|
|||||||
Diễn đàn NuocNga.net |
Trang chủ tin tức Thông báo về kích hoạt tài khoản thành viên |
![]() |
|
|
Ðiều Chỉnh | Xếp Bài |
|
#81
|
|||
|
|||
|
Mấy năm trước tôi làm việc như một Cộng tác viên tư vấn cho Viettel ở Headquarter tại số 1 Giang Văn Minh. Rất nhiều lần đi dọc con phố Giang Văn Minh và cũng đã rất nhiều lần tự hỏi Giang Văn Minh là ai. Vẫn cứ nghĩ Giang Văn Minh là tên của một anh hùng nào đó thời chống Mỹ hay chống Pháp cơ. Hóa ra là bé cái nhầm, thật là tự thẹn.
Hai hôm trước, cả buổi chiều tôi bỏ tất mọi công việc, lần mò trên Internet đọc lại nhiều điều về cuộc chiến cách nay 32 năm và hồi tưởng lại những ngày lặn lội trên trục đường 70 (ngày trước gọi là đường Hữu Nghị 7), tình cờ thấy dẫn đến mục Giang Văn Minh của Wikipedia Việt. Xin ghi lại đây để nhiều người cùng biết - hãy sống và nhớ mãi. http://vi.wikipedia.org/wiki/Giang_V%C4%83n_Minh Giang Văn Minh (chữ Hán: 江文明, 1573 - 1638) tự Quốc Hoa, hiệu Văn Chung, là quan nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông được mệnh danh là vị sứ thần “Bất nhục quân mệnh” (Không để nhục mệnh vua) vì đã đối đáp thẳng thắn trước triều đình Trung Quốc và bị vua Minh Tư Tông hành hình vào năm 1638, thọ 65 tuổi. Cuộc đời và sự nghiệp: Ông sinh năm 1573, tại làng Kẻ Mía, xã Mông Phụ, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, tỉnh Sơn Tây trước năm 1945), (nay thuộc xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây , Hà Nội. Ông từng đỗ đầu kỳ thi Hội, rồi thi Đình lại đỗ Đình nguyên Thám hoa khoa Mậu Thìn, năm Vĩnh Tộ thứ 10 (1628) đời Lê Thần Tông. Khoa thi này không có ai đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn, vì vậy ông là người đỗ cao nhất trong cả khoa thi. Sau khi đỗ đạt, ông lần lượt được bổ nhiệm vào các chức vụ như Binh khoa đô cấp sự trung (1630), Thái bộc tự khanh (1631). Ngày 30 tháng 12 năm Dương Hòa thứ 3 (1637), ông và Thiêm đô ngự sử Nguyễn Duy Hiểu được vua cử làm chánh sứ cùng với 4 phó sứ là: Nguyễn Quang Minh, Trần Nghi, Nguyễn Bình và Thân Khuê dẫn đầu hai đoàn sứ bộ sang cầu phong và tuế cống nhà Minh. Sau khi chết, ông được truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công. [sửa] Giai thoạiVào thời điểm ông đi sứ, mặc dù nhà Mạc đã bỏ chạy ra Cao Bằng, nhưng nhà Minh vẫn áp dụng chính sách ngoại giao hai mặt (với cả nhà Hậu Lê và nhà Mạc) với mục đích để cuộc chiến tranh Lê-Mạc kéo dài. Đoàn sứ bộ của Giang Văn Minh đến Yên Kinh (nay là Bắc Kinh) vào năm 1638. Đến khi triều kiến, Minh Tư Tông Chu Do Kiểm (tức hoàng đế Sùng Trinh) lấy lý do “Vì lệ cũ không có những quy định cụ thể cho việc sắc phong, do đó trong khi còn chờ tra cứu chỉ ban sắc thư để tưởng lệ” để ngăn trở việc công nhận sự chính thống của nhà Hậu Lê và bãi bỏ công nhận ngoại giao với nhà Mạc. Đồng thời, Chu Do Kiểm còn ngạo mạn ra cho sứ bộ một vế đối như sau: “Đồng trụ chí kim đài dĩ lục” Nghĩa là: Cột đồng đến nay rêu đã xanh Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong). Trước sự ngạo mạn đó, Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu: "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng" Nghĩa là: Sông Đằng từ xưa máu còn đỏ Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại việc người Việt đã ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng. Vào thời bấy giờ, câu đối này được xem là cái tát thẳng vào mặt hoàng đế nhà Minh trước đông đảo văn võ bá quan của Thiên triều và sứ bộ các nước. Vua nhà Minh bừng bừng lửa giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao, đã trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Sự việc này xảy ra vào ngày mùng 2 tháng 6 năm Kỷ Mão (1639). Nhưng Minh Tư Tông vẫn kính trọng ông còn cho ướp xác ông bằng bột thủy ngân và đưa thi hài ông về nước. Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng bái kiến linh cữu ông và truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (tức là Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ). Sau khi thi hài được đưa về nước, Giang Văn Minh được chôn cất tại Đồng Dưa, thuộc xứ Gò Đông, thôn Mông Phụ, xã Đường Lâm. Trên cánh đồng này có một quán (hiện có dạng ngôi nhà) nhỏ là nơi linh cữu ông đã được quàn và gọi là quán Giang. Hiện nay, nhà thờ ông ở làng Mông Phụ đã được nhà nước Việt Nam xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa. Ở Hà Nội hiện nay có một con đường mang tên Giang Văn Minh, nối với phố Giảng Võ và phố Kim Mã, quận Ba Đình. Tác phẩm: Hoa Nghiêm tự bi: trên tấm bia của chùa Hoa Nghiêm ở thôn Vô Song, xã Đông Hà, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có ghi người soạn văn bia năm Dương Hòa thứ 2 (1636) là Phúc Lộc hầu Giang Văn Minh, đỗ thám hoa khoa Mậu Thìn (1628), chức Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Thái bộc tự khanh. Đánh giá: Ông là người trí dũng song toàn. Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 19-02-2011 thời gian gửi bài 08:37 |
| Có 15 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
Anh Thư (10-06-2011), baodung (17-02-2012), binhminh (19-02-2012), camchuongdo (23-02-2012), Cartograph (19-02-2011), Мужик (19-02-2012), htienkenzo (19-02-2011), hungmgmi (19-02-2011), LyMisaD88 (19-02-2011), minminixi (20-02-2011), NISH532006 (20-02-2012), sad angel (04-06-2011), Saomai (19-02-2012), Siren (19-02-2011), USY (19-02-2011) | ||
|
#82
|
||||
|
||||
|
Bác Bình Dị có dịp lên làng cổ Đường Lâm, Sơn Tây trên đường vào thăm chùa Mía, ngôi chùa cổ kính rất đẹp, bác nhớ rẽ vào thăm Đền thờ Thám hoa Giang Văn Minh nhé.
http://diendan.nuocnga.net/showthrea...2562#post62562
__________________
Ласковый Май |
| Có 5 thành viên gửi lời cảm ơn Siren cho bài viết trên: | ||
Anh Thư (10-06-2011), htienkenzo (19-02-2011), nqbinhdi (23-02-2011), sad angel (04-06-2011), USY (19-02-2011) | ||
|
#83
|
||||
|
||||
|
[QUOTE=USY;79213]Bác ạ, bài thơ này đã được nhạc sĩ Thuận Yến phổ nhạc, nhưng lời thì biến đổi tương đối, thành ra thiên về tính chất trữ tình hơn:
GỬI EM Ở CUỐI SÔNG HỒNG Nhạc: Thuận Yến Thơ: Dương Soái Em ở phương xa, cách mười sông ba núi bốn đèo, Cứ chiều chiều ra sông gánh nước đem lòng mình gửi về miền biên giới. Sao chẳng nói nên lời nhưng nặng tình yêu thương. Bác USY bỏ sót mất một câu, xin bổ sung cho đủ nhé. Thực ra bài này bây giờ có dịp là tôi vẫn hát và hát song ca với một nữ đồng chí nào đó chứ bài này không hát đơn ca hoặc đồng ca. Khi biết bài hát này tôi cũng chưa biết bài thơ gốc, các nhạc sỹ phổ nhạc thường là nâng bài thơ lên một tầm mới nhưng cũng lược bỏ đi một vài đoạn cho hợp với tiết tấu của bản nhạc nhưng quan trọng là phải giữ được ý chính và nội dung của bài thơ. Có lẽ nhạc sỹ muốn làm cho bài thơ dịu đi theo hướng trữ tình chăng? |
| Có 3 thành viên gửi lời cảm ơn LyMisaD88 cho bài viết trên: | ||
|
#84
|
||||
|
||||
|
Sự “lên gân” của Khựa
Nhà Khựa được ngăn với nhà Hai Lúa bởi hàng rào hoa râm bụt. Sáng sáng, Khựa thường hay đứng ở hàng ba gọi với qua ý “hỏi thăm sức khỏe” thằng em láng giềng. Thỉnh thoảng cũng có hục hặc vài chuyện cỏn con, chờ khi trăng sáng, hai nhà lại bắc ấm nước,ngồi “uống trà rồi từ từ thương lượng”. Tiếng là chung sống hòa bình nhưng đêm đêm Khựa lại sân si tới ao cá nhà thằng em… kiếm chuyện. Có lúc, Khựa còn lén sai người đi bắt cá trộm của nhà thằng em. Bị phát hiện mấy lần, Khựa vẫn gật gù “tốt, tốt”! Rồi Khựa đổi chiêu: “Cấm cửa con cái thằng em mon men đến ao nhà bắt cá”. Khựa lệnh cho đám lâu la: Hễ thấy người nhà thằng em mon men tới là bắt giữ ngay, để còn đòi tiền chuộc. Nhưng