Trở về   Nước Nga trong tôi > Dành cho các bạn > Nhịp cầu hữu nghị

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 26-03-2013, 08:39
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Do rút ra những bài học từ trận địch đánh trúng trận địa lần trước và do phía Mỹ sử dụng các tên lửa tự tìm mục tiêu kiểu "Sraicơ", cho nên bộ chỉ huy của Việt Nam đã áp dụng một loạt cách nghi binh mới: xây các trận địa giả, làm giả hoạt động của các phương tiện trinh sát, v.v. . Giờ đây các đường hào để ẩn nấp dành cho đơn vị đã được xây dựng hầu như chung quanh trận địa và có hình ngoằn ngoèo chứ không thẳng, để ngăn cản không cho các mảnh bom văng theo đường hào ẩn nấp. Các dây cáp dẫn đến bệ phóng tên lửa được vùi xuống những đường hào nông, đường hào cho người thì được che phủ bằng các cành tre. Trung tâm của tiểu đoàn cũng được bao quanh bằng một bức tường đất.

Vì theo lời khai của các phi công Mỹ bị bắt làm tù binh thì thấy rằng những quả tên lửa mầu trắng bạc của chúng ta rất dễ trông thấy từ xa. Do vậy chúng tôi đã bức xúc nêu lên vấn đề cần sơn các quả tên lửa thành mầu ngụy trang và nhất thiết cần phải ngụy trang bệ phóng tên lửa và ăngten thu - phát của ca bin "P". Đáng tiếc là chúng tôi đã được các đại diện của ngành công nghiệp quốc phòng đưa ra câu trả lời không hoàn toàn có sức thuyết phục. Nội dung câu trả lời ấy là: nếu các quả tên lửa được sơn thì sẽ làm giảm tính năng khí động học của tên lửa. Chẳng bao lâu sau lại xảy ra một sự việc liên quan trực tiếp đến vấn đề ngụy trang? tiểu đoàn phụ trách kỹ thuật bị oanh tạc (chỉ huy tiểu đoàn này là Thiếu tá N. I. Ivanốp). Tiểu đoàn này bị phát hiện trước hết do không được ngụy trang khi tiến hành kiểm tra các quả tên lửa.
Việc tranh luận về vấn đề sơn ngụy trang cho khí tài và các quả tên lửa đã kéo dài gần nửa năm. Chỉ mãi đến cuối năm 1965 vấn đề này mới được giải quyết ổn thoả. Điều đó đã cản trở nhiều đối với việc quan sát bằng mắt thường của các tiểu đoàn, nhất là khi khởi động các hoạt động đồng bộ và khi tất cả các bệ phóng được đặt vào tư thế phóng.

Sang ngày hôm sau, chủ nhật 31-10-1965, vào khoảng 12 giờ trưa, chúng tôi nhận được thông báo có vài tốp mục tiêu đang hoạt động ở hướng tây và tây - nam. Nếu ở hướng tây - nam có núi thì ở hướng tây có đồng bằng. Ở phía đó, cách chúng tôi khoảng 8 - 10 kilômét, có sân bay Kép, là căn cứ của các máy bay tiêm kích MIG-17. Các khí tài hoạt động không ngơi nghỉ, các quả tên lửa đã sẵn sàng, các máy móc đã được đưa vào tư thế hoạt động đồng bộ. Chúng tôi liên tục tìm kiếm và theo dõi các mục tiêu ở hướng tây. Các quả tên lửa đã nhiều lần được đưa vào tư thế chuẩn bị phóng.

Sau này, theo lời kể của những người có mặt tại trận địa, người ta đã khôi phục lại toàn bộ sơ đồ vụ oanh tạc vào tiểu đoàn. Một tốp máy bay gồm khoảng 30 chiếc đã bao vây sân bay Kép và ném một số bom và bắn một số tên lửa nhằm không để cho các máy bay tiêm kích có thể cất cánh. Tốp thứ hai gồm 3 chiếc bay ở phía trên dãy núi từ hướng tây - nam về phía tiểu đoàn chúng tôi. Khi những chiếc máy bay này hướng về phía tiểu đoàn chúng tôi thì khẩu đội pháo yểm hộ chúng tôi - và được chúng tôi trao cho khẩu pháo vớt được từ dưới hố sâu - đã khai hỏa từ tất cả các khẩu pháo và tạo một lưới lửa phía bên trên tiểu đoàn chúng tôi. Các máy bay này vòng sang phía trái, lợi dụng dãy núi để bay đi.

Vào thời điểm ấy có vài tốp, mỗi tốp có 2-3 máy bay, đã tách khỏi nhóm hoạt động ở hướng tây. Chúng bay hết sức thấp và lao vào trận địa của tiểu đoàn. Chúng tôi kịp phát hiện mục tiêu đi đầu và phóng 2 quả tên lửa vào nó. Khi tên lửa bay tới gần mục tiêu đi đầu thì có 2 chiếc tiêm kích ném bom được nghi trang đã lộn nhào để tránh tên lửa rồi bay về hướng cũ. Các quả tên lửa bay tới tốp mục tiêu rồi nổ, tiêu diệt được 2 máy bay.

Vào lúc ấy từ hướng đông ngày càng nghe rõ những loạt đạn pháo cao xạ. Điều này chứng tỏ máy bay đang tới gần. Nhờ những hoạt động hữu hiệu của pháo cao xạ yểm hộ, cho nên chỉ có một máy bay địch lao được vào trận địa của tiểu đoàn để oanh tạc và cũng phóng được một vài loạt rốc két. Vào thời khắc ấy bỗng nhiên tất cả các máy móc đều bị tắt.

Sau khi bước ra khỏi ca bin điều khiển, tôi phát hiện thấy từ trong khoang chứa nhiên liệu của một tên lửa có luồng khói vàng tỏa ra. Sau khi xem xét tên lửa, tôi nhận ra rằng khoang chứa nhiên liệu không bị hỏng, chỉ có thùng chứa chất ôxy hóa bị một lỗ thủng nhỏ ở sườn. Nhưng trong tình trạng này không thể sử dụng được tên lửa. Nó liền được một khẩu đội Việt Nam dỡ khỏi bệ phóng và đưa tới tiểu đoàn kỹ thuật.


Khi đi kiểm tra số khí tài còn lại, tôi nghe thấy từ hầm trú ẩn vọng ra những câu chửi thề rất to và không biết bao nhiêu lời nguyền rủa bọn Mỹ bằng tiếng Nga. Khi đến gần, tôi nhìn thấy một trắc thủ của khẩu đội bệ phóng. Người anh ta bị nhiều vết thương do mảnh quả rốc két nổ bên cạnh. Binh sĩ này được đưa lên cáng và đem đi khỏi trận địa. Hóa ra, trong lúc máy bay đang oanh tạc anh lính này chộp lấy khẩu tiểu liên và quát:

- Lũ khốn! Tao sẽ cho chúng mày thấy”. Rồi anh ta xả súng bắn vào chiếc "Con ma" lúc ấy đang bổ nhào sát đất.

Rất tiếc là tôi không nhớ họ tên của binh sĩ ấy, vì anh ta được đưa ngay về Liên Xô để chữa trị các vết thương. Sau đấy tôi không gặp lại anh ta nữa.

Ngay cạnh hầm trú ẩn còn một quả rốc két nữa không nổ. Nó không có ngòi nổ. Cách bệ phóng 3 mét có một hố bom sâu. Ở gần sát nơi này đã không có các mục tiêu không kích.

Ngày đã hết, cần phải đưa ra quyết định chuyển trận địa. Lần này đã lập tức nhận được lệnh di chuyển tiểu đoàn. Về cơ bản, khẩu đội Việt Nam và một số chuyên gia của chúng tôi đã kết thúc chuyến hành quân đến khu vực đã ấn định. Sau khi cho đơn vị xuất phát, chúng tôi đã thu dọn đồ đạc và lên xe buýt đến trận địa mới. Trên đường đi chúng tôi ghé thăm các chiến sĩ pháo cao xạ Việt Nam. Trung tá Liakisép đã nồng nhiệt cảm ơn họ đã yểm trợ bằng hỏa lực.

Sau khi đến khu vực mới, tiểu đoàn đã triển khai khí tài bên cạnh một điểm dân cư nào đó, dưới tán lá những hàng cây. Khi chỉ còn cách địa điểm này khoảng 1 kilômét thì chúng tôi nhìn thấy một tốp 3 chiếc máy bay đang đến gần tiểu đoàn. Do thời tiết xấu, trời âm u, những chiếc máy bay ấy trông đen ngòm và hùng dữ. Chúng tôi dừng lại và bước ra khỏi xe buýt, chờ đợi những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng những máy bay ấy đã bay qua phía trên tiểu đoàn, không phát hiện ra tiểu đoàn và không gây hại gì cho tiểu đoàn nhờ được ngụy trang tốt.

Đã kết thúc những ngày chủ nhật nặng nề ấy đối với nhiều chuyên gia quân sự Liên Xô và các chiến sĩ Việt Nam. Mặt khác, những sự kiện xảy ra trong hai ngày ấy đã buộc chúng tôi phải xem xét nhiều vấn đề về lý thuyết và thực tiễn các hoạt động tác chiến của binh chủng phòng không. Chính vào thời gian ấy chúng tôi đã bắt đầu hiểu chiến thuật tác chiến của không quân Mỹ nhắm vào các phương tiện phòng không. Trong chiến đấu đã bộc lộ những thiếu sót và phát hiện ra những mặt yếu của khí tài.

Mọi người đã biết, vào thời kỳ ấy bộ đội chúng ta đã được trang bị những bộ khí tài tên lửa phòng không và những hệ thống điều khiển tối tân nhất. Khoa học quân sự đã làm thay đổi hẳn những quan điểm của chúng ta về lý thuyết và thực hành trong tác chiến. Trong vấn đề này có sự cống hiến không nhỏ của những người đã tham gia vào những sự kiện ấy.

Sau khi di chuyển trận địa, tiểu đoàn đã không triển khai trong mấy ngày liền. Chúng tôi được phép nghỉ ngơi đôi chút. Không để uổng phí thời gian, nhiều người trong chúng tôi đã giúp bà con nông dân địa phương gặt lúa bằng liềm .
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (26-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #22  
Cũ 27-03-2013, 14:43
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Tổ quốc không quên chúng tôi

Khi mới đến Việt Nam tất cả chúng tôi đều trải qua cùng một khó khăn: sự nóng bức và độ ẩm cao, khát nước liên tục, thời gian dài vắng bóng thư từ của gia đình. Chỉ mãi tháng 8-1965 mới nhận được những bức thư đầu tiên. Khí hậu ẩm ướt, tình trạng thiếu thốn các phương tiện cần thiết bảo đảm vệ sinh cá nhân, trước hết là thiếu vòi tắm và bồn tắm, - đó là nguyên nhân đầu tiên khiến cho nhiều chuyên gia chúng tôi bị ngã bệnh. Thông thường, những căn bệnh ấy không chữa trị được ở đây và bệnh nhân được đưa về Liên Xô chữa trị.

Ngoài ra, những khoản tiền cấp phát thời gian đầu là quá ít ỏi hầu như chật vật lắm mới đủ chi dùng cho ăn uống và thuốc lá. Mọi người bắt đầu công khai phàn nàn. Ban chỉ huy Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đã thông báo vấn đề này với Cục trưởng hữu quan trong Bộ Tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô. Đến cuối tháng 8-1965 có một đại diện Tổng cục Tài chính Bộ Quốc phòng Liên Xô đến Hà Nội để giải quyết tất cả những vấn đề đã chín muồi. Chẳng bao lâu sau quả thật tất cả các sĩ quan đã được tăng lương, các gia đình chúng tôi ở Liên Xô được trích 70% - chứ không phải 30% - số lương của chúng tôi theo chức vụ khi còn ở Liên Xô. Việc nhận thư từ cũng được cải thiện. Giờ đây đã có thể mua sắm đôi chút cho bản thân và cho gia đình.

Ngày 6-11-1965, nhân kỷ niệm Quốc khánh Liên Xô, Bộ tư lệnh phòng không - không quân Quân đội nhân dân Việt Nam đã tổ chức tại Hà Nội buổi chiêu đãi trọng thể tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô. Trong buổi lễ này Thượng tá Đdưda đã công bố lệnh phong quân hàm như thường lệ! quân hàm thiếu tướng cho Đại tá N. V. Bagienốp; quân hàm thiếu tá cho Đại úy A. B. Daica. Cuối cùng mỗi chuyên gia được phát một bao thuốc lá Liên Xô. Sau buổi tiếp đón long trọng, đoàn ca múa của Binh chủng phòng không - không quân Việt Nam đã có buổi biểu diễn văn nghệ ngắn.

Vào giữa tháng 11 đã bắt đầu việc rút về Liên Xô các chuyên gia quân sự đã đến Việt Nam hồi tháng 4-1965, trong nhóm chuyên gia quân sự đầu tiên của Liên Xô. Những người về nước chủ yếu là những chuyên gia mà vai trò giúp đỡ của họ không còn cần thiết nữa, vì đa số các chuyên viên Việt Nam đã tự mình đảm đương được công việc hoặc là những người bị đau ốm hoặc do hoàn cảnh gia đình. Dĩ nhiên, những người còn ở lại cũng mong được như họ. Trong số những chuyên gia về nước có viên chỉ huy trung đoàn, Tướng N. V. Bagienốp, các viên chỉ huy các tiểu đoàn là Trung tá I. A. Liakisép, Thiếu tá Iu. G. Têrêsencô và những chuyên gia khác.

Ngay trước Tết, Thiếu tá Daica đã thông báo cho chúng tôi về chuyến thăm Hà Nội sắp tới của đoàn đại biểu cao cấp của Đảng và Chính phủ Liên Xô. Hơn nữa, chúng tôi sẽ được gặp gỡ với những vị lãnh đạo của phái đoàn ấy, vì họ sẽ trao cho chúng tôi các phần thưởng của Chính phủ.

Chúng tôi, mặc lễ phục, xếp hàng theo đội hình. Thiếu tá Daica kiểm tra từng người, nhắc nhở về phong cách bề ngoài và ấn định thời hạn sửa chữa các khiếm khuyết.

Đây là Đoàn đại biểu quan trọng và có thẩm quyền. Đứng đầu phái đoàn này là ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô A. N. Sêlêpin. Các đoàn viên gồm có Đ. Ph. Uxtinốp là nhân vật hồi ấy phụ trách các vấn đề quốc phòng, Đại tướng pháo binh Tôlúpcô và những nhân vật quan trọng khác. Tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã tập hợp tại Sứ quán Liên Xô. Tôi ngồi cạnh Thiếu tá A. B. Daica, ở ghế thứ hai, cách bục phát biểu khoảng 5 mét. Ngay sau đó, tất cả các thành viên của phái đoàn đã xuất hiện trong hội trường. Ông A. N. Sêlêpin phát biểu đầu tiên. Ông đánh giá cao công việc của chúng tôi và tuyên bố rằng Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô chăm chú theo dõi tình hình diễn biến tại Việt Nam. Cuối cùng, A. N. Sêlêpin chúc tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đạt được nhiều thành tích hơn nữa trong nhiệm vụ quan trọng của mình.

Sau đó Đại tá A. M. Đdưda công bố danh sách những người lưu lại hội trường và những người rời sang hội trường khác. Trong hội trường của chúng tôi có Đ. Ph. Uxtinốp, một cán bộ công bố Sắc lệnh khen thưởng và một nhân viên nhiếp ảnh.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (26-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #23  
Cũ 27-03-2013, 14:45
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Đứng đầu danh sách những người được khen thưởng là Tướng G. A. Bêlốp - Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam. Người thứ hai trong danh sách này là tôi. Tôi bước lên giơ tay chào Uxtinốp theo điều lệnh. Uxtinốp đã trao cho tôi Huân chương Cờ đỏ và chúc mừng tôi đã được nhận phần thưởng cao quý. Sau khi quay người với câu đáp lễ thông thường: "Nguyện phục vụ Liên bang Xôviết?", tôi trở về chỗ ngồi. Thiếu tá Daica cũng chân thành chúc mừng tôi đã được nhận phần thưởng. Sau 2 người nứa đã đến lượt thiếu tá Daica được nhận phần thưởng như vậy. Sau buổi trao thưởng mọi người đã tập hợp ở hội trường. Tướng G. A. Bêlốp tiến lại chỗ ông A. N. Sêlépin và nghiêng đầu nói nhỏ gì đó với ông Sêlêpin. Ông Sêlêpin lập tức lớn tiếng tuyên bố. "Dĩ nhiên là có thể!". Tướng Bê lốp nhìn xuống hội trường và hỏi: "Ai biết cách mở rượu sâm banh nào?"

Không hẹn nhau, tựa hồ như theo mệnh lệnh, tôi và 3 anh bạn ngồi cạnh - V. Sennhicốp, V. Lưsaghin và A Nikitin đã giơ tay. Ngay lập tức Tướng Bêlốp chỉ thị cho chúng tôi sang phòng bên cạnh, mở tất cả các chai sâm banh và rót vào cốc Chúng tôi đã nhanh chóng bước sang phòng bên và rất tích cực thực hiện tất cả mọi việc theo yêu cầu. Một lúc sau ông A. N. Sêlêpin và các thành viên phái đoàn đã có mặt trong hội trường. Mọi người đã nâng cốc, sau câu chúc mừng vắn tắt, đã cạn chén.

Cùng với phái đoàn Đảng và Chính phủ đến Hà Nội còn có một máy bay nữa chở quà tặng cho chúng tôi. Mỗi người được nhận một gói quà: các sĩ quan cấp trên thì nhận được gói số 1, các sĩ quan cấp dưới nhận được gói quà số 2, những chuyên gia được gia hạn phục vụ, các hạ sĩ quan và binh sĩ phục vụ theo thời hạn nghĩa vụ thì nhận được gói quà số 3.

Nội dung trong các gói quà đều giống nhau, nhưng chỉ có sự khác nhau về độ giá trị của loại rượu: các sĩ quan cấp trên nhận được rượu sâm banh và 2 chai cô- nhắc, các sĩ quan cấp dưới thì nhận được rượu sâm banh, 1 chai vốt ca "Thủ đô", 1 chai rượu trắng "Mátxcơva", những chuyên gia khác thì nhận được 1 chai sâm banh, 2 chai rượu trắng "Mátxcơva':.

Ngoài ra, trong mỗi gói quà đều có tấm thiệp của Bộ trưởng Quốc phòng đích thân chúc mừng, có cả giò, trứng cá, bánh bích quy, thuốc lá nhãn hiệu "Nôvốt", đôi dép đi trong nhà, đôi giầy cao cổ theo .. kiểu giầy mà bộ binh Mỹ vẫn sử dụng ở Nam Việt Nam, áo đi mưa, quần dài, áo len. Cũng còn có thêm một túi đựng 4kg bánh mì đen cho mỗi người! Bánh mì đen, cá trích muối và nước ướp lạnh - đó là mơ ước của mỗi chúng tôi. Cuối cùng thì một phần ước mơ ấy đã thành sự thật! Ai ai cũng có bánh mì đen, chỉ ăn mọi thứ với bánh mì đen, nhắm rượu cũng với bánh mì đen:

Những túi quà được trao vào ngày 31-12 tại nơi ở của chúng tôi, ngay sau khi nhận phần thưởng. Vẫn còn lâu mới tới nửa đêm. Mọi người long trọng xử lý các phần thưởng vừa nhận được. Để đón đêm giao thừa Năm mới 1966, vào đúng nửa đêm tất cả mọi người tập hợp tại nhà ăn. Tại đây A. B. Daica đã tổ chức các hình thức vui chơi có thưởng, thi hát, thi khiêu vũ và thi độc tấu văn nghệ nghiệp dư. Mọi người đều hồ hởi tham gia vào các tiết mục ấy.

Chúng tôi cũng không quên các đồng chí Việt Nam. Tôi đã tặng chiếc áo choàng và đôi giầy cao cổ cho anh phiên dịch. Hầu hết các chuyên gia chúng tôi đều làm như vậy. Những ngày vui đã kết thúc như thế. Nhưng chiến tranh thì vẫn tiếp tục. Thế là chúng tôi lại ra trận địa để thi hành nhiệm vụ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (30-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #24  
Cũ 27-03-2013, 14:48
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Những ngày cuối cùng trên đất Việt Nam

Ngay từ trước khi ra trận địa chúng tôi đã được biết các khẩu đội tên lửa của Việt Nam thuộc các Tiểu đoàn tên lửa 81 và 82 đã bắn rơi một máy bay trinh sát không người lái. Đã có 7 tên lửa phóng vào chiếc máy bay ấy. Trong quá trình phân tích những loạt tên lửa vừa được phóng, người ta đã tìm ra nguyên nhân của việc bắn ra một số lượng lớn tên lửa như vậy: chưa có được sự điều khiển một cách thích đáng từ sở chỉ huy trung đoàn và thiếu sự hiệp đồng tác chiến giữa các tiểu đoàn. Trường hợp này cũng bộc lộ một điều nữa: các khẩu đội và ban chỉ huy trung đoàn chưa có được một sự chuẩn bị đầy đủ. Điều này có nghĩa là nếu không có sự giúp đỡ của chúng tôi thì phía Việt Nam chưa thể tác chiến một mình được. Do vậy, nhiều chuyên gia quân sự Liên Xô đã phải hoãn thời gian trở về nước muộn hơn. Trong số đó có tôi.

Theo quyết định của Trưởng đoàn chuyên gia binh chủng tên lửa phòng không A. M. Đdưda người ta đã tiến hành kiểm tra sự sẵn sàng của các khẩu đội Việt Nam trong việc tác chiến độc lập. Về khâu này đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết. Chỉ mãi đến cuối tháng 1 mới đạt được những kết quả mong muốn. Có một nhóm đông đảo chuyên gia quân sự Liên Xô chuẩn bị về nước. Trong số này có cả tôi.

Trong những ngày ấy Đoàn ca múa Craxnôia đã đến Hà Nội biểu diễn. Đến tối người ta chở chúng tôi đến xem buổi biểu diễn văn nghệ kéo dài đến 3 giờ sáng. Sau đó chúng tôi còn có mặt thêm vài ngày ở trận địa. Trước ngày lên đường về nước chúng tôi tập hợp tại khách sạn Kim Liên.

Đến sáng Thiếu tá Daica cho chúng tôi biết vào khoảng 5 giờ sáng mai máy bay sẽ cất cánh. Tất cả mọi người đều phấn chấn. Bỗng nhiên vào khoảng 16 giờ có một xe buýt đến khu chung cư của chúng tôi. Từ trong xe bước ra là Thiếu tá Daica và người phiên dịch. Cả hai đều tiến đến chỗ tôi. Thiếu tá cho tôi biết hiện nay bệ phóng tên lửa mà tôi phục hồi lại bị trục trặc: nó không quay đồng bộ với ăngten của ca bin "P". Do vậy tôi cần đến ngay trận địa và khắc phục sự trục trặc mới nảy sinh.

