|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#41
|
|||
|
|||
|
Có khí bác nhầm tưởng rằng nhà iem thông minh tài giỏi lắm, thực ra thì nhà iem hết sức ú ớ - cụ thể là đã có sẵn cái ảnh trong 1file trong máy tính ở nhà (chứ không phải trong web nào cả) mà nhà iem chả biết up nó lwên bằng cách nào
|
|
#42
|
|||
|
|||
|
Trích:
http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=27 |
| Được cảm ơn bởi: | ||
baodung (30-12-2010) | ||
|
#43
|
|||
|
|||
|
Để rộng đường tham khảo, nghiahoa xin lược đăng một vài thông tin về các loại tăng Nga từ trang vndefence(Bài của daccongbacviet).
PT-76 Amphibious Tank ![]() Khối lượng: 14,7 tấn Tốc độ (km/h): 45/11,2 Tổ lái: 3 Kích thước (mm): 7'634/6'910 x 3'140 x 2'255 Động cơ: Diesel B6M, 300hp Tỉ lệ sức mạnh/khối lượng (hp/t): 20,1 Dự trữ dầu (l): 400 Tầm hoạt động: 400km Vũ khí: Pháo 76,2mm + 1 súng máy đồng trục 7,62mm Cơ số đạn: 40 quả đạn pháo + 1000 viên đạn súng máy Chiếc PT-76 (PT = Plavayushtshiy Tank - Amphibious Tank) là một trong số ít các loại tăng bơi nhẹ đã được phát triển và sử dụng bởi quân đội Soviet. Nó gia nhập vào biên chế năm 1954 và có thể lội nước một cách hoàn toàn chủ động. Mặc dù nó chỉ được bọc giáp mỏng và trang bị vũ khí khá là kém so với các mẫu tăng đương thời, thì tính năng khối lượng nhẹ và lội nước tốt đã bù đắp những khiếm khuyết trên. PT-76 được sử dụng rộng rãi trong quân đội khối Warsaw và một số nước khác trên thế giới như Việt Nam, Trung Quốc…. Chiếc PT-76 có một khẩu pháo 76mm với tầm hiệu quả tối đa chừng 1.500m. Được biên chế tổ lái 3 người, PT-76 thường được sử dụng để vận chuyển binh lính. ![]() PT-76 là một chiếc tăng bơi hạng nhẹ với kết cấu hình mũi thuyền. Hệ thống treo có 6 bánh đỡ và không có con lăn nào. Tháp pháo đặt tại vị trí bánh đỡ thứ 2,3,4 với một cái nắp to dành cho cả xạ thủ và trưởng xe ra vào. Cửa của lái xe thì nằm ở giữa, ngay dưới pháo chính. PT-76 trước đây còn là loại xe tăng trinh sát tiêu chuẩn của quân đội Soviet và khối Warsaw. Mặc dù sau đó được thay thế trong các đơn vị tuyến đầu bằng loại BMP-1 và BMP 1976, nó vẫn còn được tìm thấy trong các đại đội hay tiểu đoàn trinh sát của các đơn vị bộ binh cơ giới hay xe tăng, cũng như trong các đơn vị hải quân đánh bộ. Ngoài chức năng trinh sát, PT-76 còn được sử dụng để vượt qua chướng ngại vật nước trong đợt tấn công đầu tiên và yểm trợ chiếm lĩnh bãi đổ bộ. Động cơ diesel V-6 240 hp làm mát bằng nước của nó cho phép đạt vận tốc 44km/h trên quãng đường 260km, bên cạnh đó là hai ống đẩy thủy lực giúp bơi với vận tốc 10km/h trong quãng đường 100km. Pháo 76mm, được xem là nhỏ so với các loại MBT cùng thời, có thể bắn được đạn HVAP và HEAT để hạ các loại APC hay các loại xe bọc giáp mỏng khác. Chiếc PT-76 thực sự đáng tin cậy, có tính năng cơ động trinh sát cao và là một ý tưởng bơi nước tốt, nhưng vẫn còn có nhiều điểm hạn chế của một chiếc xe chiến đấu |
|
#44
|
|||
|
|||
![]() Cũng giống như nhiều loại tăng của Soviet khác, PT-76 cũng có điểm yếu là khả năng chỉnh nòng pháo chính xuống thấp kém, cho nên nó không thể bắn một cách hiệu quả từ các công sự trên cao ( nó sẽ phải nhô nguyên thân ra thay vì mỗi nòng pháo – ND ). Thiết kế bơi nước làm cho PT-76 to một cách không cần thiết so với phân lớp của nó, và do đó làm cho giáp bảo vệ mỏng hơn các loại tăng nhẹ khác. Gíap khá mỏng ( dày nhất 14mm ở thân và 17mm trên tháp pháo ), nó có thể bị tác hại bởi mảnh đạn pháo hay đạn súng máy nòng .50cal. Thực tế trưởng xe còn là một pháo thủ và sử dụng máy điện đài nên đã làm giảm chức năng chính của anh ta là quan sát. Chiếc PT-76 còn lạc hậu hơn các loại xe chiến đấu khác của Soviet khi không có hệ thống nhìn đêm và hệ thống bảo vệ NBC cho tổ lái. 4 phiên bản chính của chiếc xe khác nhau ở khẩu pháo 76mm. Mẫu đầu tiên gắn khẩu pháo D-56T không có thiết bị thóa khói, mẫu tiếp theo gắn khẩu D-56TM với thiết bị tháo khói và loa hãm giật. Súng máy 7,62mm gắn bên phải pháo chính. Một số chiếc PT-76 được trang bị thêm đại liên 12,7mm phòng không. Khung PT-76 còn được chỉnh sửa để phát triển nhiều loại xe khác như các loại APC BTR-50P và OT-62, pháo phòng không tự hành ZSU-23-4, xe ASU-85 của lính dù, xe tên lửa SA-6/GAINFUL và kể cả các chiếc BMP thay thế PT-76 trong các đơn vị trinh sát Soviet. (daccongbacviet) |
|
#45
|
|||
|
|||
|
T54/T55 Main Battle Tank
![]() Tổ lái: 4 Khối lượng: 40,5 tấn Dài: 6,2m Cao: 2,32m Rộng: 3,6m Động cơ: V-55 diesel 580 hp Tầm hoạt động: 311km Tốc độ tối đa (Đường tốt/đường xấu): 50/35 (km/h) Tốc độ trung bình trên đường địa hình: 25 km/h Vũ khí: Pháo 100mm D-10T2S, PKT 7,62mm và AA DShKM 12,7mm Tốc độ bắn: 5-7 viên/phút Góc nâng: -5 đến +18 deg ![]() T-54 là loại tăng được thiết kế theo kiểu qui ước, với vũ khí chính là một khẩu pháo 100mm. T-54 được sử dụng nhiều hơn bất kì một loại tăng nào trên thế giới từ sau WW2 ( hơn 57 000 chiếc đã được xuất xưởng). Nó gồm có 5 bánh xích mỗi bên và có tháp pháo dạng vòm tròn gắn trên khung thân thấp. Series T-54 đầu tiên ra mắt năm như là một sự thay thế cho loại tăng T-34 của WW2. Mẫu T-54 đầu tiên được hoàn thành năm 1946 để cho việc sản xuất hang loạt bắt đầu từ năm 1947. Chiếc T-54 liên tục được cải tiến và chỉnh sửa trong thời gian sau đó, và khi việc cải tiến đã được thực hiện đầy đủ, nó được đặt tên là T-55. Chiếc T-55 được giới thiệu năm 1958 và nó kết hợp những cải tiến tốt nhất của thế hệ T-54 mà không có sự thay đổi nhiều về thiết kế hay hình dáng bên ngoài chiếc tăng. Chiếc T-55A ra mắt vào đầu những năm 1960, việc sản xuất T-55 ở Liên Xô được kéo dài tới tận năm 1981 và nó còn được sản xuất ở những quốc gia khác như Trung Quốc, Tiệp Khắc và Ba Lan. Thay đổi nội dung bởi: nghiahoa, 30-12-2010 thời gian gửi bài 07:55 |
|
#46
|
|||
|
|||
![]() Cho đến nay, một số lượng lớn T-54/T-55 vẫn còn được sử dụng mặc dù đến những năm 1980 nó đã được thay thế hầu hết bởi T-62, T-64, T-72 và T-80 trong vai trò tăng chủ lực của các lực lượng tăng và các đơn vị bộ binh cơ giới Liên Xô. Được sử dụng trong các cuộc can thiệp ở Hungagy năm 1956, Tiệp Khắc năm 1968, Sirya năm 1970 và là loại tăng chủ lực của các quốc gia Arab trong những cuộc chiến tranh 1967 và 1973 với Israel. Trong những năm 1970, T-54 còn tham chiến ở Việt Nam, Cambodia và Uganda. Xe tăng hạng trung T-55 là loại tăng sử dụng bánh xích với 5 bánh dẫn động mỗi bên, nó có một khoảng trống giữa bánh dẫn động thứ nhất và thứ hai, bên cạnh đó nó cũng không có các con lăn hỗ trợ, thiết kế khung thân thấp với tháp pháo dạng vòm tròn đặt ở vị trí bánh dẫn động thứ 3. Khẩu pháo 100mm có một cái bọc hút khói ở đầu nòng, bên cạnh đó là một khẩu PKT 7,62mm đồng trục và một khẩu 7,62mm ở vị trí lái xe. Những mẫu T-55 sau này đã bỏ khẩu 7,62mm ở vị trí lái xe đi. T-55 có thể phân biệt với T-54 ở chỗ T-55 không có vòm ở bên phải và quạt thông gió của tháp pháo được lắp phía trước so với quạt thông gió của T-54, hầu hết những chiếc T-55 khác T-54 ở chỗ nó không có súng trọng liên DShKM 12,7mm trên vị trí pháo hai và tất cả các mẫu T-55 đều có một kính hồng ngoại dành cho pháo thủ lắp bên phải pháo chính. Tuy nhiên, bộ phận tìm kiếm ánh sáng này không phải là một đặc điểm phân biệt, bởi vì nó cũng được trang bị trên nhiều mẫu T-54 và T-54A. ![]() Đại liên 12,7 ly trên nóc tăng T-55 là sự kết hợp giữa một khẩu pháo sơ tốc cao với một khung xe cơ động cao, chiều cao thấp với một khẩu pháo nòng dài. Những cải