cái sự sân si trong Khựa vẫn chưa dừng. Vẫn khao khát ăn dày trên ao nhà người khác, Khựa chơi bạo: Vô thẳng ao nhà thằng em xúc cá, còn cấm nhà thằng em bén mảng ra ao. Tới đây thì nhà Hai Lúa vùng cự quyết liệt, hàng xóm xúm chửi Khựa tưởng như vuốt mặt hổng kịp. Nhưng Khựa đâu cần quan tâm mấy lời chửi đó. Tổ tông nhà Khựa bao đời nay vốn vậy nên máu mủ trong người Khựa cũng vậy. Nghe đâu Khựa còn tự đắc là mình ngày càng đa mưu túc trí. Đa mưu là đúng. Chả là Khựa đang tiến một bước dài trên bước đường… ăn cướp! NGƯỜI SÀNH ĐIỆU Nguồn: http://phapluattp.vn/201106011259212...n-cua-khua.htm P/s: Có lẽ từ 1979 tới giờ mới thấy có bài báo kiểu này không bị bóc. Thay đổi nội dung bởi: micha53, 02-06-2011 thời gian gửi bài 20:11 |
| Có 7 thành viên gửi lời cảm ơn micha53 cho bài viết trên: | ||
Anh Thư (10-06-2011), binhminh (19-02-2012), Cartograph (10-06-2011), htienkenzo (03-06-2011), LyMisaD88 (06-06-2011), sad angel (04-06-2011), Vania (02-06-2011) | ||
|
#85
|
||||
|
||||
|
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России |
| Có 8 thành viên gửi lời cảm ơn Kóc Khơ Me cho bài viết trên: | ||
Anh Thư (10-06-2011), baodung (05-06-2011), binhminh (19-02-2012), Cartograph (10-06-2011), htienkenzo (06-06-2011), LyMisaD88 (06-06-2011), sad angel (05-06-2011), Vania (05-06-2011) | ||
|
#86
|
|||
|
|||
|
Không biết ngoài chợ có bán lưỡi bò không nhỉ ?
|
|
#87
|
||||
|
||||
|
Đọc cái này:
http://www.vietnamplus.vn/Home/Tau-T...6/93102.vnplus Tôi không muốn nói ( bàn ) đến chính trị mà chỉ thêm 1 lần muốn nhắc: “Hãy sống và nhớ mãi” |
|
#88
|
||||
|
||||
|
Một nén nhang cho ngày hôm nay.
|
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn micha53 cho bài viết trên: | ||
Anh Thư (21-02-2012), chaika (19-02-2012), Hoa May (19-02-2012), htienkenzo (17-02-2012), Kóc Khơ Me (17-02-2012), LyMisaD88 (18-02-2012), nqbinhdi (17-02-2012), Old Tiger (19-02-2012), Saomai (19-02-2012) | ||
|
#89
|
|||
|
|||
|
Hôm liên hoan chia tay khi anh B. về nghỉ hưu (anh đã cùng tôi đi với nhau suốt thời gian phục vụ tại mặt trận Hoàng Liên Sơn tháng 2 năm 1979), anh bảo: "Về hưu người ta có tính thời gian phục vụ ở mặt trận và trả thêm một khoản tiền đấy". Hỏi, thì biết hình như cũng được đâu 1-2M VND gì đó. Nhiều và tốt nhỉ, bởi ngày ấy cũng đã được hưởng 25% phụ cấp chiến trường rồi cơ mà.
Chỉ là giá ngày đó có biết rằng không bao giờ có những khoản nọ khoản kia ấy thì những người lính vẫn cứ chiến đấu như thế thôi, vẫn sẵn sàng đón cái chết nếu cần - hướng dọc đường 70 (đường Hữu nghị 7) ấy, ta chọi địch 1 đánh gần 20. Bởi lùi mãi rồi, hôm nay còn đang ngang đường từ Cốc Sam sang ga Phố Lu, mấy hôm sau đã lùi xuống trên Phố Ràng 10 km, tuần sau nữa đã lại xuống dưới Phố Ràng gần 10 km nữa. Không thể lùi được nữa, đằng sau lưng đã là Hà Nội. Hồi ấy, mấy lần đi qua Phố Ràng - khi bằng xe ô tô, nhiều lúc lội bộ - cứ tự hỏi mãi đâu là cái đồn mà Trần Đăng ngày xưa đã tả trong Trận Phố Ràng? Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 18-02-2012 thời gian gửi bài 11:48 |
| Có 9 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
Anh Thư (21-02-2012), baodung (17-02-2012), chaika (19-02-2012), htienkenzo (18-02-2012), Kóc Khơ Me (17-02-2012), LyMisaD88 (18-02-2012), micha53 (19-02-2012), NISH532006 (18-02-2012), Old Tiger (19-02-2012) | ||
|
#90
|
||||
|
||||
|
Trích:
Có gì không phải mong cụ nhẹ tay ạ. |
|
#91
|
|||
|
|||
|
Cảm ơn bác MìChà nhắc nhở. Cho đến nay hầu như không còn tấm bia nào khắc ghi ngày ấy, vì nếu có thì cũng đã bị phá bỏ. Nhưng thân cây này ở ngay cửa khẩu Thanh Thủy, Hà Giang còn mang trên đó bao vết đạn của 33 năm trước, là tấm bia sống... mãi trong lòng chúng ta. Vâng, rất may cho đến nay cây gạo này vẫn còn.