Trận địa ở cách Hà Nội khoảng một giờ rưỡi đi xe. Tiểu đoàn đã triển khai trong một vườn chuối. Người ta nóng lòng chờ đợi tôi. Tôi lập tức bắt tay vào việc. Chẳng có gì đặc biệt phức tạp trong việc tìm ra và khắc phục sự cố, trên bệ phóng bộ ly hợp truyền đã bị lỏng. Để hiệu chỉnh nó chỉ cần vài phút. Sau khi kiểm tra bệ phóng đồng bộ với hệ thống ăngten và hướng dẫn thêm cho người chỉ huy khẩu đội, tôi sửa soạn ra về, nhưng người ta lại giữ tôi lại

Toàn thể khẩu đội tỏa về các phía, họ lôi từ đâu ra những chiếc bàn, những chiếc bảng, tạo thành một chiếc bàn dài để tiến hành một tiết mục gì đó. Trên bàn có rượu Lúa mới (chúng tôi gọi nó là "rượu gạo"), bia, nước khoáng, các thức nhắm. Mọi người đã nhanh chóng ngồi vào bàn. Thế là bắt đầu bữa tiệc chia tay. Tất cả các bạn Việt Nam đã cám ơn tôi, hỏi han về gia đình, về nhà cửa và v.v.. Sau đó họ tặng cho tôi 12 chiếc nhẫn rất đẹp làm bằng nhôm lấy từ các ống trên các máy bay Mỹ bị bắn rơi. Họ đeo ngay 10 chiếc nhẫn lên các ngón tay của tôi, tôi bỏ 2 chiếc còn lại vào túi. Cuối cùng chúng tôi chia tay và tôi quay về khách sạn Kim Liên.

Khi chúng tôi quay trở về khách sạn thì trời đã tối. Chúng tôi cho xe chạy chậm, không bật đèn. Chúng tôi đến một điểm dân cư nào đó. Trong túi tôi có 15 đồng Việt Nam, không có lý gì đem nó về nước. Dọc đường đi, tại một quán cà phê tôi đã dùng số tiền ấy mua 5 chai rượu vang nhãn hiệu "Đồng Tháp".

Đến gần nửa đêm tôi về đến khách sạn Kim Liên. Tại đó hầu như không có người nào ngủ cả: mọi người sốt ruột chờ đến sáng và chờ đợi giờ phút cất cánh, vì phía trước là ngày gặp lại Tổ quốc. Cho đến sáng mọi thứ uống có cồn đều được uống hết với bạn bè. Gần 5 giờ sáng một xe buýt đến đưa chúng tôi ra sân bay.

Ra tiễn chúng tôi có Thiếu tá A. B. Dai ca và viên chỉ huy tiểu đoàn tên lửa, Đại úy Iu. P. Bôgđanốp. Dĩ nhiên, mặc dù đã hết sức cố giấu nỗi hồi hộp, nhưng chúng tôi vẫn hồi hộp: tại nơi đây, trên đất Việt Nam đã có biết bao nhiêu điều trải qua. Những bạn chiến đấu của chúng tôi vẫn đang lưu lại nơi đây. Chắc chắn chúng tôi sẽ chẳng bao giờ còn được nhìn thấy họ.

Mọi người đã nhanh chóng vào chỗ ngồi trên máy bay. Sau vài phút máy bay bay về phía biên giới Trung Quốc. Sau 30 phút chúng tôi đã bay trên không phận Trung Quốc và mãi mãi từ biệt Việt Nam. Vậy là đã kết thúc một trong những giai đoạn quan trọng và không thể quên trong cuộc đời binh nghiệp của tôi. Giai đoạn ấy đã có vai trò to lớn trong số phận sau này của tôi.

Thị trấn Lexnôi, tháng 1-2003
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (30-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #25  
Cũ 27-03-2013, 15:14
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

2.THƯỢNG SĨ CẬN VỆ
CÔLÊXNHÍCH NHICÔLAI NHICÔLAIÊVÍCH

Giáo sư danh dự của RAEN (PAEH)

Ông sinh ngày 28-1-1943 tại tỉnh Khác cốp. Năm 1959 tốt nghiệp trung học phổ thông, năm 1951 tốt nghiệp Trường kỹ thuật sô 15 tại thành phố Gorlốpca, sau đó làm việc tại Sở hiệu chỉnh máy tự động của thành phố Gorlốpca, là thợ hiệu chỉnh điện các máy tự động trong thang máy của mỏ.

Từ năm 1963 đến năm 1965 phục vụ trong Quân đội Xô viết theo chế độ nghĩa vụ.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Côlêxnhik Nhicôlai Nhicôlaiêvich trong những năm ở Việt Nam


Từ tháng 7-1965 đến tháng 3-1966 ông đã tham gia chiến đấu tại Việt Nam. ông từng là chỉ huy bệ phóng - phó chỉ huy trung đội, chỉ huy trung đội thuộc đại đội bệ phóng của Trung đoàn tên lửa phòng không số 236, sau đó là Trung đoàn số 261 của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Năm 1972 ông tốt nghiệp Đại học Năng lượng Mátxcơva, là cán bộ phụ trách cơ khí - năng lượng của phân xưởng, kỹ sư thiết kế chính, phân xưởng trưởng tại các xí nghiệp công nghiệp hàng không và công nghiệp quốc phòng, đồng thời làm công tác giảng dạy.

Từ năm 1994 là chuyên gia chính, sau đó là Trưởng ban Kỹ thuật điện của Đuma quốc gia.

Năm 1994 ông được bầu làm Chủ tịch Đoàn chủ tịch Hội cựu chiến binh liên vùng của các cựu chiến binh đã chiến đấu tại Việt Nam.

Ông được tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ và 8 huy chương, trong đó có Huy chương Lão thành lao động, Vì sự củng cố cộng đồng chiến đấu, "Chiến đấu vẻ vang, cũng như Huy chương Hữu nghị của Việt Nam và các huy hiệu Chiến sĩ quốc tế, Cựu chiến binh của Binh chủng phòng không Liên Xô và Việt Nam.


CHUYẾN CÔNG TÁC BÍ MẬT ĐẾN VIỆT NAM


Cuối tháng 3-1965 người ta đã triệu tập chúng tôi - gồm 5 người thuộc khẩu đội bệ phóng của Tiểu đoàn số 3 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không cận vệ Putilốpxcơ - Kirốpxki số 236 - lên phòng tham mưu trung đoàn. Có một người trong số những người tiễn chúng tôi hình như đó là Chuẩn úy Suxtanốp, đã nói đùa?

- Các anh ấy sẽ sang Việt Nam.

Anh ấy nói bâng quơ như vậy...

Chẳng bao lâu sau đó chuyện này đã thật sự diễn ra.

Tại phòng tham mưu, sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn chúng tôi Thiếu tá cận vệ Ivan Cônxtantinôvích Prôxcurnin, đã chờ sẵn chúng tôi. Tại đó còn có những binh sĩ và hạ sĩ quan thuộc các tiểu đoàn khác trong cùng trung đoàn chúng tôi. Tất cả gồm 15 người.

Trong tiểu đoàn chúng tôi, trừ viên chỉ huy ra, đã có mặt gần như toàn bộ Trung đội 2 của tôi thuộc các khẩu đội bệ phóng: binh nhất Raphain (Tôlia) Akhunốp, binh nhì Alếchxây Phômisép thuộc khẩu đội 5 và binh nhất Anatôli Psênhisnư và binh nhì Anđrây Xáptrúc thuộc khẩu đội 6. Trong số những người thuộc những tiểu đoàn khác của trung đoàn có các trắc thủ vận hành máy bám sát mực tiêu bằng tay - các binh nhất Alếchxanđrơ Buốcxép, Tácdan Séccơviani, Nicôlai Gavrilúc, trắc thủ vận hành máy bám sát mục tiêu bằng tay - binh nhất Víchto Cubusép và trắc thủ bệ phóng - binh nhì Ivan Agalacốp.

Người ta đã mời Đại tá cận vệ An tôn Xtêpanôvích Pôbôgiacốp đến phòng làm việc của vị chỉ huy Trung đoàn. Đại tá Pôbôgiacốp nói với chúng tôi:

- Dự kiến sẽ có chuyến công tác đến một đất nước có khí hậu nhiệt đới để thực hiện nhiệm vụ quan trọng trong những điều kiện sát với những điều kiện chiến đấu. Cần có những người được đào tạo tốt, nắm vững các phương tiện kỹ thuật chiến đấu. Có những đòi hỏi đặc biệt về kỷ luật. Do vậy các đồng chí được đề cử thực hiện nhiệm vụ này. Trưởng nhóm của các đồng chí sẽ là Thiếu tá cận vệ Prôxcurnin.

Sau cuộc trao đổi ngắn người ta dành cho chúng tôi thời gian suy nghĩ. Dĩ nhiên, chúng tôi đã đoán ngay được đó là đất nước nào.

Khi còn học ở trường phổ thông, tôi chỉ biết về Việt Nam qua sách giáo khoa môn địa lý, như là một nước nhiệt đới xa xôi vừa đánh đuổi được bọn thực dân Pháp. Còn bây giờ mỗi ngày, trong chương trình "Thời sự" buổi tối trên truyền hình, chúng tôi được xem những phóng sự truyền hình về những cuộc bắn phá của không quân Mỹ đánh vào miền Bắc Việt Nam.

Vì những lý do khác nhau đã có vài người từ chối việc đề cử sang Việt Nam (trong danh sách không ghi họ tên của họ). Số anh em còn lại đã phải trải qua đợt giám định y khoa nghiêm ngặt.

Tất cả những người đã qua đợt giám định y khoa thì được gửi đến Hội đồng quân sự của quân đoàn. Tại đó đã diễn ra cuộc trao đổi còn ngắn gọn hơn.

Trước lúc lên đường đi xa

Từ cuối tháng 5 đến đầu tháng 7-1965 chúng tôi gồm khoảng 80 người được tuyển từ các đơn vị khác nhau thuộc Binh chủng phòng không Quân khu Mátxcơva, đã được tập kết tại khu quân sự của Trung đoàn tên lửa phòng không Putilốpxcơ - Kirốpxki, tại làng Mitinô.

Chỉ còn khoảng 3 tuần lễ là đến ngày lên đường..Chúng tôi luyện tập quân sự (nghiên cứu các điều lệnh về tác chiến và những hướng dẫn về khai thác các khí tài), cũng như rèn luyện thể lực.

Trước ngày lên đường mỗi người được phát một chiếc valy, khẩu phần thức ăn khô cho 3 ngày và quần áo dân sự.

Khi mặc "thường phục", chúng tôi - những quân nhân - không còn nhận ra nhau. Chỉ mãi vào ngày lên đường chúng tôi mới được phát hộ chiếu xuất cảnh và được nghe tuyên bố chính thức rằng chúng tôi lên đường sang Việt Nam, nhưng chúng tôi được lệnh tuyệt đối không được viết thư thông báo việc này cho gia đình. Trong thư viết về nhà tôi thông báo rằng kỳ nghỉ mà người ta dành cho tôi sau kết quả kỳ kiểm tra mùa đông đã bị hoãn do có chuyến công tác biệt phái khẩn cấp và lâu dài.

Sau bữa trưa và buổi chia tay ngắn ngủi với bạn bè và với gia đình các sĩ quan - họ tiễn đưa chúng tôi như tiễn đưa người thân, - chúng tôi lên xe buýt và đến sân bay Sơcalốp.

Chúng tôi bay trên loại máy bay AN-10B. Chúng tôi đáp xuống sân bay cuối cùng và ngủ qua đêm tại Iếccút. Đến mờ sáng chúng tôi đáp máy bay rời khỏi Iếccút. Sau hơn một giờ bay chúng tôi bay qua biên giới quốc gia Liên Xô - Mông Cổ, sau 2 giờ nữa thì bay qua biên giới Mông Cổ - Trung Quốc.

Trung Quốc

Chúng tôi hạ cánh ở Bắc Kinh. Qua các ô cửa trên máy bay chúng tôi nhìn thấy những đội thiếu niên Trung Quốc cầm cờ hoa và biểu ngữ xếp hàng trên sân trước tòa nhà chính của sân bay. Từ các loa phóng thanh vang lên điệu nhạc hùng tráng và những tiếng hô chào mừng bằng thứ ngôn ngữ xa lạ mà chúng tôi không hiểu được.

Chẳng lẽ người ta đón chào chúng tôi một cách long trọng đến thế? - chúng tôi băn khoăn tự hỏi.

Chúng tôi bước xuống máy bay và nhìn thấy đoàn đại biểu Bắc Triều Tiên đang đi tới tòa nhà chính của sân bay. Bấy giờ mọi chuyện mới rõ ràng.

Ra đón chúng tôi có các nhân viên thuộc Sứ quán Liên Xô và các vị đại diện của Trung Quốc. Tại quán ăn chúng tôi được phục vụ một bữa trưa ngon tuyệt. Sau đó chúng tôi được đưa về thành phố. Người ta bố trí chúng tôi nghỉ tại một khách sạn loại sang, trong những phòng có hai giường.

Đến sáng chúng tôi phân thành các tốp nhỏ đi vào phố. Trong các cửa hàng có đầy các loại hàng hóa khác nhau, nhưng không một ai mua sắm thứ gì - mọi thứ đều rất đắt do vậy không hề phải xếp hàng. Trong mỗi cửa hàng đều có treo những bức ảnh của Mác, Ăng ghen, Lênin, Xtalin và bức ảnh to nhất - bức ảnh Mao Trạch Đông.

Đến buổi chiều chúng tôi được đưa ra sân bay. Chúng tôi tiếp tục chuyến bay và có một lần hạ cánh giữa đường, tại sân bay của thành phố Sansa. Tại đó người ta mời chúng tôi tham quan xưởng thêu nghệ thuật của địa phương. Cho đến bây giờ, bức tranh thêu hình con mèo con mầu xám vẫn hiện rõ trước mắt tôi, với từng sợi lông như thật, còn chiếc râu thì động đậy như râu thật.

Cuối cùng, máy bay của chúng tôi bay tiếp về hướng nam.

còn nữa

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 28-03-2013 thời gian gửi bài 09:41
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (30-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #26  
Cũ 28-03-2013, 08:55
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Trên đất Việt Nam

Chúng tôi đã bay gần nửa giờ trên lãnh thổ Việt Nam. Máy bay hạ độ cao. Qua cửa khoang máy bay, chúng tôi chăm chú quan sát tấm thảm ghép nhiều mảnh được ánh nắng rọi vào - đó là những thửa ruộng hình chữ nhật chủ yếu có mầu xanh ngọc bích. Trên những thửa ruộng ấy thấp thoáng những chiếc nón mầu vàng nhạt của những người nông dân đang làm việc. Họ ngừng tay và ngoảnh mặt về phía máy bay của chúng tôi, họ vẫy tay chào. Máy bay lượn vòng, rồi hạ cánh. Chúng tôi hạ cánh xuống sân bay Gia Lâm của Hà Nội. Vậy là lần đầu tiên chúng tôi bước chân đến đất Việt Nam, mà với thời gian đất nước này đã trở thành thân thiết đối với chúng tôi.

Ra đón chúng tôi là các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng tôi chăm chú nhìn vào nhau. Điều đập vào mắt chúng tôi là bộ quân phục lạ lẫm, mũ đội đầu, các phù hiệu phân biệt cấp bậc. Những khuôn mặt của các chiến sĩ Việt Nam cũng chưa quen đối với chúng tôi, khiến chúng tôi thấy khuôn mặt của họ đều giống nhau như những anh em sinh đôi.

“Tôi sẽ phân biệt họ bằng cách nào đây” - Tôi chợt nghĩ. Về sau mới rõ, người Việt Nam cũng thấy chúng tôi "có cùng một khuôn mặt", chỉ có tuổi tác là khác nhau và cách ăn mặc có đôi chút khác nhau.

Lễ đón chính thức ngắn ngủi đã kết thúc. Chúng tôi được mời uống trà. Chúng tôi ngồi dưới "những cái ô" to rộng, được làm từ những chiếc dù của Mỹ và được giương lên cao trên những chiếc sào bằng tre. Trong lúc uống trà đã diễn ra những cuộc làm quen ban đầu, nói chuyện với nhau thông qua phiên dịch. Các bạn Việt Nam đưa ra những câu hỏi xã giao truyền thống: "Tên đồng chí là gì?", Đồng chí bao nhiêu tuổi?", "Sức khoẻ của đồng chí thế nào?", "Đồng chí có gia đình chưa?", "Đồng chí có bao nhiêu con?".

Đến cuối buổi dùng trà tôi đã biết câu chào bằng tiếng Việt: "Xin chào" và "tạm biệt". Vậy là dưới bóng chiếc dù của Mỹ đã diễn ra bài học tiếng Việt đầu tiên của tôi.

Chúng tôi phải đi khá lâu mới đến được nơi ở, vì đường bị cày xới bởi những hố bom sâu và tài xế phải luôn luôn tìm đường đi vòng.

Quang cảnh ở Việt Nam rất độc đáo và nổi bật là cảnh tĩnh mịch và hài hòa. Những thửa ruộng được ngăn cách bằng những bờ ruộng thẳng và những con mương tưới nước bé nhỏ. Mọi cảnh vật tưởng như yên bình và rất xa chiến tranh, nếu không có vô số những hố bom ....

Khi sắp tới Hà Nội, một chốt kiểm soát đã dừng xe chúng tôi. Người ta kiểm tra giấy tờ, nhưng khi biết trên xe là các đồng chí "Liên Xô" vừa từ Mátxcơva tới thì 'họ ngừng kiểm tra, họ nở nụ cười chào đón và cho hay con đường này đã bị ném bom ban ngày, do vậy chúng tôi sẽ phải đi vòng rất xa.

Hà Nội vào buổi chiều tối đã đón tiếp chúng tôi với đông đảo người qua lại trên những con phố nhỏ. Những dòng người bất tận di chuyển theo các hướng ngược xuôi, làm sôi động không gian bằng tiếng người, thỉnh thoảng lại bị chặn lại bởi những chiếc ôtô rú còi inh ỏi. Đa số họ là những thanh niên. Tưởng chừng như chiến tranh đã không cản trở họ vui chơi giải trí và yêu nhau.

Nhằm mục đích ngụy trang, về ban đêm phố xá Hà Nội không có đèn chiếu sáng. Do vậy, trong bóng tối thật khó ngắm nhìn thành phố này. Tuy nhiên, cũng đã hiện ra những kiến trúc với những hình dáng khác lạ đối với chúng tôi. Khi xe chúng tôi đang chạy trong thành phố thì Hà Nội đã bắt đầu chuẩn bị đi vào nghỉ ngơi có nhiều người chuẩn bị chỗ ngủ ngay trong sân nhà mình và thậm chí trên vỉa hè ở gần nhà. Tôi hỏi anh bạn Tuấn:

- Tại sao họ ngủ trên đường phố?.

- Bởi vì, ban ngày các ngôi nhà xây đã bị hun rất nóng và đến tối thì trong nhà vẫn còn rất ngột ngạt. Hầu như không thể ngủ trong nhà được. Vì vậy, vào lúc nóng bức nhiều người không cần đến mái nhà. Đối với người Việt Nam sân và hè phố là sự tiếp nối của ngôi nhà, - anh bạn Tuấn giải thích như vậy.

Ngay trong đêm ấy tôi đã thấy rõ những lời anh Tuấn nói là đúng. Khi xe còn chạy, ngọn gió nhẹ thổi ngược chiều còn thấy mát đôi chút, cho nên chúng tôi chưa thấy khổ nhiều vì oi bức. Nhưng sau nửa giờ, sau khi chúng tôi đã tới nơi nghỉ qua đêm thì quần áo chúng tôi ướt đẫm mồ hôi, y như chúng tôi vừa giặt quần áo và mặc lên người mà chưa kịp phơi khô. Chúng tối đã phải phơi quần áo suốt đêm ấy.

Đêm đầu tiên ở xứ nhiệt đới

Hầu như chẳng có ai trong chúng tôi ngủ được. Người ướt đẫm mồ hôi, thỉnh thoảng chúng tôi trò chuyện với nhau, chia sẻ với nhau những ấn tượng trong những ngày gần đây. Tôi nằm nhìn qua ô cửa sổ, tôi ngắm bầu trời phương Nam chưa quen thuộc và lắng nghe những âm thanh lạ lẫm của màn đêm nhiệt đới.

Mãi đến gần sáng tôi mới chợp mắt được. Đến sáng, chúng tôi ngạc nhiên phát hiện ra rằng sau cả một đêm quần áo của chúng tôi không hề khô một chút nào... Hóa ra, vào mùa ấy độ ẩm trong không khí quá cao, đến nỗi ngay cả phơi ngoài nắng chang chang thì quần áo cũng không khô hoàn toàn nếu không có gió thổi. Còn những vũng nước sau trận mưa rào thì vẫn còn nguyên, qua hàng tháng trời vẫn không cạn nước ngay cả vào thời tiết nóng bức nhất.

Đến đêm lũ muỗi đã quấy rầy chúng tôi ghê gớm. Khi bị chúng đốt trên da xuất hiện những nốt sưng và thấy rất ngứa, khiến người ta bất giác phải gãi vào những chỗ bị đốt. Những chỗ ấy biến thành mụn nhọt. Với độ ẩm cao và môi trường có nhiều vi trùng những mụn ấy không lành được trong nhiều tuần lễ. Loài muỗi rất háu ăn, nên chúng đốt xuyên qua cả quần áo và - như chúng tôi vẫn nói đùa - chúng đốt xuyên cả túi sau quần và xuyên thủng cả đế giày. Xin nói thêm rằng chúng tôi đã phải nhanh chóng thay giày và chuyển sang loại mềm chân hơn, đó là những đôi dép cao su của Việt Nam mà đã có người trong chúng tôi gọi bằng một tên gọi chính xác là "dép nhũn". Dùng loại dép này quả thật dễ đi hơn.

Sau đó một ngày người ta đã phát cho chúng tôi một thứ đồ trang bị nữa, rất cần thiết trong hoàn cảnh lúc đó: mỗi người đều nhận được một mũ sắt do Liên Xô sản xuất. Và biết đâu được! Nếu ngày ấy tôi xem thường dụng cụ đội đầu cổ xưa ấy của các chiến binh thì có thể giờ đây tôi đã không còn để viết những dòng hồi ức này. Những chiếc mũ sắt đã bảo vệ chắc chắn những mái đầu của chúng tôi chống lại mảnh bom Mỹ và mảnh rốc két loại "không đối đất”. Việc được phát mũ sắt nhắc tôi nhớ đến chiến tranh... Vả lại, chiến tranh cũng đã ngay lập tức tự nhắc đến sự hiện diện của nó.

Cuộc oanh tạc đầu tiên

Đêm đã về khuya, chúng tôi bị đánh thức bởi những tiếng kẻng gõ vào thân quả bom Mỹ được buộc vào một cành cây - "Báo động có máy bay địch”. Tôi vớ lấy quần áo chiếc mũ sắt, chạy theo những người khác, tôi nhảy qua ô cửa sổ ra ngoài đường. Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng rít làm thót tim, ập đến với tôi từ phía trên.

‘Bom rơi", - bỗng vụt loé trong tôi ý nghĩ này.

Tôi ngã xuống, cằm đập vào nền đất ướt đẫm. Tôi đội mũ sắt lên đầu, lấy tay bịt tai lại và chờ tiếng nổ. Có vật gì đó rất to, với tiếng rít dữ dội, lao thẳng vào tôi. Tôi nằm ép chặt vào đất, trong tư thế bất động. Tưởng chừng như cả một thế kỷ đang trôi qua. Bỗng nhiên, những lưới lửa mầu vàng cùng lúc đó rọi sáng những nòng pháo cao xạ dài ở phía bên phải tôi. Một loạt bom nổ. Tiếng nổ chát chúa của bom đập mạnh vào tai và trong khoảnh khắc đã không nghe thấy tiếng rít làm thắt ruột gan.

