|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
|
|
#1
|
||||
|
||||
|
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 27-07-2012 thời gian gửi bài 09:04 |
| Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Kóc Khơ Me cho bài viết trên: | ||
hongducanh (27-07-2012), ngocbaoruss (27-07-2012) | ||
|
#2
|
||||
|
||||
|
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 27-07-2012 thời gian gửi bài 09:04 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
ngocbaoruss (27-07-2012) | ||
|
#3
|
||||
|
||||
|
Hiện nay vấn đề lớn đặt ra trong các việc "uống nước nhớ nguồn" vẫn là các chính sách "đền ơn đáp nghĩa" đối với thân nhân và bản thân những công dân đã cống hiến xương máu và khoảng "thời gian tươi đẹp" nhất đời người cho Tổ quốc.
Những công dân này lại rất ít kêu ca, phàn nàn hoặc "công thần" này nọ. Vì thế sự chịu đựng "trong âm thầm" của họ chỉ dần được phát hiện và lên tiếng trước công luận bởi số ít người còn lòng trắc ẩn ... Thời gian qua các chế độ chính sách dù có tiến bộ và ngày càng tăng lên nhưng vẫn còn quá ít ỏi, phần nào mang tính hình thức, đôi chỗ còn bị lợi dụng... Mong sao kinh tế đất nước ngày càng phát triển, những người có trách nhiệm quan tâm hơn nữa đến các đối tượng "còn sống" này. Mấy chục năm qua mà việc "kiểm đếm" xác nhận vẫn chưa xong, còn đời người thì có dài lắm đâu để chờ để đợi! Mỗi năm cứ đến ngày này, lại tổ chức đoàn này đoàn nọ thăm hỏi quà cáp xem chừng có điều gì không ổn. Bởi vì người ta phải sống thêm ba trăm sáu bốn ngày nữa để lại có được ngày này! Sự hy sinh cũng không chỉ từ 1 phía của cuộc chiến huynh đệ này!
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 27-07-2012 thời gian gửi bài 09:49 |
|
#4
|
||||
|
||||
|
Có một chuyện mà mãi mãi vẫn không tan nổi trong lòng tôi, vẫn đau đáu một điều gì đó đã không phải với người đã ra đi. Câu chuyện tôi kể lại sẽ hy vọng một điều gì đó tốt lành hơn cho người đã khuất và cả cho người đang còn hiện hữu...
Khoảng gần 38 năm trôi qua, sau bữa cơm trưa, đơn vị điều ba người chúng tôi đi làm công tác tử sĩ - chiều đó là ngày 10 tháng 8 năm 1974. Anh Vững người Hải Hưng, anh Tự và tôi người Hà Nội lập thành một tổ được cấp trên điều động bổ sung vận chuyển bộ đội đã hy sinh sau cái ngày giải phóng quận Thường Đức - Quảng Nam ( Nay là huyện Đại Lộc). Chúng tôi đến khu vực quy tập 1 - khu vực này đã được các anh bên đơn vị vận tải của trung đoàn 66 chuyển tử sĩ tử các điểm chốt về đây... Chúng tôi thấy rất nhiều túi nilon màu cỏ úa xẫm đặt san sát nhau. Anh Vững là lính cũ đã có nhiều kinh nghiệm về việc này nên bảo hai thằng tôi đứng chờ để anh ta vào trong lán gặp người quản lý để làm thủ tục chuyển tiếp tử sĩ đến địa điểm chôn cất. Sau một hồi, anh Vững chỉ cho chúng tôi cái túi tử sĩ to lớn và hướng dẫn chúng tôi dùng dây võng buộc chặt hai đầu và tiếp đó buộc hai đầu đó vào cây đòn khiêng. Thế là tôi và anh Tự khiêng anh bạn xấu số nào đó lên đường đến nơi an nghỉ cuối cùng (chưa chắc nơi ấy là nơi an nghỉ cuối cùng). Ngày ấy tôi chỉ có 53 kg, không khỏe lắm, anh Vững bảo tôi: Mày hạ xuống để tao cáng cho, mới có đi một đoạn mà cứ nôn ọe