|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#21
|
|||
|
|||
|
Georgi Feldgun, cũng ở trong trại những năm 1940, nhớ lại rằng bọn trộm cướp có kiểu đi rất đặc trưng, “bước các bước ngắn, chân hơi giạng ra”, và bọc răng bạc hay vàng được chúng xem như một kiểu thời trang: “Bọn vor năm 1943 thường thường ra ngoài với bộ trang phục màu xanh dương sẫm đầy đủ áo quần mũ mão, gấu quần nhét trong ống ủng giả da. Cái mũ kéo sụp xuống mắt. Các hình xăm, thường là rất sướt mướt: ‘Con mãi nhớ mẹ yêu’, ‘Hận đời sao chỉ thấy sầu’…” (Feldgun, hồi ký không xuất bản)
Những hình xăm ấy, được nhiều người đề cập đến, cũng giúp phân biệt thành viên của thế giới trộm cướp với các tù tội phạm thông thường, và nhằm nhận biết địa vị của mỗi tên bên trong cái thế giới ấy. Theo một nhà nghiên cứu lịch sử trại, có nhiều kiểu hình xăm khác nhau dành cho đám đồng tính, cho bọn nghiện, cho những kẻ bị kết án hiếp dâm và cho những tên bị kết án giết người. (Berdinskikh, tr. 132) Solzhenitsyn giải thích rõ ràng hơn: Chúng dành hết bộ da màu đồng của mình để xăm trổ và bằng cách này dần dần thỏa mãn thẩm mỹ, cảm hứng tính dục, thậm chí cả nhu cầu đạo lý của bản thân: chúng ngắm nhìn đầy thán phục con đại bàng dũng mãnh đậu trên vách đá hoặc đang bay lượn trời cao ở trên ngực, bụng hay lưng một tên khác. Hay hình ảnh chiếc búa khổng lồ cùng vầng mặt trời với các tia sáng chiếu đi mọi hướng; hay cảnh đàn ông đàn bà giao hợp; hay từng bộ phận cơ thể riêng lẻ tùy theo sở thích tình dục của mỗi tên; và rất bất ngờ, gần trái tim của chúng có ảnh Lenin hay Stalin, hay đôi khi cả hai… Đôi khi chúng phá ra cười trước ảnh một thợ đốt lò trông kỳ cục đang lùa than vào hậu môn chúng, hay một con khỉ đang thủ dâm. Và chúng đọc các khẩu hiệu trên người tên khác, kể cả những đứa đã quen nhìn chán mắt vẫn cứ tha thiết thích đọc đi đọc lại! “cưa được gái là ở miệng mình!”… Hay trên bụng một tên trộm nữ có hàng chữ “Chơi sướng một cái, chết cũng được!” (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập II, tr. 441) |
|
#22
|
|||
|
|||
|
Là một họa sĩ chuyên nghiệp, Thomas Sgovio mau chóng ngập đầu vào việc xăm mình. Có lần ông được đề nghị vẽ khuôn mặt Lenin lên ngực một tên: có một niềm tin trong bọn trộm cướp cho rằng đội hành quyết sẽ không bao giờ nổ súng vào chân dung Lenin hay Stalin. (Sgovio, tr. 165-169)
Bọn trộm cướp cũng phân biệt bản thân với đám tù khác qua lối giải trí của mình. Có nhiều nghi thức phức tạp quanh các cuộc bài bạc của chúng, vốn mạo hiểm vô cùng, xuất phát cả từ bản thân trò chơi thường đặt cược rất lớn, lẫn từ phía chính quyền trừng phạt bất cứ ai bị bắt đang chơi bài. (GARF, 8131/37/1261) Nhưng sự mạo hiểm có lẽ là một phần hấp dẫn khiến mọi người quen với nguy hiểm: Dmitri Likhachev, nhà bình luận văn học bị tù trên Solovetsky, nhận xét rằng nhiều tên đã “so sánh cảm xúc khi chơi bài giống như cảm xúc khi chúng đang phạm một tội”. (D. Likhachev, “Kartezhnye igri ugolovnikov”, Solovetskie Ostrova, 1930, số I, tr. 32-35 (SKM)) Thực tế, bọn tội phạm qua mặt mọi cố gắng của NKVD nhằm chấm dứt việc đánh bài. Các cuộc khám xét và tịch thu đều vô tác dụng. Đám “chuyên gia” trong bọn chúng đã chuyên nghiệp hóa việc sản xuất các bộ bài, một quá trình cho đến thập niên 1940 đã trở thành tinh vi vô cùng. Trước tiên, tên “chuyên gia” sẽ cắt một vuông giấy bằng con dao cạo thật sắc. Để đảm bảo lá bài đủ cứng, hắn sẽ dán năm hoặc sáu vuông giấy với nhau bằng “keo” làm bằng cách chà mẩu ruột bánh mì ướt vào chiếc khăn tay. Sau đó, hắn nhét lá bài dưới giường suốt đêm cho cứng lại. Khi đã sẵn sàng, hắn đóng dấu lên lá bài bằng con dấu đục trên đáy cái ca nước. Hắn dùng tro đen làm quân bài màu đen. Nếu có thuốc streptomycin – trong trường hợp bác sĩ của trại hay nhà tù có, và bị hăm dọa hay hối lộ để xùy ra một ít – hắn sẽ làm cả quân bài màu đỏ nữa. (Finkelstein, qua phỏng vấn với tác giả) |
|
#23
|
|||
|
|||
|
Nghi thức chơi bài là một khía cạnh khủng khiếp nữa mà bọn trộm cướp gây ra đối với tù chính trị. Khi chơi với kẻ khác, bọn chúng đặt cược tiền, bánh mì và quần áo. Khi thua hết đồ của mình, chúng đặt đến tiền, bánh mì và quần áo của tù khác. Gustav Herling lần đầu chứng kiến một vụ như vậy trên một toa tàu kiểu Stolypin đi về Siberi. Ông đang đi cùng một bạn người Ba Lan tên là Shklovski. Cùng trên toa có ba tên urka, trong đó có một “tên khỉ đột với gương mặt Mông Cổ bèn bẹt”, đang chơi bài.
