Trở về   Nước Nga trong tôi > Văn hóa Xô viết và Nga > Văn học

Diễn đàn NuocNga.net
Nội quy diễn đàn
Trang chủ tin tức
Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên

Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
  #21  
Cũ 27-06-2009, 14:07
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Ngày 21 tháng 10 năm 1964, một đoàn đại biểu Xô Viết đã có mặt tại nơi máy bay tử nạn để tìm kiếm dấu vết của các nạn nhân do A. A. Episevym cầm đầu - khi đó là ủy viên dự khuyết BCHTW ĐCS Liên Xô, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội và Hải quân Liên Xô (trước đó ông ta là phó thứ nhất trong cơ quan an ninh quốc gia). Ngày 23 tháng 10, A. A. Episevym cũng tham gia tang lễ tại Nghĩa trang Novodevichi.

Vậy là N. P. Mironov, X. X. Biriuzov và những nhân vật đi cùng đã chết. Tôi không hề có ý định gây hoang tưởng cho bạn đọc để từ sự kiện đặc biệt này kết luận thêm “một bí ẩn về cái chết”. Không một ai, kể cả người đã từng theo dấu vết sự kiện này là A. A. Episevym nhìn nhận nó là một âm mưu độc ác. Trong hồi ký của mình, ông cũng chỉ ghi nhận đó là một sự kiện đáng buồn.

Nếu đó là một vụ giết người thì động cơ của nó không rõ ràng. Trong trường hợp này thì nó nhằm chống ai đây? - Theo danh sách thì có thể là tất cả - những người đi cùng và toàn bộ phi hành đoàn.

Vậy có nhất thiết phải bay tới Belgrad để kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng không? Có! Nhất là những quân nhân - bởi đó là ngày lễ của chính họ. N. P. Mironov, tuy không phải là nhà ngoại giao và cũng không phải là “cầu nối” giữa các dân tộc của BCHTW. Ông ta được cử đi với tư cách là một nhân vật rất gần gũi với L. I. Breznev - Bí thư thứ nhất BCHTW vừa được bầu, và khi cử hành lễ, ông ta có trách nhiệm làm cho mọi người rõ thực chất của vấn đề về Ioxif Broz Tito.

Khi cho rằng chính N. P. Mironov, theo chức trách của mình, phải ngăn chặn âm mưu chống N. X. Khrusov trong BCHTW, song ông ta lại tham gia vào âm mưu đó, thì cái chết của ông ta có thể là một cuộc báo thù hay phục thù để cho phép N. X. Khrusov trở lại cái ghế của mình. Tuy nhiên, vì sao sau thành công thứ nhất này, “những kẻ phục thù” lại không thực hiện những bước tiếp theo?

Còn một giả thuyết khác: động cơ sát hại ông ta có thể là của những người sau đó nắm giữ cương vị cao, như: Tổng tham mưu trưởng Lực lượng vũ trang Liên Xô; Phó vụ trưởng các cơ quan hành chính BCHTW ĐCS Liên Xô - người kế vị của X. X. Biriuzov, nguyên soái Liên Xô M. V. Zakharov. Hai năm sau (do L. I. Breznev nghi ngờ rất lâu ứng cử viên này của mình), người lên giữ cương vị của N. P. Mironov là N. I. Xavinkin (1913 - 1993) - người trước đó được coi là phó của Mironov. Thật khó tin là những người này đã hoàn tất được một vụ khủng bố này với quy mô thời gian như vậy.

Điều khó tin nhất là vụ này có thể do I. B. Tito trả thù vì việc N. X. Khrusov bị huyền chức, bởi giữa hai người này có những mối quan hệ rất mật thiết.

Nếu vụ việc đã xảy ra có tác giả thì mục tiêu của chúng chỉ có thể là tung hỏa mù với ban lãnh đạo (trước hết là với chính L. I. Breznev) để che đậy những hành động khác. Nấu vậy thì, nói một cách hình ảnh, phải kiểm tra lại tư duy chính trị: Xtalin, trong trường hợp tương tự, để đáp lại vụ sát hại Kirov, đã khởi động một cuộc hủy diệt thật sự đối với những kẻ thù của mình, còn Breznev thì đã không làm gì cả.

Nếu trong trường hợp đoàn đại biểu bị tử nạn chúng ta chỉ đưa ra toàn những giả thuyết, thì trong điều bí ẩn sau đay mọi sự tỏ ra rõ ràng hơn rất nhiều. Hẳn chúng ta còn nhớ rằng trong các tiêu đề về “những bí ẩn” chúng tôi đã nói và sẽ nói về những nhân vật mà cuộc sống hay cái chết của họ lại mang tính chất then chốt đối với số phận của đất nước. (Như, khi quay trở lại với N. P. Mironov, có thể, cố gắng phân tích theo hướng: sự phát triển của đất nước có thể thay đổi chăng nếu ông ta còn sống, nếu ta tính đến việc những người hứa hẹn dành cho ông cương vị bí thư BCHTW và thành viên Bộ Chính trị đã chuyển sang ủng hộ cựu chủ tịch KGB A. N. Selepin).

Nhân vật chúng ta sẽ nghiên cứu sau đây không hề có những phẩm chất kể trên. Từ tháng 10 năm 1964, chỉ có cái chết đến sớm mới cản bước của ông ta, như các sự kiện sau đây cho thấy. Tiểu sử vắn tắt của ông ta:

Nikolai Grigorevich Ignatov.

Sinh năm 1901.

Những năm 1918 - 1932 đã từng phục vụ trong quân đội và Chêka..., sau đó làm cán bộ đảng.

Những năm 1957 - 1961 là ủy viên Đoàn chủ tịch BCHTW, sau vì ông ta không thích ứng được nên trong khoảng thời gian những năm 1962 - 1966 đã bị đưa ra khỏi Đoàn chủ tịch BCHTW, nhận một cương vị thấp hơn - Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xô Viết tối cao Liên bang Nga.

Đây là động cơ để ông ta hợp tác với những người mưu phản - những kẻ đã kích động thái độ phật ý của ông. Và cũng cần nói, N. G. Ignatov là người thực sự tích cực trong việc hạ bệ N. X. Khrusov vì tin rằng sẽ được trở lại Đoàn chủ tịch BCHTW. Trong vụ này ông ta thậm chí kẻ lĩnh ấn tiên phong, tích cực hơn tất cả những người khác. Cho dù chưa tỏ tường hết vấn đề, song trong hồi ký của V. E Xemichaxtnyi có viết: “... theo tôi nghĩ, (Ignatov) đã cố gắng trên cả hai mặt trận bảo đảm “Cổng tây” để dự phòng trong trường hợp âm mưu chống N. X. Khrusov thành công hay thất bại vẫn quay trở lại Bộ Chính trị. Một mặt, ông ta tiến hành thỏa thuận với L. I. Breznev, còn mặt khác, - ông ta lại chuyển qua người cận vệ của mình những tín hiệu cảnh báo cho Xergei Khrusov, và thông qua người con này để báo cho người cha là Nikita Khrusov”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #22  
Cũ 27-06-2009, 14:07
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Con trai của N. X. Khrusov, trong hồi ký của mình, đã quả quyết không chỉ về việc thủ trưởng cơ quan cảnh vệ của N. G. Ignatov là Galiukov đã tới bấm chuông cửa nhà mình, mà cả về những trường hợp tương tự - vào mùa hè năm 1964, một phụ nữ không quen biết đã gọi điện cho con gái ông là Pada; Devid Xturua - Bí thư BCHTW ĐCS Gruzia - người đã tới nhà con rể ông (chồng của Pada) là A. I. Adzubeiu Tổng biên tập báo “ Izvextia “ (Tin tức) thông qua người phóng viên Melor Xturua là em ruột của ông ta để nói rằng V. Mzavanadze đã thăm dò ông và tích cực vận động các thành viên BCHTW ở Kavkaz.

Như vậy, vấn đề tỏ ra tương đối dễ bị phanh phui. Người sĩ quan cảnh vệ Galiukov được nhắc tới ở trên vẫn đang công tác. Tuy nhiên, sau Hội nghị toàn thể không hề có một ai đứng ra đưa N. G. Ignatov trở lại Đoàn Chủ tịch và ông ta vẫn giữ nguyên cương vị của mình. Nhưng trong tư tưởng, ông ta rõ ràng không hài lòng với các giải quyết như vậy. Thêm vào đó, A. N. Selepin (người không hề có chút thâm niên nào cho chức danh dự khuyết) và P. E. Selext đã được bầu vào làm thành viên của Đoàn Chủ tịch.

N. G. Ignatov trở nên nghiện rượu và có lối sống hiếu danh, bất nhã. Cay đắng vì sai lầm của mình, ông ta ba hoa với mọi người về những tình tiết trong việc hạ bệ N. X. Khrusov và sống ngày càng buông thả. Mọi người có thể tha thứ cho trò đòn xóc hai đầu của ông ta, nhưng không một ai có thể biết được ông ta sẽ còn nói ra những điều gì, thậm chí tệ hại hơn là sẽ làm điều gì. Người ta không quy định phải canh chừng khi ông ta còn ở Matxcơva, nhưng mỗi lần ông đi công cán ở nước ngoài người ta buộc phải canh chừng vì N. G. Ignatov là người có cương vị bí thư phải cách ly ông ta khỏi những trò khiêu khích có thể xảy ra. Trong buổi phỏng vấn nhân dịp kỷ niệm 100 tuổi của nhà hoạt động của đảng này, người con trai của ông đã kể lại tình trạng lúc ông qua đời: “... Ông đột ngột qua đời sau một chuyến đi công tác ở nước ngoài. (...) Ông dẫn đầu đoàn đại biểu đảng - chính phủ sang thăm Chile và bất ngờ lâm bệnh. Người ta giải thích cho gia đình rằng ông bị bọ chét độc cắn. Sự việc xảy ra vào ngày 14 tháng 11 năm 1966. Theo quy định của hồi đó, ông được mai táng bên tường Điện Kremli cùng với những người danh tiếng khác “.

Đó là một vài chi tiết về cuộc đảo chính không đổ máu trong tháng 10 năm 1964.

Phải nói rằng, mọi người có những nhận định khác nhau về những gì liên quan tới chính L. I. Breznev - nhẹ nhàng có mà buộc tội trực tiếp cũng có tuy không có bằng chứng gì cụ thể, như: “Leonid Ilich Breznev được khẳng định ngay là Thủ lĩnh của “cải tổ”, người đã làm cho Liên Xô tan rã nhiều hơn so với Mikhain Xergeievich Gorbachov”.

Người ta nói rằng chính L. I. Breznev khi đánh giá về tính cánh của mình đã có xác định tương đối khách quan về tầm của mình: bí thư thứ nhất khu ủy. Trong vấn đề này ông ta đã đúng hơn bao giờ hết. Vị trí người lãnh đạo số một của đất nước như đất nước Liên Xô đương nhiên đã không phù hợp với năng lực của ông ta. Ông không có những tài năng, đương nhiên không phải là nguyên soái, không phải nhà ngoại giao và không phải nhà lý luận của chủ nghĩa Mác. Tốt nhất là nên đánh giá về ông như “một người kế tục trung thành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản” Ông ta không đưa ra được những sáng kiến chiến lược mới mà chỉ tiếp tục những gì người ta đã bắt đầu từ trước ông. Ông ta đủ khéo để chơi được trò tổ chức bằng cách bổ nhiệm người của mình, đồng thời đẩy những kẻ khác ra. Nếu có thể đánh giá trực tiếp những thời điểm sai lầm (dưới ánh sáng của những quá trình “cải tổ” sau này) của N. X. Khrusov, M. A. Xuxlov và Iu. V. Andropov khi phân tích những gì họ đã làm, thì cách đánh giá của chúng ta đối với L. I. Breznev sẽ có đôi chỗ khác biết: Breznev không phải là một chính khách đặc biệt sắc sảo, ông ta không hề dự cảm được những hậu quả của nhiều mưu mô chính trị. Ông ta đã từng cho phép mình tiếp nhận các dự án của phương Tây - những dự án có tính chất độc ác đối với toàn bộ hệ thống Xô Viết - như: giải trừ quân bị, bán dầu mỏ, trào lưu chống đối. Cũng vì do không phải là một chính trị gia nhạy cảm mà ông ta đã không tiến hành thanh tra kỹ các hành vi phạm tội của N. X. Khrusov, các sự kiện ở Hung Ga Ri (năm 1956) và ở Tiệp Khắc (năm 1968). Nếu như ông ta tiếp cận một cách nghiêm túc hơn với vấn đề đó khi được giao tiến hành xem xét cơ bản diễn biến có thể xảy ra của những sự kiện này, thì Liên Xô đã có thể sẵn sàng đối phó với vụ lộn xộn ở Ba Lan. Chính ông ta đã có sẵn trong tay mình mọi khả năng. Thông qua người trung thành với mình là K. U. Chernenko ông ta đủ khả năng tiếp cận mọi tài liệu lưu trữ. Ông ta có thể hiểu được bản chất của những mâu thuẫn bên trong, thậm chí còn hơn cả I. V. Xtalin (Vào những năm 1937 - 1938, không thể có những khả năng phân tích và tổng hợp như thời của Breznev). Xtalin chỉ biết hành động để tồn tại. Dưới thời L. I. Breznev, thông tin được cung cấp liên tục. Đương nhiên, chúng ta cũng hiểu rằng những thông tin được gửi đến cho L. I. Breznev còn thiếu tính hệ thống với hàng trăm tín hiệu khác nhau, như cuốn rất giá trị là “Ghi chép của KGB Liên Xô trong BCHTW ĐCS Liên Xô “Về những kế hoạch của CIA nắm những điệp viên có ảnh hưởng trong các công dân Xô Viết”, đồng thời để phân tích được vô số tín hiệu khác nhau đó là rất khó khăn, chưa kể tới việc các kết luận được báo cáo lên cho ông ta không đúng. Nhưng bên cạnh đó, ông ta đã tiếp nhận tất cả thông tin một cách phiến diện, tựa như một nhà lãnh đạo được đào tạo theo một dòng tư tưởng nhất định, chỉ quan tâm tới nguy cơ đang bị cố tình thổi phồng về khuynh hướng sai lệch trong chủ nghĩa yêu nước Nga trong xã hội và trong đảng như KGB báo cáo trong ghi chép của họ.

Dưới ánh sáng của chính thời kỳ cải tổ vừa qua, theo tôi, mặt trái trong hoạt động của nó là ekip (clann) được hình thành bởi Breznev và những người của ông ta đã có quan điểm sai lầm để cho các clann khác hình thành. Chí ít, trong tình hình đó ông ta có đủ khả năng duy trì quyền lực trong tay mình: “... Ở những vị trí hàng đầu chính là clann Ucraina, Dnepropetrovxk. Họ tiến cử người kế nhiệm Breznev của mình. Đồng thời, “những người Dnepropetrovxk” đã thực sự nhận được toàn bộ Ucraina sau khi Liên Xô tan rã. Kể từ đó, một cuộc đấu tranh dai dẳng liên tục cho tới ngày nay cũng được bắt đầu. Cho đến nay, trong nước Nga còn lại 4 nhóm clann (không kể những nhóm thứ yếu, những nhóm sắc tộc. Đó là clann Xtavropol do Gorbachov cầm đầu; clann Leningradxki do Romanov cầm đầu (hiện nay không rõ ai đứng đầu); clann Ural hùng mạnh do Eltxin cầm đầu; và cuối cùng, clann Matxcơva về danh nghĩa do Luzkov cầm đầu, song ở đây phần tảng băng chìm dưới nước thì hoàn toàn khác, còn Luzkov chỉ là một đầu lĩnh do clann Matxcơva thuê mướn mà thôi”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #23  
Cũ 27-06-2009, 14:08
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Khi clann của Breznev đã củng cố được quyền lực và cơ hội kiếm chác trong toàn liên bang, tự tin vào sức mạnh của mình, thì ông ta có thể tuyên bố về mình như một sức mạnh có khả năng tồn tại tương đối lâu dài. “... Trong cái gọi là Chương trình Leningrad được công bố tại Frankfurt năm 1970, có nói: “Tầng lớp cán bộ trung ương không xa lạ, cũng như chúng ta không xa lạ tư bản trong xã hội của “tầng lớp trung lưu”. Đó chính là nền tảng hợp pháp của xã hội ta, cũng như quyền sở hữu tư nhân trong chủ nghĩa tư bản. (...) Chính dưới thời Breznev đã xuất hiện mối quan hệ hữu cơ giữa các chính trị gia và những kẻ tội phạm. Tầng lớp cán bộ trung ương đã là cái máy ấp trứng sản sinh ra maphia - một thế lực đã củng cố và tăng cường ảnh hưởng của mình đối với xã hội sau khi Liên Xô tan rã” Các clann, sau khi thâm nhập được vào quyền lực vô hạn ở Liên Xô, cả ở cấp trung ương lẫn ở địa phương, đã dần dần cố gắng biến chính quyền thành sở hữu của chúng. Người ta đã từng nhận rõ khuynh hướng này ở các nước phương Tây, nơi mọi sự vật đã được gọi bằng tên của mình. “Nước Nga đang trở thành một xã hội có giai cấp. Khoảng ba nghìn gia đình kết thành tầng lớp thượng lưu và họ luôn luôn tham vọng mãi mãi là thượng lưu”. Những quyết định về việc xẻ bán Tổ quốc ra từng miếng to, nhỏ đã được thông qua trong hoàn cảnh như vậy.

Về việc bán dầu mỏ: “Dưới thời Breznev, giá dầu mỏ luôn giữ được ở mức cao. Chúng ta đã xây dựng đường ống dẫn dầu sang phương Tây, và nước Nga từ việc tiếp liệu của clann Breznev đã được rao bán như một đất nước giàu nguyên liệu... Nhóm clann Breznev không phải làm gì cả đã thu lợi từ việc bán nguyên liệu: dầu mỏ, khí gaz và thu siêu lợi nhuận. Nước Nga bắt đầu tụt hậu từ đó. Chúng ta vào năm 1964 đã tụt hậu tương đối, tuy chưa phải về mặt chất lượng, so với Mỹ, song vẫn là nước đang ở giai đoạn thứ ba của phát triển công nghiệp hóa. Chúng ta đã để mất tiềm năng đó từ việc buôn bán của Breznev và chủ yếu trông chờ vào nguyên liệu. 17 năm của “Trì trệ” đã gặm sạch những đồng đô la dầu mỏ, năng lực sản xuất không được đổi mới. (...) Hàng trăm nghìn đô la chỉ biến thành những đôi giày, thuốc đánh răng, các sản phẩm dinh dưỡng và bị biển thủ, cho dù quy mô biển thủ khi đó không lớn, bởi các clann chỉ lo củng cố quyền lực.

Về việc mua ngũ cốc: “Các nhà độc tài lúa mỳ trong Bộ Kinh tế nông nghiệp Liên Xô đã làm tất cả để tiếp tục mua cho được một vật có giá trị không ngờ - lúa mỳ của nước ngoài. Giá trị trong đó bao gồm một số biệt thự do hoạt động đặc biệt nỗ lực của họ và không đơn thuần chỉ là sự trao đổi không tương xứng mà ở cả sự phá hoại sản xuất trong nước”.