Những tiếng nổ búp búp trên bầu trời, một tiếng nghe khô khốc như tiếng roi quất mạnh. Tiếng rít bỗng thay đổi, giọng điệu dữ dằn của nó thành một giọng thảm thiết, lặng đi rồi im bặt trong bất lực.

“Vậy là không phải bom" - tôi nghĩ vậy và với vẻ ngạc nhiên tôi nghe ngóng sự yên tĩnh bỗng nhiên trở lại.

Tôi từ từ đứng dậy và nhìn thấy có vật gì đó bùng cháy như cây nến lao nhanh xuống đường chân trời.

"Máy bay bị bắn rơi!", - một ý nghĩ vụt loé trong tôi. Tôi nhìn dõi theo nó rơi xuống tận mặt đất. Một ánh chớp sáng rực trong khoảnh khắc đã chiếu sáng bầu trời. Sau đó dội lại âm thanh của một tiếng nổ đanh ở đằng xa...

20 phút sau còi báo yên vang lên. Trong trạng thái xúc động, run run, chúng tôi uể oải trở về phòng nghỉ của mình với hy vọng rằng có thể còn chợp mắt được cho đến bình minh. Đến sáng mới hay biết chiếc máy bay bị bắn rơi ban đêm đã rơi cách chỗ chúng tôi 8 km. Phi công trên chiếc máy bay này đã không còn cần đến chiếc ghế phóng dù.

Tôi ghi nhớ mãi cái đêm đầy lo âu đó. Đã trôi qua tuần lễ đầu tiên chúng tôi ở trên đất Việt Nam và cuộc chạm trán đầu tiên với chiến tranh...

Từ thời thơ ấu, trong tiềm thức, tôi. hình dung chiến tranh như một con quái vật hung dữ và khủng khiếp. Từ chiến tranh" luôn luôn buộc tôi nhớ đến một từ khác - đó là từ “người cha" mà chiến tranh đã cướp đi mất của tôi.

Cha tôi, ông Nicôlai Đimitơriêvích Côlêxnhích, một thượng sĩ cận vệ, pháo thủ thuộc Lữ đoàn xe tăng số 186, đã hy sinh ngày 30-10-1944 trong trận đánh giải phóng thành phố Liêpaia của Látvia. Ông đã được mai táng tại đó tại nghĩa trang chôn cất các liệt sĩ ở Prixcunxcơ, với số mộ 1344. Hồi ấy ông mới có 20 tuổi.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (30-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #27  
Cũ 28-03-2013, 09:04
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Bắt đầu công việc luyện tập

Sau vài ngày, tại vùng Hà Đông ở ngoại thành Hà Nội, chúng tôi đã tiếp nhận các khí tài, tháo dỡ chúng, tiến hành kiểm tra chức năng các hệ thống và bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ chủ yếu của mình là: trong một thời gian ngắn huấn luyện cho các chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam biết tác chiến và sau 3 tháng đưa Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Việt Nam vào hoạt động.

Trong thời gian tháo dỡ và kiểm tra khí tài chúng tôi đã có dịp làm quen hơn với vị chỉ huy Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 là Đại úy Hồ Sĩ Hữu (Xo ШИ XЫY), với các sĩ quan Việt Nam và với các khẩu đội bệ phóng của Việt Nam. Vị chỉ huy tiểu đoàn này nói và viết thạo tiếng Nga: năm 1964 ông đã tốt nghiệp Học viện sĩ quan binh chủng phòng không tại Liên Xô. .

Mỗi khẩu đội Liên Xô lại kèm cặp một khẩu đội Việt Nam, còn tại khấu đội bệ phóng, do thiếu quân số, nên mỗi khẩu đội phải kèm cặp một trung đội. Tôi còn nhớ về người chỉ huy khẩu đội đầu tiên của tôi - đó là Trung sĩ Thành. Anh ấy quê ở miền Nam (là người thành phố Sài Gòn), có vóc người cao hơn những người khác và có thân hình chắc nịch. Anh Thành rất cẩn thận và tập trung.

Trắc thủ số một trong khẩu đội - binh nhất Sơn, là một chàng trai cần cù khiêm tốn. Đôi mắt của anh luôn nheo lại trong nụ cười e thẹn. Tuy trông có vẻ lù khù chậm chạp nhưng anh ấy đã học thành thạo trong việc thao tác chiến đấu một cách rất chuẩn xác, nhanh hơn các trắc thủ số 1 ở những khẩu đội khác. Do vậy, mọi người đều quý trọng anh vì phẩm chất ấy.

Trắc thủ số 2 là binh nhất Tiến, có tầm vóc không cao, nhanh nhẹn, rắn rỏi, tự biết giá trị của mình. Anh có tuổi đời lớn hơn so với anh Sơn và anh Lai trắc thủ số 3. Cũng giống như anh Thành, anh Tiến mới 20 tuổi, còn anh Sơn và anh Lai thì mới vừa tròn 18 tuổi, nhưng vấn đề không phải ở tuổi đời.

Trước ngày trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập, anh Tiến phục vụ trong một trung đoàn xe tăng, đã chiến đấu ở miền Nam, rất yêu quý những gì liên quan đến xe bọc thép đã từng che chở anh trong chiến đấu. Anh không hài lòng khi được chuyển sang binh chủng tên lửa. Lúc đầu anh Tiến có thái độ hoài nghi đối với các phương tiện kỹ thuật tên lửa, đặc biệt không thích những động tác tập luyện nặng nhọc khi chuyển bệ phóng từ tư thế hành quân sang tư thế chiến đấu và ngược lại. Sau này, trong điều kiện chiến đấu anh ấy đã thao tác tuyệt đối nhanh và chính xác. Sau khi chúng tôi bắn hạ được những chiếc máy bay Mỹ đầu tiên, anh Tiến thấy quý trọng tên lửa.

Pháo thủ số 3 là chiến sĩ Lai, có vóc người vừa phải, hơi gầy đã tốt nghiệp lớp 10 phổ thông trước khi nhập ngũ và làm nghề buôn bán nhỏ ở Hà Nội. Anh ấy là một thanh niên ham hiểu biết nhưng không cần mẫn lắm. Lúc đầu anh luôn phản ứng lại mọi mệnh lệnh và thậm chí đã tìm cách tranh cãi với anh Thành, nhưng anh Thành đã kiên quyết và bình tĩnh giữ ý kiến của mình.

Phải nói rằng Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập gồm những người có trình độ học vấn ít nhất là lớp 8 và đã đôi chút hiểu biết kỹ thuật. Trong số các sĩ quan có những người đã từng phục vụ trong pháo binh, từng là các chiến sĩ xe tăng và thậm chí là những nhân viên kỹ thuật của ngành hàng không. Một số người đã tốt nghiệp các trường quân sự, nhưng đa số họ đã học các lớp ngắn hạn đào tạo sĩ quan, còn khoa học quân sự thì họ tiếp nhận trong thực tiễn. Đa số các chàng trai xuất thân từ nông dân thì trước đó chưa hề nhìn thấy phương tiện kỹ thuật nào phức tạp hơn chiếc xe đạp. Tất nhiên, huấn luyện họ là công việc phức tạp... nhưng như người ta vẫn nói, nếu thực lòng mong muốn thì cái gì cũng có thể học được.

Trung đoàn đầu tiên cũng may mắn có người chỉ huy: Thiếu tá Nguyễn Văn Tuyên cũng nói thạo tiếng Nga, vì trước đó không lâu đồng chí này cũng tốt nghiệp Học viện quân sự tại Liên Xô.

Anh Tuyên là người chỉ huy có trình độ, là một người dũng cảm và táo bạo. Anh đã được đào tạo rất tốt về quân sự. Cách đây không lâu tôi được biết tin buồn: cựu chỉ huy của Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên, Trung đoàn 236 của Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang Việt Nam, Đại tá Nguyễn Văn Tuyên đã qua đời do những vết thương trong chiến tranh.


Vài nét về Quân đội nhân dân Việt Nam

Vào thời ấy trong Quân đội nhân dân Việt Nam chưa có chế độ một thủ trưởng theo quan niệm của chúng tôi, vì trong một số trường hợp chính ủy có quyền bác bỏ lệnh của chỉ huy. Cấp dưới có thể thảo luận mệnh lệnh của chỉ huy... Có thể, ở miền Nam Việt Nam, trong điều kiện chiến tranh du kích, điều đó có thể chấp nhận được. Nhưng trong nhiệm vụ đánh trả các cuộc đánh phá của máy bay thì cơ chế ấy hoàn toàn không giúp cho việc giành thắng lợi.

Vào thời kỳ ấy, một trong những đặc điểm của Quân đội nhân dân Việt Nam là khâu tổ chức cung cấp lương thực cho tập thể các đơn vị. Mỗi tháng mỗi người đều được cung cấp một cách tập trung một số tiền nhất định để mua lương thực. Người chỉ huy đơn vị dùng số tiền ấy mua tập trung lương thực tại các hợp tác xã nông nghiệp gần nhất (chủ yếu mua gạo và rau) và ở ngoài chợ (thịt, cá, dầu, mỡ...).

Khẩu phần bữa trưa của các quân nhân Việt Nam gồm bát canh rau, tô cơm và mấy miếng cá hoặc mấy miếng thịt, sau cùng là uống nước chè theo truyền thống. Sáng và chiều thì khẩu phần gồm một tô cơm và nước chè. Vào những năm ấy ở Việt Nam chưa có bánh mì kiểu như bánh mì của chúng tôi và chưa sử dụng bột mì. Gạo đóng vai trò bánh mì của Việt Nam.

Từ gạo có thể chế biến thành hơn 80 món ăn, nhưng thông thường người ta nấu cơm ăn với rau, với thịt hoặc với cá. Tuy nhiên, chúng ta sẽ tạm dừng chủ đề các món ăn của Việt Nam để trở lại đề tài cuộc chiến ở Việt Nam...

Quá trình huấn luyện được tổ chức như sau: Các phương tiện kỹ thuật chiến đấu được ngụy trang thành những khu nhà ở và các cơ sở kinh tế trên một khu đất cách Hà Nội không xa. Tại đó cũng có những lán trại bằng tre kiểu dã ngoại dành cho các khẩu đội Việt Nam. Còn nơi ở của chúng tôi vẫn như trước.

Hàng ngày, chúng tôi thức dậy vào 5 giờ sáng, ăn sáng vào lúc 5 giờ 30 phút. Từ 6 giờ đến 12 giờ trưa lên lớp: nghiên cứu phần vật chất, những hướng dẫn thao tác trong chiến đấu, sau đó thực tập trên các khí tài - những thao tác chiến đấu, soạn thảo các khẩu lệnh, tiến hành những công việc theo quy chế.

Từ 12 giờ trưa đến 14 giờ - thời điểm nóng nhất trong ngày - ăn, nghỉ trưa.

Từ 14 giờ đến 17 giờ 30 - tiếp tục lên lớp: nhắc lại những điều đã học, giải đáp những thắc mắc.

18 giờ - ăn tối, từ 20 giờ đến 22 giờ - tự học..

Vào các chủ nhật chỉ lên lớp đến 12 giờ trưa.

Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng thực hiện theo đúng thời gian biểu ấy. Có những việc làm không đúng thời gian biểu do hội họp, đón tiếp các đại diện bộ chỉ huy binh chủng Phòng không, do điều kiện thời tiết, nhưng thường thường là do những trận bắn phá của không quân Mỹ.

Có những buổi lên lớp riêng cho các khẩu đội bệ phóng và riêng cho các khẩu đội kỹ thuật vô tuyến trong trung đoàn. Toàn đội ngũ đều có mặt trong các giờ lên lớp, trừ những người ốm đau và đang trong phiên trực.

Các phiên dịch viên quân sự

Trong trung đoàn chúng tôi có những phiên dịch viên rất xuất sắc là các đồng chí Lao (Лao) và Hào (Xao). Sau 10 ngày lên lớp họ đã trở thành những "kỹ thuật viên" thực sự vì họ có năng lực tuyệt vời trong việc nghiên cứu các phương tiện kỹ thuật. Tất cả các phiên dịch viên đều là các sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam. Rất nhiều điều phụ thuộc vào thái độ của họ trong việc giải quyết một số vấn đề. Do vậy, trong Trung đoàn các phiên dịch viên là những nhân vật nổi trội và được kính trọng. Các sĩ quan Liên Xô cũng như các sĩ quan Việt Nam đều coi trọng ý kiến của họ.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (30-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #28  
Cũ 28-03-2013, 09:13
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Tên lửa "trở về vị trí cũ” do hàng rào ngôn ngữ

Như tôi đã nói, việc giao tiếp thường xuyên hằng ngày với các bạn Việt Nam không phải bao giờ cũng thông qua các phiên dịch viên, vì số lượng họ không đủ. Vì vậy, chúng tôi đã cố gắng học cách hiểu bằng các từ tiếng Việt, còn các đồng chí Việt Nam thì cố gắng hiểu bằng các từ tiếng Nga. Tôi phải nói rằng việc làm này không phải không có kết quả. Tôi đã học được khá nhanh các từ Việt Nam để hiểu các mệnh lệnh, tên gọi những đồ vật, những từ chỉ sự định hướng trong không gian và trong thời gian, ví dụ: "Đã sẵn sàng", "Lên trên”, "Xuống dưới", "Nhanh hơn", "Chậm hơn", "Hướng thẳng”, "Sang trái", "Sang phải", "Hướng lên phía trước", "Lui lại", "Nhiều', "ít" và v.v..

Các bạn Việt Nam cũng đã nhanh chóng hiểu bằng tiếng Nga những khái niệm như: "Nào", "Nhanh hơn", "Dừng lại!", "Ngay bây giờ", "Về sau”, "Không được ngủ”, "Kết thúc".

Thật ra, cũng có khi xảy ra những hiểu nhầm và những chuyện nực cười. Có một lần, trong giờ tự học, trắc thủ vận hành của cabin "U" Xasa Buốcxép đã chứng kiến câu chuyện xảy ra giữa hai trắc thủ vận hành là hai đồng chí Hiển (XИEH) và Phát (Фat). Họ đã ra câu hỏi cho nhau để nhắc lại tính năng các cơ quan điều khiển trong cabin. Đồng chí Hiển chỉ vào nút ấn "Trở lại vị trí cũ” - đó là nút ấn dùng để đưa hệ thống điều khiển bệ phóng vào vị trí ban đầu sau khi phóng tên lửa - và hỏi đồng chí Phát:

- Còn cái nút này để làm gì?

Suy nghĩ một lát, đồng chí Phát trả lời một cách thông thái:

- Đó là trường hợp nếu tên lửa đi chệch mục tiêu thì ấn vào nút "Trở về vị trí cũ” để đưa tên lửa trở về bệ phóng. Đồng thời đồng chí Phát còn lấy tay vạch một cách rất ấn tượng đường bay tưởng tượng của tên lửa trở về bệ phóng.

Đồng chí Xasa, sau khi nghe thấy câu giải thích như vậy đã không nhịn cười được. Các đồng chí Việt Nam thì tỏ ra ngượng nghịu vì chuyện này. Đồng chí Buốcxép giải thích một lần nữa cho các bạn Việt Nam rõ về tính năng thực sự của nút ấn "Quay trở lại".

- Còn như đồng chí Phát nói, nếu tên lửa thực sự quay trở về thì tất cả chúng ta sẽ bay lên trời.

Đến đấy mọi người vui vẻ cười phá lên.

Tình hình chiến sự trở nên phức tạp

Tình hình diễn biến khiến cho thời gian huấn luyện của trung đoàn tên lửa đầu tiên lúc đầu dự tính kéo dài ba tháng thì nay phải rút xuống còn một tháng. Không quân Mỹ đã tăng cường đánh phá ồ ạt vào lãnh thổ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, thành thử các phương tiện cao xạ của Binh chủng phòng không và các máy bay tiêm kích của Việt Nam không đủ sức đánh trả một cách có hiệu quả những cuộc oanh tạc ấy. Đã có những ngày máy bay Mỹ thực hiện hơn 200 lần chiếc đánh phá vào lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Máy bay Mỹ đánh phá đặc biệt ngang nhiên, và trên thực tế đã không bị trừng phạt đích đáng nhất là tại các tỉnh ở phía nam của Bắc Việt Nam, tại khu vực kế cận vĩ tuyến 17 và ở phía tây gần biên giới với Lào.

Bộ chỉ huy của Việt Nam biết phía Mỹ đã thảo xong kế hoạch tiêu diệt Hà Nội. Theo ý kiến của Tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là Giônxơn thì Hà Nội là căn cứ chủ yếu của cuộc chiến tranh du kích chống chế độ Sài Gòn. Chiến lược gia chủ chốt của chính quyền Giônxơn là Rôxtâu đã đưa ra luận thuyết: "Có thể bóp chết cách mạng, nếu chặt dứt hoặc thủ tiêu các nguồn hậu thuẫn và tiếp tế cho cuộc cách mạng đó". Nhằm phát triển luận thuyết ấy Mỹ đã thảo ra một kế hoạch như sau:

Như đã biết, Hà Nội ở trong vùng trũng - thấp hơn 9 mét so với mực nước của một loạt các hồ chứa nước được xây dựng trong nhiều năm và được bảo vệ bằng một hệ thống phức tạp các con đê đất và các con đập. Phía Mỹ lên kế hoạch dùng những đợt ném bom ồ ạt để phá huỷ những đoạn đê chính dẫn từ các hồ chứa nước lớn và qua đó tạo ra dòng thác nước sẽ nhấn chìm thành phố sau vài giờ, bao gồm cả những tòa nhà cao nhất. Vì vậy, Trung đoàn tên lửa phòng không đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam được giao nhiệm vụ chiến đấu là bảo vệ không phận ở các ngả gần Hà Nội và chặn đứng mọi mưu toan của không quân Mỹ định thực hiện những gì do các chiến lược gia tham mưu của Mỹ đã vạch ra.


Trận địa đầu tiên

Vào hạ tuần tháng 7-1965 Tiểu đoàn tên lửa 61 của chúng tôi đã chiếm lĩnh trận địa ở đường 32, ngoại ô thị xã Sơn Tây, cách Hà Nội 35 km về phía tây. Tại trận địa đầu tiên này các chiến sĩ tên lửa của Việt Nam đã có được một cơ hội luyện tập tốt, vì để tác chiến thắng lợi thì cần có đủ kinh nghiệm thực tế qua việc sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong những điều kiện thực tế. Khi huấn luyện cho các chiến sĩ tên lửa của Việt Nam thì bản thân chúng tôi cũng đã học được nhiều điều.

Đã bắt đầu những ngày nóng bỏng, nói chính xác hơn, đó là những tháng nóng bỏng. Tình hình chung quanh Hà Nội càng trở nên căng thẳng. Trung tâm theo dõi mục tiêu trên thực tế, phải vất vả cả ngày lẫn đêm. Có những ngày các trắc thủ dẫn đường và toàn bộ đội ngũ khẩu đội kỹ thuật vô tuyến không bước ra khỏi ca bin điều khiển đóng kín suốt 12 - 14 giờ liền. Nhiệt độ trong các ca bin điều khiển đã từng lên đến +70 độ C. Anh em đã phải mặc quần đùi ngồi sau những cần điều khiển, nhưng như vậy cũng không thoát khỏi bầu không khí nóng nực và ngột ngạt. Hàng vũng mồ hôi người đã đọng lại phía dưới mỗi chiếc ghế xoay. Có nhiều khi vì thần kinh quá căng thẳng và không khí nóng nực không chịu nổi mà nhiều người đã bị ngất xỉu. Đáng chú ý là tình trạng này thường xảy ra vào những thời điểm tương đối bớt căng thẳng, khi các mục tiêu đã ra khỏi tầm hỏa lực của tiểu đoàn.

Các khí tài chiến đấu của Liên Xô trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới và chế độ hoạt động căng thẳng gần như suốt ngày đêm đã tỏ rõ tính chất đáng tin cậy tuyệt đối và tính chất dẻo dai của mình. Trong những thời điểm căng thẳng nhất, cả người, cả khí tài đều không làm hỏng việc, nhưng đôi khi đã phải tắt các trạm dẫn đường tên lửa do có sự cố, do bị nóng quá, động cơ điện của quạt gió làm nguội các máy phát từ đã bị cháy. Chỉ mất mấy giây người ta đã thay thế động cơ bị cháy, mặc cho tay bị bỏng và thế là lại trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.


Thời kỳ xả hơi "trong những đợt mưa”

May thay, mùa mưa nhiệt đới đã đến. Tưởng chừng như không có cách gì tránh khỏi mưa.

Những cơn mưa rào kéo dài hơn một tuần lễ. Chúng tôi đã quen với những cơn mưa như vậy, đến nỗi khi hết mưa, chúng tôi cảm thấy thiếu một điều gì đó. Trong ngày đầu có nắng chúng tôi đã tiến hành kiểm tra cục bộ các khí tài, điều chỉnh độ phẳng ngang của bệ phóng, sau đó kiểm tra hoạt động của toàn bộ tổ hợp.

Vào những ngày tiếp sau đó máy bay Mỹ đã nhiều lần tìm cách luồn tới Hà Nội. Nhưng lần nào cũng vậy, khi chỉ còn cách Hà Nội 50 km là chúng quay trở lại, tựa như chúng cảm nhận được rằng chỉ cần bay tới gần hơn nữa là chúng sẽ gặp điều chẳng lành. Chẳng rõ hồi ấy chúng có biết rằng trên đường bay vào Hà Nội chúng nhất định sẽ gặp phải các tên lửa Liên Xô. Có thể nghĩ rằng chúng đã biết trước điều đó. Tuy nhiên, cuộc gặp ấy vẫn đã diễn ra.


Loạt tên lửa đầu tiên

Sự kiện này xảy ra ngày 24-7-1965, vào buổi chiều, cách Hà Nội 50 km về phía đông bắc. Dưới sự chỉ huy của các Thiếu tá Bôrít Môgiaép và Phêđo Ilinức, bằng đòn tên lửa mạnh mẽ, các Tiểu đoàn tên lửa 63 và 64 đã hạ được 3 chiếc máy bay tiêm kích chứa đầy bom của Mỹ và bay ở độ cao 2000 mét hướng về Hà Nội. Những chỉ huy đồng nhiệm Việt Nam của các tiểu đoàn ấy là các Đại úy Nguyễn Văn Thân và Nguyễn Văn Ninh. Thượng úy Vlađixláp Cônxtantinốp (trắc thủ tập sự - đồng nhiệm Việt Nam là Trung úy Lã Đình Chi) và Thượng úy Anatôli Bônđarép trắc thủ tập sự - đồng nhiệm Việt Nam là Trung úy Phạm Trường Uy - sau này là Anh hùng lực lượng vũ trang của Việt Nam) lần đầu tiên xung trận trong tư cách là các sĩ quan điều khiển đường bay của tên lửa. Sau này họ đã dược tặng thưởng Huân chương Cờ đỏ và Huân chương Sao đỏ vì các chiến công đã đạt được.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nhóm sỹ quan trắc thủ tham gia trận đánh ngày 24-07-1965


Đó là những chiếc máy bay thứ 399, 400 và 401 của Mỹ bị bắn rơi trên lãnh thổ miền Bắc Việt Nam kể từ ngày 5-8-1964 - ngày mở đầu cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ chống lại nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Các bạn Việt Nam đã dùng mảnh chiếc máy bay Mỹ thứ 400 để làm ra những vật kỷ niệm: trên nền chiếc máy bay Mỹ đang bốc cháy và đâm vào núi là con số "400", trên cuống kỷ niệm chương có dòng chữ Việt Nam "Chiến thắng đầu tiên" và ghi ngày "24.07.65". Tất cả các chiến sĩ tên lửa thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không số 236 của Quân đội nhân dân Việt Nam đều được tặng kỷ niệm chương này.