khiếp cả người... Thú thật với các bác, khiêng tử sĩ mà đi sau thì than ôi mùi thối kinh khủng, đòi cáng đằng trước để đỡ mùi, khi xuống dốc cái đầu hoặc chân của tử sĩ cứ dúi vào lưng tôi...sợ lắm! Đó là lần đầu tiên trong đời lính của tôi được làm cái việc mà không ai dạy bảo! Chúng tôi đã xuống triền sông Hinh được đặt tử sĩ xuống và nghỉ ngơi, xung quanh tôi cũng có nhiều tốp người như chúng tôi đều tạm nghỉ dọc đường... Khi đặt túi tử sĩ xuống, vô tình mép túi bị bục ra, anh Vững đến bên tử sĩ: Ông này hy sinh rồi mà vẫn còn lương khô, bi đông nước và vài băng đạn AK. Theo thông thường xem xong anh Vững nên đóng lại có lẽ hay hơn, nhưng không-anh Vững cầm mấy băng đạn vứt đi cũng với lương khô và bi đông nước...Cũng có lẽ anh tử sĩ đã hy sinh mà chưa kịp ăn luơng khô và uống nước, cũng có lẽ những băng đạn kia chứng tỏ anh chưa kịp bắn viên nào mà đã phải ra đi... anh là lính mới như chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục lên đường, có lẽ tôi quen dần chăng? tôi đã thấy đỡ mệt và trên đường đi đến bên Hiên - Khu tập kết tử sĩ là một bái cát bồi được dào thành hàng tương đối gọn mắt. Anh Vũng bảo tôi: Mày kiếm cái gì đó để khắc bia nhé, chữ mày đẹp mà, còn tao với thằng Tự đào huyệt. Tôi quay lại lán trực của đơn vị vận tải hỏi xin một mảnh thùng lương khô để làm bia tử sĩ. Các anh ấy bảo ra sau lán mà lấy. Vì là được khắc bia nên tên anh ấy mãi mãi trong tôi: Đ/C: NGÔ NGỌC VINH SINH 1954 THÀNH PHỐ VINH - NGHỆ AN Thông tin chỉ có vậy mà không biết cho đến nay anh Vinh đã về được quê nhà chưa ??? Tôi dùng mũi dao găm tỉ mẩn viết (đột lỗ) lại những dòng chữ trên trên mảnh thùng lương khô cũng có một màu xanh cỏ ủa xẫm! khảong 30' gì đó, đồng thời cũng là lúc anh Vững bảo hai thằng tôi khiêng anh Vinh đặt vào Huyệt. Nói là huyệt cho đúng ngôn từ chứ thực tế anh Vững và anh Tự chỉ đào một cái hố nông choèn, có lẽ chiều sâu chưa được hai lưỡi xẻng quân dụng, vị chi vào khoảng 40cm. Có điều tệ hơn là chiều dài của cái huyệt ngắn hơn chiều dài của anh Vinh: Thằng này dài thế nhỉ? vừa nói, anh Vững nhảy xuống chân anh Vinh - Tiếng rắc của các khớp xương nghe khô lạnh! thật đau lòng! Kỷ niệm này mãi mãi trong tôi. Nhân dịp này, tôi xin kính cẩn thắp nén nhang cho anh Vinh cùng tất cả các anh chị đã ra đi... Còn chuyện anh Vững, anh ấy cũng ra đi sau đó chừng gần tháng tại diểm cao 383 trong một câu chuyện thảm thương đến tột độ. Viết lại điều này, có gì không phải với hương hồn các bác - mong đại xá!
__________________
hongduccompany@gmail.com |
| Có 14 thành viên gửi lời cảm ơn hongducanh cho bài viết trên: | ||
Cartograph (27-07-2012), FORYTCHIA (27-07-2012), Hoa May (27-07-2012), hungmgmi (27-07-2012), Huonghongvang (27-07-2012), Kóc Khơ Me (27-07-2012), LyMisaD88 (27-07-2012), MaiXuricop (27-07-2012), ngocbaoruss (27-07-2012), NISH532006 (28-07-2012), nqbinhdi (27-07-2012), rung_bach_duong (27-07-2012), Siren (27-07-2012), USY (27-07-2012) | ||
|
#5
|
|||
|
|||
|
Tôi viết thêm những dòng này, dường như tôi cảm thấy vơi đi ký ức những ngày gian khổ, ác liệt mà tôi đã chứng kiến. Nhưng trên hết là tri ân những người đã ngã xuống.