tiến từ T-54 bao gồm động cơ diesel V-12 làm mát bằng nước lớn hơn với 580hp thay vì 520hp, tăng quãng đu7òng hành trình lên 500km ( sẽ là 715km với hai thùng dầu phụ 200L đặt ở đuôi xe ) so với 400km ( 600km với thùng dầu phụ ở bản cũ ). . T-55 cũng có hai cái ổn định hai mặt phẳng (two-plane) chứ không chỉ có cái ổn định dọc, số đạn dự trữ sẽ là 43 viên thay vì 34 viên của T-54. T-55 có thể lội nước sâu 1,4m mà không cần chuẩn bị, với ống thông hơi chuyên dụng thì nó có thể di chuyển ở độ sâu 5,5m với vận tốc 2km/h, thiết bị này cần 15-30 phút để lắp đặt nhưng có thể được vứt bỏ ngay lập tức khi xe rời khỏi mặt nước. Tất cả các xe T55 đều có hệ thống dò tìm bức xạ PAZ, và T-55A cũng có thiết bị chống bức xạ. Một số chiếc T-55 được trang bị một hệ thống bảo vệ NBC đầy đủ (lọc không khí và điều chỉnh áp suất). Một màn khói có thể được tạo ra bằng cách phun dầu diesel bay hơi vào một cái ống xả. ![]() (daccongbacviet) |
|
#47
|
|||
|
|||
|
Tăng T-55
![]() Phiên bản T-55 nâng cấp -55 có thể lắp thêm lớp giáp bán nguyệt phía trước, với lớp giáp tháp pháo tăng lên tới 330 mm (KE) và 400-450 mm (CE). Những cải tiến khác bao gồm giáp gầm chống mìn, động cơ mạnh hơn, các miếng lót cao su ở xích. Kính 1K13 là loại kính dùng để nhìn đêm và kính ngắm bắn ATGM, tuy vậy thì nó không thể sử dụng hai chức năng này cùng 1 lúc. Kính ngắm quang học và hệ thống kiểm soát hỏa lực có thể sử dụng thiết bị El-Op Red Tigervà Matador FCS của Israel, kính NobelTech T-series của Thụy Điển, kính Atlas MOLF của Đức. Các hệ thống kiểm soát hỏa lực SUV-T55A FCS của Serbia, Marconi Digital FCS của Anh, Tiger của Nam Phi, SABCA Titan của Bỉ là nhũng cấu hình có thể được nâng cấp. Thế hệ APS (active protection system) đầu tiên, được đặt tên là Drozd, được phát triển ở LX giữa những năm 1977 và 1982, nó được lắp đặt lên chừng 250 chiếc T-55A của Hải quân đánh bộ ( được đặt tên là T-55AD ) vào đầu những năm 1980, được thiết kế để chống lại các loại ATGM và súng phóng lựu chống tăng. Nó sử dụng các rada cảm biến sóng milimet ở mỗi bên của tháp pháo để phát hiện những viên đạn đang tới, dĩ nhiên là sẽ có một thiết bị kiểm tra trong một bộ xử lý để đảm bảo là các mục tiêu này đang bay tới với vận tốc của các loại ATGM. Nó sẽ kích hoạt một hoặc nhiều rocket tầm ngắn mang những đầu đạn mảnh ( kiểu như đạn súng cối ), đạn được phóng từ một cái ống phóng 4 viên đạn trong đó ( mỗi bên tháp pháo có 1 ống ), Drozd cung cấp khả năng bảo vệ của 2 ống phóng hướng 60 độ về phía trước, trong khi đó hông và đuôi xe thì hoàn toàn không được bảo vệ. Nếu muốn, tổ lái có thể định hướng các gọc được bảo vệ bằng cách quay nòng pháo về hướng đó. Hệ thống Drozd vẫn mắc nhiều thiếu sót. Radar của nó không thể xác định rõ các mối nguy hiểm ở các góc nâng một cách thỏa đáng, và đạn rocket phóng ra, cũng như ERA, đều gây ra những mối nguy hiểm đáng kể cho binh lính xung quanh, đặc biệt là những binh sĩ đang thoát li ra khỏi xe. Những điểm hạn chế T-55 hiệu quả nhất khi dùng để chống lại các loại xe bọc giáp hạng vừa. Cơ số đạn dự trữ thông thường cho pháo chính là 43 viên. Những thùng nhiên liệu gắn vào đuôi xe rất dễ bị tổn thương với các loại đạn bắn vào nó, bởi vì lớp vỏ rất mỏng. T-55 cũng không thể hạ thấp nòng tốt như các xe của phương Tây, điều đó khiến cho nó phải nhô hẳn thân xe ra khi khai hỏa từ trong công sự trên các điểm cao. Mặc dù tháp pháo dạng nửa quả trứng của T-55 có những ưu điểm của nó, thì nó cũng khiến chon không gian làm việc của tổ lái rất chật hẹp, dẫn đến việc tốc độ bắn thấp, khả năng bảo vệ của kết cấu khung thấp ( thấp hơn 1m so với loại M60 của Mĩ ) lại là đối trọng với lớp giáp bảo vệ khá yếu của nó ( mỏng hơn so với