thước phim truyền hình còn chưa được biên tập gửi khẩn cấp từ Đà Nẵng ra Hà Nội. Những nhà quay phim của đoàn quân Giải phóng tiến vào thành phố cùng với những đơn vị tiên phong. Trước mắt tôi là cây cầu Trịnh Minh Thế nổi tiếng bắc qua con sông Hàn đầy nước của Đà Nẵng. Bên cạnh cây cầu có một người đàn ông cao tuổi với lá cờ Mặt trận Giải phóng. Trên các đường phố Thanh Khê và Hùng vương, người dân Đà Nẵng dang tay ôm thắm thiết các chiến sỹ giải phóng quân. Trên đại lộ Bạch Đằng trước tòa thị chính, một cô gái - chiến sỹ tự vệ thành, vai khoác một khẩu tiểu liên đang đứng gác. Cách đó vài mét, một ông lão ngư dân dẵm chân lên bức ảnh bị vứt ra khỏi nhà của Thiệu, kẻ độc tài.

Trên bán đảo Sơn Trà, nơi đặt sở chỉ huy của quân đoàn một chế độ Sài Gòn, tại đây tiếp theo lời kêu gọi "hãy bảo vệ thành phố Đà Nẵng đến viên đạn cuối cùng" - là dấu tích một cuộc chạy trốn vội vã. Trên tầng một của tòa nhà trụ sở chỉ huy, trong văn phòng của viên tướng chịu trách nhiệm việc bảo vệ Đà Nẵng, các tấm bản đồ, tài liệu mật bị vứt vung vãi. Từ trong cánh cửa ngôi nhà, các chiến sỹ quân Giải phóng đã mang ra các tập tài liệu hồ sơ lưu trữ và đặt chúng vào trong xe tải. Có lẽ nhiều vụ việc, nhiều tội ác mà giới quan chức quân sự Sài Gòn đã gây ra ở miền Trung sẽ được khám phá từ những tài liệu này. Nhưng rất có thể người ta mang chúng đi đốt, và đống tro tàn thì đổ xuống sông Hàn.

Các cánh cửa nhà tù của thành phố Đà Nẵng được mở tung. Hàng ngàn tù nhân chính trị đã được trả lại tự do.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #6  
Cũ 14-03-2013, 11:03
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Đà Nẵng - một thành phố có tầm quan trọng to lớn về chiến lược, quân sự, chính trị và kinh tế trong cuộc sống của miền Nam Việt Nam. Ở đây có bốn cầu cảng và ba sân bay có khả năng tiếp nhận các tàu biển và máy bay hiện đại. Trên các sân bay, lực lượng cách mạng đã bắt giữ được hàng chục máy bay phản lực của không quân Sài Gòn. Cũng như vậy, tại cầu cảng nhiều tàu quân sự và tàu vận tải đã bị bắt giữ ...

... Chiếc máy bay "Yak-40" đã đỗ xuống đường băng. Nằm cách biển với những bãi cát vàng mềm mại không xa, dưới chân dãy núi đẹp như tranh vẽ với những đám mây trải dài từ biển, sân bay Đà Nẵng - một trong những sân bay lớn nhất ở Đông Dương và Đông Nam Á. Chiều dày sàn bê tông của đường băng hơn bốn mét cho phép hạ cánh những máy bay phản lực hiện đại nhất. Những chiếc "Con ma" và "Skayreyder" mới đây không lâu còn lên xuống nơi này. Đường băng hạ cánh cũng đã sẵn sàng cho việc tiếp nhận các máy bay ném bom chiến lược "B-52" của Mỹ. Mười năm trước,“thủ tướng” Sài Gòn cũ, tư lệnh không quân của chính quyền bù nhìn Nguyễn Cao Kỳ đã từ đây lái máy bay ra ném bom miền Bắc Việt Nam. Kỳ khi đó tự hào cho rằng các cuộc tấn công quân sự của Sài Gòn đã giáng những đòn nặng nề đối với phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Tôi đã nhớ tới tuyên bố này của kẻ bù nhìn (bây giờ làm quản lý một trong những quán bar ở California), khi còn ở trên không trung lúc nhìn thấy hàng chục máy bay trực thăng và các máy bay khác của chính quyền Sài Gòn bị bắt giữ. Chúng giờ đây đứng im trên đường băng, trong các nhà chứa máy bay, trong các ga ra và kho chứa.