… thằng khỉ đột bất ngờ quăng bài, nhảy từ băng ghế xuống và đi tới chỗ Shklovski. “Đưa tao cái áo”, hắn hét, “tao thua nó ván rồi”. Shklovski mở to mắt và, không nhấc khỏi chỗ ngồi, nhún vai một cái. “Đưa đây”, thằng khỉ nổi giận gầm lên, “đưa, hay là glaza vykolu (tao móc mắt mày ra)!” Vị đại tá từ từ đứng dậy và đưa hắn cái áo. Chỉ sau này, khi đã ở trong trại lao động, tôi mới hiểu ý nghĩa cái cảnh kỳ quái ấy. Đặt cược vật dụng của tù khác khi chơi bài là một trong những trò giải trí phổ biến nhất của bọn urki, và sự hấp dẫn chính của nó nằm ở chỗ kẻ thua buộc phải ép nạn nhân đưa món đồ chúng đã thỏa thuận trước. (Herling-Grudziński, tr. 18) Một tù nữ sống trong một lán toàn nữ đã “thua” một ván bài. Sau khi hay tin, đám phụ nữ lo lắng chờ đợi suốt mấy ngày liền, “đầy hoài nghi” – cho đến một đêm, cuộc tấn công nổ ra: “Sự náo động thật kinh khủng – phụ nữ la hét thất thanh như trời sụp, mãi cho tới khi có đàn ông xô tới cứu chúng tôi... cuối cùng không có gì nghiêm trọng xảy ra ngoại trừ vài bọc quần áo bị lấy mất và starosta trưởng lán bị đâm”. (Hoover, Polish Ministry of Information Collection, Box 113, Folder 2) |
|
#24
|
|||
|
|||
|
Nhưng đánh bài còn không nguy hiểm bằng chính bọn tội phạm chuyên nghiệp. Tướng Gorbatov đã gặp một tên trộm ở Kolyma chỉ còn hai ngón trên bàn tay trái. Hắn giải thích:
Tao chơi bài và thua đậm. Không có tiền nên tao đặt tiếp một bộ quần áo tốt, tất nhiên không phải của tao, mà của một thằng chính trị đang mặc. Nghĩa là tao phải lấy bộ đó ban đêm khi bọn tù cởi quần áo đi ngủ. Tao phải giao nó trước tám giờ sáng, nhưng đúng ngày đó người ta lại chuyển bọn chính trị đi trại khác. Hội các đại ca chỗ tao gặp nhau để đưa ra hình phạt cho tao. Thằng thắng bài muốn tao bị chặt hết ngón bàn tay trái. Các đại ca ra lệnh chỉ chặt hai. Họ cò kè một lát rồi đồng ý là chặt ba. Thế là tao đặt tay lên bàn và thằng thắng bài tao cầm cái gậy nện năm nhát đứt mất ba ngón tay của tao... Hắn ta kết luận khá tự hào: “Chúng tao cũng có luật của mình, chỉ có điều khắc nghiệt hơn của chúng mày. Nếu mày làm đồng bọn thất vọng, mày phải trả giá”. (Gorbatov, tr. 140-141) Thực ra, nghi thức hành luật của bọn tội phạm cũng rắc rối như lễ nhập môn của chúng, bao gồm một “phiên tòa”, xử án, và một bản án có thể yêu cầu đánh một trận, làm nhục hay thậm chí tử hình. Colonna-Czosnowski đã chứng kiến một canh bạc kéo dài, quyết liệt giữa hai tên cướp cấp cao, chỉ kết thúc khi một trong hai tên mất sạch đồ đạc. Thay vì phải mất một chân hay một tay, kẻ thắng yêu cầu một hình phạt nhục nhã khủng khiếp: hắn ra lệnh cho “họa sĩ” lán xăm một cái dương vật khổng lồ lên mặt tên kia, chĩa vào miệng gã. Mấy phút sau, kẻ thua ấn cái que cời lò nóng đỏ lên mặt mình, xóa hình xăm đi và khiến khuôn mặt mang sẹo suốt đời. (Colonna-Czosnowski, tr. 126-131) Anton Antonov-Ovseenko, con trai một lãnh đạo Bolshevik, cũng tuyên bố rằng đã gặp một “gã câm điếc” trong trại, tay này do thua bài nên bị cấm nói trong suốt ba năm. Thậm chí khi bị chuyển đến trại khác hắn cũng không dám vi phạm án phạt này, bởi urka mọi địa phương đều đã biết về chuyện đó: “Vi phạm thỏa thuận như vậy sẽ bị trừng phạt bằng cái chết. Không kẻ nào dám lẩn tránh luật lệ giang hồ”. (Antonov-Ovseenko, The Time of Stalin, tr. 316) |
|
#25
|
|||
|
|||
|
Chính quyền biết rõ các nghi thức ấy và thường tìm cách can thiệp, nhưng không phải lúc nào cũng thành công. Trong một vụ năm 1951, một tòa án giang hồ quy tội chết cho một gã trộm tên là Yurilkin. Chính quyền trại nghe được về bản án này và chuyển Yurilkin, trước tiên là qua một trại khác, kế tiếp là một trại trung chuyển, sau đó là trại thứ ba nằm tại một vùng khác hẳn của đất nước. Tuy nhiên, cuối cùng hai tên cướp đúng luật đã đuổi theo hắn đến đấy và giết chết – tận bốn năm sau. Chúng cuối cùng bị đưa ra tòa và xử bắn vì tội giết người, nhưng thậm chí các hình phạt như vậy cũng không đủ làm chúng nhụt chí. Năm 1956, văn phòng công tố Xôviết lưu hành một nhận xét gây nản chí rằng “tổ chức tội phạm này tồn tại trong mọi Trại Lao động Cải tạo và thường quyết định do nhóm đưa ra để giết tù này tù kia trong các trại khác được thực hiện ngay tại trại đó mà không hề bị thắc mắc”. (Varese, tr. 159)