Trong vấn đề này nổi bật lên một điều là hiện nay các quan chức có thể quan tâm tới việc hiện thực hóa một dự án nào đó chỉ vì một lý do là trong đó, không gì khác, có phần làm giàu cho cá nhân, cũng như “dưới thời chính quyền Xô Viết” có rất nhiều dự án, ngắn hạn hay dài hạn, được xây dựng chỉ vì lợi ích của lớp thượng lưu. “Vào đầu những năm 1970, các clann của tầng lớp thượng lưu đỏ bắt đầu chỉ chăm lo tới bản thân, còn mọi dự án bắt đầu được chia chác tùy theo khả năng của giới thượng lưu. Clann thống trị toàn bộ đế chế”.

Dần dần trong nước hình thành nên một đế chế song song tồn tại - đế chế của những mưu mô thực sự bẩn thỉu nhằm bóc lột một nửa thế giới xã hội chủ nghĩa, “vắt” làm sao cho kiệt từ việc ủy quyền điều hành khu vực, làm sao đột nhập được vào khẩu phần béo bở ở thủ đô. Những clann hiện nay thỏa thuận trong sự đổ nát của đất nước chỉ để giữ mối của mình, để tồn tại đế chế đen. Đế chế này khi mới hình thành còn như một bóng ma, nó gợi nhớ tới cơn ác mộng đẫm máu của năm 1937, từ đó hồi sinh thành con chim huyền thoại Fenikx. Mỗi khi nó xuất hiện từ trong bóng tối, nó trở nên rõ hình hài, người ta truyền tin nhau về sự xuất hiện của nó, đuổi nó trở về với bóng tối. “Hình ảnh của “hội viên” dùng sự tháo vát của mình để điều chỉnh tính chất phi lý của nền kinh tế Xô Viết và che chắn cho ông chủ (boss) đảng Xô Viết cũng chỉ là giới hạn hiểu biết của người công dân Xô Viết bình thường đã tiếp thu được trong giáo dục cải tổ. Đằng sau đó vẫn tồn tại một câu hỏi cũ về tư bản đen tài chính; về sự kiểm soát của nó với nền sản xuất ngầm; về “những gương mặt đen” của các khu vực; về mối quan hệ và mâu thuẫn giữa chúng; về sự tích lũy của cải ở từng khu vực của Liên Xô; về chính trị, tư tưởng và tôn giáo ngầm; về các cơ quan (các bộ)... Nói tóm lại, là về sự hiện diện của hệ thống chính quyền thứ hai, một thứ “quốc gia trong quốc gia” có khả năng điều hành một mô hình cực quyền trong nước. Chính quyền thứ hai đó, về thực chất, là hình thái cực quyền với một dấu hiệu khác”.

Khi vượt ra một chút ra ngoài khuôn khổ lịch sử đang được chúng ta nghiên cứu, chúng ta có thể thấy một biến thể mới về chất của những clann trong giới thượng lưu mà ngày nay được cải tên gọi là “hệ thống”. “Hệ thống - đó là sự cố kết đặc biệt của các cơ quan thương mại, các nhóm tài chính, ngành kinh doanh bạo lực và của các băng nhóm tội phạm - “những huynh đệ”, đại diện cho cơ cấu quyền lực, hành chính thống nhất với nhau bởi những lợi ích chung và cùng chung sống dưới một mái nhà”. Theo thời gian, biến thể đó ngày càng trở nên rõ nét hơn.

Tôi cho rằng, dù sao những năm cuối thời Xtalin bộ máy đã trở nên lành mạnh nhất đối với nước Nga cuối thế kỷ XX, trở nên đơn giản nhất, mọi lời nói đều phù hợp với thực tế. Vậy mà sau đó đã có quá nhiều hành động vô bổ nhằm che đậy lợi ích của kẻ nào đó. Người ta đã nghĩ ra được bước tiến thiên tài để phát triển quá trình đó. Giữa những kẻ hoạt động ngầm với các lực lượng phục vụ họ đẽ có một thỏa thuận kín đáo nhằm xúc tiến việc tạo ra những điều phi lý như là thành tố hiển nhiên không thể tách rời của chế độ xã hội chủ nghĩa Xô Viết. Điều này đã được cả nước biết, tuy chưa thật đầy đủ và toàn diện. Từng người chỉ nhận thức được điều đó ở cương vị công tác của mình hoặc chỉ mới đánh giá bằng cách châm biếm, đả kích nhẹ nhàng.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #24  
Cũ 27-06-2009, 14:08
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Câu hỏi đặt ra là: “Thực chất vấn đề là gì?”. Để trả lời được câu hỏi này, chúng tôi muốn nêu lên một giả thuyết. Chúng ta đã nhận thức ra sao ngay từ trong lịch sử của toàn nhân loại, trong bất kể chế độ nào, kể cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa, luôn luôn đã và vẫn có giới thượng lưu cầm quyền cùng kẻ đối lập với nó. Giả thuyết lô gíc vẫn là một bộ phận chủ yếu của giới thượng lưu trong những năm đó đã được xác lập theo hướng thân cộng sản. Khi đó, vẫn rất lô gic, phe đối lập sẽ dối lập với nó theo hướng thân tư bản. Mục tiêu của bất cứ phe đối lập nào cũng là cố chèo lái nền chính trị theo hướng “Càng xấu - càng tốt”, cố tiến hành những hoạt động làm mất uy tín của chính quyền hiện hành, để đến thời cơ thích hợp sẽ giành lấy toàn bộ chính quyền, có được “nhất hô - vạn ứng”. Những kẻ phá hoại ngầm uy tín của Liên Xô vào giai đoạn cuối thực sự đã là phe đối lập hoạt động sau bình phong thống nhất giả tạo với ĐCS Liên Xô.

Mọi việc đã được thực hiện rất khéo léo. Các quá trình diễn ra theo hướng một cuộc khủng hoảng có tính chất báo trước của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô đã diễn ra vừa tự phát, vừa tự giác: “... ngày càng cảm nhận rõ ràng hơn trong xã hội và trong quốc gia những khuynh hướng và vấn đề tiêu cực đang gia tăng.

Trong xã hội, sự phân tầng xã hội đã diễn ra đằng sau những lời nói hoa mỹ công khai về chủ nghĩa xã hội phát triển. Lực lượng chủ yếu của quần chúng công nhân, nông trang viên, cán bộ kỹ thuật, nhân viên, giáo viên, bác sĩ, các quân nhân đã dồn tâm sức, trí tuệ, tình cảm, nhiệt tình và tay nghề của mình vào sản xuất, gieo trồng, giáo dục, khoa học và văn hóa... Điều đó được thể hiện ở số lượng sản phẩm được sản xuất ra ngày càng nhiều, ở sản lượng thép, điện năng, những vụ mùa, các sản phẩm kỹ thuật mới, ở số học sinh và sinh viên được giáo dục và đào tạo... Song cuộc sống riêng tư của những con người làm ra những sản phẩm đó vẫn không được cải thiện tốt hơn, họ thiếu cả thời gian, thiếu cả phương tiện để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt riêng của mình, nhu cầu phát triển cho con cháu họ...

Trong khi đó, được quốc gia toàn dân này che chở, có những nhóm, những tầng lớp xã hội đã hình thành, những kẻ đại diện cho chúng mặc sức lựa chọn mọi lợi ích và khả năng để thỏa mãn nhu cầu và sở thích của chúng. Chúng trở nên giàu có tiền của và vật chất, ra sức cướp bóc từ sở hữu toàn dân. Gặp thời, những tên chủ xí nghiệp láu cá, những kẻ đầu cơ trục lợi, lũ bịp bợm và đám thợ vụng đã hút máu nhân dân lao động. Đặc biệt phè phỡn là những kẻ đã được lãnh đạo việc phát triển nhu cầu và dịch vụ qua các kênh của nhà nước”.

Với danh nghĩa lương bổng, đám cán bộ cao cấp của Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã sở hữu toàn bộ tiềm lực quốc gia, toàn bộ nền kinh tế, tất cả tài nguyên - vật liệu, toàn bộ đất đai và dân chúng để vơ vét, bóc lột và chuyển ra nước ngoài. Trong những năm gần đây, clann thắng thế đã thâu tóm mọi tiềm năng lao động và thiên nhiên. Những kẻ không thể đoạt được quyền lực ấy bằng những phương pháp chính trị, cán bộ và vận động ngầm nơi hậu trường thì phát động một cuộc chiến công khai.

Một nhà báo, Phó tổng biên tập báo “Zavtra” (Ngày mai) N. M. Anixin, thực sự đau đớn vì đất nước của mình, đã viết: “Đội quân thứ 5 không chỉ đã cướp bóc đất nước, khoắng sạch các cửa hàng, mà chúng còn rất xuất sắc trong trò “Thọc gậy bánh xe” đối với nền kinh tế đất nước. Hàng năm, ở Liên Xô có gần 30% ngũ cốc và 40% khoai tây vị thối hỏng do thiếu kho bảo quản. Vậy mà “Đội quân thứ 5” lại lén lấy chữ ký của những thành viên già nua trong Bộ Chính trị để ra quyết định về cải tạo đất - ôm lấy một mớ tiền, chúng cũng cải tạo đất để rồi sản lượng nông sản tăng cao và thối hỏng nhiều hơn. Tiền của còn bị ném vào xây dựng vô số công trình vô bổ. Tiền của bị ném vào việc thiết lập hệ thống lưu thông theo kiểu “chở củi về rừng” (Gỗ được chuyển từ Vologda đi Kraxnoiarxk, để rồi từ đó lại chở về Vologda; Than từ Ucraina đi Xibir rồi quay về Ucraina...). “Đội quân thứ 5” đã làm cho các tập thể lao động giảm sút nhiệt tình sản xuất của họ bằng những hướng dẫn, đầu tư ồ ạt vào những lĩnh vực mù mờ nhất, gây quá tải cho những xí nghiệp tốt nhất bằng cách đặt hàng làm ra những thiết bị quân sự lạc hậu không có giá trị đối với quốc phòng.

Gorbachov đã tiếp nhận một đất nước có nền kinh tế phát triển cao, hùng mạnh. Song nền kinh tế đó, một mặt đã làm rất nhiều điều có lợi cho phương Tây, mặt khác là ném tiền vào gió. Sự khan hiếm hàng hóa ở Liên Xô gây nên những điều tồi tệ cho chính nền kinh tế, là những trò nhiễu nhương cố ý (nhân tạo) trong hoạt động của chế độ.

L. I. Breznev đã hoàn toàn có đủ lực để thiết lập nên trong nước một hệ thống tin cậy để chuyển giao quyền lực từ người này sang những người khác trên cơ sở pháp luật và đưa cơ chế đó vào hiến pháp của Liên Xô. Tuy nhiên, cũng như bao điều khác, điều này đã không được bàn tính để thực hiện. Chính vì vậy, cái chết của Breznev lại là một điều bí ẩn nữa.

Toàn bộ cuộc đời và hoạt động của L. I. Breznev được dẫn ra trong cuốn sách “Breznev đã chết ra sao?”, xuất bản nhân 20 năm ngày mất của ông, theo tôi, là khách quan và đầy đủ nhất. Tác giả cuốn sách - X. N. Xemanov - là một người đặc biệt thạo tin, đồng thời là người đã tham gia tích cực vào những sự kiện thời gian đó. Rốt cuộc, chỉ vì quan điểm yêu nước của mình mà tác giả đã bị gạt khỏi cương vị tổng biên tập của tạp chí “Con người và pháp luật”. Tuy nhiên, cho đến nay, dù tuổi đã cao, ông vẫn hoạt động chống lại quá trình phá hoại trên mặt trận thông tin. Ông không hề tức giận vì hình phát bất công mà người ta đã dành cho mình. Ông đã đưa ra những nhận định chính xác về L. I. Breznev và thời kỳ đó.

Để kết luận, cần chú ý rằng cho dù có những hiện tượng tiêu cực của giai đoạn được gọi là “Trì trệ”, thì việc so sánh “người lãnh đạo của thế kỷ vàng” với những người lãnh đạo sau này, rõ ràng là bất lợi cho những người kế tục sau.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #25  
Cũ 27-06-2009, 14:11
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Bí ẩn cái chết của Maserov, Xuxlov và những người khác

Maserov

Hầu như mọi người đều biết rõ hoàn cảnh qua đời của ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị BCHTW ĐCS Liên Xô, Bí thư thứ nhất BCHTW ĐCS Belorusia, Anh hùng Liên Xô, Anh hùng Lao động xã hội chủ nghĩa Pietr Mironovich Maserov. Cái chết của ông được mô tả nhiều trong văn chương, từng là đề tài của chương trình truyền hình. Mọi người thường để ý tới sự trùng lặp đáng sợ của cương vị chủ tịch KGB Liên Xô ngay sát trước thảm họa. Vị chủ tịch trước đó là Nikylin Iakov Prokopievich (1913 - 1983) nắm giữ cương vị này từ ngày 23 tháng 6 năm 1970 đến hết ngày 4 tháng 8 năm 1980. Từ ngày 17 tháng 11 năm 1980 - nghỉ hưu. Người chủ tịch mới - Baluev Veniamin Geogievich (sinh năm 1927) - được điều chuyển từ chức vụ Phó chỉ huy trưởng Cục Thanh tra KGB Liên Xô từ 4 tháng 8 năm 1980 đến hết ngày 24 tháng 11 năm 1990. Bên cạnh đó: “Trước khi xảy ra thảm họa không lâu, người ta đã thay viên Đại tá Xazonkin chỉ huy đội cận vệ của Maserov”.

Thảm họa đã xảy ra vào hồi 15 giờ 04 phút ngày 4 tháng 10 năm 1980. Như mọi người đã biết, người lái xe riêng của Maserov là E. F. Zaitxev, sinh năm 1919, vào đêm hôm trước bị một cơn bạo bệnh. Chiếc ôtô thì không được trang bị kỹ thuật để đưa rước các nhân vật cần bảo vệ, vi phạm Chỉ thị số 0747 năm 1974 của Bộ Nội vụ Liên Xô.

Cần lưu ý rằng Ignatovich Nikolai Ivanovich, sinh năm 1940, điều tra viên các vụ đặc biệt quan trọng của viện công tố nước cộng hòa - người trực tiếp điều tra vụ này - sau khi trở thành đại biểu nhân dân Liên Xô và Tổng thanh tra đầu tiên của Belorus, đã chết trong một hoàn cảnh không rõ ràng vào năm 1992.

Người con gái của P. M. Maserov - Natalia Petrovna Maserova - đã trở thành nghị sĩ Quốc hội nước Cộng hòa Belorus vì bà cho rằng điều này sẽ giúp bà vạch trần đến cùng vụ thảm họa đã xảy ra với cha mình. Tạm thời bà đã giải thích sự kiện này như sau: “Cha tôi đã chết trước kỳ hội nghị toàn thể BCHTW ĐCS Liên Xô khoảng hai tuần. Tất cả đã được ấn định. Ông sẽ thay vị trí của Koxygin. Tôi biết cha mình đã làm nhiều người khó chịu. Nhất là khi, vào tháng 10 năm 1980, “ngôi sao” Gorbachov đang lên.

Tôi nghĩ rằng, giá như cha tôi còn sống, lịch sử Liên Xô đã biến chuyển theo hướng khác”.

Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với nhận xét này.

Xuxlov

Mikhain Andreievich Xuxlov là một chính trị gia lão luyện, kinh nghiệm nhất trong số thành viên của BCHTW ĐCS Liên Xô giai đoạn những năm 1970 - 1980. Ông đã may mắn sống sót qua vụ thanh lọc cuối những năm 1930, khi đang công tác tại bộ máy Trung ương. Ông vẫn nhớ “những bí ẩn” lớn, nhỏ và do đó “thái độ của M. A. Xuxlov với y tế là rất đặc biệt. Ông không tin tưởng các bác sĩ và hạn chế tiếp xúc với họ. Vào đầu năm 1982, các cán bộ y tế cố gắng thuyết phục M. A. Xuxlov vào bệnh viện của Điện Kremli để theo dõi sức khỏe định kỳ. Chuyến viếng thăm bệnh viện lần đó của ông vô cùng xấu: trong quá trình điều trị, ông đã đột ngột (đối với nhiều người) qua đời. (...) Cái chết của M. A. Xuxlov trở thàng vụ đầu tiên trong cả một danh sách dài dài của nhiều cái chết phi tự nhiên khác, giống như cái chết gây bán tín bán nghi trong một thời gian ngắn của ba tổng bí thư BCHTW ĐCS Liên Xô và của hàng loạt ủy viên Bộ Chính trị và rốt cuộc dẫn đến sự tan rã vật lý của cơ cấu quyền lực cao nhất ở Liên Xô“.

Và đây chỉ là một trong những bằng chứng quan trọng nhất: “Một bệnh nhân cao tuổi kể với tôi:

“Tôi phục vụ ở quầy thuốc của Cục 4. Đó là quầy thuốc của điện Kremli. Có một người thường xuyên đến chỗ tôi. Anh ta là người của KGB. Thái độ rất khiêm nhường. Tôi chỉ là một trong rất nhiều người cấp thuốc cho bệnh viện của Điện Kremli và chỉ chuyên cấp cho nơi đó.

Con người này, sau khi xem xét các đơn thuốc đã nói: “Hãy cấp bổ sung cho bệnh nhân này thuốc...” - rồi đưa cho tôi một gói đã ghi sẵn liều dùng.

Ý đồ của việc bổ sung là: thay vì phải giãn mạch khẩn cấp, thì thuốc sẽ gây nên nghẽn mạch và một phần những loại thuốc tương tự bắt đầu phát tác chừng nửa năm hoặc 8 - 9 tháng sau đó.

Tôi thường tự hỏi mình: “Nều là một người có ý chí mạnh mẽ thì liệu tôi có thực hiện những mệnh lệnh kiểu đó không?”. Tôi không biết nữa. Có thể, khi có ý chí mạnh mẽ, tôi sẽ làm. Mà lẩn trốn đi đâu được cơ chứ... Vậy, liệu M. A. Xuxlov, người vốn sợ bác sĩ, có biết gì về những chuyện như thế. Chắc chắn, ông ta phải biết vì sao lại sợ bác sĩ, bởi ông ta đâu phải là con trẻ. Nếu đã như vậy thì có gì phải lý giải những bằng chứng đã nêu ra về cái gọi là “Hồ sơ các bác sĩ Kremli”?

Trong khoảng những năm 1978 và những năm 1980, giới thượng lưu Xô Viết đã mất đi một loạt những đại diện trong thê đội hai của chính quyền trong những hoàn cảnh không mấy rõ ràng. Đó là:

Geidarov - Bộ trưởng Nội vụ của Azerbaizan

Ibragimov - Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xô Viết Kirgizi. Bị bắn chết ngày 04 tháng 12 năm 1980 - hai tháng sau cái chết của P. M. Maserov - trong thời gian nghỉ tại nhà an dưỡng Cholpon-Atinxk.

Kiazimov - Thứ trưởng Bộ Nội vụ Azerbaizan.

Muxin - Bí thư thứ nhất ĐCS Liên Xô tại Tatar.

Pataridze - Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Gruzia.