Đường băng bê tông đây rồi. Trên sân bay vẫn chưa xoá bỏ hết các biển hiệu còn lại của chế độ Sài Gòn như: "Phi đội số 233", và cạnh đó là chiếc máy bay ném bom nằm chỏng chơ, mũi máy bay gục xuống. "Kỷ luật - là sức mạnh của quân đội". Dưới câu khẩu hiệu này được viết trên tường câu lạc bộ sỹ quan là một lá cờ màu vàng của chính quyền sài Gòn bị dẵm nát. Người ta nói rằng lá cờ đã bị xé và bị bắn trực diện từ khẩu súng tiểu liên của viên sỹ quan Sài Gòn, là một trong số 109.600 binh lính đã hạ vũ khí và sau đó bày tỏ mong muốn được phục vụ lợi ích của nhân dân. Đà Nẵng đã đầu hàng mà không có một cuộc chiến.

Từ sân bay đến trung tâm Đà Nẵng - không quá mười phút đi bằng xe hơi. Con đường chạy giữa những các chướng ngại vật làm từ dây thép gai, mà lực lượng quân đội Sài Gòn rào quanh các trại tập trung, kho hàng quân sự, khu vực kho nhiên liệu. Những thùng chứa to lớn màu cam có nhãn hiệu "Shell" đã đặt sát bên lề đường quốc lộ 1, con đường kết nối Đà Nẵng nằm trên vĩ tuyến 16, với miền Bắc và miền Nam Việt Nam.

Hơn 100 năm trước, thực dân Pháp đánh giá vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về mặt quân sự của Đà Nẵng, nên đã cố gắng đánh chiếm. Chúng phải mất 30 năm để buộc hoàng đế triều Nguyễn trao Đà Nẵng trao cho Pháp làm nhượng địa. Bởi vậy, thành phố này sau đó đã được biết đến với tên gọi "Turan" ("Toà tháp trên sông Hàn"), từ năm 1888 thành phố dưới sự cai trị của thực dân, kéo dài hơn nửa thế kỷ. Sau năm 1954, Đà Nẵng trở thành một căn cứ trung tâm của lực lượng quân sự Mỹ - Sài gòn.

Chính tại thành phố Đà Nẵng này vào năm 1965, lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ đầu tiên của Mỹ đã đặt chân lên đất Việt Nam, và lập căn cứ quân sự trên bán đảo Sơn Trà. Cũng từ Đà Nẵng, mười năm sau, vào tháng 3 năm 1975, đơn vị quân đội cuối cùng của nước ngoài đã phải rút về nước. Những lá cờ Giải phóng tung bay phất phới trên các đồn bốt bê tông, tháp canh, các sân bay, bến cảng, các trạm radar, trại tập trung cũ...

Tôi bước đi trên đường phố mang tên nhà chí sỹ Việt Nam Phan Chu Trinh. Bên cạnh đường Bạch Đằng có trồng những cây cọ lớn chạy dọc theo bờ sông Hàn, một thành viên của Ủy ban nhân dân Cách mạng tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng, ông Phạm Đức Nam đã nói chuyện với tôi về việc một đại uý - bác sỹ quân y của chính quyền Sài Gòn cũ đã làm thế nào để treo lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng lên nóc toà thị chính của thành phố vào ngày 29 tháng 3, viên đại uý này hiện giờ là bác sỹ phẫu thuật của một bệnh viện Đà Nẵng.

Một vài giờ sau khi giải phóng Đà Nẵng, uỷ ban quân quản được thành lập. Ủy ban đã tiếp nhận điều hành toàn bộ công việc về các mặt quân sự, chính trị và kinh tế trong thành phố. Chủ tịch Ủy ban là một thành viên của Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, ông Hồ Nginh, ba người phó chủ tịch - các tướng Nguyễn Chánh và Nguyễn Bá Phát, nhà hoạt động chính trị nổi bật của miền Nam - ông Trần Thận. Ủy ban quân quản đã công bố: sau khi cuộc sống diễn ra bình thường, trong thành phố sẽ tiến hành thành lập cơ quan hành chính dân sự cách mạng của nhân dân.