Tòa án giang hồ cũng hoàn toàn có thể trừng phạt những kẻ bên ngoài, điều này có lẽ giải thích cho tại sao chúng gây ra nỗi khiếp sợ đến thế. Leonid Finkelstein, tù chính trị đầu thập niên 1950, nhớ lại một vụ giết người trả thù như vậy: Tôi chỉ tận mắt chứng kiến một vụ giết người, nhưng rất ngoạn mục. Anh có thấy cái giũa thép lớn trông như thế nào không? Cái giũa như vậy, một đầu được mài nhọn, hoàn toàn là một thứ vũ khí chết người... Chỗ chúng tôi có một naryadchik, người phân công công tác cho tù – anh ta bị tội gì thì tôi không nói được. Nhưng bọn cướp đúng luật quyết định rằng anh ta phải chết. Chuyện xảy ra khi chúng tôi đang đứng điểm danh, trước khi đi làm. Mỗi đội lao động đứng tách quãng với nhau. Tay naryadchik đang đứng hàng đầu. Anh ta tên là Kazakhov, người to lớn với cái bụng phệ. Một tên trong đám trộm cướp xông ra khỏi hàng, thọc cái giũa vào bụng anh ấy, ngay chỗ dạ dày. Có lẽ đòn đó đã được tập luyện cẩn thận. Hắn bị bắt ngay lập tức – nhưng chỉ bị án hai lăm năm. Tất nhiên hắn bị xử lại và bị thêm một án hai lăm năm nữa, vậy là hạn tù của hắn kéo dài thêm nhiều năm, nhưng ai mà quan tâm...(Finkelstein, qua phỏng vấn với tác giả) |
|
#26
|
|||
|
|||
|
Tuy nhiên, rất hiếm khi bọn cướp chĩa “công lý” của chúng vào những người quản lý khu trại. Nói chung, bọn chúng nếu không phải là những công dân Xôviết trung thành thì ít nhất cũng vui vẻ làm tròn một trách nhiệm mà chính quyền Xôviết phân công cho: đó là chúng hết sức vui lòng đi đè đầu cưỡi cổ tù chính trị – nhóm người mà, theo như lời Ginzburg đã nêu, thậm chí còn bị khinh rẻ và ruồng bỏ còn hơn cả bản thân chúng”.
|
|
#27
|
|||
|
|||
|
Kontriki và Bytovye
Tù chính trị và Tù thường Với thứ tiếng lóng riêng biệt, trang phục đặc trưng và lối văn hóa khắc nghiệt, bọn tội phạm chuyên nghiệp rất dễ bị nhận biết, và cũng dễ miêu tả. Sẽ là khó hơn nhiều nếu ta muốn khái quát hóa đám tù còn lại, những người tạo nên phần cốt lõi của lực lượng lao động Gulag, bởi họ xuất phát từ mọi tầng lớp trong xã hội Xôviết. Thực tế, trong một thời gian rất dài, hiểu biết của chúng ta về việc chính xác ai là nhóm tù chiếm số đông trong trại đã bị bóp méo bởi sự căn cứ mang tính gượng ép dựa vào các hồi ký, đặc biệt là các hồi ký xuất bản bên ngoài Liên Xô. Tác giả của chúng luôn là trí thức, thường là người nước ngoài và hầu như toàn là tù chính trị. Tuy nhiên, kể từ khi Gorbachev tiến hành cởi mở glanost năm 1989, vô số chất liệu hồi ký thuộc nhiều dạng khác nhau được tiếp cận, cùng với một số tài liệu lưu trữ. Theo các nguồn lưu trữ này, vốn cần được xem xét hết sức thận trọng cân nhắc, giờ đây hóa ra là phần đông tù nhân hoàn toàn không phải là trí thức – tức là, không phải những người thuộc giới trí thức kỹ thuật và học thuật Nga, đủ sức tạo thành một giai cấp xã hội riêng biệt – mà là công nhân và nông dân. Một vài con số trong thập niên 1930, những năm mà phần lớn tù Gulag là kulak, đã đặc biệt tiết lộ nhiều điều. Năm 1934, chỉ có 0,7 % cộng đồng tù trại có trình độ cao hơn sơ cấp, trong khi 39,1 % được xếp loại chỉ ở trình độ sơ cấp. Đồng thời, có 42,6 % được mô tả là “nửa mù chữ”, và 12 % hoàn toàn mù chữ. Thậm chí đến năm 1938, năm mà Đại Khủng bố nổi thịnh nộ khắp giới trí thức Moscow và Leningrad, những người trình độ trên sơ cấp vẫn chỉ chiếm 1,1 % trong trại, trong khi hơn một nửa chỉ trình độ sơ cấp và một phần ba là nửa mù chữ. (Zemskov, “Zaklyuchennye v 1930-e gody”, tr. 68) |
|
#28
|
|||
|
|||
|
Nhưng mặc dù các con số trên có thể giúp ta chỉnh lại ấn tượng xưa cũ, chúng cũng có thể khiến ta lệch hướng. Nhìn vào các chất liệu hồi ký mới chồng chất ở nước Nga kể từ khi Liên Xô sụp đổ, ta cũng thấy rõ rằng nhiều tù chính trị không phải thực sự là “tù chính trị” theo cách ngày nay người ta định nghĩa thuật ngữ này. Trong những năm 1920, hệ thống trại đúng là có giam giữ thành viên của các đảng phái chống Bolshevik, những người thực sự tự gọi mình là “tù chính trị”. Trong những năm 1930, cũng có một số Trốtkít chính cống – những người đúng là có ủng hộ Trotsky chống lại Stalin. Trong những năm 1940, sau khi có các cuộc bắt bớ tập thể ở Ukraina, những nước Baltic và Ba Lan, một làn sóng phiến quân và những nhà hoạt động chống Liên Xô thực thụ cũng ùa vào trong trại. Đầu những năm 1950, một số sinh viên chống chủ nghĩa Stalin cũng đã bị bắt.