Sau trận này, trừ các máy bay không người lái, trong hai tuần lễ đã hoàn toàn không có phi vụ nào của không quân Mỹ bay về hướng Hà Nội. Nhưng máy bay Mỹ vẫn tiếp tục ngang nhiên ném bom các tỉnh phía nam của miền Bắc Việt Nam.

còn nữa

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 28-03-2013 thời gian gửi bài 09:26
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn Mien trung cho bài viết trên:
donetsk (30-04-2013), nqbinhdi (28-03-2013)
  #29  
Cũ 29-03-2013, 08:15
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Tiếp nhiên liệu cho tên lửa

Nạp chất ôxi hóa cho tên lửa là công việc khó khăn nhất khi chuyển bệ phóng từ "tư thế chiến đấu” sang "tư thế hành quân" và ngược lại.

Mặc dù không tốn nhiều sức lực khi thực hiện, nhưng chẳng ai ưa thích công đoạn này. Nguyên nhân là vì cái nóng và trang bị rườm rà: trước khi làm công việc nạp chất ôxi hóa họ phải khoác lên người bộ quần áo bảo vệ may bằng dạ rất dày, phía ngoài được phủ một lớp màng cao su. Họ phải xỏ chân vào những chiếc ủng cao su, phải chụp mặt nạ phòng khí độc, phía trên mặt nạ đó là một chiếc mũ bằng cao su trùm kín đầu, hai bàn tay phải đi găng cao su. Trong bộ quần áo kiểu "thợ lặn" ấy dưới cái nóng 35 độ C họ phải thao tác gần một giờ với những chiếc clê, những ống dẫn và những cái van. Mồ hôi chảy đầm đìa.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Nạp nhiên liệu cho tên lửa

Sau mỗi lần nạp chất ôxi hóa như thế, người thực hiện công việc này trong 40 phút làm việc, bị sút cân gần 1 kg. Những ai đã thực hiện công việc này sẽ phải chờ đến lần tiếp theo, xem đó như là một sự tra tấn, nhưng ngoài người đó ra thì chẳng còn người nào khác làm việc này.

Nghỉ ngơi

Sau những giờ lên lớp, luyện tập và nạp nhiên liệu, chúng tôi đã không ngồi không. Chúng tôi ngồi ôn lại những câu chuyện diễn ra trong quãng đời trước khi nhập ngũ và "trước khi sang Việt Nam", kể cho nhau nghe giai thoại. Xin nói thêm là các bạn Việt Nam rất thích những giai thoại của chúng tôi.

Trong những giở nghỉ các bạn Việt Nam hay hỏi chúng tôi về đời sống ở Liên Xô, về phong tục tập quán của các dân tộc ở Liên Xô, mà trong nhóm chúng tôi có các anh em thuộc 12 dân tộc: người Nga, người Ucraina, người Bêlarút, người Látvia, người Étxtônia, 1 người Tácta, 1 người Cadắc, 1 người Grudia, 1 người Kiếcghidia, 1 người Iếccút, 1 người Udơbếch và thậm chí 1 người Bungari sinh ra ở Mônđavi.

Vào các buổi tối chúng tôi ca hát có đệm đàn ghita. Ở chỗ chúng tôi có một tay chơi ghita rất cừ, biết nhiều bài hát, đó là đồng chí Xasa Curakin. Những bài thường hay được hát nhất là những bài: "Anh em ơi? Điều chủ yếu là trái tim không được già!", "Người đồng chí bay đến xứ sở xa xôi", "Chiều Mátxcơva"*, "Bài ca về thời tuổi trẻ đầy lo âu”, "ở nơi ấy, xa xa bên kia sông", "Cây thùy dương"*, “Anh em ơi! Hãy tháo yên ngựa", "Trước lúc lên đường đi xa", “Chiều hải cảng"*, "Điệu van Xêvaxtôpôn", "Con tầu Vanắc", "Đàn chim di cư", "Mẹ ơi! Hãy viết thư đến Ai Cập cho con", "Cây phong mảnh mai của tôi", "Những người địa chất"*, "Lá mùa thu”, "Cuộc sống ơi! Ta mến yêu người?"*, và tất nhiên có bài hát "Cachiusa"* v.v..

Có nhiều bài trong số ấy (được đánh dấu *) được các bạn Việt Nam cùng hát với chúng tôi bằng tiếng Nga và bằng tiếng Việt. Trong số các bài hát của Việt Nam chúng tôi đã từng hát khúc quân hành của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam là bài "Giải phóng miền Nam".

Thỉnh thoảng chúng tôi tổ chức thi đấu bóng chuyền giữa các đội tuyển của Liên Xô và Việt Nam. Buổi tối chúng tôi vui chơi khi trời đã bớt nóng.

Ngày hội thực sự là những ngày, nói đúng hơn đó là những buổi tối có đoàn chiếu phim lưu động đến chiếu các bộ phim tại trận địa. Thoạt đầu chiếu bộ phim tài liệu ngắn về những hoạt động chiến sự gần đây nhất ở miền Nam Việt Nam có lời dịch song song, sau đó chiếu phim truyện, phim của Liên Xô.

Bộ phim luôn được ưa ,thích là bồ phim "Chú chó Bácbốt và cuộc thi chạy việt dã". Người ta chiếu bộ phim này mấy lần. Lần nào cũng khiến chúng tôi cười sảng khoái. Đó là bộ phim duy nhất không cần có lời dịch cũng hiểu được.

Tiến về phía nam và cuộc phục kích đầu tiên

Xét thấy tình hình vùng trời Hà Nội tạm lắng dịu, Bộ chỉ huy Binh chủng phòng không đã giao nhiệm vụ cho Tiểu đoàn tên lửa 61 của chúng tôi trong thời gian ngắn nhất bí mật di chuyển đến vùng thị xã Phủ Lý và tổ chức cuộc phục kích ở đấy.

Vào buổi tối, sau khi có lệnh "lên đường hành quân" chúng tôi đã rời khỏi trận địa, tổ chức thành đội hình và hành quân trong hai ngày đêm, chủ yếu vào ban đêm, về phía nam theo lộ trình đã vạch sẵn, về hướng tây đường số 1 .

Những ai chưa được nhìn thấy các con đường ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh thì khó mà hình dung được tất cả những khó khăn trên đường hành quân của chúng tôi đi ngang qua những cánh đồng lúa, những khu rừng nhiệt đới và sau cùng là những ngọn núi. Ở nhiều nơi, những con đường bị cày xới trên hàng chục kilômét bởi những hố bom sâu do máy bay Mỹ thả xuống phá huỷ. Chúng tôi đã phải đi vòng, trực tiếp trên các ruộng lúa. Đây là công việc quá khó khăn, vì thậm chí những chiếc xe kéo kiểu ATC của Liên Xô cũng phải trầy trật lắm mới vượt qua được những thửa ruộng ngập bùn lầy. Chỉ có “những con trâu nước" của Việt Nam mới có thể dễ dàng và với một vẻ duyên dáng nào đó di chuyển được trên những ruộng bùn lầy này. Những bệ phóng nặng nề thì mắc kẹt và sa lầy đến tận khung xe. Xích của các xe kéo gầm rú, guồng mạnh và khó khăn lắm mới kéo được những bệ phóng lên nền đường cứng.

Dưới sự chỉ huy của các vị chỉ huy dầy dạn kinh nghiệm - Trưởng ban vận tải của trung đoàn là Đại úy Đ. M. Uđôvencô và phó của ông là Thượng úy V. E. Abrôximốp - các tài xế trên những chiếc xe kéo kiểu ATE và KRAZ đã tỏ ra nhanh trí đến kỳ diệu để vượt qua những địa hình và những trở ngại tưởng chừng như hoàn toàn không thể vượt qua nổi.

Trong các khu rừng nhiệt đới tình hình cũng không dễ dàng hơn bao nhiêu. Nhờ có những vật ngụy trang tự nhiên nên chúng tôi đã di chuyển băng qua rừng ngay cả ban ngày mà không sợ bị phát hiện từ trên không.

Đến chiều tối ngày thứ hai, cuối cùng thì chúng tôi đã ra khỏi các khu rừng. Trước mặt chúng tôi là con sông rộng chừng 35-40 mét, nước chảy rất xiết. Cây cầu đã bị phá huỷ. Chỉ còn lại những khúc gỗ bị cháy sém, bị sức nổ làm văng lên bờ. Có thể thấy rõ rằng bọn Mỹ đã không tiếc bom để dội xuống nơi đây.

Anh em công binh đã đến giúp chúng tôi. Họ đã nhanh chóng bắc cầu phao. Nhờ đó, dưới bóng đêm, chúng tôi đã bình yên vượt qua bờ bên kia của con sông.

Chế độ "bí mật nghiêm ngặt”

Suốt đêm chúng tôi tiếp tục hành quân. Điều bất ngờ nhất là mặc dù lộ trình của chúng tôi đã được giữ bí mật nghiêm ngặt, song tại mỗi điểm dân cư mà chúng tôi đi qua mọi người dân từ trẻ đến già đều đã ra đón chào chúng tôi.

Người lớn chăm chú ngắm nghía những bệ phóng tên lửa có hình dáng lạ thường được phủ kín vải bạt và sôi nổi trao đổi cảm tưởng. Các em nhỏ, với những cặp mắt sáng và nép người vào nhau để đẩy các em mạnh dạn nhất lên phía trước cho gần các bác "Liên Xô" to lớn nhưng không có vẻ gì đáng sợ. Trong không khí oi ả ngột ngạt của đêm vùng nhiệt đới, những giọng nói thánh thót của họ (bằng tiếng Nga) bay vút lên tựa như những ngọn lửa nồng cháy:

- Liên Xô! Liên Xô! Xin chào? Tốt lắm! Mạc Tư Khoa!

Tài xế chiếc xe ATX của chúng tôi, anh Vanhia Slantrắc đã được bà con Việt Nam, đặc biệt là các cô gái Việt Nam chú ý tới. Anh này có dáng người cao, cân đối, tóc hung và đẹp trai, ngoài ra có bộ râu rất đẹp. Ngay khi anh vừa bước ra khỏi buồng lái đã lọt ngay vào một "vòng vây" khép kín. Ai cũng cố gắng nắm tay chúng tôi hoặc sờ được vào quần áo. Vào cái đêm hôm ấy chúng tôi đã có dịp tham dự vào ba cuộc mít tinh chớp nhoáng chào đón chúng tôi. Cuộc mít tinh thứ ba diễn ra lúc trời đã tảng sáng.

Cơn nóng đã phần nào dịu bớt, không khí trở nên mát mẻ hơn. Trên nền bầu trời đang hửng sáng đã hiện ra những đường nét xám mờ của những ngọn núi không cao lắm .

Sau khi phân tán và ngụy trang các khí tài, chúng tôi đã thoải mái tắm rửa để gột bỏ những lớp bụi mầu đỏ sau chặng đường dài, bằng những thùng nước do bà con nông dân đã có nhã ý đem đến cho chúng tôi. Sau đó, chúng tôi nhấm nháp nhanh khẩu phần khô và những quả chuối do nông dân tặng cho rồi nằm nghỉ dưới một mái che lớn làm bằng những tấm phên tre.

Không khí mát mẻ buổi sáng vẫn còn (chỉ khoảng 27 độ C) và cơn đói đã dịu nhờ bữa sáng khiến cho chúng tôi buồn ngủ. Ngay khi đầu vừa chạm vào những chiếc gối độn đầy rơm là chúng tôi đã thiếp đi vì mệt nhừ sau chặng đường dài đầy khó nhọc.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #30  
Cũ 29-03-2013, 08:22
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Điều bất ngờ dưới gối vào buổi sáng

Chúng tôi bừng tỉnh vì tiếng kêu thất thanh: Á - á!

Lêsin Phômisép, một anh chàng thường ngày là người bình tĩnh và không hay bực tức, đang gào thét, tay cầm chiếc gối và mắt thì mở to vẻ sợ hãi.

Tuy chưa hiểu điều gì đã xảy ra, nhưng tôi lao đến giúp anh ấy và nhìn thấy một con rắn to với cái lưng có các khoang trắng đen đang từ từ trườn khỏi nơi Lêsin vừa đặt chiếc gối rơm. Sau khoảnh khắc con rắn đã biến mất trong một bụi rậm đầy gai mọc bên cạnh bức phên tre. Nhưng ngoài con rắn ấy, trong khi ngủ chúng tôi còn bị những "cư dân" khác của vùng này viếng thăm.

Có hai cậu, khi ngủ dậy đã phát hiện thấy trên tay mình có những vết đỏ không rõ do đâu mà xuất hiện. Những vết đỏ ấy gây ra một cơn ngứa khá mạnh và một lúc sau thì nổi lên những cái mụn con li ti. Bác sĩ của chúng tôi nhận định đây là vết rộp bỏng do hóa chất. Các bạn Việt Nam đã khẳng định sự phán đoán ấy và giải thích nguồn gốc của các vết rộp là: ở vùng này có một loài côn trùng hiếm thấy, giống như con sâu. Khi chạm phải chỗ hở trên thân thể người, nó tiết ra một thứ khí đặc biệt qua các lỗ nhỏ xíu dưới bụng làm cho lớp da thượng bì bị rộp bỏng. Bác sĩ của chúng tôi đã bôi lớp thuốc mỡ lên chỗ rộp bỏng và băng kín lại. Những chỗ rộp bỏng ấy rất lâu sau vẫn không lành và để lại những vết sẹo thấy rõ trên tay mấy anh chàng ấy.

Chuẩn bị trận địa chiến đấu - Sự giúp đỡ của nông dân

Khi trời bắt đầu tối, đoàn quân chúng tôi di chuyển tới trận địa được lựa chọn sẵn cho tiểu đoàn và sau một giờ thì có mặt tại trận địa.

Trận địa này rất đạt xét trên phương diện chiến thuật, vì đó là sườn dốc, chặn ngang hẻm núi chạy từ phía nam lên phía bắc. Địa hình như vậy đảm bảo cho chúng tôi có tầm nhìn bao quát tốt chung quanh ở hướng nam. Nhưng về phương diện kỹ thuật thì trận địa gây rất nhiều khó khăn: ngọn núi có độ dốc hơn 25 độ, và để bố trí bệ phóng và các ca bin điều khiển chúng tôi đã phải làm những bãi phẳng ngang nhô ra.

Nền thì toàn đá, vậy mà đã phải dùng những chiếc thuổng và xẻng thông thường để khoét vào núi. Công việc diễn ra suốt đêm trong điều kiện ánh sáng được hoàn toàn ngụy trang vì vào thời điểm ấy máy bay Mỹ vẫn ném bom thị xã Phủ Lý, chỉ cách chúng tôi có 8 kilômét về hướng đông nam.

Cứ sau những khoảng thời gian nhất định, máy bay Mỹ lại thả dù gắn những quả pháo sáng cháy trong 5-8 phút. Chúng đã ném bom có bài bản thị xã này, một thị xã mà dân cư đã sơ tán đi từ lâu và trở thành hoang vắng. Chúng sử dựng những đống đổ nát của thị xã như bãi tập ném bom ban đêm. Sau khi ném bom xong, trên đường trở về, các máy bay Mỹ lượn vòng ngay ở phía trên trận địa chúng tôi.

Trên nền bầu trời bắt đầu hửng sáng chúng tôi nhìn thấy rõ những hình dáng màu đen hung dữ của những máy bay ấy. Tiếng động cơ phản lực gầm rú inh tai ngay trên đầu và những tiếng nổ của những quả bom ném xuống thị xã Phủ Lý đã làm tăng thêm sự lo lắng.

Khoảng nửa giờ sau chúng tôi có sự trợ giúp của bà con nông dân đến từ các làng gần đó. Theo lời kêu gọi của huyện ủy, mọi người đã đến giúp chúng tôi: phụ nữ, trẻ em, các cụ già. Với những chiếc rọ và đòn gánh quẩy đất, với những chiếc cuốc, cuốc chim và xẻng, bà con đã bắt tay làm việc hồ hởi. Công việc ngày càng sôi nổi, người đến ngày càng đông. Trận địa lúc ấy trông giống như một tổ kiến lớn bị khuấy động. .

Vào đêm ấy đã có khoảng 300 thường dân đến giúp chúng tôi xây trận địa. Chỉ có nhờ sự giúp đỡ của họ mà đến lúc trời sáng trận địa mới được hoàn thành, chúng tôi bắt đầu triển khai khí tài. Chúng tôi đã cảm ơn mọi người đến giúp và mời họ về nghỉ. Tuy mệt nhọc, nhưng họ không bỏ về ngay mà lại chăm chú quan sát các công việc đang diễn ra lúc ấy, ngắm nghía những vật kỳ lạ - những quả tên lửa, những chiếc xe kéo có xích, những bệ phóng và ngắm nghía những người lính Xôviết chúng tôi. Bất chấp sự mệt mỏi rã rời, những động tác của cán bộ chiến sĩ tiểu đoàn diễn ra một cách lôgíc, chặt chẽ và có định hướng rõ rệt.

Công việc quả phức tạp khi trong đêm tối phải xác định được độ phẳng ngang của bãi đất nhô ra. Do vậy, tôi đã sử dụng tấm ván phẳng dài 2 mét trên đó có đặt một chai nước để làm dụng cụ đo độ phẳng ngang của bãi đất. Nhờ “dụng cụ đo độ phẳng" ấy chúng tôi đã nhanh chóng giảm được độ nghiêng của bãi đất so với đường chân trời xuống còn 3 độ. Như vậy đã hoàn toàn đáp ứng yêu cầu. Đôi khi, “dụng cụ đo độ phẳng" được thay bằng hai xô nước đổ lên trên bãi đất.

Vì thấy nền đất có đá, và chủ yếu là để giảm thời gian tháo dỡ khí tài sau trận đánh, chúng tôi đã áp dụng một mẹo nhỏ: chúng tôi chỉ chôn sâu một nửa các chân đế của bệ phóng. Như vậy sẽ dễ dàng và nhanh chóng rút chân đế của bệ phóng và nhờ đó rút ngắn được 2-3 phút.

Chúng tôi còn có những bí quyết khác của người lính để nhanh chóng chuyển khí tài từ tư thế hành quân sang tư thế chiến đấu và ngược lại, những mẹo giảm thời gian thực hiện các định mức khác, nhưng tôi sẽ không tiết lộ những mẹo vặt ấy.

Những sự chuẩn bị sau cùng

Sau cùng thì các khí tài đã được triển khai. Chỉ còn nhiệm vụ đặt các đường dây cáp điều khiển và các dây dẫn điện. Để bảo vệ những dây cáp ấy cần đào một đường rãnh nông, dài khoảng 10 mét. Chúng tôi đã dồn hết sức lực còn lại vào công việc này. Tôi nhìn thấy anh Lai ngồi xổm đào đất những nhát cuốc chim bổ vào đất thưa dần... Anh ấy giáng nhát cuối cùng và rồi tiếng cuốc chim lặng im. Mệt quá bị kiệt sức, đồng chí Lai đã thiếp đi cùng chiếc cuốc chim trong tay. Đồng chí Thành đưa anh Lai về nghỉ.

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đào xong đoạn rãnh đó và nối liền các đoạn dây cáp lại với nhau. Bệ phóng "sống động" trở lại. Chúng tôi đã điều chỉnh độ phẳng ngang, định hướng, đặt các góc nạp đạn và các góc giới hạn, tiến hành kiểm tra cục bộ và kiểm tra các tính năng của hệ thống điều khiển - mọi cái đều chuẩn. Chúng tôi chuyển những xe vận chuyển nhiên liệu TZM đến và nạp vào các bệ phóng. Lúc ấy kim đồng hồ chỉ 5 giờ 30 phút sáng. Tôi dùng điện thoại báo cáo với sĩ quan chỉ huy:

- Bệ phóng số 5 đã trong tư thế chiến đấu. Bệ phóng đã nạp tên lửa.

- Chấp nhận. Đồng chí hãy kiểm tra bệ phóng số 6. Hãy giúp họ nếu cần.

Tôi trượt xuống sườn núi có những cây đu đủ non mọc dầy để đến bệ phóng số 6. Ở đấy các chiến sĩ đang nạp tên lửa vào bệ phóng.

- Công việc của các đồng chí thế nào? - tôi hỏi đồng chí Akhunốp.

- Khó nhọc lắm, - đồng chí ấy đáp, - chúng tôi nạp quả đạn này lần thứ hai. Lần thứ nhất chúng tôi không quay được càng của chiếc xe chở nhiên liệu TZM. Quả tên lửa mắc kẹt vào thành vách dựng đứng. Đành phải chặt ngắn bớt khoảng 8 centimét ống dẫn của phần tiếp nhận áp lực không khí.

Sau khi thấy mọi việc ở bệ phóng số 6 đâu vào đấy rồi, tôi trở lại bệ phóng số 5 của mình. Chân bước xiêu vẹo vì mệt, lưng mỏi nhừ, các ngón tay cứng đờ. Trời đã sáng hẳn. Chúng tôi tiến hành kiểm tra cục bộ một lần nữa, điều chỉnh các góc nạp đạn. Đúng vào lúc ấy còi báo động vang lên:

- Báo động chiến đấu!

Tôi nhìn đồng hồ. Kim đồng hồ chỉ đúng 6 giờ sáng.

Vòng đu quay trên trời

Chúng tôi nhanh chóng chuẩn bị các quả tên lửa trong tư thế sẵn sàng phóng và đi xuống phía dưới chân núi. Tôi báo cáo với người chỉ huy tiểu đoàn:

- Trung đội 3 đã ở trong hầm trú ẩn.

Mặc dù thật ra không có hầm trú ẩn nào cả.

- Chấp nhận. Có một tốp mục tiêu từ biển tiến về phía bắc. Khoảng cách là 240.

Tôi ước tính: khoảng 10 phút nữa các mục tiêu sẽ lọt vào tầm bắn, ít nhất thì cũng cần phải đào những hào ẩn nấp không sâu lắm. Ở chỗ này nền đất không có nhiều đá cứng như ở trên núi. Nhưng không có cuốc chim và xẻng thì không thể làm gì được.

Sau đó nửa giờ có lệnh "Báo yên": các mục tiêu không tiến vào tầm bắn và đã quay sang hướng đông, vòng qua chúng tôi ở phía trái. Sau đó khoảng 20 phút còi báo động lại vang lên. Cả lần này nữa máy bay cũng không bay vào tầm bắn. Trò đu quay trên trời như thế đã diễn ra cả ngày hôm ấy.

Còi báo động đã khiến chúng tôi phải 18 lần ngồi vào vị trí chiến đấu và chờ lệnh "Phóng". Mười tám lần thần kinh chúng tôi bị căng đến tột độ. Lần nào cũng vậy, thay vì lệnh "Phóng" lại vang lên lệnh "Báo yên": 1-2 phút trước khi bay vào tầm bắn các máy bay đã chuyển hẳn hướng bay, đi vòng qua trận địa chúng tôi ở phía bên phải hoặc phía bên trái.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
donetsk (30-04-2013)
  #31  
Cũ 29-03-2013, 08:26
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Chúng tôi đoán rằng hồi đêm các phi công Mỹ, khi lượn vòng phía trên trận địa của chúng tôi, đã đánh dấu trận địa và bây giờ chúng đang thăm dò khu vực chúng tôi, và hy vọng rằng chúng tôi sẽ hết kiên nhẫn và sẽ tự làm lộ mình bằng hành động phóng tên lửa quá sớm .