- Chúng tôi luôn luôn xa lạ với chính trị. Đọc trên báo chí và nghe trên đài phát thanh rất nhiều chuyện khủng khiếp về Việt Cộng - Một nữ doanh nhân đứng tuổi, vợ của em họ vua Bảo Đại nói với tôi - Trong suốt cả một thập kỷ, họ nói với chúng tôi khi Việt Cộng đến, nhà cửa sẽ bị đốt trụi, tất cả sẽ cơ cực. Bây giờ chúng tôi thấy điều ngược lại. Một trong những ngôi nhà của tôi ở Đà Nẵng đã chuyển giao cho người Mỹ làm lãnh sự quán. Trong lúc bỏ chạy khỏi Đà Nẵng, họ không thể chuyên chở hết các tài liệu giấy tờ và đã đốt nhà tôi. Khi thành phố đã được giải phóng, đã không có một ngôi nhà nào bị phá huỷ.

Con gái của nữ thương gia, 19 tuổi, tên là Phước, sinh viên Đại học Huế, giới thiệu tôi với những nhà lãnh đạo các cộng đồng tôn giáo khác nhau tại Đà Nẵng. Họ đã suy nghĩ gì và tâm trạng của những người này thế nào, ảnh hưởng của họ tới nhiều người dân Đà Nẵng có còn mạnh mẽ không? (Lưu ý: những người tôi phỏng vấn không phải là "Việt Cộng" để tìm kiếm các ý kiến khác nhau).

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 14-03-2013 thời gian gửi bài 16:02
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #7  
Cũ 14-03-2013, 11:08
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Tổng giám mục nhà thờ công giáo Nguyễn Quang Xuyên đã kể vào đêm ngày 27 rạng ngày 28 tháng ba, trong căn phòng của ông đã vang lên hồi chuông điện thoại từ chỉ huy trưởng quân đoàn một, tướng Ngô Quang Trưởng. Ông ta yêu cầu nhanh chóng thu xếp đồ đạc và di tản vào Sài Gòn. Vị tổng giám mục cao tuổi đã từ chối rời khỏi thành phố.
- Chúng tôi sẽ buộc ông đi bằng vũ lực - viên tướng hét to - tôi đã cho một toán lính tới ..!
Ông Xuyên gác ống nghe lên, hôn tạm biệt gia đình, và ra khỏi nhà. Ông đã trốn tránh tại nhà một trong những giáo dân. Chỉ khi các đơn vị quân giải phóng tiến vào thành phố, ông mới tự do đi ra các đường phố Đà Nẵng.
- Tại Đà Nẵng, có hơn 10.000 người Công giáo - ông Xuyên nói với tôi. Và gần như tất cả họ vẫn ở lại trong thành phố, điều này chứng minh lòng trung thành của họ với chính quyền mới.

Người đứng đầu cộng đồng tín đồ Cao Đài không ít hơn 12 ngàn người - Hồ Tấn Sinh, cho rằng việc quân đội Sài Gòn bỏ chạy và tiếp đó là lực lượng cách mạng tiến vào đã cứu thoát cho Đà Nẵng. "Chúng tôi tin rằng - ông nói, - với chính quyền mới, những kẻ xâm lược ngoại bang không khi nào đặt chân lên được đất nước của chúng tôi. Đi theo chính quyền này là tương lai của chúng tôi".

…Thương nhân người Đà Nẵng Trương Mát sống tại nhà số 139 trên phố Lý Thái Tổ . Ngày 28 tháng 3 năm 1975 dưới họng súng của binh lính, cùng với hàng ngàn người dân Đà nẵng khác, ông bị dồn ép vào trong khoang chứa của một sà lan được một tàu khu trục khác kéo. Trên sườn tàu là số 240 sơn trắng.

- Khi chen nhau xuống chiếc sà lan đã có gần 50 người dân bị ngã xuống nước và chết đuối, chủ yếu là trẻ em - ông Mát kể. - Khi sà lan đi xa bờ khoảng hai mươi cây số, binh lính Sài Gòn đã bỏ rơi chiếc sà lan đầy người này giữa biển khơi. Ba ngày ba đêm hơn một nghìn người, trong đó hơn 600 trẻ em đã chịu cảnh không có nước uống và thực phẩm, tất cả họ bị bỏ mặc lênh đênh giữa những cơn sóng gió.

Chúng tôi đã không còn hy vọng được cứu sống - ông Mát cho biết - nếu không ngẫu nhiên gặp các chiến sỹ hải quân của quân Giải phóng.