Platonov - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa tự trị Iakutxk. Trước đó, Stepan Platonov đã là Bí thư thứ nhất ĐCS Liên Xô tại Thành ủy Iakutxk. Ông bị bắn chết lúc đi săn (một cách tình cờ?). Theo những giả thuyết của các báo, Platonov cần có một cuộc gặp mặt với Chủ tịch KGB Liên Xô là Iu. V. Andropov để báo cáo về tình hình trong ngành công nghiệp khai thác kim cương.

Raxulov - Bí thư thứ nhất BCHTW ĐCS Tadzikixtan.

Xokolov - Bí thư thứ hai BCHTW ĐCS Ucraina.

Xuxlov (Trùng tên với M. A. Xuxlov) Bí thư thứ hai Tỉnh ủy Leningrad.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #26  
Cũ 27-06-2009, 14:13
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Nhiệm vụ của Andropov

Nhiệm vụ đầu tiên của Iu. V. Andropov là nhằm giành được vị trí quyền lực cao nhất, chí ít thì cũng là Chủ tịch KGB trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Chuyện đó có được sau một mánh lưới chính trị rất thành công. Bí thư thứ nhất BCHTW ĐCS Ucraina, ủy viên Bộ Chính trị BCHTW ĐCS Liên Xô P. E. Selext chứng nhận rằng: “Ngày 18 tháng 5 năm 1967, tôi tới Matxcơva dự phiên họp của Bộ Chính trị. Trong chương trình nghị sự có rất nhiều vấn đề khác nhau được nêu ra. Vài giờ trong cuộc họp Breznev mời tôi vào Văn phòng của mình. Người ta nói qua về những sự việc vừa diễn ra, sau đó ông ta nói với tôi: “Hôm nay Bộ Chính trị sẽ quyết định vấn đề về đồng chí Xemichaxtnyi thôi giữ chức Chủ tịch KGB”. Đối với tôi, đó là một bất ngờ lớn và là tin khá bất lợi. Tôi rất rõ vai trò đặc biệt của V. E. Xemichaxtnyi trong giai đoạn chuẩn bị và tiến hành “những biện pháp trên cơ sở dân chủ của đảng” đối với N. X. Khrusov. Đương nhiên, Breznev đã chịu trách nhiệm rất lớn với cá nhân Xemichaxtnyi. Do không nhận thấy có một chút nguyên nhân nào đối với đệ trình ra Bộ Chính trị về việc để Xemichaxtnyi thôi giữ chức vụ đó, tôi đã đặt câu hỏi: “Nguyên nhân cho thôi chức là gì?”. Breznev lảng tránh câu trả lời, song vẫn nói: “Có nhiều lý do để tiến hành việc này, sau đây anh sẽ biết cả”.

Vào thời gian đó đã xuất hiện những tin đầu tiên về Xvetlana Alliueva (Con gái của I. V. Xtalin), mọi sự cứ “tối mò” đến mức chính chúng tôi là ủy viên Bộ Chính trị cũng không hiểu rõ được hết, rằng đã có chuyện gì đó xảy ra với người phụ nữ đó. Sau này mọi sự mới rõ là theo quyết định của A. I. Mikoian, Xvetlana được phép tạm thời sang ấn Độ...

Phiên họp của Bộ Chính trị kết thúc, tất cả những vấn đề “cơ bản” đã được xem xét, Breznev, với vẻ bẳn gắt và vội vã, nói: “Cho gọi Xemichaxtnyi!” Khi người đó bước vào phòng họp, chúng tôi cảm thấy ông ta có vẻ căng thẳng và lúng túng, sau đó người ta mời ông ngồi dự họp Bộ Chính trị. Ông ấy đã xử sự rất đúng mực. Khá bất ngờ với nhiều ủy viên Bộ Chính trị, Breznev tuyên bố: “Chúng ta cần thảo luận vấn đề về V. E. Xemichaxtnyi”. Các ủy viên Bộ Chính trị nhìn nhau ngạc nhiên. Xemichaxtnyi hỏi: “Thảo luận chuyện gì?”. Breznev trả lời: “Có đề nghị để đồng chí thôi giữ chức vụ được giao”. Xemichaxtnyi lại lên tiếng: “Vì sao thôi chức? Tôi không rõ nguyên nhân, không một ai nói với tôi về lý do này”. Nhưng câu hỏi của Xemichaxtnyi không được trả lời. Tất cả im lặng, rất những thành viên Bộ Chính trị đã hoàn toàn không hề chuẩn bị đối với việc quyết định một vấn đề như thế, nhất là quyết định nó theo kiểu này. Tôi thực sự đã bị chấn động bởi việc trước khi họp không hề có một ai nói với Xemichaxtnyi, rồi ông lại bị bất ngờ gọi đến để không hiểu gì hết. Xemichaxtnyi lại hỏi: “Tôi muốn được biết vì sao tôi bị thôi chức?” Breznev nói ngay: “Có nhiều sai sót trong công tác của các cơ quan KGB, công tác tình báo và phản gián thực hiện rất tệ, mà vụ Alliueva cũng nói lên nhiều rồi”. Xemichaxtnyi phản đối: “Vấn đề về hoạt động của KGB, tình trạng của tình báo và công tác phản gián không hề được thảo luận ở đâu cả. Chuyến đi của Alliueva sang ấn Độ không phải do các cơ quan KGB phê chuẩn. Chuyến đi ấy đã được tổ chức bất chấp mọi sự phản đối của chúng tôi”. Nhưng đến lúc này giọng nói của Xemichaxtnyi đã rơi vào im lặng.

Tóm lại, quyết định: “Đồng chí Xemichaxtnyi V. E. thôi giữ vụ để chuyển sang công tác khác”... được “nhất trí” thông qua.

Ngay lập tức Breznev đã đưa ra đề nghị: bổ nhiệm đồng chí Andropov Iu. V. làm Chủ tịch KGB.

Xemichaxtnyi đi Kiep vào ngày 23 tháng 5...”.

Có thể quả quyết rằng Iu. V. Andropov vào KGB không hề tình cờ, mà còn biết từ trước rằng sẽ có được sự bổ nhiệm đó. Ông ta ngay từ đầu đã có một chương trình hành động chính xác. Điều đầu tiên ông ta đã làm ở cương vị này là xác lập lại vị trí của Cục số 5 (về tư tưởng) danh tiếng trong mọi mối quan hệ. (Trước đó từng tồn tại Cục 4 của KGB (đấu tranh với hoạt động ngầm, các hình thái dân tộc và các phần tử thù địch chống Xô Viết). Từ ngày 15 tháng 3 năm 1957, người đứng đầu tổ chức này là Thiếu tướng E. P. Pitoranov. Từ 5 tháng 2 năm 1960, chức năng của cục này được chuyển qua cho Tổng cục 2. Ngày 3 tháng 7, Iu. V. Andropov gửi tờ trình cho BCHTW. Ngày 17 tháng 7 được coi là ngày “sinh” của Cục 5. Mệnh lệnh được gửi cho toàn KGB vào ngày 25 tháng 7. Ngày 4 tháng 8, từ cương vị Bí thư Khu ủy Xtavropolxk, A. F. Kadasev được bổ nhiệm làm Cục trưởng Cục 5. Thôi giữ chức này vào tháng 12 năm 1968. Ngày 23 tháng 5 năm 1969, F. D. Bokov - người sau này đã có một hoạn lộ đến chóng mặt - làm Cục trưởng Cục 5.

Một trong những nhiệm vụ của Iu. V. Andropov là củng cố và mở rộng các chức vụ về đảng cho bản thân, cũng như cho những kẻ theo ông ta: “Andropov nhanh chóng trở thành ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị. Vào thời của mình, tại một phiên họp toàn thể của BCHTW đảng (...), Khrusov đã từng nói: “Chúng ta đã từng khẳng định không chỉ một lần về việc trong thành phần của Bộ Chính trị không nên đưa vào bộ trưởng quốc phòng và chủ tịch KGB”. (...) Vấn đề là khi người lãnh đạo trở thành ủy viên Bộ Chính trị, thì bộ máy sau lưng anh ta lập tức thoát ra khỏi sự kiểm soát của Đảng và của Nhà nước. Bởi thiếu nó sẽ không một ai có quyền đụng vào bộ máy đó”.

Nói chung, dưới sự lãnh đạo của ông ta, KGB Liên Xô đã trở thành một tổ chức đối lập: “Không thể nói rằng công tác của KGB là không thể trách cứ trong thời gian Iuri Vladimirovich lãnh đạo cơ quan này. Đã có rất nhiều sai lầm nghiêm trọng trong hoạt động đối với bên ngoài cũng như trong nội bộ chính trị. (...)

Hoạt động của Iu. V. Andropov luôn thể hiện rất rõ sự thu lợi tối đa cho cá nhân, giành được nhiều vị trí có ảnh hưởng lớn hơn. Ông ta đã có thể kết hợp khéo léo đến mức ngạc nhiên trong mình chủ nghĩa tự do bề ngoài và sự tàn ác bên trong. Những người Do Thái đã bắt đầu bộc lộ những động thái tích cực chưa từng thấy tại Liên Xô, thiết lập nên những trào lưu bảo vệ pháp luật và những tổ chức khác nhau. KGB tùy theo mức độ, mặc dù đã phanh phui, nhưng đã làm điều này một cách thô thiển và không được khéo léo bằng cách đã tuyên truyền quá nhiều cho những phong trào đó hơn là lần tìm ra những cội rễ của chúng trên thực tế. Trong hoàn cảnh đó, chỉ có phong trào tự nhận thức dân tộc Nga là bị đàn áp không thương tiếc. Nhiều tổ chức thanh niên Nga của trào lưu dân tộc đã bị giải thể, còn những người tham gia đã bị xử tới 10 - 15 năm...

Những nhóm mong manh muốn tôn thờ tư tưởng Nga này chủ yếu được tập hợp xung quanh các hội sử học, các tạp chí văn học như “Matxcơva”, “Người đương thời chúng ta”, “Cận vệ thanh niên” dưới con mắt canh chừng của “sếp cảnh sát mật”. Hắn không chấm dứt hoàn toàn hoạt động của họ, cũng không để cho họ hoạt động mạnh mẽ, thỉnh thoảng lại xuýt lũ chó săn tư tưởng của mình dựa vào những quan điểm Mác - Lênin giáo điều nhằm vào các nhà hoạt động nghệ thuật Nga mà nguyền rủa là “những kẻ xô vanh nước lớn”. Hoàn toàn rõ là những mục tiêu của phương Tây nhằm phá hoại Liên Xô đã không thể thực hiện được cho tới khi nào KGB Liên Xô theo mô hình Xtalin vẫn đứng vững. Đó là một công việc lâu dài nhằm hạn chế những năng lực của KGB, hủy hoại những phương pháp công tác có hiệu quả, làm giảm sút tinh thần canh giác, làm chệch hướng các mục tiêu, nhằm tung tin giả và ly gián cán bộ, sử dụng những kẻ đại diện bí mật và được đào tạo tốt trong đội quân thứ 5, ngăn chặn các kênh thông tin, làm thay đổi cơ cấu của bộ máy ở trung ương cũng như ở các địa phương.

Một nhiệm vụ khác của Iu. V. Andropov là xây dựng hạt nhân trí thức dần dần trở thành “Trung ương thần kinh” chủ chốt cho những những thảm kịch trong tương lai ngay “bên trong” hệ thống. Chính ông ta có thể lựa chọn những nhân vật cần thiết, trung thành trong số những kẻ hoạt động ngầm; huấn luyện, hỗ trợ chúng thăng tiến và củng cố những cương vị then chốt... Trong cơ cấu cán bộ của Andropov, hàng loạt cán bộ “trung lập” và những người yêu nước đều bị gạt ra ngoài, còn chính “Iu. V.” là người chủ xướng - Đó là lời thú nhận trong hồi ký của kẻ từng được coi là nguồn cán bộ của ông ta.

Một nhiệm vụ mà Iu. V. Andropov từng thực hiện mang tính phương pháp luận. Tại Hội nghị toàn thể của BCHTW ĐCS Liên Xô hồi tháng 6 năm 1983, ông ta đã nói một câu khá bí ẩn: “... Nếu nói một cách công khai, cho đến nay chúng ta chưa nghiên cứu đầy đủ xã hội mà chúng ta đang sống và lao động, chưa phát hiện được hoàn toàn những quy luật vốn có của nó, đặc biệt là về kinh tế. Vì vậy, đã đến lúc chúng ta phải hành động theo kinh nghiệm, bằng phương pháp “Thử và Sai” rất bất hợp lý”.

Mỗi người nghiên cứu lý giải câu này theo cách khác nhau. nhiều người cố đi tìm ẩn ý đằng sau nó. Song về mặt nguyên tắc, không thể không đồng tình với A. A. Zinoviev về lời đánh giá sau: “... Chế độ xã hội cộng sản chủ nghĩa đã trường tồn trong Liên bang Xô Viết hơn 70 năm, vậy mà trong nước không hề có được một dòng chữ xứng danh khoa học về nó. Điều đó có thể được giải thích bởi việc các nhà cầm quyền và các nhà tư tưởng Xô Viết đã ngăn cấm sự thật về một chế độ xã hội hiện thực của đất nước”.

Trên cương vị Tổng bí thư BCHTW ĐCS, Iu. V. Andropovđã tiến hành rất nhiều chính sách xưa cũ nhằm đưa mọi thứ đến sự hoàn toàn phi lý. Một số kẻ từng mặc “Gile Pike” đang hồi tưởng với niềm hân hoan và nỗi buồn cố hương về việc “dưới thời Andropov họ từng rượt đuổi những kẻ lang thang” như thế nào. Những kẻ đó vẫn không thể hiểu nổi những điều sơ đẳng nhất của lý thuyết hệ thống tổng thể trong phụ trương của lý trí xã hội. Trong đó nói rằng, mọi hệ thống cần phải sinh động tối đa, không “mở” như là cái đích để những người trí thức phục vụ theo phương pháp luận của G. Sorox hướng tới, và không đóng như nó từng xảy ra dưới thời của những người cộng sản. Chính nó phải linh hoạt, phản ứng thích hợp với những thay đổi. Khi đó và chỉ khi đó nó mới bảo đảm được sức sống lâu bền tối đa.

Nhiệm vụ cuối cùng của Iu. V. Andropov là đã chết đúng lúc. Người ta đã giúp ông quyết định cái chết. Và điều này thì không thuộc vào lĩnh vực “Những điều bí ẩn”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #27  
Cũ 27-06-2009, 14:14
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Bí ẩn cái chết của Andropov

Phương pháp áp dụng đối với Iu. V. Andropov, về thực chất, cần xác định là “cái chết được điều khiển”. Thực chất của việc xảy ra với ông ta chính là đưa cái chết đến vào thời điểm cần thiết: không chậm hơn, cũng không sớm hơn: “... Sự kiện luôn là sự kiện: Andropov đã ít nhiều đã chung sống hòa bình với những bệnh tật của mình trong 20 năm, nhưng chỉ vừa đạt tới mục tiêu mà cả đời ông ta hướng đến - có quyền lực cao nhất - cái chết đã túm lấy ông ta”. Bạn đọc còn nhớ bằng chứng chúng tôi đã đưa ra liên quan đến cái chết của M. A. Xuxlov về việc con người đó từ KGB đi lên ra sao và đã thúc đẩy cái chết của giới thượng lưu cầm quyền thế nào? Sự kiện này cũng giống như vậy về nguyên tắc. Rõ ràng là vẫn một phương pháp đó, người ta đã đưa Iu. V. Andropov tới nhà mồ. (Vẫn còn một câu hỏi liên quan tới những trường hợp này: Trong thực tế, ai là người đã lãnh đạo đất nước và những mối ảnh hưởng: Breznev, Andropov hay là một kẻ chuyên ra lệnh “từ KGB”? Mà từ KGB thì liệu có phải là từ CIA?... Dường như câu hỏi này có vẻ khoa trương, song thực sự lại có tính then chốt)

Iu. V. Andropov có thể đã tự ký án tử hình cho mình bởi những lời nói thiếu thận trọng. Tại Hội nghị toàn thể của BCHTW ĐCS Liên Xô hồi tháng 6 năm 1983, sau khi ngắt lời K. U. Chernenko, ông ta bất ngờ nói: “Vâng, tiện đây, tôi biết rằng trong phòng họp này có những người cho phép mình thỏa thuận với những kẻ ngoại bang phát triển thông tin không cần thiết và bất lợi đối với chúng ta. Hiện giờ tôi sẽ không nêu tên họ, tự các đồng chí biết tôi nói về người nào. Và cứ để cho họ ghi nhớ rằng đây là lời cảnh báo cuối cùng cho họ”.

“Lời cảnh báo cuối cùng” đã thực sự là cuối cùng, chỉ có điều nó dành cho chính Iu. V. Andropov.

Nhân đây bạn đọc nên lưu ý vào thời điểm sau: Liệu Andropov có thể trù tính rằng người ta đã tránh ông ta như tránh một người không cần thiết để vào cương vị tổng bí thư không? Chắc là có. Một con người như ông, theo nhiều đánh giá và mô tả của những người từng chứng kiến, theo những quyết định và thành tựu của ông, thì đó còn lâu mới là kẻ ngốc. Trong trường hợp như vậy, ông có thể trù tính được rằng người ta tránh ông để có lợi cho M. X. Gorbachov. Khi đó lô gic là mối quan hệ giữa họ bị xấu đi: “Gorbachov, sau cái chết của Breznev và việc bầu Andropov làm Tổng bí thư, đã bắt đầu rêu rao khắp nơi rằng ông ta với họ là những người bạn lớn của nhau, các gia đình họ thân thiết với nhau, v.v... Khi biết được tình huống uẩn khúc đó, tôi có thể nói rằng ông ta (Gorbachov) là kẻ đại bịp (Nguyên văn – Bluff kẻ bịa chuyện đề cao mình trước những người khác). Nếu như thời gian đầu, sau chuyến Gorbachov đến Matxcơva, Andropov đã có thái độ xử sự rất đúng mực với ông ta, thì sau đó mối quan hệ giữa họ đã thay đổi đến mức ông không tiếp Gorbachov nữa”.

Những ngày tháng cuối cùng, Andropov đã mời nhiều thành viên khác trong Bộ Chính trị tới bệnh viện, mà không mời Gorbachov. Chỉ trước khi qua đời ông ta mới tiếp Gorbachov (Từ tháng 12 năm 1983 đến cuối tháng 7 năm 1990 là Bí thư BCHTW ĐCS Liên Xô, ban đầu phụ trách công tác cán bộ, sau là phụ trách những vấn đề tư tưởng, tiếp nữa là phụ trách về nông nghiệp) và Ligachov”.

