|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#821
|
|||
|
|||
|
Trích:
Để tránh phạm tội xì pam, xin gài đây 1 câu hỏi: trong tiếng Việt có chữ xà-ích, chỉ người đánh xe ngựa. Vậy xuất xứ của từ này là chi vậy? Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 16-01-2011 thời gian gửi bài 16:12 |
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn Saomai cho bài viết trên: | ||
baodung (16-01-2011), chaika (18-01-2011), Dmitri Tran (16-01-2011), gps (16-01-2011), hungmgmi (16-01-2011), nguyentiendungrus_83 (25-01-2011), nqbinhdi (16-01-2011), Old Tiger (16-01-2011), USY (16-01-2011) | ||
|
#822
|
|||
|
|||
|
Trích:
Loại suốt đời xiên xẹo như tui cũng phải ngả nón chào, xiên thế mới xẹo chứ! Thật là kính nể. Chắc là từ tiếng Pháp hay tiếng Nga, đọc bồi theo kiểu uẩy me-xừ sếp, bông-giua me-xừ! với lại tuốt mo (tout le monde). Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 16-01-2011 thời gian gửi bài 17:42 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
|
#823
|
|||
|
|||
|
Trích:
Và để tâm phục, khẩu phục thì nhất định người trả lời phải tìm được từ gốc của chữ đó bằng tiếng nước ngoài (hoặc phiên âm nếu thứ chữ đó tượng hình). Ví dụ rau Cải xoong của tiếng Việt có gốc từ chữ cresson [cre-xông] của tiếng Pháp. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Dmitri Tran (16-01-2011) | ||
|
#824
|
|||
|
|||
|
Tìm trên Internet thì thấy có chỗ giải thích rằng từ xà ích có nguồn gốc từ tiếng Phi-luật-tân (Philippines). Cơ mà dùng công cụ dịch Google với từ xà ích, chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Phillipines thì ra những từ chả có liên quan gì tới xà ích (hao hao đồng âm) cả. Có thể một phương ngữ Philippines nào đó chăng? Mà nếu thế thì botay.com.
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Dmitri Tran (16-01-2011) | ||
|
#825
|
|||
|
|||
|
Em hỏi Google, "nó" dịch "xà ích" sang tiếng Pháp thành faisceau utile, còn "xà-ích" thì thành faisceau-ons. Vì trình tiếng Pháp của em là vô cùng bé, nên em đem chữ faisceau dịch lại ra tiếng Việt bằng Google thì được nghĩa là chùm.
Thế nên em cũng chẳng hiểu xà ích xuất phát từ đâu (từ chuồng ngựa?). Nhưng em phát hiện ra là chữ tiếng Nga кучер xuất phát từ chữ cocher trong tiếng Pháp - vì nghe nó phát âm cũng hơi hơi giống nhau thì phải. |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Nina cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (16-01-2011), nqbinhdi (16-01-2011) | ||
|
#826
|
|||
|
|||
|
Tôi đã tìm theo cách như sau:
Gõ coachman, yêu cầu Google dịch sang các thứ tiếng vùng Nam Đảo (Philippines, Malaysia và Indonesia) bởi các thứ tiếng này chung một họ tiếng Nam Đảo, rất dễ gần nhau về một số từ. Rất may tới tiếng Indonesia thì được: Từ điển - Xem từ điển chi tiết danh từ 1. kusir 2. sais 3. pengendara kuda Trong đó có từ thứ hai sais gần như đồng âm hoàn toàn (1. Cùng 2 âm tiết; 2. Âm tiết đầu là sa, giống xa/xà trong tiếng Việt; 3. Âm tiết thứ 2 là is, rất giống ích trong tiếng Việt). Vấn đề cần tìm hiểu thêm ở đây là: 1. Liệu có đúng là từ xà ích có xuất xứ từ tiếng Indonesia nói riêng, tiếng Nam Đảo (gồm thêm Philippines, Malaysia) nói chung hay không (trong tiếng Malaysia sais cũng là coachman/xà-ích, có lẽ hai nước này tiếng giống nhau như Lào với Thái chăng?)? 2. Sâu hơn nữa, do dân Trung Quốc di cư rất nhiều sang vùng Nam Đảo (nhất là sau khi nhà Thanh diệt nhà Minh) nên có thể trong từ vựng của vùng Nam Đảo có thể pha lẫn từ tiếng Trung Quốc (trong tiếng Trung Quốc, từ phát âm là xa/xưa có một nghĩa là xe - từ Hán-Việt cũng là xa). Biết đâu từ sais đó chỉ là từ Hán-Indo thì sao (chỉ thêm đuôi is vào để chỉ người đánh xe - y như từ coachman = coach (xe 4 bánh, từ này gốc tếng Hung) + man (người) trong tiếng Anh vậy thôi). Bàn thêm: Từ kusir thì là một từ khá chung vùng Nam Đảo (tiếng Malaysia cũng là kusir, còn tiếng Philippines là kutsero), còn từ pengendara kuda trong tiếng Malaysia thì cũng y như vậy. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 16-01-2011 thời gian gửi bài 20:44 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (16-01-2011), Nina (16-01-2011) | ||
|
#827
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
Dmitri Tran (16-01-2011), USY (16-01-2011) | ||
|
#828
|
||||
|
||||
|
Bác nào biết tiếng Khơ-me thử xem "xà ích" có phải bắt nguồn từ đó không nhé! Xà ích dùng chủ yếu ở Nam bộ, sau này mới lan ra Bắc bộ nhưng không phổ biến lắm. Ở Nam bộ người Khơ-me nhiều, hay dùng xe thổ mộ. Biết đâu xà ích lại chẳng bắt nguồn từ tiếng Khơ-me, chứ tiếng Việt ta ít chịu ảnh hưởng bởi mấy bác Phi-líp, Mã-lai hay In-đô lắm!