Ngày 2/5/1968 là ngày tôi nhập ngũ. Tất cả những người lên đường đợt ấy là quân của Bộ Văn hóa. Sáng hôm ấy tất cả tập trung tại 51-53 Ngô Quyền Hà Nội, rồi lên xe, các xe ca lượn quanh Hồ Hoàn Kiếm 2 vòng để các chiến sỹ mới tạm biệt Hà Nội. Rồi những ngày huấn luyện trên Hòa Bình và sau đó hơn 2 tháng ròng rã đi bộ dọc Trường Sơn. Mỗi người mỗi ngả, tôi được điều về đơn vị cối của một tiểu đoàn bộ binh thuộc Trung đoàn 270 đặc khu Vĩnh Linh. Ngày ấy, Vĩnh Linh là đặc khu chịu sự lãnh đạo trực tiếp từ Trung ương, mà Trung đoàn 270 là chủ lực bảo vệ Vĩnh Linh và “chia lửa” trực tiếp với bờ Nam sông Bến Hải. Trung đoàn do đại tá Hoàng Đượm làm tư lệnh trưởng, thiếu tá Vũ Kỳ Lân (chồng của nghệ sĩ Mai Châu – đóng phim) làm chính ủy. Một thời gian ở bộ binh, tôi được điều về làm trinh sát pháo binh Ban pháo Trung đoàn, rồi lại về làm pháo thủ pháo mặt đất 85 ly. Quanh đi quẩn lại chỉ Vĩnh Linh và huyện Gio Linh (bờ Nam). Ngày ấy (1968-1972) Vĩnh Linh chủ yếu đi dưới chiến hào và sống trong hầm chữ A. Chưa ở đâu như trên đất Vĩnh Linh, hàng ngày giữa thanh thiên bạch nhật, mọi người được “ngắm” máy bay Mỹ B52 rõ mồn một và căm tức chúng, cũng như cứ chiều chưa tối hẳn nhìn lên miền tây (nơi con đường huyết mạch vào Nam), như một ông nhà đèn cần mẫn đến giờ bật điện, 365 đêm không sót đêm nào, pháo sáng Mỹ lại giăng sáng cả một vùng trời. Đúng là Mỹ cực giàu! Có một điều đau xót mà tôi không thể nào nguôi được khi chứng kiến một trận hủy diệt theo đúng nghĩa của nó. Chỗ tôi đứng là một gò đồi cao, cách trận địa đại đội pháo cao xạ của Trung đoàn không xa. Đó là lúc trời đã quá trưa, máy bay Mỹ đến oanh tạc, pháo ta nổ giòn giã, nhưng chỉ được khoảng 10 phút. Ngay sau đó, pháo từ Hạm đội 7 ngoài biển bắn vào, pháo từ Dốc Miếu (bờ Nam Bến Hải) bắn sang, bom từ trên máy bay giội xuống. Trong nháy mắt tất cả là bình địa. Khi tôi còn trên Ban pháo trung đoàn, vào một đêm tôi được lệnh cùng một chiến sỹ nữa xuống Cửa Tùng để cáng thương binh. Người mà chúng tôi cáng là một chiến sỹ đặc công nước vừa đánh trận ở cảng Cửa Việt. Anh bị cụt một chân, trong đêm tối không nhìn rõ mặt anh, chỉ cảm nhận anh có thân hình chắc nịch. Ngày ấy, tôi gầy yếu và “thanh mảnh” lắm, cân nặng 38kg, chứ không như Hongducanh chỉ mỗi 53 ký đâu. Hai thằng khiêng cáng đi dưới giao thông hào, vừa đi vừa hỏi người bị thương. Anh nói quê anh ở Thanh Hóa, có vợ và một con. Anh kể rõ trong ba lô có gì, linh tính mách bảo tôi nghĩ sẽ có chuyện chẳng lành. Hơn 10km từ Cửa Tùng đến bệnh viện dã chiến của Trung đoàn, chúng tôi chuyển anh cho bệnh viện và về đơn vị. Trời sáng rõ, chúng tôi nhận tin dữ từ bệnh viện người lính ấy đã ra đi mãi mãi. Ngày ấy ở Vĩnh Linh không có bóng một