Tuy nhiên, với hàng trăm ngàn người được xem là tù chính trị trong trại, phần lớn không phải là người bất đồng quan điểm, hay linh mục bí mật làm lễ, hay thậm chí các quan chức cấp cao trong Đảng. Họ là những người thường, bị gom từ các cuộc bắt bớ tập thể, những người không nhất thiết phải có bất cứ quan điểm chính trị mạnh mẽ nào. Olga Adamova-Sliozberg, từng là nhân viên thuộc Bộ công nghiệp ở Moscow, đã viết: “Trước khi bị bắt, tôi sống một cuộc sống rất đỗi bình thường, điển hình của một nữ chuyên gia Xôviết không phải là Đảng viên. Tôi làm việc vất vả nhưng không can dự đến vấn đề chính trị hay công cộng đặc biệt nào. Mối quan tâm thực sự của tôi chỉ là tổ ấm và gia đình”. (Adamova-Sliozberg, “My Journey”, trong Vilensky, Till My Tale is Told, tr. 2) |
|
#29
|
|||
|
|||
|
Nếu tù chính trị không nhất thiết phải là nhà chính trị, hầu hết tù tội phạm cũng không nhất thiết phải là kẻ tội phạm. Trong khi cũng có một số tội phạm chuyên nghiệp và, trong những năm chiến tranh, có một số tội phạm chiến tranh và bọn cộng tác với Quốc xã thực thụ trong trại, hầu hết những người khác đều bị kết các án gọi là “thông thường” hay các tội “phi chính trị” mà trong những xã hội khác người ta không bao giờ xem là tội hình sự. Cha đẻ của Aleksandr Lebed, vị tướng và là nhà chính trị Nga thời hiện đại, có hai lần đi trễ làm mười phút ở nhà máy của mình, do đó ông phải nhận một án đi trại năm năm. (Elletson, tr. 2) Tại trại tội phạm rộng lớn Polyansky nằm gần Krasnoyarsk-26, nơi có một trong những lò phản ứng hạt nhân của Liên Xô, hồ sơ lưu trữ ghi lại một tù “tội phạm” bị án sáu năm chỉ vì ăn cắp đôi ủng cao su ngoài chợ trời, một người khác bị mười năm vì ăn cắp mười ổ bánh mì, còn một người nữa – một tài xế xe tải một mình nuôi hai con – bị bảy năm vì ăn cắp ba chai rượu mà ông ta đang chở. Một người khác nữa bị năm năm vì “đầu cơ”, nghĩa là ông ta đã mua thuốc lá ở chỗ này và đem bán ở nơi khác. (Kuchin, Polyanskii ITL, tr. 37-38) Antoni Ekart kể lại câu chuyện một phụ nữ bị bắt bởi vì cô ta lấy cái bút chì từ văn phòng mình làm việc. Cô lấy nó cho con trai mình đang không thể làm bài tập vì thiếu bút viết. (Ekart, tr. 69) Trong cái thế giới lộn tùng phèo của Gulag, tù tội phạm không giống bọn tội phạm thực thụ hơn bao nhiêu so với tù chính trị giống với những người tích cực chống đối chế độ.
|
|
#30
|
|||
|
|||
|
Nói cách khác, tội phạm không phải lúc nào cũng là những kẻ phạm một tội ác thực thụ. Thậm chí còn hiếm khi hơn có tù chính trị thực sự phạm một tội chính trị. Tuy nhiên, điều này không ngăn được hệ thống luật pháp Xôviết phân loại họ cực kỳ cẩn thận. Xét theo nhóm, tình trạng phản cách mạng được đặt nguy hiểm hơn tù tội phạm; như tác giả đã viết, họ bị xem là “nguy hiểm cho xã hội”, không phù hợp với xã hội Xôviết bằng đám tội phạm “gần gũi với xã hội”. Nhưng tù chính trị cũng bị phân loại theo mỗi khoản của Điều 58 thuộc Luật Hình sự mà họ bị buộc tội. Evgeniya Ginzburg nhấn mạnh rằng trong số các tù chính trị “tốt” nhất là bị kết án theo Mục 10 của Điều 58 vì tội “Khích động Chống Xô viết” (ASA). Có những “kẻ bép xép”: họ đi kể các chuyện hài không may bài xích Đảng, hoặc lỡ miệng có đôi lời chỉ trích Stalin hay lãnh đạo Đảng địa phương (hoặc bị gã hàng xóm đố kỵ tố cáo là có làm thế). Thậm chí chính quyền trại cũng ngầm hiểu là đám “bép xép” đó chẳng phạm bất cứ tội nào, do đó những ai bị kết tội ASA đôi khi dễ được phân các công việc nhẹ nhàng hơn.