Kho vũ khí dưới những quả đồi Chàm


Những ngôi tháp Chàm bằng đá ngày một gần hơn với đường số 1, như báo trước đã gần đến Nha Trang - thành phố thủ phủ tỉnh Phú Khánh. Những tháp Chàm này, được tính ra đã tồn tại gần 2000 năm nay - là chứng nhân im lặng của nhiều cuộc chiến tranh diễn ra ở vùng đất này, và những nền văn minh kế tiếp nhau.

Trong tất cả các sách hướng dẫn du lịch Đông Dương, Nha Trang đã luôn luôn được chào mời như là thành phố của những bãi biển cát vàng, với cửa sông Cái đẹp như tranh vẽ. Vùng phụ cận Nha Trang là các đồn điền cao su rộng lớn, những khu vườn xinh đẹp, những cánh rừng dừa và các loài cây ăn quả có giá trị, những vườn mía rộng lớn. Tuy nhiên, trong những năm 60 thành phố bị biến thành một căn cứ quân sự, với rất nhiều vị trí pháo binh, kho tàng, trạm radar. Một sân bay quân sự đã được xây dựng gần bên bờ biển. Những bãi biển vàng bị gài mìn, giăng lưới dây thép gai. Nha Trang dưới chế độ Sài Gòn được coi là một trung tâm gián điệp chính ở Đông Dương. Ở đây người ta đã tiến hành các khoá huấn luyện đặc biệt cho những học viên đến từ các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Sau ngày giải phóng Nha Trang: mùng 3 tháng tư năm 1975 - thành phố với 200 ngàn dân, từng là một phần chủ yếu của quân đoàn 3 miền Nam Việt Nam khi đó - chính quyền nhân dân đã bắt đầu tiến hành loại bỏ những hậu quả tàn tích chiến tranh. Sau vài tháng đầu tiên, chỉ riêng trên bờ biển đã phát hiện được hơn 3000 quả mìn.

Tại Nha Trang, người dân trở lại cuộc sống bình thường có lẽ nhanh hơn so với các thành phố khác ở miền Nam Việt Nam. Điều này được giải thích là do những người yêu nước đã biết cách "làm việc" kịp thời với các đơn vị quân đội Sài Gòn. Nguyên đại uý quân y của chế độ cũ, bây giờ là bác sĩ nội khoa tại bệnh viện trung tâm thành phố Trần Qúy Can kể với tôi về việc những người yêu nước đã thực hiện các hoạt động bí mật giữa binh lính Sài Gòn như thế nào. Bản thân anh đã tốt nghiệp trường y và được gọi vào quân đội. Khi đang ở trong quân y viện của một sư đoàn lính dù, thì người bạn cũ của gia đình là Mai Bá đã đến gặp anh và sau cuộc trò chuyện ngắn, ông đã nói:
- Cháu có còn nhớ trước khi qua đời cha cháu đã nhắn nhủ lại gì không? Bác ấy muốn cháu hạnh phúc và nói rằng điều đó chỉ có thể trong điều kiện Việt Nam hoàn toàn tự do và thống nhất. Cháu đã sẵn sàng để phục vụ Tổ quốc của mình chưa?
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #8  
Cũ 15-03-2013, 08:26
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Can biết Mai Bá vào đầu những năm 50 đã cùng với cha mình chiến đấu trong một trung đoàn Quân đội nhân dân chống lại thực dân Pháp. Anh biết chế độ Sài Gòn đã kết án ông tử hình vắng mặt, và nhận thức được mối hiểm nguy có liên quan đến chuyến đi này của ông tới vị trí các đơn vị quân sự. Nhưng nếu Mai Bá đã quyết định đi gặp anh, thì rõ ràng phải có những lý do đặc biệt. Đại uý biết rằng mỗi phút chậm trễ của người bạn cha mình đều bị rình rập bởi mối hiểm nguy. Và anh hỏi:
- Vậy thì cháu cần phải làm gì?
- Cháu hãy tìm hiểu tất cả các kế hoạch quân sự của sư đoàn và chuyển giao tin tức cho người liên lạc sẽ được gửi đến gặp cháu mỗi tuần.

Việc tuyển dụng đã diễn ra như vậy. Không phải trên cơ sở "vật chất". Mà trên cơ sở ý thức về lòng yêu nước, về danh dự và nhân phẩm.