Iu. V. Andropov có quan hệ với những kẻ vô liêm sỉ, những kẻ sau khi tiêu diệt ông đã lợi dụng cái chết của ông để thu lợi cho chúng: “Một cán bộ của KGB ở Leningrad trở về Matxcơva sau khi Andropov mất và thông báo: “Trong đám nhân viên của Trường đại học y số 1 có liên quan với Tổng cục 4 của Bộ y tế Liên Xô đang lan truyền những câu chuyện về cái chết bí ẩn của Tổng bí thư BCHTW ĐCS Liên Xô. Theo ý kiến của các chuyên gia, trong trường y có những người ở thời kỳ đầu chữa bệnh cho Andropov đã cố tình dùng phác đồ điều trị sai, hậu quả là đã dẫn tới cái chết đột ngột của ông. Trong giai đoạn điều trị sau này, các chuyên gia đầu ngành của cả nước, mặc dù đã tận tình cứu chữa, song vẫn không thể làm gì hơn được. Những người “từng chữa bệnh” cho Andropov có mối quan hệ với một nhóm (tên gọi bằng mật danh) của một bộ phận cán bộ trong bộ máy của đảng ở Matxcơva - những kẻ đã không vừa ý với những thay đổi và cải cách tích cực do Andropov khởi xướng...”.

Trả lời kèm theo trích dẫn
  #28  
Cũ 27-06-2009, 14:15
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Bí ẩn cái chết của Uxtinov và những người khác

Khi đề cập tới hoàn cảnh qua đời của ủy viên Bộ Chính trị BCHTW ĐCS Liên Xô, Bộ trưởng Quốc phòng BCHTW ĐCS Liên Xô, Nguyên soái Liên Xô D. F. Uxtinov, cần mô tả cả hoàn cảnh ông đã phải công tác trong những năm tháng cuối cùng của mình. Những ai đã từng có điều kiện quan sát ông trong thời gian đó đều có nhận xét rằng ông đã dồn toàn bộ tâm trí và sức lực, nhiều giờ mỗi ngày, để gánh vác toàn bộ khối lượng công việc được giao. Có rất nhiều vấn đề và cũng là trong phạm vi đã quen thuộc, như: chế tạo những mẫu mới vũ khí và thiết bị quân sự; xây dựng các công trình quốc phòng; duy trì khả năng sẵn sàng chiến đấu và kỷ luật của bộ đội, trong đội ngũ quân nhân vào những năm 1970 - 1980 đã xuất hiện hai vấn đề đặc biệt cấp bách cần kịp thời giải quyết: Afghanistan và Ba Lan. Hoàn cảnh này đã liên quan trực tiếp tới cái chết của D. F. Uxtinov cùng của nguyên thủ khác trong khối nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta bắt đầu phân tích từ sự lừa dối, tuy không lớn nhưng rất đặc trưng mà hiện nay đang bất ngờ lan truyền về những người đã khuất. Cách đây chưa lâu có một bài đăng về họ “Tuyên thệ và bị giết”: Các tướng lĩnh bị tiêu diệt ở Afghanistan, nơi quân đội của một siêu cường dù đang đổ máu vẫn không thể chiến thắng những kẻ sơn cước, dường như đã nhận thấy cách thoát hiểm: thực hiện tình trạng quân quản theo mô hình Ba Lan ở tất cả các nước thuộc Khối Varsava, kể cả Liên Xô. Chuyện này đối với quân đội thì phải cẩn thận, song không phải giữ kẽ quá. Bàn tay sắt của các cơ quan đặc biệt thuộc quyền Andropov luôn theo dõi nhất cử nhất động của các chỉ huy quân đội. Trong một chút nghi ngờ - “ông đột ngột qua đời”. Vậy là hết.

Có rất nhiều bằng chứng về việc đám tướng lĩnh quân đội cao cấp đã từng nghĩ tới vấn đề đảo chính quân sự trong hệ thống xã hội chủ nghĩa (ở hình thức này hay hình thức khác). Tiếp thu kinh nghiệm của các nước, khi trên con đường chuyển hóa từ chế độ cực quyền sang nền dân chủ, sẽ thiết lập chính thể chuyên chế quân sự lâm thời. Âm mưu khi đó đã không thành...” A. N. Iakovlev, theo thói quen của mình, đã mềm mỏng nói khi vu khống những người đã khuất. Lời buộc tội tỏ ra phi lý và phi lô gic: trong lịch sử thế giới chưa có một thủ lĩnh quân sự nào chịu trách nhiệm về thất bại quân sự lại đi lật đổ chính phủ của mình - chắc là họ đã tăng cường sự hiện diện quân sự tại Afghanistan. Vào năm 1984, ai trong số quân nhân cao cấp biết đến việc người ta đã dẫn chúng tôi theo con đường từ “cực quyền” sang “dân chủ”? Tuy nhiên, những kẻ phản biện của chúng tôi đang làm khó cho mình... Với họ, vu khống những người ngay thẳng là quan trọng.

Lời buộc tội là phi lý và liên quan tới hàng loạt chiến dịch xóa dấu vết trong quá khứ, bôi nhọ thanh danh của các nạn nhân. Nếu tìm ra được một ai đó tin điều này thì sự lừa dối to lớn đó đã gặt hái được thành công.

Hiển nhiên là bản hiệp ước đã thống nhất các bộ trưởng của 4 nước đưa quân đội vào Ba Lan. Điều này hoàn toàn dễ hiểu bởi những sự kiện diễn ra ở Ba Lan đã nằm ngoài tầm kiểm soát, cho dù đã thực hiện chế độ quân quản và được phép “bắt giữ bất cứ ai nếu cần thiết”. Trong quá khứ, những trường hợp như vậy đều cần “sự giúp đỡ quốc tế hữu nghị”. Chính L. I. Breznev cũng từng tuyên bố rằng về mặt nguyên tắc điều đó là chấp thuận được. Tôi không có những lời khẳng định từ các nguồn công khai, song vẫn có thể bày tỏ giả thuyết của mình.

Do đâu mà CIA có thể nhận được thông tin chính xác về việc các nước thành viên của Tổ chức Hiệp ước Varsava sẽ đưa quân đội vào Ba Lan? Trong Bộ tổng tham mưu quân đội Ba Lan có viên đại tá Richard Kukhlinxki đã làm việc cho CIA: “Một trong những nhân viên tình báo Mỹ, sĩ quan Bộ tổng tham mưu quân đội Ba Lan Kukhlinxki nằm ngay trong vị trí cao nhất của Liên minh Xô Viết. Anh ta rất giỏi thu thập thông tin về những kế hoạch hành động của Xô Viết tại Ba Lan. Những nguồn tin khác khẳng định rằng anh ta đã hoàn thành công việc phân tích cho CIA. Tuy nhiên người ta đã thay thế “con chuột chũi” giá trị bằng một con khác, một điệp viên mới của CIA có cấp quân hàm cao hơn.

Cựu nhân viên tình báo CIA Peter Swester thông báo rằng CIA đã tuyển mộ được một vị thứ trưởng quốc phòng Ba Lan1. Điều này có vẻ không phù hợp với thực tế. Song nhà báo Anh Nigell West, trong một cuốn sách của mình đã dẫn ra tên vị thứ trưởng quốc phòng của Ba Lan là Thiếu tướng Tadeusa Tuchanxki, kẻ thừa kế sáng giá của Kukhlinxki. Viên tướng này còn sống, và cho dù hiện nay Mỹ đã trở thành đồng minh với Ba Lan, ông ta vẫn phủ nhận vai trò của mình đối với CIA. Tuy nhiên, một đoạn trích dẫn từ bức thư của Văn phòng Varsava gửi trung tâm được nêu ra, trong đó ông ta từng viết rằng “đã nắm được một điệp viên tài năng đang giữ chức thứ trưởng quốc phòng có thể tiếp cận với “các cuộc thẩo luận trong chính phủ về đề tài an ninh nội bộ (Tin tức Tình báo và Phản gián, số 11 - 12/2001).

Lời khẳng định về việc ở Ba Lan có một nhóm khá đông những nhân vật được tiếp xúc với kế hoạch can thiệp là bằng chứng từ nguồn mới nhất: “Bộ tổng tham mưu quân đội Ba Lan đã tiến hành phân tích độc lập những kế hoạch được soạn thảo tại Liên Xô và nhận định rằng những kế hoạch đó dựa trên “sự hiểu biết không đầy đủ về tình hình phát sinh ở Ba Lan, sự coi thường tình cảm chân chính của xã hội (Ba Lan) và sự đánh giá sai lệch về sức mạnh của Phong trào “Đoàn kết”(Những vụ khủng hoảng trong quan hệ của Liên Xô với các nước Đông Âu, 1948-1981: Sử dụng những tài liệu mới. Chiến tranh lạnh. Những quan điểm mới, những tài liệu mới. Kramer M, Nxb. Matxcơva, 1995). Hơn nữa, họ có thể sử dụng cả những phương tiện kỹ thuật bởi có một nhóm 4 người của “Special Colllection Element” cùng các thiết bị nghe trộm đã có mặt trong đại sứ quán Mỹ tại Ba Lan.

Vậy là, để tiếp tục cuộc cách mạng “Bàn tay nhung” của Ba Lan cần loại bỏ 4 vị bộ trưởng quốc phòng của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa, Chí ít là họ đã quyết định như vậy và đã thành công. Chiến dịch “Hành động giảo hình” (tiếng lóng của CIA) được triển khai...

____________________________________
1. Trung tâm Nghiên cứu các vấn đề an ninh quốc gia Trường đại học Tổng hợp John Hopkins.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #29  
Cũ 27-06-2009, 14:17
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

“... Trong một mức độ nhất định, chính cái chết của Uxtinov là không rõ ràng và để lại nhiều nghi vấn liên quan tới những nguyên nhân và tính chất của căn bệnh. Vào mùa thu năm 1984 có một cuộc tập trận chung giữa quân đội hai nước Liên Xô và Tiệp Khắc được tiến hành trên lãnh thổ Tiệp Khắc. Tham dự có Uxtinov và Tướng Dzur Bộ truởng Quốc phòng Tiệp Khắc. Sau khi trở về nước Uxtinov cảm thấy khó ở, sốt cao và xuất hiện những thay đổi trong phổi. (...) điều trùng hợp đáng ngạc nhiên - tướng Dzur cũng với căn bệnh tương tự vào khoảng thời gian đó.

Chiến dịch này đã gây nên hiệu quả phụ mà người ta mong đợi - trò tố cáo cầu lợi: Viên bác sĩ chữa bệnh cho L. I. Breznev, chỉ huy Tổng cục 4 trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô “...Viện sĩ Chazov khi tới Stavropol đã chia sẻ nhiều điều với Gorbachov, trong đó thường xuyên thông tin về lối sống của những người trú ngụ ở Kremli. (...)

Là người nắm vững tình trạng sức khỏe của ban lãnh đạo Kremli, người viện sĩ này đã cho Gorbachov biết rằng cái chết sẽ lần lượt tiễn đưa các vị lãnh đạo từng người một khi quan hệ với Mỹ trở nên căng thẳng. Họ sẽ mắc bệnh và chết bất ngờ, không rõ nguyên nhân. Như Breznev có sức khỏe khá xuất sắc, bỗng nhiên mắc chứng suy kiệt. (...)

Chứng viêm tấy cũng phát triển nhanh đến không ngờ đối với Chernenko. Rồi Andropov cũng đột ngột lâm trọng bệnh. Cả hai nhà lãnh đạo quân sự của Nga và Tiệp Khắc sau cuộc tập trận chung đều cùng mắc một căn bệnh giống nhau dẫn tới tử vong. Nếu có thể tranh luận về những cái chết của các tổng bí thư là hoàn toàn tình cờ, thì việc Uxtinov và Dzur qua đời là bằng chứng hiển nhiên là hành động có chủ đích đã được thực hiện.

Để làm sáng tỏ, chúng tôi sẽ dẫn ra những sự kiện trùng hợp sau:

Ngày 7 tháng 12 năm 1984. Istvan Olakh được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng Hung Ga Ri. Trước đó là Đại tướng L. Txinege đã được bổ nhiệm làm Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa nhân dân Hung Ga Ri.

Ngày 20 tháng 12 năm 1984. Do “một cơn đau tim nặng” ủy viên Bộ Chính trị BCHTW ĐCS Liên Xô, Bộ trưởng Quốc phòng, Nguyên soái Liên Xô D. F. Uxtinov đã từ trần.

Ngày 12 tháng 1 năm 1985. Milan Batxlavich được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng Tiệp Khắc.

Ngày 15 tháng 1 năm 1985. Do “một cơn đau tim nặng”, ủy viên BCHTW ĐCS Tiệp Khắc, Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Dzur qua đời ở tuổi 66.

Ngày 20 - 24 tháng 3 năm 1985. Bộ trưởng Quốc phòng Tiệp Khắc Milan Batxlavich thăm Liên Xô.

Ngày 26 tháng 4 năm 1985. Varsava tổ chức đón tiếp các nhà hoạt động cao cấp của đảng và chính phủ các nước thành viên Hiệp ước Varsava. Hiệp ước về hữu nghị, hợp tác và tương trợ lẫn nhau được ký kết ngày 14 tháng 5 năm 1955 có hiệu lực trong 20 năm kể từ lần gia hạn cuối cùng được kéo dài thêm 10 năm nữa.

Ngày 20 - 23 tháng 5 năm 1985. Hội đồng Quân sự Các lực lượng vũ trang thống nhất của các quốc gia thành viên Hiệp ước Varsava họp tại Budapet (Thủ đô của Hung Ga Ri).

Ngày 25 - 31 tháng 5 năm 1985. Phương diện quân Trung tâm và Quân đội nhân dân Tiệp Khắc tiến hành tập trận chung trên lãnh thổ Tiệp Khắc với sự tham gia của 25 nghìn người.

Ngày 11 - 15 tháng 6 năm 1985. Bộ trưởng Quốc phòng Hung Ga Ri và I. Olakh thăm Liên Xô.

Ngày 22 - 23 tháng 10 năm 1985. Hội nghị ủy ban Tư vấn - Chính trị của các quốc gia thành viên Hiệp ước Varsava nhóm họp.

Ngày 21 tháng 11 năm 1985. Tại Praha tổ chức gặp mặt các nhà lãnh đạo cao cấp các quốc gia thành viên Hiệp ước Varsava.

Ngày 28 tháng 11 năm 1985. Kỷ niệm Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa dân chủ Đức G. Hofman 75 tuổi , nhân dịp này ông được tặng Huân chương Karl Mars, huân chương cao quý nhất của Cộng hòa dân chủ Đức.

Ngày 2 tháng 12 năm 1985. Do “một cơn đau tim nặng”, ủy viên BCHTW Đảng Thống nhất xã hội chủ nghĩa Đức, Bộ trưởng Quốc phòng Cộng hòa Dân chủ Đức, Đại tướng Geintx Hofman.

Ngày 2 - 5 tháng 12 năm 1985. Tại Berlin tổ chức phiên họp thường kỳ ủy ban các Bộ trưởng Quốc phòng quốc gia thành viên Hiệp ước Varsava.

Ngày 3 tháng 12 năm 1985. Thượng tướng Geintx Kessler được thăng hàm đại tướng và bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng Cộng Hòa Dân chủ Đức.

Ngày 15 tháng 12 năm 1985. Do “một cơn đau tim nặng”, ủy viên BCHTW Đảng Công nhân xã hội chủ nghĩa Hung Ga Ri, Bộ trưởng Quốc phòng nước Cộng hòa nhân dân Hung Ga Ri, Đại tướng I. Olakh đột ngột qua đời ở tuổi 59.

Tất nhiên, thông tin chưa đầy đủ, do hạn chế bởi tầm nhìn thiển cận của chúng tôi nên vẫn còn những biện pháp để phá hoại việc đưa quân đội vào Ba Lan mà chúng tôi chưa biết. Chúng tôi chỉ có thể trình bày một giả thuyết về việc cụ thể ai đã có thể thực hiện chiến dịch này. Theo tôi, chiến dịch này có thể được đánh giá loại “xuất sắc”, nên chiến dịch “cải tổ” sau này so với nó chỉ là trò con trẻ. Chỉ một chút trong âm mưu này - đó là D. F. Uxtinov, rõ ràng là người ủng hộ sự thăng tiến của M. X. Gorbachov, và kẻ thù của chúng ta đã buộc phải để mất đi một tiếng nói có trọng lượng. Nhưng cũng đáng đồng tiền bát gạo.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Có 2 thành viên gửi lời cảm ơn tieuboingoan cho bài viết trên:
Jan (27-06-2009), Vania (03-08-2009)
  #30  
Cũ 23-07-2009, 23:53
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

CHƯƠNG III
BỘ MÔN NGA TRONG CHÍNH TRỊ HỌC MỸ


Nếu tôi có tài tiên đoán, và tôi biết mọi bí mật,
và tôi có đủ tri thức cùng toàn bộ niềm tin thì
tôi có thể chuyển dịch những quả núi, còn tôi
không có tình yêu - tôi không là gì cả.


Thông điệp đầu tiên
của Thánh Apostol Pavel gửi Korinfiana.

Cả một hệ thống phức tạp và to lớn đã giết chết Liên Xô. Hệ thống thù địch này bao gồm cả giới lãnh đạo phương Tây, các cơ quan mật vụ của chúng, những tổ chức kiểu hội tam điểm của cả phương Đông và phương Tây, “đội quân thứ 5” ở Liên Xô và ở các nước Đông Âu. Tất cả những thành phần đó đã theo lệnh từ Washington lật đổ chúng ta. Phân hệ “những trung ương thần kinh Mỹ” là một thành tố quan trọng của hệ thống đó. Chúng có nhiệm vụ soạn thảo ra các phương thức và thông tin nhằm bóp ghẹt nước Nga, “loại bỏ chủ nghĩa cộng sản”. Vai trò của phân hệ này lớn đến mức không sao đánh giá hết được. Đồng thời hoạt động của nó cũng bí mật tới mức, về thực chất và do nhiều nguyên nhân khác nhau, cho đến nay vẫn chưa thể phát giác ra được mối liên hệ giữa hoạt động của các tổ chức ở bên kia đại dương với công cuộc cải tổ “của chúng ta”.


“Những trung ương thần kinh” và các tổ chức Xô viết học Mỹ

Những tổ chức này đang được nói tới rất nhiều trong giai đoạn hiện nay. Chúng ta hãy nêu ra đặc điểm đáng chú ý sau.

Chúng tôi lưu ý tới những tổ chức quốc gia cũng như phi quốc gia đã tham gia soạn thảo các kế hoạch phá hoại Liên Xô và hiện thực hóa chúng trong cuộc sống. Vì vậy, chúng tôi không nhắc lại những gì đã từng được viết trong thời kỳ Xô Viết. Còn trong thời kỳ hậu Xô Viết thì nhiều người đã lãng quên, song vô ích...