tiêu chuẩn phương Tây ). Cũng trong tiêu chuẩn ấy, khả năng kiểm soát hỏa lực cũng khá là tệ. Nó cũng là khuyết điểm chung của các loại tăng Soviet ở khả năng hạ góc bắn, chiếc xe không thể lòi mộĩ nòng pháo ra để bắn mà phải nhô nguyên thân ra. Vị trí đặt đạn dược và nguyên liệu rất nguy hiểm. Chiếc T-55 không hề kín. Mặc dù tổ lái sẽ được bảo vệ bởi phóng xạ thì họ cũng phải đeo mặt nạ phòng hóa và mặc đồ bảo hộ để chống lại các tác nhân sinh học và hóa học, chiếc tăng phải chạy qua những vùng ô nhiễm nhanh chóng rồi phải được tẩy rửa trước khi có thể hoạt động tiếp. |
|
#48
|
|||
|
|||
![]() Một số biến thể • T-54: Mẫu chế tạo đầu tiên, có tháp pháo với đuôi xe khác nhiều các mẫu sau này • T-54A: Có bọc hút khói cho pháo 100mm và thiết bị lội nước • T-54AK: Phiên bản xe chỉ huy với radio tầm 100 dặm • T-54M: T-54 nâng cấp lên chuẩn T-55M • T-54B: Mẫu đầu tiên được trang bị đèn hồng ngoại • T-55: Đã nói ở trên • T-55M: Lắp hệ thống kiểm soát bắn Volna ( với thiết bị phóng ATGM ), nâng cấp hệ thống ổn định pháo, nâng cấp động cơ , radio mới và tăng khả năng bảo vệ, gồm ống phóng đạn khói, giáp hông…. • T-55AD Drozd: Phiên bản với hệ thống Drozd nhưng không có Volna FCS và ERA. ![]() T-55 nâng cấp của lục quân Việt Nam (daccongbacviet) |
|
#49
|
|||
|
|||
|
Kính bác Nghiahoa! Nhờ bác mà hôm nay Baodung được 1 bữa no nê về kiến thức xe tăng VN. Có điều nhà iem vẫn thắc mắc là làm sao tăng được hòa lực của xe tăng cải tiến (nếu không doi nòng để tống được đạn lớn hơn 100 mm), và không rõ có phải đưa kèm theo cái xe đầu kéo để bổ xung sức kéo cho chiếc tăng T55 (T54b) được chất lên cả 1 lô các bộ cánh và phụ tùng kèm theo (dễ nặng tới vài tấn chứ chả chơi) hay không?
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
minminixi (01-01-2011) | ||
|
#50
|
|||
|
|||
|
Trích:
Em sẽ cố gắng đưa tiếp các loại tăng, thiết giáp thế hệ sau để bác nhận xét thêm và nếu được sẽ đưa thêm phần cải tiến và phân tích về giáp bảo vệ. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
baodung (04-01-2011) | ||
|
#51
|
|||
|
|||
|
T62 MBT
![]() Thiết kế: T-62M Năm giới thiệu: 1983 Tổ lái: 4 Trọng lượng chiến đấu: 41,5 tấn Dài: 6,63m Cao: 2,4m Rộng: 3,62m Động cơ: Diesel 620hp Quãng đường hành trình(km): 450/650 với bình xăng phụ Vũ khí: Pháo nòng trơn 115mm 2A20/Sheksna Tốc độ bắn(viên/phút): 3-5 viên ( nạp đạn bằng tay ) Góc nâng nòng pháo(°): -5 to +18 Súng máy đồng trục 7,62mm PKT Tầm hiệu quả: 800m Tốc độ bắn: 800 viên/phút với loạt 2-10 viên ATGM AT-10/Sheksna Cơ cấu bắn: Khai hỏa qua nòng pháo Dẫn bắn: SACLOS, chỉ thị bằng tia laser ![]() T-62 là một bước phát triển hơn nữa trong chu kì phát triển xe tăng với sử khởi đầu của series T-54/T-55, nó bắt đầu được sản xuất từ năm 1961 và vẫn còn được sản xuất cho đến tận năm 1975. T-62 trở thành loại tăng tiêu chuẩn trong trong các đơn vị tăng và bộ binh cơ giới của Soviet, từ từ thay thế cho loại T-54/T-55. Mẫu T-62A đầu tiên ra mắt năm 1970. Đến những năm 1980 nó đã được thay thế bởi các thế hệ tăng hiện đại hơn như T-64/T-72/T-80. |
|
#52
|
|||
|
|||
|
Xe tăng hạng trung T-62 là loại tăng bánh xích với 5 bánh chịu lực, trong đó 3 bánh đầu tiên được lắp gần nhau trong khi khoảng cách giữa bánh thứ 3,4,5 là lớn hơn một chút. Đĩa xích nằm ở phía sau trong khi bánh dẫn hướng nằm ở phía trước, và T-62 không sử dụng các con lăn hỗ trợ. Tháp pháo hình tròn, đặt tại vị trí bánh xích thứ 3, nó có hình dáng giống quả trứng hơn các thế hệ T-54/T-55. Vị trí cửa trưởng xe nằm bên trái tháp pháo và không có sử dụng kiểu cài then như trên T-55. Vị trí cửa của pháo hai nằm bên tay phải xe, xa hơn một chút về phía trước và đồng thời tại chỗ đó gắn một khẩu DShKM 12,7mm.