![]() ![]() Sang Mỹ, SM được xem tiểu thuyết "Xe lên xe xuống" của Nguyễn Bình Phương, viết về cuộc chiến ngày đó. Nhà văn nén lòng mình khi nói đến "bên kia"... không thèm chỉ đích danh... Nhưng cuốn sách cũng chỉ có thể in ở ngoài biên giới. Cuốn tiểu thuyết được coi là thành công nhất của ông, một cuốn sách để đời. Trong trận chiến ở Lao Cai, 1 nhà địa chất ở thế hệ của SM đã hy sinh và trở thành anh hùng, đó là anh hùng Nguyễn Bá Lại. Và họ, những anh hùng của thời ấy, kể cả Lê Đình Chinh... đã không bao giờ được nhắc lại trong những ngày đáng nhớ này. Thật buồn khi cuộc chiến gần đây nhất đã bị lãng quên nhanh nhất... Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 19-02-2012 thời gian gửi bài 06:25 |
|
#92
|
|||
|
|||
|
Trích:
Có đứa bị nhà mình đá đểu (chả biết đá trúng vào cái chi mà xem ra từ hổm rồi vẫn thấy anh ách anh ách), không biết phản pháo bằng chuyện chi mới cố mõi mấy cái chiện lãng xẹt này. Chỉ là y biết một mà không biết hai thoai. Thì nghe nhé. Các địa danh ở VN thì hay có nhiều cách gọi na ná nhau, là do dân người gọi thế này, kẻ nói thế khác. Lính tráng thì thường không phải dân bản xứ lại gọi theo tên trên bản đồ tác chiến, có khác cũng là chuyện rất thường tình. Cũng cần nói thêm là, bản đồ thì ngày trước chủ yếu là in lại theo bản đồ có từ thời Pháp thôi (mấy năm chiến tranh, người người ra trận, mọi của cải đều đổ ra tiền tuyến cả, còn đâu người và phương tiện mà đi đo/vẽ bản đồ chi tiết tất cả miền Bắc chứ), có sai khác với tên gọi dân dã cũng là thường. Thế nên mới có các tên gọi như Hồng/Hòn Gai, Lao/Lào Cai, Yên Bái/Báy, Hòn Dấu/Dáu, vân vân và vân vân. Cái ngã ba Cốc Sam/San kia cũng vậy. Dân Kinh đi khai hoang thì gọi là Cốc Sam, trên bản đồ tác chiến cũng ghi là Cốc Sam, còn dân địa phương gọi nó thế nào lão đâu có hay bởi ngày ở trên đường từ ngã ba ấy sang Phố Lu (lão cũng mới chỉ lên đến đó chiều 20 thì tối 22-2 gì đó đã có lệnh rút, sáng sớm tờ mờ hôm sau pháo TQ đã nã dày đặc vào đó, tốp lính cuối cùng thu dọn dây và tổng đài dã chiến của quân khu bộ do anh Hộ thượng úy tiểu đoàn phó chỉ huy chạy về được đến trung đoàn bộ thì thành xe đã chi chít vết mảnh pháo, may mà không ai thương vong, 10 giờ sáng thì lính TQ đã tràn vào) lão chỉ đóng trong nhà dân Kinh lên đó từ thời Quốc Hương hát "anh đi khai phá miền Tây/rừng núi bao la bừng giấc say" thôi, họ gọi là Cốc Sam, chứ có ở với người dân tộc đâu nghe dân bản địa gọi thế nào. Sau đó lùi xuống trên Phố Ràng 10 km mới đóng trong nhà người Mán. PS: Bây giờ tìm kiếm trên mạng và Google Earth thì thấy cái ngã ba ấy gọi là ngã ba Bắc Ngầm trên đường 70, từ đó theo đường 4E sang Phố Lu. Thuộc xã Xuân Quang, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lao Cai (ngày xưa là tỉnh Hoàng Liên Sơn). Ngày tôi lên đó, đóng quân mấy ngày đầu tại phía Nam đường 4E trên đất xã Xuân Quang, cách ngã ba Bắc ngầm chừng 4-5 km. Sau khi chúng tôi rút, địch đã tràn vào, sau đó một tiểu đoàn đặc công của ta rút từ phía bắc về ngang qua chỗ đó bất ngờ gặp một tiểu đoàn lính Trung Quốc đang hành quân trên đường ra phía ga Phố Lu, mặc dù đạn dược cũng đã gần cạn quân ta vẫn bất ngờ từ trên vách ta-luy đường đánh xuống. Trận tao ngộ chiến bất đắc dĩ ấy tiểu đoàn đặc công của ta đã đánh giáp lá cà và diệt sạch tiểu đoàn ấy của địch. Họ rút về đứng chân trên chỗ chúng tôi chừng gần 3 km, phía bắc cái ngầm (ở đó có một cái ngầm to qua suối - có lẽ vì vậy mà cái ngã ba kia mới có tên Bắc Ngầm chăng?) mà từ đó có đường rẽ vào chỉ huy sở tiền phương dã chiến của QK2 nên