Như vậy, Can đã tham gia vào hoạt động bí mật. Người liên lạc của anh là một trung úy bộ binh trẻ. Rất khó để ước tính có bao nhiêu người yêu nước đã được viên đại uý này cứu thoát khi anh tạo ra được những mối quan hệ "tiếp xúc thân mật" với các sĩ quan cao cấp của sư đoàn lính dù. Việc điều động của từng đơn vị, tất cả các kế hoạch hành quân càn quét đều lọt vào tay của những người yêu nước. Vào ngày 3 tháng 4 năm 1975, khi những đơn vị đầu tiên của lực lượng vũ trang nhân dân tiến vào Nha Trang, Can đã gặp lại Mai Bá - người bạn cùng trung đoàn với cha mình, giờ đây là một trong những người lãnh đạo Ủy ban Nhân dân Cách mạng thành phố.

Kể từ tháng 4 năm 1975, Nha Trang đã bước vào một cuộc sống mới. Ở vùng ngoại ô phía bắc thành phố có ngôi đền cổ - một trong những quần thể các tháp của quốc gia Champa cổ xưa. Người Pháp gọi là khu đền này là "Po Nagar”, người Việt Nam gọi là đền "Thiên Y thánh mẫu" - “Người phụ nữ mặc quần áo trên trời" . Trong những năm dài chiến tranh khu đền này vẫn không bị hư hại. Nó được bảo vệ bởi cả quân "trắng" và quân "đỏ".

Trụ trì tại đây là một người đàn ông cao tuổi trong chiếc áo choàng màu nâu truyền thống, biết rất rõ truyền thuyết cổ xưa về nguồn gốc của ngôi đền. Khi xưa tại nơi này có ngôi làng Đại Điền, một người nông dân già chuyên trồng dưa hấu đã sống ở đây. Một ngày nọ, lúc bình minh, ông thấy có những quả dưa, thành quả lao động khó khăn vất vả đã bị biến mất, và ông quyết định theo dõi kẻ trộm dưa hấu. Khi đêm xuống, dưới ánh trăng, ông đột nhiên nhìn thấy một cô bé muôn phần xinh đẹp. Người nông dân này mang cô bé về nhà và nhận làm con. Vài năm sau có một trận lụt lớn. Chạy trốn dòng nước chảy về dữ dội, cô gái phát hiện trên ngọn đồi nhỏ có cây đàn hương, trên thân cây là một hốc rỗng.Yana - (tên gọi cô gái) đã trèo lên cây và chui vào trong hốc, song sau đó không thể thoát ra được. Mọi người cố gắng giúp cô, nhưng không thể nào phá vỡ được thân cây.

Hoàng tử của vùng biển phía bắc tên là Bắc Hải được nghe nói về chuyện này. Chàng tìm đến làng nọ và hầu như mới chỉ chạm vào thân cây đàn hương, thì lập tức từ cây toả ra một mùi thơm quyến rũ. Hoàng tử ra lệnh chuyển thân cây vào trong cỗ xe ngựa và chở về cung điện.

Vào buổi tối, khi mặt trăng vừa mới mọc lên, từ trong thân cây xuất hiện một cô gái xinh đẹp - Thiên Yana. Cô đã yêu chàng hoàng tử và đồng ý làm vợ chàng. Nhưng trước khi làm đám cưới, cô đã một mực muốn về thăm cha nuôi ở làng Đại Điền. Hoàng tử đồng ý. Nhưng người nông dân tuổi cao đã chết mà không chờ được cô con gái nuôi quay trở về. Yana lập đền thờ để tưởng nhớ tới ông, và sau đó vòng tay quanh cổ con cò sống tại nhà cha mình, cô đã bay về trời. Kể từ đó, người dân ở đây đã gọi ngôi đền này là - đền thờ của "Người phụ nữ mặc quần áo trên trời".