Tổ chức Xô Viết học, hay theo cách gọi khác là Nga học, đầu tiên là “Hội Nghiên cứu Nga” được thành lập từ năm 1913 tại Đức trực thuộc Cơ quan thuộc địa Bộ Ngoại giao. Tổ chức tiếp theo - “Trường phái những nghiên cứu Xlavơ” được thành lập tại Trường đại học tổng hợp Lodon vào năm 1915 và tồn tại cho tới ngày nay. “Phòng thí nghiệm” đầu tiên nghiên cứu về Nga tại Mỹ là “trường phái Rizk” thông qua nhóm các nhà ngoại giao của phòng Lãnh sự tại Latvia trong những năm 1920. Nó được thành lập chủ yếu là nhờ R. Kelli - người đứng đầu Viện Đông Âu của Thượng viện Mỹ. Chính những nhà ngoại giao này tạo nên nòng cốt cho đại sứ quán đầu tiên tại Matxcơva. Vào cuối những năm 1940 những người này có một ảnh hưởng đáng kể trong Thượng viện. Đặc biệt nổi bật là J. Kennan và Ch. Bollen. Người đầu tiên trong họ từng là đại sứ tại Liên Xô, đã có một cái gọi là bức điện báo “dài” nổi tiếng (gần 8.000 từ), trong đó buộc tội Liên Xô bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới (Phụ lục số 1). Trên cơ sở tài liệu này ông ta đã viết bài đăng trên báo “Forin Affis” với bút danh “Mister X”. Trò dấu tên của ông ta đã bị phanh phui, và phía Liên Xô, thấy mình bị xúc phạm, đã từ chối ủy nhiệm (ngoại giao) của J. Kennan. Lúc đó, phía Mỹ không chỉ bị thiếu hụt trầm trọng các chuyên gia phân tính về Liên Xô, thiếu những người có khả năng khái quát tình hình ở Liên Xô và sự tiếp cận của Mỹ với Liên Xô, mà thiếu cả những người giỏi tiếng Nga và có khả năng dịch các tư liệu từ các báo chí của Xô Viết về Mỹ.

Về sau, số lượng các trung tâm này đã phát triển lên tới vài trăm. Tất cả các trung tâm phân tích đã được dẫn ra trong Phụ lục số 2. Qua những năm “cải tổ” các trung tâm này đã bổ sung đội ngũ của chúng khi Ba Lan rơi vào vòng ảnh hưởng của Mỹ: “Tại Gdanxk (Ba Lan) đã thành lập một trung tâm nghiên cứu có tới 200 người Mỹ trong số 400 nhân viên. Tại trung tâm này, sử dụng kinh nghiệm của Ba Lan, họ đã soạn ra một mô hình “hòa bình” phá hoại hệ thống xã hội chủ nghĩa. (...) Tại Ba Lan họ từng tiến hành thử nghiệm tất cả các phương pháp mà sau này đã làm lung lay Liên Xô: các cuộc bãi công của thợ mỏ, mạng lưới nợ nần phương Tây, liệu pháp sốc, vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng. Tất cả những phương pháp đó đã được thử nghiệm tại Ba Lan. Ngay kẻ hiện nay rất nổi tiếng với chúng ta là Jeffri Saks cũng đã từng tu nghiệp ở trung tâm Gdanxk”. Sau này hắn luôn kề cận bên thủ tướng Ba Lan Balltxerovich. Tiếp sau đó hắn lại chuyển sang Liên Xô làm sư phụ của Gaidar”.

Tuy nhiên còn một trung tâm rất đặt biệt, rất đáng chú ý – RAND Coporation (Reseach And Development - Nghiệp đoàn Nghiên cứu và Phát triển).
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #31  
Cũ 23-07-2009, 23:56
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

RAND Coporation

Địa chỉ: RAND Coporation 1700, Main Street, Santa Monica, CA 90406, USA.

Về thực chất, nghiệp đoàn này là thủy tổ (kẻ sáng lập) của những trung tâm nghiên cứu khoa học khác. Nó nổi bật về năng lực trí tuệ của các nhân viên và mức độ ảnh hưởng trong việc soạn thảo phương pháp luận những giải pháp được sử dụng. Ngoài ra, RAND Coporation còn là một tổ chức nổi tiếng, có ảnh hưởng lớn nhất trong nhóm tinh hoa của những tổ chức nghiên cứu khoa học được coi là những “trung ương thần kinh” của Mỹ. Vào thời gian sau chiến tranh, các tổ chức xứng đáng với tên gọi này đã từng tồn tại trong quá khứ, tuy nhiên chỉ từ khi có mặt RAND Coporation, sự phát triển theo hướng nghiên cứu này mới mang tính chất hiện thực. RAND trở thành hình mẫu cơ bản cho hàng chục tổ chức chuyên nghiên cứu chính trị hiện đại và xây dựng những công nghệ chính trị mới.

Lịch sử thành lập RAND Coporation như sau. Ngay trong những năm chiến tranh thế giới II, trong Lực lượng Không quân Mỹ có một nhóm những nhà khoa học chuyên nghiên cứu các chiến dịch quân sự. Sau chiến tranh, người ta quyết định duy trì nhằm tiếp tục các công việc thuộc lĩnh vực đã triển khai nghiên cứu và nghiên cứu những công nghệ quân sự cho những năm tiếp theo. Chính vì mục tiêu này mà Đại tướng Henry Arnold (1886 - 1950, nhà nghiên cứu lý luận quân sự. Năm 1940 - 1941 là Tham mưu trưởng Quân đội Mỹ về không quân; năm 1942 - 1946 là Tư lệnh Không quân Mỹ. Có những công trình nghiên cứu về tác chiến và chiến dịch đường không được ứng dụng trong Quân đội Mỹ. ND) đã đệ trình lên cấp trên kiến nghị về ký kết hợp tác giữa Lực lượng Không quân và Hãng sản xuất máy bay “Duglas”. Kiến nghị đó được ủng hộ và một tổ chức thử nghiệm mang tên “Dự án RAND” đã được thành lập với tư cách là một phân viện của Hãng “Duglas”. Giá trị hợp đồng là 10 triệu USD. Tổ chức bắt đầu hoạt động vào năm 1946 với mục tiêu chính thức là thực hiện “chương trình nghiên cứu khoa học về những khía cạnh trong chiến tranh liên lục địa, ngoại trừ các hoạt động quân sự trên bộ”. Trong nhiệm vụ của nó bao gồm cả việc cung cấp cho Lực lượng Không quân những khuyến nghị về “các phương tiện và phương pháp thích hợp”.

Vào năm 1948 mọi người đồng loạt đặt vấn đề tách RAND Coporation ra khỏi Hãng “Duglas”. Theo J. R. Goldstan, - một người trong số sáng lập viên của “Dự án RAND”, trong những năm cuối cùng là Phó chủ tịch của nghiệp đoàn - cho biết, đã nảy sinh một loạt “nguyên nhân để chia tay”. Nhiều hãng đang thực hiện các hợp đồng quân sự đã phản đối chống lại việc tổ chức thực hiện kế hoạch cho Lực lượng Không quân lại là phân viện của một hãng cạnh tranh. Về phía mình, Hãng “Duglas” cho rằng chính vì mối quan hệ của nó với RAND Coporation mà Lực lượng Không quân Mỹ đã khước từ mọi ưu tiên cho Hãng, gây cho Hãng tốn thất rất lớn vì mất hợp đồng. Thêm vào đó, đã xuất hiện một số xích mích giữa Hãng “Duglas” với chính những đối tác của nó thuộc biên chế của “Dự án RAND”. Mặc dù tổ chức “RAND”, vì lý do an ninh, đã thực sự được cách ly khỏi hãng mẹ, không phải thực hiện những nguyên tắc và quy định điều chỉnh của hãng (thậm chí có cả quy định về việc được uống cà phê vào khi nào, ở đâu). Những nguyên tắc này luôn là nguyên nhân thường xuyên gây nên phản ứng bực tức cho những người “có tư duy” trong “RAND”. Thật may, Lực lượng Không quân đã thỏa mãn với hợp đồng 2 năm của dự án này, họ sẵn sàng tạo điều kiện để những đứa con của dự án tự đứng vững trên đôi chân của chúng. Nguồn vốn lập nghiệp ban đầu đã có được 100 nghìn USD (một phần lớn trong số đó được lấy từ số tiền bù đắp thiệt hại của Quỹ “Ford”. Như vậy, vào năm 1948, với tư cách là một xí nghiệp độc lập phi thương mại - RAND Coporation đã được chuẩn y. Nó được thành lập “để hỗ trợ cho những mục tiêu trong lĩnh vực khoa học, giáo dục và từ thiện vì lợi ích xã hội và an ninh của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ”. Cùng cần nói thêm rằng phía Liên Xô không có một lời nào về sự kiện này. Song chúng ta sẽ còn phải nhớ mãi một điều là khái niệm an ninh của Mỹ bào hàm rất rộng...

Căn cứ vào mức độ phát triển của RAND Coporation thì việc thành lập thử nghiệm của nó đã rất thành công. Vấn đề không chỉ là đã giữ được một tập thể khoa học tài năng góp mặt từ những năm trong chiến tranh, ngoài ra giới quân sự đã có được một bộ máy sáng tạo với quy mô và những năng lực mà không thể có được bằng những con đường khác. RAND Coporation đã cung cấp những phát hiện lý thuyết trong nhiều lĩnh vực rất khác nhau cho một tương lai lâu dài. Những lời khuyến nghị đó không thể có được từ những văn phòng của cơ quan chính phủ - nơi chỉ có những cộng tác viên chỉ thích hợp với việc giải quyết các nhu cầu thường nhật, những nhiệm vụ hạn hẹp. Rõ ràng là những tổ chức kiểu RAND Coporation là những trung tâm năng động có hiệu quả hơn so với bất kỳ trung tâm của các trường đại học tổng hợp nào khác - những nơi tập trụng được nhiều tập thể khoa học lớn nhưng luôn nảy sinh rất nhiều vấn đề để xác định ranh giới các nguyên tắc và vấn đề nghiên cứu giữa các khoa.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Vania (03-08-2009)
  #32  
Cũ 23-07-2009, 23:56
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

RAND Coporation có cơ cấu như sau:

Ban lãnh đạo gồm giám đốc, Hội đồng Lý luận với 10 giáo sư - chuyên gia thuộc các lĩnh vực rất khác nhau (Mỗi năm họp hai lần để bàn về đề tài nghiên cứu khoa học trong thời gian tới), Hội đồng Bảo trợ với có thành viên là những chủ tịch của các hãng và các ngân hàng lớn, các giáo sư danh tiếng của các trường đại học. Nhiệm kỳ làm thành viên của Hội đồng Bảo trợ là 10 năm. Ngoài ra còn có Hội đồng Tư vấn có chức năng chủ yếu về những vấn đề tổ chức - kế hoạch đào tạo, tuyển sinh và ngân sách của nghiệp đoàn.

Biên chế của RAND Coporation được chia ra:

- Vụ các vấn đề nội bộ. Chuyên tiến hành nghiên cứu các vấn đề nhân khẩu học của Mỹ, Liên Xô và các nước khác; những vấn đề về thiếu hụt nguyên liệu năng lượng; sự suy giảm năng suất lao động; sự lão hóa nguồn vốn tư bản chủ yếu của các xí nghiệp; sự phát triển tội phạm; chủ nghĩa khủng bố; các xung đột sắc tộc và quốc tế. Ngân sách của nó trong năm tài chính 1983 của vụ này là 13,5 tỷ USD.

- Vụ các vấn đề an ninh quốc gia. Chuyên thực hiện các đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Công tác nghiên cứu chủ yếu được tiến hành trên cơ sở các dự án với số lượng dự án rất khác nhau. lĩnh vực thực hiện bao gồm: nguồn nhân lực đối với nhu cầu chiến tranh; công nghệ và công nghiệp quốc phòng; hệ thống “con người - máy móc”; phân tích mang tính chiến lược về các lực lượng quốc tế; vũ trụ; tình hình ở Đông Âu và Cận Đông; thông qua những quyết định có nguy cơ cao. Trong khuôn khổ các dự án liên quan tới Liên Xô, nơi đây thường nghiên cứu các vấn đề như: mối tương quan lực lượng giữa Liên Xô - Mỹ; chiến lược và đường lối quân sự Xô Viết; phản ứng của Liên Xô đối với chính sách của Rigan trong lĩnh vực quân bị. Trong năm 1981, Lầu Năm góc (Pentágonon) đã trao cho RAND Coporation nghiên cứu “chiến lược sử dụng các trung gian thân phương Tây để hành động tại các nước thuộc thế giới thứ ba”. Đây là nơi đã đề nghị xây dựng lực lượng phản ứng nhanh có sự tham gia của lực lượng cảnh sát Israel, Hàn Quốc, Đài Loan, Hondurad, và của nhiều nước khác.

- Vụ Không lực. Theo truyền thống, tư lệnh Lực lượng Không quân Mỹ thường là người có đơn đặt hàng lớn nhất của RAND Coporation. Phạm vi các đơn đặt hàng như thế rất rộng - từ các vấn đề chung về chiến lược và chính trị đến những nhiệm vụ cụ thể về áp dụng công nghệ vụ trụ và không quân, về tiến hành các chiến dịch quân sự và điều hành bộ đội, trong đó liên quan trực tiếp tới các chiến dịch tại Irắc và Nam Tư trên cơ sở nghiên cứu của nó về kinh nghiệm quân sự.

Ngoài ra còn có:
- Vụ Những vấn đề điều hành;

- Vụ Phân tích nguồn lực;

- Vụ Công trình;

- Vụ Nghiên cứu hệ thống;

- Vụ Kinh tế;

- Vụ Kỹ thuật ứng dụng;

- Vụ Thông tin;

- Vụ Khoa học xã hội

Viện Nghiên cứu sinh được thành lập vào năm 1969. Nếu như các trung tâm khác hoạt động bên ngoài các trường đại học được đào tạo nghiên cứu sinh để bảo vệ học vị tiến sĩ triết học, thì RAND Coporation cũng có quyền bảo vệ học vị này. Nó nhận vào làm nghiên cứu sinh gồm các nhân vật đã tốt nghiệp các trường đại học có danh tiếng. Tại đây nghiên cứu sinh không chỉ học tập mà còn tham gia thực hiện những công việc của nghiệp đoàn, tham dự các hội thảo và hội nghị khoa học. Đề tài làm luận văn tốt nghiệp là các chuyên ngành nghiên cứu của nghiệp đoàn. Việc học tập của nghiên cứu sinh hoàn toàn miễn phí. Sau khi bảo vệ thành công luận án, các tiến sĩ sẽ được tuyển vào làm việc tại các cơ quan của chính phủ, trong đó có một bộ phận được giữ lại làm việc tại RAND Coporation.

Ngoài ra, còn có những khóa 3 năm về chu kỳ kinh tế học, lý thuyết các trò chơi toán học, thống kê học. Kết hợp với Trường đại học tổng hợp California, nó còn thực hiện Chương trình đào tạo các chuyên gia về chính trị đối ngoại Xô Viết với học vị tiến sĩ triết học.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #33  
Cũ 23-07-2009, 23:56
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Thư viện của RAND Coporation có khoảng 70 000 đầu sách và 225 000 bản báo cáo khoa học.

Các cán bộ khoa học hàng đầu của nghiệp đoàn qua nhiều năm là những người như: Alecxandr Alecxeiev; V. Aspaturian - tư vấn; Ronn Batista - Bí thư báo chí, cựu phát ngôn viên từ Las-Vegas; A. Berson - Tư vấn; Edward Bruner; Robert Beker - trước đó từng là Giám đốc Vụ Chính trị của Đài phát thanh “Châu Âu Tự do”; Charlz Wolf; Thomas Wulf; de Wird; R. L. Garthof - chuyên viên khoa học về các vấn đề Liên Xô, tác giả cuốn sách “Chiến lược quân sự Xô Viết”...; Thomas Gordon; A. Jordg - chuyên viên vụ các khoa học xã hội. Ông ta đã từng nghiên cứu vấn đề “Chiến lược kìm hãm”, sau đó chuyển sang làm việc tại Trường đại học Stanford, là đồng tác giả với D. Holld và W. Samons viết cuốn “Những giới hạn ngoại giao bắt buộc. Lào-Cuba-Việt Nam”, cũng là đồng tác giả với R. Smoyk cuốn “Sự kiềm chế trong đường lối đối ngoại Mỹ: lý luận và thực tiễn”; Jams Digby - người lãnh đạo những chương trình nghiên cứu quốc tế; N. Dolky, German Kann, Thomas Robinson, Win Wiilkoks - là những người nghiên cứu phương pháp luận tích hợp dự báo các quan hệ quốc tế; Fred Ch. Ikle - Vụ trưỏng những nghiên cứu xã hội, rất nổi tiếng với nghiên cứu mang tính dự báo của mình, từ năm 1973 ông ta làm Chủ tịch ủy ban Kiểm soát vũ khí và trang bị; B. Lambet - tác giả cuốn “Người chiến binh muốn điều hành nước Nga: chuyên môn của Alekxandr Lebed; Conxtantin Melnik - xuất thân là người Nga, sau làm sếp phản gián Pháp; R. Mollander - tác giả các kịnh bản về chiến tranh thông tin-tâm lý; Jonathan Pollak; Gans Spier; John Thomson; Senders Winboos; Albert Wolstetter; Fransis Fukuiama - Trưởng nhóm nghiên cứu, tác giả của học thuyết về “Kết thúc lịch sử”; Olaf Helmer - nhà toán học đầu đàn của những năm 1946 - 1968, tác giả cuốn “Công nghệ xã hội” (năm 1966); Poll Hants; Thomas Selling, Jams Slesinger - Vụ trưởng, sau đó rời khỏi hãng làm Giám đốc CIA, Bộ trưởng Quốc phòng, Bộ trưởng Năng lượng; Charls Hitts - Chủ tịch Hội đồng Nghiên cứu khoa học RAND Coporation, những năm 1961 - 1965 là Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng, từ năm 1965 là Phó tổng thống, từ năm 1968 là Chủ tịch Trường đại học tổng hợp California, và nhiều người khác.

RAND Coporation chiếm giữ một vị trí rõ rệt trong hệ thống xã hội phương Tây đến mức một loạt các thành viên của nó được mời làm đại diện của chính phủ ngầm của thế giới. Theo những số liệu sau đây, hiện nay thành viên của chính phủ này là: Tổng thống Jams K. Thomson - ủy viên Hội đồng Quan hệ quốc tế; Phó tổng thống George Thenhem - ủy viên Hội đồng Quan hệ quốc tế; Phó tổng thống Michael Rish - ủy viên Hội đồng Quan hệ quốc tế; lãnh đạo nhóm nghiên cứu Liên Xô và các nước Đông Âu của RAND Coporation, Giám đốc trung tâm Nghiên cứu hành vi của Liên Xô ở nước ngoài của RAND Coporation và của Trường đại học California Arnold Horelik - ủy viên Hội đồng Quan hệ quốc tế; ủy viên Hội đồng RAND Coporation Gustave Subert - - ủy viên Hội đồng Quan hệ quốc tế.

Nhiều nhân vật của RAND Coporation chuyển sang làm phân tích kế hoạch của các cơ quan chính sách đối ngoại, đã lãnh đạo các lĩnh vực quan trọng nhất của công việc này. Các thành viên của RAND Coporation liên tục được bổ nhiệm vào những cương vị lãnh đạo của Bộ Quốc phòng, vào cuối thập kỷ 1960 - đầu thập kỷ 1970 họ đã giữ những vị trí quan trọng của Cục Điều hành Hành chính - Ngân sách trực thuộc Tổng thống Mỹ, trong bộ máy của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ (NSC).