thỉnh thoảng chúng tôi có mò sang. Nhìn trên Google Earth bây giờ tôi vẫn nhận ra cái nhánh đường (cụt) rẽ vào quân khu bộ xưa, nơi có cái chóp vô tuyến tiếp sức chúng tôi đã leo lên đó sửa máy P401 nối thông liên lạc giữa hai cánh trái và phải sông Hồng. Gần bảy năm sau, sát Tết năm 1986, tôi lại có dịp quay lại chiến trường xưa, lên đúng chỗ ngày đầu lên mặt trận đã tới - khi đó đã là nơi quân đoàn 26 đóng - để giao thiết bị, vẫn nhớ và nhận ra những nơi đã từng qua dạo chiến tranh. @ chị SM, Không chỉ có bộ đội, lính biên phòng hay cán bộ dân-chính-Đảng hy sinh trong chiến đấu để cản địch trên hướng Lao Cai ngày ấy đâu. Dân chết cũng là chuyện thường. Đến cả tù nhân trong các trại tù cũng hy sinh trong chiến đấu cản địch nữa đấy. Có thể nói khi đó mỗi một trẻ em, mỗi một người dân vùng biên ải đều là mỗi anh hùng. Trong những ngày đóng trong nhà người Mán, có lần thấy ông chủ nhà kéo dây dong về 2 gã trai bị trói thúc ké với nhau. Hỏi thì hóa ra là tù từ trại giam Hùng Thắng B của Bộ Công An (ở cách chỗ tôi lên lúc đầu chừng 1.5 km) được thả rông chạy về qua đó, đói quá vào ăn trộm gạo của dân trong cối gạo trên nương, bị bắt sống. Song cũng có hôm, có 2 anh chàng như thế với 1 khẩu K44 về qua chỗ chúng tôi xin ăn. Khổ, cũng chẳng có gì, chỉ là ngô xay thôi ăn với muối rắc vào (những bao ngô 80 kg mà tôi đã cùng anh em vác ngược từ xe quân nhu từ dưới đường Hữu Nghị 7 lên nhà trong mưa - ngày ấy tôi cao 1m7 cũng chỉ nặng chừng 46-47 kg gì đó thôi, gày nhóc, mãi ngày sang đến Hung cũng mới chỉ lên tới 49 kí lô), không có gạo đâu, có bận thấy bộ đội ăn trưa bên sườn đồi, ông chủ nhà đi ngang qua bảo "Ố, cái bộ đội ăn không bằng con lợn nhà tao đâu vớ" - lợn nhà ông ấy ăn cám nấu với gạo nương ạ. Những người ấy cũng là tù từ trại Hùng Thắng B. TQ đánh đến không kịp di tản, ban chỉ huy trại giam quyết định thả họ ra, dặn rút xuống Phố Ràng tập trung, dưới đó sẽ có bộ phận thu dung, phát giấy phép cho về quê, hẹn ngày ra trình diện chấp hành nốt án phạt. Hai người đó cùng nhiều người nữa đã không bỏ chạy mà cùng với tự vệ của trại tổ chức chiến đấu, súng không có đâu, chỉ khi tự vệ hy sinh mới có súng của người đã ngã xuống mà chiến đấu thôi. Súng của họ về đến chỗ chúng tôi đã chẳng còn viên đạn nào, hy sinh cũng gần hết rồi họ mới rút, hòa theo dòng người dân chạy giặc dài dằng dặc trên đường xuôi xuống. --- Những ngày ấy chúng tôi được ông chủ nhà người Mán - chủ tịch xã kiêm xã đội trưởng, có 1 khẩu tiểu liên K50 băng tròn vũ khí của Hồng quân LX từ thời WWII đi đâu cũng đeo - bố trí cho ngủ trên sàn chìa ra dốc đồi, bên dưới là chuồng nhốt trâu, đêm đến trâu lịch kịch và hôi mù nên chỉ khi mệt lắm rồi mới ngủ thiếp đi được. Từ đó nhìn ra đường Hữu Nghị 7 (đường 70 từ Lao cai xuống Yên Bái nối vào QL2 theo cách gọi bây giờ, tiếng Mán gọi là "châu lồ", chắc là từ chữ "châu lộ" - đường liên châu - mà ra), đêm đêm bập bùng lửa đốt sưởi của dân chạy giặc trú lại trên mặt đường trong những cái lán lợp lá chuối, cứ 15-20 m lại có một cái như thế. Ban ngày thì bà con lại gồng gánh dắt díu nhau chạy giặc tiếp xuống phía dưới. Những đứa trẻ bẩn thỉu bùn đất bám vào quang gánh của cha mẹ lếch thếch theo sau, có đứa bé chỉ chừng 10 tuổi lại 1 chân dận giày Cô-xư-ghin, chân kia dận giày ba ta bộ đội - chắc là nhặt được do lính ta bỏ lại trên đường rút - lệt sà lệt sệt, trông thương lắm. Nhiều người đói vì đã nhiều ngày chỉ ăn vớ vẩn những lá cùng lẩu, chúng tôi lại phải sẻ khẩu phần thảm hại của mình cho họ, nhất là cho phụ nữ còn đang cho con