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! |
|
#829
|
|||
|
|||
|
Trích:
Truyện Kiều có câu: Trăng thề còn đó trơ trơ Dám xa xôi mặt mà thưa thớt lòng Dám ở đây có nghĩa là đâu dám, không dám. Cũng còn có nhều từ mà ghép vào hai từ đối nghịch lại ra cùng một nghĩa. Từ mòn chẳng hạn. Tiểu thuyết Sống mòn của Nam Cao vốn ban đầu là Chết mòn, nghĩa chẳng hề thay đổi mấy (theo phương diện ngữ nghĩa mà Nam Cao định truyền tải). --- Mà cái này có lẽ cũng có cả trong tếng Nga nữa ạ. Từ знать chẳng hạn. Đặt ở đầu câu, nó có nghĩa là Chẳng lẽ?, không dính dáng gì tới từ Hãy biết cho cả Thí dụ câu hát trong bài ca sông Volga: Знать любовь не дорога? Nghĩa là Chả lẽ tình yêu lại không quý giá sao?, sang tiếng Việt, lời ấy được dịch là Có hay chăng (ngày tháng mong chờ - ơ hơ, cái này thì dứt khoát là nhét ca từ ta vào mồm ca sĩ nhở) Cái đoạn này thì tui cũng không chắc lắm, các bác thạo tiếng Nga chỉ giáo giúp nhé. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 16-01-2011 thời gian gửi bài 20:10 |
|
#830
|
|||
|
|||
|
Trích:
Rất có thể từ xà ích đã theo về cùng với cái xe thổ mộ đó. |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
|
#831
|
||||
|
||||
|
và sang cả nhiều lĩnh vực khác nữa. Để chỉ những người "lính mới", tay nghề còn non, chưa thành thạo...(ещё не съел собаку) nói chung, ví dụ: Я чайник в этой области.
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Dmitri Tran (16-01-2011) | ||
|
#832
|
||||
|
||||
|
Trích:
Từ чайник đơn thuần Nga, nó là dụng cụ nhà bếp đơn giản nhất, trước khi chuẩn bị nấu ăn người ta thường đun ấm nước rồi mới làm tiếp các việc đòi hỏi chuyên môn khác. Ngoài ra, về hình tượng người Nga hay dùng, khi chụp lên đầu чайник thì phải "lọ mọ" tìm kiếm học hỏi như hai chú này! |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Old Tiger (16-01-2011) | ||
|
#833
|
||||
|
||||
|
Trích:
Trích:
http://cadao.org/index.php?option=co...hong&Itemid=91
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn hungmgmi cho bài viết trên: | ||
chaika (18-01-2011), Dmitri Tran (16-01-2011), Мужик (17-01-2011), htienkenzo (16-01-2011), Nina (16-01-2011), nqbinhdi (16-01-2011), Thao vietnam (16-01-2011), USY (17-01-2011) | ||
|
#834
|
||||
|
||||
|
Trích:
Không có nhiều thời gian để gõ lại trong "CHUYỆN ĐÔNG CHUYỆN TÂY"-Quyển 1 của tác giả An Chi, tôi xin trích trong E-thuvien.com: 64. (KTTN 110, ngày 01-6-1993) Xin cho biết xuất xứ của mấy tiếng mã tà (lính cảnh sát thời trước). AN CHI: Mã tà là do phiên âm từ tiếng Mã Lai manta-mata có nghĩa là cảnh sát. Hình thức gốc ban đầu là ma tà, theo ghi nhận của Huình-Tịnh Paulus Của trong Đại Nam quốc âm tự vị. Về sau, ma đã được phát âm thành mã. Xin nhớ rằng tiếng Việt, nhất là địa phương Nam Bộ, có nhiều từ gốc Mã Lai. Thêm một ví dụ: xà ích, người đánh xe ngựa, là do tiếng Mã Lai saïs. link: http://www.e-thuvien.com/forums/show...t=6033&page=10
__________________
Không ai, không điều gì được phép bị lãng quên! |
|
#835
|
|||
|
|||
|
Có vẻ như đề nghị của tôi về gốc từ sais từ tiếng Trung Quốc gây hồ nghi cho nhiều người. Tôi sẽ giải thích thêm suy nghĩ của tôi như sau.
Quá trình mượn từ ngoại lai của mọi dân tộc (mọi thứ tiếng) đều diễn ra như sau: 1. Có người nước ngoài tới (buôn bán hay chiếm đóng...) mang theo các khái niệm mới, hoặc có hàng hóa/vật dụng/gia súc... mới theo chân các nhà buôn hoặc các nhà thám hiểm đi xa trở về. 2. Do mới, tức là không có khái niệm/từ ngữ trong ngôn ngữ bản địa nên người ta sẽ: a) Cố chuyển nghĩa sang gần giống với từ đã có sẵn; b) Mượn từ nước ngoài và phiên âm cho dễ đọc/nói. Có quá nhiều thí dụ như thế trong rất nhiều thứ tiếng khác nhau, không thể kể xiết. 3. Một số từ đã quá lâu sẽ được coi như và trở nên từ thuần của ngôn ngữ chịu du nhập. Thí dụ trong số từ được coi là thuần Việt, có rất nhiều từ gốc Hán chứ không phải là từ Việt cổ (có gốc từ hệ Việt-Mường trong họ tiếng Môn-Khơ-me), chẳng hạn như từ buồm, gan... có gốc tếng Hán. Khái niệm xe chắc chắn chưa có trong ngôn ngữ các dân tộc vùng Nam Đảo từ trước, bởi xe ở châu Á được làm ra có lẽ đầu tiên tại Trung Quốc (chỉ có hai bánh - có thể thấy rõ điều này từ chữ tượng hình, chữ xa/xe trên mặt quân cờ/lá bài tam cúc rất quen thuộc, khác với kocsi hay coach... của châu Âu có 4 bánh). Thế thì nó sẽ có lúc nào đó được du nhập vào các đảo vùng Đông Nam Á, tôi thiên về giả thuyết người Trung Quốc di cư mang theo, mạnh nhất là vào thời sau nhà Minh (hàng vạn/chục vạn người đã di cư tránh tàn sát/cướp bóc của quân Thanh, mang theo phong tục, ngôn ngữ... ảnh hưởng mạnh tới các vùng họ tới). Từ đó người vùng Nam Đảo mới có khái niệm về xe, và rất có thể đã mượn chữ xa (ký hiệu phiên âm thành sa) trong tiếng Trung Quốc, y như người Việt đã mượn chữ xa (phiên và biến âm dần thành xe, còn từ này ngày trước người TQ đọc/nói thế nào vị tất cũng đã có ai biết bởi tiếng nào cũng vậy, tiếng Trung Quốc cũng không là ngoại lệ nên đã thay đổi theo thời gian - thế nên mới gọi là sinh ngữ). Nhìn vào 3 chữ trong tự điển do Google cung cấp, ta thấy từ kusir và từ sais được đưa lên trên từ pengendara kuda (tôi đoán là từ Malaysia cổ, với từ pengendara nghĩa là người cưỡi/người điều khiển còn kuda nghĩa là ngựa, chỉ là cố chuyển nghĩa thành từ đã có sẵn trong ngôn ngữ Nam Đảo từ trước), cái này thường thấy trong các từ điển là xếp các nghĩa/từ thông dụng hơn lên trước - trong trường hợp này là các từ mượn được dùng nhiều hơn, nhất là trong văn viết, quan trọng (điều này cũng thấy tương tự trong tiếng Việt: những văn bản quan trọng, trịnh trọng thì người ta hay dùng từ Hán-Việt hơn còn trong văn nói thì lại hay dùng từ thuần Việt, thí dụ như thiếp mời đám cưới thì ghi Kính mời... tới dự hôn lễ của..., chứ không viết tới dự đám cưới, trong khi có ai hỏi ta đi đâu ta sẽ trả lời đi dự đám cưới của... chứ không mấy khi nói đi dự hôn lễ của..., có vô số thí dụ như vậy). Như vậy, ngoài từ pengendara kuda thuần Mã-lai, rất có thể các từ sais và kusir có gốc ngoại lai (kusir/kutsero thì lai từ tiếng Châu Âu - coach/kocsi/cocher/kutsche...), còn sais thì liệu lai từ tiếng nào? Lai từ tiếng TQ chăng? Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 17-01-2011 thời gian gửi bài 00:14 |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
|
#836
|
||||
|
||||
|
Em xin đóng góp 1 chuyện vui có thật.