RAND Coporation đã đào tạo ra nhiều chuyên gia nòng cốt cho các trung tâm mới. German Kann (1922 - 1983, nhà tương lai học, từ 1961 làm giám đốc Viện Nghiên cứu Hudson. ND) và M. Singer vào năm 1961 đã sáng lập ra Viện Nghiên cứu Hudson; một nhóm thành viên của RAND Coporation vào năm 1957 đã thành lập ra Trung tâm nghiên cứu “TEMPO” của hãng “General Electric”; O. Hellmer vào năm 1968 đã thành lập ra Viện Nghiên cứu tương lai; T. Gordon vào năm 1970 mở Trung tâm Nghiên cứu “Nhóm tương lai”, v.v... Có hàng chục chuyên gia về dự báo đã vào các trung tâm khác được mở ra ở Mỹ nhờ vào các phương pháp, lý luận và kinh nghiệm mà họ đã tích lũy được ở RAND Coporation.

Những sản phẩm do RAND Coporation tạo ra trong quá trình nghiên cứu của mình là hàng nghìn bản báo cáo, những tư vấn, khuyến nghị, chỉ dẫn...

Sau khi thành lập biên chế của riêng Dự án, chứ không phải của cả RAND Coporation, đã lập tức nhận được nhiệm vụ xem xét những khả năng mới và chưa được nghiên cứu có thể phục vụ cho quân đội. Nhiệm vụ đầu tiên lớn nhất của nó là một nghiên cứu có tựa đề “Dự án sơ bộ của tàu vũ trụ thử nghiệm quay trở về trái đất”. Cho dù vệ tinh nhân tạo vào thời gian đó được coi là thành tựu vĩ đại của điều hoang tưởng khoa học, trong tài liệu do 50 nhà khoa học chuẩn bị vào năm 1946 đã cung cấp một đánh giá chi tiết viễn cảnh sử dụng các vệ tinh khoa học và nghiên cứu vũ trụ. Kết quả nghiên cứu dù chỉ có tính chất phán đoán, song nó đã góp phần to lớn vào việc củng cố uy tín của hãng. Những nghiên cứu ban đầu khác của RAND Coporation đã bao trùm rất nhiều lĩnh vực mới, như: cách sử dụng động cơ tên lửa cho vũ khí chiến lược; tổ máy động lực hạt nhân; lý thuyết các trò chơi trong ứng dụng đối với quân sự; đầu đạn tên lửa hạt nhân cassette; tính chất mỏi của các kim loại; bức xạ năng lượng cao... Một trong số những phân tích đầu tiên là đưa ra phương pháp nghiên cứu chiến dịch nhằm tăng cường bán kính hoạt động của không quân. Kết quả của phân tích này là ứng dụng quy trình tiếp liệu trong khi bay đối với các máy bay quân sự. Theo khuyến nghị của RAND Coporation người ta đã áp dụng sơ đồ định vị địa hình các căn cứ Không quân Mỹ và các bệ phóng tên lửa hạt nhân chiến lược bao quanh khối của Tổ chức Hiệp ước Varsava. Một nghiên cứu khác của RAND Coporation đã cho phép sản xuất kim loại titan với số lượng đáng kể, nhờ đó mà thứ kim loại này được ứng dụng rộng rãi trong chế tạo máy bay và các tàu vũ trụ, tạo nên cả một ngành luyện kim mới. Ngay trong năm đầu tồn tại của mình, RAND Coporation đã phải bổ sung vào biên chế của mình những chuyên gia về các vấn đề chính trị, các nhà kinh tế học và tâm lý học nhằm tìm kiếm về lý thuyết mà không bị giới hạn bởi các ngành khoa học chính xác.

Một công việc khác ở thủa ban đầu của RAND Coporation có tiêu đề “Học thuyết quân sự Xô Viết” đã trở thành sách chuyên khảo được đăng tải ở phương Tây; còn trong một luận án khác do Margarett Mid viết là một công trình nghiên cứu về tính cách dân tộc Liên Xô.

Những sản phẩm mới của hãng này có lúc đã gây sốc bởi chi phí cho chúng lên tới 60 triệu USD mỗi năm. Số sản phẩm mỗi năm tạo thành một chồng cao. Một nhà báo đầu tiên viết về hãng, P. Dikson, sau khi được German Kann cho thăm quan “những trung ương thần kinh” khác của Mỹ, đã đặt tựa đề cho cuốn sách của mình là “Những nhà máy tư duy” - giá của mỗi trang nghiên cứu lên tới 3 triệu USD.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #34  
Cũ 23-07-2009, 23:57
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Trong phạm vi nghiên cứu của RAND Coporation có đề cập tới cả những vấn đề về môi trường xung quanh, đồng thời đề xuất ra một loạt các dịch vụ trong lĩnh vực nghiên cứu chất thải, như: quy hoạch chất lượng không khí trong những vùng dân cư; những thiết bị làm sạch nước; bức xạ của các phản ứng hóa học; dự báo mức độ nhiễm bẩn; mô hình hóa khí tượng; đánh giá kinh tế các vấn đề về nhiễm bẩn và các phương pháp giải quyết nhiễm bẩn; tư vấn về vấn đề nhiễm bẩn; quy hoạch các thành phố; đấu tranh với nhiễm bẩn; những thành phố kiểu mới; quy hoạch vùng; bảo vệ thiên nhiên; sửa chữa quỹ nhà ở và quy hoạch di dân.

Ngoài ra, trung tâm chú ý của nó còn là các kế hoạch dự phòng chiến tranh hạt nhân; những con đường phát triển và xuất hiện các quốc gia; những ý tưởng mới trong việc ngăn chặn tội phạm và đấu tranh phòng chống tội phạm; kế hoạch cải cách các trường phổ thông Mỹ; cơ số mới của vũ khí chiến lược và các biện pháp ngăn chặn tấn công hạt nhân.

RAND Coporation còn quan tâm nghiên cứu nhiều vấn đề thường nhật rất khác nhau, như: đầu lọc thuốc lá “Like”; thị phần của công việc quy hoạch tại triển lãm toàn thế giới “Expo-67”; danh mục dự kiến vị trí tương đối cho công viên DysneyLand; các chất có mùi hương và gia vị; các thực phẩm được sấy khô bằng phương pháp thăng hoa; các chữ số và chữ cái được “đọc” bằng máy điện toán... Tất tật những đề tài như vậy đều được RAND Coporation tiến hành nghiên cứu.

Một thời gian dài RAND Coporation đã ký kết được hàng loạt hợp đồng với bang California. Cũng thời gian đó, thành phố New-York đã hợp tác với RAND Coporation để thành lập nên “những nhà máy tư duy” với tên gọi là “ Viện RAND của New-York”. Viện này đi vào hoạt động từ tháng 4 năm 1969. Sau đó hàng loạt các bang và các thành phố khác đã xem xét về việc tổ chức những cơ quan kiểu này để nghiên cứu các vấn đề riêng của mình.

Vào thời của mình nhóm tư vấn về các vấn đề chính trị khoa học trực thuộc nghị viện Mỹ cùng với hàng loạt khuyến nghị khác đối với Thư viện Quốc hội trong bản báo cáo của mình “thông tin kỹ thuật đối với Quốc hội” đã đề nghị xây dựng một tổ chức tư vấn khoa học có chức năng cảnh báo sớm cho Quốc hội về những hậu quả tiêu cực tiềm năng từ việc ứng dụng công nghệ mới và làm rõ những lĩnh vực có triển vọng hơn cần tập trung sự quan tâm của Quốc hội. Đấy là một trong những lĩnh vực nghiên cứu mới nhất trong số rất nhiều khuyến nghị và đề nghị chính thức nhằm xây dựng “nhà máy tư duy” về những vấn đề chính trị khoa học phục vụ Quốc hội.

Trong suốt phần lớn của giai đoạn ban đầu hoạt động nghiên cứu nền kinh tế Liên Xô, RAND Coporation đã gặp nhiều khó khăn to lớn. Rất ít thông tin về nền kinh tế từ phía Liên Xô. Hãng đã buộc phải lập ra biên chế các nhà phân tích kinh tế để bắt tay vào xây dựng các tư liệu thống kê và đánh giá có độ tin cậy. Họ đã lập ra một tổ chức nghiên cứu các chỉ số về kinh tế của Liên Xô, như giá cả, các tiêu chí giá trị đời sống và tiền lương, sức mua của đồng rúp. RAND Coporation đã tiến hành nghiên cứu kỹ về Liên Xô. Kết quả của những nghiên cứu đó được đăng tải trên tạp chí của RAND “Soviet Cybernetics Review”, hai tháng một số, trong đó gồm thông tin và phân tích thông tin về những thành tựu của Liên Xô trong lĩnh vực điện tử và kỹ thuật toán; các bài viết của tác giả Mỹ về lĩnh vực này và tin tức về các hội nghị khoa học ở Liên Xô. Trong tạp chí này chúng ta có thể tìm thấy những ví dụ rất cụ thể về cả cách thức tiến hành thu thập tin tình báo khoa học. Điển hình như việc trong tạp chí có thông tin về máy tính điện tử của Liên Xô với những số liệu được lấy từ một cuốn sách xuất bản vào năm 1968 rất ít người biết đến, về việc máy tính điện tử sử dụng trong vận tải biển được thu thập từ báo chí công khai của Liên Xô.

Cũng bằng cách thức tương tự, RAND Coporation là một trong những trung tâm quan trọng nhất nhằm thu thập và phân tích thông tin về Trung Quốc. Công việc này được bắt đầu từ năm 1955 và tiến hành bằng một cách thức phân tích rất tinh tế các tài liệu, báo cáo, tin thường kỳ như đối với Liên Xô. Một ví dụ điển hình liên quan tới Trung Quốc là việc nghiên cứu chuyên sâu nhằm đánh giá Quân Giải phóng nhân dân Trung Quốc, những tiềm năng công nghiệp của Trung Quốc. Trong bản báo cáo được công bố vào năm 1969 đã thể hiện kết quả phân tích sâu sắc về nền kinh tế Trung Quốc. Điểm gây ấn tượng chủ yếu là rất nhiều lời khẳng định mới đây của phía Trung Quốc về thành tựu kinh tế của mình đã chứa đựng những tin tức bị thổi phồng; còn theo RAND, nhịp đó tăng trưởng kinh tế trên thực tế chỉ có gần 3% chứ không thể là 9%.

Hoàn toàn không phải tất cả các nghiên cứu của RAND Coporation chỉ mang tính chất văn phòng. Cần phải nói rằng, Mỹ đã rất sợ hoạt động của các đội du kích Liên Xô trong những năm Chiến tranh vệ quốc vĩ đại, nên ở RAND Coporation đã triển khai nghiên cứu các biện pháp phòng chống những hoạt động kiểu đó. Tại Việt Nam, RAND Coporation đã tiến hành gần 2 400 cuộc thẩm vấn các tù binh. Như trong một bản báo cáo của “RAND” cho thấy, những cuộc thẩm vấn như thế “đã cung cấp cho những người hoạch định chính sách của Mỹ rất nhiều thông tin quan trọng và chi tiết, về nguyên nhân và quan điểm của việt cộng”. Các tư liệu có được từ nỗ lực tìm hiểu việt cộng gồm: đạo đức, quan điểm, chiến thuật và động cơ... được xếp vào dạng tài liệu mật. Mối quan tâm của RAND Coporation đối với khu vực Đông Nam á cũng rất rộng lớn. Kể từ thời điểm Mỹ bắt đầu tham gia vào những hoạt động quân sự tại khu vực này, các chuyên gia của RAND Coporation cũng bắt đầu nghiên cứu dân cư, các phương pháp tiến hành chiến tranh và những loại vũ khí được đưa vào sử dụng... Nội dung nghiên cứu của họ bao trùm nhiều vấn đề: từ phân tích thuật toán hiệu quả của các trận ném bom đến nghiên cứu dân cư vùng rừng núi ở khu vực biên giới Việt Nam. Kết quả hoạt động tập thể này đã tạo ra một số lượng lớn các tư liệu làm cơ sở bao biện cho cuộc chiến ở các giai đoạn khác nhau. Trên thực tế, RAND Coporation đã hoạt động tích cực tới mức được mọi người coi là kẻ tham gia chiến tranh chứ không chỉ là những nhà nghiên cứu kinh viện.

Trên thực tế, hầu hết mọi phương pháp và hệ phương pháp đã được RAND Coporation trực tiếp soạn thảo hoặc được rất nhiều thành viên của nó sử dụng làm phương pháp luận nghiên cứu.

Bắt đầu từ năm 1963, RAND Coporation thường xuyên đăng tải thành những bài viết chuyên khảo, tuyển văn trong “Selected RAND Abstracts” dành cho các quan chức chính phủ, các nhà lãnh đạo của hãng và các trường đại học. Hàng năm, số lượng sách như thế được xuất bản là 30 - 40, có đề tài rộng khắp, như: những nghiên cứu của Liên Xô trong lĩnh vực năng lượng hạt nhân; các vấn đề về hạn chế vũ khí chiến lược, tình hình ở Ba Lan; chủ nghĩa khủng bố quốc tế; nền chính trị Trung Quốc; khả năng cất cánh thẳng đứng của máy bay; các mục tiêu chiến lược của Liên Xô...

Các ấn phẩm xuất bản kết quả nghiên cứu của RAND Coporation còn có: Research Reports (báo cáo nghiên cứu) 1966 - 1970; RAND Coporation. Annual Reports (báo cáo thường niên của RAND) - Santa Monica (Califofnia) 1977, 1978, 1979, và nhiều năm tiếp theo.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #35  
Cũ 23-07-2009, 23:57
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Trong giai đoạn trước cải tổ, họ đã cho đăng nhiều công trình nghiên cứu Xô Viết học như:

- Nước Nga ở ngã ba đường: Đại hội XXVI ĐCS Liên Xô. Chủ biên X. Bialer và T. Gustafson. 1981, 223 trang.

- Perrot B. Sự phát triển thông tin trong khoa học và kỹ thuật Xô Viết. Việc nghiên cứu các kênh phát triển văn bản. 1981, 265 trang.

- Johnson A. Ấn tượng về chuyến đến Nam Tư “sau Titov”. 1981, 325 trang.

- Bennigsen A. Liên Xô và cuộc chiến tranh du kích hồi giáo trong những năm 1920 -1981. 1981, 220 trang.

- Johnson A. Khủng hoảng ở Ba Lan. 1982, 186 trang.

- Leytes N. Phương thức tiến hành chiến tranh Xô Viết. 1982, 346 trang.

- Gosmer S. Đường lối Xô Viết và thực tế đối với các vụ xung đột ở “thế giới thứ ba”. 1983, 318 trang.

- Kurran S., Ponomorioff D. Yếu tố sắc tộc trong Lực lượng vũ trang Nga và Xô Viết. 1983, 204 trang.

- Winboos S. Những người lính Xô Viết đi từ Trung á tới Afghanistan. 1983, 204 trang.

- Bruner E. Những khuynh hướng hiện đại của nhân khẩu học và thành phần sắc tộc của những người được gọi nhập ngũ trong những năm 1980 - 1985. 1984, 338 trang.

- Winboos S, Alekxiev A. Yếu tố sắc tộc trong Lực lượng vũ trang Nga và Xô Viết. 1984, 186 trang.

Những công trình nghiên cứu không thuộc loại mật được phát hành rộng rãi tại 100 thư viện ở Mỹ và 50 thư viện nước ngoài.

RAND Coporation thường xuyên tổ chức các hội thảo, hội nghị với sự tham gia của nhiều quan chức chính phủ, các giáo sư, nhà báo,... để thảo luận những vấn đề cấp thiết.

Nó còn có hai phân viện; thứ nhất là Centrer for Study Soviet international behaviour , RAND - University of California, Los Angeles (Trung tâm nghiên cứu hành vi của Liên Xô ở nước ngoài của RAND Coporation và Trường đại học tổng hợp California, Los Angeles).

Trước hết, chúng tôi dẫn ra một số thông tin về trung tâm này cho phép giải thích tư duy của chính những thành viên RAND. Và chỉ có thể giải thích từ quan điểm hiểu biết hệ thống. Vấn đề là một hệ thống xã hội phức tạp như một quốc gia hiện đại như thế này thì không thể chỉ dừng lại trong khuôn khổ quốc gia của nó, mà còn được phản ánh vào trong bản đồ chính trị thế giới. Và Liên Xô không phải là ngoại lệ. Tại nhiều nước - tại Đông Nam á và trong “thế giới thứ ba” - “sự hiện diện Xô Viết” đã có một vị thế to lớn tới mức người ta không thể hình dung ra sự phát triển của các nước đó nếu thiếu Liên Xô của chúng ta. Và ngược lại, không thể hình dung về Liên Xô mà lại bỏ qua các quốc gia này. “Sự hiện diện Xô Viết” tựa như là bộ rễ của cái cây có tên gọi là “Liên Xô“. Nếu chặt bỏ được những cái rễ này, thì không cần đốn cái cây. Tất nhiên, tự thân những biện pháp này không bảo đảm cho thành công, song chúng có ý nghĩa to lớn là sẽ tác động tới toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Tôi cho rằng chính hình ảnh này đã được trung tâm này xây dựng nên vào năm 1983, mặc dù, theo quan điểm chính thức của Donald Ris - Chủ tịch của RAND Coporation, - tiết lộ, đã có từ trước đó. Theo ông ta, do không đủ chuyên gia về đường lối đối ngoại và đường lối quân sự Xô Viết nên trung tâm buộc phải đào tạo họ. Ngoài ra, tâm điểm chú ý của các chuyên gia trong trung tâm là các mối quan hệ hữu cơ giữa những yếu tố bên trong và bên ngoài của chiến lược Xô Viết.

Giám đốc trung tâm là Arnold Horelic, trước đó từng làm lãnh đạo Nhóm nghiên cứu Liên Xô và Đông Âu của RAND Coporation. Đồng Giám đốc là Andge Kobonxki.

Hướng nghiên cứu chính của trung tâm là đào tạo các chuyên gia cao cấp cho bộ máy chính phủ và các phương tiện thông tin đại chúng; đào tạo tiến sĩ nghiên cứu về vai trò của Liên Xô trong nền chính trị thế giới; quan hệ giữa Liên Xô và các nước Đông Âu; nền chính trị - kinh tế đối ngoại Xô Viết; quan hệ Mỹ - Liên Xô; những nhân tố bên trong của nền chính trị đối ngoại Xô Viết; đường lối Xô Viết trong lĩnh vực quốc phòng. Ngoài ra, họ còn nghiên cứu về mối quan hệ giữa đường lối đối nội và đối ngoại Xô Viết. Ngoài ra, trung tâm còn đặc biệt quan tâm tới hoạt động của các Bộ trưởng Ngoại giao, Bộ Ngoại thương, ủy ban quốc gia về quan hệ kinh tế đối ngoại của Liên Xô.

Phân viện thứ hai - thủ phủ: RAND Coporation, Washington office.

Trong phân viện có khoảng 40 chuyên gia khoa học và 40 chuyên gia khoa học - kỹ thuật, được chia thành 4 ban: những vấn đề đối nội; chế tạo tầu thuyền dân sự; an ninh quốc gia (theo kế hoạch của nghị viện); an ninh quốc gia (theo kế hoạch của RAND Coporation)

Những vấn đề được nghiên cứu ở đây là: bảo đảm hậu cần cho hoạt động của Lực lượng Không quân Mỹ; khoa học ứng dụng và công nghệ; phòng thủ chiến lược và lực lượng vũ trang; nguồn nhân lực; hệ thống thông tin và v.v... Hàng năm phân viện gửi đi hàng trăm báo cáo các loại, văn bản ghi nhớ tới các cơ quan quân sự, các hãng hoặc tới 300 thư viện.