Dưới họ là những người bị kết tội “hoạt động phản cách mạng” (KRD). Dưới nữa là những người bị kết tội “hoạt động khủng bố phản cách mạng” (KRTD). Chữ “T” cộng thêm có nghĩ là, trong một số trại, một tù sẽ thực sự bị cấm phân giao bất cứ việc gì ngoại trừ những “lao động phổ thông” khó khăn nhất – đốn cây, đào mỏ, làm đường – đặc biệt nếu tội KRTD đi kèm một án mười, mười lăm năm hay nhiều hơn. (E. Ginzburg, Ở giữa Miền gió xoáy, tr. 334-335; Razgon, tr. 93) Và còn có thể bị xuống thấp hơn nữa. Dưới KRTD là một loại nữa: KRTTD, không chỉ là hoạt động khủng bố, mà là “hoạt động khủng bố Trốtkít”. “Tôi biết có những trường hợp”, Lev Razgon viết, “bị thêm chữ T trong hồ sơ một tù trại vì đã cãi vã trong buổi điểm danh chung với tay phân công lao động hay tay trưởng Ban phân công lao động, cả hai đều là tội phạm”. (Razgon, tr. 93) Một thay đổi nhỏ như thế có nghĩa là sự khác biệt giữa sống và chết, bởi không có đốc công nào dám giao cho tù KRTTD bất cứ việc gì ngoài những lao động tay chân nặng nhọc nhất. |
|
#31
|
|||
|
|||
|
Các quy định như vậy không phải lúc nào cũng rõ ràng. Trong thực tế, tù thường xuyên phải cân nhắc giá trị của các loại án khác nhau ấy, cố gắng hiểu được chúng sẽ ảnh hưởng ra sao đến cuộc đời họ. Varlam Shalamov ghi lại rằng sau khi ông được chọn để tham gia một khóa học hộ lý, chương trình học có thể giúp ông trở thành một feldsher – trợ lý bác sĩ, một trong những công việc sáng giá và dễ chịu nhất trong trại – ông đã lo lắng về ảnh hưởng của bản án mình đang chịu có thể tác động tới khả năng ông có được hoàn tất khóa học hay không: “Liệu họ có chấp nhận tù chính trị bị kết án theo Điều 58 Luật Hình sự không? Có khi chỉ cho những ai bị theo Khoản 10. Thế còn người đi chung với mình đằng sau xe tải? Anh ta cũng bị ASA, tội khích động chống Xôviết”. (Shalamov, Kolyma Tales, tr. 258-259)
Các bản án chính thức không thôi chưa đủ để quyết định vị trí của người tù chính trị trong cơ cấu trại. Mặc dù họ không có một bộ luật nghiêm khắc quy định hành vi ứng xử như của bọn tội phạm và không có thứ ngôn ngữ thống nhất, cuối cùng họ vẫn tự chia tách thành những nhóm riêng biệt. Những băng nhóm chính trị ấy gắn bó với nhau bởi tình đồng chí, vì mong muốn tự bảo vệ, hay vì cùng chia sẻ chung một thế giới quan. Chúng không dễ nhận ra – chúng chồng chéo với nhau và với các băng nhóm phi chính trị khác – và chúng không phải trại nào cũng có. Tuy nhiên, khi xuất hiện, chúng thực sự quan trọng đối với sự sống còn của người tù. |
|
#32
|
|||
|
|||
|
Những nhóm chính trị cơ bản nhất, và sau cùng là mạnh mẽ nhất, là các nhóm được hình thành dựa trên quốc tịch hay vì cùng nơi sinh. Những nhóm này trở nên quan trọng hơn trong và sau Thế Chiến thứ II, khi số lượng tù người nước ngoài tăng đột ngột. Sự hình thành của nó rất tự nhiên. Một tù mới đến sẽ lập tức đi tìm trong lán ở của mình đồng hương người Estonia, đồng hương người Ukraina hay, trong một số ít trường hợp, đồng hương người Mỹ. Walter Warwick, một trong những người “Mỹ gốc Phần Lan” xuất hiện trong trại cuối thập niên 1930, đã mô tả trong một bản chép tay ông viết cho gia đình về việc những người nói tiếng Phần Lan trong trại ông đã kết nhóm lại với nhau đặc biệt để tự bảo vệ chống lại lũ trộm cướp băng đảng của bọn tội phạm chuyên nghiệp: “Chúng tôi đi đến kết luận rằng nếu muốn dễ thở hơn một chút đối với chúng, chúng tôi phải có một băng nhóm. Vậy là chúng tôi lập băng nhóm riêng để giúp đỡ lẫn nhau. Tất cả chúng tôi có sáu người: hai người Mỹ gốc Phần… hai người Phần Lan nói tiếng Phần … và hai người tỉnh Leningrad nói tiếng Phần…” (Warwick, hồi ký chưa xuất bản)
Không phải nhóm dân tộc nào cũng có chung nhau đặc tính. Lấy ví dụ, ý kiến mọi người khác nhau về việc tù Do Thái có nên có mạng lưới của riêng mình không, hay họ nên nhập vào cộng đồng chung người Nga (hay, trong trường hợp số lượng lớn người Ba Lan gốc Do Thái, nhập vào cộng đồng chung người Ba Lan). Trong những thời điểm khác nhau, dường như câu trả lời là khác nhau, và tùy thuộc rất nhiều vào quan điểm từng cá nhân. Nhiều người Do Thái bị bắt vào cuối thập niên 1930, trong thời kỳ tầng lớp ưu tú cấp cao và giới chức quân đội bị đàn áp, có vẻ đã tự xem mình trước hết là những người cộng sản, kế đến mới là Do Thái. Như một tù có nêu, trong hệ thống trại “Mọi người đều trở thành người Nga – người Kavkaz, Tartar, Do Thái”. (Frid, tr. 235) |
|
#33
|
|||
|
|||
|