trẻ thơ (toàn bộ các cháu được sơ tán, chủ yếu ra huyện miền núi Tân Kỳ, Nghệ An), chỉ còn nam thanh nữ tú gia nhập du kích, nhiều ông bố, bà mẹ quyết xin ở lại chiến đấu không chịu đi sơ tán. Nhiều lính đánh trận trong Nam còn sống ra đến bờ sông Bến Hải vẫn còn hãi. Đây là lúc cái chết đến thường xuyên và bất chợt hơn lúc nào hết. Các bến vượt sông đều đã vào vòng ngắm của những người bên kia chiến tuyến. Chỉ một quả pháo từ Cồn Tiên hay Dốc Miếu bắn tới thì thôi rồi Lượm ơi. Năm 1972, năm mà Mỹ ném bom bắn phá trở lại, tất cả những gì trước đây Mỹ chưa phá nổi, nay nhờ công nghệ lase Mỹ đã thực hiện phá được. Trước đây, duyên hải khu 4, nghe tiếng đạn pháo từ Hạm đội 7 bắn vào đã ghê. Nay, để tránh tầm bắn hiệu quả của pháo binh ta, Mỹ cải tiến công nghệ, gọi là pháo tăng tốc (dạng tên lửa đẩy – ý của MX), khi bắn, giờ đây ta còn nghe được tiếng nổ thứ hai, đó là lúc đạn pháo được đẩy xa hơn. Năm 1972, Trung đoàn tôi bố trí một trận địa pháo ở sát địa đạo Vĩnh Mốc. Lúc đó nhìn qua kính viễn vọng của đài chỉ huy, tầu của Hạm đội đội 7 cứ như trêu ngươi, vì nhờ đạn tăng tốc, nên mình cũng khó mà vươn tới được bắn cho chính xác. … Bây giờ ngồi nghĩ lại cứ miên man nhớ và viết lại đôi dòng… |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn MaiXuricop cho bài viết trên: | ||
hongducanh (27-07-2012), Huonghongvang (09-05-2014), Kóc Khơ Me (27-07-2012), ngocbaoruss (28-07-2012), NISH532006 (28-07-2012), nqbinhdi (27-07-2012), rung_bach_duong (27-07-2012), Siren (28-07-2012) | ||
|
#6
|
|||
|
|||
|
Chiến tranh không chỉ có người lính mới hy sinh mà cả các cán bộ chỉ huy cao cấp cũng ngã xuống ngoài mặt trận.
Hôm nay có đám cưới con chị Đặng Mai Phương, cùng tiểu đội cũ của tôi từ ngày mới đi bộ đội, anh em đại đội cũ ai còn ở Hà Nội biết tin đều đến chia vui cùng gia đình đồng đội cũ, gặp nhau tay bắt mặt mừng, có người đã cả 35 năm mới gặp lại. Chị Mai Phương là con gái liệt sĩ, đại tá Đặng Tính, nguyên chính ủy quân chủng Phòng Không - Không Quân, chính ủy đoàn 559 (binh đoàn Trường Sơn - binh đoàn duy trì và bảo vệ đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại). Trong kháng chiến chống Pháp, ông là chỉ huy cũ của cha tôi - năm 1947 ông là Tỉnh đội trưởng Hải Dương, khi đó cha tôi là huyện đội trưởng đầu tiên của huyện Ninh Giang, sau khi ông lên làm chính ủy mặt trận đường số 5 (1950-1951) thì cha tôi lên làm tinh đội trưởng Hải Dương (thay cho bác Vũ Hắc Bồng vào miền Nam kháng chiến, bác Bồng là tỉnh đội trưởng Hải Dương kế nhiệm của bác Đặng Tính, sau này là Đại sứ VN tại nhiều nước và là giám đốc sở ngoại vụ Tp HCM). Đại tá Đặng Tính hy sinh ngày 4.4.1973 do trúng mìn trên đường Trường Sơn, cùng với một số sĩ quan cao cấp