Ngoài ra, phân viện này còn có một bộ phận khác tại thành phố Dowton (bang Ohio), gần Căn cứ Không quân Right-Patterson.

***

Trong những năm cải tổ mọi người không thể quên RAND Coporation khi mọi sự được bắt đầu từ việc Giám đốc CIA Wiliams Casy “buộc phải thỏa thuận với cựu chủ tịch của RAND Coporation là Henrry Rouen lãnh đạo Hội đồng quốc gia về vấn đề tình báo để tuyển Gerb Maier Tổng biên tập tạp chí “Fortun” làm trợ lý chuyên môn. Còn ông ta, bằng mối quan hệ với Nhà Trắng, thì tuyển nhà kinh tế học Davis Wight, người đã lập ra hệ thống kiểm soát mức ngoại hối cố định vào Liên Xô và qua xuất khẩu. Đó là những chuyên gia phân tích về kinh tế Liên Xô. Tay nghề chuyên môn của những người được Casy tập hợp quanh mình đã nói lên mối quan tâm của ông ta”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Được cảm ơn bởi:
Vania (03-08-2009)
  #36  
Cũ 23-07-2009, 23:58
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Các nhà Xô viết học

Các nhà Xô Viết học hàng đầu của Mỹ được chúng tôi dẫn ra trong Phụ lục số 3. Chúng tôi điểm danh những nhà phân tích, Xô Viết học và những người lãnh đạo họ cùng những người khác chỉ để có thể trả lời chính xác cho câu hỏi: “Ai trong số họ là người chiến thắng chủ yếu trong “thế giới thứ ba”.

Nếu từ phía lãnh đạo Xô Viết, thắng lợi trong chiến tranh vệ quốc vĩ đại được dựa trên mối liên hệ Xtalin (động viên mọi nguồn lực toàn quốc gia, mối quan hệ đối nội và đối ngoại, đào tạo cán bộ, lãnh đạo khối chính trị, hiệp đồng các hoạt động lớn trên mặt trận) – Zukov (các trận đánh và chiến dịch chiến lược thành công nhất), thì về phía Mỹ, kẻ “chủ chốt” trong “chiến tranh lạnh” không được xác định rõ.

Trong suốt những thập kỷ 1950 - 1980 các nhà Xô Viết học của kế hoạch tuyên truyền đã làm việc trong suốt thời gian đó, còn các nhà Xô Viết học nghiên cứu làm việc vì tương lai. Nói về nhóm thứ hai, ta có thể thấy rằng một nhà nghiên cứu bình thường chỉ có thể tiến hành những hành động riêng lẻ nhằm phá hoại Liên Xô. Ví dụ, một nhà kinh tế học chỉ có thể đưa ra những khuyến nghị trong khuôn khổ một chiến dịch chống Liên Xô, chứ không phải cho toàn cục. Thất bại tổng thể chỉ có thể từ những công nghệ mang tính hệ thống.

Trong cách nhận định này, thành công trong việc phá hoại Liên Xô không chỉ thuộc về kẻ gián điệp có ảnh hưởng và sự bảo đảm về tri thức của nó, mà có một phần lớn đáng kể thuộc về sự phân tích của các bộ tham mưu “cải tổ” từ bên kia đại dương.

Giữ một vai trò đặc biệt là những người xuất thân từ Liên Xô với những tin tức “tươi sống” khi họ vừa rời bỏ đất nước và hoàn toàn tự nguyện giúp đỡ Mỹ.

Trong vấn đề này chúng tôi hiểu được rằng trong số các nhà Xô Viết học không thể thiếu những người xuất thân từ Nga, không chỉ bởi họ hiểu biết về đất nước này hơn bất cứ ai khác, mà còn bởi uy tín của những nhà nghiên cứu Nga luôn rất cao. Trong số những người này, có rất nhiều nguyên nhân khác nhau để rời bỏ đất nước, song đặc biệt cũng có kẻ ra đi theo “làn sóng thứ ba”, bị các cơ quan tình báo lập kế hoạch đưa họ rời Liên Xô, hay nói theo một thuật ngữ thời thượng là “Chảy não” (các chuyên gia bỏ ra nước ngoài).

Chúng tôi xin dẫn ra dưới đây một số nhà Xô Viết như vậy.

Avtorkhanov Abdurkhman Ginazovich, 1908 - 1909?, người Chêchen, giáo viên, sau vào khu ủy. Năm 1937 tốt nghiệp Viện Giáo học. Từng làm việc tại BCHTW ĐCS, hai lần bị bắt giam, vào tháng 1 năm 1943 bỏ trốn ra nước ngoài. Đã từng giảng dạy tại Học viện Nga của Quân đội Mỹ. Sau sống tại ngoại ô Munchen (Cộng hòa Liên bang Đức). Thành viên ngoại quốc của Viện Hàn lâm khoa học các khoa học tự nhiên Liên bang Nga. Các tác phẩm: “Đế chế Kremli”, “Xtalin đương quyền”, “Công nghệ quyền lực”, “Bí ẩn của cái chết Xtalin. Âm mưu của Beria”, “Sức mạnh và sự bất lực của Breznev”,...

Birman Igor Iakovlevich, sinh năm 1928, người Do Thái. Đã từng làm lãnh đạo Ban phương pháp toán - kinh tế của một viện hàn lâm ở Matxcơva. Năm 1974 di cư sang Mỹ. Tác phẩm có “Chương trình hóa tối ưu”.

Voslenxki Mikhain Iakovlevich, sinh năm 1920. Tốt nghiệp khoa lịch sử Trường đại học tổng hợp Matxcơva (MGU), từng học cùng với con gái của I. V. Xtalin là X. I. Alliulueva. Từng làm phiên dịch tại Tòa án quốc tế Newremberg và tại Hội đồng Kiểm soát đồng minh ở Đức. Từ năm 1950 là cộng tác viên của Văn phòng Thông tin Xô Viết trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô. Sau đó công tác tại Hội đồng Hòa bình thế giới, tại Viện Kinh tế thế giới và Các quan hệ quốc tế của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô. Năm 1972 đi giảng bài tại Trường đại học tổng hợp Munchen (Đức), từ tháng 4 năm 1974 - tại Viện do Vaitzeker lãnh đạo. Năm 1976 bị tước quyền công dân Liên Xô. Là Giám đốc Viện Nghiên cứu các vấn đề thực tiễn Xô Viết. Tác phẩm: “Giới thượng lưu”.

Zemtxov Ilia Grigorevich, sinh năm 1941, người Do Thái. Từng làm việc tại Ban Thông tin trực thuộc BCHTW ĐCS Azerbaidzan. Bỏ sang Israel. Đã từng là một trong số các nhân vật thiết lập những cuộc tiếp xúc bí mật đầu tiên giữa Israel với Gorbachov vào năm 1990. Tác phẩm: “Đảng hay Maphia? Một nền cộng hòa bị đánh cắp”, “Tan rã một thời đại” (hai tập).

Zinoviev Alecxandr Alecxandrovich, sinh năm 1922, người Nga. Theo lời ông, năm 1938 đã từng bị bắt giam vì hoạt động chống Xô Viết. Từng tham gia Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại. Tốt nghiệp MGU, tiến sĩ triết học, giáo sư. Năm 1976 bị buộc nghỉ việc, bị KGB theo dõi vì đưa in tác phẩm “Những đỉnh cao rạn nứt” ở phương Tây. Đã từng sống tại Munchen. Tác giả của rất nhiều cuốn sách. Có nhiều bằng chứng và lý luận về sự thất bại của Liên Xô.

Kalmykov Igor Borixovich, sinh năm 1918, người Nga. Tốt nghiệp Trường đại học Bách khoa Novocherkaxk, dự thính tại Trường đại học Ngoại ngữ quân sự. Sau chiến tranh làm phiên dịch và kỹ sư Trưởng Ban Công nghiệp điện Cục Hành chính quân sự Liên Xô tại Đức. Đảo ngũ sang vùng do phương Tây chiếm đóng vào tháng 1 năm 1947. Cộng tác viên của Dự án Harward, giảng bài trong Trường Tình báo, làm việc tại Đài phát thanh “Tự do”. Tác giả của nhiều cuốn sách làm mất uy tín các tổ chức an ninh Xô Viết. Nổi tiếng dưới tên gọi là Klimov Grigori Petrovich.

Sevchenko Arkadi Xemenovich, sinh năm 1930, người Ucraina. Tốt nghiệp Học viện Ngoại giao bằng ưu và được chuyển tiếp làm nghiên cứu sinh. Là một nhà ngoại giao đầy hứa hẹn, cương vị sau cùng - Phó tổng thư ký Liên Hợp Quốc. Từ năm 1971 thực hiện các nhiệm vụ của CIA, vào tháng 4 năm 1978 trở thành kẻ không thể hối cải. Giảng môn đường lối đối ngoại Xô Viết tại Trường đại học tổng hợp Harward. Sách: “Nổ tung cùng Matxcơva”.

Sliapentokh Vladimir Emmanuilovich, người Do Thái, chuyên gia Xã hội học, từng công tác tại Viện Xã hội học và viết bài cho báo “Sự thật” (Pravda). Di tản năm 1976. Làm giáo sư tại Trường đại học tổng hợp Michigan. Sách: “Những vấn đề về độ tin cậy của thông tin thông kê trong các nghiên cứu xã hội học” (1973), “Làm sao hôm nay nghiên cứu ngày mai” (1975), “Những vấn đề lựa chọn cố tình và vô tình thông tin trong xã hội học”(1976).

Thật vô cùng dễ hiểu là phương Tây không chỉ quan tâm tới các công dân Liên Xô mà cả các nhà khoa học khác ở các nước Đông Âu. Sau năm 1991, số “các nhà Xô Viết học” được tăng lên và có thêm những nhân vật rất đặc biệt.

Kalugin O. D. “Có thời gian tôi đã giảng bài tại Trường đại học tổng hợp Thần học ở Washington, chuyên về đường lối đối ngoại Xô Viết. Hợp đồng kết thúc, tôi tổ chức ra một hãng tư vấn. Hàng ngày chúng tôi xuất bản tờ tin về tình hình ở Nga trên cơ sở phân tích chi tiết báo chí Nga và báo chí nước ngoài. Số người đặt mua rất nhiều, doanh số hàng năm lên tới 900 USD. Tên tôi khá nổi tiếng ở Mỹ và có nhiều doanh nhân Mỹ tìm kiếm các thông tin ở chỗ chúng tôi, khi họ muốn đầu tư vào nền kinh tế Nga. Thực chất, đó là một công việc có lợi cho nước Nga... Mới đây chúng tôi bắt đầu mở rộng sang tất cả các nước SNG, kể cả Gruzia và Moldova”.

Khrusov X. N. Dưới thời xa xưa của Xô Viết đã từng làm chuyên gia chế tạo tên lửa. Từ đầu năm 1992 làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu chính trị đối ngoại của trường đại học Tổng hợp Braun (thành phố Providens, bang Rod-Island) với tư cách là một nhân viên khoa học trong Dự án “Con đường duy nhất phát triển các quốc gia hậu Xô Viết”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #37  
Cũ 23-07-2009, 23:58
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

Sản phẩm của “Những trung ương thần kinh”: các học thuyết và công nghệ trí lực

Vậy thì “Những trung ương thần kinh” được thành lập ra để làm gì? Hay nói theo ngôn ngữ của điều khiển học: Chúng có “đầu ra” như thế nào?

Ngay từ những năm 1950, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã soạn thảo những kế hoạch áp dụng vào phạm vi điều hành của Liên Xô nhằm mục tiêu làm thay đổi chế độ này, hoạch định ra mối quan hệ quốc tế cho phép thực hiện việc can thiệp vào công việc nội bộ của Liên Xô và của các nước xã hội chủ nghĩa. Những học thuyết vạch ra những cơ sở cho hành động trong tương lai của Mỹ nhằm vào hệ thống Xô Viết.. Trong số đó, có hiệu lực lớn nhất là Chỉ lệnh N0 20/1 của Hội đồng An ninh quốc gia (NSC) được dẫn ra trong Phụ lục 4.

Các học thuyết ở giai đoạn hành động của Mỹ đối với Liên Xô được gọi là “Kiềm chế chủ nghĩa cộng sản”1.

Mỹ là một đất nước kỳ lạ. Chỉ nó là có nhiều hành động hợp pháp liên quan tới các nước khác, thậm chí liên quan tới vấn đề sống hay chết của các quốc gia này. Chúng ta thường chú ý nhiều tới cái gọi là “Đạo luật về các dân tộc bị áp bức” (P.L. 86-90 được thông qua ngày 9 tháng 7 năm 1959). Văn bản này được Phó giáo sư Lev Dobrianxki Trường đại học tổng hợp Georgetown (Washington) soạn thảo: “Vì bắt đầu từ năm 1918, đường lối xâm lược và đế quốc của chủ nghĩa cộng sản đã dẫn tới việc kết nên một đế chế rộng lớn, gây nên mối đe doạ đặc biệt ác độc đối với nền an ninh của Hoa Kỳ và của tất cả các dân tộc tự do trên thế giới, và...

Vì đường lối đế quốc của nước Nga cộng sản, bằng con đường xâm lược trực tiếp hay gián tiếp, đều dẫn tới sự bóc lột và tước đi nền độc lập dân tộc của Ba Lan Hungari, Litva, Ucraina, Látvi, Estoni, Belorus, Rumani, Đông Đức, Bungari, Trung Hoa đại lục, Armeni, Azerbaizan, Gruzia, Iden-Uran (vùng Volzxk- Uranxk), Tibeta, Kazaktan, Turkestan, Bắc Việt Nam và của nhiều nước khác,...

Vì vậy, những dân tộc bị áp bức này trông chờ vào Hoa Kỳ như một thành trì của tự do nhân loại, họ tìm kiếm người chèo lái cho sự nghiệp giải phóng của mình... Chính chúng ta phải bằng con đường chính thức chỉ rõ cho các dân tộc này thấy một sự kiện lịch sử rằng nhân dân Hoa Kỳ đang chia sẻ ý nguyện giành lại tự do và độc lập của họ.

Tổng thống Hoa Kỳ có toàn quyền và được mọi người đòi hỏi ban hành bản thông báo tuyên bố tuần thứ 3 của tháng 7 năm 1959 là “Tuần lễ của Các dân tộc bị áp bức” và hiệu triệu nhân dân Hoa Kỳ tổ chức kỷ niệm tuần lễ này bằng những lễ nghi và những bài phát biểu, Tổng thống được mọi người yêu cầu hàng năm phải ban hành bản thông báo tương tự như thế cho tới khi nào chưa giành được tự do và độc lập cho tất cả các dân tộc đang bị áp bức trên thế giới... Việc chấp thuận cuộc cách mạng này - một bộ phận của chiến dịch nhằm chống lại chủ nghĩa cộng sản và có mục tiêu giáng một đòn vào những vị trí dễ tổn thương của chủ nghĩa cộng sản - kiểm soát các nhóm dân tộc khác nhau”.

Sau khi phân tích bài phát biểu của những kẻ theo khuynh hướng phân liệt diễn ra vào giai đoạn tích cực phá tan Liên xô, có thể nhận thấy rằng hầu hết bọn chúng đã hành động dựa trên chính cơ sở “Đạo luật” của một đất nước thù địch với chúng ta này.

“Học thuyết Giải phóng” hiện thực hay còn gọi là Học thuyết Reagan trực tiếp nhằm đánh bại Liên xô này được các chuyên gia trong các trung ương thần kinh và các tổ chức Xô Viết học có nhiều kinh nghiệm soạn thảo vào đầu thập kỷ 1980. Các nghiên cứu của “Các trung ương thần kinh” “được dựa trên nền tảng của kế hoạch gây mất ổn định cho đối thủ của mình (Liên Xô) do Chính quyền Reagan soạn ra vào đầu thập kỷ 1980 dưới tên gọi “Cho mọi phương hướng của chúng ta”.

Các động cơ của nó “... được bắt nguồn từ việc Liên Xô, đối với Mỹ, là kẻ cạnh tranh địa chính trị, là vật cản duy nhất trong sự nghiệp thiết lập một trật tự thế giới theo kiểu Mỹ. “Học thuyết” này bào gồm một danh sách dài những tài liệu mật mang một tên gọi chung là “Quyền uỷ trị” và từng được điều chỉnh 4 năm một lần trước khi bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống mới tiếp theo. Vào năm 1980 và năm 1984 nó được chuẩn bị cho Tổng thống Reagan; vào năm 1989 - cho Tổng thống Bush, và sau đó là cho Tổng thống B. Clinton. Reagan - kẻ tuyên bố “cuộc thập tự chinh” chống Liên Xô - đã coi “Quyền uỷ trị” là sách gối đầu giường của mình bởi trong tài liệu này, từ thời đó, các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ của Liên Xô đã được các nhà chiến lược Mỹ đánh giá là nguồn tiềm năng bảo đảm sự sống còn cho Mỹ trong tương lai của thế kỷ XXI. Không phải ngẫu nhiên trong các tài liệu hiện nay có dùng phạm trù “Quyền uỷ trị”, và nước Nga đã rơi vào danh mục “Nước có khả năng xuất khẩu tài nguyên đặc biệt”.

Những kiềm chế liên quan trực tiếp tới Liên Xô và các nước Đông Âu được đề cập trong “Quyền uỷ trị-3”, chúng tôi dẫn ra trong Phụ Lục số 5.