Trong ngày hôm ấy chúng tôi đã ba lần ngồi vào ăn bữa trưa - cả ba lần bữa trưa bị gián đoạn bởi hồi còi báo động, và chúng tôi đã phải bỏ mọi thứ để lao đến các bệ phóng và các cabin điều khiển. Bữa trưa đã kết thúc ngay trên các bệ phóng và trong các cabin điều khiển.

Đến buổi chiều máy bay Mỹ ít xuất hiện hơn, hơn nữa chúng không bay đến gần hơn 70 km. Chúng tôi ăn tối yên ổn hơn ít nhiều. Chúng tôi đã chuẩn bị nghỉ đêm. Các khẩu đội Việt Nam dựng lều bạt cách không xa các hầm trú ẩn vừa được đào lúc ban ngày. Còn chúng tôi, nhằm mục đích phân tán thưa ra, đã dựng lều ở chỗ cao hơn một chút, ở phía bên kia dãy núi.

Hôm trước đó đài phát thanh dự báo có thể sẽ có mưa rào nhiệt đới và dông. Vì vậy chúng tôi phủ bạt thật chặt và kỹ lên bệ phóng có tên lửa trên đó. Chúng tôi đã thận trọng chống sẵn các cây sào để khi cần thì tháo dỡ vải bạt. Chúng tôi bố trí người trực gác, chúc nhau ngủ ngon, rồi đi nghỉ.

Trận đánh trong đêm

Tôi lập tức thiếp đi... Trong mơ tôi nghe thấy còi báo động và không thể hiểu được: đó là mơ hay thật sự là còi báo động? Bởi vì cả một ngày còi báo động đã "làm ù tai" rồi.

Tôi hiểu ra rằng đó không phải là mơ. Tôi chồm dậy và lay anh em dậy:

- Dậy ngay? Báo động số 1!

Chúng tôi chộp lấy quần áo, mũ sắt, vừa chạy vừa mặc quần áo, nhanh chóng lao đến các bệ phóng. Trong bóng tối tôi lao nhanh qua các bụi cây thấp, chạy lên phía trên. Đây rồi, bệ phóng. Tôi mò mẫm tháo những chốt cài vải bạt. Tay làm việc như cái máy. Chỉ sau 15 giây đã mở xong tất cả các chốt cài. Phải tháo bạt che. Nhưng đồng chí Thành cùng khẩu đội ở đâu? Một mình tôi không thể tháo dỡ vải bạt che bệ phóng. Tôi chạy đến chỗ có lều của khẩu đội để gọi họ. Đây là nơi chúng tôi chia tay vào buổi tối hôm qua... Nhưng quỷ tha ma bắt? Chẳng thấy lều đâu cả! Cách đó không xa tôi nghe thấy tiếng xoong nồi loảng xoảng. Tôi chạy tới chỗ có tiếng động. Ở đấy là lán ngủ của các đầu bếp thuộc trung đội hậu cần của Việt Nam. Tôi chạy đến lán. Các anh nuôi đều có mặt tại chỗ. Tôi hỏi họ:

- Khẩu đội bệ phóng đâu? Lều của họ biến đi đâu rồi?

Các bạn Việt Nam ngơ ngác nhìn tôi. Sau khi hiểu rõ vấn đề họ đã chỉ tay về phía đồi cao:

- Họ ở đằng kia kìa

Tôi chạy theo hướng đó. Được khoảng 40 mét tôi quả thật thấy có chiếc lều. Hóa ra, lúc chập tối, do sợ bị ngập nước, khẩu đội Việt Nam đã dời nó lên chỗ cao hơn và chưa kịp báo cho tôi biết. Trong cái lều bạt này chuông điện thoại réo rất to, còn chiếc lều thì cứ quay tứ tung bùng nhùng. Tôi hiểu ra, do bị ngái ngủ, các chiến sĩ ấy đã không biết làm cách nào để tìm thấy cửa ra trong đêm tối. Tôi giật mạnh cọc chốt lều ở một góc và vạch góc ấy lên. Anh em trong khẩu đội Việt Nam lần lượt chui ra qua lỗ hổng ấy.

- Chạy mau ra bệ phóng! - tôi hét lên - Chạy thanh lên phía trên!

Chúng tôi dùng các cây sào tháo bỏ vải bạt và hất xuống đất. Hết sức nhanh. Mỗi người thao tác rất nhanh công đoạn chuẩn bị phóng của mình. Thời gian tính bằng giây

- Số 1 đã sẵn sàng!

- Số 2 đã sẵn sàng?

- Số 3 đã sẵn sàng! - các trắc thủ trong khẩu đội báo cáo dứt khoát.

Tôi kiểm tra vị trí của các bộ cảm biến, nối mạch những ổ cắm trên thân tên lửa OS-10. Tôi báo cáo về ca bin "X":

- Bệ phóng số 5 đã sẵn sàng chiến đấu!

- Chấp nhận. Tôi cho phép chuẩn bị phóng.

Trong ống nghe tôi nghe thấy rõ những câu trao đổi qua hệ thống liên lạc khuếch đại:

- Góc phương vị 120, khoảng cách – 32, chuyển sang chế độ AX! (tự động theo dõi mục tiêu).

- Rõ. Chuyển sang chế độ AX!

Tôi hạ lênh:

- Khẩu đội vào hầm trú ẩn!

Tôi vừa đặt ống nghe và đóng sập cửa khoang trên bệ phóng thì đã nghe thấy hiệu lệnh đưa vào tư thế "Đồng bộ", và bệ phóng cùng tên lửa bắt đầu điều chỉnh các góc đã định. Chúng tôi lao nhanh xuống phía dưới, vào các hầm trú ẩn. Tôi báo cáo qua điện thoại:

- Trung đội 3 đã ở trong hầm trú ẩn!

- Chấp nhận!

- Tiêu diệt tốp mục tiêu! Bằng một loạt 3 quả đạn, khoảng cách thời gian - 6 giây

- Bệ số 1 phóng! - tôi nghe thấy giọng khàn khàn của Thiếu tá Chỉ huy trưởng Prôxcuốcnin trong ống nghe khuếch đại.

- Rõ! Bệ số 1 phóng đạn? - viên sĩ quan điều khiển tên lửa báo cáo. Đó là Trung úy Carétnhicốp.

Một tiếng nổ inh tai khiến chúng tôi phải nằm rạp xuống đất. Quả tên lửa như mũi tên chọc thủng bầu trời tối đen, bay vút lên và biến về hướng nam. Tiếp đó là bệ số 2, bệ số 3...

- Bắt được mục tiêu rồi?
- Đã dẫn đường được tên lửa! - các báo cáo của các trắc thủ thao tác và của viên sĩ quan điều khiển tên lửa vang lên qua hệ thống hên lạc khuếch đại âm thanh.

Từ phía trên, các mảnh đá rơi ồ ạt xuống chỗ chúng tôi. Những mảnh đá ấy do luồng khí đẩy của động cơ tên lửa hất tung lên cao mấy chục mét. Những cú đập vào lưng khá mạnh. May mà đã có mũ sắt bảo vệ đầu.

Các động cơ của tên lửa đã tách rời: của tên lửa số 1, số 2 và số 3. Có 3 chấm nhỏ màu đỏ - là các tên lửa - bay lên phía trên.

- Kích hoạt ngòi nổ vô tuyến "K3"!

Một ánh chớp sáng chói làm lóa mắt.

- Quả thứ nhất đã nổ! Mục tiêu đã bị tiêu diệt? - tôi nghe thấy giọng đầy xúc động của viên sĩ quan điều khiển tên lửa là Trung úy Cônxtantin Carétnhicốp.

- Quả thứ hai đã nổ!

- Quả thứ ba đã nổ!

- Cả tốp mục tiêu đã bị tiêu diệt. Số tên lửa đã phóng - 3 quả.

Những chiếc máy bay nổ tan ra thành các mảnh bốc cháy, kéo theo một cột khói, vạch rõ đường rơi của chúng. Có đến nửa bầu trời rực lửa. Dần dần lửa được thay bằng một cột khói khổng lồ có mầu nâu trong ánh hồi quang lửa hồng. Đó là một bức tranh đầy ấn tượng.

còn nữa
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #32  
Cũ 29-03-2013, 17:50
Đan Thi Đan Thi is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 573
Cảm ơn: 75
Được cảm ơn 1,786 lần trong 460 bài đăng
Default

Hồi ức mới nhất:
Chiến tranh Việt Nam trong con mắt nhà ngoại giao Xô-viết
Успеть до полуночи
Вьетнамская война глазами советского дипломата
№ 12 (354) от 28 марта 2013 [«Аргументы Недели», Анатолий ЗАЙЦЕВ ]

40 лет назад (29 марта 1973 г.) американские войска покинули Южный Вьетнам. Сама вьетнамская война длилась ещё более двух лет, но уже как гражданская – между коммунистическим Северным и антикоммунистическим Южным Вьетнамом. Но уход американцев имел далеко идущие последствия: США вынуждены были признать, что при всей их мощи мотивированный Северный Вьетнам, «играющий на своём поле», оказался сильнее. Что престиж престижем, а есть мировое общественное мнение. Что… Впрочем, сказать можно ещё многое...
В общей сложности шесть лет провёл в воюющей Демократической Республике Вьетнам (ДРВ) молодой тогда советский дипломат Анатолий Зайцев. Сегодня «АН» публикуют фрагменты его воспоминаний.
Мост через Красную реку
В октябре 1966 г. я – теперь уже атташе советского посольства – снова прилетел в Ханой. Шёл третий год необъявленной воздушной войны США против ДРВ. Интенсивность налётов на столицу страны особенно возросла в октябре 1967 г. и в январе 1968 года. Это была реакция на крупные американские потери – части Вьетнамской народной армии и Национального фронта освобождения Южного Вьетнама тогда атаковали базу морской пехоты США в долине Кхесань, освободили город Хюэ.
Постоянным объектом бомбёжек был расположенный в паре километров от нашего посольства мост через Красную реку – его построили ещё французы в колониальные времена по проекту знаменитого архитектора Эйфеля. Многократно разрушенный мост всякий раз восстанавливался героическими усилиями вьетнамцев и оставался главной артерией, снабжавшей всем необходимым воюющую армию на Юге.
Так называемые точечные удары американской авиации по военным объектам «точечными» отнюдь не были. От ракет «воздух-земля» пострадали здания посольств Румынии, Монголии, торгпредства Болгарии. Позднее ракета разворотила угол дома, где жил наш военный атташе, – он отделался небольшими порезами на лице. Воздушная волна тогда вдавила внутрь и ставни окна моей комнаты (дом стоял впритык). Вернувшись с работы, я долго выгребал осколки стекла.
В те дни нам выдали каски, на территории посольства и у жилых домов были вырыты бомбоубежища, в связи с перебоями в подаче электроэнергии обзавелись дизельными движками… Впрочем, поначалу мы относились к мерам безопасности с беззаботностью молодости, даже бравадой. Ночью, разбуженный грохотом разрывов, я не бежал в убежище, а оставался лежать под противомоскитной сеткой – лишь чтобы защититься от осколков стекла, нащупывал в темноте рядом с подушкой приготовленную с вечера каску, надвигал её поглубже, затыкал уши и с мыслью «будь что будет» пытался снова заснуть.
Сбитый «ястреб»
Этот эпизод я как-то вкратце рассказывал на страницах «АН» – но он заслуживает того, чтобы вспомнить снова, добавив подробности.
У посла СССР в Ханое И.С. Щербакова, почти безвыездно пробывшего на этом посту десять трудных лет, единственной разрядкой была рыбалка. По воскресеньям, когда наступала короткая пауза в воздушных налётах, Илья Сергеевич в любую погоду выезжал на расположенные почти в центре города озёра Хо Тэй и Чук Бать. Там и сидел с удочкой до обеда (это его хобби было головной болью всех отвечавших за безопасность посла).
По невероятному стечению обстоятельств в то самое озеро Чук Бать 26 октября 1967 года (правда, был четверг, и посол не рыбачил) угодил катапультировавшийся из подбитого самолёта лейтенант американских ВВС. Он вылетел с авианосца бомбить ханойскую электростанцию и был сбит ракетой советского производства.
Случай этот наделал много шума. Нет, американские самолёты над Ханоем сбивали регулярно (в тот день сбили десять). Но захватить живьём пилота – да ещё в центре города! – удавалось нечасто. К озеру сбежалось и съехалось на велосипедах множество людей. Мы приехали после отбоя воздушной тревоги. Лётчик был уже в плотном кольце военных, которым еле удавалось оттеснить наседавшую толпу и предотвратить самосуд.
Его имя оставалось неизвестным широкой публике более сорока лет, пока он сам, бывший лейтенант ВВС США Джон Маккейн – ныне знаменитый американский сенатор-«ястреб» и недавний кандидат в президенты США – не поведал о случившемся в автобиографии.
Лётный комбинезон Маккейна, его шлем и парашют – сегодня среди экспонатов музея, открытого в бывшей знаменитой тюрьме Хоа Ло (когда-то в ней сидели борцы за независимость Вьетнама, во время войны – пленные американцы). На озере Чук Бать стоит каменная стела в честь этого события – на ней выделяется фигура с опущенной головой и поднятыми руками. Справа – звезда и буквы USA, слева – надпись на вьетнамском: «26.10.1967 на озере Чук Бать военнослужащие и жители Ханоя захватили живым Джона Маккейна, лейтенанта ВВС США, пилота самолёта А4 В1, сбитого над электростанцией Иен Фу. Это был один из десяти сбитых в тот день самолётов».
Впрочем, снующие мимо на мопедах и велосипедах молодые парочки не скрывали удивления, услышав от меня вопрос, что «здесь где-то стоит памятник на месте пленения сбитого американского лётчика». Лишь пожилой охранник у входа в находящийся рядом ресторан показал, как пройти. Современный Вьетнам живёт своей жизнью, война уже стала историей. Американцы спокойно ездят сюда – и в музее Хоа Ло я обратил внимание на группу туристов из США явно ветеранского возраста. Они пристально всматривались в экран висящего посреди зала монитора, на котором шла хроника военных лет. В глазах стоявшей рядом с ветераном молодой американки читалась боль.
Представляем автора
Анатолий Сафронович Зайцев – Чрезвычайный и Полномочный Посол в отставке, кандидат экономических наук. Работал в Демократической Республике Вьетнам в 1960–1969 годах. В 1983–1987 гг. неоднократно бывал там в качестве заведующего отделом Юго-Восточной Азии МИД СССР и в феврале-марте 2011 г. – как руководитель инспекционной группы МИД РФ.
Огонь «дружественный» и нет
Выше я говорил о некотором легкомыслии, с которым мы поначалу относились к мерам безопасности. Постепенно оно прошло, сменившись осознанием ответственности за дело, пониманием, что дома за нас волнуются родители, близкие. Война есть война, всякое бывает. Меня немало образумил такой случай.
В то утро сигнал воздушной тревоги я услышал по дороге на работу, неподалёку от ворот посольства. Ускорив шаг, надел каску, был уже у ворот – и где-то совсем рядом раздалась автоматная очередь, прямо над головой просвистели пули. Это солдат охраны, следуя инструкции, при первых звуках сирены прыгнул в вырытый перед постом окоп (мелкий бетонный колодец) и, не глядя по сторонам, разрядил рожок по пролетавшему самолёту.
...В январе 1968-го я оказался в Центральном госпитале Ханоя. Нет, не ранение – подхватил болезнь Боткина. Госпиталь регулярно бомбили (не защищали и знаки Красного Креста на крыше).
Тогда он был переполнен ранеными вьетнамскими солдатами (поражало количество молодых парней с ампутированными конечностями). Мы подружились. В рассказах этих героических ребят вставала настоящая, не известная мне ранее и разнящаяся с официальными описаниями правда о войне. Многие наши разговоры проходили в земляном бомбоубежище, под грохот бомб и зенитную канонаду – я слушал новых товарищей, лёжа под капельницей и прикрывая ладонью введённую в вену иглу от сыпавшихся с потолка комьев земли и глины.
Охотники за трофеями
Даже во многие районы Ханоя въезд для машин с посольскими номерами был строго воспрещён. Дипломаты (все, в том числе советские) большую часть времени проводили в центре города и дипломатическом квартале. Передвижения вне этой зоны были ограничены властями. Но вот наступали дни главных вьетнамских праздников – время (иногда до недели) моратория на воздушные налёты. Тут уж мы старались выскочить из Ханоя. Забирались далеко на Юг вплоть до демаркационной линии. Возвращались обычно впритык к окончанию моратория, торопясь поспеть до 12 ночи. Навстречу двигались нескончаемые колонны грузовиков и бензовозов. На узких разбитых дорогах со спешно залатанными воронками часто возникали заторы. Следуя военному лозунгу «Превратим день в ночь, а ночь в день», колонны шли по ночам – хотя и это не спасало от налётов с применением осветительных бомб. Помню, как, продираясь сквозь встречные машины, разбудил уснувшего от усталости за рулём юного водителя и помог ему...
Целью поездок было оценить состояние построенных с помощью СССР экономических объектов. Другое дело, что иногда попутно ставилась ещё одна, неафишируемая, задача. Главными союзниками Вьетнама в ту военную пору были Советский Союз и Китай, отношения с которым у нас были до предела накалены. А сбитые новейшие американские самолёты, их вооружение в равной степени интересовали и наших, и китайских военных специалистов. Мы помогали своим.
Подробности их работы для нас были тогда, понятно, закрыты. Но некоторые детали мы узнавали из источника неожиданного. Среди «охотников за трофеями» были талантливые молодые ребята, которые писали песни. Особой популярностью пользовались песни покойного ныне Валерия Куплевахского. Они звучали на наших посиделках, мы их заучивали, переписывали друг у друга на магнитофоны. Валерий пел о Родине, мечте о встрече с близкими, а иногда с большой долей юмора описывал полную риска работу – свою и своих товарищей. Помню одну из его песен – как наши специалисты, «наперегонки» с китайскими, продираются сквозь джунгли и топи рисовых полей к упавшим американским самолётам или не разорвавшимся ракетам. Были в ней и сетования, что не мы порой становились первыми.
До сих пор хранит память куплет одной из его песен:
В шесть часов вечера после войны
Ты на свиданье со мной приходи,
На площади Арбатской тебя я буду ждать
Осколок эф сто пятого
под мышкою держать.
Не все из нас ехали домой с обломком F-105 под мышкой, но увидеть Арбат мечтал каждый. И песни эти для тех, кто помнит воюющий Вьетнам, до сих пор – как пароль.

http://argumenti.ru/history/n382/242517
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #33  
Cũ 30-03-2013, 10:18
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Trước những gì đã nhìn thấy, anh em chiến sĩ không thể nào trấn tĩnh lại được. Chúng tôi vui sướng bắt tay nhau.

- Chúc mừng chiến thắng đầu tiên!

Nhưng thời gian là quý báu.

- Hãy về bệ phóng! - tôi phát lệnh, và chúng tôi lại lao lên phía trên.

Trong lúc tên lửa được phóng đi, luồng khí của hơi đốt đã làm bật tung một chân giá đỡ của bệ phóng và hất nó đi xa.

Chúng tôi tìm thấy nó ở cách đó 15 mét và đã nhanh chóng đặt nó vào chỗ cũ. Chiếc xe TZM kéo quả tên lửa mới mãi vẫn chưa thấy tới. Tôi chạy đến chỗ đỗ xe TZM ở phía dưới dốc núi.

Chiếc TZM vẫn đứng tại chỗ. Cửa buồng lái mở toang. Không thấy lái xe ở trong buồng lái.

- Quỷ quái thật! - tôi lầu bầu - phải tìm kiếm tài xế ở đâu bây giờ.

Tôi ngồi vào buồng lái. Chìa khóa vẫn cắm trong ổ khoá. Tôi mở công tắc điện, đạp vào bàn đạp khởi động. Máy nổ. Tôi cài số 1, bóp còi, nhả bộ ly hợp. Lập tức, tài xế Hải hốt hoảng bò ra khỏi gầm xe. Anh ta tưởng những tiếng nổ khi tên lửa được phóng đi là những tiếng bom nổ. Thế là anh ta nấp vào "chỗ an toàn" ở bên dưới quả tên lửa. Tôi nhường chỗ cho anh ta trong buồng lái. Chúng tôi lùa chiếc TZM vào phía dưới các càng đỡ tên lửa. Chúng tôi quay chiếc rầm ngang. Lập tức phát hiện thấy rằng ống phụt hơi của động cơ đẩy tên lửa đã bị mắc vào thành dựng đứng của khung đỡ, sâu vào khoảng 50 milimét.

Trong đêm tối chúng tôi đưa chiếc xe TZM vào nơi cách bệ phóng quá xa. Không còn thời gian để đưa tên lửa lần thứ hai vào chỗ có bệ phóng. Chúng tôi cầm lấy xẻng, cuốc chim và vội vàng tạo một rãnh trên thành khung đỡ tên lửa, ở tầm cao chỗ động cơ đẩy tên lửa lọt qua được. Sau 3 phút mọi việc đã hoàn thành. Tôi ra lệnh cho khẩu đội:

- Nạp tên lửa vào bệ phóng!

Chúng tôi nhanh chóng nạp tên lửa vào bệ phóng, gắn thân tên lửa vào bệ phóng.

- Bệ phóng số 5 đã sẵn sàng - tôi báo cáo về ca bin "X".

- Chấp nhận. Tất cả ở yên vị trí của mình! - hiệu lệnh vang lên nhưng không cần phải phóng tên lửa nữa, vì không còn mục tiêu.

Cả 4 máy bay, bay thành một đội hình kín, ở độ cao 3 nghìn mét đã bị bắn hạ bởi 3 quả tên lửa. Sự kiện này xảy ra ngày 11-8-1965 vào lúc 23 giờ 50 phút, cạnh ngôi làng Gia Sơn, xã Xích Thổ, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Chờ đợi thêm nửa giờ, sĩ quan chỉ huy quyết định rời khỏi trận địa. Sau đó 40 phút tiểu đoàn chúng tôi đã hành quân và rút vào rừng. Đó là trận đầu và là chiến thắng đầu tiên của Tiểu đoàn 61 của chúng tôi mà sau này đã trở thành "Tiểu đoàn Anh hùng".

Sự cảm ơn của nông dân

Nhưng khi chúng tôi rời khỏi khu vực trận địa thì cũng như vào đêm trước, bà con các làng gần đó, bị đánh thức bởi những tiếng nổ to của trận đánh, đã kéo đến trận địa. Họ chúc mừng thắng lợi và nồng nhiệt cảm ơn chúng tôi:

- Xin cám ơn các đồng chí đã bắn rơi những chiếc máy bay đáng nguyền rủa. Chúng không cho chúng tôi được yên cả ngày lẫn đêm

Có nhiều người đem quà đến: rất nhiều cam, chuối, mít. Chúng tôi rất cảm động trước sự quan tâm như vậy. Sau khi cảm ơn tất cả những người đã đến chúc mừng chiến thắng của chúng tôi và tặng quà, chúng tôi lên đường trở về.

Những quả "tên lửa" bằng tre

Khi rời trận địa ra đi, chúng tôi thấy trận địa do chúng tôi để lại đã được thay thế bằng "tiểu đoàn tên lửa" được chở trên những chiếc xe đẩy của nông dân.