Vách ngôi đền làm từ loại gỗ quí đàn hương, mà giờ đây rất ít gặp trong các khu rừng Việt Nam. Cây này tiết ra dòng nhựa thơm có đặc tính chữa bệnh. Đã từ lâu gỗ đàn hương - gỗ Yana được sử dụng trong y học cổ truyền dân gian. Yana - "Người phụ nữ mặc quần áo trên trời"- cây đàn hương trở thành "loài cây quí cần bảo vệ" trong khu vực Nha Trang, như gỗ lim, gỗ tếch... Thiên Yana "bảo trợ" cho hàng chục loại thảo mộc khác thường được các dược sĩ sử dụng. Từ loại thảo mộc này ta có thể tạo ra thuốc sát trùng. Lá của nó được sử dụng để điều trị cúm, viêm phổi. Ở Nha Trang có nhiều loại thuốc giá trị được bào chế từ lá cây thuốc lá, lá chanh, rễ và chồi tre non, từ nhân sâm - sâm Việt. Có giá trị nhất là hoàng trường sâm. Tại đây cũng điều chế sản xuất loại cao hổ Việt Nam nổi tiếng. Loại cao tốt nhất là cao được nấu luyện từ xương của con hổ đã bị giết.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #9  
Cũ 15-03-2013, 08:29
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Nếu bạn hỏi người dân Nha Trang, thành phố của họ có những gì gây ấn tượng nhất, người ấy chắc chắn sẽ trả lời: các di tích lịch sử văn hóa Chăm, các loại dược liệu và sự giàu có của bờ biển nơi đây. Dọc theo bờ biển dài hơn 200 cây số của tỉnh Phú Khánh có biết bao những điều bí ẩn vẫn được sóng biển lưu giữ. Tại sao người Mỹ không ném bom Nha Trang? Tất nhiên, không phải vì thương tiếc cho các di tích văn hóa dân tộc của người Việt Nam, không phải vì sợ cơn thịnh nộ của những người mang nặng tín ngưỡng tôn giáo trong các khu vực những ngôi đền Chăm, mà bởi vì họ đã để lại nơi đây những kho tàng vào loại khủng nhất.


Dũng cảm như chim Kvei


Phía tây của Nha Trang có một con đường chạy thẳng vào phía trong bán đảo Đông Dương lên cao nguyên rộng lớn của miền Trung - đó là Tây Nguyên. Nếu bạn tin vào truyền thuyết cổ xưa, cho đến giờ vẫn còn có thể được nghe trong các ngôi làng của dân tộc Êđê đã sống hàng ngàn năm trước đây trên những sườn núi của dãy Trường Sơn, thì họ đã từng được cứu thoát khỏi cơn đại hồng thuỷ là nhờ ngồi vào trong những cái trống rất lớn.

Nhà văn Nguyễn Tuân, người đã kể cho tôi nghe không ít các truyền thuyết về Tây Nguyên từng nói với một nụ cười:
- Hãy hỏi bất cứ một già làng nào, xem họ có tin vào các truyền thuyết của mình không. Người đó sẽ trả lời rằng ông ta tin chỉ khi nào các truyền thuyết đó bị phế bỏ. Tuy nhiên cần phải biết thêm rằng trên đất Tây Nguyên trong thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên, tổ tiên xa xưa của người dân địa phương đã từng sống ở đây.

Trong núi rừng Tây Nguyên rải rác đó đây có tổ của một loài chim đẹp đẽ - chim kvei, được cho là khôn ngoan và dũng cảm. Có lẽ đó là lý do tại sao lời khen ngợi cao nhất từ miệng của những người dân vùng núi này là: "Một người khôn ngoan và dũng cảm như chim kvei".

Những con đường của miền Nam Việt Nam đã đưa tôi đến với một người như thế. Tên ông là Y Bih Aleo. Khi tôi đề nghị ông kể về mình, ông trả lời:
- Vâng, chuyện là thế này. Nhưng đó sẽ là một câu chuyện dài đấy. Bảy mươi hai năm trước tại một ngôi làng nhỏ Buôn Niêng trong rừng, gần Ban Mê Thuột, tỉnh Đăk lăk người ta bắt được một con voi trắng. Họ đã đưa con voi này tới cho người đứng đầu một bộ lạc Êđê như là món quà tặng, vợ người này vừa mới sinh một cậu con trai. Mọi người đánh cồng chiêng cho tất cả biết niềm vui to lớn của gia đình Aleo. Cậu bé được đặt tên là Y Bih Aleo.

- Tôi lớn lên giữa những ngọn núi và rừng rậm, nơi hoa piaropang nở trắng - Aleo cho biết. - Cha mẹ đã cho tôi đi học, và sau đó thì vào một trường quân sự. Chẳng bao lâu tôi đã được phong cấp bậc sĩ quan đầu tiên của quân đội thực dân Pháp.