bú. Nhiều người đã chạy từ tận thị trấn Mường Khương về. Họ kể, đang chạy từ Mường Khương về ngã ba Bản Phiệt thì họ thấy trên đường có xe tăng đang tiến từ ngã ba Bản Phiệt lên nên hò reo vui mừng. Nào ngờ chúng nổ súng máy vào họ, thì ra đó là xe tăng TQ đánh từ Lao Cai xuống ngã ba Bản Phiệt rồi vòng lên tập hậu thị trấn Mường Khương. Chết nhiều người lắm, những người còn sống chạy thốc vào rừng và cắt rừng núi chạy về chỗ chúng tôi, nỗi kinh hoàng vẫn còn đọng trên nét mặt. Thương nhất là bọn trẻ con, yếu ớt, đói khát và rét mướt. Nhiều đêm nằm trên sàn nhìn ra những đống lửa dân đốt bên đường, tôi cứ tự ước và hẹn rằng nếu mình sống sót qua đận này và được đi học thì dù thế nào sẽ cố học cho thật tốt. Rất may là tôi đã giữ được lời hứa năm ấy. --- Những ngày này trên các mặt báo tịnh không một chữ nhắc lại trận chiến năm ấy. Tôi thì vẫn chỉ hay vơ vẩn nhớ lại những ngày đó, không sao quên nối được. Cũng biết là ta không nhắc lại là vì nghĩa lớn chứ chẳng phải là ta sợ (@ Dương Danh Dy) song vẫn buồn. Địch chủ động đánh rất dữ, quân đông gấp bội bên mình (hướng đường 70 ấy quân ta chỉ có mỗi một trung đoàn bộ đội địa phương 254, cộng với một ít quân của trung đoàn 196 mà ban chỉ huy trung đoàn đã bị tiêu diệt ngay đêm đầu do địch bất ngờ tập kích chỉ huy sở - không hiểu sao bây giờ lại thấy ghi eBB192, có lẽ là khi đó mới chia quân từ quân khu Việt Bắc ra thành QK1 và QK2 nên lính vẫn quen gọi tên trung đoàn theo tên cũ là eBB196 từ hồi còn QK Việt Bắc, chứ eBB196 chính thức ngày ấy đang đánh nhau ở mặt trận Lạng Sơn - và một trung đoàn e168 pháo binh chống cự lại 4-5 sư đoàn của địch có nhiều pháo và xe tăng yểm trợ; quanh mỏ Cam Đường bên kia sông Hồng thì có sư 345 quần nhau với cả gần chục sư của địch, xa nữa trên Sa Pa thì chỉ có 2 trung đoàn của sư đoàn 316 anh hùng chống lại địch giữ thị trấn - cả thày hướng Tây Bắc địch huy động 18 sư đoàn do tướng Dương Đắc Chí thuộc quân khu Vân nam chỉ huy đánh sang ta). Đạn không đủ mà bắn cho xuể. Có bao nhiêu đạn đều dồn ra chốt cả mà còn chẳng đủ. Từ dưới xuôi lên, lúc ra đi tôi có 17 viên AK cài trong hai lam tiếp đạn súng CKC - là đạn xin được kỳ tập bắn đạn thật cuối hè 1978, lên đến nơi thấy lính thông tin đi nối dây mà hộp đạn AK rỗng không mới đem ra chia, mỗi khẩu được 2-3 viên. Có hôm 9 giờ tối báo dây điện thoại đứt, thiếu người đi nối dây, tôi và một cô lính mới trẻ măng (khá xinh, mà không sao nhớ tên, da rất trắng mà lại mặc bộ quân phục vải do Triều Tiên viện trợ bạc màu rất nhanh trắng phớ nên tối mù tối mịt vẫn nhìn rõ - sau này về kể cho cha tôi chuyện quần áo vải Triều Tiên bạc phếch, cụ trầm ngâm bảo "Thế là rất nguy hiểm vì đánh nhau thì lộ, địch nó ngắm bắn dễ lắm do nổi rõ trên nền lá xanh của rừng") dắt nhau lần theo dây đi tìm chỗ đứt trong rừng. Tối mò mò, đen như mực bởi có ánh trăng cũng không xuống tới được vì cây rừng bít bùng. Thám báo địch có thể cắt dây rồi nằm phục chờ bắt lính thông tin ta đi nối, không thể biết trước được. Tôi dặn cô bé: "Đưa anh cây AK, em cứ cầm đèn pin soi tìm dây, thấy thì nối, anh sẽ ở ngay bên em yểm hộ, nếu địch bắn thì trong đêm sẽ rất khó trúng, em cứ tắt đèn mà chạy ngược về, anh sẽ cố cản chúng lại". Chỉ có 3 viên đạn trong băng khẩu AK của cô ấy và 18 viên đạn súng ngắn K54 của tôi thôi song nếu có địch thì một là đang đêm, hai là ta trên đất mình còn với địch là đất lạ, bố bảo chúng cũng chẳng dám ham đuổi khi đã có tiếng súng bắn trả dù chúng có liều lĩnh và thiện chiến đến mấy. Tôi tin là như vậy. Rất may là lần đó dây chỉ đứt khá gần bìa rừng, chắc là do dây cáp dã chiến rải trên đất (hạ dây từ trên các cành cây xuống đất từ ban ngày để nếu có rút thì thu dây cho nhanh được - thế tiến của địch mấy ngày đầu ấy còn đang mạnh) bị trâu bò đi qua đá đứt thôi. Sau này năm 2007, nhớ lại cái đận ấy, nhân thơ thẩn về Trăng, tôi mới có mấy dòng văn vần đã ghi ở đây http://diendan.nuocnga.net/showthread.php?t=928 Mãi cả hơn 1 tuần sau mới có xe đạn chở lên cấp cho trung đoàn, đổ 1 đống vàng chóe trên sàn ngủ của chúng tôi trong nhà ông chủ tịch xã người Mán, nơi trung đoàn bộ đóng: lựu đạn, đạn AK, đạn K54, tha hồ lấy, bao nhiêu cũng được, không ghi sổ. Lạ cái, đạn và ngô thì còn chưa tiếp tế, lại thấy chở lên trước cả một đống sách! Tôi cũng nhặt được 2 cuốn, trong đó bây giờ vẫn còn giữ cuốn Những năm tháng không thể nào quên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do đại tá nhà văn Hữu Mai ghi. Kỷ niệm chiến trường giờ chỉ còn có cuốn này và một cuốn sổ bỏ túi ghi vắn tắt những ngày ngoài mặt trận (giờ lạc đâu trong nhà mà chưa có lúc nào rỗi rãi tìm lại).
Thay đổi nội dung bởi: nqbinhdi, 20-02-2012 thời gian gửi bài 02:47 Lý do: Sửa tên -> Dương Danh Dy, cám ơn Mugic đã nhắc. |
| Có 12 thành viên gửi lời cảm ơn nqbinhdi cho bài viết trên: | ||
|
#93
|
|||
|
|||
|
Trích:
Riêng về địa danh Cốc Sam/San, thì trong tài liệu địa chất của Pháp trước đây có ghi la Coc Xan. Họ lập một phân vị địa chất có tên là "Série de Coc Xan", nên sau này những người địa chất chuyển sang tiếng Việt cũng ghi là Cốc Xan (hoặc Cốc San). SM cũng đã đi làm trên vùng này, và chưa thấy ai gọi Cốc Sam! Tra trên Google thì có thống tin sau: Ðộng Cốc San thuộc xã Cốc San, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai. Cốc San là một hệ thống các thác nước và các hang động to nhỏ khác nhau, vì vậy người ta có thể gọi đây là động Cốc San hoặc thác Cốc San. Đường vào Cốc San rất ngoằn ngoèo, tối và bị lấp bởi những tảng đá, vẻ đẹp của Cốc San vẫn hoàn toàn mang tính chất tự nhiên, hoang sơ. Nằm cách thành phố Lào Cai khoảng 7km, Cốc San đã từ lâu được biết đến như một điểm du lịch lý tưởng của người dân thị xã. Từ quốc lộ 4D, một con đường đất nhỏ có chiều dài khoảng hơn 1km dẫn vào Cốc San. Hai bên đường là những cánh đồng nhỏ và làng xóm của dân địa phương. Khi còn cách Cốc San khoảng 300 - 400m, bạn đã có thể nghe được tiếng suối chảy rầm rì. Như vậy, ít ra là hiện nay, Cốc San là tên gọi đang được sử dụng về mặt hành chính của miền đất ấy. Nhưng có điều còn băn khoăn, không biết địa danh này với chỗ bác gọi là Cốc Sam có phải là cùng một nơi không? Thay đổi nội dung bởi: Saomai, 19-02-2012 thời gian gửi bài 17:47 |
|
#94
|
|||
|
|||
|
Trích:
|
|
#95
|
||||
|
||||
|
Trích:
Phòng em có 2 đứa giữa 7-x, còn lại là 8-x. Hôm nọ nhắc ngày 17/2 mặt chúng nó nghệt ra, chẳng biết ngày đó là ngày gì. Cũng không trách chúng được. Báo chí Liên Xô và Nga cũng hay đề cập đến "cuộc xung đột" này, nhất là những năm kỷ niệm chẵn. Có lẽ bác ngbinhdi muốn nói đến Bí thư thứ nhất Dương Danh Dy, phải không ạ? http://www.bbc.co.uk/vietnamese/inde...ngdanhdy.shtml Về sự kiện 17/2/1979, bác nào muốn đọc bằng tiếng Nga thì ở đây: http://ru.wikipedia.org/wiki/%D0%9A%...%B0_%281979%29 bằng tiếng Việt thì ở đây: http://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%E1%...7t-Trung,_1979
__________________
SCENTIA POTENTIA EST! Thay đổi nội dung bởi: Мужик, 19-02-2012 thời gian gửi bài 18:50 Lý do: Lỗi chính tả |
|
#96
|
|||
|
|||
|
Đúng rồi, là Dương Danh Dy, tôi gõ nhầm. Cám ơn Mugic đã nhắc.