Khoảng cách giữa các bánh thứ 3,4,5 lớn hơn 1 chút ![]() Cũng giống như T-55, T-62 sử dụng động cơ diesel V-12 580 mã lực, giúp cho nó có thể hành trình quãng đường 320km trên địa hình khó khăn hay 450km trên đường tốt, nếu sử dụng bình xăng phụ 200L thì quãng đường tương ứng sẽ là 450km cho đường xấu và 650km cho đường tốt. Nó còn sử dụng chung hệ thống thông hơi và tạo khói ngụy trang với series T-54/T-55, cũng như chia sẻ hệ thống dò tìm phóng xạ PAZ trên T-55. Một số mẫu T-62 được tích hợp hệ thống bảo vệ NBC đầy đủ. Đa phần các model T-62 sử dụng hệ thống kính nhìn đêm, thiết bị lái cũng như hệ thống kiểm soát hỏa lực giống như T-54/55, mặc dù một số chiếc T-62 được tích hợp thiết bị quan sát đêm thụ động thay cho thiết bị ngắm IR chủ động của pháo thủ, và một thiết bị đo xa laser cũng được sử dụng thay cho thiết bị đo quang học. mẫu MBT đầu tiên của LX sử dụng pháo nòng trơn 115mm là mẫu Obiekt 165 và Obiekt 166, sau cuộc thử nghiệm tại Kubinka, mẫu Obiekt 166 đã được chọn cho dự án Yubileniye ( dự án phát triển dòng tăng chủ lực mới của LX). Việc sản xuất bắt đầu vào cuối năm 1961 với 25 chiếc đầu tiên được biết dưới cái tên mới là T-62. Việc nghiên cứu về pháo nòng trơn cũng nằm trong cái dự án Yubileniye bắt đầu từ năm 1953, khẩu pháo nòng trơn 100mm đã đc lắp trên mẫu T-54M ( Obiekt 140) nhưng không được chấp thuận để sản xuất (em không biết lý do) , đến năm 1959 thì ra đời 2 mẫu Obiekt 165 và Obiekt 166, sang T-64, ban đầu T-64 cũng dùng pháo nòng trơn 115mm nhưng sau khi nghiên cứu pháo 105mm của xe tăng M60A1 LX nhận đc sau cuộc đào tẩu của 1 sĩ quan Iran đã cho thấy rằng việc dùng pháo nòng trơn 115mm D-68 trên T-64 là 1 sai lầm, sau đó được thay bằng pháo nòng trơn 125mm D-81T (daccongbacviet) |
|
#53
|
|||
|
|||
|
Sự cải tiến lớn nhất so với loại tăng T-54/T-55 là ở khẩu pháo 115mm nòng trơn bắn loại đạn sơ tốc cao xuyên giáp (HV-APFSDS) với vận tốc đầu nòng lên tới 1,615m/s, tầm hiệu quả của nó chừng 1,6km. Mặc dù cơ số đạn tùy thuộc vào mỗi nhiệm vụ, nhưng thông thường với lượng đạn tiêu chuẩn 40 viên thì cơ cấu sẽ là 12 HVAPFSDS - 6 HEAT - 22 HE. T-62 còn có hệ thống vứt vỏ đạn tự động nhờ vào kết cấu giật lùi của pháo chính, vỏ đạn pháo sau khi được sử dụng sẽ được vứt ra ngoài thông qua một cái khe phía sau tháp pháo.