khác. Mộ tưởng niệm ông hiện vẫn có trên nghĩa trang Trường Sơn, bên cạnh mộ của bao nhiêu người lính dưới quyền ông của đoàn 559 mà lần nào vào đó (gần đây nhất là đi cùng đoàn 3N tháng 4-2011, Hổ gừ cũng có ảnh chụp đã gửi lên 3N thì phải - cám ơn Hổ gừ nhiều nhé) tôi cũng đến viếng, kính cẩn chào một vị chỉ huy quân đội xông xáo, rất được bộ đội quý mến, cha của bạn đồng ngũ và là chỉ huy cũ của cha mình. Ảnh cũ 4.2011 (Hổ gừ chụp), bên mộ liệt sĩ, Đại tá Đặng Tính, ngày ông mất tôi mới chỉ là binh nhì ![]() Ngày ông mất, chúng tôi đang ở Hà Nội, trên đống đổ nát do bom B52 của xí nghiệp may quốc phòng X20 gần ga Giáp Bát và sân bay Bạch Mai, làm công tác xây dựng doanh trại chuẩn bị chỗ ở cho bộ đội đang tập từ sân bay Hòa Lạc về tổng duyệt trước duyệt binh ngày 1.5.1973. Chị Mai Phương cũng đang tham gia công việc cùng cả trung đội thì nhận được tin cha hy sinh. Có lẽ tôi không đủ lời để diễn tả nỗi đau xé ruột của một người lính, một người con gái trẻ mới chưa đầy 20 khi đột ngột nghe tin cha mình tử trận. Tìm trên Internet, thấy cái ảnh này chụp trước ngày ông (hàng đầu, thứ 3 từ trái sang) lên đường vào mặt trận, chị Mai Phương khi đó mới 18, vừa mới đi bộ đội, đứng cạnh cha ![]() Nếu ông không hy sinh thì sau ngày giải phóng ông chắc cũng sẽ được phong vượt cấp lên trung tướng cùng với Tư lệnh đoàn 559 Đồng Sĩ Nguyên. Ảnh chụp hôm nay trong đám cưới con chị Phương. Bên cạnh chị là trung đội trưởng cũ của chúng tôi ngày mới vào bộ đội, anh Tuấn "Mốc", 7 năm lính Trường Sơn từ 1964 đến 1971 - gọi như vậy là vì tóc anh bị ảnh hưởng của chất độc hóa học rụng hết, ngày ra Bắc không sao mọc lại được, đầu mốc trắng, mãi sau này mới mọc lại được 1 ít.
Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 28-07-2012 thời gian gửi bài 09:11 |
| Có 6 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
hongducanh (03-05-2014), Huonghongvang (09-05-2014), MaiXuricop (27-07-2012), ngocbaoruss (28-07-2012), NISH532006 (28-07-2012), rung_bach_duong (27-07-2012) | ||
|
#7
|
||||
|
||||
|
Trời Hải Lăng - Quảng trị rực nắng cuối tháng tư, nắng như đổ lên đầu của tất cả những người tham gia thả hoa trên mặt sông Ô giang (Mỹ chánh). Nắng chói chang mà đầu trần không mũ, nhưng đang ở giữa dòng sông chạy ngược lên khoảng 2 km nên đành chấp nhận cái nắng dữ dội ấy. sau khi tất cả các thuyền dừng lại và đồng loạt thả hoa xuống mặt sông, bỗng dưng trời tối sầm, lác đác đâu đó vài hạt mưa lấm tấm trên mặt như thể ai đang khóc... Diều kỳ lạ đó đã đem lại cho chúng tôi bầu không khí mát mẻ cho đến khi tất cả thuyền tham gia thả hoa đậu bến, người cuối cùng lên bờ cũng là lúc trên mặt sông Ô giang lại rực nắng gắt gao, rực màu vàng đỏ của hoa trên mặt sông...