|
|
#97
|
||||
|
||||
|
Báo Thanh Niên năm nay cũng gián tiếp nhắc đến sự kiện này bằng loạt bài phóng sự nhiều kỳ "Cột thiêng nơi địa đầu Tổ quốc". Loạt bài nêu những khó khăn mà phía bên kia đã gây cho quân và dân ta những ngày sau đó, đặc biệt là sau ngày ký Tạm ước Biên giới 07.11.1991 và công tác cắm mốc..
Trích:
__________________
На свете нет вечного двигателя, зато есть вечные тормоза... Album Скучаю по России Thay đổi nội dung bởi: Kóc Khơ Me, 19-02-2012 thời gian gửi bài 20:25 |
|
#98
|
|||
|
|||
|
Trích:
Mỗi dịp 17-2, nhiều báo Nga vẫn nhắn đến sự kiện này, họ không nghe giọng điệu TQ và luôn luôn đứng về phía chúng ta, đồng quan điểm là chúng ta đã chiến thắng. Thí dụ như trang mạng "Tư liệu chiến tranh" (Военные материалы) vừa qua có đăng bài nhan đề: Китайско-вьетнамская война Như một số bác đã viết trên NNN cũng như tư liệu ở các nguồn Nga. Khi cuộc chiến tranh nổ ra, các cố vấn quân sự LX đã bay ngay sang Hà Nội, gặp các lãnh đạo cao cấp, và ra tận trận địa để nắm tình hình. Ngay sau đó, một cầu hàng không được LX thiết lập để chở quân ta đang ở Cam-pu-chia ra thẳng biên giới phía bắc. Đạn dược, vũ khí được cấp tốc chở từ Nga và Ukraina sang bằng máy bay. Còn sau đó, vũ khí hạng nặng chở đường tàu biển cập cảng Hải Phòng. Vào giai đoạn cuối, những trái tên lửa chống tăng loại mới nhất Fagot 9M111 đã kịp ra trận khạc lửa. Trên biển, Hạm đội Thái bình dương, gồm cả đội tàu ngầm hạt nhân áp sát bờ biển TQ ở tư thế đe dọa (80 tàu chiến). Một phần các tàu chiến và tàu ngầm của hạm đội đang hoạt động ở đông TBD ngay lập tức được lệnh tiến vào vịnh Bắc bộ với tuyên bố tấn công bất cứ tàu TQ nào xâm nhập Vịnh bắc bộ. Hạm đội Hải Nam không dám ra khơi, tàu chiến TQ nằm in trong cảng. Tàu chiến, tàu sân bay Mỹ từ Phi-lip-pin xâm nhập vịnh Bắc bộ với lý do "quan sát" bị Tàu ngầm Nga nổi lên chặn trước ngay mũi tàu sân bay, buộc Mỹ phải rút đi. Trên biên giới Nga-TQ và Mông Cổ, tập đoàn quân Viễn Đông điều động hơn 200 ngàn quân áp sát biên giới, phần lớn họ di chuyển bằng máy bay, sau đó là xe cơ giới. Họ đã huy động 2600 xe tăng, 900 máy bay chiến đấu cùng một lượng xăng dầu rất lớn mà sau này, cả tập đoàn sử dụng nhiều năm mới hết. Tuyên bố từ Mát-xcơ-va phát đi rất rõ ràng, VN là đồng minh chiến lược của LX, LX không ngồi yên nhìn đồng minh bị xâm lược. Yêu cầu TQ rút quân. Lộng ngôn lúc phát động chiến tranh rằng: tiến vào thủ đô, bắt sống ban lãnh đạo Hà Nội đem về "thiên triều" trị tội. Nhưng Thái độ rõ ràng và hành động của LX, cùng với sự chống trả ngoan cường từ phía VN. Gặp tổn thất quá lớn khiến quân xâm lược chùn bước và buộc phải rút lui. Chúng ta biết ơn Liên Xô và sẽ vẫn nhớ mãi cuộc chiến tranh này!!!
Thay đổi nội dung bởi: SSX, 19-02-2012 thời gian gửi bài 23:12 |
|
#99
|
||||
|
||||
|
Лев Лещенко - День Победы...
__________________
|
|
#100
|
|||
|
|||
|
Trích:
Nhưng có lẽ các nhà báo không đáng trách... Họ chỉ không có chỗ để đăng tải những bài tâm huyết. Nhiều người buộc phải đưa bài lên các blog, lên các trang WEB của thời đại @... |
| Được cảm ơn bởi: | ||
Anh Thư (21-02-2012) | ||
![]() |
| Bookmarks |
|
|