Về sau, khi thêm nhiều người Do Thái cùng với người Ba Lan bị đưa tới trong thời gian chiến tranh, dường như họ đã lập ra các mạng lưới dân tộc rõ nét. Ada Federolf, người viết chung hồi ký với Adriadna Efron, con gái của Marina Tsvetaeva (Marina Ivanovna Tsvetaeva (1892-1941): nhà thơ Nga và Xôviết, với tác phẩm được đánh giá là thuộc hàng xuất sắc nhất của văn học Nga thế kỷ 20. Cả chồng bà Sergey Efron và con gái Ariadna Efron đều bị bắt năm 1941 vì tội gián điệp. Tuyệt vọng và không kiếm được việc làm, bà đã treo cổ tự vẫn.), đã mô tả một trại nơi xưởng may – theo tiêu chuẩn trong trại thì đây là nơi làm việc hết sức sang trọng – do một người tên là Lieberman quản lý. Bất cứ khi nào có đoàn tàu vận chuyển mới tới, ông ta liền đi thẳng vào giữa đám đông và gọi lớn “Có ai là Do Thái không? Có ai Do Thái không?” Khi gặp người Do Thái ông ta liền thu xếp cho họ làm việc với mình trong xưởng, nhờ thế cứu họ khỏi phải lao động phổ thông trong rừng. Lieberman cũng bày ra các kế hoạch tài tình để cứu các rabbi, vốn phải suốt ngày cầu nguyện. Ông cho xây một căn phòng xép đặc biệt cho vị rabbi, giấu ông này bên trong để không ai biết rằng ông này không làm việc. Ông cũng tự nghĩ ra công việc “quản lý chất lượng” cho một vị rabbi khác. Điều này cho phép ông rabbi đi lại tới lui suốt ngày giữa hàng các phụ nữ đang ngồi khâu may, vừa mỉm cười với họ vừa lầm rầm cầu nguyện. (Federolf, tr. 123)
Đầu những năm 1950, khi việc bài Do Thái chính thức ở Liên Xô trở nên mạnh mẽ hơn, bị đẩy cao do sự ám ảnh của Stalin đối với các bác sĩ Do Thái mà ông cho rằng đang tìm cách giết mình, một lần nữa mọi việc trở nên khó khăn hơn đối với người Do Thái. Tuy vậy thậm chí kể cả vào thời điểm đó thì mức độ bài Do Thái cũng khác biệt giữa trại này với trại kia. Ada Puryzhinskaya, một tù Do Thái bị bắt vào cao điểm của “Mưu đồ Do thái” (anh trai bà đã bị xử án và hành quyết vì “âm mưu giết hại Stalin”), đã nhớ lại rằng “không có vấn đề đặc biệt gì nếu chỉ vì là người Do Thái”. (Puryzhinskaya, qua phỏng vấn với tác giả) Nhưng Leonid Trus, một tù Do Thái khác bị bắt vào cùng thời kỳ, lại nhớ khác hẳn. Ông kể, có lần một zek già đã cứu ông thoát khỏi một gã điên cuồng chống Do Thái, một kẻ từng bị bắt vì bán tranh tượng thánh. Ông zek già quát gã bán tranh: anh, một người dám “mua và bán ảnh Chúa”, nên tự xấu hổ với chính mình. |
|
#34
|
|||
|
|||
|
Tuy nhiên, Trus không tìm cách che dấu chuyện mình là người Do Thái: trái lại, ông đã vẽ Ngôi sao David lên ủng của mình, chủ yếu để phòng có người muốn ăn cắp chúng. Trong trại của ông, “Người Do Thái, cũng như người Nga, không tự tổ chức các băng nhóm cho riêng họ”. Việc này khiến ông rất khó kiếm bạn thân: “Điều tệ nhất đối với tôi... đó là sự cô đơn, cảm giác phải là một người Do Thái giữa những người Nga, khi mọi người đều có bạn cùng địa phương thì tôi lại chỉ có một mình”. (Trus, qua phỏng vấn với tác giả)
Bởi vì số lượng ít, người Tây Âu và Bắc Mỹ trong trại cũng rất khó lập ra được các mạng lưới nhóm mạnh. Họ ở trong tình thế khó mà có thể giúp đỡ ai được: nhiều người cảm thấy rối tinh rối mù với cuộc sống trong trại, không nói được tiếng Nga, thức ăn không nuốt nổi và điều kiện sống không thể chịu đựng nổi. Sau khi chứng kiến toàn bộ một nhóm phụ nữ Đức chết trong trại tù trung chuyển ở Vladivostok, mặc dù đã được cho uống nước đun sôi, Nina Gagen-Torn, một tù người Nga, đã nửa khóc nửa cười mà viết rằng “Giá như lán ở chỉ toàn công dân Xô viết vốn quen với thức ăn, thì họ hẳn đã chịu nổi món cá muối kể cả cá muối ươn thối. Khi một đoàn tàu vận chuyển lớn chở toàn thành viên của Quốc tế III bị bắt tới, tất cả bọn họ đều gục vì kiết lỵ nặng”. (Gagen-Torn, tr. 77) Lev Razgon cũng thương hại những người nước ngoài khi viết rằng “họ không hiểu được cũng không thể nhắm mắt chấp nhận được; họ không tìm cách thích ứng để tồn tại. Họ chỉ biết túm tụm lại với nhau theo bản năng”. (Razgon, tr. 138) |
|
#35
|
|||
|
|||
|
Nhưng người phương Tây – nhóm này gồm cả người Ba Lan, Tiệp và các nước Đông Âu khác – cũng có một số ưu điểm. Họ là đối tượng được đặc biệt quan tâm và có sức hấp dẫn, điều này đôi khi đem lại lợi thế trong quan hệ giao tiếp, được tặng những món thực phẩm, được đối xử nhẹ nhàng hơn. Antoni Ekart, một người Ba Lan học tập tại Thụy Sĩ, được phân một chỗ trong bệnh viện nhờ công viên hộ lý tên là Ackerman, người gốc Bessarabia: “Chính nhờ tôi đến từ phương Tây đã giúp đơn giản hóa vấn đề”: ai cũng chú ý đến người người phương Tây và muốn cứu giúp họ. (Ekart, tr. 192) Flora Leipman, một phụ nữ Scotland mà chính cha dượng người Nga của bà đã khuyên gia đình bà chuyển đến Liên Xô, đã chủ động công khai gốc tích “Scot” của mình để làm vui cho các bạn tù:
Tôi kéo váy mình cao quá đầu gối để trông như cái kilt (Kilt: loại váy truyền thống của đàn ông Scotland. - ND) và cuộn vớ chân xuống khiến chúng giống như đôi tất chân đàn ông Scot. Theo kiểu Scot, tôi lấy cái chăn vắt qua vai và lận cái mũ phía trước bụng để trông như cái sporran (Sporran: một loại túi nhỏ, thành phần trong trang phục truyền thống của đàn ông Scot, làm từ da hoặc lông thú, dùng để đựng các vật dụng cá nhân. - ND). Tôi cất cao giọng đầy tự hào, hát bài “Annie-Laurie”, “Ye Banks and Braes o’ Bonnie Doon”, luôn luôn kết thúc với câu “Chúa phù hộ Đức Vua” mà không cần dịch lại. (Leipman, tr. 89) |