Chuyện là có 1 hôm, ông Nga ở cơ quan ngày xưa của em mặt mũi nghiêm trọng hỏi nhỏ em: "Cơm lễ" là gì? Em nghĩ mãi 3 ngày không ra, kể cả tra các kiểu từ điển tiếng Việt từ cuốn của cụ Đào Duy Anh cho đến cuốn của cháu chắt cụ. Mãi sau em bực quá, mới hỏi lại: ông thấy cụm từ này ở đâu? Ông ta trả lời là ở trong giấy mời đi dự chiêu đãi. Liệu các bác có suy luận ra đó là từ gì không ạ? Thêm 1 câu đó vui nữa (cái này em "cóp" của 1 mem cũ NNN: từ "bát phố", rồi sau là "bát tiết (học)" có gốc từ đâu?
__________________
"Дело ведь совсем не в месте. Дело в том, что все мы - вместе!" |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Dmitri Tran (17-01-2011) | ||
|
#837
|
||||
|
||||
|
Trích:
Xin góp thêm một chuyện có thật như tiếu lâm về người Nga học tiếng Việt. Khi tôi mới học tiếng Nga, có tiếp xúc với 1 cậu SV Nga ở trường Phương Đông, câu ta kể lại 1 tháng thực tập ở Hà Nội: Ra chợ, anh ta thấy có người nói: "Chuối hôm nay rẻ thối", về nhà hỏi: "Rẻ thối là gì?". Các bạn VN trả lời: Có nghĩa là rất rẻ. Một tháng sau, trên sân ga, vẫy tay chia tay mọi người, anh ta gào lên: "Tôi nhớ các bạn thối ra đấy!". Còn xuất xứ của cụm từ "bát phố", "bát tiết (học)" xin chờ ý kiến mọi người. |
|
#838
|
||||
|
||||
|
Bát tiết...he he, bát tiết canh chứ nhỉ, thèm quá:
Tứ thời bát tiết canh chung thủy Ngạn liễu đôi bồ dục điểm trang.
__________________
hungmgmi@nuocnga.net |
|
#839
|
||||
|
||||
|
Trích:
-Phương pháp dịch này thường đc áp dụng dịch các từ đặc thù mô tả thực thể văn hóa. Em lấy ví dụ trong tiếng nga có từ Самовар. Đây là một từ đặc thù trong văn hóa nga mà việt nam không có. Với từ này người ta đã áp dụng các cách dịch như sau: -giải thích : ấm lò -phiên âm: xa-mo-va nhưng phải thêm từ chỉ chủng loại : ấm xa-mo-va để người chưa từng tiếp xúc với nền văn hóa Nga cũng có thể hiểu đc. Hay thậm chí có thể dịch ấm lò xa-mo-va Ý em là với những từ hay ngữ đặc thù kiểu này ta phải áp dụng cả hai phương pháp để giúp người tiếp nhận thông tin có thể hiểu thông tin một cách tốt nhất. Đây chỉ là một ví dụ điển hình, còn rất nhiều ví dụ khác.
__________________
жизнь прожить - не поле пройти!!!! Thay đổi nội dung bởi: nguyentiendungrus_83, 18-01-2011 thời gian gửi bài 02:36 Lý do: thừa chữ! |
|
#840
|
||||
|
||||
|
Trích:
Праздничный обед - bữa cơm nhân ngày lễ hội có t/c vui mừng. Поминки - đồ vật hoặc bữa cơm tưởng niệm, như kỵ giỗ của ta. Приношение - đồ vật, nghi lễ dùng tế thần trong các lễ tôn giáo, Tôi dùng trường hợp đầu vớ câu "Chắc là..." vì nó phổ thông nhất, còn có đúng với bối cảnh hay không thì tác giả câu hỏi biết. Về phương pháp dịch, để tránh nhầm lẫn xin bạn miễn bàn, và ta không nên "изобретать велосипед". Khi dịch, ngoài hiểu biết của mình, các quy tắc dịch thuật phải căn cứ vào Quy định của Viện KHXH Việt Nam nếu dịch Nga-Việt, và của Viện Phương đông thuộc Viện HLKH Nga nếu dịch Việt-Nga. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|