Những cải tiến khác trên T-62 bao gồm việc gia cố gầm xe để chống lại các loại mìn, lắp các miếng lót cao su cho bánh xích và ống bọc cách nhiệt cho pháo chính. Có một cấu hình lắp đặt loại kính hồng ngoại dùng để bắn ATGM ban đêm. Kính ngắm 1K13 đều có thể dùng để quan sát đêm lẫn ngắm bắn ATGM, tuy vậy thì như đã nói ở bài T-55, loại kính 1K13 này không thể làm hai chức năng kia cùng một lúc. Các loại kính ngắm và hệ thống kiểm soát hỏa lực có thể được sử dụng trên T-62 bao gồm El-Op Red Tiger và Matador FCS của Israel, kính NobelTech T-series của Thụy Điển và Atlas MOLF của Đức. Các loại FCS Marconi Digital của Anh, Tiger của Nam Phi, SABCA Titan của Bỉ là những cấu hình có thể được nâng cấp. T-62 mang đầy đủ mọi khiếm khuyết của series T-55: Khoang lái chật hẹp, thiết bị điều khiển vũ khí rất đơn giản (ở hầu hết các phiên bản), khả năng hạ nòng pháo kém và việc dễ bị tổn thương ở những vị trí đặt dầu và đạn dược. Hệ thống vứt vỏ đạn tự động có thể tích tụ khí CO (carbon monoxide) và hoàn toàn có thể gây nguy hiểm cho tổ lái. Việc mở cửa thoát vỏ đạn trong điều kiện NBC cũng sẽ là tổ lái bị phơi nhiễm với các loại chất độc. Khi pháo chính bắn xong sẽ vào trạng thái vứt vỏ đạn, và việc xoay tháo pháo sẽ không thể thực hiện được trong quá trình tháo vỏ đạn và nạp đạn mới. Việc nâng góc bắn pháo bằng tay cũng chậm và không hiệu quả cho việc nhắm bắn một mục tiêu đang di chuyển, khả năng bắn liên tục và bắn trúng 2 phát trở lên cũng bị hạn chế. Tháp pháo không thể xoay khi cửa nắp của lái xe đang mở. Mặc dù trưởng xe có thể hỗ trợ pháo thủ số 1 và xoay tháp pháo thì anh ta cũng không thể bắn pháo 115mm từ vị trí của mình, cũng như không thể nâng hạ nòng pháo, gây ra những vấn đề về việc hỗ trợ lẫn nhau trong xe tăng. Thứ nữa, cửa nắp của pháo hai có lắp một khẩu DShKM 12,7mm, nhưng để sử dụng nó thì anh ta phải nhô người ra khỏi xe, điều đó khiến anh ta trở thành mục tiêu rất dễ bị tổn thương trước mọi hỏa lực của địch, và một điều nữa là khi sử dụng 12,7mm thì xe tăng sẽ không có người nạp đạn pháo. Các phiên bản • T-62A: Bên cạnh khẩu 7,62mm đồng trục với tầm bắn 1,000m, nócòn được lắp them khẩu 12,7mm với tầm bắn 1,500m dùng để bắn các mục tiêu dưới đất và phòng không. T-62A còn có hệ thống ổn định pháo chính, giúp cho pháo thủ lock và bắn khi đang hành tiến một cách chính xác hơn. • T-62K: Phiên bản xe chỉ huy • Các mẫu T-62 sử dụng động cơ V-46 của T-72 đều thêm số 1 vào mã thiết kế • T-62M1: Phiên bản với hệ thống Volna FCS nhưng không có khả năng bắn ATGM. • T-62D: Phiên bản Drozd APS và ERA. • T-62MV: Phiên bản sử dụng lớp giáp ERA Kontakt-5 • T-62 Ch'onma-Ho: Phiên bản T-62 của CHDCND Triều Tiên ![]() T-62MV: Phiên bản sử dụng lớp giáp ERA Kontakt-5 |
|
#54
|
|||
|
|||
|
Uida, mới có tăng T62 mà nòng pháo đã lên tới 115mm, pháo trên tăng hiện đại lên tới 125mm, làm sao có thể cải tiến tăng T54 (nòng 100mm) lên kịp các bác nhỉ ? Có thể tìm cách làm cho quả đạn 100mm mạnh lên bằng cách kéo dài ra và lắp thêm bộ phận điều khiển trúng đích - giống như tên lửa, được không ? Nếu được vậy thì thay vì phải khênh theo vài chục quả đạn có thể giảm cơ số xuống!
|
|
#55
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
baodung (04-01-2011) | ||
|
#56
|
|||
|
|||
|
T-64 MBT
![]() Trọng lượng: 36-42 tấn Tốc độ: 60km/h Kích thước: 9,225 x 3,600 x 2,172 (m) Động cơ: diesel 5DTF, 700 hp Tổ lái: 3 Tỉ lệ sức mạnh trên khối lượng (hp/t): 16.5 Thể tích khoang nhiên liệu(L): 1'270 Quãng đường hành trình: 500km Lội nước(m): 1.8/5.0 Vũ khí: 1 x 125 mm pháo nòng trơn (36 viên) 1 x 7,62 mm súng máy đồng trục (1 250 viên) 1 x 12,7 mm súng máy phòng không(300 viên)
|
| Được cảm ơn bởi: | ||
Old Tiger (04-01-2011) | ||
|
#57
|
|||
|
|||
|
T-64 được chấp nhận đưa vào biên chế tháng 12 năm 1966. Nó đã trở thành chiếc tăng đầu tiên của thế hệ tăng thứ hai. T-64 được giới thiệu vào cuối những năm 60, là thành viên đầu tiên của họ tăng mới tinh vi hơn so với tế hệ của những chiếc T-54/55/62. Giu74 lại kết cấu khung thấp như họ T-54/55/62, T-64 đã trình diễn những thiết kế mới torng đó có việc kết hợp hệ thống nạp đạn tự động với những loại giáp hiện đại.