|
#36
|
|||
|
|||
|
Ekart cũng kể lại về cảm xúc được là “một đối tượng gây sự tò mò” đối với đám trí thức Nga ra sao:
Tại những cuộc gặp gỡ được tổ chức đặc biệt và cẩn trọng với một số người đáng tin cậy nhất trong bọn họ, tôi kể lại với họ cuộc sống của mình tại Zurich, tại Warsaw, tại Vienna và các thành phố khác ở phương Tây. Cái áo khoác thể thao tôi mua ở Geneva và mấy chiếc sơmi lụa được xăm xoi kỹ càng nhất, bởi chúng là những thứ bằng chứng duy nhất về chất lượng cao của đời sống bên ngoài thế giới cộng sản. Một số người bọn họ tỏ ra hoài nghi rõ ràng khi nghe tôi nói rằng mình có thể dễ dàng mua tất cả những vật dụng ấy bằng tiền lương tháng kỹ sư bậc thấp của mình tại một nhà máy sản xuất xi măng. “Anh có bao nhiêu bộ comlê?” một chuyên gia nông nghiệp hỏi tôi. “Sáu hay bảy bộ gì đó”. “Anh nói dối!” một anh chàng không hơn 25 tuổi thốt lên, sau đó quay sang những người khác: “Tại sao chúng ta có thể chịu nghe mấy câu chuyện vớ vẩn thế này? Mọi thứ đều có giới hạn; chúng ta không phải là trẻ con”. Tôi phải chật vật giải thích rằng ở phương Tây, một người thường, biết quan tâm tới bề ngoài của mình, luôn tìm cách có nhiều bộ comlê bởi cách giữ quần áo vải vóc tốt nhất là đổi trang phục thường xuyên. Đối với các thành viên của giới trí thức Nga, hiếm khi có hơn một bộ comlê, điều này thật khó mà hiểu nổi. (Ekart, tr. 67-68) |
|
#37
|
|||
|
|||
|
John Noble, một người Mỹ bị tóm ở Dresden, cũng trở thành một “VIP của Vorkuta” và thết đãi các bạn cùng trại mình những chuyện kể về cuộc sống Mỹ mà họ xem là không thể tin nổi. “Ê Johnny”, một người bọn họ nói với ông, “cậu muốn làm chúng tớ tin là công nhân Mỹ mỗi người đều có xe hơi riêng à?” (Noble, tr. 121)
Nhưng mặc dù quốc tịch nước ngoài khiến họ có được sự thán phục, nó cũng ngăn cản họ không thể liên hệ gần cận hơn đối với rất nhiều người trong trại được. Leipman viết rằng “thậm chí các ‘bạn’ cùng trại mới chuyển đến cũng sợ lại gần tôi vì tôi là người nước ngoài trong con mắt họ”. (Leipman, tr. 89) Ekart cũng đau khổ khi nhận ra mình là người tù duy nhất không phải người Nga trong trại cơ sở lagpunkt, vừa bởi vì các công dân Xôviết không ưa ông vừa vì ông cũng không ưa họ: “Tôi bị bao vây bởi một bầu không khí lạnh nhạt nếu không muốn nói là căm ghét… họ không hài lòng với thực tế là tôi không giống như họ. Từng bước chân một tôi đều cảm thấy sự ngờ vực, hung ác, ác tâm và sự thô lỗ bẩm sinh của họ. Tôi phải mất ngủ nhiều đêm để canh chừng cho bản thân và vật dụng của mình”. (Ekart, tr. 191) Một lần nữa, cảm giác của ông chỉ là lặp lại từ một thời kỳ trước đó. Những mô tả của Dostoevsky về mối quan hệ giữa đám tù tội người Ba Lan và người Nga vào thế kỷ mười chín cũng giống hệt các chịu đựng Ekart phải trải qua: “Đám Ba Lan (tôi chỉ nói về những người phạm tội chính trị) cư xử theo một kiểu lịch sự tao nhã đầy sỉ nhục đối với chúng tôi, họ tuyệt đối không cởi mở và không thèm giấu diếm về sự xa lạ mà họ cảm thấy về đám tù xung quanh; về phần mình, những người tù hiểu điều đó rất rõ và cũng ăn miếng trả miếng với họ”. (Dostoevsky, tr. 51) |
|
#38
|
|||
|
|||
|
Ở một địa vị thậm chí còn thấp hơn nữa là người Hồi giáo và các tù khác đến từ vùng Trung Á và một số nước cộng hòa vùng Kavkaz. Họ phải chịu cùng một kiểu rối tung như người phương Tây, nhưng lại luôn không thể giải trí hay khiến người Nga quan tâm được. Được gọi là natsmeny (trong tiếng Nga có nghĩa là “dân tộc thiểu số”), họ từng có trong trại vào cuối những năm 1920. Một số lượng lớn từng bị bắt trong quá trình bình định – và Xô viết hóa – vùng Trung Á và Bắc Kavkaz, rồi bị đưa tới làm việc trên Kênh đào Bạch Hải, nơi một người cùng thời viết rằng “Mọi thứ đối với họ đều khó mà chấp nhận nổi: những người chỉ huy họ, cái kênh đào mà họ đang xây, thứ thức ăn mà họ đang ăn”. (Chukhin, Kanaloarmeetsi, tr. 164-167) Từ 1933 trở đi nhiều người bọn họ cũng lao động tại Kênh đào Moscow-Volga, nơi ông trùm trại có vẻ thương hại họ. Có lúc ông này ra lệnh cho thuộc cấp dựng các lán ở riêng và lập những đội lao động riêng cho họ, nhờ thế ít nhất họ cũng được sống xung quanh đồng hương của mình (GARF, 9489/2/5). Sau này, Gustav Herling có gặp họ trong một trại đốn gỗ miền bắc. Ông nhớ mình trông thấy họ mỗi buổi chiều tại bệnh xá trại, đứng chờ để gặp bác sĩ trại:
Thậm chí từ chỗ phòng chờ đã thấy họ ôm bụng đau đớn, ngay lúc bước vào sau vách ngăn họ lập tức òa lên rên rỉ, vừa kêu vừa nói thứ tiếng Nga bồi kỳ quặc nghe không phân biệt nổi. Không có phương thuốc nào chữa được cho bệnh của họ... họ cứ chết dần vì nhớ nhà, vì mong mỏi được về quê hương, vì đói, lạnh và cảnh tuyết trắng tẻ ngắt. Cặp mắt xếch của họ, không quen với cảnh quan phương bắc, lúc nào cũng ứa nước và lông mi bết lại với nhau thành một bệt nhỏ màu vàng. Vào mấy ngày hiếm hoi mà chúng tôi không phải làm việc, những người Uzbek, Turkmen và Kirghiz tụ tập trong một góc lán, ăn mặc thứ trang phục lễ hội của họ, áo dài lụa sặc sỡ và mũ chỏm thêu hoa văn. Không thể đoán được họ đang nói những gì với sự sinh động và phấn khích tột độ, hoa tay múa chân, la hét vào tai nhau rồi gật gật đầu buồn bã, nhưng tôi dám chắc rằng đó không phải là về khu trại. (Herling-Grudziński, tr. 25) |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Vania (24-06-2011) | ||
|
#39
|
|||
|
|||
|
Cuộc sống không khá hơn đối với đám người Triều Tiên, chủ yếu là các công dân Xôviết gốc Triều Tiên hay người Nhật, có khoảng 600.000 người như vậy đến Gulag và hệ thống trại tù binh chiến tranh vào cuối chiến tranh. Người Nhật đặc biệt khổ vì chuyện thức ăn ở đây, vốn không chỉ thiếu mà còn lạ và rất khó ăn. Kết quả là họ đi tìm và ăn những thứ mà đối với bạn tù của họ là cũng khó ăn không kém: rau dại, côn trùng, sâu bọ, rắn và các loại nấm mà thậm chí người Nga còn không dám sờ vào. (Để tham khảo, có thể xem thêm hồi ký của tù binh Nhật Kiuchi Nobuo với bản tiếng Việt tại đây: http://kiuchi.jpn.org/vn/nobindex.htm. - ND) Thường thường, những cải thiện như vậy kết thúc rất buồn: có các lưu trữ về chuyện tù người Nhật chết vì ăn lá độc hoặc rau dại. (S. T. Kuznetsov) Một chút ám chỉ về việc người Nhật cảm thấy bị cô lập ra sao trong trại xuất hiện trong hồi ký của một tù người Nga mà có lần, tại thư viện của trại, đã tìm thấy một cuốn sách mỏng – in bài phát biểu của nhà lãnh đạo Bolshevik Zhdanov – viết bằng tiếng Nhật. Ông đem nó cho một tù binh chiến tranh người Nhật mà ông quen: “Lần đầu tiên tôi thấy anh ấy thật sự hạnh phúc. Về sau anh ấy nói với tôi rằng anh đọc nó mỗi ngày, chỉ cốt để được đọc thứ ngôn ngữ của xứ sở mình”. (Polonsky)
Vài dân tộc vùng Viễn Đông khác thích ứng mau lẹ hơn. Một số hồi ký đề cập tới tổ chức chặt chẽ của người Trung Hoa – một số là người “Xôviết” thuộc dân tộc Trung Hoa sinh ra tại Liên Xô, một số là lao động làm thuê hợp pháp trong những năm 1920, còn một số là những người không may mắn vô tình hay hữu ý bước qua đường biên giới dài dằng dặc giữa Trung Quốc và Liên Xô. Một tù nhớ lại đã được một người Hoa kể rằng anh ta, cũng như nhiều người khác, đã bị bắt vì bơi qua sông Amur vào Liên Xô, bị thu hút bởi cảnh quan ở bờ bên kia: “Những tán lá vừa xanh vừa vàng... thảo nguyên đẹp vô cùng! Nhưng mấy người vùng tôi vượt qua sông đều không bao giờ quay về. Chúng tôi cho rằng đó là do cuộc sống ở đấy rất sung sướng, vì thế chúng tôi quyết định cũng vượt sông. Vừa bơi qua là chúng tôi bị bắt và kết án theo Điều 58, Khoản 6, tội gián điệp. Mười năm”. (MacQueen) |
|
#40
|
|||
|
|||
|
Dmitri Panin, một trong những bạn cùng trại với Solzhenitsyn, nhớ lại, trong trại người Hoa “chỉ liên hệ trao đổi chung với nhau. Để trả lời bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi, họ chỉ im lặng nhìn lại vẻ không hiểu”. (Panin, tr. 187) Karlo Stajner nhớ lại rằng họ cực kỳ giỏi dắt mối việc làm cho người khác: “Ở khắp Châu Âu, người Hoa đều nổi tiếng vì giỏi bịp, nhưng trong trại họ được giao cho làm việc giặt giũ. Tôi nhớ không thấy bất cứ ai làm việc giặt quần áo mà không phải là người Hoa tại mọi trại mà tôi từng trải qua”. (Stajner, tr. 203)
Cho đến lúc này các cộng đồng dân tộc có ảnh hưởng nhất trong trại là của người Baltic và Tây Ukraina, những người bị gom hàng loạt vào trại trong và sau chiến tranh (xem Chương 20). Ít hơn về số lượng những cũng có ảnh hưởng là người Ba Lan, đặc biệt là những người Ba Lan nổi loạn chống cộng xuất hiện trong trại vào cuối thập niên 1940 – cũng như những người Chesnia, vốn được Solzhenitsyn mô tả là “một dân tộc không chịu đầu hàng, không chấp nhận thói quen quy phục”, và là những người nổi bật, theo một vài khía cạnh, trong số các dân tộc Kavkaz khác. (Solzhenitsyn, Quần đảo Gulag, tập III, tr. 401) Sức mạnh của những nhóm sắc tộc đặc biệt này là ở số lượng ít ỏi của họ và trong sự chống đối rõ rệt của họ đối với Liên Xô, việc nó xâm chiếm vùng đất của họ được họ xem là bất hợp pháp. Những người Ba Lan, Baltic và Ukraina thời hậu chiến cũng có kinh nghiệm quân sự và hoạt động du kích, và trong một vài trường hợp tổ chức du kích của họ vẫn được duy trì trong trại. Ngay sau chiến tranh, ban tham mưu của UPA, Quân đội Khởi nghĩa Ukraina, một trong nhiều nhóm chiến đấu giành độc lập cho Ukraina thời kỳ ấy, đã ban hành một tuyên bố gửi tất cả người Ukraina đã bị lưu đày hay chuyển vào trại: “Bất cứ bạn ở đâu, trong hầm mỏ, trong rừng hay trong trại, hãy luôn vững vàng không thay đổi, luôn là người Ukraina chân chính và hãy tiếp tục chiến đấu”. |
![]() |
| Bookmarks |
|
|