Thân các tên lửa ấy được làm bằng tre, bên ngoài bọc chiếu rơm. Với nước sơn bên ngoài là nước vôi, những chiếc tên lửa này trông như đang diễu binh và nếu nhìn từ trên cao xuống chúng không khác gì nhiều so với tên lửa thật sự.

Những "tên lửa" này được bố trí ở trận địa, được nối với nhau bằng một "hệ thống điều khiển" sao cho mô phỏng giống việc thực hiện lệnh "kích hoạt đồng bộ". “Hệ thống điều khiển" do một người khởi động. Người này ngồi sâu dưới hầm trú ẩn ở ngoài trận địa. Nếu sử dụng phương pháp ngụy trang khéo léo thì có cảm nhận hoàn toàn rằng đây là tổ hợp tên lửa phòng không đang hoạt động.

Nhân thể xin nói thêm, khi bị mảnh bom xuyên thủng, những "tên lửa" này không bị hư hại nghiêm trọng. Chỉ cần sửa chữa qua loa là "tên lửa" lại như mới.

Hành quân trở về thì nhanh hơn nhiều, vì chúng tôi di chuyển không chỉ về đêm, mà cả ban ngày mà không sợ bị phát hiện. Bọn Mỹ bị choáng váng trước sự mất tích đột ngột của 4 chiếc máy bay của chúng tại khu vực mà trước đó chúng vẫn bay ngang nhiên mà không bị trừng phạt.

Sau này các đồng chí Việt Nam cho chúng tôi biết rằng ngày hôm sau bọn Mỹ đã dùng máy bay trinh sát không người lái phát hiện ra trận địa giả của chúng tôi. Chúng quyết định tiêu diệt bằng được trận địa này và chúng đã phải trả giá bằng 3 chiếc máy bay nữa. Các chiến sĩ cao xạ việt Nam đã bắn rơi 3 chiếc máy bay ấy. Hồi ấy có 23 khẩu đội pháo cao xạ 37 ly, 57 ly và 100 ly cùng 3 khẩu đội súng máy phòng không loại 4 nòng - tổng cộng là 100 nòng pháo - bảo vệ trận địa của Tiểu đoàn 61 của chúng tôi. Những khẩu đội pháo ấy đã tạo thành lưới lửa dày đặc tiêu diệt máy bay. Đối với các phi công Mỹ thì đó là cái bẫy thực sự mà những "tên lửa" bằng tre là mồi nhử.

Một trong số phi công trên những chiếc máy bay bị bắn rơi đã kịp nhảy dù và bị bắt làm tù binh. Trong cuộc hỏi cung, chính tên phi công này đã thổ lộ cảm nghĩ của y trong lần ném bom trận địa do chúng tôi để lại:

- Có điều gì đó không thể hiểu nổi đã xảy ra. Tôi cứ nghĩ rằng mình bị rơi vào trạng thái ảo giác: tôi ném bom, nhìn thấy chúng nổ bên cạnh các bãi phóng tên lửa. Nhưng những tên lửa ấy như có phép lạ, đã không bị hề hấn gì, chúng chỉ nẩy lên một cách kỳ lạ. Tôi bổ nhào lần thứ hai - vẫn kết quả như vậy. Khi tôi vừa làm xong động tác bổ nhào và vụt lên thì bị pháo cao xạ bắn trúng. Tôi đã kịp nhảy dù. Khì chạm chân xuống đất, tôi liền bị các nông dân có vũ trang vây kín. Tôi chỉ còn biết giơ tay hàng.

Sau khi hiểu ra rằng đó là trận địa giả và không phát hiện thấy những tên lửa thật ở gần đó, bọn Mỹ cứ thắc mắc không rõ từ đâu bay ra những quả tên lửa đã tiêu diệt một lúc 4 chiếc máy bay của chúng vào đêm ngày 11 rạng ngày 12-8. Chúng không hề hoài nghi đó là những quả tên lửa thực, vì sự biến mất của những chiếc máy bay của chúng đã nói lên điều đó.

Ba ngày sau đài phát thanh "Tiếng nói Hoa Kỳ" đã phát đi bản tin sau đây: "ở Bắc Việt Nam, người ta đã sử dựng loại tên lửa "đất đối không" mới của Liên Xô. Loại tên lửa này có thể được phóng đi ở ngoại ô Hà Nội để bắn hạ những máy bay hoạt động ở khu vực sát Vĩ tuyến 17".
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #34  
Cũ 30-03-2013, 10:27
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sau cuộc phục kích thắng lợi đầu tiên, tiểu đoàn của chúng tôi đã trở lại vùng ngoại ô Hà Nội và lại sẵn sàng trong tư thế trực chiến. Mấy ngày đầu máy bay Mỹ hoàn toàn không xuất hiện trên bầu trời. Sau đó bắt đầu xuất hiện các máy bay trinh sát không người lái. Chúng thường bị chúng tôi cố gắng bắn hạ chính xác, bởi vì chúng liên tục truyền thông tin về vùng chúng bay qua.

Vài ngày sau - ngày 26-8-1965 - Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà - Hồ Chí Minh đã đến thăm trận địa của chúng tôi. Người mặc bộ quần áo giản dị màu nâu sáng, chân đi dép không có bít tất. Sau khi xem xét khí tài và quan sát các thao tác chiến đấu của khẩu đội bệ phóng dưới sự điều khiển của thượng sĩ Đêlốp, Người đã chúc mừng thắng lợi đầu tiên của chúng tôi, cảm ơn sự giúp đỡ của Liên Xô trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Mỹ. Khi chia tay, Chủ tịch bắt tay từng người và phát biểu vài câu bằng tiếng Nga:

- Cảm ơn sự giúp đỡ hiệu quả của các đồng chí. Chúc các đồng chí dồi dào sức khoẻ và giành được những thắng lợi mới. Với 3 quả tên lửa mà các đồng chí đã bắn rơi 4 máy bay địch. Tôi mong các chiến sĩ cao xạ của Việt Nam hãy noi gương các đồng chí và hãy dùng 4 viên đạn để bắn rơi chí ít 1 máy bay Mỹ, - Chủ tịch kết thúc câu nói ấy với nụ cười trên môi.

Dĩ nhiên, đấy là câu nói vui của Chủ tịch. Theo con số thống kê, trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ, tính trung bình khoảng 800 viên đạn cao xạ mới bắn rơi được 1 máy bay.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.


Chuyến viếng thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến trận địa của Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 đã được các phóng viên nhiếp ảnh Việt Nam chụp ảnh và được các nhà quay phim Việt Nam ghi hình. Song, tôi không biết liệu có lưu giữ được những thước phim lịch sử ấy hay không.

Tình hình sau đó tiếp diễn như sau: bọn Mỹ tìm cách tiêu diệt các tiểu đoàn tên lửa, áp dụng mọi phương tiện kỹ thuật và những thủ đoạn chiến thuật. Còn chúng tôi thì tìm ra những mặt yếu của chúng và luôn luôn cơ động để thực hiện nhiệm vụ của mình. Không nghi ngờ gì nữa, đối với không quân Mỹ thì tên lửa Liên Xô đã trở thành kẻ thù số một, chúng đã bắt đầu thực sự săn lùng các bộ khí tài tên lửa. Để tồn tại, chúng tôi đã phải luôn luôn áp dụng chiến thuật phục kích, di chuyển trận địa sau mỗi trận đánh.

Về điều này tôi đã viết một bài thơ.

Những ký ức về Việt Nam
Năm 65 qua đã thật lâu rồi.
Thế giới đầy lo âu, không yên ắng.
Chúng tôi đi, những người con Xôviêt
Giữ bình yên cho mảnh đất hậu phương.

Trong những cánh rừng ẩm ướt Việt Nam
Ở cách xa quê hương Nga ngàn dặm,
Mũ rộng vành trên đầu che đạn giặc
Tôi nhớ về những bà mẹ yêu thương.

Chẳng dám thật lòng nói với mẹ đâu:
Cớ sao phải làm lo âu các mẹ.
Phải hết sức mình đem ra bảo vệ.
Điều chúng tôi đã học cách hiểu ra.

Ở nơi đây toàn những cánh rừng già
Khác những cánh rừng nước Nga tôi nhớ.
Vẫn tràn qua rất nhiều cơn bão lửa
Cao ngút bầu trời những cột khói đen.

Tôi đi qua số phận trên đường đêm
Những bước ngoặt nguy nan đầy trước mặt.
Những ngọn núi đá, đầm lầy, rừng rậm,
Đường hành quân, phục kích, “Bắn!”, ngụy trang.

Tiểu đoàn tôi trận địa đã sẵn sàng.
Thúc giục tôi, buổi bình minh đang đến
Tôi và anh, nào có ai hay biết
Trận đánh diễn ra sau đấy mấy giờ.

Nơi heo hút, "bãi phóng" đá mấp mô,
Nhát cuốc chim đào đường đi toé lửa.
Giá tên lửa cũng đã chèn yên vị.
Tôi chợt thèm mươi lăm phút thảnh thơi.

Nóng triền miên như trong nhà tắm hơi
Độ ẩm kinh người càng thêm ngột ngạt.
Mồ hôi mặn chảy tràn qua khoé mắt
Làm héo khô rát bỏng những làn môi.

“Còi Báo động!". Lũ quạ đen lao đến
Hòng cắn sâu vào đất nước màu xanh.
“Báo cáo! Đã sẵn sàng chờ chúng tới!"'
Anh em tôi hơn chúng mấy giây nhanh.

Khẩu lệnh "Phóng!", thời gian như dồn nén.
Phá tan bầu không khí đang tĩnh yên
Trúng mục tiêu, tên lửa lao chính xác,
Lũ ném bom trong chốc lát tan tành.

Trong chiến đấu ta nhiều lần đã thắng
Nhưng không phải trong bất cứ trận nào.
Trên mảnh đất lửa bom đang rực cháy
Nằm lại nhiều những đồng chí thân thương.

Không phải ai cũng được trở về nhà
Để sum họp với người thân xa nhớ.
Mong sao chẳng bao giờ còn thấy nữa
Cảnh chiến tranh lửa khói ở Việt Nam.


Tên lửa "Sraicơ”

Chúng tôi hoạt động khá kết quả. Vì vậy, đối với các phi công Mỹ thì khi nhận lệnh ném bom lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chẳng khác nào lĩnh bản án tử hình. Đôi khi các phi công Mỹ nhảy dù ngay khi các hệ thống thiết bị trên máy bay của chúng phát hiện tên lửa phòng không đã được phóng đi.

Để yểm trợ các máy bay tiêm kích ném bom, bọn Mỹ đã sử dụng các máy tạo nhiễu, cả hình thức tạo nhiễu tích cực và nhiễu thụ động. Hình thức nhiễu tích cực là gây lóa mắt cho các pháo thủ vận hành máy theo dõi mục tiêu bằng tay, bằng cách làm cho các màn hình của các máy XNR hoàn toàn bị trắng xoá. Các tên lửa kiểu "Sraicơ" cũng là mối nguy hiểm lớn cho chúng tôi. Khi được phóng ra khỏi máy bay, những tên lửa này cứ theo sóng phát ra từ đài điều khiển tên lửa phòng không mà lao thẳng vào trạm phát sóng. Cách duy nhất để thoát hiểm là kịp thời tắt máy phát sóng của trạm. Các chiến sĩ vận hành có kinh nghiệm ở ca bin theo dõi mục tiêu bằng tay khi thấy “chớp loé" từ mục tiêu là họ xác định được thời điểm tên lửa "Sraicơ" được phóng khỏi máy bay địch. Thế là họ quay ăng ten về phía khác và lập tức tắt máy phát sóng của ra đa bám sát mục tiêu. Bằng cách này họ hướng các tên lửa "Sraicơ" bay chệch về hướng khác.

Đáng tiếc là không phải bao giờ cũng làm động tác ấy một cách thành công, đặc biệt là khì những người ngồi sau các cần điều khiển là những chiến sĩ Việt Nam chưa có đầy đủ kinh nghiệm.

Cuối tháng 10-1965 việc thành lập Trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba của Quân đội nhân dân Việt Nam đã hoàn thành. Một bộ phận các chuyên gia quân sự Liên Xô trong tiểu đoàn tên lửa của chúng tôi đã được điều sang huấn luyện trung đoàn ấy, trong đó có cả khẩu đội bệ phóng của tôi.

Thật bịn rịn khi phải chia tay với các chàng trai Việt Nam trong Tiểu đoàn 61 thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 236 - các anh Vinh, Thành, Sơn, Tiến và Lai. Nhưng chúng tôi đang được chờ đợi tại Trung tâm huấn luyện để huấn luyện cho Trung đoàn tên lửa phòng không 261.

Công tác huấn luyện Trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba - Trung đoàn 261

Tại trung đoàn mới này, gần như mọi chuyện phải bắt đầu từ số không. Dĩ nhiên, kinh nghiệm hoạt động tại trung đoàn thứ nhất đã giúp rất nhiều, nhưng nảy sinh những khó khăn khác. Trước hết, đó là bệnh tật. Trung tâm huấn luyện sơ cấp của trung đoàn tên lửa phòng không thứ ba của Quân đội nhân dân Việt Nam đóng trong vùng rừng núi Trại Cau. Phụ trách Trung tâm huấn luyện này là đại tá C. V. Davátxki, chỉ huy của Trung đoàn 261 trong tương lai. Về phía Việt Nam, chỉ huy trung đoàn này là một sĩ quan trẻ, đã tốt nghiệp trường quân sự tại Liên Xô, Thiếu tá Nguyễn Văn Phiệt.

Chúng tôi được bố trí trong một số căn nhà gạch một tầng nối liền nhau được xây trên đồi cao. Phía bên dưới, cách chỗ chúng tôi khoảng 300 mét, có con đường sắt chạy qua. Đằng sau con đường sắt ấy, cũng trên quả đồi, là một nhà máy cơ khí nhỏ. Cách chỗ ở của chúng tôi không xa, trên một số ngọn núi đá, là trận địa của những cụm súng máy phòng không và những khẩu đội cao xạ với các cỡ nòng khác nhau.

Cách nơi ở của chúng tôi 3 kilômét, người ta xây dựng một trận địa huấn luyện của Trung đoàn tên lửa thứ ba. Trận địa này được bố trí trong những khu rừng rậm trên sườn núi. Các bệ phóng tên lửa và các cabin điều khiển dẫn đường tên lửa thì bố trí dưới những tán lá các cây to. Cùng với các vật ngụy trang đáng tin cậy, những cây to ấy đã bảo vệ chúng tôi và các khí tài chống lại ánh nắng thiêu đốt.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #35  
Cũ 30-03-2013, 10:35
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Các chiến sĩ khẩu đội bệ phóng thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 261

Theo quy định, quân số của Trung đoàn tên lửa thứ ba của Việt Nam được tuyển theo biên chế thời chiến, nghĩa là với những khẩu đội chiến đấu có số quân tăng gấp đôi. Trong các cabin điều khiển chật chội của tổ hợp tên lửa kiểu 6 “cabin điều khiển" XA-75, các khẩu đội, với quân số tăng gấp ba lần (cộng cả các chuyên gia Liên Xô) gồm các kỹ thuật viên và các trắc thủ vận hành, thì xét về thể chất, thật sự không thể ngồi được trong các cabin ấy, nhưng các chiến sĩ bệ phóng thì cảm thấy bình thường. Nhờ các khẩu đội đã tăng quân số lên gấp đôi, chúng tôi trên thực tế đã giảm được một nửa số thời gian phiên dịch.

Khẩu đội bệ phóng mà tôi có dịp thường xuyên huấn luyện có trình độ am hiểu kỹ thuật đôi phần kém hơn khẩu đội của Thành, nhưng tất cả những chàng trai ấy đều dày dạn. Giữa chúng tôi đã nhanh chóng có được mối quan hệ tốt đẹp trong công việc.

Chỉ huy khẩu đội tên là Chiến, có tính nết phần nào giống tính nết của đồng chí Sơn - một người cũng rất chăm chỉ và cẩn trọng.

Trắc thủ số 1 - Tích là một chàng trai lực lưỡng, khoan thai, lúc đầu không mấy tự tin: anh ta không hiểu rõ lắm khi nghiên cứu các sơ đồ điện, nhưng trong thao tác chiến đấu anh ấy thuộc vào số những người đi đầu.

Trắc thủ số 2 - Nin là một chàng trai thành thị có tướng mạo trí thức. Trong những giây phút nghỉ ngơi anh ta thích bàn luận về văn chương, về âm nhạc. Anh rất yêu thích nhà văn Sêkhốp. Anh Nin mơ ước một lúc nào đó sẽ sang Mátxcơva để viếng mộ nhà văn Sêkhốp. Điều thú vị là người anh của Nin tên là Lê. Nếu ghép hai cái tên này lại với nhau thì sẽ có được tên Lênin. Để tỏ lòng tôn kính vị lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười, người cha - một đảng viên cộng sản lão thành đã đặt tên ấy cho hai người con.

Trắc thủ số 3, cậu Hòa là chàng trai trẻ nhất trong số tất cả các chiến sĩ. Cách đó không lâu anh ta vừa tròn 17 tuổi ảnh ấy có thân hình gầy, cao, nhanh nhẹn. Hòa được mọi người yêu quý. Như cách nói của người đời, cậu ấy nắm bắt được mọi cái rất nhanh. Nhưng cậu ấy xem như thế còn ít, nên cậu ấy đưa ra nhiều câu hỏi hơn tất cả những người khác, cố gắng đi sâu tìm hiểu cặn kẽ tài liệu nghiên cứu, dù đó là tài liệu về cơ khí hay là về các sơ đồ điện. Hòa rất thích học nói thạo tiếng Nga và anh ta tiến bộ rất nhanh trong chuyện này. Hòa phát âm rõ những từ tiếng Nga, gần như rất chuẩn.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Các chiến sỹ bộ đội tên lửa Việt Nam và 2 chuyên gia Liên Xô

Có lúc tôi lên lớp về thao tác chiến đấu mà không có phiên dịch, vì vẫn thiếu phiên dịch. Tôi phát tất cả mọi khẩu lệnh bằng tiếng Nga và lặp lại bằng tiếng Việt. Các khẩu đội Việt Nam hiểu rất tốt những khẩu lệnh ấy. Rồi họ cũng cố gắng báo cáo đáp lại bằng tiếng Nga khi thao tác những công đoạn ấy

Một thời gian sau, khi Đại úy Xirencô trở về Liên Xô thì tại Trung tâm huấn luyện của chúng tôi không có một sĩ quan nào thuộc khẩu đội bệ phóng. Một mình tôi đã phải lên lớp cho tất cả các sĩ quan Việt Nam thuộc các khẩu đội bệ phóng của Trung đoàn, giảng về cấu tạo của bệ phóng, về loại xe TZM, cấu tạo của tên lửa cũng như về các thông số kỹ thuật và chiến thuật của chúng.

Trong buổi lên lớp đầu tiên giảng bài cho các sĩ quan khẩu đội bệ phóng thuộc Trung đoàn tên lửa phòng không 261, người phiên dịch đã giới thiệu về tôi như sau:

- Chỉ huy trung đội thuộc đại đội phóng tên lửa, trung sĩ Côlêxnhích Nicôlai.

Nhưng hình như trong buổi lên lớp thứ tư có một viên sĩ quan Việt Nam thuộc khẩu đội bệ phóng đã hỏi lại:

- Có thể đồng chí phiên dịch của chúng tôi đã nhầm khi giới thiệu đồng chí là trung sĩ. Chắc chắn đồng chí là sĩ quan, vì trên cầu vai của đồng chí có 2 ngôi sao như ở cầu vai quân hàm trung sĩ, chỉ có sự khác biệt là có vạch kim loại phía bên dưới, có đúng như vậy không ạ? - viên sĩ quan ấy bổ sung cho chính xác vì căn cứ vào các ký hiệu quân hàm của Việt Nam.

- Tại sao đồng chí nghĩ như vậy? - Tôi hỏi lại.

- Trung sĩ, ngay cả một trung sĩ Liên Xô, không thể hiểu rõ kỹ thuật và giải thích chi tiết và dễ hiểu đến như thế về cấu tạo kỹ thuật của khí tài, - anh ấy trả lời như vậy.

Tôi cố thuyết phục anh ta rằng quả thật tôi là trung sĩ. Nhưng anh Xuân, phiên dịch viên đã không dịch lại đầy đủ câu trả lời của tôi, mà chỉ nói:

- Tôi đã "sửa lại sự nhầm lẫn" và đã thăng quân hàm trung úy cho đồng chí. Như thế sẽ chuẩn hơn và sẽ tốt hơn cho quá trình huấn luyện.

Tôi đành phải đồng ý với lý lẽ của người phiên dịch. Vậy là tôi đã trở thành "trung úy” trong con mắt các đồng chí người Việt Nam.

Trước khi nhập ngũ, ở tuổi 16 tôi đã tốt nghiệp trung học phổ thông (năm 1949 ở trường sơ cấp còn thiếu nhiều học sinh, cho nên theo đề nghị của tôi, người ta đã ghi tên tôi vào lớp 1 từ lúc tôi mới 6 tuổi). Về sau tôi tốt nghiệp trung học kỹ thuật và có hai năm làm thợ mắc đường dây điện trong các tổ thang máy của các mỏ than ở vùng Đônbát. Khi còn học trên ghế nhà trường tôi đã bắt đầu tham gia câu lạc bộ yêu thích vô tuyến điện: đã từng sửa chữa các máy thu thanh dùng đèn điện tủ, đã lắp ráp được những máy thu thanh bán dẫn, máy phát sóng ngắn, sửa chữa các máy thu hình. Do đó? tôi khá am hiểu kỹ thuật - bệ phóng, tên lửa và các hệ thống điều khiển tên lửa - hiểu một cách cặn kẽ. Thời gian 9 tháng huấn luyện tại trường đào tạo hạ sĩ quan thuộc binh chủng tên lửa phòng không tại Côxtêrêvô và nửa năm phục vụ tại tiểu đoàn hỏa lực của trung đoàn đã đảm bảo cho tôi có được trình độ đào tạo đầy đủ

còn nữa

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 31-03-2013 thời gian gửi bài 08:37
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #36  
Cũ 31-03-2013, 08:46
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Hãy nhớ tới Ácsimét

Tôi còn nhớ, ngay khi mới bắt đầu đào tạo, khẩu đội của đồng chí Chiến đã xảy ra sự cố có thể gây thương tật nặng hoặc thậm chí gây tử vong cho một người nào đó.

Đó là những thao tác chiến đấu trong mục chuyển bệ phóng từ tư thế hành quân sang tư thế chiến đấu. Mọi chuyện diễn ra bình thường. Khẩu đội của đồng chí Chiến đang kết thúc việc hạ bệ phóng xuống đất và chuẩn bị đẩy khung lăn ra.

Có lẽ vì muốn chứng tỏ rằng khẩu đội của mình có khả năng thao tác độc lập, nên anh ấy đã phạm phải một sai lầm lớn. Chiến quyết định đẩy khung có bánh xe phía sau ra mà chưa đặt trụ đỡ chịu lực lớn thay vào đó. Không thể nào giữ được khung đỡ nếu không có trụ đỡ chịu lực - trọng tâm của khung đỡ ở phía cao hơn đường trục của các bánh xe, cho nên thế nào cũng sẽ xảy ra sự cố, khung đỡ tên lửa sẽ bị lật nhào. Khi lật nhào, cầu của khung đỡ sẽ đè bẹp tất cả những ai cố giữ lấy nó...