Hầu như những con người đang yên nghỉ dưới lòng sông Ô giang đều không được vớt lên. Họ đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng sông quê hương. Có một điều hầu như chưa ai nhắc đến: chính nơi đây xác của bộ đội giải phóng, bộ đội địa phương, dân quân du kích và rất nhiều những xác mang quân phục của chính quyền Sài gòn... Họ cũng có dòng máu đỏ, da vàng như chúng ta. Xin cầu mong cho những linh hồn đã khuất nơi cõi tuyền được an nghỉ, siêu thoát miền cực lạc. Dưới đây là bức ảnh của chúng tôi chụp đẻ kỷ niệm sau một thời gian 38 năm chúng tôi gặp lại nhau sau cuộc chiến. đó là những thủ trưởng cũ trực tiếp chỉ đạo chúng tôi khi giáp trận. Bên cạnh tôi, chính ủy Thân. tiếp theo là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Trần Hữu Bào... Chúng ta ngược thời gian của lịch sử sẽ rõ hơn. Năm 1966, tiểu đội Bùi Ngọc Đủ đã anh hùng chiến đấu chống lại quân Mỹ ở Khe sanh - 1 người tiêu diệt 20 lính Mỹ. Xin mời các bạn giải lao nghe bài hát: Ơi Dòng Suối La La sáng tác Huy Thục do ca sĩ Lan Anh thể hiện. Những đến năm 1968 chúng ta đã có thêm những gương mặt khác như chiến sĩ Trần Hữu Bào, khi đó 19 tuổi đã anh dũng giữ vững điểm cao 595 khu vự sân bay Tà cơn của mỹ. Và dưới đây là những ghi chép của tư liệu tôi sưu tầm về sự kiện lịch sử của trung đoàn 66 sư 304: Một tiều đoàn thuộc lữ 3 ky binh đổ xuống Làng Cát ngày 2 tháng 4 thì ngày 3 tháng 4 đánh ra Làng Khoai. Chúng định diệt chốt Làng Khoai, sau đó cùng với bọn ở Động Che Riêng, điểm cao 471 và bọn từ Tà Cơn đánh ra, tạo thành thế hợp vây để diệt các lực lượng chốt của ta ở tây nam và đông nam Tà Cơn. Suốt ngây hôm đó, địch tiến công 7 lần nhưng không vượt qua được Làng Khoai, ta diệt 70 tên (có 2 thiếu tá), bắn rơi một trực thăng. Đại đội phó Bùi Ngoãn bị thương vào chân vẫn tiếp tục chỉ huy chiến đấu. Ngày 5 tháng 4, ta lại bẻ gãy 5 đợt tiến công của địch, diệt 170 tên. Trong lúc đó, ở Tà Cơn địch cũng cho lực lượng đánh ra các chốt của ta; 59 tên thuộc tiểu đoàn 37 biệt động quân bị diệt. Qua hai ngày 6 và 7 tháng 4, chốt Làng Khoai vẫn đứng vững, bộ phận thương binh ta nằm phía sau chốt đã dùng tiểu liên và lựu đạn bẻ gãy một cánh quân vu hồi của địch. Tiều đội trưởng Nguyễn Văn Ngọc chỉ còn một mình nhưng khi thấy địch cụm lại, đồng chí đã bí mật luồn sâu đánh vào trận địa của chúng. 14 giờ 50 phút ngày 7 tháng 4, trên chốt Làng Khoai ta chỉ còn 4 đồng chí. Bọn địch cơ bản đã chiếm được trận địa, nhưng chúng không dám lùng sục mà chỉ gọi trực thăng đến lấy xác đồng bọn. Đồng chí Phó lúc ấy đã bị thương, khi tỉnh lại thì thấy trực thăng hạ cánh, địch đang tranh nhau lên máy bay. Phó đã ném ba quả lựu đạn và bắn một tràng tiểu liên diệt cả máy bay và bọn địch. Chốt Làng Khoai với 20 tay súng, sau được tăng cường thêm một bộ phận của tiểu đoàn rút từ chốt 1 và 2 về, đã quần nhau với địch suốt 5 ngày đêm; địch bị diệt gần 400 tên, trong đó có hai tên thiếu tá Mỹ. Nồi bật nhất trong các trận đánh giữ chốt là chiến công của 5 dũng sĩ trên đồi 595. Điểm cao 595 có hai mỏm nằm ở phía tây cụm cứ điểm Tà Cơn 1 ki-lô-mét, trước kia là nơi trú quân của địch, nên chúng đã làm đường xe tăng đi qua yên ngựa. Trung đội 1 đại