Những gì liên quan tới kế hoạch này, theo R. Pips công nhận, rằng Reagan đã ký một loạt tài liệu chính trị mật xác định hướng chủ yếu của đường lối Mỹ trong quan hệ với Liên Xô: đẩy đất nước này theo hướng tự do hóa nội bộ. Lời thú nhận này rõ ràng nói tới Chỉ lệnh NSDD-32 (tháng 3 năm 1982) là nhằm “trung lập hoá” ảnh hưởng của Liên Xô tại các nước Đông Âu và trước hết là ở Ba Lan; NSDD-66 (tháng 10 năm 1982) là phá hoại nền kinh tế, trong đó thông qua việc hạ giá nguyên liệu, trước hết là đối với dầu mỏ (thông qua sự ép buộc tương ứng đối với các nước Cận Đông), rút cuộc điều này đã dẫn tới sự giảm sút đáng kể việc chuyển ngoại tệ vào Liên Xô. Trong Chỉ lệnh NSDD-75 (tháng 1 năm 1983) tiếp theo đã được bổ sung là nhằm phá hoại những nền tảng cơ bản của hệ thống Xô Viết; Chỉ lệnh NSDD-166 (tháng 3 năm 1985) đã định hình ra những mục tiêu chủ yếu của cuộc chiến tranh Afghanistan trong bối cảnh chiến lược chung, tăng cường những yếu tố Islam (Hồi giáo), sự phân hoá ở Trung Á, “chế áp” các đơn vị quân đội Xô Viết ở Afghanistan. Những văn bản này không có trong các nguồn công khai, nên chúng tôi chỉ dẫn ra bằng chứng của các nhân vật thạo tin.
_______________________________________
1. Xem phần phụ lục của chương: Thông điệp của J. F. Dalles ngày 6/3/1953; tài liệu “Tấn công tâm lý chống Liên Xô. Những mục tiêu và nhiệm vụ”; Chỉ lệnh N0 5412/2 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ; Chỉ lệnh N0 68 của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ; kế hoạch “Barbarossa” của Mỹ...
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #38  
Cũ 23-07-2009, 23:59
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 32, tháng 3 năm 1982

“... Tổng thống đã ký NSDD Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia N0 32, phê chuẩn một loạt các biện pháp bí mật về đối ngoại và kinh tế nhằm “trung lập hóa những nỗ lực của Liên Xô để nắm giữ trong tay họ các nước Đông Âu. Trên bình diện thực tế, tại Ba Lan đã tiến hành những chiến dịch nghiêm túc nhất trong số các chiến dịch bí mật được thông qua. Những mục tiêu chủ yếu của Chỉ lệnh số 32 là: gây mất ổn định trong Chính phủ Ba Lan bằng cách thực hiện các chiến dịch bí mật bao gồm tuyên truyền và tổ chức hỗ trợ Công đoàn “Đoàn kết”; thổi phồng vấn đề về nhân quyền, đặc biệt cần liện hệ với tình hình của công nhân và thiên chúa giáo; gây áp lực kinh tế; tiến hành cách ly ngoại giao của chế độ cộng sản. Trong tài liệu nhấn mặnh cần thiết bảo vệ những nỗ lực nhằm thực hiện các cải cách dân chủ trên toàn bộ đế chế Xô Viết, cùng như ra lệnh tăng cường tuyên truyền và các buổi phát thanh bí mật ở Đông Âu. Điều này, theo trợ lý của Reagan và của những kẻ chống đối ở Đông Âu, là đặc biệt có lợi để phá tan quan niệm về khả năng không bị tổn thương của Xô Viết”.

Chỉ lệnh “đã khuyến nghị “trung lập hóa ảnh hưởng Xô Viết ở Đông Âu và áp dụng các biện pháp bí mật, các phương pháp vững chắc hỗ trợ cho những tổ chức chống Xô Viết. (...) Sau đó vài tuần đã xuất hiện thêm một tài liệu mới do Richard Pips và người được ủy quyền là W. Klarc soạn thảo. Tài liệu này tỏ ra rất cương quyết: “Mục tiêu của Hoa Kỳ - “trung lập hóa những nỗ lực nhằm duy trì quyền lực của Liên Xô tại Đông Âu. (...) - được xem là quan điểm tích cực và đã cắt đứt với quá khứ (nghĩa là, một mặt nó đã hủy bỏ cả Hiệp ước Ialta và Hiệp ước Helsinhky). Ronald Reagan đã thể hiện rõ quan điểm của Hoa Kỳ không chấp nhận ưu thế của Xô Viết ở Đông Âu. Chúng ta cố tạo ra một chiến lược quy mô lớn với mục tiêu làm suy yếu ảnh hưởng Xô Viết, cũng như nhằm củng cố các lực lượng bản địa đang đấu tranh vì tự do ở khu vực này. So với các quốc gia như Bungari, Rumani và Tiệp Khắc, thì Ba Lan đã tạo nên một cơ hội to lớn chống đối chế độ. Điều đó có nghĩa rằng tại các nước còn lại chúng ta cũng tìm được những khả năng để công khai hoặc ngấm ngầm làm suy yếu ảnh hưởng của Matxcơva. (...) “NSDD-32” đã đặt ra một số mục tiêu nguyên tắc như sau:

- Hỗ trợ bí mật cho hoạt động ngầm nhằm lật đổ chính quyền cộng sản tại khu vực này;

- Tăng cường chiến tranh tâm lý, trước hết là với sự hỗ trợ của đài phát thanh “Tiếng nói Hoa Kỳ” và “Châu Âu tự do”;

- Tìm kiếm những phương thức về ngoại giao và thương mại làm suy giảm sự lệ thuộc của Chính phủ Ba Lan đối với Matxcơva”.


NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 66, tháng 10 năm 1982

“Chỉ lệnh NSC-66 (...) đề xuất các biện pháp phá hoại nền kinh tế Xô Viết. Phương thức chủ yếu ở đây là cấm vận công nghệ, sử dụng cơ chế COCOM để không cho Liên Xô tiếp cận với công nghệ cao mới nhất trong tất cả những phạm vi phụ thuộc Washington và thế giới phương Tây. Làm Liên Xô suy giảm nguồn nguyên liệu, làm mất khả năng phát triển nền công nghiệp chế tạo”; “Ngày 13 tháng 11 (...) Reagan đã ký một tài liệu mật quan trọng nhất trong lịch sử Mỹ có liên quan tới nền kinh tế Liên Xô mang hình thức của chỉ lệnh. “NSDD-66” do Rodger Robinson soạn thảo đã phản ánh một bước ngoặt trong chiến lược của Hoa Kỳ: nó có nghĩa là bác bỏ mọi chế tài cho các phương tiện khác, đồng nghĩa với việc tuyên bố một cuộc chiến tranh kinh tế với Liên Xô. (...). Tài liệu này, khi đi kèm với việc phát triển vũ trang ở Hoa Kỳ, cũng như cùng với sáng kiến phòng thủ chiến lược (SDI) đã đẩy Liên Xô vào chỗ chết. (...)

“NSDD-66” bao gồm ba vấn đề chính:

- Mỹ phải đạt được sự đồng ý của các đồng minh châu Âu chỉ dành cho Matxcơva các tín dụng theo định hướng thị trường;

- Mỹ sẽ không cho phép quân đội và kinh tế Liên Xô tiếp cận với công nghệ phương Tây hiện đại. Hoạt động của COCOM sẽ được mở rộng;

- Mỹ và các đồng minh sẽ tìm kiếm những nguồn năng lượng để giảm thiểu sự phụ thuộc của châu Âu vào việc cung cấp khi ga thiên nhiên của Liên Xô. Lưu tâm tới giai đoạn quá độ. Việc cung cấp khí ga của Liên Xô vào châu Âu không thể vượt quá 30% nhu cầu (trên thực tế, điều này có nghĩa là tuyến đường ống dẫn khí thứ hai sẽ không được xây dựng và sẽ không ký kết thêm những hợp đồng mới)”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #39  
Cũ 23-07-2009, 23:59
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 75, tháng 1 năm 1983

Chỉ lệnh NSDD-75, được thông qua vào tháng 1 năm 1983, đã đi xa hơn nữa. Nó đã xem xét tới việc tài trợ bổ sung cho những phong trào đối lập ở các nước phí Đông một khoản 108 triệu USD. Theo lời P. Pips, một tác giả của chỉ lệnh này, “Chỉ lệnh đã định rõ rằng mục tiêu cuối cùng của chúng ta không cùng tồn tại với Liên Xô, mà là thay đổi hệ thống Xô Viết. Về cơ bản, chỉ lệnh khẳng định rằng việc thay đổi hệ thống Xô Viết cùng với sự hỗ trợ của sức ép từ bên ngoài là nằm trong khả năng của chúng ta”. Chỉ lệnh đã định rõ rằng “Mỹ sẽ không tham gia vào việc cải thiện tình hình kinh tế Xô Viết và đồng thời sẽ làm tất cả để ngăn chặn mọi con đường hướng đến mục tiêu đó...”. Sự hỗ trợ trực tiếp của Mỹ đối với nền kinh tế Xô Viết sau khi tan rã đã không có trong chương trình nghị sự, song việc nhấn mạnh “họ sẽ làm tất cả để ngăn chặn mọi con đường” đã có nghĩa là một cuộc chiến tranh kinh tế bí mật. Chủ định là ở việc trông chờ vào sức mạnh của chúng ta và sự yếu đuối của họ. Mà điều đó có nghĩa là trông chờ vào kinh tế và công nghệ” Bộ truởng Quốc phòng Mỹ C. Wintberger nhớ lại.

“Nó đặt mục tiêu - đạt được “những thay đổi cơ bản trong các quốc gia Đông Âu và các nước khác theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Các phương tiện để đạt được những nhiệm vụ đặt ra được mang chiêu bài “ngoại giao công khai” và “dân chủ”. Những câu nói bóng bẩy không hề gây chút nghi ngờ: về việc tách các nước thuộc hiệp ước Varsava ra khỏi Liên Xô, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Cuba, làm mất ổn định tình hình trong các nước cộng hòa Xô Viết vùng Ban Tích, phá hoại chế độ ở Angola, Mozambik, Nam Iemen, Việt Nam, Etiopia, Lào, Cam-pu-chia, Nicaragua và các nước đang phát triển khác đang mang ảnh hưởng của Kremli. Nhưng đặc biệt chú ý là Ba Lan và Afghanistan. Đó là “những điểm yếu” của Liên Xô như Nhà Trắng tính toán. Chiến thắng của Công đoàn “Đoàn kết” - đó là Cộng hòa nhân dân Ba Lan tách ra khỏi Liên Xô, giáng một đòn mạnh vào Hiệp ước Varsava”.

“Mỹ đang có một sức mạnh đủ để phá tan Liên Xô. (...) đương nhiên, Mỹ cần phải tập trung tất cả sức lực vào việc làm tan rã Liên Xô. Điều đó có thể dẫn tới việc cải tạo thế giới bằng sức mạnh, cũng như dẫn tới việc toàn cầu hóa phạm vi ảnh hưởng của Mỹ và thiết lập nên sự thống trị của Mỹ đối với thế giới. Định đề chủ yếu của chỉ lệnh là phủ nhận nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình với Liên Xô - nền tảng và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện hành. Mục tiêu chính trị chủ yếu là gây mất ổn định, rút cuộc, tiêu diệt Liên Xô bằng sự hỗ trợ của các chiến dịch phá hoại tập trung và bằng việc tài trợ tiền bạc to lớn cho “đội quân thứ năm”; Theo lời của tác giả R. Pips, “Chỉ lệnh NSDD-75 có nghĩa là đoạn tuyệt với quá khứ. (...) Đây là tài liệu đầu tiên khẳng định rằng vấn đề không chỉ đơn thuần là hệ thống Xô Viết. Chỉ lệnh đã định rõ rằng mục tiêu cuối cùng của chúng ta là không cùng tồn tại với Liên Xô, mà là thay đổi hệ thống Xô Viết hoàn toàn trong khả năng của chúng ta. Mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ là làm tan rã hệ thống Xô Viết thông qua việc tận dụng những yếu điểm bên trong của nó. Những trụ cột cho nền chính trị của hệ thống Xô Viết đã rất yếu và phải chống đỡ nhiều thử thách, nên có thể tin rằng đó là nguyên nhân loại bỏ ảnh hưởng Xô Viết trên trái đất này. (...) Tài liệu mới đã tỏ ra rất toàn diện, nó định ra những phương thuốc chính trị và mục tiêu của nền chính trị Mỹ theo nhiều hướng. “Chúng ta dồn mọi nỗ lực để vạch ra trong “NSDD-75” kế hoạch chính trị liên kết bao trùm hành động trên mọi mặt trận, - John Poindecster, người tham gia soạn thảo tài liệu, nói. - Tôi nghĩ rằng chính đó là một trong những khía cạnh thành công nhất của chính sách này”.

Tài liệu rất mạch lạc và theo “nguyên tắc công việc”:

- Mỹ không tán thành những phạm vi ảnh hưởng hiện hành của Liên Xô vượt ra ngoài biên giới quốc gia và sẽ cố gắng giảm thiểu nó;

- Mỹ sẽ không tham gia vào việc cải thiện tình hình nền kinh tế Xô Viết và đồng thời sẽ làm tất cả để ngăn chặn những con đường hướng tới mục tiêu này (ở phần này tài liệu gợi ra trước hết là công nghệ, tín dụng và ngoại hối có được từ xuất khẩu năng lượng);

- Mỹ sẽ tìm kiếm mọi khả năng cho phép làm suy giảm mức độ ảnh hưởng của Xô Viết ở nước ngoài.

Tài liệu này khẳng định rằng chiến lược của Mỹ dựa trên việc tận dụng những điểm yếu của Xô Viết. “NSDD-75” không đặt ra việc chúng ta đối đầu với Liên Xô trong mọi mặt. Nó chỉ dự tính rằng chúng ta sẽ lợi dụng những điểm yếu và tận dụng chúng”.
Trả lời kèm theo trích dẫn
  #40  
Cũ 24-07-2009, 00:00
tieuboingoan's Avatar
tieuboingoan tieuboingoan is offline
Thịt nướng Nga - Шашлык
 
Tham gia: Nov 2007
Bài viết: 504
Cảm ơn: 649
Được cảm ơn 1,240 lần trong 366 bài đăng
Default

NSDD (Chỉ lệnh về bảo vệ an ninh quốc gia) N0 166, tháng 3 năm 1985

“Cùng với các cộng sự của Hội đồng An ninh quốc gia là Vinesent Kannistraro, Donald Farte và ... biên soạn ra tài liệu làm thay đổi về mặt nguyên tắc những mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến tranh này (ở Afghanistan). Chỉ lệnh “NSDD-166” được Tổng thống Reagan ký vào tháng 3 năm 1985 lần đầu tiên đã định ra những mục tiêu chính cho cuộc chiến tranh ở Afghanistan trong bối cảnh chiến lược chung”. (...)

Chỉ lệnh mới chứa đựng một số thời điểm then chốt.

Một là, cần phân bổ và cung cấp vũ khí có chất lượng tốt hơn cho Lực lượng Mudzahad. Tăng cường những loại vũ khí mới về công nghệ.

Hai là, tình báo Mỹ đã nhận được nhiệm vụ thu thập nhiều hơn thông tin về các dự định quân sự của Liên Xô. Đặc biệt chú ý vào các mệnh lệnh quân sự, chiến thuật và cơ cấu quân đội của Liên Xô. Các kế hoạch quân sự và chính trị của ban lãnh đạo cao cấp Xô Viết phải được phân tích và kiểm tra.

Ba là, đề cao mục tiêu chính trị của cuộc chiến tranh trên trường quốc tế. Với sự hỗ trợ của những tổ chức như Liên Hợp Quốc, Mỹ sẽ tăng cường sức ép tối đa để bóp ghẹt Xô Viết. Cũng để cho họ hiểu rằng việc cải thiện quan hệ với Mỹ có liên quan trực tiếp với việc Liên Xô chiếm đóng Afghanistan.

Nhưng mục tiêu thực chất của “NSDD-166” là giành chiến thắng, đánh bại hoàn toàn Lực lượng Vũ trang Liên Xô tại Afghanistan (Xem Phụ lục).

Trước khi nói đến các phương thức được bộ phận chính trị đối ngoại của nghị viện Mỹ sử dụng trong quan hệ đối với Liên Xô vào nửa sau những năm 1980, cần chú ý tới việc chính những quan điểm của chúng ta trong lĩnh vực tư duy và giáo dục thực sự có những khác biệt. Ở Liên Xô, trong quá khứ cũng như hiện nay, trường phái chính trị học thiên về hướng phát hiện sự kiện, mối quan hệ nhân - quả, mặt tích cực và tiêu cực và tính chất kết cấu của chúng. Điều này liên quan đến toàn bộ lĩnh vực giáo dục nhân văn. Ở Anh và Mỹ có phong cách tư duy khác. Họ mạnh hơn trong phân tích và đặc biệt toàn diện. Họ mạnh hơn trong tổng hợp. Thêm vào đó, nếu ở Nga tư duy được thiết lập trong khuôn khổ của toàn bộ hệ thống, thì ở Mỹ họ sẽ xem xét từng hiện tượng, trường hợp riêng lẻ một cách cụ thể hơn. Vì vậy, ví dụ, khi trên báo chí Xô Viết đề cập tới việc lớp người mới lớn và học sinh phổ thông không hề biết tới những sự kiện đơn giản nhất trong Chiến tranh thế giới II (Khi nào? ở đâu? Ai chống ai?...) thì điều đó không có gì là đáng ngạc nhiên: những người này lại biết những thứ khác mà không cần hiểu vẻ bề ngoài, họ có thể nêu ra kết luận ngược với trình tự các sự kiện. Đến khi đó chính anh buộc phải ngạc nhiên: dưới góc độ như vậy thì một hiện tượng đã biết rõ không cần phải xem xét.

Bây giờ chúng ta chuyển đề tài. Trong khái niệm chung, công nghệ tri thức (Intellectyal Technology -IT) là một tổ hợp các phương thức để thu thập, kiểm chứng, gia công, thay đổi trạng thái, tạo ra khả năng sẵn sàng ứng dụng sản phẩm thông tin. IT được phân biệt theo những phương tiện mà người nghiên cứu dự tính sử dụng. IT thường mang tính chất khoa học và phương pháp luận. IT trước hết là công tác nhằm tập hợp thông tin. Sau đó là kiểm chứng các tin tức đã nhận được, thường là so sánh với thông tin đã có (bằng phương pháp khái quát hoặc nghiên cứu thử nghiệm). Tiếp đến là thiết lập nên mô hình của những hệ thống cùng hướng và chính sự thiết lập có hiệu quả sẽ minh chứng cho tính chất đúng đắn của các quan điểm trước có đó.

Giai đoạn tiếp theo là phân tích thông tin nhận được. Phân định ra những kết quả cuối cùng và bổ sung phần còn thiếu của thông tin. Sau đó, thông qua những kết quả đã có từ trước, tiến hành thu thập và hợp nhất lần cuối toàn bộ hệ thống thông tin đã có, nghiên cứu môi trường xung quanh. Đây còn gọi là giai đoạn tổng hợp. Trước trường hợp, nếu mọi cách tiến hành trước đó đã được thực hiện đúng, tin cậy thì sẽ xuất hiện khả năng đưa ra dự báo cho tương lai tới. Trong giai đoạn này, mọi thông tin thừa đều bị loại bỏ. Chỉ để lại những thông tin thỏa mãn được cả ba yêu cầu: “Tính hạn chế - Tính chính xác - Tính cục bộ”.

Thông thường, từ toàn bộ khối lượng thông tin thu nhận và được gia công rút ra thông tin trung hoà về ý nghĩa - thông tin theo yêu cầu. Chính thông tin này được xử lý thích hợp, nghĩa là được phân theo các chủ đề theo tâm lý tiếp nhận của con người, được khẳng định và được trình bày với tư liệu rõ ràng dành cho nhu cầu sử dụng của sau này. Bên cạnh đó, nó tương đối linh hoạt khi cần sử dụng. Đó là một bức tranh khái quát và mỗi IT đều có những sai lệch nhất định so với bức tranh đó.
Trả lời kèm theo trích dẫn
Trả lời

Bookmarks


Quyền sử dụng ở diễn đàn
Bạnkhông có quyền mở chủ đề mới.
Bạn không có quyền trả lời trong chủ đề này.
Bạn không có quyền gửi file đính kèm.
Bạn không có quyền sửa chữa bài viết.

BB code is Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Giờ Hà Nội. Hiện tại là 05:54.


Powered by: vBulletin v3.8.5 & Copyright © 2026, Jelsoft Enterprises Ltd.
VBulletin ® is registered by www.nuocnga.net license.