Tôi nhìn thấy cảnh tượng ấy và hiểu rằng sau một khoảnh khắc nữa có thể sẽ xảy ra sự cố không sửa chữa được tôi thét lên:

- Dừng lại? Phải giữ lấy cầu của khung đỡ? Không được cử động! -

Rồi tôi nhanh chóng đưa chiếc kích vào, rồi định vị khung đỡ có bánh xe. Sau đó tôi giải thích cho khẩu đội thấy hậu quả có thể xảy ra với "sáng kiến của họ". Trắc thủ số 3 Hòa đã bổ sung lời giải thích của tôi;

- Tôi đã nói rồi. Không có càng thì không thể tách khung đỡ ra được. Chiếc càng dài và nặng là cần thiết để dễ điều khiển và giữ được khung đỡ tên lửa. Đó là chiếc đòn bẩy để đỡ đấy. Hãy nhớ tới Ácsimét.

Trận oanh kích vào chủ nhật

Không lâu trước ngày Trung đoàn tên lửa phòng không 261 chiếm lĩnh trận địa chiến đấu, các máy bay cường kích của Mỹ đã dùng tên lửa "không đối đất" để bắn phá nơi đóng quân của chúng tôi ở khu Trại Cau.

Sự việc xảy ra vào buổi sáng của một ngày chủ nhật. Đúng lúc đó chúng tôi đang chuẩn bị lên xe để về Hà Nội. Đột nhiên trên ngọn núi đá gần đó khẩu đội pháo cao xạ 37 ly đã phát ra tiếng "ho khan"

- Khục ! Khục ! Khục ! Khục !

Hòa nhịp với những tiếng nổ ấy là những loạt đạn vội vã của các khẩu súng máy phòng không và những loạt pháo đều đều của các khẩu pháo cao xạ 57 ly. Có 2 chiếc F-105 sơn mầu xanh loang lổ vọt ra khỏi dãy núi đá phía bắc. Chúng bay ở tầm cao gần 200 mét hướng thẳng tới chúng tôi. Chúng tôi chạy tản ra chung quanh để tìm chỗ có thể ẩn nấp. Có 4 tiếng nổ mạnh của những quả tên lửa “không đối đất", gần như nổ cùng lúc, làm tung đất cách chỗ chúng tôi khoảng 120 mét. Đồng thời 2 loạt súng máy đã làm thủng các bức tường và mái ngói dãy nhà ở của chúng tôi. Mọi chuyện diễn ra chỉ trong vài giây. May thay, không ai bị hề hấn gì do những quả tên lửa ấy. Nhưng có hai anh không kịp nằm xuống nên đã bị thương nhẹ do những mảnh ngói văng vào. Song, điều đó cũng không cản trở chuyến đi được mong đợi từ lâu của họ về Hà Nội.

Trên đường đi, sau khi đã trấn tĩnh lại đôi chút, chúng tôi sôi nổi thảo luận về những chuyện vừa diễn ra và cười sặc sụa trước sự cố là đã có một người, vì quá hoảng sợ, đã nhảy ào xuống một cái hố nước, có người đã chui rất nhanh xuống gầm xe, suýt nữa đập trán vào trục các- đăng. Trục các đăng thì còn nguyên, nhưng trên trán tay "thợ lặn" ấy thì có một cái bướu to sưng vù.

Tự học

Vào chiều tối chúng tôi lần lượt đến nơi tự học. Các học viên Việt Nam ôn lại các tài liệu đã học, trên cơ sở sử dụng những bức tranh minh họa và các sơ đồ. Nếu họ có những câu hỏi thì chúng tôi lập tức giải thích về những gì còn chưa hiểu.

Buổi tự học tiếp tục đến 9 giờ tối. Sau một ngày anh em đều rất mệt và đến cuối buổi tự học thì họ ngủ gật. Đành phải cho giải lao và đôi khi động viên họ bằng các mẩu giai thoại hoặc kể vắn tắt về những trường hợp nực cười trong cuộc đời mình. Tất cả anh em lại tỉnh ngủ, đặc biệt là nếu trong câu chuyện kể có nói đến các cô gái hoặc về một sự cố nực cười nào đó.

Đến thời điểm ấy một bộ phận chuyên gia Liên Xô trong Trung tâm huấn luyện của chúng tôi đã trở về nước.

Ít lâu sau xe lửa đã chuyển khí tài đến. Chúng tôi tháo dỡ vào ban đêm. Tất cả các chuyên gia quân sự Liên Xô đã tham gia vào công việc tháo dỡ. Cần hoàn thành công việc này trước lúc trời sáng và phải kịp giấu khí tài vào các hầm trú ẩn.

Thời tiết lúc ấy tồi tệ khủng khiếp và lạnh một cách hiếm thấy: mưa lất phất kèm theo gió bấc, với nhiệt độ khoảng +10 độ C. Sau một giờ toàn bộ quần áo ướt sũng, nhưng công việc vẫn tiếp tục. Chúng tôi làm việc nhịp nhàng. Mặc dù có mưa và gió, nhưng quần áo của chúng tôi vẫn bốc hơi, người nóng lên do làm việc.
Đến lúc.trời sáng mọi việc đã xong: tiểu đoàn di chuyển thành một đoàn dài gần 1 kilômét trong cuộc hành quân đầu tiên của mình.

Ngay trước lúc tiểu đoàn chúng tôi tới trận địa chiến đấu lại có thêm lực lượng bổ sung: đó là Đại úy Épghênhi Ivanôvích Bôgun, chỉ huy khẩu đội bệ phóng và viên trung úy trẻ (rất tiếc là tôi quên họ tên của người này) chỉ huy trung đội bệ phóng. Họ mới bay từ Liên Xô sang Việt Nam.

Trong nhũng ngày đầu tiên, do chưa nắm vững hoàn cảnh và những đặc điểm trong quan hệ ở nhóm chuyên gia quân sự Liên Xô thuộc Trung đoàn chúng tôi, cho nên họ định thiết lập một trật tự thường thấy ở các đơn vị phòng không tĩnh tại đóng ở Liên Xô. Dĩ nhiên, tất cả các quân nhân phục vụ theo thời hạn nghĩa vụ quân sự đã kịch liệt phản đối, nhưng không xảy ra xung đột. Có đôi lần chúng tôi xếp hàng đi đến nhà ăn. Trong bữa trưa còi báo động đã rú lên:

- Báo động chiến đấu

Tất cả mọi người đã lập tức bỏ bát đũa, lao nhanh đến các bệ phóng và các ca bin điều khiển. Bữa trưa đã kéo dài thêm 40 phút. Khi quay trở lại nhà ăn chúng tôi cùng đi với nhau và sôi nổi thảo luận tình hình bầu trời. Tại Việt Nam chúng tôi không đi theo đội hình nữa.

Trong hoàn cảnh chiến đấu các tiêu chí và những sự đánh giá về kỷ luật quân đội, nhất là về tinh thần trách nhiệm và mức độ đoàn kết của đơn vị lại mang những sắc thái hoàn toàn khác, không có tính chất hình thức. Một đội quân hùng mạnh là nhờ ở tài điều binh của các vị chỉ huy và nhờ tinh thần dũng cảm, anh dũng và kiên cường của binh lính. Không phải ngẫu nhiên mà Nguyên soái Giucốp đã nói rằng đối với một vị tướng thì lời khen ngợi cao nhất là khi binh sĩ nói về vị tướng ấy rằng: "... đó là vị tướng biết chiến đấu, là một người lính đích thực".

Khi làm chủ một thứ vũ khi tập thể như tổ hợp tên lửa phòng không X-75 thì mỗi người chúng tôi tuân theo nguyên tắc:

Mỗi người vì mọi người, và mọi người vì mỗi người". Mỗi người đều có vai trò quyết định thắng lợi như nhau. Nếu anh là một người đàn ông đích thực thì anh phải làm tất cả để không làm hại đến các đồng chí của mình.

“Mình có thể chết nhưng phải cứu người đồng chí" - đó không đơn giản là một câu nói. Bạn chiến đấu là những người bạn trung thành nhất và đáng tin cậy nhất.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #37  
Cũ 31-03-2013, 08:54
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Bệnh tật

Do sống trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt và do luôn phải chịu sức ép, cho nên cơ thể nhanh chóng bị suy yếu. Và bệnh tật đã đến rất nhanh. Những loại bệnh quấy rầy chúng tôi nhiều nhất là những bệnh ngoài da: khắp người nổi lên các nốt phát ban và nấm xuất hiện ở chân. Một số anh em bị phát ban và nấm chân rất nặng. Họ hầu như không đi lại được do nổi các nốt ban rất dầy ở vùng bẹn và háng, ở trên da phía dưới mông, ở nách. Các nốt ban ấy nhanh chóng chuyển thành mụn nhọt khó lành. Nấm chân cũng hoành hành dữ dội. Những bàn chân bị nấm ăn khủng khiếp, chẳng còn chỗ nào lành lặn. Cái chính là không có loại thuốc đặc hiệu nào để chống căn bệnh này.

Điều khó chịu nhất là trong anh em chúng tôi đã xuất hiện bệnh kiết lỵ. Nguyên nhân là do sống và sinh hoạt trong những điều kiện dã chiến. Bạn thử hình dung xem: làm sao mà tránh được bệnh kiết lỵ khi mà có những lúc còi báo động làm bữa trưa của chúng tôi bị gián đoạn đến 2-3 lần, trong khi đó những con ruồi bay khắp nơi tha hồ oanh tạc bữa trưa của chúng tôi.

Sau khi xuất hiện những ca bệnh kiết lỵ đầu tiên, bác sĩ của đơn vị đã tuyệt đối cấm chúng tôi dùng thức ăn bị bỏ dở chừng dù chỉ một thời gian ngắn. Biện pháp này và một số cách phòng ngừa khác đã khống chế sự lan truyền của bệnh kiết lỵ. Tuy nhiên, đã có một số người trong đó có tôi, đã phải vào bệnh viện vì bị chẩn đoán nhiễm "trực khuẩn kiết lỵ".

Thật may mắn, mọi chuyện đã qua đi. Sau 17 ngày tôi đã lại về với trung đoàn.

Trở về nhà

Tháng 3-1966 đã đến. Thật bất ngờ đối với nhóm chúng tôi khi được rút khỏi danh sách trực chiến và được đưa về Hà Nội: chúng tôi được lệnh trở về Liên Xô. Bộ trưởng Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tổ chức tiễn đưa các chuyên gia quân sự Liên Xô trở về nước. Tại buổi lễ chia tay này chúng tôi đã được tặng Huy chương Hữu nghị của Việt Nam, bằng tuyên dương do Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng ký, cũng như quà lưu niệm. Đã đến lúc được trở về nhà.

Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Côlêxnhik Nhicôlai Nhicôlaiêvich và phó thủ tướng nước VNDCCH Nguyễn Duy Trinh (ảnh chụp năm 1966)

Ngay cả trước lúc máy bay cất cánh, tôi vẫn không tin rằng đối với tôi đã kết thúc tất cả cảnh địa ngục với những máy bay Mỹ ngày nào cũng mang trong bụng chúng đầy bom đạn và trút sự chết chóc xuống đầu dân chúng các thành phố và làng mạc Việt Nam.

Cuộc chia tay thật buồn. Nỗi buồn đã đến với những ai đã kết thúc chuyến công tác, đặc biệt với những ai còn ở lại. Những người ở lại là các đồng chí Vôlôđia Ilin, Xlava Philin, Víchto Cubusép, Đại úy E. I. Bôgun, viên Trung úy trợ lý của đồng chí ấy và tất cả những người đến Việt Nam hồi tháng 12. Chúng tôi hiểu rằng sẽ hầu như không bao giờ còn gặp lại nhau nữa. Ai mà biết được, có thể ngày mai đây trong số những người ở lại sẽ có người hy sinh? Chúng tôi không muốn nghĩ đến điều đó, nhưng chúng tôi đã không thể quên đi điều đó: chiến tranh vẫn là chiến tranh.

Đưa tiễn chúng tôi có đại diện của các trung đoàn tên lửa phòng không số 1 và số 3. Trong số các đại diện ấy có cả đồng chí Thành. Tôi nóng ruột hỏi đồng chí ấy về tình hình trong Tiểu đoàn 61, tình hình anh em ở đó ra sao, tất cả vẫn còn sống chứ? Đồng chí Thành trấn an tôi:

- Mọi cái vẫn bình thường đồng chí Nicôlai ạ. Hôm nay đã bắn hạ chiếc máy bay thứ 15. Mọi người vẫn còn sống và mạnh khoẻ. Chúng tôi vẫn luôn nhớ đến đồng chí đấy. Tất cả mọi người gửi lời thăm hỏi và chúc tất cả các đồng chí lên đường may mắn. Giờ đây đồng chí Tiến là chỉ huy khẩu đội, tôi được bổ nhiệm chỉ huy Trung đội 3, còn đồng chí Vinh đã trở thành chỉ huy phó của khẩu đội.

- Đồng chí Thành, xin chúc mừng! Giỏi lắm! Cứ giữ vững như thế nhé?

- Tình hình gia đình thế nào hả đống chí Nicôlai? Có nhận được thư của mẹ không?

- Mọi chuyện đều ổn. Tôi vừa nhận được thư. Mọi cái đều tốt đẹp cám ơn đồng chí Thành.

Để kỷ niệm, đồng chí Thành tặng tôi tấm ảnh của mình, có ghi địa chỉ nhà ở Hà Nội:

- Đồng chí Nicôlai ạ, đây là địa chỉ của bà cô tôi. Cô tôi sống ở Hà Nội. Nhưng anh biết đấy, nhà tôi ở Sài Gòn. Sau ngày chúng tôi giành thắng lợi nhất định mời đồng chí đến thăm tôi ở Sài Gòn nhé. Sài Gòn là thành phố rất đẹp.

Anh ấy mỉm cười nói thêm:

- Con gái Sài Gòn đẹp lắm. Hãy đến nhé.

Lần cuối cùng chúng tôi xiết chặt tay nhau và ôm ba lần theo kiểu Nga. Anh Thành còn muốn nói thêm điều gì đó nữa nhưng đã nở nụ cười buồn rầu, rồi lặng lẽ nhìn sang phía khác.

Tôi bước chậm về phía xe buýt. Đó là những bước đi lần cuối trên mảnh đất Việt Nam đã trở nên thân thương.

Chiếc xe chuyển bánh. Đồng chí Thành nhìn theo tôi với đôi mắt ướt lệ và vẫy tay hồi lâu. Tôi cũng nghẹn ngào không nói nên lời.

- Tạm biệt tất cả mọi người. Việt Nam ơi? Người sẽ mãi trong trái tim tôi.


Tháng Sáu 1968

Thay đổi nội dung bởi: Mien trung, 31-03-2013 thời gian gửi bài 09:07
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #38  
Cũ 31-03-2013, 09:05
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

3.RÔXLIACÔVA LIUBỐP IVANỐPNA

Bà sinh ngày 23-6-1939 tại thành phô Sácgiâu thuộc Tuốcmênia.

Năm 1956 bà tốt nghiệp phổ thông ở tỉnh Tam bốp, sau đó bà đã học 2 khóa học của khoa lịch sử Trường Đại học tổng hợp quốc gia Mátxcơva. Bà làm việc tại Viện Hàn lâm không quân mang tên Giucốp ở Mátxcơva.

Từ tháng 3-1967 đến tháng 7-1968 bà phục vụ trong Quân đội Liên Xô, công tác tại Văn phòng Tham mưu trưởng - Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam.

Từ năm 1971 đến nay bà là chuyên viên cao cấp tại Viện Lịch sử quân sự thuộc Bộ Quốc phòng Liên bang Nga.


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Rôxliacôva Liubôp Ivanôvna khi ở Việt Nam

Bà được tặng thưởng các Huy chương: Lao động vẻ vang, Lao động xuất sắc, Lao động lão thành, 100 năm nguyên soái Giucốp, 200 năm Bộ Quốc phòng nước Nga và Huy chương Hữu nghị của Việt Nam.


NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Cuối năm 1966 tôi được triệu tập đến Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu Bộ Quốc phòng Liên Xô và nhận được lời đề nghị sang công tác tại ban tham mưu của Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam.

Tôi chỉ biết về đất nước Việt Nam qua các sách giáo khoa cũng như qua các phóng sự truyền hình về cuộc chiến tranh tàn khốc trên đất nước ấy, nỗi đau và những nỗi khổ cực của nhân dân Việt Nam. Thật khủng khiếp khi nhìn thấy cảnh địa ngục mà bọn Mỹ đã bắt nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình phải gánh chịu. Tưởng chừng tôi phải nêu câu hỏi: liệu tôi có cần đi đến đất nước ấy không, để làm việc trong hoàn cảnh vô cùng gian khổ? Nhưng tôi đã không nêu ra câu hỏi ấy, vì tôi muốn có một sự giúp đỡ nào đó dành cho nhân dân Việt Nam đánh trả cuộc xâm lược của Mỹ. Nếu ban lãnh đạo Liên Xô đã quyết định gửi đến đất nước ấy các chuyên gia quân sự để giúp Quân đội nhân dân Việt Nam đang chiến đấu thì điều đó là cần thiết, tức là một giọt sức lao động của tôi sẽ được rót vào công cuộc giúp đỡ chung dành cho Việt Nam. Tất cả chỉ có vậy. Vấn đề đã được giải quyết, tôi đã đồng ý.

Không một ai, kể cả gia đình tôi được biết việc tôi được cử sang công tác tại Việt Nam. Tại Đảng ủy của Bộ Thương mại - nơi hồi ấy tôi đang làm việc và là cơ quan cấp giấy nhận xét xuất cảnh cho tôi - người ta rất bất bình vì tôi không nêu tên đất nước tôi sắp tới công tác. Người ta khăng khăng đòi hỏi tôi phải nêu tên đất nước tôi sẽ đến. Người ta bảo rằng có thể tôi đang sửa soạn sang Mỹ.

Sáng hôm sau tôi đành phải báo cáo chuyện này lên Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu cho Đại tá A. A. Alếchxêép. Cuối ngày hôm ấy một ủy viên trong Đảng ủy của Bộ đã đem đến cho tôi giấy giới thiệu đã được phê chuẩn, không ghi tên nước đến công tác, ngoài ra vị này còn xin lỗi về sự thiếu tế nhị xảy ra hôm trước.

Vào cuối tháng 3-1967 tôi ở trong Đoàn chuyên gia quân sự xuất phát từ sân bay quân sự Sơcalốp bay đến nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao cho - theo cách nói tại Tổng cục 10 Bộ Tổng tham mưu.

Chúng tôi đáp máy bay đến Việt Nam vào đêm khuya, chung quanh đều im lặng. Khi vừa từ máy bay bước ra tôi lấy làm kinh ngạc trước cảnh tối như mực, không khí ngột ngạt, nóng bức và nồng nồng. Những người đến đón chúng tôi là các quân nhân Việt Nam và các đại diện ban chỉ huy của phía Liên Xô. Trong số các chuyên gia quân sự đã tới Việt Nam thì ngoài tôi ra không có phụ nữ nào cả. Từ sân bay người ta chở chúng tôi tới khách sạn ở khu Kim Liên. Người ta chuyển những chiếc vali của tôi vào phòng khách sạn và bảo rằng sẽ có người đến đưa tôi đến nơi nhận cộng tác.

Khi còn lại một mình tôi mới ngắm nghía căn phòng mà tôi sẽ phải sống trong một thời gian. Mọi cái đều rất thích, chỉ có một thứ mà tôi không rõ mục đích sử dụng: đó là một tấm vải màn được chằng cột vào những que kim loại ở phía đầu giường. Nhưng vì tôi phải nhanh chóng đến nơi làm việc, cho nên không có thời gian suy nghĩ về chuyện này và tôi đã ngủ thiếp đi. Nhưng đến khi thức dậy và soi vào gương thì tôi không nhận ra mình nữa, vì bị muỗi đốt khắp người. Đến lúc đó tôi đã hiểu chiếc màn cuộn ở phía trên giường là dùng vào việc gì: để khỏi bị muỗi đốt.

Vào 7 giờ sáng người ta chở tôi đến nơi làm việc (ngày làm việc bắt đầu từ 7 giờ sáng). Từ 12 giờ đến 13 giờ là giờ ăn trưa, sau đó nghỉ đến 17 giờ, sau 17 giờ lại làm việc tới khuya hoặc đến sáng. Sau bữa ăn trưa nhất thiết phải nghỉ ngơi, vì không khí nóng nực gây mệt mỏi và độ ẩm đạt đến 99%. Cả ngày lẫn đêm nhiệt độ và độ ẩm đều giống nhau, không có chút mát mẻ nào. Thời gian nghỉ ngơi sau bữa ăn trưa có tác dụng lấy lại sức lực đôi chút.

Tôi bắt đầu làm việc ngày đầu tiên trong phòng làm việc của Trưởng Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam - đó là Thiếu tướng Grigôri Anđrêêvích Bêlốp. Khi người ta giới thiệu tôi với đồng chí ấy, sau khi nhìn thấy trên khuôn mặt tôi những nốt muỗi cắn chi chít, đồng chí đã tỏ ra rất hốt hoảng và bực tức trước việc người ta đã không báo trước cho tôi biết tính chất nguy hiểm của những vết muỗi đốt ấy và không bảo cho tôi phải nằm màn khi ngủ để khỏi bị muỗi đốt.

Trong cuộc trao đổi với tôi, đồng chí Grigôri Anđrêêvích đã báo trước rằng công việc sẽ bận rộn và phải thực hiện những công việc ấy một cách có chất lượng, nhanh chóng, không kể giờ giấc, bởi vì mỗi tháng có 2 lần thông tin được gửi về Mátxcơva theo đường bưu điện ngoại giao. Để kịp thời chuẩn bị và lập thủ tục mọi giấy tờ tài liệu gửi Bộ Tổng tham mưu cho kịp chuyến bưu điện thường kỳ thì đôi khi tôi phải làm việc suốt từ sáng hôm trước đến tận sáng ngày hôm sau.

Khi sống ở Việt Nam tất cả chúng tôi rất mong chờ những chuyến bưu điện ngoại giao. Đối với chúng tôi ngày nhận bưu phẩm luôn luôn là ngày hội, bởi vì vào những ngày ấy chúng tôi nhận được thư nhà. Không có hình thức liên lạc nào khác với gia đình, với người thân.

Có rất nhiều thư từ gửi cho tất cả các chuyên gia Liên Xô: đôi khi chúng tôi tiếp nhận đến mấy bọc to những thư từ ấy.
Sau một thời gian người ta chuyển chỗ ở của tôi đến một ngôi nhà đã có 4 người đang ở - đó là các cán bộ của Sứ quán. Tất cả chúng tôi sống với nhau rất hòa thuận, giúp đỡ nhau theo khả năng của mình. Nếu có trường hợp nhận được bánh mì đen hoặc cá trích muối thì chúng tôi cũng chia đều cho nhau những thức ăn ưa thích đó và ngày hôm ấy cũng là ngày hội đối với chúng tôi.

Khoảng đầu tháng Tư, lần đầu tiên tôi được nghe thấy còi báo động, mà vẫn chưa hay biết đó là cái gì. Sau đấy từ loa phóng thanh vọng ra những câu như: "Có máy bay Mỹ!" Có máy bay Mỹ!" hóa ra đó là báo động có máy bay Mỹ, còn phát thanh viên thì thông báo máy bay Mỹ đang đến gần, cần vào hầm trú ẩn tránh bom. Trong mỗi sân nhà và trên mỗi đường phố đều có những hầm trú ẩn như vậy. Thuật ngữ "hầm tránh bom" ở đây chưa đúng nghĩa lắm. Trên thực tế đây là cái hố có nắp đậy, sâu khoảng 1 mét rưỡi và đường kính rộng khoảng nửa mét. Chiếc hầm như vậy chỉ vừa chỗ cho khổ người Việt Nam.