đội 5 được giao chốt ở đây: tiểu đội 1 và 2 có 3 đồng chí chốt ở mỏm thấp; 2 khẩu 12,7 ly và 1 khẩu cối 60 bố trí ở khu vực yên ngựa cạnh đường xe tăng; còn tiểu đội 3 có 5 đồng chí do đồng chí Ninh trung đội phó chốt ở mỏm cao nhất, tiểu đội này chia làm hai tổ: tồ một gồm 4 đồng chí có 1 trung liên do tiểu đội trưởng Đợi và trung đội phó trực tiếp chỉ huy, tồ hai có 2 đồng chí. Trận địa chốt này được xây dựng từ đầu chiến dịch, nên anh em đã củng cố khá tốt, hầm ẩn nấp làm kiểu chữ A, có ba nhánh hào vươn ra 3 hướng dài từ 5 đến 7 mét, có hố bắn, có trận địa chính, phụ và dự bị. Liên lạc giữa các hầm đến tiểu đội trưởng và trung đội bằng dây buộc các ống bơ, ban đêm ngủ thì dây buộc vào chân tổ trưởng. Suốt từ đầu chiến dịch vây lấn, chốt 595 đã gây khốn đốn cho địch, nên chúng đã dùng phi pháo oanh tạc nhiều lần. Ngày 6 tháng 4 sau khi đổ quân được bốn ngày địch đã tổ chức đánh chiếm 595. Địch chết 120 tên, có 40 tên phơi xác trước trận địa của tiểu đội 3. Ta mới có chiến sĩ Thu bi thương. Ngày 7 tháng 4, chúng lại tiếp tục cuộc đánh chiếm chốt. Sau nhiều đợt xung phong bị bẻ gãy lúc 16 giờ địch lại đổ thêm một đại đội kỵ binh bay xuống cao điểm 832 đã tăng cường lực lượng tiến công. Bỏ cả quy luật ngày đánh, đêm nghỉ, địch đã đánh cả đêm và 20 giờ hôm đó, chúng đã chiếm được công sự của tỏ một và một số hầm dự bị của tổ hai. Tiều đội 3, tiểu đội trưởng Đợi hy sinh, trung đội phó Ninh và một chiến sĩ nữa bị thương. Trên trận địa chính chỉ còn chiến sĩ Trần Hữu Bào, 19 tuổi đời một tuổi quân, anh đã băng bó cho hai đồng chí bị thương và đưa các đồng chí ấy về hầm dự bị, còn một mình ở lại tiếp tục chiến đấu. Anh nhặt nhạnh 20 quả lựu đạn, súng B40, tiểu liên, để săn ở các hố bắn và một mình đánh địch, giữ vững trận ta. Địch không dám đánh tiếp. Lúc này, Bào nghĩ muốn giữ được trận địa và bảo vệ được thương binh thì phải chủ động đánh chúng. Anh đã bò ra khỏi hầm, dùng B40 và lựu đạn đánh vào cụm quân của địch. Nhờ tiếng B40 và lựu đạn của Bào mà đại đội biết rằng trận địa của tiều đội 3 vẫn còn. Đơn vị đã cho người lên đón Bào và đưa thương binh tứ sĩ về phía sau. Như vậy là hơn một tiểu đoàn địch quần nhau với 6 chiến sĩ ta suốt hai ngày mà không chiếm được mỏm cao của điểm cao 595; chúng đã bị diệt gần 200 tên. Bào diệt 79 tên, Ninh 25 tên, Bút 16 tên, Phiệt 17 tên, Thu 8 tên và Đợi 5 tên. Ta hy sinh một, bị thương bốn.Cũng trên chiến trường Khe Sanh, năm 1966 tiều đội Bùi Ngọc Đủ đánh địch ở suối La La đã nêu kỷ lục 1 diệt 20. Nay trên điểm cao 595, tiều đội Trần Hữu Bào đã nêu ký lục 1 diệt 40. Cuối chiến dịch, đồng chí Trần Hữu Bào đã được Quốc hội và Chính phủ tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
__________________
hongduccompany@gmail.com |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Huonghongvang (09-05-2014) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Khẩn - Cần tìm gấp nguồn máu nhóm O (Rh-) | weekdaysman | Chúc mừng - Chia sẻ - Giúp đỡ | 8 | 20-08-2010 23:37 |
| Một góc cho Cơm Nguội | Tulip | Thơ ca, văn học, tác phẩm của chính bạn | 12 | 03-07-2010 15:09 |
| Nguồn gốc của chiến tranh | DT.NAM | Hồ sơ chiến tranh thế giới | 6 | 06-04-2009 17:26 |