Từ nhỏ, chàng thanh niên miền núi này đã có ấn tượng về thế giới như là một vương quốc của những gì tốt lành và trung thực. Anh đã được dạy cần phải tôn trọng mọi người, bảo vệ cuộc sống. Trong quân đội thuộc địa, anh đã chứng kiến những điều ngược lại: sự tàn ác và đểu giả, dối trá và tham nhũng. Lý trí và trái tim của chàng trai Tây nguyên này khao khát đấu tranh chống lại mọi bất công. Vào đầu những năm 40 tại Việt Nam đã lan rộng phong trào giải phóng dân tộc do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo, Aleo được tiếp xúc với những người yêu nước. Kể từ mùa hè năm 1945, thủ lĩnh đứng đầu bộ lạc Êđê này đã trở thành người lãnh đạo cuộc nổi dậy vũ trang ở Ban Mê Thuột. Cư dân địa phương đã tin tưởng chọn Aleo làm chỉ huy các lực lượng quân nổi dậy ở khu vực giao điểm của ba con đường giao thông chiến lược nối liền cao nguyên Tây Nguyên, các vùng đất phía Nam Việt Nam và Cam-pu-chia. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Y Bih Aleo được bầu là thành viên của Ủy ban nhân dân cách mạng tỉnh Đăk Lăk
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #10  
Cũ 15-03-2013, 08:31
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Cuối năm 1945, trên cao nguyên Tây Nguyên một lần nữa lại bùng nổ chiến trận: những người dân miền núi trang bị vũ khí kém cỏi đã phải chống trả lại các đơn vị lính dù của Pháp, binh lính mũ nồi đỏ và xe tăng.

- Đôi khi chỉ một khẩu súng trường mà có đến bảy, tám chiến sỹ - Aleo nhớ lại. - Đội quân của chúng tôi đã bị đánh bại, còn tôi thì bị bắt và bị kết án tử hình. Khi đó dân chúng Tây Nguyên đã lên tiếng đấu tranh bảo vệ tôi. Bọn thực dân buộc phải thay đổi bản án. Hình phạt khổ sai chung thân đã chờ đợi tôi.

Aleo đã phải sống mòn mỏi năm năm và bảy tháng trong tù. Năm 1951, những tên thực dân, với mong muốn ở lại Việt Nam, đã cố gắng thành lập một đội quân bản địa từ dân cư địa phương và bắt đầu dụ dỗ các thủ lĩnh những dân tộc ít người ở Tây Nguyên.

- Để cho tôi phải ở tù trong hoàn cảnh như vậy là điều nguy hiểm với bọn thực dân - Aleo tiếp tục nói - tất cả người dân Tây Nguyên trong đó có nhiều thủ lĩnh các bộ tộc yêu cầu phải trả tự do cho tôi. Tôi ra tù và trở về buôn làng cũ vào tháng chín năm mươi mốt, và liên lạc lại với quân du kích. Năm 1958, trên cao nguyên đã xuất hiện một phong trào đòi tự trị cho Tây Nguyên và tôi đã trở thành người lãnh đạo phong trào này.

- Trong tháng hai năm sáu mốt - Aleo nhớ lại - chúng tôi bắt đầu thành lập các đơn vị dân quân là thành phần của lực lượng vũ trang Nhân dân Giải phóng cao nguyên Tây Nguyên. Trong những năm chiến tranh, chúng tôi đã có thêm những anh hùng như Pi Năng Tăk - người dân tộc Ra glai, A Nun – người dân tộc Pacô, Ziarai Eet ... Như chim kvei dũng cảm không lùi bước trước kẻ thù, những chiến sỹ này đã không lùi bước trước những thử thách nặng nề khó khăn của chiến tranh.


... Những cơn mưa nhỏ lấm tấm khắp nơi, mặc dầu vậy trong núi rừng Trường Sơn mưa như thế vẫn thật đáng sợ. Con đường vắt qua từ đèo này sang đèo nọ, nó rất trơn, cảm giác như chỉ cần bước một bước là sẽ ngã. Nhưng đoàn người vẫn đi, và mỗi người trong số họ mang trên mình 60-70 kg hàng. Trong số đó có A Nun. Trong nhiều năm qua, những con đường, những ngọn núi đối với anh như là ngôi nhà và bãi chiến trường. Khi lâm vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, anh thường tự nói với mình, "Nếu đã trở thành một người lính, thì không được cúi đầu, mà phải đi đến cùng ".