Vào đầu những năm 1950, các nhà thiết kế tăng đã tìm kiếm những ý tưởng mới, theo yêu cầu của quân đội Soviet phát triển một loại tăng hoàn toàn mới. Cũng như các lần trước, khi yêu cầu về một loại tăng hoàn toàn mới được đưa ra, Cục thiết kế tăng ở Kharkiv luôn dẫn đầu cuộc đua bằng việc giới thiệu một loại tăng trái với qui ước nếu không muốn nói là một cuộc cách mạng về thiết kế tăng. Concept thiết kế loại tăng mới này thể hiện ở chiếc T-64, nó được thiết vào đầu những năm 1960 ở Kharkiv dưới sự chủ trì của Aleksandr A. Morozov và trở thành chiếc tăng đầu tiên trong thế hệ tăng mới của Soviet. T-64 là chiếc tăng đầu tiên trên thế giới sử dụng hệ thống nạp đạn tự động, giúp cho số lượng tổ lái giảm đi một người còn lại 3 người – lái xe, pháo thủ, trưởng xe. Những thiết kế mới khác như hệ thống bảo vệ khá tinh vi gồm nhiều lớp, hệ thống bảo vệ NBC, thiết kế động cơ, v.v…… Chiếc T-64 có tính cơ động tốt hơn T-62. Động cơ diesel 5 xy-lanh với sức mạnh chừng 700-750hp. Mặc dù động cơ của T-64 nhỏ hơn so với động cơ của T-72, nhưng chiếc T-64 nhẹ hơn (36 tấn) được cho rằng có thể đạt được quãng đường hành trình và vận tốc tương đương với loại T-72. Hai thùng xăng phụ 200L có thể được gắn phía đuôi xe. Giáp của T-64 tốt hơn hẳn so với T-62, cả thân xe và tháp pháo đề được đúc, sau đó chúng được hàn lại, lớp giáp là sự kết hợp giữa giáp thép và các miếng gốm, gọi là “Hỗn hợp K”, giúp cho khả năng bảo vệ cao hơn trước những mối nguy hiểm từ đạn HEAT. Bên cạnh sở hữu lớp giáp trước vững chắc hơn rất nhiều nhờ sử dụng giáp cải tiến kết cấu nhiều lớp, T-64 còn có thể lắp them các tấm giáp bảo vệ xích hai bên hông xe hay các tấm chắn dài. Có một cái xẻng to lắp phía trước xe, giúp cho nó có thể tự đào công sự trong một vài phút đồng thời có thể tặng khả năng bảo vệ cho giáp trước xe bằng cách nâng nó lên. ![]() Bên cạnh hệ thống dò tìm phóng xạ PAZ và lớp chống phóng xạ, T-64 còn có hệ thống lọc chung NBC và hệ thống điều áp. T-64 lúc đầu sử dụng chung hệ thống phun khói ngụy trang giống series T-54/55/62, sau đó một số phiên bản đã sử dụng các ống phóng đạn khói gắn trên tháp pháo giống như T-72 và T-80. Pháo chính của chiếc T-64 là một khẩu pháo 125mm nòng trơn với góc nâng pháo từ -6 đến +14 với tháp pháo quay bằng máy 360độ. Khẩu pháo 125mm bắn loại đạn xuyên giáp sơ tốc cao HV-APFSDS được tin rằng có vận tốc đầu nòng lên tới 1,750m/s và tầm bắn ít nhất 2,000m. Tổng đạn 40 viên với cơ cấu phân bổ thông thường gồm 12 APFSDS - 6 HEAT - 22 HE. Cơ cấu nạp đạn tự động cho phép tổ lái giảm bớt xuống chỉ còn 3 người (lái xe, pháo thủ, trưởng xe), T-64 cũng sử dụng hệ thống vứt vỏ đạn tự động giống như trên T-62. Ngoài ra, pháo 125mm còn có thể bắn loại tên lửa có điều khiển AT-8 Songster ATGM, thông thường nó mang 6 quả AT-8. Hệ thống náp đạn giống với hệ thống nạp đạn tự động trên T-72, ngoài chức năng giảm bớt một pháo thủ nó còn giúp cho tốc độ bắn của chiếc tăng đạt được 8 viên/phút. Vị trí trưởng xe đã có sự cải tiến hơn so với T-62 khi anh ta có thể sử dụng mọi loại vũ khí trong chiếc tăng từ chỗ ngồi của anh ấy. Bên cạnh đó, T-64 cũng kết hợp hệ thống kiểm soát hỏa lực, nó có một cái máy vi tính gắn trong xe, một số phiên bản còn có cả máy đo xa laser. Năm 1976, chiếc T-64B tích hợp hệ thống điều khiển “COBRA” giúp nâng tầm bắn lên 4000m, nó sử dụng hệ thống đo xa laser với kính nhìn đêm mới, tuy vậy thì khối lương chiếc tăng cũng tăng lên 39 