Tôi chưa kịp hoàn hồn thì trận oanh tạc đã bắt đầu. Thế là tôi đành phải nhảy xuống một chiếc hầm như vậy. Tôi bắt đầu đậy nắp hầm nhưng không thể đậy được nếu không có sự huấn luyện. Nhưng khi tôi tìm cách đẩy cái nắp hầm gần hơn về phía mình thì mới thấy chiếc hầm quá nông đối với tôi, cho nên đầu tôi thò ra bên trên hầm và không được bảo vệ. Sau khi hiểu ra rằng chiếc hầm sẽ không cứu được tôi, tôi đã chật vật trèo ra khỏi chiếc hầm ấy và chạy ngược trở lại vào nhà. Tại đó cảm thấy yên tâm hơn. Sau trận oanh tạc tôi lại đến nơi làm việc.

Hà Nội bị oanh tạc ban ngày, với khoảng thời gian ngừng ném bom vào giờ ăn trưa, sau giờ nghỉ trưa - đến chiều và đêm thì máy bay lại oanh kích dữ dội. Hàng ngày các phi công Mỹ thực hiện đến 30-40 lần xuất kích. Vào những ngày như vậy cảm thấy rất gian khổ, đặc biệt vào ban đêm. Khi có tín hiệu báo động, tôi và những bạn hàng xóm chồm dậy khỏi chăn, với y phục như lúc ngủ, đứng trong khung cửa lối ra vào phòng ở của mình. Đôi khi những khung cửa ra vào phòng ngủ vẫn còn nguyên vẹn, không bị tường và trần nhà đổ đè vào, cứu thoát được nhiều người. Trong giờ làm việc, khi xảy ra ném bom, tất cả chúng tôi cũng đứng trong các khung cửa phòng, và có rất đông người đứng dưới khung cửa như vậy, khiến cho nhìn từ bên ngoài vào có cảm tưởng là cửa bị lèn chặt.

còn nữa
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #39  
Cũ 01-04-2013, 14:34
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Mỗi khi diễn ra trận ném bom, cảm giác thật khủng khiếp. Tôi cảm thấy chỉ một mình tôi thấy sợ hãi. Có một lần tôi khắc phục sự rụt rè và hỏi đồng chí Thiếu tướng Vlađimia Pêtơrôvích Xensencô, Anh hùng Liên Xô và đã từng tham gia cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, rằng có khi nào đồng chí ấy cảm thấy khiếp sợ không. Đồng chí ấy trả lời rằng có cảm thấy khiếp sợ và thậm chí còn rất khiếp sợ. Chỉ có ai đã chết mới không sợ chết, còn người sống thì luôn luôn sợ chết. Điều đó là tự nhiên.

Sau đấy, ông còn nói rằng trong Chiến tranh vệ quốc vĩ đại của Liên Xô, khi diễn ra cuộc oanh tạc có thể nấp, chẳng hạn ở góc nhà, trong bụi cây, chạy vào rừng v.v., còn trong cuộc chiến tranh này (tức là cuộc chiến tranh ở Việt Nam) bom trút từ trên không xuống dầy đặc cho nên không nấp hoặc trốn chạy vào đâu được. Bom, và nhất là bom bi, đều gây thương vong cho người ở trong nhà, trong rừng, tóm lại, ở khắp mọi nơi. Con người không có gì và không có nơi nào để tự bảo vệ mình. Do vậy, tại nơi này, xét về phương diện tâm lý, có cảm giác gian khó hơn nhiều.

Những cuộc ném bom dữ dội diễn ra đặc biệt vào tháng 5-1967 vì gần đến ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Và thế là ngày ấy đã đến, ngày 19 tháng Năm. Máy bay Mỹ bắn phá từ sáng, tôi vất vả lắm mới tới được Sứ quán, đi trên đường thật là sợ hãi, đất rung chuyển, từ trên cao tới tấp rơi xuống những mảnh đạn cao xạ. Nhưng tôi luôn luôn đội trên đầu chiếc mũ sắt mà tôi được tặng vào ngày 8-3 và không rời nó cả ngày lẫn đêm. Trên đường đi đến nơi làm việc tôi cũng đội mũ sắt. Máy bay liên tục ném bom cho đến giờ ăn trưa, sau đó như mọi khi, chúng nghỉ giải lao. Thế là chúng tôi kịp ăn trưa tại nhà ăn, nhưng rồi sau giờ nghỉ trưa lại bắt đầu những gì mà tưởng như đã đến ngày tận thế.

Sau đó một lúc chúng tôi ngó ra ngoài đường và nhìn thấy ở trên bầu trời, cách ngôi nhà của chúng tôi không xa, một chiếc máy bay Mỹ bốc cháy đang từ từ rơi xuống. Chiếc máy bay ấy có thể đâm vào đâu thì không ai biết: rơi vào ngôi nhà chúng tôi hay là rơi vào ngôi nhà bên cạnh. Tưởng chừng chiếc máy bay ấy rơi thẳng xuống đầu chúng tôi. Chúng tôi nhìn lên bầu trời và bắt đầu vĩnh biệt cuộc đời. Chỉ một giây nữa là chúng tôi có thể sẽ không còn nữa nếu chiếc máy bay ấy nổ tung. Không chỉ đối với chúng tôi đang sống trong ngôi nhà ấy, mà còn đối với tất cả ở chung quanh nếu máy bay rơi xuống cùng với cái bụng đầy bom.

Chiếc máy bay ấy cứ rơi thấp dần, lao về phía ngôi nhà chúng tôi ở và Câu lạc bộ quốc tế, mà ở phía sau Câu lạc bộ là Sứ quán Liên Xô. Chúng tôi nín thở và nhìn về phía có một tiếng nổ mạnh khủng khiếp đến nỗi trong vài giây tôi đã không còn nghe được gì nữa. Sau khi trấn tĩnh, tất cả chúng tôi đều chạy đến chỗ đang bốc lên ngọn lửa cháy dữ dội. Khi chạy tới nơi, chúng tôi nhìn thấy máy bay rơi xuống đường phố ngay cạnh tường rào của Sứ quán Liên Xô, cắm sâu xuống đất, bên trên chỉ còn nhìn thấy những chiếc cánh của nó.

May mắn là nó không rơi thẳng vào Sứ quán và khoang chứa bom cũng đã cạn. Nhưng trong các bình nhiên liệu của nó lại có kêraxin (xăng nhẹ), do vậy loại nhiên liệu này bốc cháy. Nhưng điều đó không còn khiến người ta sợ hãi nữa. Sức ép đã làm cho trần nhà bong ra và kính trong một số phòng của Sứ quán văng ra ngoài. May mắn là không có thương vong.

Chúng tôi chưa kịp trấn tĩnh thì địch lại ném bom và có tin đồn rằng thế nào máy bay Mỹ cũng sẽ ném bom phá hủy đê.
Một lúc sau Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, Thiếu tướng G. A. Bêlốp đến gặp tôi và ra lệnh xuống hầm tránh bom ở cách Sứ quán không xa, trong khuôn viên Cơ quan đại diện thương mại Liên Xô. Tôi đã nhanh chóng chạy tới đó, lần đầu tiên tôi trông thấy một căn hầm tránh bom thật sự và liền chui xuống đó. Ở trong hầm tránh bom đã có nhiều người rồi. Chúng tôi ngồi ở dưới đó rất lâu ở phía trên nghe thấy tiếng nổ lớn làm rung chuyển trần nhà, tường nhà, mặt đất và tất cả mọi vật chung quanh. Sau đó mọi cái dần dần lắng xuống. Có ai đó bạo dạn quyết định ló mặt ra ngoài phố. Sau đó anh ta trở vào hầm trú ẩn và vui mừng báo tin rằng đã bắt đầu trận mưa rào rất to và có thể sẽ bớt những cuộc oanh tạc, bởi vì khi bầu trời nhiều mây thì tầm nhìn sẽ giảm. Quả thật vậy, máy bay Mỹ nhanh chóng bay đi theo hướng chúng đã xuất phát, nghĩa là bay về hướng vịnh Bắc Bộ, trở về các tầu sân bay.

Chúng tôi rất đỗi vui mừng vì cơn mưa này. Kể từ ngày ấy bắt đầu có những cơn mưa kéo dài, còn chúng tôi ước những cơn mưa ấy không bao giờ chấm dứt.

Chúng tôi sống ở Việt Nam trong điều kiện có những trận bom dữ dội, sự nóng bức không thể chịu nổi và độ ẩm cao, tựa hồ như suốt cả ngày chúng tôi ngồi trong buồng tắm hơi. Ngay cả những chiếc ghế đá đặt ngoài đường phố cũng ướt vì hơi nước đọng lại. Trên người chúng tôi quần áo lúc nào cũng ướt sũng, chứ không chỉ bị ẩm, dính chặt vào lưng vì mồ hôi. Còn mồ hôi thì chảy dọc theo sống lưng và theo các ngón tay rồi nhỏ xuống đất. Trên những ngón tay thường xuyên có những giọt mồ hôi. Mồ hôi làm cho da xót bị cháy rát, như thể đụng phải lá han.

Ngoài tất cả những điều đó ra lại còn những vết muỗi đốt, những con dĩn. Số lượng chúng nhiều vô kể, bay thành từng đàn. Tất cả những chỗ nào không có quần áo che đậy đều bị muỗi cắn khắp lượt. Đặc biệt vì lý do nào không rõ chúng rất thích đốt vào bàn chân phụ nữ. Chúng tôi không có các loại kem bôi chống muỗi - khi còn ở Mátxcơva không có ai cho chúng tôi biết về chuyện này. Đôi khi các đồng chí làm công tác địa chất có chia sẻ với chúng tôi loại kem bôi "Taiga" có tác dụng khoảng 2 giờ.


Sau cuộc trò chuyện ấy, tôi cảm thấy dễ chịu hơn, như trút được tảng đá đang đè nặng người mình. Tôi hiểu ra rằng tôi thấy khiếp sợ không phải vì tôi yếu đuối và là phụ nữ. Hóa ra, ai ai cũng thấy sợ hãi, ngay cả nam giới.

Những đêm không ngủ đã gây ảnh hưởng, đặc biệt sau những trận oanh tạc kéo dài: chẳng muốn uống, cũng chẳng muốn ăn, khi ngồi làm việc thì đôi mắt cứ díp lại vì thiếu ngủ, khi ấy tôi chỉ muốn ngủ, dù chỉ một giờ, nhưng phải làm việc. Không ai cho phép chúng tôi ngừng làm việc vì các trận oanh tạc. Có cả những trận bom phá và bom bi. Tôi nhớ rất kỹ ấn tượng về bom bi.

Vào một ngày mùa hè đã diễn ra một cuộc ném bom như vậy, khiến giờ đây nhớ lại tôi vẫn còn cảm thấy hãi hùng. Một quả bom bi rơi vào góc ngôi nhà là chỗ ở của các cán bộ thuộc Văn phòng tùy viên quân sự của Liên Xô. Hình như ngôi nhà ấy có ba tầng. Toàn bộ một góc nhà bị phá sập, chỉ còn lại một cái hố sâu, còn toàn bộ bức tường của ngôi nhà thì bị bom bi găm vào lỗ chỗ. Những ngôi nhà bên cạnh và nằm đối diện cũng bị hư hại. May mắn thay, lúc ấy mọi người đều ở nơi làm việc, cho nên không có ai bị chết.

Sau trận bom, chúng tôi đã bước vào một căn phòng của ngôi nhà nằm bên cạnh (trong ngôi nhà này có bố trí trạm y tế của chúng tôi) và nhìn thấy những lỗ bom bi chi chít trên các bức tường có lẽ dày khoảng 40 centimét. Các viên bi vương vãi trên giường, trên bàn và trên sàn nhà. Phía đối diện là những ngôi nhà của các đại diện ngoại giao và ngôi nhà của tôi. Tôi chợt nghĩ: "Không biết giờ đây căn phòng của tôi ra sao?". Khi bước vào căn phòng ấy tôi nhìn thấy cảnh tượng thế này: máy điều hòa bật ra khỏi tường và văng ra ngoài đường cách xa 3 mét, tủ lạnh thì lăn lóc ở cuối phòng, cạnh bức tường đối diện, các khung cửa vỡ nát với những mảnh kính nằm vung vãi trên sàn, các cánh cửa cũng vậy. Không thể nào bình thản nhìn cảnh tượng này. Vậy mà thời gian của chuyến công tác biệt phái chỉ mới bắt đầu...

Một thời gian sau có tin đồn bọn Mỹ rải truyền đơn trong đó nói đến những cuộc ném bom hủy diệt thành phố Hà Nội, sau đấy chúng sẽ phá đê sông Hồng để nhấn chìm tất cả dân cư và mọi thứ. Những việc đó sẽ diễn ra nhanh chóng đến nỗi chúng tôi sẽ không kịp rút chạy đi đâu cả. Tôi đã hình dung ra cảnh bị chìm ngập dưới nước.

Tôi không biết bơi, vì vậy tôi đã ngắm nghía một cây cao có những bông hoa đỏ mọc cạnh ngôi nhà tôi ở và một cành cây to trên ấy, để khi cần sẽ trèo lên, dĩ nhiên là nếu tôi còn kịp làm việc đó. Tôi nghĩ, việc làm ấy sẽ không cứu được tôi nhưng tôi chuẩn bị cho mình về mặt tâm lý để sẵn sàng cho "lối thoát" ấy. May thay, điều đó đã không xảy ra. Máy bay Mỹ ném bom cả ngày lẫn đêm nhưng các chiến sĩ tên lửa Việt Nam với sự giúp đỡ của các chuyên gia quân sự Liên Xô, đã không để cho bọn Mỹ ném bom phá sập đê sông Hồng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
  #40  
Cũ 01-04-2013, 14:44
Mien trung Mien trung is offline
Cá Vobla - Вобла сушеная
 
Tham gia: Mar 2011
Đến từ: Đà Nẵng
Bài viết: 292
Cảm ơn: 278
Được cảm ơn 598 lần trong 230 bài đăng
Default

Sau những trận bom kéo dài làm cho tôi không thiết ăn uống, độ ẩm cao, tình trạng nhiều mồ hôi và những vết muỗi đốt đã khiến tôi cảm thấy tim bị đau, hệ thống tiêu hóa hoạt động kém, các mu ngón tay thì sưng tấy lên. Các bác sĩ quân y Ivanốp Alếchxây Ivanôvích và Pêrêguđốp Ivan Ghêóocghiêvích (nay đã qua đời) đã khẩn khoản khuyên tôi trở về Mátxcơva để tình hình sức khoẻ không xấu thêm. Tôi đã từ chối việc trở về Mátxcơva với lý do là: Tôi sẽ nói gì ở Mátxcơva? Có phải vì tôi không đảm đương nổi nhiệm vụ? Tôi không thể chấp nhận điều đó, dù họ thuyết phục tôi như thế nào cũng mặc.

Tôi đã đồng ý mọi phương pháp điều trị mà họ đề xuất. Người ta bắt đầu tiêm cho tôi, cho uống các loại thuốc viên, bôi kem và băng lại những ngón tay bị sưng tấy. Tôi cảm thấy dễ chịu hơn, nhưng tôi vẫn không tháo băng trong một thời gian dài. Vì vậy một số người khi chào tôi, không dám bắt tay nữa vì tưởng rằng tôi bị bệnh truyền nhiễm gì đó. Để xua tan điều nghi ngại ấy, đôi khi tôi đã phải tháo băng ra, để lộ những ngón tay sưng vù. Tôi rất biết ơn các bác sĩ A. I. Ivanốp và I. G. Pêrêguđốp. Họ đã làm tất cả những gì có thể để tôi có thể hoàn thành tốt nghĩa vụ quốc tế, nhờ đó mà tôi đã được Chính phủ Liên Xô tặng Huy chương Lao động vẻ vang. Trong suốt thời gian chiến tranh ở Việt Nam tôi là phụ nữ duy nhất trong Đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô được Chính phủ khen thưởng.

Vào các ngày lễ chúng tôi nhận được những lời chúc mừng của Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô: nhân ngày Quân đội Xôviết, 23-2-1968, chúng tôi được ông tặng quà, còn vào ngày 8-3 thì tôi nhận được bức thiệp chúc mừng của Anh hùng Liên Xô Alếcxây Pêtơrôvích Marêxiép. Đối với tôi đó là niềm vui lớn, vì chúng tôi được giáo dục qua những cuốn sách kể về các anh hùng của chiến tranh. Cuốn sách kể về người phi công huyền thoại ấy - "Một người chân chính" của nhà văn Bôrít Pôlêvôi là một trong số những cuốn sách tôi yêu thích nhất.

Mỗi năm hai lần người ta chở hoa quả đến cho chúng tôi bằng tàu biển từ "Đất Mẹ", như cách nói của chúng tôi. Chúng tôi mua những hoa quả ấy với số lượng đủ dùng cho tới chuyến tàu tiếp sau đó. Chủ yếu đó là những hoa quả đóng hộp. Đôi khi người ta cũng còn cấp cho chúng tôi những món "khoái khẩu”: bánh mì đen đựng trong túi nilông kín để khỏi bị cứng lại, bánh sấy đựng trong các hộp kim loại. Đối với chúng tôi những thứ đó quý giá và ưa thích hơn là trứng cá, cua hộp và các loại giò đắt tiền. Có một lần người ta chở táo tới. Chúng tôi thèm nhỏ nước miếng và chờ người ta đưa táo vào cửa hiệu. Mùi thơm tỏa ra khắp phố gợi nhớ hương vị của quê hương, hương vị như ở nhà. Mà những quả táo ấy sao mà ngon đến thế, tưởng chừng như trước đó tôi chưa được ăn chúng bao giờ.

Tôi cũng chia sẻ hoa quả với các bạn Việt Nam vẫn làm công việc dọn dẹp trong nhà. Những người làm công việc dọn dẹp trong nhà đều là các chị phụ nữ, đôi khi họ còn đưa các cháu nhỏ con của họ tới. Một lần có một chị đã đem đứa con trai của mình tới: cháu học lớp 4. Chị ấy nói tôi có thể nói tiếng Nga với cháu bé. Tôi hỏi cậu bé tên là gì học lớp mấy, có các anh chị em không. Cháu bé trả lời tôi rất thạo bằng tiếng Nga và sau cùng còn nói rằng cậu ấy muốn được nhìn thấy Mátxcơva và Quảng trường Đỏ. Tôi khen cậu bé nói thạo tiếng Nga và tặng cậu những chiếc kẹo.

Người dân Hà Nội có tình cảm tốt với chúng tôi. Nhiều người trong số họ hiểu được tiếng Nga. Các em nhỏ đặc biệt có tình cảm tốt với chúng tôi. Nhiều lúc, tôi đi trên đường phố, mấy cháu nhỏ đi theo và hô: "Liên Xô! Liên Xô!".

Bọn trẻ ngắm nghía kỹ chúng tôi. Mỗi cháu đều muốn đụng vào người bác Liên Xô. Trong chiến tranh trẻ em trông già dặn hơn tuổi. Những em lớn hơn thì chăm sóc cho những em nhỏ hơn. Ngay khi vừa rú còi báo động có máy bay địch và bắt đầu xảy ra trận ném bom thì các em nhiều tuổi hơn liền cắp các em bé nhỏ hơn vào nách và nhảy xuống hầm trú ẩn cá nhân ở ven đường. Trên đường phố không còn một ai, các con phố thực sự trở nên vắng tanh. Nét mặt của bọn trẻ thay đổi hết sức nhanh mỗi khi chúng nghe thấy tiếng động cơ của máy bay Việt Nam (máy bay Liên Xô) và động cơ của máy bay Mỹ. Ánh mắt của chúng tỏ ra hết sức sợ hãi khi máy bay Mỹ đến gần Và khi thấy những chiếc MIG bay qua chúng nhìn dõi theo với biết bao niềm hy vọng trìu mến!

Tháng 3-1968 là thời điểm kết thúc chuyến công tác biệt phái của tôi. Tôi phải chuẩn bị cho chuyến trở về nước. Tôi bắt đầu đóng gói đồ đạc. Rồi tháng Ba, tháng Tư và tháng Năm trôi qua, nhưng vẫn chưa có người thay tôi. Người ta nói cho tôi biết rằng ở Mátxcơva đã làm thủ tục cho người thay tôi, nhưng vào phút chót người ấy đã từ chối sang Việt Nam, bởi vì không ai muốn đi đến một nơi có những điều kiện như vậy. Những tháng chờ đợi trôi qua rất lâu.

Tháng Bảy đã tới. Một lần vào cuối ngày làm việc, Trung tướng V. N. Abramốp (nay đã qua đời), là người tới thời điểm ấy đã sang thay Thiếu tướng G. A. Bêlốp, triệu tập tôi đến phòng làm việc của ông và cho biết Chính phủ Việt Nam đã tặng tôi huy chương, ông cho biết ngày trao tặng phần thưởng này. Ngày ấy đã đến. Nhân dịp trao tặng phần thưởng người ta đã tổ chức một buổi chiêu đãi nhỏ. Cục trưởng Cục quan hệ đối ngoại Bộ Tổng tham mưu Việt Nam đã tiếp tôi cùng các sĩ quan trong Ban tham mưu của Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô, do Đại tá A. I. Xiđiacô dẫn đầu, và đã trao cho tôi tấm Huy chương Hữu nghị của Việt Nam. Tất cả diễn ra trong bầu không khí long trọng và hứng khởi. Trong buổi chiêu đãi ấy tôi đã được nghe nhiều lời tốt đẹp về tôi.

Cuối cùng, vào cuối tháng Bảy, đã có người đến thay tôi. Vậy là thay vì một năm, tôi đã làm việc tại Việt Nam một năm và 4 tháng.

Sau khi trở về Mátxcơva, một tháng sau tôi lại được cử sang một đất nước mới mẻ đối với tôi - Tiệp Khắc. Tại đó đã bắt đầu diễn ra các sự kiện khác mà chúng ta đã biết - những sự kiện tháng 8-1968. Nhưng đó là chủ đề của những hồi ức khác...


Bấm vào ảnh để xem kích cỡ đầy đủ.

Rôxliacôva Liubôp Ivanôvna năm 2003

Từ đó đến nay đã gần 35 năm trôi qua. Có nhiều điều đã bị lãng quên, duy chỉ có chuyến công tác biệt phái sang Việt Nam thì tôi không bao giờ có thể quên được.


Tháng 6- 2003
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
hongducanh (24-05-2013)
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến

Các chủ đề gần tương tự với chủ đề trên:
Ðề tài Người gửi Forum Trả lời Bài viết cuối
Về sự tham gia chiến đấu của Liên Xô ở Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ Gấu Misa Hồ sơ chiến tranh thế giới 206 18-11-2014 06:58
Vai trò của Liên Xô (cũ) trong chiến tranh Việt Nam sniper_hunglam Các trận đánh lớn 13 10-11-2011 21:13
Tù binh chiến tranh trong các giai đoạn lịch sử sonofDotx Lịch sử chiến tranh 15 27-05-2009 03:15
Các loại pháo của Liên Xô trong chiến tranh VN tuong123 Khoa học kĩ thuật Xô-viết và Nga 4 16-01-2008 14:13
Cuộc chiến tranh một ngày kéo dài 6 năm Nina Lịch sử nước Nga 0 25-11-2007 22:53


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 16:19.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.