...Mười sáu tuổi, chàng thanh niên A Nun gia nhập vào hàng ngũ những người yêu nước. Anh muốn chiến đấu, nhưng lại được gửi đến đơn vị vận chuyển hậu cần. "Vận chuyển hàng - đó cũng là một chiến trường - ông Aleo nói với anh - Khi xung trận cháu nhìn thấy lũ giặc, còn ở đây cháu tham gia một trận chiến không chỉ với lũ giặc mà còn với chính bản thân mình ". Rất nhiều lần A Nun bị kiệt sức, dường như đi một bước nữa - và anh sẽ quị xuống đất. Đôi chân trở nên nhẹ bỗng, hai tay, cổ cứng đờ, mắt tối sầm lại. Nhưng cần phải đi tiếp về phía trước. Bằng mọi cách chỉ đi về phía trước. Hàng của anh đang mang rất cần thiết cho các chiến sĩ, nhân dân vùng giải phóng Tây Nguyên. Và A Nun bước đi. Trong tám năm phục vụ ở đơn vị vận chuyển, người chiến sỹ trẻ này đã mang vác hơn 150 tấn hàng hóa, đi hàng trăm dặm đường qua núi đèo, rừng rậm, sông suối và ghềnh thác. Anh đã được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng Quân giải phóng.

A Nun trở thành một trong những anh hùng từng chiến đấu trong lực lượng bộ đội "Trường Sơn" ở khu vực hệ thống đường giao thông, thường được báo chí phương Tây gọi là "đường mòn Hồ Chí Minh". Từ một vài con đường nhỏ hẹp tạo ra một tuyến đường huyết mạch, sau đó phát triển thành một hệ thống đường chính yếu. Đây không phải chỉ là một tuyến vận chuyển, “đường mòn Hồ Chí Minh” đã trở thành một biểu tượng. Nó thường được so sánh với một người mẹ đã dâng hiến tất cả để cho những đứa con có được niềm vinh quang. Người mẹ không đòi hỏi sự ngợi khen. Bà đã phục vụ sứ mệnh thiêng liêng của mình. “ Đường mòn Hồ Chí Minh tồn tại nhờ vào hàng ngàn con người như A Nun”.

hết chương VI
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 4 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
chipvn (04-04-2013), Dmitri Tran (17-03-2013), Huonghongvang (20-03-2013), rung_bach_duong (16-03-2013)
  #11  
Cũ 17-03-2013, 03:06
Dmitri Tran's Avatar
Dmitri Tran Dmitri Tran is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Dec 2010
Đến từ: Kisinhov-tp HCM
Bài viết: 1,335
Cảm ơn: 2,904
Được cảm ơn 2,884 lần trong 964 bài đăng
Default

Gửi các bác Mien trung, Muzhik, Thao vietnam, USY, Kóc Khơ Me, SSX... đang dịch cuốn “Đông Dương: Đống tro tàn của 4 cuộc chiến (1939-1979)”: Thời gian qua quá bận nên tôi không đăng ký tham gia dịch với mọi người được. Nay xin phép các bác đưa bản dịch này vào trang web "Song ngữ Nga-Việt", và để khỏi cồng kềnh, tên người dịch sẽ ghi chung chứ không nêu riêng từng người trong phần mình dịch.

Vì vậy, nhờ ai đó trong nhóm các bác xem lại (hiệu đính) để bảo đảm tính nhất quán và chính xác của toàn bộ công trình có giá trị này!
__________________
Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.
Cả thế gian trong tay ta!
Весь мир в наших руках !
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (04-04-2013)
  #12  
Cũ 18-03-2013, 09:20
Thao vietnam Thao vietnam is offline
Trứng cá hồi - Икра лососёвая
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 863
Cảm ơn: 1,744
Được cảm ơn 1,205 lần trong 534 bài đăng
Gửi tin nhắn bằng Yahoo tới Thao vietnam Gửi tin nhắn bằng Skype™ tới Thao vietnam
Default

@ bác Trần: bản dịch đã được một bàn tay tin cậy hiệu đính, có thể chưa hay nhưng chắc chắn sai sót không còn nhiều. Em nghĩ bác cứ dùng thoải mái. Đã đưa lên đây thì là tài sản của cộng đồng rồi.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
chipvn (04-04-2013)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Anton Makarenko (1888 - 1939) Nina Con người 8 06-08-2011 02:07
Hồ sơ thế chiến thứ hai - 1939 nthach Hồ sơ chiến tranh thế giới 3 02-07-2009 14:40
Nicolai Tikhonov (Николай Тихонов, 1896-1979) Bạch Tuyết Thi ca 3 18-03-2009 15:18


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 17:28.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.