tấn. Việc sản xuất T-64 đã được dừng lại năm 1987, nhưng việc nâng cấp T-64 thì đến nay vẫn được thực hiện. Chiếc tăng T-64, mặc dù đã có nhiều ưu điểm, nhưng nó vẫn có nhiều hạn chế, như hệ thống nạp đạn tự động tuy giúp giảm biên chế tổ lái đi 1 người, thì nó cũng chiếm dụng một khoảng không gian bên trong tháp pháo, khiến cho không gian làm việc của tổ lái cũng không được tăng lên là bao nhiêu, hoặc khả năng hạn chế của việc hạ thấp nòng pháo vẫn chưa được cải thiện nhiều. Hay như ở phiên bản xe chỉ huy T-64K, khi sử dụng cột an-ten thì nó buộc phải đứng im, bởi vì cột ăn-ten phải được gắn xuống đất. |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Old Tiger (04-01-2011) | ||
|
#58
|
|||
|
|||
![]() Các phiên bản • T-64R: Model đầu tiên với pháo nòng trơn 115mm D-68. Nó được cho rằng đã sản xuất hơn 600 chiếc những không có chiếc nào được sử dụng. • T-64: Phiên bản đầu tiên với pháo 125mm, sau chủ yếu nâng cấp lên chuẩn T-64A. • T-64K: Phiên bản xe chỉ huy, với cột anten cao 10m và thiết bị quan sát TNA-3, không có súng máy 12,7mm. • T-64A: Đã có nhiều cải tiến bao gồm kính ngắm cho pháo thủ và sử dụng 5 ống phóng đạn khói ngụy trang. • T-64B: Phiên bản nâng cấp lớn với giáp khung và tháp pháo mới, nhỏ hơn lớp giáp “hỗn hợp K” thế hệ đầu tiên trên T-64A nhưng khả năng bảo vệ cao hơn. T-64B còn sử dụng hệ thống đo xa laser. • T-64BV: T-64B với giáp ERA. • T-64B1: Là những chiếc T-64A nâng cấp lên chuẩn T-64B. ![]() T-64BM2 (daccongbacviet) |
|
#59
|
|||
|
|||
|
Thưa bác Nghiahoa, nhà iem lại phải làm phiền bác do kiến thức kém cỏi của mình, quả tình iem đoán mãi mà không ra được bốn chữ ATGM là gì ?! Cái đó có giống như loại tên lửa có điều khiển 9M117M trông giống như quả đạn 100mm có thể bắn được qua nòng pháp tăng không nhỉ ?
|
|
#60
|
|||
|
|||
|
Trích:
Pháo chính của chiếc T-64 là một khẩu pháo 125mm nòng trơn với góc nâng pháo từ -6 đến +14 với tháp pháo quay bằng máy 360độ. Khẩu pháo 125mm bắn loại đạn xuyên giáp sơ tốc cao HV-APFSDS được tin rằng có vận tốc đầu nòng lên tới 1,750m/s và tầm bắn ít nhất 2,000m. Tổng đạn 40 viên với cơ cấu phân bổ thông thường gồm 12 APFSDS - 6 HEAT - 22 HE. Cơ cấu nạp đạn tự động cho phép tổ lái giảm bớt xuống chỉ còn 3 người (lái xe, pháo thủ, trưởng xe), T-64 cũng sử dụng hệ thống vứt vỏ đạn tự động giống như trên T-62. Ngoài ra, pháo 125mm còn có thể bắn loại tên lửa có điều khiển AT-8 Songster ATGM, thông thường nó mang 6 quả AT-8. Hệ thống náp đạn giống với hệ thống nạp đạn tự động trên T-72, ngoài chức năng giảm bớt một pháo thủ nó còn giúp cho tốc độ bắn của chiếc tăng đạt được 8 viên/phút. Vị trí trưởng xe đã có sự cải tiến hơn so với T-62 khi anh ta có thể sử dụng mọi loại vũ khí trong chiếc tăng từ chỗ ngồi của anh ấy. Bên cạnh đó, T-64 cũng kết hợp hệ thống kiểm soát hỏa lực, nó có một cái máy vi tính gắn trong xe, một số phiên bản còn có cả máy đo xa laser Thay đổi nội dung bởi: nghiahoa, 04-01-2011 thời gian gửi bài 15:20 |
![]() |
| Bookmarks |
|
|
Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
|
||||
| Ðề tài | Người gửi | Forum | Trả lời | Bài viết cuối |
| Tăng - T95 của Nga | nguoiviet | Vũ khí của Hồng Quân | 41 | 22-06-2011 02:15 |
| Tàu Faina chở tăng T72 của ucraina bị cướp biển tóm. | Cartograph | Đời sống, xã hội Nga | 0 | 26-09-2008 15:10 |
| Bảo tàng tăng T34 huyền thoại. | Cartograph | Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga | 0 | 23-05-2008 22:58 |